We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Sunday, 15 May 2011

Một vị linh mục ở Pleiku, 35 năm trước, đã chôn thi hài một sĩ quan biệt động quân

Tong Fam – Xin vui lòng chuyển tiếp mail này

From: Tong Fam Subject: Xin vui lòng chuyển tiếp mail này. Càng nhiều càng tốt
Date: Monday, May 9, 2011, 5:30 AM

PLEIKU – Một vị linh mục ở Pleiku, 35 năm trước, đã chôn thi hài một sĩ quan biệt động quân, và trong suốt 35 năm từ đó tới nay cố gắng tìm thân nhân người này nhưng không thể được.

Ðó là tin do một người có dịp đi Pleiku mang về, và vào tối Thứ Năm, chúng tôi đã liên lạc được với nhà thờ ở đó và được xác nhận tin trên là đúng sự thật.

Trong ngày tàn cuộc chiến, từ ngày 13 tháng 3, 1975, quân đội bỏ Pleiku, Kontum, dân chúng di tản để lại cảnh vật vườn hoang nhà trống.

Ngày 20 tháng 4, 1975, khi cha xứ nhà thờ Thanh An, huyện Chư Prong là cha Ða Minh Mai Ngọc Lợi (anh của Linh Mục Mai Thanh Lương hiện nay ở quận Cam) trở về thì cha chứng kiến một cảnh hoang tàn, thương tâm: Xác chết của bảy người lính Biệt Ðộng Quân VNCH và mười mấy người lính Bắc Việt chết nằm ngổn ngang từ trong nhà thờ ra đến ngoài sân, chưa được chôn cất.

Ðiều đau đớn là những xác thối rữa này đã bị thú rừng và bầy chó hoang vô chủ ăn thịt đã gần hết, chỉ còn thi hài của một Trung Úy Biệt Ðộng Quân mang bảng tên Nguyễn Văn Quý.

Chính tay cha đã chôn cất thi hài vị sĩ quan này dưới gốc một cây sứ trước nhà thờ. Năm ngoái, bảng tên của Trung Úy Quý đã bị thất lạc khi nhà thờ được xây dựng lại.

Ba mươi lăm năm qua, nhiều phái đoàn đi cứu trợ đã ghé qua đây, được cha trình bày câu chuyện, mong mỏi một lời nhắn tin nào đó mang về miền xuôi hay ra hải ngoại, sẽ tìm ra thân nhân của Trung Úy Quý, nhưng từ đó đến nay, không hề có ai gọi cho cha để hỏi tin tức về người sĩ quan bất hạnh này.

Cha nói rằng nơi đây, các quân nhân thuộc SÐ23BB và BÐQ chết rất nhiều nhưng không có ai đến hỏi tìm.

Nấm mồ của Trung Úy BÐQ Nguyễn Văn Quý cho đến nay vẫn còn nằm lạnh lẽo dưới gốc cây sứ già trước nhà thờ Thanh An, bây giờ là giáo xứ Ðức Hưng, thôn 1, xã Thắng Hưng, huyện Chư Pprong, tỉnh Gia Lai.

Nhiều câu hỏi được đặt ra nhưng không có câu trả lời. Trung Úy Nguyễn Văn Quý đã có gia đình chưa? Vợ con hiện xiêu lạc nơi nào?

Song thân của người chiến sĩ hiện nay vẫn còn hay đã mất?

Bạn bè, chiến hữu của anh còn ai nhớ đến lai lịch của anh không?

Nếu có ai biết hay còn nhớ đến người sĩ quan BÐQ tên Nguyễn Văn Quý có thể tìm hỏi Linh Mục Ða Minh Nguyễn Xuân Hùng (số điện thoại gọi từ Mỹ: 011.84.91. 865.772) để xin gặp Cha Cố Mai Ngọc Lợi.

Tuổi đời đã cao, nay Linh Mục Lợi đã 87 tuổi, sợ rằng vài năm nữa, khi cha mất, không còn ai có thể chỉ ra nơi chôn cất các chiến sĩ này một cách rành rẽ.


http://danlamthan.wordpress.com/2011/05/14/tong-fam-xin-vui-long-chuy%E1%BB%83n-ti%E1%BA%BFp-mail-nay/

Dậy Đi Quê Hương






Truyền đơn với hình cờ Việt Nam Cộng Hòa tại cột đèn ở đường Nguyễn Văn Cừ và khắp nơi tại Sài Gòn

Truyền đơn tại cột đèn ở đường Nguyễn Văn Cừ. - Truyền đơn với hình cờ Việt Nam Cộng Hòa của Liên Minh Dân Chủ Việt Nam Thuần Tuý tại Saigon.
Sai Gon 23/2/2011
Chut Tam Tinh Chia Se Voi Tat Ca Nguoi Viet Khap 5 Chau.
Tren Con Duong Ve Nha Chay Qua Cau Duong Nguyen Van Cu Nhin Thay Vai To Giay Dan Tren Cot Den Voi Cai Tinh Hieu Ky Cua Nguoi VN Xem Cho Biet Dan Giay Quang Cao Ve Chuyen Gi Toi Bang Hoang Nhin To Giay Thay Co Hinh La Co Nen Vang 3 Soc Do Tren Co Ghi: Lien Minh Dan Chu Viet Nam Thuan Tuy Keu Goi Toan Dan Dung Len.... Va Nhung Cau Khau Hieu "Tra Ta Song Nui, Que Huong Nay La Cua Dan Ta"....
Toi Voi Vang Dung Dien Thoai Chup Lai To Truyen Don .De Chung Minh Cho Gia Dinh Va Cac Ban Cung Xem.
Toi Len Xe Chay Ve Nha Ma Trong Long Cam Thay Vui Mung Ngon Lua Dau Tranh Da Noi Len Tai Sai Gon Che Do Cong San Viet Nam Se Sup Do Nay Mai.
Cam On Tinh Than Dau Tranh Cua To Chuc Dang LMDCVNTT
NXQúy31

Chuyện về cái cân ở Việt Nam

Kami Ajinomoto

Hầu như mỗi chúng ta ai cũng biết đến cái cân, một dụng cụ xác định trọng lượng của đồ vật hay hàng hoá, nó gắn liền với đời sống xã hội trong việc mua, bán trao đổi hàng ngày. Còn về mặt chữ nghĩa thì cái cân dùng để chỉ sự công bằng, có hai phía ngang bằng nhau, không lệch về bên nào. Có lẽ vì thế biểu tượng của Toà án ở các nước đã được người ta dùng hình tượng cái cân ở vị trí thăng bằng, để nói lên sự công bằng cần phải có của công lý.

Từ cái cân ngoài chợ – công cụ của kẻ cướp giữa ban ngày…

Ai đã từng sống ở Việt Nam thời chế độ bao cấp bằng tem phiếu thì biết, thời đó cái gì cũng thiếu thồn và khan hiếm. Chỉ duy nhất các cửa hàng của Quốc doanh mới có bán các hàng hoá nhu yếu phẩm cho cuộc sống của người dân. Dù hàng hoá bán phân phối bằng tem phiếu, nhưng do hàng hoá quá khan hiếm, người mua thì đông xếp hàng dài dằng dặc. Nên mua được hàng cũng là một niềm sung sướng của mọi người. Thời đó còn nhớ khi đi xếp hàng mua thịt, trong một rừng người với những cánh tay cầm tem phiếu chen lấn, xô đẩy cộng với tiếng hò hét để cố giành mua được trước của người mua. Bà mậu dịch viên nhận tiền và phiếu xong, thì tay phải xẻo một miếng thịt, rồi tay trái ném mạnh lên cái cân bàn, đồng thời khi cái kim chỉ trọng lượng của cái cân còn chưa đứng yên thì bà ta cầm miếng thịt ném mạnh trước mặt người mua như của bố thí cho kẻ ăn mày. Sự việc diễn ra nhanh như chớp mắt, khi người mua còn chưa biết họ bán cho mình trọng lượng bao nhiêu, cân có đúng không?

Cảnh chen chúc mua hàng thời bao cấp

Tuy nhiên đó chỉ là tình cảnh của đa số dân chúng lớp dưới, cán bộ, công nhân, viên chức. Còn tầng lớp cán bộ trung, cao cấp trong bộ máy đảng chính quyền thì đã có các cửa hàng phục vụ riêng. Như cửa hàng ở phố Nhà thờ, cửa hàng ở phố Tông đản, chả thế thời ấy có câu ca:

Tông đản là của vua quan.
Nhà thờ là của trung gian nịnh thần.
Đồng xuân là của thương nhân.
Vỉa hè là của nhân dân anh hùng.

Có lẽ cái thói gian dối, được hình thành từ cái thời đó, thời của CNXH (cả ngày xếp hàng) và đã ngấm sâu vào máu của người Việt Nam từ Nam chí Bắc. Hình thành nên một cái tập quán vô ý thức, chen lấn khi xếp hàng và thói quen gian lận trong mọi khía cạnh của cuộc sống, đặc biệt là trong việc buôn bán. Tệ nạn này ngày càng phát triển, không chỉ trong giới hạn của cân trọng lượng, mà nó lan sang cả công cụ đong đếm trong việc bán xăng dầu của các trạm bán xăng, rút bớt kích thước đường kính của thép xây dựng v.v… Ngày nay, tuy cơ chế kinh té thị trường tự do đã thay cho cơ chế kinh tế bao cấp, bây giờ không còn cảnh chen chúc xếp hàng rồng rắn như xưa, nhưng ngoài chợ, cân điêu vẫ là chuyện phổ biến, tình trạng 1kg chỉ ăn 9 lạng, thậm chí 8 lạng là chuyện thường ngày ở huyện.

Tôi có cô em gái, chả biết học ai, kể rằng mỗi khi ra chợ là cô ta thủ sẵn chùm chìa khoá (đã được cân trước bằng cân trong phòng thí nghiệm) để ra chợ “thử cân” trước khi mua. Đối với những người như vậy, mấy bà bán hàng đã quen mặt thì họ không lừa được, nhưng họ nói thẳng sẽ bán với giá cao hơn một chút, nhưng cân cho đủ. Chuyện cái khôn của đàn bà như vừa kể cũng chẳng hay ho gì, nhưng thử hỏi có bao nhiêu người biết để làm được như thế?

Thực ra trong việc cân, đo, đong đếm nhà nước đã có các văn bản pháp lệnh, quyết định hay nghị định về việc tổ chức thực hiện các tiêu chuẩn về thương mại, đo lường, chất lượng hàng hóa, thực phẩm, v.v.. , ngoài ra còn có Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Nhưng hầu như những văn bản pháp luật đó của chính quyền không có tác dụng bắt buộc người dân thực hiện, mà nó bị coi thường. Chuyện tưởng chừng nhỏ, nhưng nó đã làm cả xã hội điêu đứng vì sự điêu chác, đã có hệ thống từ hàng chục năm nay. Nhưng không có cơ quan, hay cấp chính quyền nào đứng ra giải quyết, hoặc nếu có giải quyết thì chỉ theo kiểu phong trào mang tính bắt cóc bỏ đĩa, như: “Tháng cao điểm”, “Ra quân” v.v… Mà người ta không biết rằng chỉ từ những chuyện tưởng chừng nhỏ, nhưng nó đã dẫn tới những hệ luỵ không lường hết, làm băng hoại cả một xã hội.

Đến cái cân công lý… thiếu cán

Như chúng ta đã biết luật pháp là tổng thể các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền, luật pháp được Nhà nước đảm bảo thực hiện, sự đảm bảo đó chính là quyền lực của Nhà nước. Luật pháp được được thực hiện bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục, và cưỡng chế và luật pháp thông thường được thực thi thông qua một hệ thống tòa án trong đó quan tòa sẽ nghe tranh tụng từ các bên và áp dụng các quy định để đưa ra phán quyết công bằng và hợp lý. Cách thức mà luật pháp được thực thi được biết đến như là hệ thống pháp lý, thông thường phát triển trên cơ sở tập quán tại mỗi quốc gia.

Bản chất của luật pháp phản ánh bản chất của Nhà nước đặt ra nó. Nhà nước kiểu nào thì pháp luật kiểu đó. Trong mối quan hệ với đạo đức, pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Pháp luật luôn phản ánh đạo đức của lực lượng lãnh đạo xã hội. Chính vì vậy, luật pháp có tính chất giai cấp. Luật pháp còn có tính xã hội vì nó chứa đựng những chuẩn mực chung được số đông trong xã hội ủng hộ. Nếu không thì luật pháp sẽ bi chống đối, hay nói một cách khác nhà nước đó đã bị dân chúng thách thức, bất tuân lệnh.

Từ lập luận đó, trở lại với tình hình thực thi luật pháp ở Việt Nam hiện nay, cái cán cân công lý dùng để chỉ sự công bằng, nó có hai phía ngang bằng nhau, hay nó đang lệch về bên nào? Hay cái cân công lý hiện nay đang thiếu cán cân? Nếu cái cân công lý của một chính quyền nhà nước mà thiếu cán, thì người ta hình dung ra nó như cái cân móc, thường để trong cái làn đi chợ của mấy bà nội trợ.

Các vị quan toà của Toà án Việt Nam bây giờ, những người nhân danh cho Nước Cộng hoà XHCN Việt nam. thay vì căn cứ vào các văn bản luật pháp quy định để luận tội đúng, sai với các bị cáo, để đưa ra phán quyết công bằng và hợp lý. Bây giờ họ dùng cái cân móc của nền công lý Việt Nam để móc hàm người ta lên một cách trắng trợn, như cách hành xử của Hội đồng xét xử của Toà ân Nhân dân Hà Nội trong vụ án xét xử Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ ngày 4/4/2011 vừa qua là một ví dụ điển hình. Và ngược lại, thì là cách xét xử của Toà án Nhân dân tỉnh Hà Giang trong vụ án Hiệu trưởng Sầm Đức Xương mua dâm và môi giới bán dâm học trò của mình cho các quan chức tỉnh Hà Giang. Xét xử như thế, với những kẻ bất đồng thì trừng phạt sao cho vừa lòng quan trên, ngược lại, với đồng bọn của họ, thì họ cố tình bỏ lọt người, bỏ sót tội thì xin hỏi còn đâu, còn cái gì để gọi là công lý gì nữa?

Trong lịch sử xã hội của loài người từ xưa cho đến nay cho thấy, một xã hội ổn định, thịnh vượng tồn tại lâu dài được là khi luật pháp được thượng tôn và áp dụng công bằng, bình đẳng cho mọi đối tượng trong xã hội, không phân biệt địa vị, thành phần. Câu chuyện Bao Thanh thiên, là một bài học về sự nghiêm minh và công bằng của luật pháp, cho dù nó còn trong giai đoạn chế độ phong kiến. So với câu chuyện lịch sử đó, để nhìn lại chế độ đang hiện hữu ở Việt Nam hiện nay do đảng CSVN lãnh đạo thì sẽ thấy nó còn thua kém quá xa một hình thái chế độ đã bị đào thải về mặt nghiêm minh và sự công bằng của pháp luật.

Trong các văn bản, nghị quyết của đảng CSVN và chính quyền của họ luôn luôn nói đến chuyện xây dựng Nhà nước, thực hiện dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân là trọng tâm quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở nước ta. Nhưng thực tế lại cho thấy là một chuyện hoàn toàn trái ngược, mà hình như nó là xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của họ, do họ, vì họ.

Còn nhân dân chúng ta, có lẽ họ coi chỉ là loại các con bị lừa, hay như Giáo sư Ngô Bảo Châu nói thẳng là những con Cừu.

Ngày 14/5/2011

Theo Blog Kami (RFA)

36 câu nói của người xưa

Tục ngữ, châm ngôn, thành ngữ, phương ngữ Việt Nam đã được nhiều học giả để ý sưu tầm, giải nghĩa từ khoảng một trăm năm nay. Sách viết bằng chữ hán, chữ nôm vừa hiếm, vừa khó hiểu nên dần dần bị quên lãng. Sách còn được lưu truyền đến ngày nay, hầu như chỉ có sách viết bằng chữ quốc ngữ. Coi như chữ quốc ngữ đã loại được chữ " thánh hiền " và chữ " nôm na ". Đáng ngạc nhiên hơn nữa là trong số những người đi tiên phong trong việc truyền bá chữ quốc ngữ lại có cả người Pháp. Trong lúc người Việt còn bàn cãi thì một vài người Pháp đã bắt đầu viết sách bằng chữ quốc ngữ về... tục ngữ, thành ngữ Việt Nam. Có thể kể:

- Sách Chrestomathie Annamite (Quảng tập viêm văn) của"Dáo (giáo) học Ngô Đê Mân" (Edmond Nordemann, professeur au Collège des Interprètes, Trường Thông Ngôn). Edmond Nordemann (viết tắt EN) cũng là người sáng lập ra Société tonkinoise d'Enseignement mutuel (Hội Trí Tri). Sách Quảng tập viêm văn được xuất bản năm 1898 tại Hà Nội, gồm 180 bài phương ngữ Bắc Kỳ, kèm theo một tập từ vựng giải thích. Thiên thứ chín sưu tầm "Nhời ví mấy câu ví, dọn theo vần A, B, C ". Nhời ví, câu ví là những câu tục ngữ và thành ngữ được phổ biến đến tận ngày nay. Sách còn cho người đọc thấy được tình trạng chữ quốc ngữ tại Bắc Kỳ hồi cuối thế kỉ 19.

- Các bài biên khảo về Croyances et Pratiques Religieuses des Viêtnamiens (Tín ngưỡng và nghi thức tôn giáo của người Việt Nam) của Léopold Cadière (LC), được viết trong khoảng từ năm 1901 đến 1912. Năm 1957, trường Viễn Đông Bác Cổ tại Paris tập hợp các bài viết và in thành sách. Sách được tái bản năm 1992. Trong mục Philosophie populaire: Cosmologie (Vũ trụ quan ) Léopold Cadière sưu tầm được nhiều câu tục ngữ liên quan đến súc vật.

Về phía các tác giả Việt Nam, có rất nhiều sách. Tuy nhiên, các sách nghiên cứu có hệ thống, chuyên sâu về tục ngữ thì không nhiều. Xin nêu ra một số tiêu biểu :

- Tục ngữ, phong dao (1916) của Nguyễn Văn Ngọc (NVN) sưu tầm được hơn sáu nghìn năm trăm (6500) câu tục ngữ, thành ngữ và nhiều bài phong dao (ca dao).

Nguyễn Văn Ngọc là người đầu tiên làm công việc sắp xếp các câu tục ngữ, các bài phong dao theo thứ tự A, B, C..., và theo số chữ của câu. Rất tiện cho việc tra tìm.

- Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam (in lần thứ tám, 1978) của Vũ Ngọc Phan (VNP) sưu tầm và sắp xếp các câu nói, bài ca theo đề tài (Vũ trụ, con người và xã hội, quan hệ thiên nhiên, quan hệ xã hội...). Sách sưu tầm được nhiều bài chống thực dân, đế quốc của nhiều sắc dân. Vì các câu nói, các bài ca được sắp xếp theo nội dung, đề tài nên rất khó tra tìm theo câu chữ cụ thể.

- Thành ngữ-tục ngữ Việt Nam (2007) của Thuỳ Linh (TL) sưu tầm thêm nhiều câu mới, đặc biệt là cả những câu của đầu thế kỉ 21. Thuỳ Linh tiếp tục làm công việc đã được Nguyễn Văn Ngọc bắt đầu gần 100 năm trước.

Tiếc rằng cả năm tác giả tây và ta kể trên chỉ sưu tầm các câu nói. Không giải nghĩa. Sách có giải nghĩa thành ngữ và tục ngữ tương đối còn hiếm. Đáng kể là:

- Thành ngữ tiếng Việt (1978) của Nguyễn Lực và Lương Văn Đang (LĐ).

- Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam (1989) của Nguyễn Lân (NL).

Bên cạnh các ghi chép còn phải kể thêm một ít tranh vẽ, minh hoạ các câu nói:

- Bộ tranh Technique du peuple Annamite (Kĩ thuật của dân An Nam) của Henri Oger, xuất bản năm 1909, sưu tầm được 36 câu tục ngữ, thành ngữ.

- Sách Imagerie populaire vietnamienne (1960) (Tranh dân gian Việt Nam) của Maurice Durand sưu tầm thêm được 13 câu.

Bài này giới thiệu 36 câu nói trong bộ tranh Oger.

- Các tranh được đánh số 1, 2, 3...8. Các câu nói của mỗi tranh được ghi a, b, c...

- Chữ nôm đọc từ trên xuống dưới và từ phải sang trái. Chỗ nào sai sẽ được nêu ra.

- Các chữ viết tắt (NVN, VNP...) là tên tác giả của sách được tham khảo.

Tranh 1
a - Ngỗng ông lễ ông (LC, NVN, LĐ, NL).
(Prendre) l'oie de quelqu'un pour la lui offrir (LC).
Remercier quelqu'un avec ses propres bienfaits (Gustave Hue)
Ý nói: Vật biếu người ta chẳng qua cũng chỉ là của của người ta (NL).
Giải thích của Nguyễn Lân (NL), Léopold Cadière (LC) và Gustave Hue hơi lủng củng, khó hiểu. Đồ biếu của mình là... đồ của người ta? Hoá ra Ngỗng ông lễ ông là ăn trộm mang đồ trả lại cho người bị mất trộm à? Đến cửa quan (công môn) thú tội, lạy ông tôi ở bụi này, để được... vào tù à? Dân đen dại dột, ngu xuẩn như vậy sao? Nhất định là không! Quan không hiểu lòng dân chứ dân thì đứa nào cũng... đi guốc trong bụng quan!
Không hiểu Ngỗng ông lễ ông muốn nói gì để tố cáo nạn quan ăn hối lộ, hà hiếp dân đen?

b - Sáng trăng bà về vậy.
Sáng trăng suông bà về vậy (NVN).
Chữ vậy ở cuối câu nói cho thấy sự thất vọng của người đàn bà. Về vậy có nghĩa là đành phải về.
Ngày xưa, ở thôn quê cũng như ở thành thị, sáng trăng là dịp trẻ con rủ nhau vui đùa trong xóm, ngoài ngõ. Nhưng sáng trăng lại bất tiện cho những việc làm lén lút như trộm cướp, hẹn hò bất chính. Dường như người đàn bà trong tranh đang gặp tình cảnh này. Bà muốn " đi đêm" nhưng trăng cứ sáng vằng vặc, rõ như ban ngày thế kia thì... hỏng chuyện! Bỏ về là vừa.
Nghĩa bóng của câu nói : định làm chuyện mờ ám nhưng không thành.

c - Già chơi trống bỏi ( LĐ, NL).
Già còn chơi trống bỏi (NVN, TL).
Ám chỉ người già lấy thêm vợ trẻ (LĐ).
Chê những người già vẫn có những việc làm không đứng đắn, không còn xứng với tuổi của mình nữa (NL).
Ngày nay ám chỉ các cụ động cỡn, đú đởn thích " chơi " tin (teen).

d - Khóc đống bòng bong (có tấm bia khắc chữ Mộ chí)
Mồ cha không khóc, khóc đống mối,

Mồ mẹ không khóc, khóc bối bòng bong (NVN).
Mồ cha chẳng khóc, khóc đống mối
(NL).
Chê người tha thiết đến một việc không phải là phận sự của mình (NL).
Chê cười kẻ không thương cha, thương mẹ đẻ của mình mà lại vớ vẩn đi thương ông nọ, ông kia ở mãi tận đâu đâu.

Tranh 2
a - Nuôi ong tay áo (EN, LĐ, NL).
- Nuôi ong tay áo; nuôi khỉ dòm nhà (LC).
Nuôi dưỡng, giúp đỡ kẻ xấu có thể phản bội lại mình (NL-LVĐ).
Giúp đỡ, che chở một kẻ sẽ phản bội mình (NL).
Câu nói Nuôi ong tay áo ngắn gọn, đầy đủ ý nghĩa. Nhưng nhiều người lại muốn kéo dài hơn :
- Nuôi ong tay áo, nuôi khỉ dòm nhà (NVN).
- Nuôi ong tay áo, ấp rắn vào ngực (NVN, NL).
- Nuôi ong tay áo, nuôi cáo trong nhà (TL).

b - Từ bi oản quả, day tay oản quả
Từ bi cũng một phẩm oản, quả chuối, Ra tay mắm miệng cũng một quả chuối phẩm oản (NVN).
Từ bi từ tại cũng phẩm oản quả chuối, day tay mắm lợi cũng quả chuối phẩm oản (TL).
Nghĩa đen của câu nói: Chùa có ông thiện, ông ác. Hai ông đều được khách thập phương mang oản, quả cúng bái.
Nghĩa bóng: Quan lại tốt hay xấu dân đen đều phải đút lót như nhau.

c - Ăn cây nào rào cây ấy (nấy) (EN, NVN, NL, TL).
Nói người có tình nghĩa luôn luôn tỏ lòng biết ơn người làm ơn cho mình (NL).
Dường như NL nhầm lẫn với câu Ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Để tỏ lòng biết ơn tục ngữ còn có câu Uống nước nhớ nguồn.
Ăn cây nào rào cây ấy khuyên người ta nên cẩn thận, ăn chắc, được tới đâu hay tới đấy. Làm việc gì thì nên chú ý vào kết quả trước mắt của việc ấy.

d - Rán sành ra mỡ (NVN, LĐ, VNP, NL, TL).
Quá hà tiện, keo kiệt, bủn xỉn (LĐ).
Giễu kẻ hà tiện quá mức (NL).
Xem thêm câu Vắt chày ra nước ở phần sau (3b).

Tranh 3
a - Bảo lấy hương, lấy đao thiết
Câu nói không có nghĩa. Hai chữ đao thiết cần được tìm hiểu.
Chữ thiết (bộ khẩu+chữ thiết) không có trong tự điển Hán Việt của ta. Đây là chữ nôm. Bộ khẩu là kí hiệu, âm của chữ nôm được viết bằng chữ thiết. Chữ đao (Hán) đứng trước chữ thiết trở thành vô nghĩa. Đao phải là chữ nôm.
Đao thiết phải được đọc nôm như thế nào?
- Chữ đao thường được đọc nôm là dao (con dao). Vừa đúng âm, vừa đúng nghĩa. Đao cũng có khi được đọc theo âm thành đeo (vác), đẽo (đục đẽo)...
- Chữ thiết đọc nôm là thét (hét to), thết (đãi), thớt (cái thớt của nhà bếp)...
Hai từ đao thiết của câu tục ngữ có thể đọc nôm thành : dao thớt, dao thết, đeo thớt, đẽo thớt v.v.
Chúng ta có thể loại bỏ mấy cặp từ đeo thớt, đẽo thớt, dao thết...vì không thích hợp với câu nói và nội dung tranh. Còn lại cặp từ dao thớt.
Bảo lấy hương, lấy dao thớt
Câu nói nghe xuôi tai nhưng tối nghĩa. Dao thớt không giải thích được nội dung của tranh. Nghệ sĩ dân gian muốn viết chữ gì ?
Truyện Thầy trừ chồn, trong sách Chuyện đời xưa của Trương Vĩnh Ký, có đoạn :
(...) " Chủ nhà nghe chịu liền. Vậy thầy mới biểu : Đâm bột cho nhỏ, đậu cà ra làm nhân, cho đầy một thúng cái, đến mai tôi đến, tôi làm phép cho một bữa thì hết. Thầy xách chiết tới, lấy bột, lấy đậu đem ra nắn chồn lớn, chồn nhỏ, để nơi ghế. Lại nắn một con lớn hơn hết để giữa... ".
Chiết là một từ cổ, được chú thích là cái đẫy, cái túi.
Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của định nghĩa chiết là đồ đựng đan bằng tre, mây, có nắp đậy, cũng gọi là cái cọ, cái nừng.
Chữ thiết (bộ khẩu + chữ thiết) đọc nôm là chiết, nghĩa là cái bị. Cái bị cho phép suy ra rằng chữ đao đã được nghệ nhân dân gian dùng để viết chữ nôm đầy.
Tóm lại, đao thiết đọc nôm là đầy chiết. Câu nói trở thành Bảo lấy hương, lấy đầy chiết (bị). Người xưa trách kẻ tham lam. Bảo lấy hương (lấy hoa), (nhưng nó cứ) lấyđầy bị.
Ngày nay thường nói :
Ăn lấy vị, chứ ai lấy bị mà mang (NVN).
Ăn lấy thơm lấy tho, chứ không ai ăn lấy no, lấy béo (NVN).
Câu nói quay sang ám chỉ cảnh ăn uống đình đám. Trong cả hai trường hợp, câu nói đều khuyên người ta chớ tham lam. Không nên lợi dụng " của chùa ".

b - Vắt chày ra nước.
Vắt cổ chày ra nước (NVN, LĐ, NL,TL)
Câu nói chê người hà tiện, keo kiệt, bủn xỉn quá đáng (LĐ, NL).
Vắt chày ra nước thường đi đôi với Rán sành ra mỡ. Hai câu có nghĩa giống nhau. Việt Nam tự điển của Khai Trí Tiến Đức (1931) gộp chung hai câu tục ngữ thành Vắt cổ chày ra mỡ.

c - Cõng rắn (về) cắn gà nhà. (EN, NVN, VNP, LĐ, NL, TL).
Bắt rắn về cắn gà nhà (LC).
Bắt rắn hợp lí hơn cõng rắn.
Câu nói phê phán những tên phản bội đưa các lực lượng phản động bên ngoài về sát hại đồng bào (NL).
Hành động phản lại nhân dân, Tổ quốc, đem giặc về giết hại đồng bào (LĐ).
Cõng rắn cắn gà nhà thường đi với câu Rước voi giầy mả tổ (xem câu 6a).

d - Ăn quả chẳng nhớ kẻ trồng cây.
Ăn quả nhớ kẻ trồng cây (EN, NVN, NL, TL).
Cả hai câu cùng có nghĩa. Ngày xưa trách người quên ơn, ngày nay khuyên người ta phải nhớ ơn. Cách nói khác nhau. Trách móc nhẹ nhàng hay dạy bảo trực tiếp.

Tranh 4
a - Đãi cứt sáo lấy hạt đa.
Đãi cứt sáo lấy hạt đa, đãi cứt gà lấy hạt tấm (NVN, NL, TL) .
Chê những kẻ quá hà tiện, quá bủn xỉn (NL)

b - Rút giây động rừng (người viết chữ nôm thay đổi cách viết : đọc từ trên xuống dưới, từ trái sang phải).
Rút dây động rừng (NVN).
Rút dây động dừng (Dừng là cốt để trát bức vách) (NL).
Rút dây sợ động rừng (TL).
Rút dây, chả xợ (sợ) động rừng (EN).
Ý nói : Đả động đến điều gì thì ảnh hưởng đến điều khác (NL).
Câu nói của EN có nghĩa ngược lại. Làm điều gì thì không nên sợ đụng chạm. Người xưa dũng cảm. Đáng được đưa vào sách ghi các thành tích.

c - Chớ thấy sóng cả ngã tay chèo.
Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo (NVN, TL).
Chớ thấy sóng cả mà rã tay chèo (NL).
Khuyên phải gắng vượt mọi khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ (NL).

d - Đục nước (thì) béo cò (EN, NVN, LĐ, NL, TL).
Lợi dụng tình trạng mâu thuẫn, lục đục để kiếm lợi (LĐ).
Ý nói : Vì xung đột lẫn nhau nên kẻ khác lợi dụng (NL).

e - Cái tôm chẳng chật bể.
Cái tôm chật gì bể (NL).
Cái (con) tôm có chật gì sông, cái lông có chật gì lỗ (TL).
Lời khiêm tốn của một người khi xin gia nhập một tập thể (NL).

Tranh 5
a - Chơi (với) chó, chó liếm mặt (LC, NVN, VNP, NL).
- Chơi với chó, chó lờn mặt ; chơi với con nít, con nít dể ngươi (LC).
Ý nói làm thân với kẻ xấu nhiều khi nó hại lại mình (NL).
Nhiều người thích ví von, ghép thêm một vế :
Chơi chó chó liếm mặt

Chơi gà gà mổ mắt (hoặc Chơi cò cò mổ mắt, Chơi chim chim mổ mắt).
Quảng tập viêm văn không có câu Chơi chó, chó liếm mặt. Thay vào đó là câu Nuôi cò, cò mổ mắt (EN, LC).
Xưa kia nhiều nhà nuôi chó để ban ngày dọn dẹp cứt đái, ban đêm canh trộm. Dân ta coi chó là con vật đáng khinh, không ra gì. Đồ chó là một tiếng chửi. Để cho chó liếm mặt là bị... mất mặt, bị khinh thường ! Dân ta ngày xưa không chơi với chó. Cũng không có ai bế gà hay cò lên chơi để đến nỗi bị mổ mắt. Nuôi cò ( ?), nuôi gà để làm thịt thì có. Nuôi cò, nuôi gà, hay nuôi chó nghe hợp lí hơn là chơi cò, chơi gà, chơi chó. Ý nghĩa cũng sâu sắc hơn.
Ngày nay nước ta nhan nhản đại gia chơi chó kiểng. Đưa chó đi mĩ viện mài móng, tỉa lông. Được chó Bắc Kinh liếm mặt thì... Chao ôi, sao mà sướng thế. Đê mê như được bồ nhí xoa bóp, hôn hít. Chơi chó chó liếm mặt được các đại gia của thời kì toàn cầu hoá đánh giá là Tốt với người thì được người đáp lễ lại.

b - Đốt nhà táng phủi tay.
Vén tay áo sô, đốt nhà táng giấy (NVN, VNP, LĐ, NL, TL).
Nói con cái phá gia tài của cha mẹ để lại (NL).
Chi tiêu, sử dụng tiền tài phung phí, bừa bãi, không suy tính (LĐ).
Than phiền nạn các quan lãng phí của công. Tiêu tiền (của dân) như nước (lũ).

c - Phượng hoàng ăn cứt gà (đọc từ trên xuống dưới, từ trái sang phải).
Sáo đói thì sáo ăn đa,

Phượng hoàng lúc đói cứt gà cũng ăn (NVN, NL, TL).
Kẻ quí phái đến lúc sa cơ thì còn khổ hơn người bình thường (NL).
Chê bọn lúc túng làm càn. Sa cơ lỡ vận, thất sủng, sẵn sàng làm cả những việc tồi bại, mất danh dự.

d - Qua rào vỗ vế (NVN, NL).
- Chưa qua dào (rào) đã vỗ vế (EN).
Qua đò, khinh sóng (NVN, VNP, LĐ, NL, TL).
Qua sông, đấm bòi vào sóng (NVN, NL, TL).
Ý nói : Sau khi vượt qua một bước khó khăn, lấy làm vui mừng (NL).
Vui mừng thì vỗ tay chứ không vỗ vế (đùi). Vỗ đùi hay vỗ đít là tỏ vẻ coi thường. Câu nói có ý chê kẻ vừa thoát khỏi, thậm chí có khi chưa thoát khỏi bước khó khăn đã tỏ ra kiêu ngạo, khinh thường.

e - Chơi chim chim mổ mắt.
Cùng nghĩa và thường đi đôi với câu Chơi chó chó liếm mặt (xem câu 5a).

Tranh 6
a - Rước voi giầy mồ (NVN).
Rước voi giầy mả tổ (LĐ, NL, TL).
Rước voi về rầy (giầy) mồ (EN, LC).
Nghĩa giống câu Cõng rắn cắn gà nhà (xem câu 3c).
Câu nói ám chỉ bọn rước ngoại bang về sát hại đồng bào.

b - Đánh chó đá.
Đánh chó đá vãi cứt (NVN, NL).
Chê kẻ bất tài mà lại hay khoe khoang (NL).

c - Trâu bò húc nhau.
Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết (EN, LC, NVN, VNP, LĐ, NL, TL).
Ý nói: Khi kẻ trên hục hặc nhau thì kẻ dưới bị thiệt lây (NL). Những kẻ mạnh xung đột, đánh nhau, kẻ yếu bị liên luỵ tai vạ (LĐ).
Bọn vua quan, quyền thế bên trên đấu đá, tranh giành nhau thì chỉ khổ chỉ chết đám dân đen bên dưới.

d - Qua cầu bỏ dịp.
Qua cầu cất nhịp (NVN, NL)
Qua cầu rút ván (NL, TL).
Chê kẻ đã tiến lên rồi không muốn cho người khác tiến lên như mình (NL).

Tranh 7
a - Đường cao núi quanh.
Khen người không ngại khó khăn, vất vả.

b - Nói rắn trong lỗ bò ra (viết sai thành Nói rắn trong bò lỗ ra) (NVN, NL).
Nói con kiến trong lỗ cũng phải bò ra (LĐ, TL).
Khen người có tài khéo nói, dễ thuyết phục được người khác (NL).

c - Cá lớn nuốt cá con (NVN).
Cá lớn nuốt cá bé (LĐ, NL, TL).
Kẻ mạnh ức hiếp bóp chết kẻ yếu (LĐ).
Chê những kẻ có quyền thế bắt nạt, đàn áp người lép vế (NL).

d - Chim chích ghẹo bồ nông.
- Chim chích mà ghẹo bồ nông,

Đến khi (cơn) nó mổ lạy ông xin chừa (EN, LC, NL, TL).
Chê người yếu trêu người khỏe (NL).
Còn có câu :
- Chớ thấy hùm ngủ vuốt râu
Đến khi hùm dậy đầu lâu chẳng còn

Cả hai câu ca dao đều mang ý nghĩa tiêu cực. Trái với câu :
- Châu chấu đá ông voi (EN)
- Châu chấu chống xe
- Nực cười châu chấu đá xe
Tưởng rằng chấu ngã, ai dè xe nghiêng.

e - Cắm sào sâu khó nhổ (EN, NVN, NL, TL)
Đã quá đi sâu vào một việc gì thì khó gỡ ra (NL)
Khuyên người ta làm việc gì cũng phải nghĩ đến hậu quả, không nên cực đoan, thái quá. Đừng có thiên lôi chỉ đâu đánh đấy, có khi đánh trúng cả cha mẹ, anh em.

g - Cá vàng bụng bọ (EN, NVN, NL, TL)
Bên ngoài trông tốt đẹp, nhưng trong lòng xấu xa (NL).

Tranh 8
a - Cầm chổi quét chùa (cổng chùa có 2 chữ Pháp môn)
- Con vua thì lại làm vua,

Con nhà thầy chùa (con sãi ở chùa) lại quét lá đa (NVN, NL, TL).
Nói lên nỗi bất công trong xã hội phong kiến (NL).
Lên án nạn cha truyền con nối. Bọn có chức có quyền, giàu sang sung sướng thì cứ tiếp tục ăn trên ngồi trốc. Thấp cổ bé họng thì tiếp tục chịu cực, chịu khổ.
Ngày xưa dân gian gọi bọn Con vua thì lại làm vua là bọn con cha cháu ông (Génibrel). Ngày nay nói sai thành bọn con ông cháu cha.

b - Đánh trống qua nhà sấm.
Đánh trống qua cửa nhà sấm (EN, NVN, LĐ, NL, TL).
Bộc lộ trình độ vụng về, kém cỏi trước người hiểu biết, tinh thông hơn mình (LĐ).
Lời nói khiêm tốn tỏ rằng mình phải trình bày hoặc biểu diễn trước một cử toạ mà mình cho là giỏi hơn mình (NL).
Chê bọn điếc không sợ súng, huênh hoang độc diễn. Ta tài, ta giỏi, ta nhất... trong xóm ta. Chê bọn coi trời... nhỏ hơn cái vung.

c - Nhăn như bà cốt uống thuốc.
Bà cốt che mặt (NVN).
Bà cốt là người đàn bà làm nghề đồng bóng. Bọn đồng bóng, phù thuỷ lúc nào cũng tự nhận là con thần cháu thánh, có phù phép đuổi tà, trị bịnh... cho người khác. Đến khi chính mình bị bịnh thì chẳng thấy ông đồng bà cốt nào đuổi được tà, chữa được bịnh. Các ông, các bà cũng phải uống thuốc, mặt mày nhăn nhó như mọi người.
Vạch mặt bọn kiếm ăn bằng lừa dối, bằng mê tín dị đoan.

d - Cầu Thích Ca ngoài đường.
Bụt nhà không cầu, cầu Thích Ca ngoài đường (NVN).
Bụt chùa nhà không thiêng, đi (lại) cầu Thích Ca ngoài đường (EN, NL).
Bụt nhà không thiêng, đi cầu thích ca ngoài đường (TL).
Phê phán thái độ tự ti coi nhẹ khả năng của người mình, thích đi cầu cạnh người ngoài (NL).
Phê phán bọn sính đồ ngoại, chê đồ nội. Trong nhà có nước mắm Phú Quốc thì không ăn, chạy đi mua nước mắm Thái Lan. Chê trà Bảo Lộc, khoái trà Lipton v.v.

***
Ai cũng biết rằng thành ngữ, tục ngữ ít khi được nói, được hiểu theo nghĩa đen. Hầu như câu nói nào cũng phải hiểu theo nghĩa bóng. Làm sao vẽ được... nghĩa bóng? Chính vì vậy mà tranh minh hoạ tục ngữ rất... ngây ngô. Thậm chí vô nghĩa.

Tuy vậy, tranh minh hoạ tục ngữ cũng góp phần làm chứng nhân của một thời kì lịch sử. Làm chiếc cầu chuyển tiếp chữ nôm sang chữ quốc ngữ. Ngày nay xem lại, chúng ta thoáng hiểu một vài cách xử thế, dăm ba lời khuyên của người xưa.

Xưa cũng như nay... Sau luỹ tre xanh hay trước toà nhà cao tầng. Dưới trận mưa tầm tã hay giữa cơn nắng chang chang. Trong sạch nhẹ nhàng hay ô nhiễm bức xúc. Một câu hỏi luôn luôn được đặt ra : Cái gì nên vứt bỏ, cái gì nên trân trọng bảo tồn ?

Nguyễn DưNguyễn Dư
(Lyon, 1/2011)
Sách tham khảo :

- Edmond Nordemann, Chrestomathie annamite (Quảng tập viêm văn), 1898, Nguyễn Bá Mão biên dịch và chú thích, Hội Nhà Văn tái bản, 2006.

- Léopold Cadière, Croyances et Pratiques religieuses des Viêtnamiens, 3 tập (1944, 1955, 1957), École Française d'Extrême-Orient tái bản, 1992.

- Nguyễn Văn Ngọc (NVN), Tục ngữ, phong dao, 1928, Mặc Lâm tái bản, 1967.

- Vũ Ngọc Phan (VNP), Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, in lần thứ 8, Khoa Học Xã Hội, 1978.

- Nguyễn Lực, Lương Văn Đang (LĐ), Thành ngữ tiếng Việt, Khoa Học Xã Hội, 1978.

- Nguyễn Lân (NL), Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, Văn Hoá, 1989.

- Thuỳ Linh (TL), Thành ngữ, tục ngữ Việt Nam, Lao Động � Xã Hội, 2007.

- Trương Vĩnh Ký, Chuyện đời xưa, 1866, Sudasie tái bản, 1994.

- Maurice Durand, Imagerie populaire vietnamienne, EFEO, 1960.

Tôi đi bầu

Trương Văn Sương, người tù bất khuất
Gần đến bầu cử quốc hội bên Việt Nam và nghe thiên hạ bàn qua tán lại về chuyện ‘ đảng cử dân bầu ‘….làm tôi nhớ lại hồi tôi đi bầu quồc hội VC sau tháng Tư năm 1975. Đó là lần đầu tiên dân miền Nam đi bầu theo kiểu ‘ cách mạng ‘.

Đầu tiên là ‘ nhân dân làm chủ ‘ phải học tập bầu cử. ( Ở chế độ mới này, không lúc nào thấy ngưng nghỉ học tập. Hết học tập chuyện này là tiếp ngay học tập chuyện khác. Vừa xong học tập ở tổ dân phố là đã thấy phải kéo nhau ra học tập ở phường, chưa kể những người đi làm còn phải học tập ở cơ quan…v v ! ) Ông tổ trưởng tổ dân phố xóm tôi - hồi trước làm kế toán cho một hãng bào chế thuốc Tây – cho người mời các tổ viên đến nhà ông họp vào một buổi tối để học tập bầu cử. Sau khi mọi người đã an vị, nghĩa là ngồi chồm hổm hay ngồi bẹp dưới đất, ông tổ trưởng - ngồi sau một cái bàn thấp trên đó có để mấy xấp giấy vuông vuông và một lô bút bi - tằng hắng rồi nói một cách trịnh trọng : « Tôi mời bà con đến đây để chúng ta cùng học tập bầu cử. Khác với thời ngụy, ứng cử loạn xà ngầu, vàng thau lẫn lộn, chẳng biết ai là ai hết, bây giờ, trong chế độ ta, đảng có bổn phận chọn người đứng đắng, có đạo đức cách mạng… để đề nghị nhân dân bầu. Như vậy, nhân dân khỏi sợ chọn lầm người như ta vẫn thường thấy trong thời ngụy trước đây. »

Tổ viên im lặng nghe. Phần đông hùt thuốc hay xỉa răng. Thỉnh thoảng có tiếng đập muỗi và vài tiếng … ngáp. Thấy có vẻ… được, ông tổ trưởng phấn khởi nói tiếp : ’’ Đơn vị của mình được 10 dân biểu, nhưng vì là một cuộc bầu cử nên trên lá phiếu có in 12 tên đánh số từ 1 đến 12 để mình gạch bỏ 2 tên .’’

Nói đến đây, ông lấy xấp giấy vuông vuông trên bàn đi phát cho mỗi người một tấm, vừa làm vừa nói : ’’ Đây là lá phiếu. Nó như thế này đấy.’’ Rồi ông cầm một phiếu đưa lên cao : ’’ Bà con thấy không , có 12 người. Khi đi bầu, mình phải gạch bỏ 2 tên như vầy nè .’’ Vừa nói ông vừa lấy bút bi gạch hai tên mang số 11 và 12, rồi tiếp : ’’ Bà con rõ chưa ? Bây giờ, mình bầu thử cho quen.’’ Ông lấy bút bi trao cho tổ viên : “ Bà con làm như mình đi bỏ phiếu thiệt vậy. Gạch như tôi chỉ rồi xếp giấy lại làm tư. Mà… đừng ai nhìn ai hết nghe. Mình bỏ phiếu kín mà ! Gạch xong mỗi người tự mang phiếu đến cho tôi xem coi có đúng không, nghĩa là có hợp lệ không.’’ Ổng trở vào ngồi sau cái bàn thấp, đốt thuốc hút. Một lúc, ổng hỏi : “ Xong chưa nà ?’’ Các tổ viên đồng thanh : “ Dạ rồi " Ông tổ trưởng có vẻ hài lòng, nói : “ Từng người một tuần tự mang phiếu đến tôi xem nào.“ Ổng mở từng phiếu coi rồi gật đầu nói : ’’ Đúng !’’

Từ đầu, tôi đã thấy…. hề quá nên thay vì gạch số 11 và 12, tôi gạch đại hai số nằm phía bên trên. Khi ông xem phiếu của tôi, ổng giật mình ngạc nhiên nhìn tôi, dò xét. Rồi ổng ra dấu gọi tôi đến gần kề miệng vào tai tôi, nói nhỏ : “ Không phải hai thằng cha này, ông nội ơi !“ Tôi cười khẩy : “ Vậy hả bác ?“

Đến ngày đi bầu, ông tổ trưởng… gom chúng tôi trước nhà ổng lúc 10 giờ 30 sáng bởi vì tổ chúng tôi – theo lịch trình ấn định - sẽ vào phòng phiếu lúc 11 giờ. Sau khi đếm đủ nhân số 23 người, ổng dẫn chúng tôi đến trước phòng phiếu, bắt đứng thành hàng một, rồi ổng bước vào bên trong. Một lúc sau, ổng đi ra với một người nữa lạ hoắc vì không phải là dân trong xóm. Ổng vừa trao cho người đó một tấm giấy ( chắc là giấy kê khai dân số ) vừa chỉ vào… cái đuôi của tổ : “ Đây ! Đồng chí đếm đi ! 23 người đầy đủ !“ Ông đồng chí đếm xong nói : “ Đồng bào xếp hàng vào cái đuôi này.“ Ổng chỉ vào hàng….dép guốc từng đôi nối nhau dài dài nằm phơi dưới nắng. Tôi nhìn quanh : thì ra đồng bào, trong khi chờ đến phiên mình vào bỏ phiếu, đã vào núp nắng dưới hiên nhà dân, để giày dép làm đuôi thay thế ! Tổ chúng tôi bèn cởi giày dép guốc làm y như vậy, cười cười nói nói vì thấy… vừa lạ vừa vui !

Người đi bầu lần lượt mang lại giày dép để vào phòng phiếu cho nên lâu lâu phải…đôn từng đôi giày dép guốc lên, giống như cái đuôi người nhích tới mỗi khi phía trước có chỗ trống. Tôi thấy có một thằng nhỏ trong căn phố nằm cạnh phòng phiếu chạy ra làm việc này. Có lẽ người lớn trong nhà tự động biểu nó làm, vì họ thông cảm người cùng xóm đang bị cảnh trời trưa nắng gắt !

Khi gần đến tổ chúng tôi bầu, bỗng nghe có người la lên : “ Chết cha ! Tụi nào lấy mẹ nó đôi dép da của tôi rồi !“ Vậy là những người đang núp nắng chạy ào ra cái đuôi giày dép nhìn đồ của mình, rồi, chẳng ai bảo ai, mỗi người tự động lấy đi một chiếc của mình nhét vào lưng quần hay cầm trên tay, điềm nhiên trở về chỗ núp nắng cũ, để lại hàng dép guốc bây giờ mỗi thứ chỉ còn có một chiếc ! Thằng nhỏ vẫn lâu lâu đẩy từng chiếc lên, như chẳng có chuyện gì xảy ra hết !

Lần bầu cử đó, theo báo cáo của Nhà Nưc, đã đạt 99,99%. Có điều là người dân đi bầu chẳng thấy mặt ứng cử viên nào hết ! Chú Bảy thợ hồ xóm tôi….phát biểu : “ Mẹ ! Đã nói nhắm mắt bầu mà đòi thấy con khỉ gì , hả ?“

Đó là lần đầu cũng là lần cuối tôi đi bầu quốc hội V C, bởi vì sau đó, tôi đã….nhắm mắt vượt biên !

Tiểu Tử

Bài Xem Nhiều