We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 19 May 2011

RFA: Bầu cử Quốc Hội dưới cái nhìn của giới Bloggers


Các Bloggers nhận định như thế nào về cuộc bầu cử Quốc Hội Việt Nam khóa XIII sắp diễn ra.


RFA PHOTOPano chào mừng Bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XIII ở Q7 – TPHCM, ảnh chụp tháng 4-2011.


Đảng cử dân bầu?


Thưa quý vị, theo kế hoạch thì vào Chủ Nhật 22 tháng Năm này, cử tri cả nước VN sẽ làm nhiệm vụ công dân, mà nói theo kiểu thơ Bút Tre:


“Mừng ngày bầu cử tự do,


Những ai xứng đáng thì cho vào hòm.”


Giữa lúc không khí gọi là “hồ hởi, phấn khởi” sắp diễn ra khắp nước trong 5 ngày nữa, qua Blog Dân chủ-Nhân quyền cho VN, nhà báo Phạm Trần có cái nhìn xem chừng như không lạc quan qua bài tựa đề “Quốc Hội Bầu Ai, Làm gì ?”:


UBMTTQVN cũng không công bố công khai việc xem xét số ứng cử viên ĐBQH khóa XIII này có Đại biểu nào có “thành tích tham nhũng” và “kiên quyết chống tham nhũng” hay không.


Blog 360 LP


“Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp của nhà nước Cộng sản Việt Nam bầu ra ngày 22 tháng 5 năm 2011 sẽ không giúp ích gì cho chủ trương xây dựng đất nước để đạt mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” như nhà nước tuyên truyền là do “sự lãnh đạo đúng đắn của đảng”.Tại sao như thế? Bởi vì những căn bệnh kinh niên như: “Nguy cơ tham nhũng; bệnh quan liêu, dân chủ hình thức; bệnh thành tích, báo cáo không đúng sự thực” như Tạp chí Xây dựng Đảng nêu ra ngày 20-10-2010 vẫn còn được cử tri gay gắt phản ảnh với các ứng cử viên Quốc hội trong các cuộc tiếp xúc bắt đầu từ ngày 3/5 trong cả nước.”


Nói đến quốc nạn tham nhũng, thì Luật Bầu Cử Đại Biểu Quốc Hội VN quy định rằng các nhà lập pháp VN phải “có phẩm chất đạo đức tốt, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng và các hành vi vi phạm pháp luật”.

Nhưng, theo Blog 360 Luật Pháp:



“Qua các lần hiệp thương ứng cử vào ĐBQH vừa qua do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức, không thấy cơ quan này công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng về việc kê khai (minh bạch) tài sản của tổng số ứng cử viên ĐBQH khóa XIII này (!!!). Đồng thời, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng không công bố công khai việc xem xét số ứng cử viên ĐBQH khóa XIII này có Đại biểu nào có “thành tích tham nhũng” và “kiên quyết chống tham nhũng” hay không. Nếu không có sự công bố trên thì chắc chắn số ứng cử viên được cử tri cả nước đi bầu trong ngày 22/5/2011 tới đây sẽ bị bưng bít thông tin không biết ai đủ hoặc thiếu điều kiện mà Điều 3 của Luật bầu cử ĐBQH đã quy định; xét một cách cụ thể theo Điều 3 của Luật này là không hiểu hoặc không biết ứng cử viên ĐBQH nào hội đủ “những tiêu chuẩn” quy định tại khoản 2; nếu đúng thế thì đương nhiên các “ông, bà nghị gật” tương lai chưa xứng đáng là người đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân.”



000_Hkg4883397-200.jpg

Pano chào mừng Bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XIII ở Hà Nội, ảnh chụp 11-05-2011. AFP photo.


Blogger Nguyễn Hưng Quốc nhân ngày bầu cử Quốc Hội VN sắp tới cũng – nói theo lời ông – “nghĩ ngợi bâng quơ về chuyện bầu cử và dân chủ” qua bài tựa đề “Chút Son Trên Miệng Cá Sấu”:


“Các cuộc bầu cử ở Việt Nam từ trước đến nay cũng vậy. Lúc nào người thắng cũng thắng một cách hết sức “vang dội”, toàn là chín mươi mấy phần trăm đến một trăm phần trăm cả. Nhưng, thành thực mà nói, chẳng có người có chút lương tri nào dám khẳng định các cuộc bầu cử thường được gọi là “đảng cử dân bầu” ấy là dân chủ cả.”


Ai đủ điều kiện?


Blogger Mẹ Nấm bày tỏ bất bình trước tình trạng người dân bị đưa vào cái thế phải “bầu những người đã được (Đảng) cử” khiến dẫn tới tình trạng quyền công dân bị chà đạp. Qua bài tựa đề “Bầu những người đã được ‘cử’ nên chọn thái độ nào cho đúng”, blogger Mẹ nấm nhận xét:



“Hãy chứng tỏ thái độ của mình ở lần bầu cử sắp tới đây thì bạn thấy hết thôi. Khi bạn thấy một người mà bạn và nhiều người không bầu vẫn đắc cử, nghĩa là quyền công dân của bạn và tôi và chúng ta đã bị chà đạp. Điều này có nghĩa là chúng ta đang tồn tại trong một xã hội như thế nào, tôi nghĩ, bạn đã có câu trả lời!”


Blogger Tô Hải cho biết rằng “suốt 65 năm qua, theo lời ông, “tớ chỉ đóng vai trò một diễn viên, diễn vở diễn mà đạo diễn đã bầy đặt, sắp xếp sẵn (gọi là ‘dưới sự lãnh đạo của Đảng’)… nghĩa là Đảng giới thiệu ai, cơ cấu ai? thậm chí gạch tên ai? đều đã có quyết định từ trước, từ TRÊN”. Và vị nhạc sĩ có tâm huyết với vận nước này cho biết thêm rằng trong lần bầu cử Quốc Hội thứ 13 sắp tới, ông sẽ được đóng 1 vai cũ mà không cần “ra sân khấu”. Nhưng ông cam kết sẽ thực hiện ‘tròn vai’ với hy vọng rằng danh sách “đảng cử dân bầu” bao gồm toàn tiến sĩ, thạc sĩ, cử nhân mà “cứ cho đến 50% là học vị dỏm thì số còn lại có ngoại ngữ, có biết sử dụng Internet…sẽ phát huy những điều các ông Sang, ông Trọng đã nói trước cử tri bằng những hành động cụ thể tại nghị trường”. Blogger Tô Hải nhận xét:


Khi bạn thấy một người mà bạn và nhiều người không bầu vẫn đắc cử, nghĩa là quyền công dân của bạn và tôi và chúng ta đã bị chà đạp.


Blogger Mẹ Nấm


“Một vài lần tớ và bạn bè tớ đã thống nhất lần này cứ thử gạch tên “ông TO to X“, ”ông TO vừa Y”, ông “TO…bé Z” ….vì lãnh đạo bê bết quá, vì già yếu quá,….cũng nhân thể xem xem có chuyện dân chủ thực sự không? Nhưng kết quả mấy ông đó vẫn cứ “trúng cử” thậm chí đến 100% phiếu bầu! Đặc biệt cái thời một nửa nước “mới được giải phóng”, cái thời mà một nửa nước với số cử tri mà gia đình họ đều có chồng con đang đi cải tạo không có ngày về, khi bầu cử quốc hội cũng đều tất cả những ai Đảng đã cơ cấu đều trúng cử khi công bố cuối cùng. Vẫn là được tín nhiệm từ 80 đến 100 %! Nhân dân “vùng ngụy” sớm giác ngộ cách mạng, đồng lòng theo Đảng đến tớ cũng phát….sợ !


Và chẳng phải mình tớ, cả triệu triệu con người ở cả hai miền đất nước, tư tưởng và tình cảm khác nhau như đêm với ngày, như nước với lửa đều nhận thấy: Đây chỉ là một vở diễn “Đảng cử Dân bầu”, lớp lang, “miếng”, “mảng”, màn 1, màn 2 và kết thúc ra sao ai cũng…biết trước!


…Bầu cử ở nước ta là 1 vở diễn đã có sẵn từ khoá 2 đến nay, dù có thay đổi, bổ sung 1 vài ‘mảng miếng mới’ nên mọi “sáng kiến ”hòng thay đổi nó tớ cứ xin mạnh bạo mà nói: ĐỀU VÔ TÁC DỤNG! Bằng chứng sống động nhất là ông X bị cả nhà, cả họ, cả cơ quan, bên nội ngoại tớ gạch tên. Thế mà khi công bố kết quả ông ta vẫn trúng cử 100% số phiếu. Vậy những người gạch tên ông ta không có được tính phần trăm nào hay sao?”



“Trên bảo dưới không nghe”



banner-03-250.jpg

Pano chào mừng Bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XIII ở Q7 – TPHCM, ảnh chụp tháng 4-2011. RFA Photo.


Blog 360 Luật Pháp nhân tiện không quên Đại biểu Hội đồng Nhân dân và nêu lên câu hỏi rằng có phải “Đại biểu HĐND không bị quy định ‘trung thành với hiến pháp?”. Trang blog này phân tích:


“… Đọc Khoản 1 cùng Điều 3 của hai Luật (về bầu cử Đại biểu Quốc Hội và bầu cử Hội đồng Nhân dân), cử tri cả nước cũng đều nhận ra rằng: “Đại biểu HĐND” 3 cấp (xã, huyện, tỉnh) đều không cần phải “trung thành với Hiến pháp – đạo luật cơ bản (luật gốc) của Nhà nước!”. Có lẽ xuất phát từ quy định này nên ở nước ta đã tồn tại hiện tượng “trên bảo dưới không nghe” và nay nó càng mang tính phổ biến hơn (?!). Cũng có thể, từ việc quy định thiếu nhất quán này đã và đang làm phát sinh hiện tượng ở khắp các địa phương trên cả nước các cấp chính quyền cơ sở bán đất, bán rừng, bán tài nguyên tràn lan không theo quy định của Hiến pháp và không bị ĐBQH giám sát. Rốt cuộc, chỉ vì những quy định có tính xung đột pháp luật nêu trên nên rất có thể dẫn đến hệ quả pháp lý làm khổ thằng dân ngu cu đen, úp mặt xuống đất, bán lưng cho giời, cày sâu cuốc bẫm, thắt lưng buộc bụng, kiếm đồng bạc cắc từ đồng ruộng để đóng thuế nuôi một số bọn “nghị gật – không trung thành với Hiến pháp” đang chui rúc trong bộ máy công quyền.”


Blogger Sự Thật và Công Lý qua bài “Vận Động Tranh Cử…Kín” so sánh cách tranh cử ở VN với các xứ dân chủ Phương Tây để từ đó mới nhận ra “thành quả vĩ đại” của VN:


“Nếu như ở Mỹ và các nước phương Tây, ứng viên tiếp xúc với cử tri một lúc hàng ngàn người, cử tri muốn gặp ứng viên càng nhiều thì ứng viên càng mừng, tiếp xúc cả ngoài đường phố, quảng trường, sân vận động… để vận động tranh cử; thì “vận động tranh cử” ở Việt Nam diễn ra rất “kín đáo” trong bốn bức tường “cứng rắn”, ứng viên không cần biết đến cái bản mặt của đám cử tri thường dân cũng có kết quả trúng cử trên 90% như thường. Đây quả là “thành quả cách mạng vĩ đại” chỉ có ở Việt Nam!”



Bởi vậy, theo blogger Nguyễn Hưng Quốc, các cuộc bầu cử Quốc Hội ở VN vốn được tổ chức một cách tốn kém không có liên hệ gì tới ý niệm dân chủ. Và GS Nguyễn Hưng Quốc hình dung rằng chuyện bầu cử “chỉ là việc tô son trên miệng cá sấu. Vậy thôi”.


Thanh Quang cảm ơn quý vị đã theo dõi Mục Điểm Blog và xin hẹn gặp lại quý vị vào tuần tới.


Thanh Quang, phóng viên RFA



Tôn giáo và Xã hội Dân sự (1).

Tôn giáo và Xã hội Dân sự (1).

Lọat bài nhiều kỳ của :LS. Đòan Thanh Liêm



Bài I – Mối liên hệ giữa Tôn giáo và Chính quyền Nhà nước.

Như ta đã biết : Xã hội Dân sự (XHDS) là một khu vực khác biệt với khu vực Chính quyền Nhà nước và khu vực Thị trường Kinh doanh, đó là ba khu vực cấu thành cái Không gian Xã hội do con người sống hợp quần với nhau trong xã hội mà tạo lập ra. Và càng ngày với sự tiến bộ của nền dân chủ tại khắp nơi trên thế giới, thì sinh họat của XHDS mỗi ngày càng thêm khởi sắc phong phú hơn.
Ta có thể tóm lược cái định nghĩa này về XHDS trong một phương trình đơn giản như sau :
Không gian Xã hội = Nhà nước + Kinh doanh + Xã hội Dân sự
(The Social Space = The State + The Marketplace + The Civil Society).
Khu vực XHDS bao gồm các tổ chức phi chính phủ, bất vụ lợi (non- governmental, non-profit organisations – NGO - NPO) và các nhóm nhỏ (small groups) do các cá nhân hay tập thể tự nguyện đứng ra thành lập và điều hành. Như vậy, các tổ chức nhân đạo từ thiện hay văn hóa xã hội do các tôn giáo trực tiếp đảm trách hay yểm trợ, thì đều thuộc khu vực XHDS. Vì các tổ chức này đều có tính chất bất vụ lợi, nên cũng khác biệt với các công ty xí nghiệp có tính cách vụ lợi (for profit) thuộc khu vực thị trường kinh doanh.
Cụ thể như tại nước Mỹ, thì có đến cả triệu các đơn vị NGO ( mà hầu hết được chánh quyền cấp phát cho quy chế miễn thuế) và trên 3 triệu nhóm nhỏ (không cần đăng ký để được miễn thuế). Và trong các tổ chức này, thì có đến 60% xuất phát từ các tôn giáo, mà thường được gọi là các tổ chức họat động xã hội dựa vào niềm tin tôn giáo ( Faith-based social action organisations/groups).
Trong một thể chế dân chủ đích thực, thì chánh quyền nhà nước không bao giờ lại đi can thiệp vào sinh họat riêng biệt của các tổ chức thuộc khu vực XHDS. Mà trong một số trường hợp, nhà nước lại còn cấp ngân khỏan tài chánh, và yểm trợ cho các họat động từ thiện nhân đạo hay văn hóa xã hội của XHDS nữa. Và ngân khỏan điều hành chủ yếu của các đơn vị trong khu vực XHDS là do sự đóng góp tự nguyện của các thành viên, hay do sự tài trợ của các công ty xí nghiệp kinh doanh cấp phát cho (các khỏan tài trợ này đều được khai miễn thuế - tax exempt).
Chỉ có trong một chế độ chuyên chế độc tài tòan trị (totalitarian dictatorship) như tại Trung hoa, Việt nam, Bắc Triều tiên và Cuba hiên nay, thì đảng cộng sản mới xâm nhập, lũng đọan tòan thể khu vực XHDS, cũng như khống chế cả khu vực kinh doanh kinh tế nữa. Điển hình như tại Việt nam hiện nay, thì các cơ sở ngọai vi của đảng như Mặt trận Tổ quốc, Tổng Công đòan, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đòan Thanh niên Cộng sản Hồ chí Minh, Hội Nhà văn v.v…, mặc dầu trên danh nghĩa đó là các tổ chức phi chánh phủ và bất vụ lợi, nhưng thực chất thì đều do đảng cộng sản lập ra để nắm giữ độc quyền thao túng và lũng đọan tòan bộ XHDS, nhất là để khống chế đối với các tổ chức tôn giáo.

Trong bài Dẫn nhập này, ta sẽ bàn về mối Liên hệ của Tôn giáo đối với chính quyền Nhà nước dưới các khía cạnh sau đây :
1/ Sụ tách biệt giữa Tôn giáo và Nhà nước.
(Separation of Church and State)
2/ Vai trò Tôn giáo làm Đối tác đối với Nhà nước (Counterpart).
3/ Vai trò Tôn giáo làm Đối trọng đối với Nhà nước
(Counterbalance)

* Sự tách biệt giữa Tôn giáo và Nhà nước.

Từ mấy trăm năm gần đây, nhiều quốc gia trên thế giới đã xây dựng được một nền nếp sinh họat chính trị xã hội khá ổn định vững chãi, mà trong đó phải kể đến sự tách biệt rõ ràng giữa hai lãnh vực họat động của Tôn giáo và của chính quyền Nhà nước. Cụ thể là các Tôn giáo không tìm cách can thiệp, khuynh lóat hay thao túng vào công việc của cơ quan nhà nước. Và ngược lại, chính quyền Nhà nước cũng không xen vào sinh họat đạo đức tâm linh của các tổ chức tôn giáo.

Phạm vi họat động của một nhà nước thế tục càng ngày càng được quy định rõ rệt và chi tiết về nhiều phương diện chính trị, kinh tế xã hội cũng như văn hóa. Và dù có sự khác biệt tại một số quốc gia do ảnh hưởng của truyền thống lịch sử để lại, thì chiều hướng chung hiện nay trên thế giới vẫn là : lãnh vực thần quyền của tôn giáo không được lấn át hay đồng hóa vào trong lãnh vực thế tục của nhà nước; mà trái lại hai bên đều có sự tương kính và tương trợ lẫn nhau trong ý hướng cùng chung phục vụ quần chúng nhân dân. Đó là điều ta sẽ thảo luận chi tiết hơn trong hai mục tiếp theo sau đây.


** Vai trò Tôn giáo làm Đối tác với Nhà nước.

Chính quyền Nhà nước dù có thiện chí đến mấy đi nữa, thì cũng không thể chăm sóc đày đủ cho người dân về mọi phương diện vật chất cũng như tinh thần được, nhất là khi gặp thiên tai bão lụt, động đất, hay khi có chiến tranh tàn phá. Do đó mà cần phải có sự hợp tác của các tổ chức từ thiện nhân đạo của tư nhân, đặc biệt là của các tổ chức xã hội của Tôn giáo, để cùng chung sức góp phần vào việc phục vụ các nạn nhân, các bệnh nhân ngặt nghèo như bệnh phong cùi, bệnh HIV/AID, và tầng lớp quần chúng kém may mắn nhất của xã hội như trẻ mồ côi, góa phụ, người già neo đơn v.v... Về giáo dục, y tế cũng vậy, các trường công cũng như các bệnh viện công lập của nhà nước không thể thỏa mãn được nhu cầu của số quá đông các học sinh hay bệnh nhân, do đó mà cần phải để cho các tổ chức tư nhân cũng như các tôn giáo tham gia vào lãnh vực y tế giáo dục này.

Chỉ có trong chế độ độc tài cộng sản, thì nhà nước mới giữ độc quyền, không hề để cho các tổ chức tư nhân được tham gia vào việc phục vụ xã hội, như ta thấy ở Việt nam từ khi có chế độ cộng sản đến nay.

Tại các quốc gia dân chủ, không những tôn giáo được quyền tham gia vào các họat động xã hội, mà lại còn được nhà nước khuyến khích hỗ trợ để tôn giáo có thể phục vụ người dân một cách thỏa đáng hơn nữa. Cụ thể như ở nước Pháp, thì nhà nước thường trợ cấp và dành nhiều thuận lợi cho những cơ sở xã hội từ thiện nào mà được công nhận là có ích lợi công cộng, thí dụ như Hội Hồng Thập Tự, Hội Hướng Đạo, Hội Bác Ái Vincent de Paul v.v… (organisation reconnue d’utilité publique). Vì có sự hợp tác cụ thể và thường xuyên như vậy, nên đã phát sinh ra sự hiểu biết thông cảm và thân thiện giữa các viên chức cán bộ cùa Nhà nước với các tu sĩ và tín đồ của các tôn giáo. Và từ đó mà lần hồi tránh bớt được những ngộ nhận, thành kiến, ác cảm đối nghịch thường có giữa hai phía Nhà nước và Tôn giáo.

Triết gia người Pháp nổi danh là Jacques Maritain từ hồi giữa thế kỷ XX đã nhận định rằng tại nước Mỹ thì từ lâu đã có “ sự phân biệt sắc nét và sự hợp tác thực tế ” giữa tôn giáo và nhà nước (sharp distinction and actual cooperation), mà ông gọi đó là một “kho báu lịch sử” rất đáng trân trọng cần phải được duy trì và phát triển thêm lên mãi (an historical treasure). Và mới đây, vào đầu thế kỷ XXI Tổng thống Nicolas Sarkozy của Pháp cũng kêu gọi phải phát triển cái “tinh thần thế tục tích cực” (a positive laicité) với thái độ cởi mở hơn đối với tôn giáo.


*** Vai trò Tôn giáo làm Đối trọng đối với Nhà nước.

Chính quyền nào thì cũng dễ có khuynh hướng lạm quyền và vượt quyền, khiến gây ra những sự bất công áp bức đối với người dân. Vì thế mà tại các nước dân chủ, người ta mới phải áp dụng các phương thức gọi là “ kiểm soát và cân bằng” (checks and balance), nhằm ngăn chặn những vi phạm sai trái của cơ quan thi hành luật pháp mà thường gây ra thiệt hại cho dân chúng. Giới truyền thông báo chí, các tổ chức bênh vực nhân quyền, các đại diện dân cử do người dân bàu ra… đều có trách nhiệm đóng vai trò cảnh giác và ngăn chặn đối với những vi phạm này của nhân viên chính quyền.

Vì đi sâu đi sát với quần chúng nhân dân, nên Tôn giáo dễ phát hiện ra được những sự bóc lột bất công áp bức trong xã hội, và do đó cũng phải có trách nhiệm tham gia vào việc bảo vệ người dân bằng cách làm áp lực bắt buộc chính quyền phải sửa sai chấn chỉnh lại cái lề lối cai trị của mình, phải bài trừ nạn sa đọa quan liêu tham nhũng của nhân viên cán bộ nhà nước. Muốn làm được như vậy, thì giới tu sĩ và các tín đồ phải có lòng ngay thẳng và sự dũng cảm để dấn thân nhập cuộc cùng với tầng lớp sĩ phu trí thức, với giới văn nghệ sĩ - là những thành phần ưu tú của Xã hội Dân sự - trong sự nghiệp tranh đấu chung cho công bằng xã hội, cho nhân phẩm và nhân quyền của tòan thể cộng đồng dân tộc.

Thái độ im lặng, thụ động buông xuôi trước những bất công áp bức đày rẫy trong xã hội thì rõ ràng đó là sự lẩn tránh trách nhiệm, là cái tội đồng lõa với giới cầm quyền thống trị ác nhân ác đức. Đó là điều mà người chính nhân trượng phu quân tử, cũng như giới lãnh đạo tinh thần đích thực nơi các tôn giáo, thì không bao giờ lại có thể mắc phải được. Dân gian ta vẫn thường nói là : “ Anh hùng thấy sự bất bình chẳng tha”. Đó là sự nhắc nhở đề cao tán dương cái hành động cao quý của người có nghĩa khí hào hiệp, biết xả thân ra tay bênh vực cứu vớt những nạn nhân khốn khổ trước sự lộng hành của bọn côn đồ ác ôn thường hãm hại đàn áp dân lành vậy.

Nói vắn tắt lại, muốn làm tròn nghĩa vụ làm Đối trọng đối với chính quyền Nhà nước, thì giới lãnh đạo Tôn giáo cần phải có sự hợp tác chặt chẽ với giới Hàn lâm Đại học (Academy), vì giới này có sự hiểu biết bao quát và chính xác về tình hình xã hội, họ có tầm nhìn xa, có viễn kiến sâu rộng (global thinking / global vision). Họ có Trí tuệ thông suốt, mà Tôn giáo thì có cái tấm lòng từ bi nhân hậu, có sự hy sinh nhẫn nại kiên trì. Cho nên nếu kết hợp được cái Tâm và cái Trí như vậy, thì nhất định việc xây dựng và phát triển xã hội có cơ may thành công tốt đẹp, đáp ứng được niềm mong ước chính đáng của đại đa số quần chúng trong xã hội ngày nay vậy.

Nhân đây, cũng cần phải xác định cho rõ rằng : Xã hội Dân sự cũng như Tôn giáo, thì không bao giờ lại nhằm vào việc đánh đổ hay thay thế chính quyền Nhà nước. Mà XHDS chỉ nhằm hợp tác với Nhà nước để cùng chung nhau phục vụ dân tộc một cách có hiệu quả tối ưu mà thôi.


Trên đây là mấy suy nghĩ hết sức đại cương tóm lược về sự dấn thân nhập cuộc của Tôn giáo trong hòan cảnh xã hội đương thời, nhằm sát cánh chung với các thành phần khác của Xã hội Dân sự trong sự nghiệp xây dựng một xã hội tiến bộ, công bằng và nhân ái tại mỗi một địa phương quốc gia.
Trong các bài kế tiếp, chúng tôi sẽ xin trình bày chi tiết hơn về kinh nghiệm họat động cụ thể và suy nghĩ đúc kết của một số tổ chức tôn giáo điển hình có danh tiếng trên thế giới, và đặc biệt tại riêng một số quốc gia ở Á châu, Phi châu và châu Mỹ La tinh.

Xin quý độc giả đón coi tiếp theo vậy nhé./


California, Tháng Năm 2011

Đòan Thanh Liêm

HIẾN PHÁP CỘNG HÒA VIỆT NAM TỰ DO ( 1 )

HIẾN PHÁP CỘNG HÒA VIỆT NAM TỰ DO ( 1 )

( Thử phát hoạ một bản dự thảo Hiến Pháp cho Việt Nam trong tương lai, chắc chắn con nhiều thiếu sót, mong mọi người đóng góp ý kiến . Bài viết chỉ có mục đích làm tài liệu tham khảo cho những ai có lòng với tương lai Đất Nước ).




I - CÁC QUYỀN CĂN BẢN

1 - Nhân phẩm con người bất khả xâm phạm.
Thể Chế Nhân Bản và Dân Chủ của dân tộc Việt Nam nhìn nhận ( nhận biết ) các quyền bất khả xâm phạm và bất khả nhượng của con người, nền tảng của mọi tổ chức cộng đồng nhân loại, chung sống tôn trọng lẫn nhau, thân hữu, hoà bình và công chính.
Quốc Gia Việt Nam có bổn phận kính trọng và bảo vệ các quyền bất khả xâm phạm của con người, con người như cá nhân hay con người như thành phần các tổ chức xã hội trung gian, nơi mỗi cá nhân triển nở hoàn hảo con người của mình.
Các quyền căn bản được kể sau đây có giá trị bắt buộc đối với các cơ chế Quốc Gia, như là những quyền đòi buộc trực tiếp.
Không có bất cứ một trường hợp nào một quyền căn bản của con người bị vi phạm đến nội dung thiết yếu của nó.

2 - Tự do cá nhân bất khả xâm phạm.
Mỗi người có quyền được bảo toàn mạng sống, toàn vẹn thân thể và danh dự của mình.
Mỗi người được tự do triển nở hoàn hảo nhân phẩm của mình, miễn là không làm tổn thương đến quyền của người khác, không vi phạm thể chế hiến định và lề luật luân lý.
Không thể chấp nhận bất cứ mọi hình thức bắt giam, lục soát, điều tra,kiểm soát, trưng thu hoặc các hình thức giảm thiểu tự do cá nhân nào khác, nếu không có trác án có lý do của tư pháp, và chỉ trong các điều kiện và theo thể thức luật định.
Trong các trường hợp cần thiết và khẩn cấp được luật pháp định rõ, nhân viên công lực có thể thi hành những biện pháp tạm thời, nhưng phải thông báo cho tư pháp trong vòng hai mươi bốn tiếng đồng hồ sau đó. Và nếu trong vòng hai mươi bốn tiếng đồng hồ kế tiếp, nếu cơ quan tư pháp không xác nhận biện pháp được áp dụng, biện pháp phải coi là bị thu hồi và vô hiệu lực.
Mọi người bị tạm giữ đều phải được lập tức đưa đến trước vị thẩm phán, để vị thẩm phán báo cho biết lý do bị bắt giữ và cho đương sự có thể nói lên các lý do của mình để biện luận. Lập tức sau đó, vi thẩm phán hoặc xác nhận án trác có lý chứng giam giữ bằng văn bản, hoặc phải ra lệnh trả tự do tức khắc cho đương sự. Cơ quan công lực không có quyền giam giữ bất cứ ai quá ngày hôm sau khi bị bắt giữ.
Mọi áp bức, bạo lực, khủng bố trên thân xác và đàn áp hăm dọa trên tinh thần của người bị giảm thiểu tự do đều sẽ bị trừng phạt.

3 - Mọi người đều có địa vị xã hội như nhau và bình đẳng trước pháp luật. Không ai có thể bị thiệt thòi hay được ưu đải vì lý do phái giống, chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, điều kiện cá nhân hay xã hội.
Quốc Gia Việt Nam có bổn phận dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về các phương diện được kể, là những chướng ngại vật, trong khi giới hạn trên thực tế tự do và bình đẳng của người dân, cản trở họ triển nở hoàn hảo con người của mình và tham dự một cách thiết thực vào các tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở.

4 - Tự do tư tưởng, tự do lương tâm, tự do tín ngưỡng là những quyền bất khả xâm phạm.
Mọi nguời đều có quyền tự do phát biểu tư tưởng của mình, tuyên xưng niềm tin dưới bất cứ hình thức nào, cá nhân cũng như đoàn thể và bằng mọi phương tiện ( lời nói, chữ viết và hình ảnh), truyền bá giáo lý của mình và tế tự nơi riêng tư cũng như công cộng, miễn là lời lẽ của giáo lý và nghi thức cử hành không xúc phạm đến thuần phong mỹ tục.

5 - Tổ chức Quốc Gia và các tôn giáo là những thực thể tự lập, mỗi thực thể tự lập tổ chức trong các sinh hoạt thuộc lãnh vực của mình, nhưng cùng liên hệ nhau, giúp cho mỗi cá nhân triển nở hoàn hảo toàn vẹn con người của mình và nhờ đó có thể góp phần xây dựng một cách thiết thực vào cuộc sống của Đất Nước.

6 - Mọi người đều có quyền phát biểu tư tưởng của mình bằng lời nói, chữ viết và mọi phương tiện truyền thông khác ; có quyền được thông tin, không ai được cấm cản, từ những nguồn tin mà ai cũng có thể biết được.
Mọi hành động cắt xén kiểm duyệt đều không thể được chấp nhận. Mọi hành vi khuynh đảo, xuyên tạc cố ý đánh lạc hướng, gian dối, thông tin xuyên tạc sự thật đều có thể bị truy tố trước pháp luật.
Quyền tự do ngôn luận có những giới hạn theo chỉ thị của các đạo luật tổng quát, dựa vào các quy chế liên quan đến việc bảo vệ giới trẻ và bảo vệ quyền của mỗi người được tôn trọng danh dự của mình.
Báo chí, kịch nghệ, phim ảnh, truyền thanh, truyền hình và những hình thức phát biểu tư tưởng và nghệ thuật khác không thể bị bất cứ một sự cắt xén kiểm duyệt nào, nếu được trình bày không trái với thuần phong mỹ tục và không vi phạm đến con người trong danh dự của mình. Luật pháp sẽ thiết định thể thức thích hợp để tiên liệu và ngăn cấm các lạm dụng.

7 - Quyền được giáo dục là quyền bất khả xâm phạm của mỗi cá nhân.
Học đường được mở ra cho tất cả mọi người.
Nền học vấn được giảng dạy miễn phí và bắt buộc trong thời gian 12 năm.
Bổn phận của Quốc Gia là tiên liệu cho người dân có mọi phương tiện cần thiết và thích ứng, cho phép người dân được hưởng quyền và chu toàn bổn phận nầy.
Các học viên có khả năng và đáng được giúp đở , có quyền được theo học đến các trình độ cao nhứt của nền giáo dục Quốc Gia. Quốc Gia có bổn phận biến quyền nầy thành thiết thực, bằng cách cấp học bổng, phụ cấp gia đình và mọi hình thức tiền liệu khác, qua các cuộc thi tuyển.


8 - Nghệ thuật, khoa học, nghiêng cứu và giáo huấn là những lãnh vực tự do. Tuy nhiên tự do đó không thể đứng ra ngoài hay ngược lại những nguyên tắc nền tảng về quyền và tự do của con người, cũng như đối với thể chế Nhân Bản và Dân Chủ của Quốc Gia được Hiến Pháp nầy xác định.
Quốc Gia có bổn phận kiểm soát tổ chức giáo dục.
Quốc Gia có bổn phận soạn thảo ra những quy tắc tổng quát và chương trình cho giáo dục, thiết lập học đường ở mọi cấp và mọi ban ngành cho tất cả mọi người.
Phụ huynh và những ai có bổn phận và quyền giáo dục con cái, có quyền quyết định cho con cái theo học các lớp giáo dục tôn giáo.
Các môn học tôn giáo được giảng dạy ở trường công cũng như trường tư như những môn học khác, ngoại trừ các tư thục bày tỏ chủ trương khác. Mặc dầu Quốc Gia có quyền kiểm soát tổ chức giáo dục, các môn học tôn giáo phải được giảng dạy hợp với giáo lý của các cộng đồng tôn giáo. Không có giáo chức nào bị bắt buộc dạy các môn học tôn giáo, nếu họ không muốn.
Mở tư thục là quyền được bảo đảm. Quốc Gia có bổn phận trợ lực và khuyến khích các tư thục như là những tổ chức cung cấp cho người dân các điều kiện thuận lợi để hưởng quyền được giáo dục của mình. Trường tư thục thay thế cho trường công phải được Quốc Gia cho phép. Muốn được cho phép, các tư thục không được thấp kém hơn các trường công về trình độ học vấn, về tổ chức, cũng như kiến thức khoa học của các giảng viên, và nhứt là không có mục đích phân chia học viên tùy theo khả năng kinh tế của phụ huynh. Tư thục sẽ không được cho phép nếu địa vị pháp lý và kinh tế của các giảng viên không được bảo đảm.
Các viện văn hóa cao đẳng, đại học và hàn lâm viện có quyền có những quy chế tự lập trong lằn mức luật pháp quốc gia.

9 - Hôn nhân và gia đình được hưởng sự bảo vệ và nâng đở đặc biệt của quy chế Quốc Gia.
Quốc Gia dành mọi phương thức dễ dãi về kinh tế và những tiền liệu khác để gia đình được thành lập, như là tổ chức xã hội trung gian tự nhiên cua con người và để iúp cho cha mẹ chu toàn các nhiệm vụ liên hệ của mình, nhứt là đối với gia đình đông con.
Quốc Gia bảo vệ quyền làm mẹ của người phụ nữ, bảo vệ trẻ thơ và tuổi trẻ. Các cơ quan và thể chế sẽ được thiết lập để thi hành các bổn phận nầy.
Chăm sóc và giáo dục con cái là quyền tự nhiên của cha mẹ và là nhiệm vụ chính yếu của họ. Quốc Gia có nhiệm vụ kiểm soát và giúp đở họ.
Con cái chỉ có thể bị tách khỏi gia đình ngược lại ý muốn của những ai có quyền giáo dục, dựa trên một điều khoản luật và chỉ trong trường hợp bất khả kháng của những ai có quyền giáo dục không chu toàn nhiệm vụ của mình, hoặc trong trường hợp con cái có thể thiệt thòi vì bị bỏ rơi.
Quyền lập pháp sẽ bảo đảm cho những đứa con tự nhiên cũng có được mọi điều kiện để phát triển thế xác và tinh thần , cũng như địa vị xã hội của những đứa con chính thức.

10 - Mọi người có quyền tự do hội họp ôn hòa, không võ trang và không cần phải xin phép trước, ở những nơi riêng tư cũng như ở những nơi được mở ra cho dân chúng.
Đối với những cuộc hội họp ở các nơi công cộng, cần phải báo trước .Vì lý do an ninh chung hoặc để tránh gây thương tích cho dân chúng, Chính Quyền có thể không cho phép, với lý do chính đáng có lý chứng.

11 - Mọi người có quyền tự do gia nhập hội, không cần phải xin phép, để đạt được những mục đích mà hình luật không cấm đoán đối với cá nhân.
.Các hội kín hoặc các tổ chức có ý đồ đạt được mục đích chính trị bằng bạo lực, dẫu gián tiếp, đều bị cấm đoán.
Mọi người có quyền gia nhập hội để bảo vệ và thăng tiến các điều kiện kinh tế và nghề nghiệp. Tổ chức chỉ cần được ghi vào danh sách công cộng các hiệp hội và nội quy của tổ chức phải được soạn thảo phù hợp với tinh thần dân chủ, tự do và nhân bản.
Các hiệp hội được ghi vào danh sách công cộng là những tổ chức có tư cách pháp nhân.
Đại diện của hiệp hội có quyền ký hợp đồng lao động có hiệu lực đối với các thành viên cùng nghề nghiệp trên toàn quốc.
Quyền đình công phải được thi hành trong giới mức luật định.
Mọi hiệp hội hay chính đảng, mà mục đích hoặc có hoạt động ngược lại các điều khoản của hình luật, chống lại thể chế dân chủ, tự do và nhân bản của Hiến Pháp nầy hoặc ngược lại nguyên tắc chung sống thân hữu và hòa bình giữa các dân tộc, là những tổ chức bất hợp hiến. Tình trạng bất hợp hiến sẽ do Viện Bảo Hiến quyết định.

12 - Quyền tự do và bí mật thư tín, cũng như mọi hình thức giao tiếp và truyền thông khác là quyền bất khả xâm phạm.
Các quyền nầy chỉ có thể bị giới hạn bởi án trác có lý do của tư pháp, trong các trường hơp và theo thể thức luật định .
Nếu việc giới hạn liên quan đến sự bảo vệ thể chế dân chủ, tự do và nhân bản của Hiến Pháp hay đến sự tồn vong của Quốc Gia Cộng Hoà Việt Nam Tự Do, luật pháp có thể quyết định vấn đề sẽ không thông báo cho đương sự và thay thế cho tư pháp, Quốc Hội sẽ thành lập các Ủy Ban Đặc Nhiệm.

13 - Mọi người có quyền tự do di chuyển và cư trú trên mọi phần đất thuộc lãnh thổ và lãnh hải Quốc Gia Việt Nam, trừ ra những truờng hợp giới hạn được luật định một cách khái quát vì lý do y tế và an ninh, trường hợp thiên tai, bệnh truyền nhiểm, hoạt động quân sự để bảo toàn thể chế dân chủ, tự do và nhân bản của Quốc Gia, bảo đảm cho thanh thiếu niên thiếu mất sự chăm sóc của phụ huynh hay những ai có trách nhiệm và để phòng ngừa những hành vi can tội hình sự. Không có bất cứ trường hợp nào bị giới hạn vì lý do chính trị.
Mọi người có quyền tự do xuất ngoại và trở về nội địa Quốc Gia, chỉ trừ các trường hợp bó buộc do luật định.

14 - Gia cư là lãnh vực bất khả xâm phạm.
Cấm ngặt mọi hành vi đột nhập, lục soát, trưng thu , nếu không có án trác có lý chứng của tư pháp và trong các trường hợp và theo thể thức luật định dựa trên nguyên tắc bảo vệ an ninh, tự do và nhân phẩm cá nhân, và thể chế hiến định Quốc Gia.
Các việc kiểm chứng và lục soát vì lý do y tế và an ninh công cộng, vì lý do kinh tế và thuế vụ phải được những đạo luật chuyên biệt tiền định và phải có án trác có lý chứng của tư pháp.

15 - Mọi người có quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, nơi làm việc , nơi đào tạo và cải tiến nghề nghiệp.
Quốc Gia có bổn phận đào tạo nghề nghiệp và thăng tiến chức nghiệp; thiết định thời gian tối đa của ngày làm việc và quyền của người làm việc được nghỉ ngơi hàng tuần, thời gian nghỉ hàng năm có lương, không ai được khước từ chối bỏ hăy bất tuân.
Hoạt động hành nghề có thể được pháp luật thiết định lề lối và phương thức.

16 - Tư sản và quyền thừa kế được luật pháp bảo vệ.
Nội dung và giới hạn được luật pháp thiết định, để chỉ định phương thức chiếm hữu, thụ hưởng và lằn mức giới hạn để bảo đảm vai trò xã hội và điều kiện để mọi người đều có thể xử dụng được.
Quyền tư hữu, trong các trường hợp luật định, sau khi được bồi thường, có thể bị truất hữu, vì lý do công ích. Lượng số của giá trị bồi thường phải được tính công bình theo hữu dụng cho công ích và giá trị thiệt thòi đối với đương sự tư nhân. Mọi bất đồng ý kiến về trị giá của việc bồi thường có thể đưa đến tư pháp với toà án thường vụ phán đoán.
Luật pháp sẽ định đoạt các quy chế, giới mức của việc thừa kế, di chúc và quyền hạn của Quốc Gia trên di sản.

17 - Sáng kiến cá nhân trong kinh tế là quyền tự do căn bản của mọi người.
Không ai có quyền hoạt động kinh tế ngược lại với lợi ích xã hội, gây tai hại cho sự an ninh, môi trường làm việc có hại cho sức khoẻ, tổn thương đến tự do và nhân phẩm con người và thể chế hiến định Quốc Gia.
Luật pháp thiết định chương trình và các việc kiểm soát thích hợp để hoạt động kinh tế công cũng như tư có thể phối hợp và định hướng cho lợi ích xã hội.
Để có thể xử dụng một cách hiệu năng và đất đai và các mối liên hệ bình đẳng xã hội, luật pháp có thể xác định giới mức và các quy chế bắt buộc đối với chủ đất, các nguồn tài nguyên thiên nhiên và các phương tiện sản xuất về diện tích đất đai, số lượng tài nguyên và giá trị các phương tiện sản xuất để biến cải cho người cày có ruộng, công nhân có thể tham dự vào phương thức quản trị và tài sản xí nghiệp nơi mình làm việc.
Quốc Gia có bổn phận trợ lực người dân hoán cải các tài nguyên thiên nhiên thành những cơ sở sản xuất tư nhân nhỏ và trung hạn, với hệ thống pháp luật và việc giúp vốn để nâng đở phát triển cho giới nông dân, tiểu thương gia và tiểu công nghệ, nhằm đưa đến một nền kinh tế phát triển đều khắp.

18 - Mọi người làm việc đều có quyền được thù lao tương xứng với số lượng và phẩm chất của công việc mình làm. Dù sao đi nữa, số lượng thù lao cũng phải đủ để bảo đảm cho người làm việc và cho gia đình mình có được một cuộc sống khang trang.
Mọi người làm việc có quyền được tiên liệu các phương tiện thoả đáng, đáp ứng lại các nhu cầu cần thiết cho cuộc sống trong trường hợp bị tai nạn, bệnh hoạn, tật nguyền, già nua và thất nghiệp ngoài ý muốn.

19 - Người phụ nữ làm việc cũng có mọi quyền như nam giới và được thù lao như nhau đối với việc làm như nhau.
Dù sao đi nữa, các điều kiện làm việc cũng phải được thiết định thế nào, để người phụ nữ làm việc cũng có thể chu toàn phạn vụ thiết yếu của mình trong gia đình và cung cấp cho người mẹ và trẻ thơ một sự bảo vệ đặc biệt.

20 - Quốc Gia Việt Nam bảo vệ sức khoẻ như là quyền căn bản của mỗi cá nhân và lợi ích của cộng đồng Quốc Gia.
Quốc Gia có bổn phận chửa trị miển phí cho những ai thiếu phương tiện.
Không ai bị bắt buộc bị áp đặt chữa trị bằng phương cách trái với ý muốn của mình, nếu trường hợp không phải được luật pháp định sẵn nhằm bảo đảm an ninh và sức khoẻ công cộng. Mọi yếu tố liên quan đến sức khoẻ và đời sống của cá nhân thuộc lãnh vực riêng tư phải được tôn trọng, theo thể thức luật định liên quan đến nguyên tắc tôn trọng nhân phẩm và danh dự con người.
Không có bất cứ trường hợp nào, luật pháp không thể vi phạm lằn mức bắt buộc liên quan đến việc tôn trọng nhân phẩm con người.

21 - Mọi công dân không có khả năng làm việc và thiếu thốn phương tiện cần thiết để sống, có quyền được Quốc Gia trợ giúp để sống còn và mọi trợ cấp cần thiết khác về an sinh xã hội.
Mọi công dân không có khả năng và khiếm khuyết có quyền được giáo dục và huấn nghệ để có thể khởi công nghề nghiệp và cuộc sống xứng đáng.
Các quyền được kể trong điều khoản nầy sẽ được giao cho các cơ quan sẽ được thiết lập để thực thi và bổ khuyết.

22 - Quốc Gia Việt Nam bảo vệ quyền làm việc là quyền căn bản của con người, dưới mọi dạng thức và mọi áp dụng.
Quốc Gia có bổn phận cung cấp cho mọi công dân nền giáo dục thoả đáng để phát triển trí tuệ và nghề nghiệp, có bổn phận thiết lập các trung tâm huấn nghệ và thăng tiến nghề nghiệp, dành mọi điều kiện dễ dàng để khuyến khích mọi công dân học hỏi thăng tiến trí tuệ và chức nghiệp của mình.
Quốc Gia có bổn phận phát động và dành mọi dễ dãi cho các thỏa ước và tổ chức quốc tế nhằm định chế và hiệu lực hoá các quyền làm việc.

23 - Mọi công dân Việt Nam trưởng thành đều có quyền bầu cử và ứng cử.
Quốc Gia Việt Nam có bổn phận bảo đảm cho mọi cuộc bầu cử của người dân là những cuộc bầu cử phổ thông, trực tiếp, tự do, bình đẳng, và kín.
Quyền bầu cử và ứng cử chỉ có thể bị giới hạn do việc bất khả năng dân sự hay do bản án hình sự vĩnh viễn, hoặc vì đời sống luân lý bất xứng.

24 - Mọi công dân đều có quyền thành lập và gia nhập chính đảng, để cùng nhau hợp tác theo phương thức dân chủ thiết định đường lối chính trị Quốc Gia.
Nội quy của chính đảng và hoạt động ra bên ngoài của các thành vviên phải phù hợp với tinh thần dân chủ, tự do và nhân bản của Hiến Pháp.
Các chính đảng có mục đích hay các thành viên thuộc hệ có những hành vi nhằm khuynh đảo thể chế nhân bản và dân chủ hay hăm dọa sự tồn vong của Cộng Hoà Việt Nam Tự Do, là những chính đảng vi hiến. Tính cách, trường độ và nổng độ của cách hành xử vi hiến sẽ do Viện Bảo Hiến phán quyết.

25 - Mọi người đều có quyền hội họp, hoà bình yên lành và không võ trang.
Những cuộc hội họp ở tư gia và các nơi được mở ra cho công chúng không cần phải xin phép.
Những cuộc họp ở nơi công cộng cần phải báo trước cho công quyền sở tại. Cơ quan công quyền có thể từ chối không cho phép, chỉ khi nào có lý chứng vì lý do an ninh công cộng và để bảo vệ công chúng.

26 - Mọi người đều có quyền tự do tuyên xưng và truyền bá niềm tin tôn giáo của mình, dưới bất cứ hình thức nào, cá nhân cũng như công cộng, miễn là không vi phạm đến niềm tin của người khác hay xúc phạm đến phẩm giá, danh dự của con người.
Nơi riêng tư cũng như nơi công cộng, tế tự là quyền tự do, miễn là những nghi thức tế tự không vi phạm đến thuần phong mỹ tục.

27 - Mọi công dân có quyền bình đẳng được chấp nhận vào các chức vụ công cộng và giao cho các chức vụ của những người được tuyển chọn, theo những tiêu chuẩn luật định.
Ai được đắc cử vào các chức vụ công cộng, có quyền dùng hoàn toàn thời gian của mình để chu toàn chức vụ dân cử và có quyền tồn giữ được vai trò và địa vị nghề nghiệp của mình trước đó, trong suốt thời gian phục vụ công ích.

28 - Mọi công dân đều có bổn phận thiêng liêng bảo vệ Quốc Gia.
Thi hành quân dịch có tính cách bắt buộc trong giới mức luật định. Người công dân thi hành quân dịch không bị tổn thất về vị trí nghề nghiệp trước đó, cũng như thiệt thòi trong việc hành xử các quyền chính trị của mình.
Thể chế tổ chức quân đội được thiết định phù hợp với tinh thần dân chủ và tôn trọng nhân phẩm con người.

29 - Mọi công dân có bổn phận cộng tác vào các chi phí của Quốc Gia.
Hệ thống thế vụ và bổn phận cộng tác vào các tổ chức và chi phi Quốc Gia được thiết định theo tiêu chuẩn lủy tiến trên khả năng lợi tức.

30- Không ai có thể bị bắt buộc cá nhân mình đứng ra phục vụ hay cung cấp tài sản, của cải cho công ích Quốc Gia, nếu không dựa trên nền tảng luật pháp đã được thiết định.

31 - Mọi công dân có quyền đơn phương, chung với các cá nhân khác, hay nhờ các vị đại diện dân cử hoặc cùng với các chính đảng và tổ chức xã hội trung gian , chuyển đạt thỉnh nguyện thư đến Quốc Hội để yêu cầu Quốc Hội soạn thảo các đạo luật hoặc trình bày nguyện vọng lợi ích cho cuộc sống Quốc Gia.

32 - Bất cứ ai bị các tổ chức quyền lực Quốc Gia vi phạm các quyền và tự do của mình, đều có thể đệ đơn thưa đến tư pháp.Tư pháp có quyền xét xử các việc kiện tụng, giữa tư nhân cũng như đối với công quyền.
Quốc Hội sẽ thành lập một Ủy Ban Bảo Vệ Nhân Quyền, nơi mà bất cứ ai cũng có thể chuyển đạt thỉnh nguyện để bênh vực cho chính mình hoặc bênh vực người khác, mỗi khi nhân quyền bị hâm dọa hay vi phạm.
Người dân cũng có thể đệ đơn tố cáo trực tiếp đến Viện Bảo Hiến, nếu thấy rằng cách hành xử vi phạm của Hành Pháp là thái độ và ộng tác vi hiến.

33 - Luật pháp phải có giá trị phổ quát, chớ không riêng rẻ cho từng trường hợp.
Luật pháp có tính cách giới hạn phải đề cập rõ ràng đến quyền căn bản và trích dẫn một hay những điều khoản liên hệ của Hiến Pháp nầy về quyền đã được tuyên bố, lằn mức giới hạn và thể thức trong đó Hiến Pháp cho phép được thi hành.
Không thể được chấp nhận bất cứ điều khoản nào của luật pháp, trong đó một quyền căn bản bị vi phạm đến nội dung thiết yếu của nó và nhân phẩm con người bị xúc phạm.

34 - Không thể chấp nhận bất cứ tòa án đặc biệt nào được lập ra cho các trường hợp cá biệt, nhứt là được lập ra cho các trường hợp đang được xét xử. Các Tòa Án về những vấn đề đặc biệt phải được thành lập trước, do luật pháp ấn định.
Loại Tòa Án Nhân Dân không thể được chấp nhận, bởi lẽ quyền tư pháp chỉ có thể được giao cho các vị đại diện dân có thẩm quyền về luật pháp và độc lập đối với bất cứ định kiến chính trị nào.
Không ai có thể bị thuyên chuyển ra khỏi thẩm quyền xét xử của vị thẩm phán đã được luật pháp tiền định.
Các thẩm phán nhập ngạch vĩnh viễn và các thẩm phán chuyên nghiệp, chỉ bị giải nhiệm truớc nhiệm kỳ, cấm hành nghề vĩnh viễn hay thuyên chuyển đi nơi khác, cho về hưu trước định kỳ, do tư pháp quyết định và vì những lý do được luật pháp ấn định trước.
Mọi hình thức giảm thiểu tự do đều có mục đích giáo dục và cãi hóa phạm nhân, không phải là cơ hội để hành hạ, trả thù, phục hận. Moi cách đối xử vô nhân đạo đối với phạm nhân đều bị cấm ngặt và trừng phạt.
Thời gian bị giảm thiểu tự do cũng có mục đích chuẩn bị một cuộc sống tốt đẹp hơn trong tương lai cho chính mình và cho cộng đồng Quốc Gia, cũng như để góp phần tích cực bù đấp lại phần nào những thiệt hại mình đã gây nên cho người khác.
Quốc Gia Việt Nam không chấp nhận án tử hình.

35 - Để tránh những phương thức hành xử thiên vị bất công, luật pháp có thể thiết định những giới mức quyền gia nhập chính đảng, hiệp hội đối với các thẩm phán, quân nhân tại ngủ đang hoạt động tích cực, nhân viên cảnh sát công lực, các đại diện ngoại giao đoàn và nhân viên sứ quán ở hải ngoại.
Trong thời gian tại chức, vị thẩm phán không thể được chấp nhận hành xử một nghề nghiệp nào khác có thể tạo nên lợi lọc riêng tư, ngoài ra nghề giáo sư về luật pháp tại các đại học quốc gia hay tại các học viện luật pháp hải ngoại, nếu được sự đồng thuận của cơ chế quốc gia.

36 - Không thể chấp nhận bất cứ một sự thay đổi hay loại bỏ nào đối với điều 1, liên quan đến việc kính trọng nhân phẩm con người bất khả xâm phạm, và điều ( sẽ dề cập đến trong phần II, tổ chức Cơ Chế Quốc Gia ), liên quan đến thể chế Dân Chủ, Tự Do và Nhân Bản của Cộng Hoà Việt Nam Tự Do.

37 - Các điều khoản khác của Hiến Pháp nầy có thể được tu chính sửa đổi bằng một đạo luật, được 2/ 3 đại diện Lưỡng viện Quốc Hội chấp thuận và qua hai lần biểu quyết cách nhau không dưới 3 tháng.
Trong trường hợp bỏ phiếu lần thứ hai chỉ đạt được đa số tuyệt đối của các thành viên Quốc Hội, điều khoản liên quan phải được quyết định qua một cuộc trưng cầu dân ý.

38 - Tính cách hợp hiến hay vi hiến của các đạo luật sẽ được Viện Bảo Hiến quyết định.
Viện bảo Hiến sẽ quyết định tính cách hợp hiến hay bất hợp hiến của luật pháp do Quốc Hội chuẩn y, cách hành xử của Hành Pháp và các phán quyết của Tư Pháp, nếu được Chính Quyền ( Trung Ương), ( một Chính Quyền Địa Phương) hay Cộng Đồng Địa Phương ( Hội Đồng Vùng), 1/3 đại biểu của một Viện Quốc Hội, Tổ Chức Nghiệp Đoàn, Kinh Tế, Xã Hội hay 50.000 cử tri đề nghị duyệt xét.


( Phần II về TỔ CHỨC CƠ CHẾ QUỐC GIA theo phương thức DÂN CHỦ, như là phương thế và dụng cụ nhằm bảo vệ và phát huy phẩm giá và các quyền bất khả xâm phạm của con người và những giá trị của Quốc Gia, sẽ được đề cập đến, khi biết được VIỆT NAM trong tương lai sẽ là QUỐC GIA THUẦN NHỨT hay QUỐC GIA LIÊN BANG )

NGUYỄN HỌC TẬP


'Còn ai thương dân tôi!' 36 Năm dưới chế độ xhcn

'Còn ai thương dân tôi!' 36 Năm dưới chế độ xhcn

“Rùng rợn” cây cầu treo có một không hai


Cây cầu treo ở thôn Ba Cẳng (Khánh Hiệp, Khánh Vĩnh, Khánh Hòa) được làm từ năm 1991. Cầu (hoặc có lẽ không thể gọi là cầu) lưa thưa, nhỏ hẹp, chênh vênh, như một tấm lưới treo trên miệng Hà Bá…

Biết qua cầu là nguy hiểm nhưng hàng ngày người dân thôn Ba Cẳng vẫn bất chấp mạng sống mà di chuyển trên chiếc cầu này, bởi đây là cách giúp họ có thể qua bên kia bờ sông lao động, mưu sinh.

Mặt cầu treo Ba Cẳng chỉ là những cành cây lồ ô, các cây gỗ nhỏ đan lưa thưa qua những sợi dây thép được buộc ở hai gốc cây căng qua sông Chò. Do làm thủ công nên bà con phải thường xuyên sửa chữa bằng cách tự thay những cành cây mới vào những chỗ mặt cầu bị gãy, mục.

Thời điểm này, nhiều điểm trên mặt cầu đã trống hoác. Người dân nói họ lại sắp phải sửa chữa lại…

Ông Cao Minh Tuấn, Chủ tịch xã Khánh Hiệp, chia sẻ: “Bản thân tôi chứng kiến cảnh bà con qua cầu trong sự nguy hiểm đến tính mạng cũng rất lo lắng. Chúng tôi rất mong muốn có được một cây cầu khác chắc chắn hơn, an toàn hơn. Tuy nhiên kinh phí của xã không đủ để xây dựng một cây cầu khác. Đi cầu này, nhiều tai nạn đã xảy ra, nặng thì gãy xương sườn, nhẹ thì gãy tay, gãy chân… nhưng bà con cũng phải chấp nhận chứ biết đi đường nào?”.

Thôn Ba Cẳng có 194 hộ, hầu hết thuộc dân tộc thiểu số như: Raglai, Êđê, Tày, Nùng, T’rin… Cây cầu này với họ đi mãi thành quen, chứ người lạ tới đây, nhìn qua thôi đã rợn tóc gáy.
.





















Nguyễn Thành Chung


Nguyễn Xuân Diện:


Bài Xem Nhiều