We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 23 May 2011

Vượt biển-vượt biên

Bạn đâu có thể tưởng tượng rằng, 36 năm sau khi Cộng Sản Bắc Việt chiếm miền Nam, bao nhiêu xác đồng bào đã dìm sâu xuống đáy biển trong những chuyến vượt biển ra đi tìm tự do, mà bây giờ, trong một bản tin mới toanh, báo chí vừa đưa tin có 64 thuyền nhân Việt Nam mới đến Úc xin tị nạn.

Ngày 10 tháng 5 năm 2011 được chính phủ Úc chở những thuyền nhân này đến trại tạm cư Flying Fish Cove trên đảo Christmas Island để chờ làm thủ tục điều tra, phỏng vấn.

Từ 2001 đến nay có khoảng 2,000 người Thượng đã từ Tây Nguyên vượt biên sang Cam Bốt. Báo Nhân Dân, cơ quan của đảng Cộng Sản Việt Nam, không thừa nhận lúc họ ra đi, nhưng tường thuật rõ ràng lúc họ trở về: “Huyện Ðức Cơ, Gia Lai, tiếp nhận 35 người ‘vượt biên trái phép’ sang Kampuchea trở về quê hương!” Khổ nỗi, không vượt biên qua được Mỹ, Úc, Pháp... mà phải băng đồi lội suối qua Kampuchea, thì cũng biết tình trạng truy bức, đàn áp đã xẩy ra khốn nạn như thế nào! Cũng như hàng trăm nghìn đồng bào từ năm 1975, không chấp nhận sự hiện hữu của chế độ Cộng Sản đã bỏ nước ra đi, cũng không nghe đảng nêu cao thành tích, thống kê về việc trấn lột, bắn giết, bỏ tù, nhưng chắc chắn là đảng có biết, có biết nên đã làm áp lực chính phủ Indonesia phải đục bỏ tấm bia kỷ niệm thuyền nhân ở Galang. Nhưng bây giờ nhân vài ba cái đại lễ, đảng lại bày trò vinh danh đón tiếp bà con kiều bào (còn gọi là đồng bào ta!) đang sinh sống, làm việc, học tập (chỉ thiếu mấy chữ “theo gương bác Hồ”) ở nước ngoài về, “trong không khí trang trọng, ấm tình quê hương”.

Tóm tắt định nghĩa của Liên Hiệp Quốc về người tị nạn như sau: “Ðó là người có đủ lý do để sợ rằng bị bách hại vì lý do chủng tộc, tôn giáo, quốc tịch, nay không thể trở về quốc gia đó, hay không muốn trở về quốc gia đó”. Tại các trại tị nạn Ðông Nam Á vào những ngày sau năm 2001, chống lại việc cưỡng bách hồi hương, nhiều người đã tự mổ bụng hay tự thiêu, kêu gào, vùng vẫy, la khóc khi bị cảnh sát khiêng lên máy bay. Vậy mà có bao nhiêu người bỏ nước ra đi, sau khi được cứu xét, thanh lọc và nhận vào một nước khác dưới danh nghĩa tị nạn, lúc đã có chút tiền bạc, cơ ngơi, lại khơi khơi trở lại du lịch hay ùn ùn “quy cố hương” mà theo thông báo của nhà nước Việt Cộng, hàng năm có khoảng 500,000 “Việt kiều” về quê ăn Tết, chắc chắn dù có thêm hay bớt, con số này cũng không chênh lệch bao nhiêu. Giờ này những tiếng vượt biển, tị nạn nghe như một điều mỉa mai, cay đắng.

Hợp pháp hay bất hợp pháp thì trong lòng, đảng cũng muốn cho “chúng bay” vượt biển, vượt biên ra đi càng nhiều càng tốt. Ðảng khoe, xuất khẩu lao động của Việt Nam tăng nhanh từ năm 2001, chủ yếu sang các nước Ðông Á, nhất là Malaysia, Ðài Loan và Hàn Quốc. Gần đây, thị trường xuất khẩu lao động mở rộng sang Trung Ðông, Tây Âu và Mỹ, bình quân mỗi năm có 70,000 lao động được đưa đi ra nước ngoài. Hiện nay có hơn 400,000 lao động Việt Nam làm việc tại 40 nước và lãnh thổ, trong đó riêng tại Malaysia có hơn 100,000 người.

Về chuyện xuất khẩu cô dâu, tính đến năm 2008, đã có hơn 272,000 phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài. Ðó là con số mà Bộ Công An đưa ra tại hội nghị toàn quốc bàn về hôn nhân và gia đình liên hệ đến ngoại quốc, diễn ra ở Cần Thơ ngày 22 tháng 4 năm 2008, mà không phải do ai phịa ra. Tuy vậy chưa thấy đảng khoe đã xuất khẩu được bao nhiêu phụ nữ đi ở đợ cho quốc tế. Khoe có người nhà đi ở đợ chỉ thêm xấu mặt, đâu có vinh dự gì! Nhưng đảng vẫn âm thầm cho đi.

Ðặc biệt trong hình ảnh và câu chuyện 64 thuyền nhân mới đến Úc, khác với những chuyến ra đi tơi tả ngày trước, chỉ có một phụ nữ và một trẻ em, đây là những thanh niên mạnh khỏe, tươi tỉnh, ăn mặc tươm tất như những hình ảnh xuất khẩu lao động mà chúng ta thường thấy. Phải chăng có một chiến dịch mới của Việt Nam đưa người xâm nhập vào các quốc gia tương đối dễ dàng và lỏng lẻo trong việc cho người nhập cư, vừa để gài người xâm nhập vào cộng đồng người Việt hải ngoại, vừa thu lợi cho việc ra đi hay việc gửi ngoại tệ về đất nước sau này.

Vì vậy không hề nghe báo đảng kể chuyện những chuyến xe hàng chở đầy người Việt bị bắt tại Anh hay đang dở sống dở chết trong những khu rừng nước Pháp dưới trời lạnh giá vì đã vượt biên hợp pháp qua những dịch vụ đưa người đi nước ngoài được nhà nước bao che. Nếu không được bao che, thì với lưới công an ngày nay, một con ruồi cũng khó lọt.

Chuyện đảng cho tổ chức vượt biên để lấy tiền bãi, chận bắt để trấn lột, rồi nhốt vào tù để đòi tiền chuộc, bây giờ ai cũng biết. Ðánh tư sản, xua đuổi người Hoa để chiếm nhà, tịch thu tài sản, rồi đóng tàu bán người ra khơi gọi là “bán chính thức”, đảng đã làm giàu trên bao nhiêu nỗi chết chóc, khốn cùng của dân tộc. Sau bao nhiêu năm trồng cây có quả, ngày nay, đảng giăng đèn kết hoa, “thu hoạch” lợi tức trên chiêu bài và khẩu hiệu “quê hương”, đón người đi xa về, nồng ấm biết mấy mùi vị của đồng “đô la”. Bây giờ chuyện vượt biển tị nạn hình như không còn ai nói tới. Các trại tị nạn ở Ðông Nam Á đóng cửa từ lâu, các quốc gia trên thế giới còn ai vớt người trên biển Ðông, hằng năm đã có hàng trăm nghìn người trở lại nơi mà từ đó, họ đã chấp nhận đổi mạng sống để ra đi. Vậy thì chính thức “xuất khẩu” người hay cho người vượt biển cũng là một lối buôn người có lợi.

Theo định nghĩa tị nạn thì không có chuyện tị nạn vì đói khổ như sau này, người ta thường nói đến mấy chữ “tị nạn kinh tế”. Mà dù người dân có bỏ nước ra đi vì lý do nào đi nữa thì chính phủ và quốc gia đó đều có trách nhiệm, hoặc là hà khắc thiếu tự do, hoặc là bất tài không lo đủ cơm no áo ấm cho dân.

Tôi không hiểu 64 “thuyền nhân” người Việt vừa mới đến xin tị nạn tại Úc quê quán ở đâu, ra đi từ nơi nào và lý do ra đi của họ. Hàng năm có nửa triệu người, trong đó ít nhất có 3/4 người tị nạn trở về ăn Tết thì áp bức, bất công ở đâu? Việt Nam bây giờ là nước sản xuất gạo đứng vào hạng nhì thế giới, năm 2010, lượng “kiều hối” của Việt Nam đã vượt 8 tỷ USD, cán bộ trung ương đảng bạc tỷ trong tay, sao dân không có cơm ăn mà phải bỏ nước ra đi?

Chuyện vượt biên, vượt biển đang là chuyện khó hiểu!

Huy Phương

Tổng thống Mỹ Barack Obama sẽ đến thăm nước Anh

Tổng thống Mỹ Barack Obama cùng vợ Michelle sẽ được tháp tùng bởi một đội quân hùng hậu bất thường khi đến thăm nước Anh trong ngày mai. Đặc biệt, Tổng thống Obama sẽ mang theo một chiếc siêu xe được miêu tả như một chiếc xe tăng trong chuyến đi lần này.

Ảnh minh họa

Chiếc siêu xe của Tổng thống Obama.


Được biết, đội quân tháp tùng Tổng thống Obama đến London sẽ gồm ít nhất 500 người, trong đó có các cố vấn Nhà Trắng, một đội nhân viên y tế gồm 6 bác sĩ, một nhóm đầu bếp riêng và hơn 200 mật vụ. Nhiều người trong số các mật vụ được trang bị vũ khí.

Tổng thống sẽ đi trên chiếc “The Beast” (Thú Hoang). Đây là chiếc xe chống bom khổng lồ được ví như một chiếc xe tăng do hãng xe lừng danh Cadillac của Mỹ sản xuất. Chiếc The Beast được bọc một lớp thép dày tới hơn 20cm. Siêu xe chở Tổng thống Mỹ sẽ được tháp tùng bởi ít nhất 20 chiếc xe hơi khác cùng với hơn một chục xe môtô cảnh sát.

Tất cả những trang bị trên cho thấy, Mỹ cực kỳ coi trọng vấn đề an ninh cho Tổng thống Obama khi ông này đến thăm Anh. Mỹ thậm chí còn đề nghị lắp đặt cửa kính hai lớp chống bom tại các cửa sổ phòng của ông Obama ở Cung điện Buckingham.

Động thái tăng cường các biện pháp bảo vệ an ninh cho vợ chồng Tổng thống Obama được đưa ra sau khi trùm khủng bố Bin Laden bị tiêu diệt cách đây 3 tuần.

Mặc dù chiếc xe The Beast của Tổng thống Obama được ví như một chiếc xe tăng với đầy đủ các chức năng bảo đảm an ninh đến từng chi tiết nhỏ nhất. Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia, The Beast của Tổng thống Obama không thể sánh được với siêu xe Hippo (Hà mã) của Tổng thống Nga. Hippo do ba hãng sản xuất ôtô hàng đầu của Nga là Zil, AvtoVAZ và KamAZ liên doanh sản xuất với chi phí lên tới 60 triệu USD, gấp 92 lần số tiền được bỏ ra để sản xuất “The Beast”. “Hippo” có trọng lượng là 16 tấn. Lớp vỏ bọc ngoài của “Hippo” làm bằng titan dầy tới 12 mm, do vậy ngay cả khi va chạm với xe tăng T-72 do chính Nga sản xuất, “Hippo” cũng không hề hấn gì.

Cửa kính của “Hippo” có thể chống được pháo hỏa tiễn tấn công, còn bánh xe khi xảy ra sự cố sẽ tự động đổi thành bánh xe chạy trên ray (như kiểu xe tăng). Báo chí Nga từng tiết lộ chủ nhân thiết kế “Hippo” từng ngồi trên “Hippo” để tiến hành kiểm nghiệm độ an toàn của xe khi bị tấn công bằng pháo hỏa tiễn. Tuy nhiên, xe chuyên dụng của lãnh đạo Nga cũng có nhược điểm là khổ xe quá lớn cho nên tốc độ khá chậm.

Có thông tin cho biết ngay từ thập niên 90 của thế kỷ trước, Mỹ đã tìm cách thăm dò bí mật về thiết kế và kết cấu xe riêng của lãnh đạo Nga, thế nhưng kết quả luôn là thất bại.

Cùng đi tháp tùng Tổng thống Obama trong chuyến thăm Anh ngày mai còn có một sĩ quan quân sự mang theo chiếc cặp chứa mật mã phóng tên lửa hạt nhân của Mỹ và 6 đại diện của các bộ.

Bản thân Tổng thống Obama sẽ bay sang Anh trên chiếc máy bay Air Force one. Chiếc máy bay này được coi là một khách sạn bay sang trọng có rạp hát và phòng tập thể dục. Ngoài ra, nó cũng được coi là một trung tâm chỉ huy.

Chiếc Boeing 747-200B được thiết kế đặc biệt cho Tổng thống Mỹ này sẽ được hộ tống bởi một chiếc máy bay dùng làm nguỵ trang nhằm dụ kẻ tấn công nếu có. Mỗi giờ bay của Air Force one tiêu tốn khoảng 110.000 bảng Anh.

Trong khi ở Anh, vợ chồng Tổng thống Obama được sắp xếp ở trong Phòng Bỉ sang trọng trong Cung điện Buckingham. Một nguồn tin từ Anh cho biết: “Các nhân viên đã làm tất cả những gì có thể để những vị khách của chúng tôi cảm thấy thoải mái. Chúng tôi muốn nghĩ rằng các biện pháp an ninh của chúgn tôi là đủ nhưng nếu Tổng thống Mỹ muốn có những chiếc cửa sổ riêng thì ông ấy sẽ có”.

Ngoài ra, rất nhiều cố vấn của Tổng thống Obama muốn ở lại cung điện. Vì thế, một số nhân viên của Nữ hoàng Anh sẽ buộc phải ra ngoài để nhường chỗ cho các vị khách Mỹ.

Một nguồn tin khác tiết lộ, đội an ninh Mỹ đang lắp đặt những chiếc giường kiểu quân sự ở khu vực tầng trệt và lắp đặt hệ thống thông tin liên lạc riêng của họ.

“Đội an ninh của Tổng thống Obama đang chạy đi chạy lại trong cung điện với khẩu súng trong tay như thể họ sở hữu cung điện này. Chuyện này giống như trong một chương trình truyền hình”, các nhân viên Cung điện Buckingham cho hay.

“Họ còn thiết lập một bệnh viên mini với những máy móc y tế trong cung điện, trong đó có cả hệ thống cung cấp máu cho Tổng thống trong trường hợp cần thiết”.

Tuy nhiên, theo các nhân viên Cung điện Buckingham, đội an ninh Nhà Trắng lần này “không đòi hỏi” như đội ngũ an ninh của Tổng thống George W. Bush hồi năm 2003. Khi đó, nhóm an ninh của Tổng thống Bush đã yêu cầu thay toàn bộ 760 cửa sổ của cung điện trong khi những chiếc trực thăng mà Tổng thống Bush dùng “lớn đến mức chúng phá nát cả cây cối xung quanh cung điện. Nữ hoàng rất tức giận vì điều này”.


Thêm hình ảnh về The Beast:


Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Vân Linh - (tổng hợp)

NHỮNG ĐẶC TÍNH THIẾT YẾU ( I ). VIỆT NAM CỘNG HOÀ LÀ MỘT QUỐC GIA NHÂN BẢN VÀ DÂN CHỦ,

THỬ THIẾT ĐỊNH THỂ CHẾ TƯƠNG LAI CHO VIỆT NAM :
NHỮNG ĐẶC TÍNH THIẾT YẾU ( I ).

VIỆT NAM CỘNG HOÀ LÀ MỘT QUỐC GIA NHÂN BẢN VÀ DÂN CHỦ,





Việt Nam Cộng Hoà là một Quốc Gia

- Nhân Bản và Dân Chủ,
- Đại Nghị Chế,
- Can thiệp vào kinh tế và xã hội,
- Tản Quyền,
- Phi Tôn Giáo,
- và Mở rộng ra Cộng Đồng Quốc Tế.
- ( "Thuần nhứt" ( unique) hay " Liên Bang" ( féderal)?)


Sau trên 60 bài viết thuộc lãnh vực các Hiến Pháp Nhân Bản và Dân Chủ Tây Âu, người viết cũng muốn dựa vào các hiểu biết thu thập được, để thử nêu lên những đặc tính thiết yếu mà mình nghĩ cần có cho một nước Việt Nam trong tương lai, một khi chế độ độc tài, độc đảng không còn nữa.

Những đặc tính thiết yếu để bảo vệ và phát huy Con Người và bảo đảm cho phương thức hành xử Dân Chủ tôn trọng con người, chúng tôi vừa liệt kê ra ở đầu bài.
Sau đây, chúng ta thử tìm hiểu rõ rệt hơn từng đặc tính, để nói rõ những gì chúng ta mơ ước cho Việt Nam trong tương lai.

A - Cộng Hoà.

Điều 1của Hiến Pháp 1947 Ý Quốc xác định:
- " Ý Quốc là một Quốc Gia Cộng Hoà, dân chủ, được đặt trên nền tảng làm việc" ( Điều 1, đoạn 1).

Trong khi đó thì điều 20 của Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức cũng tuyên bố:

- " Cộng Hoà Liên Bang Đức là một Quốc Gia liên bang, dân chủ và xã hội" ( Điều 1, đoạn 1).

Cả hai bản văn của hai Quốc Gia đều cho thấy Hiến Pháp quy hướng thể chế tương lai của đất nước là thể chế Cộng Hoà.

Nói cách khác, các vị soạn thảo Hiến Pháp của hai Quốc Gia được tuyển chọn và giao cho trách nhiệm soạn thảo ra thể chế căn bản cho tương lai đất nước, bởi một xã hội mà đa số dân chúng đồng thuận lấy phương thức Cộng Hoà là phương thức thích hợp với nguyện vọng của họ, để điều hành đất nước.
Điều 1 của Hiến Pháp 1947 Ý Quốc, cũng như điều 20 của Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức không chỉ giới hạn tuyên bố Ý hay Đức Quốc là một Quốc Gia Cộng Hoà, mà còn xác định thêm đặc tính cá biệt của nền Cộng Hoà đó.
Đó là " Cộng Hoà Dân Chủ ". Bởi lẽ chúng ta cũng có Cộng Hoà Đảng Trị, độc tài, độc đảng, sáp nhập, không còn phân biệt giữa đảng phái chính trị và cơ chế Quốc Gia, như từ ngữ " Đảng và Nhà Nước" đang được dùng trên một Đất Nước độc đảng bất hạnh..
Và rồi không những tuyên bố để xác định thể chế, " Cộng Hoà " là thể chế để tổ chức và điều hành Đất Nước, các vị soạn thảo hai Hiến Pháp vừa kể còn xác quyết là thể chế bât di dịch của Quốc Gia:

- " Thể thức Cộng Hoà không thể là đối tượng cho việc tu chính Hiến Pháp" ( Điều 139, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).


Cũng vậy, Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức cũng xác định tính cách bất di dịch của thể chế đã được xác định:

- " Không thể chấp nhận bât cứ một sự sửa đổi nào đối với Hiến Pháp nầy có liên quan đến mối tương quan giữa Liên Bang ( Bund) và các Tiểu Bang ( Laender), đến việc các Tiểu Bang tham dự vào tiến trình lập pháp hay đến các nguyên tắc đã được tuyên bố ở điều 1 và điều 20" ( Điều 79, đoạn 3 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức).
( Điều 1, liên quan đến nhân phẩm bất khả xâm phạm của con người, và điều 20 là điều khoản định nghĩa Cộng Hoà Liên Bang Đức là một Quốc Gia Cộng Hoà, chúng ta trích dẫn ở trên).

Như vậy giả sử ai đó có tinh thần bảo hoàng, có ý đồ muốn thiết lập lại thể chế Quân Chủ trên Đất Nước, không thể dựa vào các phương thức pháp lý để thoả mãn được nguyện vọng mạo hiểm đó. Bởi lẽ

- " Cộng Hoà không thể là đối tượng cho việc tu chính Hiến Pháp"
- hay " Không thể chấp nhận bất cứ một sự sửa đổu nào đối với Hiến Pháp nầy có liên quan đến ...các nguyên tắc đã được tuyên bố ở điều 1 và điều 20).
Như vậy con đường duy nhứt còn lại là một cuộc cách mạng, đảo chánh, để đạp đổ không những thể chế Cộng Hoà mà cả cấu trúc hiến định trên đó nền Cộng Hoà được xây dựng.

Thể chế Cộng Hoà để tổ chức cơ chế Quốc Gia, là thể chế đối ngược lại thể chế Quân Chủ.

Các tiêu chuẩn để phân biệt giữa Công Hoà và Quân Chủ là tính cách đại diện của Vị Nguyên Thủ Quốc Gia Cộng Hoà phải được ân chúng tuyển chọn.
Tinh cách đại diện đó
- không do việc tuyển chọn do phổ thông đầu phiếu hay hay tuyển chọn qua cơ quan dân cử ( Lưỡng Viện Quốc Hội) và đại diện của các Vùng, như trường hợp Ý Quốc ( Điều 83, đoạn 1 và 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc)
- hay chỉ do Quốc Hội Liên Bang trong phiên hợp khoáng đại (Bundesversammlung), như ở Cộng Hoà Liên Bang Đức ( Điều 54, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức).
Bởi lẽ phương thức tuyển chọn, thể chế Quân Chủ trong quá khứ cũng đã áp dụng, để tuyển chọn vua và hiện nay Hồng Y Đoàn cũng tuyển chọn Đức Giáo Hoàng, Vị Nguyên Thủ Quốc Gia của Quốc Gia Vatican và là Vị Lãnh Đạo Tôn Giáo của Giáo Hội Công Giáo.
Nhưng không ai có thể coi vua trong quá khứ và Đức Giáo Hoàng hiện tại là những người đại diện cho thể chế Cộng Hoà.
Tính cách đại diện do đó không phải hệ tại ở phương thế tuyển chọn, bầu cử, cho bằng đặc tính Vị Nguyên Thủ Quốc Gia vẫn tiếp tục liên kết chặt chẻ với cộng đồng xã hội mà ông là biểu tượng và cộng đồng xã hội đó có quyền thiết định hạn kỳ đối với phận vụ của ông:

- " Tổng Thống Cộng Hoà là Vị Nguyên Thủ Quốc Gia và đại diện cho sự đoàn kết của Đất Nước" ( Điều 87, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc),

- " Tổng Thống Cộng Hoà được tuyển chọn cho thời gian kéo dài 7 năm " ( Điều 85, đoạn 1, id.).

B - Nhân Bản và Dân Chủ.

1 - Nhân Bản.
Đọc hai Hiến Pháp 1947 Ý Quốc và 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức, hai Hiến Pháp mà người viết được học hỏi và làm việc trong nhiều năm, cũng như hầu hết các Hiến Pháp Nhân Bản và Dân Chủ Tây Âu, ai trong chúng ta cũng thấy được đặc tính Nhân Bản nổi bậc mà các Hiến Pháp đặt ngay ở những điều khoản đầu tiên của phần I, nói lên tính cách quan trọng và trung tâm điểm của thể chế Nhân Bản, chủ đề mà Hiến Pháp muốn cho ai đọc và đem ra áp dụng hành xử cũng phải chú ý.
Nói một cách tổng quát, các Hiến Pháp Nhân Bản và Dân Chủ Tây Âu gồm có hai phần:
- phần I: tuyên bố dưới hình thức mệnh lệnh tính ( préceptive) phẩm giá và các quyền bất khả xâm phạm của con người,
- phần II: tuyên bồ dưới hình thức mô tả để xác định ( descriptive) tổ chức các cơ chế Quốc Gia, cấu trúc và phương thức hoạt động, thế nào để cơ chế Quốc Gia ( lập pháp, hành pháp và tư pháp ) được coi là phương tiện, được dùng bảo vệ và phát huy những giá trị Nhân Bản và Dân Chủ được tuyên bố ở phần I, như là mục đích mà vì đó, Quốc Gia được thiết lập để phục vụ:

Quốc Gia được thiết lập để phục vụ con người,


thường được tuyên bố dưới thể thức chương trình hành động ( programmatique).

Hiểu như vậy, chúng ta thấy được tại sao Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức tuyên bố về phẩm giá con người ngay ở điều 1, đoạn 1 của phần I ( điều 1-19), ngay từ lúc Hiến Pháp khởi đầu tuyên bố như là một mệnh lệnh không được vi phạm:

- " Phẩm giá con người bất khả xâm phạm. Bổn phận của mọi quyền lực Quốc Gia là kính trọng và bảo vệ nhân phẩm đó" ( Điều 1, đoạn 1, Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức).


Cùng trong tâm thức đó, đây là câu tuyên bồ của Hiến Pháp 1947 Ý Quốc ở điều 2, phẩn I ( điều 1-54), phần liên quan đến nhân phẩm và các quyền bất khả xâm phạm của con người, như chúng ta đã đề cập:


- " Nền Cộng Hoà nhận biết ( riconosce) và bảo đảm ( garantisce) các quyền bất khả xâm phạm của con người, con người như cá nhân hay con người như thành phần xã hội, nơi mỗi cá nhân phát triển con người của mình và đòi buộc chu toàn các bổn phận liên đới không thể thiếu trong chính trị, kinh tế và xã hội " ( Điều 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).


Các vị soạn thảo Hiến Pháp 1947 Ý Quốc dùng từ ngữ rất chính xác và có ý nghĩa, dùng động từ " nhận biết " ( riconoscere), để tuyên bố " phẩm giá" và " các quyền bất khả xâm phạm của con người".

Động từ " nhận biết " ( hay nhận ra, trong việt ngữ), riconoscere là động từ kép, gồm " ri ": một lần nữa; " conoscere": biết.
Như vậy " ri + conoscere" ( reconnai^tre, Pháp ngữ): nhận biết hay nhận ra một lần nữa.
Điều đó có nghĩa là phẩm giá và các quyền bất khả xâm phạm của con người, được gắn liền với " bản thể" ( substantia, La ngữ) mà mỗi con người có được ngay từ lúc được tượng thai trong lòng mẹ.
Trong khi đó thì Quốc Gia được sinh ra, khi nhiều con người họp tại, chung sống với nhau, tạo thành cộng động Quốc Gia, như định nghĩa trong chính trị học:

- " Quốc Gia là một thực thể gồm một tập thể dân chúng, cùng sống trên một lãnh thổ, được tổ chức theo một thể chế".


Như vậy, khi một tập thể dân chúng họp lại chung sống với nhau, cùng sống trên một lãnh thổ, được tổ chức theo một định chế, tập thể con người đó khai sinh ra một Quốc Gia.

Quốc Gia được tập thể con người khai sinh ra, mở mắt chào đời, phải biết " nhìn ra" hay " nhận biết " ( riconosce) con người là cha mẹ, là chủ nhân đã sinh trưởng ra mình, với phẩm giá và các quyền mà con người đã có trước khi sinh ra mình, để kính trọng và bảo vệ con người, cha mẹ và chủ nhân của mình:
- " ...Bổn phận của mọi quyền lực Quốc Gia là kính trọng và bảo vệ nhân phẩm đó" ( Điều 1, đoạn 1b Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức).
Quốc Gia phải biết " nhận ra " và " bảo vệ" ai là người đã sinh ra mình, với phẩm giá và các quyền sống xứng đáng như là con người, do chính bản thể con người đòi buộc và đó là cùng đích của sự hiện hữu và tồn tại của Quốc Gia, " biết kính trọng và bảo vệ nhận phẩm đó" .
Nói cách khác, Quốc Gia được thiết lập để phục vụ con người, chớ không ngược lại.
Phẩm giá và các quyền sống xứng đáng với địa vị con người của mình do bản tính của con người đòi buộc, từ lúc con người có bản tính của mình, được thụ thai trong lòng mẹ, chớ không phải do Quốc Gia thiết định, thêm bớt hay cắt xén thế nào tùy hỷ.
Đớ là những gì Linh Mục Luigi Sturzo, sáng lập viên Đảng Đại Chúng Ý Quốc ( Partito Popolare Italiano) dõng dạc tuyên bố trong đại hội thành lập Đảng:
- " Đối với chúng tôi, Quốc Gia không bóp nghẽn, không tiêu hũy, không tác tạo ra các quyền của con người, của gia đình, của xã ấp, của đoàn thể, của tôn giáo. Quốc Gia chỉ " nhân biết và bảo vệ ", phối hợp các quyền đó trong giới hạn hoạt động của mình" ( Don Luigi Sturzo, Il Partito Popolare, vol II : Popolarismo e Fascismo ( 1924), Zanichelli, Bologna 1956, 107).

Và rồi các Hiến Pháp văn minh Nhân Bản và Dân Chủ Tây Âu không những xác định nguồn gốc và đặc tính Nhân Bản của tổ chức Quốc Gia, trong đó phẩm giá và quyền bất khả xâm phạm và bất khả nhượng của con người phải được " nhận biết và bảo đảm" hay " trọng kính và bảo vệ", mà còn tiến liệu các phương thức thực hữu để bắt buộc bất cứ ai, cá nhân, đoàn thể hay Chính Quyền đều phải tôn trọng:


- " Các quyền căn bản sẽ được kể sau đây, là những quyền có giá trị bắt buộc đối với lập pháp, hành pháp và tư pháp, là những quyền có giá trị bắt buộc trực tiếp" ( Điều 1, đoạn 3 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức).


Và không những bắt buộc " phải tôn trọng, ...có giá trị bắt buộc trực tiếp", có nghĩa là " phía bên kia không được ", hay tuyên bố các quyền con người dưới hình thức tiêu cưc, " cấm ngặt..., phía bên kia không được..., phải tôn trọng...",

Hiến Pháp còn quy trách cho tổ chức Quốc Gia phải tạo điều kiện thuận tiện, để con người được hưởng các quyền của mình một cách tích cực, để Thăng Tiến cá nhân và Thăng Tiến xã hội:
- Bổn phận của Nền Cộng Hoà là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội, là những chướng ngại, trong khi thật sự giới hạn tự do và bình đẳng của con người, không cho phép mỗi cá nhân triển nở hoàn hảo con người của mình và cộng tác một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của Xứ Sở" ( Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).

Những gì vừa được đề cập, chúng tôi đã có dịp bàn đến trong các bài:

- TỰ DO TÍCH CỰC VÀ TỰ DO TIÊU CỰC,
- PHẨM GIÁ CON NGƯỜI TRONG HIẾN PHÁP
- THỂ CHẾ NHÂN BẢN VÀ DÂN CHỦ, NHỮNG ĐẶC TÍNH,
- TỰ DO CÁ NHÂN TRONG THỂ CHẾ NHÂN BẢN VÀ DÂN CHỦ).

NGUYỄN HỌC TẬP

QUYỀN LẬT ĐỔ CHÍNH QUYỀN CỦA NGƯỜI DÂN


Chính Quyền là do Dân mà ra. Không có Dân làm sao có Nước? Không có Nước làm sao có Chính Quyền? Bởi vậy, nếu Chính Quyền trở nên tồi tệ, không biết phục vụ cho người Dân, bảo vệ quyền lợi và tính mạng của người Dân, mà chỉ biết tham nhũng, hiếp đáp người dân thì người Dân phải tìm cách lật đổ Chính Quyền để lập một chính quyền khác có lợi cho mình. Đó là Quyền Lật Đổ Chính Quyền của người Dân trong một nước.

I/ Nguồn gốc quyền lật đổ chính quyền của người dân.

a/ Trong học thuyết Nhân Trị Chủ Nghĩa của Khổng Mạnh.

Người cầm quyền xưa thường dựa vào lời nói: ``Quân xử thần tử, thần bất tử, bất trung. Phụ xử tử vong, tử bất vong, bất hiếu`` của người xưa và đã hiểu theo nghiã đen của từng chữ như sau: ``Vua xử chết, mà (bầy tôi) kháng cự là bất trung. Cha bảo chết, mà (con) còn luyến tiếc cuộc đời là bất hiếu, không xứng đáng là đại trượng phu, là nam tử hán``. Hai câu giáo điều này của Nho Giáo đã ngự trị ở Việt Nam cũng như Trung Hoa từ nhiều ngàn năm trước và đã được người cầm quyền thời đó tức các vua chúa ngày xưa căn cứ vào đó để trị nước một cách độc tài, độc đoán.

Thực ra thì mặc dù quan niệm Vua là Thiên Tử, nhưng theo Khổng Tử, DÂN cũng là con TRƠI, chỉ khác là VUA là con TRƯỞNG mà thôi (Phàm nhân giai vân Thiên chi tử Thiên tử vi chi thủ nhĩ). Không những thế, DÂN mới là người đáng qúy nhất (Dân vi qúy, Xã Tắc thứ chi, Quân vi khinh). Thực vậy, không có DÂN thì làm gì có nước ? Không có nước thì làm gì có vua ? Bởi vậy, dù là Thiên Tử, làm gì cũng phải theo ý trời mà ngày nay ta phải hiểu là ý Dân. Thuận theo ý TRƠI thì SỐNG, nghịch ý TRƠI thì phải CHẾT (Thuận Thiên gỉa tồn, nghịch Thiên gỉa vong).

Chính Đức Khổng Tử cũng đã từng hành xử như vậy. Chỉ có điều vì ngài chủ trương NHÂN TRI CHỦ NGHĨA, lại sống dưới chế quân chủ chuyên chế nên cách giải quyết của ngài để phế bỏ những ông vua tàn ác, bạo ngược không thể thuyết giảng công khai mà chỉ âm thầm nhưng vẫn không thiếu phần tích cực và dũng cảm, đó là sự ra đi (treo áo từ quan) và tìm người khác xứng đáng hơn để phù trợ mà vẫn không mang tiếng là bất trung, là phản nghịch. Một khi những người tài giỏi đã bỏ ra đi hết thì chẳng sớm thì muộn, ông vua tàn ác bạo ngược kia cũng bị mất ngôi, mất nước.

Đọc chuyện Đức Khổng Tử bỏ nước Lỗ trong cuốn Ôn Cố Tri Tân, Tập 2 trang 657 của Mộng Bình Sơn, chúng ta thấy Ngài đã được vua nước Lỗ là Lỗ Định Công mời về và phong cho làm Tướng Quốc. Ngài đã giúp cho vua nước Lỗ chỉnh đốn lại được kỷ cương trong nước khiến nước Lỗ mỗi ngày một cường thịnh. Nhưng khi ngài thấy Lỗ Định Công không còn xứng đáng là một vị vua nữa, và cũng không còn thể nào cải sửa được nữa vì đã bỏ mất điều LỄ nên ngài đã bỏ nước Lỗ ra đi, sang nước Vệ rồi nước Tống, tìm minh chủ để phò trợ. Ai dám bảo Đức Khổng Tử, một người đã đề ra thuyết Nhân Trị Chủ Nghĩa, lấy Tam Cương Ngũ Thường làm giường cột, là bất trung?

Quan niệm của Đức Khổng Tử về Trung và Hiếu cũng như Quân, Sư và Phụ, lúc nào cũng phải dựa vào NHÂN, NGHĨA, LỄ, TRÍ và TÍN. Bởi vậy, không phải lúc nào cũng ``Quân xử thần tử, thần bất tử, bất trung. Phụ xử tử vong, tử bất vong, bất hiếu``. Câu này sở dĩ được luôn luôn nói tới trong thời phong kiến bởi vì thời nào cũng vậy, hôn quân, bạo chúa, gian thần, nịnh thần thì nhiều mà minh quân, anh quân, trung thần thì ít, nên bọn gian thần, nịnh thần luôn luôn nêu câu này lên để hãm hại trung thần.

Ngày nay, bọn Cộng Sản Trung Hoa và Việt Nam tuy bề ngoài thì đả phá chế độ quân chủ, phong kiến, nhưng cũng bấu víu vào hai chữ TRUNG và HIẾU của Khổng Tử để đàn áp dân chúng cũng như những người bất đồng chính kiến. Nhưng chúng đã sửa đổi một chút cho phù hợp với xu hướng của thời đại và nhu cầu của chế độ là TRUNG với ĐẢNG, HIẾU với DÂN``. Thực ra thì bọn chúng (bọn Cộng Sản Việt Nam) chỉ bắt DÂN phải TRUNG với ĐẢNG mà thôi, chứ làm gì có chuyện bọn chúng HIẾU với DÂN? Nếu bọn chúng biết HIẾU với DÂN thì đâu có chuyện hàng triệu người phải bỏ nước ra đi để hàng vạn người phải bỏ xác ngoài biển cả?

Là bầt tôi trung, phaỉ hiểu là trung với nước, Vua hay Tổng Thống chỉ là người đại diện. Nếu không xứng đáng, người bầy tôi trung, nói riêng, công dần tốt, nói chung, không những có quyền mà còn có bổn phận đứng lên tìm cách phế bỏ hay đạp đổ. Liệu bọn Cộng Sản Việt Nam còn có thể tồn tại được đến bao gìơ nếu chúng không thay đổi cách cư xử đối với dân và cách phụng sự đối với đất nước? Người xưa thường nói: ``Thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên gỉa vong. Thiên ở đây chính là lòng dân. Do đó, nếu chính quyền của một quốc gia không tạo được an sinh và hạnh phúc cho dân, mà chỉ tham nhũng và dùng quyền bính của mình để ức hiếp và áp chế người dân, người dân có quyền xử dụng quyền lật đổ chính quyền của mình để tạo lập một chính quyền khác, biết lo cho quyền lợi và hạnh phúc của mình hơn.

Đọc lịch sử Việt Nam, chúng ta thấy có nhiều bầy tôi đã hiểu chữ TRUNG, chữ QUÂN một cách tích cực như vậy, mà cụ Chu Văn An, cụ Nguyễn Trãi là những điển hình.

b/ Trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền của LHQ.

Nguồn gc thứ hai của Quyền lật đổ chính quyền của người dân cũng tiềm ẩn trong hai bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền của Pháp, Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ và nhất là trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyên của Liên Hiệp Quốc.

Điều 21 bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền đã gián tiếp công nhận quyền lật đổ chính quyền của người dân qua quyền bầu cử và ứng cử của người dân như sau:

1. &nbsp ; Mọi người đều có quyền tham gia vào việc điều hành xứ sở của mình, một cách trực tiếp hay qua các đại biểu được tuyển chọn một cách tự do.

2. &nbsp ; Mọi người đều có quyền đón nhận những dịch vụ công cộng của quốc gia một cách bình đẳng.

3. &nbsp ; Ý muốn của người dân phải là nền tảng của quyền lực chính quyền. Ý muốn này phải được thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ và thực sự, bằng phiếu kín, qua phương thức phổ thông và bình đẳng đầu phiếu, hay các phương thức tương đương của bầu cử tự do.

II/ Các hình thức để thực hiện quyền lật đổ chính quyền.

a/ Các hình thức ôn hoà.

Tại các nước tự do, dân chủ, khi người dân bất mãn với chính quyền, họ thường xử dụng những quyền tự do đã được luật pháp công nhận như tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền bầu cử và ứng cử v.v… để tỏ bầy những sự bất mãn của họ và yêu cầu chính quyền phải sửa sai.

Nếu không được, họ sẽ dùng những quyền tự do khác, cũng được luật pháp công nhận, nhưng mạnh mẽ hơn để làm áp lực như quyền đình công, bãi thị, quyền mít tinh, biểu tình để yêu cầu các người đại diện của họ tức các dân biểu, nghị sĩ phải đưa các vấn đề mà họ yêu cầu ra trước quốc hội để chất vấn chính phủ (các bộ trưởng) và nếu cần, khiển trách hoặc đàn hạc (impeachment), cả Tổng Thống. Một Tổng Thống mà đã bị quốc hội đàn hạc thì dù có thoát tội, và không chịu từ chức thì cũng khó lòng mà có thể được tái cử trong nhiệm kỳ tới.

b/ Các hình thức bạo động.

Tại các nước theo chế độ độc tài, nhất là chế độ độc tài cộng sản, các quyền tự do như tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do báo chí v.v…đều bị cấm đoán hoặc nếu có đề cập tới, thì cũng chỉ là hình thức. Thí dụ như Điều 69 bản Hiến Pháp 1992 của Việt Cộng ghi: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”, rồi chúng đặt ra luật pháp để cấm đóan. Thí dụ như để ngăn cấm những quyền tự do này, Việt Cộng đã ghi vào bộ Hình Luật của chúng hai điều luật sau:

Điều 79, khoản 1 bộ Luật Hình Sự quy định “Người nào hoạt động thành lập hay tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân thì bị phạt như sau: Người tổ chức, người xúi dục, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt từ từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình”.

Điều 88, Bộ Luật Hình sự Việt Nam quy định tội phạm gồm các hành vi: Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân; Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nguời phạm tội có thể bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm. Nếu trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm”.

Như vậy chúng ta chấy, mặc dù Hiến Pháp Việt Cộng tuy có đề cập tới các quyền tự do cũng bằng không. Làm sao người dân còn có thể lật đổ được chính quyền bằng các biện pháp ôn hòa? Người dân cũng không có thể yêu cầu các Dân Biểu hay Thượng Nghị Sĩ đưa Tổng Thống hay Chủ Tịch nhà nước ra trước Quốc Hội để mà chất vấn (question severely) hay đàn hạc (impeachment) vì họ (các dân biểu hay Thượng Nghị Sĩ) đều là người của Đảng (Cộng Sản), đại diện cho Đảng chứ không phải là người đại diện cho dân. Vì thế có thể nói rằng việc sử dụng các hình thức ôn hoà tại các nước theo chế độ độc tài để lật đổ chính quyền là điều bất khả thi. Vì thế người dân phải sử dụng những hình thức bạo động như biểu tình có bạo động, có đổ máu như hô những khẩu hiệu đòi hỏi những người lãnh đạo phải từ chức, quốc hội phải gỉai tán, đập phá, đốt xe cộ của công an, cảnh sát. Nếu bị công an, cảnh sát dùng những biện pháp mạnh như đánh đập người biểu tình thì người biểu tình chống đối lại bằng gạch đá, gậy gộc hoặc bằng bom xăng đưa tới tình trạng bạo động đổ máu hoặc nội chiến gây nhiều tang tóc cho dân chúng, không thể lường trước được.

Việc sử dụng những hình thức ôn hoà chỉ hữu hiệu tại các nước dân chủ mà thôi. Bởi vậy tại các nước dân chủ thực sự, không bao giờ xẩy ra những cuộc cách mạng đổ máu. Trái lại, tại các nước độc tài quân phiệt hay độc tài Cộng Sản, nếu không có cuộc cách mạng đổ máu, thật khó mà có thể lật đổ được chính quyền của những nước này nhất là tại những nước theo chế độ Cộng Sản. Bởi vì mặc dầu những nước này cũng đã ký vào bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và cũng có ghi vào bản Hiến Pháp của họ. Nhưng trên thực tế, mọi quyền tự do đều bị cấm đoán. Không những thế, họ còn đặt ra những điều luật để hù dọa như điều 79, khoản 1 bộ Luật Hình Sự Việt Cộng. Điều khoàn này quy định “Người nào hoạt động thành lập hay tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân thì bị phạt như sau: Người tổ chức, người xúi dục, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt từ từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình” để hù họa những người muốn xử dụng “Quyền lật đổ chính quyền”.

Tóm lại, khi một chế độ không biết chăm lo săn sóc quyền lợi của người dân, không biết bảo vệ quyền lợi của người dân mà chỉ biết tham nhũng, hiếp đáp người dân, không biết lo cho tương lai của dân tộc, tiền đồ của tổ quốc thì người dân có quyền lật đổ chính quyền. Khi mà một chế độ chỉ biết vâng lời ngoại bang, nhượng đất, nhượng biển cho ngoại bang và gây ra không biết là bao nhiêu cảnh tang thương, chết chóc cho dân tộc như bọn lãnh đạo chế độ Cộng Hoà Chủ Nghĩa VN hiện nay đã làm thì đó là một chế độ phản dân, hại nước, người dân lại càng có lý do chính đáng lật đổ chúng để xây dựng một chế độ tốt đẹp hơn. Vì thế việc lật đổ chính quyền Cộng Sản VN hiện nay, không những là một quyền tối thượng của người dân mà còn là một nhiệm vụ cao cả của người dân. Bọn lãnh đạo Cộng Sản VN không thể vin vào bất cứ lý do gì để trừng phạt hay cản trở người dân yêu nước khi xử dụng quyền tối thượng này.

Bọn lãnh đạo Việt Cộng hãy mau mau tỉnh ngộ, đừng để cuộc cách mạng đổ máu xẩy ra, tới lúc đó, chắc chắn sẽ không một lực lượng nào có thể ngăn chặn nổi sự giận dữ cuồng nộ của người dân. Chắc chắn lúc đó người dân sẽ, không những tìm những tên đầu xỏ Việt Cộng, những tên Công An Việt Cộng ác ôn để thanh toán mà còn thanh toán luôn cả các tên đảng viên cộng sản, các tên công an, và có khi cà các thân nhân của bọn chúng và cả những tên đã dựa hơi bọn chúng để làm giầu hay để ức hiếp dân lành.

LS.Lê Duy San


MỘT Ý CHÍ CHỐNG CỘNG MỘT LỜI THỀ GIÀNH LẠI QUÊ HƯƠNG

MỘT Ý CHÍ CHỐNG CỘNG

MỘT LỜI THỀ GIÀNH LẠI QUÊ HƯƠNG

Y BAN CHNG C VIT CNG
4110 14th Ave SE, Lacey, WA 98503

THÔNG CÁO BÁO CHÍ
(Press Release)

Ủy-ban Chống Cờ Việt Cộng (UBCCVC) trân trọng thông báo cùng toàn thể cộng-đồng NVQG chống Cộng và các cơ quan truyền-thông TIN QUAN TRỌNG sau đây:

  1. Tiép theo phiên xử ngày 14 tháng 01 năm 2011, ngày 19 tháng 4 năm 2011, Tòa Phúc Thẩm Tiểu-bang Washington (Địa hạt II) đã công bố kết quả là ĐẢO NGƯỢC PHÁN QUYẾT của Tòa Thượng thẩm Quận Thurston, và TRUYỀN CHO TÒA NẦY PHẢI BẢI BỎ HOÀN TOÀN VỤ KIỆN do Ông Tân Thục Đức và Cộng-đồng Người Việt Q. Thurston (CĐNVQT) khởi tố UBCCVC năm 2004 vì bị UBCCVC tố cáo là cộng-sản hay ủng hộ CS.

Quyết định nầy đã được CẢ BA VỊ THẨM PHÁN PHÚC THẢM ĐỒNG THANH CHẤP THUẬN. Và như vậy thì, theo luật lệ hiện hành, BÊN THUA KIỆN (Tân Thục Đức và Cộng-đồng Người Việt Quận Thurston) KHÔNG ĐƯỢC PHÉP KIỆN TIẾP LÊN TỐI CAO PHÁP-VIỆN.

  1. Một nguyên bản tiếng Anh và bản dịch ra tiếng Việt của Bản Tóm-Lược Quyết định nói trên (Synopsis of the Published Opinion) được đính theo Bản Thông cáo nầy để Quý Vị tiện tham khảo. Toàn văn của Quyết-định bằng tiếng Anh được đăng trên Trang Mạng của Tòahttp://www.courts.wa.gov/opinions/index.cfm?fa=opinions.showOpinion&filename=394472MAJ
  1. UBCCVC sẽ phổ biến đầy đủ chi tiết về VỤ KIỆN LỊCH SỬ nầy cũng như tầm quan trọng của QUYẾT-ĐỊNH hôm nay của Tòa Phúc-thẩm trong buổi Lễ Tưởng Niệm Quốc Hận do CĐNVQG/TBWA tại Thư viện Beacon Hill, Seattle lúc 1:30 pm ngày Thứ Bảy 23-4-2011. Kính mời tất cả các cơ quan truyền thông và chiến sĩ Quốc-gia chống cộng đến tham dự thật đông đảo để có được những tin tức chính xác.

QUYÊT-ĐỊNH MANG TÍNH CÁCH LỊCH-SỬ TRÊN ĐÂY ĐÃ TƯỚC ĐI ĐƯỢC VŨ KHÍ HIỂM ĐỘC NHỨT CỦA CỘNG ĐẢNG VN TẠI HẢI NGOẠI LÀ: DÙNG TÒA ÁN MỸ ĐỂ KHÓA MIỆNG TẤT CẢ CÁC LỰC LUỢNG NVQG ĐẤU TRANH CHỐNG CỘNG ĐỂ BỌN VIỆT GIAN TAY SAI CỦA CHÚNG THA HỒ THI HÀNH NGHI-QUYẾT 36 VÀ NHUÔM ĐỎ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI.

  1. UBCCVC dự trù sẽ tổ chức môt Buổi Họp mặt Liên Hoan trong những ngày sắp đến để cảm tạ tất cả những đoàn thể và chiến-sĩ NVQG chống cộng đã từng sát cánh với UBCCVC trong cuộc đấu tranh để giành được thắng lợi vẻ vang hôm nay cho tất cả mọi người Việt Quốc-gia chống cộng ở hải ngoại.

Làm tại Lacey, WA ngày 19 tháng 4 năm 2011

ỦY BAN CHỐNG CỜ VIỆT CỘNG:

Vũ Anh Tuấn, Đồng Chủ-tịch Ts Lê Thiện Ngọ, Đồng Chủ-tịch
Hồ Tấn Đạt, Tổng Thư ký Nguyễn Xuân Phiệt, Ủy-viên

Trần Thanh Nhàn, Thủ-quỷ Phạm Thị Nga, Ủy-viên.

http://saohomsaomai.wordpress.com/2011/04/23/%E1%BB%A7y-ban-ch%E1%BB%91ng-c%E1%BB%9D-vc-da-th%E1%BA%AFng-ki%E1%BB%87n/

TC Bán Trẻ Sơ Sinh


Nghe phần điểm báo liên quan đến Trung Cộng “Bán trẻ sơ sinh của những gia đình vượt tiêu chuẩn một con” của đài RFI của Pháp vào Thứ năm 12 Tháng Năm 2011, mà chưa dám tin ở lỗ tai mình. Phải tìm trên Internet hai tờ Le Figaro và Liberation để đọc hai bài báo gốc viết về thông tin nghị luận này - cho chắc ý. Coi rồi dù cắn răng dằn thế mấy từ lương tâm cũng thốt ra, “Trời ơi, TC ác gì mà ác dữ vậy.” Chẳng những Trung Cộng ác trong việc để cho đồ ăn thức uống độc hại tràn lan trong nước và trên thế giới, khiến hầu như nhãn hiệu made in China bây giờ thiên hạ coi như dấu hiệu hiểm nghèo. Thế vẩn chưa đủ. TC còn ác với trẻ em sơ sinh hoàn toàn vô tội vì các em đâu có chọn được cha mẹ để sanh ra, thế mà Đảng Nhà Nước lại hành tội những trẻ em này vì cha mẹ vi phạm pháp lịnh và kế hoạch của Đảng Nhà Nước CS chỉ cho mỗi gia đình gia đình 1 con thôi. TC để cho đảng viên cán bộ ở các tỉnh, quận, xã tịch thu đứa bé đem bán cho ngoại quốc làm con nuôi để lấy tiền bỏ túi riêng và tăng ngân sách địa phương để “cải thiện” cho đảng viên cán bộ như tỉnh ủy và ủy ban tỉnh Hồ Nam mới bị phanh phui đây.
Trước tiên chuyện cũ nhưng đang vẫn còn là thời sự dài dài, đồ ăn, thức uống “Made in China” nổi tiếng độc hại cho sức khoẻ con người và súc vật. Công luận nước Mỹ, thị trường lớn nhứt thế giới, bắt đầu bàng hoàng với những thức ăn cho thú cưng mà người Mỹ thích nuôi, do Trung Cộng xuất cảng sang Mỹ để bán. Con nào ăn vô không đau cũng chết. Kế đến là đồ chơi cho trẻ em có chất độc như trong sơn, màu bị Mỹ phát giác trả về cả tàu. Tiếp theo kem đánh răng có chất độc có người chết ở Mễ.
Và trở nên phổ thông là những tin đồ ăn thức uống của TC gây độc hại lan tràn khắp TQ và thế giới. Sữa bột pha độc chất melamine năm 2008, làm 6 em nhỏ thiệt mạng, 300,000 em khác ngã bệnh; thỉnh thoảng vụ này vẫn còn tái diễn. Làm giá sống bằng đậu lại để độc chất sodium nitrite cho to cọng, có vẻ tươi bóng ngon lành. Đậu đũa thấm đẫm thuốc trừ sâu. Sữa có pha hoá chất từ phế liệu da. Bánh bao nhưn làm bằng giấy cạt tông. Bánh bột có chất nhôm để nhiều bột nổi. Thịt heo phát quang vì nhiễm chất lân tinh. Thịt heo nhiễm chất hoá học vỗ béo, nuôi mau lớn. Gạo nhiều chất kim khí nặng trong đó có 10% chất cadmium rất độc. Còn hột dưa nhuộm màu có chất rhodamine. Trà sấy bằng ống thoát hơi máy nổ đầy chất than, monooxide. Thuốc Bắc đầy bụi bậm khi phơi trên sân, đường là chuyện quá phổ thông rồi. Măng tre làm bằng đũa tre ngâm độc chất hoá học hai ngày.
Nên hầu hết người mua cầm món đồ ăn, uống, thuốc lên thấy “made in China” thì đa số bỏ xuống, bỏ đi, dù giá rẻ.
TC làm đồ gian, đồ giả, đồ độc bán cho dân và cho thế giới chưa đủ.
Thứ đến, TC còn bán trẻ sơ sinh nữa. Báo Pháp Le Figaro thân chính và Libération thiên tả cùng một ngày đi một tin chấn động về TC. Nhà cầm quyền CS ở tỉnh Hồ Nam qua nhiều mánh khoé như làm giấy tờ giả để bán trẻ sơ sinh cho người ngoại quốc xin con nuôi. Bán liên tục, bán lâu rồi, bán có tổ chức, bán thành hệ thống. Những trẻ bị bán không phải là con cán bộ đảng viên lỡ ham vui, vi phạm luật gia đình một con của Đảng Nhà Nước, tìm cách che đậy tội của mình với Đảng để khỏi bị kỷ luật, mất chức, mất quyền. Cán bộ đảng viên có tiền có quyền có thể che dấu con ngoài kế hoạch không khó.
Những đứa trẻ bị bán đó là con của người dân lỡ có hơn 1 con, trái với chánh sách của Đảng Nhà Nước TC. Pháp lịnh gia đình 1 con của Đảng, phong tục trọng nam của người Trung Hoa, có con trai nối dõi gia đình làm người dân TQ thường phải vi phạm pháp lịnh Đảng nếu đứa con đầu lòng lỡ sanh là gái thì phải lén sanh thêm một đứa trai. Những người dân này bị phạt. Nếu không đủ tiền nộp phạt (khoảng 6.000 yuan, tương đương 600 euro). Đảng Nhà Nước bắt buộc cha mẹ phải giao con cho trại trẻ mồ côi của chính quyền địa phương, như buộc đem con đi thế nợ thời phong kiến vậy. Nhưng CS bạo hơn thời phong kiến, tịch thu đứa con luôn và giả mạo giấy tờ đem “bán” cho người ngoại quốc muốn nhận con nuôi.
Theo hai tờ báo Figaro và Liberation, người Mỹ và người Hoà Lan là những người bị nhà cầm quyền tỉnh Hồ Nam giả giấy tờ bán trẻ em dưới hình thức con nuôi, nhiều nhứt. Giá mua là 2000 Euros trở lên. Trại mồ côi của Đảng Nhà Nước, nơi tạm chứa những trẻ em ngoài kế họach cán bộ đảng viên CS tước đoạt của cha mẹ, được chia 100 euros khi giao đứa trẻ cho người mua nuôi. Còn cha mẹ đứa nhỏ thì chẳng biết và chẳng được đồng nào. Đảng Nhà Nước coi đưa nhỏ sanh ngoài kế khoạch là sở hữu của Đàng Nhà Nước, Đảng Nhà Nước tự do buôn bán như chủ nô thời nô lệ. Số tiền thu được một phần sung vào quỹ của Ủy Ban, một phần vô túi cho cán bộ đảng viên có chức có quyền, mà còn được “trên” khen là “hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch gia đình 1 con”.
Theo Libération, hoạt động này rất phổ biến tại vùng đất nghèo đói Thiệu Dương (Shaoyang), tỉnh Hồ Nam kể từ năm 2003.
Tuần báo Caixin phanh phui tệ nạn này ra. Công luận trên các trang mạng ở TQ chấn động. CS Bắc Kinh nói sẽ mở cuộc điều tra.
Chuyện bán trẻ sơ sinh cho người ngoại quốc mới là một tập của truyện dài mà chánh sách một con của TC gây ra cho dân. Từ lâu lắm rồi để thi hành nghiêm chỉnh, đạt thành tích kề hoạch gia đình 1 con với trung ương, nhà cầm quyền địa phương siết dân. Nhà cầm quyền áp lực buộc dân phá thai, nạo thai, sa thải khỏi việc làm, đuồi nhà đi chỗ khác. Dân muốn có con trai nồi dõi tông đường mà lỡ sanh con gái trước hay dùng gối làm nghẹt thở, trấn nước cho chết, nhà cầm quyền nhắm mắt làm ngơ để đạt thành tích gia đình 1 con.
CS còn lợi dụng pháp lịnh này làm tiền nữa như phần điểm báo của RFI “Bán trẻ sơ sinh của những gia đình vượt tiêu chuẩn một con”, dựa vào hai bài báo của hai tờ báo Pháp Le Figaro va Liberation đã phân tích ở trên.
Sau cùng, cái tội trời không dung, đất không tha, người người oán hận đó, Đảng CS coi như không có gì vì người CS tin “cứu cánh biện minh cho phương tiện”./.

( Vi Anh)

Nghĩa Vợ Chồng – Tình Đất Nước

Gregory Rodriguez

Cung Nhật Thành lược dịch

(Nguồn: Dallas Morning News 02 tháng 1, 2011)

Nếu hỏi bất kỳ người Mỹ nào về mối quan hệ tình nghĩa vợ chồng của những chính khách Hoa Kỳ thì họ sẽ nhớ ngay đến hình ảnh tan nát của bà Elizabeth Edwards (khi Thượng Nghị Sĩ Edward thú nhận đã ngoại tình lừa dối vợ), nhớ những nhục nhã sượng sùng của các chàng sở khanh khi phải đương đầu với báo chí và đối mặt với cô gái bị mình lường gạt; và họ cũng nhớ đến sự chịu đựng đau khổ nhẫn nhục của biết bao nhiêu vợ các chính khách, nói theo đúng như chữ của phu nhân Tổng Thống Hillary Rodham Clinton, khi “đứng bên người đàn ông của họ. ”

Thật sự chúng ta đã biết mối tương quan của các chính khách với hạnh phúc trong tình vợ chồng hay lãng mạng trong tình yêu thường đã ít oi, nói gì đến chuyện chung thủy sắt son…Mới đây với phát hiện liên tiếp về những bê bối nhơ nhuốc trong các lâu đài quyền lực có thể đã làm chúng ta quen đi với cách cư xử tồi tệ của những người, phần lớn là nam giới, mà chúng ta đã bầu, đã chọn họ là lãnh đạo để bảo vệ quyền lợi của chúng ta và quyền lợi của xã hội của xã hội. Không hiểu bắt đầu từ lúc nào mà dân chúng Hoa Kỳ đã quen đi và cho là đời sống riêng tư, nhất là chuyện tình ái lăng nhăng của các chính khách dân cử, không ảnh hưởng nhiều đến các nỗ lực phục vụ dân chúng của họ.
Vài chính khách khi phản bội gia đình của họ, đã bị tẩy chay, không được tái cử hay phải từ nhiệm, và không còn được xuất hiện trên chính trường (Gary Hart, Larry Craig)…Nhưng còn rất nhiều dân cử khác có gốc gác từ những gia đình giầu có quyền thế, vẫn được không phải là hai mà là ba lần để sửa chữa lỗi lầm như Ted Kennedy với vụ cô thư ký chết đuối ở Chappaquiddick; Rudy Giuliani bị vợ tố cáo trắng trợn công khai ngoại tình và Newt Gingrich cưới vợ đến ba lần…

Mới đây sau khi đọc bản tin về Lễ Trao Giải Nobel Hoà Bình trong tháng 10 năm 2010, tôi đã bâng khuâng tự hỏi không biết chúng ta đã quá nhanh chóng xem nhẹ mối liên quan mật thiết giữa người chồng chung thủy và các nhà lãnh đạo can đảm hay không… Giải Nobel Hoà Bình năm nay đã được trao cho một người Trung Hoa, ông Lưu Hiểu Ba, và ông không thể đến Olso để nhận Giải thưởng vì đang bị nhốt tù với lý do phản kháng giới cầm quyền Trung Cộng. Thay mặt ông Lưu Hiểu Ba, nữ diễn viên Liv Ullmann đã đọc vang vang trong sảnh đường bản văn ông viết vào tháng 12 năm ngoái, khi ông bị nhốt tù chờ phiên toà cáo buộc tội “ khuyến khích , xúi dục lật đổ nhà cầm quyền Trung Cộng ” . Phần đầu văn bản đề cập đến luân lý, đạo đức, chống lại sự thù hận, ganh ghét…vì “ hận thù và ganh ghét chỉ có thể làm cả đất nuớc trở nên mù quáng tối tăm…” nhưng đoạn chót của bài văn lại là một lá thư tuyệt đối tha thiết yêu thương với vợ, bà Lưu Sinh.
“ ….Anh đang ở trong nhà tù, và em cũng đang đợi anh trong một nhà tù khác, vô hình. Như ánh sáng mặt trời, lòng thương yêu của em vượt lên trên các song sắt, xuyên qua những bức tường tù ngục để vuốt ve đến từng gang tấc trên da thịt, sưởi ấm đến từng ngõ ngách trong con người khiến anh trở nên bình thản, và cảm thấy được an ủi, vỗ về yên ấm…Như thế, thời gian trong tù của anh đã sáng lên và đầy ý nghĩa với tình yêu của em. Còn tình của anh với em chỉ toàn những ăn năn, hối tiếc, lắm khi nặng đến nỗi làm bước chân anh loạng choạng mỗi khi nghĩ đến. Anh như hòn đá tảng hoang dã, giá lạnh như băng tuyết, chịu đựng gió mưa, vùi dập của bão tố; vậy nên tình anh yêu em mạnh mẽ và sắc bén đủ để qua được bất kỳ trở ngại nào trong cuộc sống. Và nếu dù anh có bị đời nghiền nát như cát bụi thì tro than của anh vẫn sẽ luôn tìm đến để ấp ủ và thương yêu em…..”
Thật là cảm động. Tôi không hy vọng chúng ta có thể tìm thấy những lời lẽ tha thiết và đằm thắm như thế trong bất cứ tự truyện hay lược sử của các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ.

(Ngay cả nụ hôn giữa Al và Tipper Gore trên khán đài trong đêm Đại Hội khi ông Gore được chọn là Ứng Cử Viên Tổng Thống của Đảng Dân chủ năm 2000 cũng chỉ là hình thức hơn là thật sự yêu thương, và đó là những năm mặn nồng nhất trong cuộc tình của họ truớc khi ly dị). Thương yêu khi đến với chính trị, thường là tình anh em, chị em, nhân bản… như Mục Sư Martin Luther King đã nói trong bài diễn văn nhận giải Nobel Hoà Bình : “Tình bằng hữu, nhân bản không điều kiện cho tất cả người đàn ông sẽ là chìa khoá để giải quyết các bất hoà trên trái đất…”
Giờ đây, đọc xong lá thư thiết tha của ông Lưu Hiểu Ba viết cho vợ, tôi nghĩ rằng nếu chấp nhận không nói đến những người chồng tồi tệ thì từ đó chúng ta sẽ hạ thấp dần, và đi xa hơn trong việc xem nhẹ những liên hệ tình cảm trong cuộc sống. Lòng chung thủy và thương yêu với vợ của ông Lưu Hiểu Ba đã làm đậm nét thêm sự cương quyết cam kết tranh đấu cho Trung Hoa tự do của ông, dù đang phải ở tù, chịu đựng trong hoàn cảnh khốn cùng .…

Nhiệt tình của ông Hiểu Ba với vợ và đất nước đều bằng nhau, nhưng tôi e rằng hành vi các chính khách dân cử của chúng ta sẽ khác hẳn vì họ cho rằng lòng thương yêu vợ không dính dáng gì đến khả năng phục vụ đất nước cả.
Sau cùng, ai trong chúng ta cũng muốn bầu lên những người xứng đáng để giúp xã hội, giúp đất nước, và nếu như thế thì ngay cả với những người khó khăn và cực đoan nhất cũng không thể nào mà không đồng ý rằng lòng thương yêu nào cũng phải bắt đầu từ mái ấm gia đình.


Cung Nhật Thành lược dịch
Tháng 5, 2011

Sinh Viên hội đồng bắt em khác phải lột áo trước các bạn

Một xã hội man rợ, lấy sự hành hạ con người làm thú vui (từ các em đang ra tay, đến em quay phim, đến những em đứng xung quanh để coi).

Những tuổi trẻ mà hành xử dã man như vậy, ăn nói tục tĩu như vậy, cha mẹ các em là ai? Lớn lên các em như thế nào? Các vị thầy, giám hiệu trường đang ở đâu?

Đất nước sẽ về đâu khi tuổi trẻ VN tiếp tục được đào tạo trong một môi trường xã hội và học đường kiểu này?
-----------------


Sinh Viên hội đồng bắt em khác phải lột áo trước các bạn

mái trường xhcn – đỉnh cao trí tuệ mà thầy cô giáo viên thuộc tầng lớp đảng cs dạy các em thế này ư – nhân bản của 1 xã hội chủ nghĩa là thế ư ? trên tường bản phấn trong các lớp học, lớp nào cũng có treo hình bác – chắc hẳn bác đã chết mà vẫn còn mê hú tuổi thanh xuân – nhập hồn vào đảng giáo viên cho bác thưởng thức thời ti hú, à! không phải – tư tưởng bác luôn luôn thích ti hú lúc còn sống, nên đảng ta đã làm theo gương bác dạy.

You need to install or upgrade Flash Player to view this content, install or upgrade by clicking here.

Tuổi Trẻ Yêu Nước

Bài Xem Nhiều