We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 27 May 2011

Công An Rừng & Công An Hà Nội




Vào ngày 28 tháng 5 năm 2004, tại viện Goethe, ở Hà Nội, thi sĩ Dương Tường đã ví von (một cách rất thâm trầm và ấn tượng) rằng nhà văn Bùi Ngọc Tấn là “người chưng cất nỗi đau thành hy vọng.” Ối, Yàng ơi, tưởng gì chứ “chưng cất nỗi đau” thì người miền núi chúng tôi không thiết tha hay mặn mà gì cho lắm. Chuyện thơ/văn cũng thế. Và bởi thế, tôi nghe qua rồi bỏ ngoài tai.
Đến đêm qua, sau khi đọc xong Hồi Ký Vi Đức Hồi, tôi mới thấy là mình lâm vào một tình cảnh khó khăn (thật) chứ không phải bỡn.Tôi cũng muốn vinh danh tác giả – một người đồng bào dân tộc thiểu số anh em của mình – hết sức nhưng loay hoay mãi vẫn không nói được thành lời, kể cả những lời lẽ không được “thâm trầm” hay “ấn tượng” gì cho lắm.

Chúng tôi đều không phải nhà văn hay nhà thơ gì xất cả. Lều văn, túp văn, hoặc chòi thơ cũng không luôn. Tôi vốn vụng. Ông Vi Đức Hồi cũng vụng về (không kém) nên khi muốn khen nhau (hoá) hơi bị khó.

Tập hồi ký của ông lỗi chính tả tùm lum. Những qui luật văn phạm căn bản cũng đều được … “bỏ
qua.” Vi Đức Hồi viết tự nhiên như nói, thế thôi.

Ông có cách nói rất giản dị, bình thản, nhẹ nhàng và hoàn toàn không hề lựa lời hay cân nhắc gì ráo trọi. Những lời tâm sự mộc mạc, chân thành, và nhẹ nhàng của ông tựa như một giòng suối nhỏ – êm đềm, len lách âm thầm trong rừng xa núi thẳm – chợt róc rách lên tiếng giữa một khoảng trời xanh bát ngát bao la.

Tôi đọc Vi Đức Hồi mà thấy “đã” như đang uống ừng ực những ngụm nước suối trong veo và tươi mát, giữa một buổi trưa rừng nóng nực. Ông kể:”

“… ngày giỗ đầu của cụ Hoàng Minh Chính,tôi đến thắp nén hương cho cụ,
vừa đến cổng,có một người chạy tới tự xưng là công an Hà Nội nói với tôi.
-Anh Hồi vào nhà ông Chính phải không?
-Vâng,tôi vào nhà cụ Chính thắp nén hương cho cụ.
-Anh vào thắp hương rồi ra nhé, đừng làm gì cho phức tạp ra.
-Anh nói gì tôi không hiểu!
-Không. Ý em nói là anh đừng tụ tập,họp hành,bàn bạc gì ở trong ấy,cứ thắp hương xong rồi về.
Tôi vào làm thủ tục xong rồi xin phép gia đình về luôn.Thực tình tôi cũng muốn về sớm vì là ngày tết mồng 1 tháng giêng.Ra đến cổng,người tự xưng là công an Hà Nội lại chạy ra đón tôi.
-Anh Hồi còn đi đâu nữa không?
-Tôi về luôn thôi,ngày tết bận lắm.
-Vâng.Bọn em rất biết về anh,vì là công việc mà anh Hồi!bọn em không như ở trên kia,anh xuống đây liên tục, anh biết đấy,trừ trường hợp anh quá đáng thì bọn em mới phải làm việc với anh,còn bình thường đi thăm thân,anh cứ thoải mái.Em đọc trên mạng em biết đúng là công an rừng có khác,nghe mà khủng khiếp.Thời đại văn minh mà đi làm những trò mọi rợ thế sao được!Nhưng thôi mỗi nơi một khác anh ạ.”

Thế ra ở Việt Nam có (đến) hai lọai công an: công an rừng và công an Hà Nội. Chả hiểu đám công an “ở trên kia” hành xử “mọi rợ” ra sao mà tai tiếng (dữ) vậy Trời?

Muốn biết thêm chi tiết, xin nhẩn nha nghe (tiếp) chuyện kể của Vi Đức Hồi:

“Quê tôi,một trong những Xã nghèo nhất Nước ta ,là một trong 9 Xã cuả Tỉnh Lạng sơn và là một trong hai Xã duy nhất của Huyện Hữu lũng chưa có bóng dáng điện lưới quốc gia;là Xã vùng sâu,vùng xa,Xã đặc biệt khó khăn theo tiêu chí phân loại của chương trình 135 của chính phủ...
Sinh ra và lớn lên trong điều kiện của một gia đình nghèo,nằm trong một quê hương nghèo như vậy,tôi rất thấu hiểu nỗi khổ của những người Dân quê tôi,biết vậy mà không giúp gì được cho quê mình.Kẻ như tôi ‘ốc chẳng mang nổi mình ốc’nên ‘lực bất tòng tâm’!

“Từ ngày ly khai Đảng, tôi ‘được’ Đảng tung ra một loạt chiến dịch nhằm bao vây,cô lập,tách tôi ra khỏi cộng đồng, để rồi sẽ chẳng có ai gần tôi, nghe tôi nói,chẳng biết lấy ai để chia sẻ, để tâm sự. Đảng cho rằng, tôi đã xúc phạm Đảng!làm sao mà không xúc phạm! vì ở cái thế giới này, duy nhất chỉ có Đảng cộng sản Viêt nam được toàn Dân ‘trìu mến’ gọi ‘Đảng ta’, Đảng tự hào lắm!(Đảng biết đâu được dân gọi Đảng ta để cho khỏi lẫn với Đảng tây) tôi là ‘thằng’ cả gan vạch ra đủ thứ tội của Đảng,nhiều người Dân ngớ ra:té ra Đảng cũng nhiều tội! biết chắc tôi chẳng làm được gì ngoài tiếng nói cảnh tỉnh cho người Dân tôi biết đích thực về ‘Đảng ta’ ,nhưng dù sao đây cũng là việc làm ‘tày trời’ ,bởi làm mất ‘cái uy’ của Đảng,nếu không ra tay trừng trị thì quả là một hiểm hoạ khôn lường.Hôm nay có một ‘thằng’ ,mai có vài ‘thằng’, rồi đến toàn Dân vạch tội Đảng thì không những ‘Đảng ta’ chẳng ra thể thống gì, mà quan trọng hơn là còn đâu uy tín để muôn thủa làm”người Đại biểu của Dân! ,còn bới đâu ra cái ‘danh hiệu’:anh minh,sáng suốt,tài tình, đúng đắn…là lực lượng duy nhất xứng đáng để lãnh đạo Nhà nước và Xã hội!với các chiêu bài của Đảng đưa ra,tôi thật sự đã bị cô lập.Những bạn bè,chiến hữu của tôi trước đây là ‘Đồng chí’ với nhau,cùng công tác với nhau, nay họ xa lánh tôi,họ quay lưng lại với tôi, không phải vì tư cách đạo đức của tôi,mà là vì miếng cơm,manh áo của họ gắn chặt với ‘Đảng’,vì thế họ phải chịu sự dạy bảo,răn đe của Đảng.”

“Thế nhưng những người Dân quê tôi thì hoàn toàn ngược lại,họ không những không lánh xa tôi mà có phần còn gần gũi hơn,cùng chia sẻ với những khó khăn của tôi.Bất chấp những mối đe doạ của Đảng,họ luôn bênh vực tôi vì họ biết rõ về tôi,tôi không bao giờ phản bội Tổ quốc tôi,không bao giờ đi ngược lại lợi ích của Đồng bào tôi,họ đón nhận tôi như những người thân yêu nhất của họ.Tôi thầm cảm ơn họ và tự thấy mình hổ thẹn vì chưa đáp lại được gì cho họ dù chỉ là chút xíu.Thế nên tôi cố tìm cách để tỏ lòng biết ơn,thể hiện tấm lòng của mình đối với những người láng giềng xung quanh tôi,tạo thêm sự gắn bó,sự mật thiết tình làng,nghĩa xóm.Tôi mạnh dạn trao đổi với mấy người bạn của tôi, đề nghị họ giúp và thế là tôi có được ít tiền của bạn bè cho vay, cộng với chút ít của tôi giành dụm.Tôi mua được một chục cặp lợn con, giúp cho 10 hộ nghèo nhất ở làng tôi để họ chăn nuôi, khi nào lợn xuất chuồng bán thì hoàn trả gốc cho tôi,để tôi chuyển cho hộ khác.Nhiều người phấn khởi,nhận lợn và cảm ơn…”

“Hai ngày sau,Thường trực Huyện uỷ triệu tập cuộc họp cán bộ chủ chốt ở xã Tân lập(quê tôi) để nghe cơ sở báo cáo tình hình.Huyện uỷ quán triệt: đây là một trong những âm mưu rất nguy hiểm của các thế lực thù địch chống phá cách mạng nước ta,hơn lúc nào hết,chúng ta phải nêu cao cảnh giác cách mạng,chặn đứng mọi hành động nhằm lôi kéo quần chúng nhân dân,gây mất ổn định an ninh chính trị.Ngay lập tức phải họp toàn dân quán triệt về những thủ đoạn, ‘âm mưu diễn biến hoà bình’ của bọn chúng,kiên quyết từ chối mọi sự giúp đỡ của Vi đức Hồi.Vận động những người đã nhận lợn của Vi đức Hồi đem tả lại ngay cho hắn…”

Những dòng chữ thượng dẫn được viết (xong) tại Lạng Sơn, vào ngày 20 tháng 7 năm 2009. Gần hai năm sau, vào ngày 11 tháng 5 năm 2011, tôi tình cờ đọc được trên trang mạng Bauxite đôi dòng nhật ký (hơi kỳ) của bà Nguyễn Thị Từ Huy:

“Chiều nay tôi gặp một vị cán bộ quản lý của trường nơi tôi làm việc, do trước đó ông có gọi điện và hẹn gặp tôi. Ông rất nhã nhặn và tỏ ra lúng túng khi bắt đầu câu chuyện. Rút cục thì ông cũng nói rằng chuyện liên quan đến việc ký vào bản kiến nghị trả tự do cho Cù Huy Hà Vũ, rằng công an đã gọi điện đến và yêu cầu ông kiểm tra xem tôi có ký hay không…

Mươi ngày sau nữa, hôm 20 tháng 5 năm 2011, cũng trên mạng Bauxite, có bản tin ngăn ngắn: “Một người ký Kiến nghị bị o ép làm đơn tố cáo Bauxite Việt Nam.” Nhân vật ẩn danh này cho biết:

“Cháu tên XXX, ký tên trong bản kiến nghị vụ TS CHHV ở vị trí XXX. Sáng nay bên an ninh gọi cháu lên làm việc về việc đó. Do xác định mình muốn góp một tiếng nói cho lẽ phải nhưng không thể vì thế mà để bên đó gây khó dễ cho tương lai nên cháu buộc phải đổi hướng từ chối việc ký kiến nghị. Bởi vì cháu mới nghỉ công tác đơn vị cũ và qua đơn vị mới được nửa năm nên bất cứ điều gì bất lợi đều ảnh hưởng rất lớn. Sau khi cân nhắc kỹ, cháu buộc phải hành động như vậy, mong các bác thứ lỗi...”

“Sau đó họ yêu cầu làm một cái đơn tố cáo là trang web sai trái và đã đưa tên cháu trái phép, nhưng không đưa tên cơ quan công an vào đơn, chỉ tố cáo khơi khơi như vậy và nơi nhận là các cơ quan chức năng thì cháu không chịu…”

Khi mạn đàm với phóng viên Tranh Trúc (RFA) về bản án 8 năm tù và 3 năm quản chế dành cho Vi Đức Hồi, tại phiên toà xử vào hôm 26 tháng Giêng năm 2011, bà Hoàng Thị Tươi – người bạn đời của ông – có nêu nghi vấn như sau:

“… chồng tôi phải chăng là người miền núi dân tộc cho nên là họ nghĩ rằng không biết gì hay là ở vùng xa xôi, không gần trung tâm thủ đô, thì chèn ép như thế nào đó, cho nên họ làm như vậy thì tôi nghĩ rằng về điều đó tôi mong rằng anh em bạn bè xa gần hãy có tiếng nói giúp đỡ trong việc đó để xem là họ làm như vậy là có đúng không?”

Kính thưa bà Hoàng Thị Tươi, tôi xin phép được thay mặt “anh em bạn bè xa gần” để thưa rằng:


- “Không, không có sự kỳ thị hay phân biệt đối xử nào (ráo) giữa người miền xuôi với miền ngược. Ở đâu thì công an cũng tai ngược, ngang ngược, và bạo ngược (y) như nhau thôi. Công dân Việt Nam (không phân biệt tôn giáo, giới tính, nghề nghiệp, sắc tộc) đều bình đẳng trước bạo lực và khủng bố. Đây là một cơ hội đồng đều (equal opportunity) cho tất cả mọi người dù họ đang sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vùng căn cứ cách mạng, hay hay giữa lòng “thủ đô lương tâm của nhân loại!”

Sự dị biệt (có chăng) là ở Lạng Sơn thì người dân bị “o ép” phải từ bỏ mấy chú heo con vì lo sợ “âm mưu diễn tiến hoà bình,” còn ở Hà Nội thì người dân bị “o ép” chối bỏ chữ ký của mình cũng vì lý do … tương tự!

Chỉ riêng chuyện o ép người dân (phải) làm đơn tố cáo tha nhân thì mới thực là điều hoàn toàn độc đáo, và chắc là sáng tác (riêng) của công an Hà Nội. Từ nay – chắc chắn – đám công an ở Bình Nhưỡng, ở Bắc Kinh, ở Havana, hay ở Rangoon cũng sẽ đều phải gọi công an ở Thủ Đô (nước ta) bằng cụ.

K’ Tien

http://nguyennaman.wordpress.com/2011/05/22/s%E1%BB%95-tay-th%C6%B0%E1%BB%9Dng-dan-t%C6%B0%E1%BB%9Fng-nang-ti%E1%BA%BFn-cong-an-r%E1%BB%ABng-cong-an-ha%CC%80-no%CC%A3i/

Việt Nam Cộng Hoà là một Quốc Gia Nhân Bản và Dân Chủ.( II )

THỬ THIẾT ĐỊNH THỂ CHẾ TƯƠNG LAI CHO VIET NAM:
NHỮNG ĐẶC TÍNH THIẾT YẾU ( II ).

Việt Nam Cộng Hoà là một Quốc Gia Nhân Bản và Dân Chủ.


Việt Nam Cộng Hoà là một Quốc Gia
- Nhân Bản và Dân Chủ,
- Đại Nghị Chế,
- Can Thiệp vào kinh tế và xã hội,
- Tản Quyền,
- Phi Tôn Giáo,
- và Mở rộng ra Cộng Đồng Quốc Tế
; NGUYỄN HỌC TẬP
2 - Dân Chủ.
Định nghĩa Dân Chủ theo nguyên ngữ và ý nghĩa nguyên thủy không có gi khó khăn, chỉ cần có một ít hiểu biết về ngôn ngữ Hy Lạp, bởi lẽ tư tưởng Dân Chủ phát xuất từ Hy Lạp và được thịnh hành trong thời Cộng Hoà Athène ( thế kỷ 2-3 trước Thiên Chúa Giáng Sinh đến 3-4 sau Thiên Chúa Giáng Sinh).
" Demokratía" ( Dân Chủ) là danh từ kép, gồm " Demos: dân chúng" và " Krátos, quyền hành ": quyền hành thuộc về dân chúng hay dân chúng là chủ nhân quyền lực Quốc Gia; nói theo định nghĩa của chúng ta: " quyền tối thượng của Quốc Gia thuộc về dân".
Các " Thị Xã " ( Polis) của Cộng Hoà Athène là những đơn vị nhỏ bé, không quá một vài ngàn người, nên " đường lối tổ chức, phân chia công việc" trong " Thị Xã " của họ ( Politké), để mưu ích cho cuộc sống của mỗi cá nhân và cuộc sống cộng đồng, tương đương với đường lối chính trị Quốc Gia của chúng ta ( Politica, politique, policy ) là cách tổ chức theo phương thức
- dân chủ trực tiếp,
- rút thăm để chọn người lãnh đạo, điều hành, và luân phiên thay thế giới lãnh đạo,
- nhiệm vụ có định kỳ,
- " isonomía" ( isos, như nhau; nómos, luật lệ: luật lệ như nhau cho tất cả mọi người hay " mọi người đều bình đẳng trước pháp luật ", nói theo ngôn từ chúng ta).
- " iségoria" ( isos, như nhau; agorà: công đồng: mọi người đều như nhau, bình đẳng như nhau, có quyền ăn nói như nhau trước cộng đồng đang nhóm họp hay " tự do ngôn luận và truyền bá tư tưởng", nói theo ngôn từ chúng ta).

Những đặc tính cũng như khuyết điểm của phương thức tổ chức Dân Chủ Trực Tiếp, tuyển chọn bằng cách rút thăm, ai cũng biết, so với

- Dân Chủ Đại Diện,
- bằng cách suy tư bỏ phiếu để tuyển chọn người tài đức của các Quốc Gia đông đảo thập bội của chúng ta,
- dân chúng có quyền tối thượng trước khi, đang khi và sau khi trao quyền cho giới đại diện, cần phải có phương thức để cắt tỉa, hảm thắng, định hướng và kiểm soát tính chất hữu hiệu và hiệu năng.
- Dù sao dân chủ luân phiên, có định kỳ và quyền hành được giao phó phải được kiểm soát là những điều kiện không thể thiếu, nếu thể chế muốn được gọi là Dân Chủ, Dân Chủ Trực Tiếp của Hy Lạp hay Dân Chủ Đại Diện của chúng ta cũng vậy.
( cfr. - DÂN CHỦ VÀ KHÔNG DÂN CHỦ,
- DÂN CHỦ TRỰC TIẾP VÀ DÂN CHỦ TRUNG GIAN ĐIỀU GIẢI,
- DÂN CHỦ ĐA NGUYÊN VÀ THIỂU SỐ ĐỐI LẬP).

Đối với nền Dân Chủ hiện đại của chúng ta, định nghĩa Dân Chủ không phải dễ dàng như định nghĩa theo nguyên ngữ và khởi thủy của Hy Lạp.

Bỏi lẽ danh từ Dân Chủ đã bị lạm dụng và ý nghĩa biến thành hổn loạn, thậm chí để biện minh cho chính sách hành xử thâu tóm quyền lực của mình, một vài chế độ độc tài núp bóng dưới mỹ từ Dân Chủ mỵ dân, cũng gán cho cách cai trị của mình là Dân Chủ, như " Dân Chủ Tập Trung" ( Điều 6, Hiến Pháp 1992 CSVN) thay vì Dân Chủ Đa Nguyên và thành phần thiểu số đối lập cũng cần thiết cho Dân Chủ không kém gì phương thức " thiểu số phục tùng đa số" ( cfr. THIỂU SỐ ĐỐI LẬP TRONG HIẾN PHÁP CỘNG HOÀ LIÊN BANG ĐỨC).

Tư tưởng Dân Chủ của Hy Lạp được dân chúng Anh Quốc áp dụng trước tiên, sau đó được áp dụng ở Hoa Kỳ, cựu thuộc địa của Anh Quốc và dần dần được phổ biến sang Âu Châu Lục Địa.

Thoát xuất từ Dân Chủ Trực Tiếp của Hy Lạp, mỗi khi cần phải quyết định những gi liên quan đến đời sống Thị Xã, người dân được triệu tập ra các công trường để biểu quyết bằng cách hô to hoặc giơ tay, hoặt rút thăm để tuyển chọn người lãnh đạo.
Đó là động tác trực tiếp tham dự vào đường lối chính trị lãnh đạo Thị Xã ( politiké).
Cách hành xử vừa kể của ý nghĩa nguyên thủy Dân Chủ Hy Lạp cho thấy, điều quan trọng của Dân Chủ Trực Tiếp ( hay Dân Chủ Đại Điện của chúng ta cũng vậy), nếu muốn được coi là Dân Chủ, " quyền tối thượng của Quốc Gia thuộc về dân", người dân tham dự vào việc hành xử quyền lực để tổ chức, điều hành Quốc Gia.
Nhưng kinh nghiệm cho thấy, trong bất cứ tổ chức xã hội nào, lớn hay nhỏ, ngay cả dưới hình thức Dân Chủ Trực Tiếp của Hy Lạp cũng vậy, chúng ta cũng phải có một nhóm người lãnh đạo, điều hành ( governanti, gouverneur) và đại đa số người khác được lãnh đạo, được hướng dẫn hay điều hành (governati, gouvernés).
Nếu hiểu như vậy, theo ý nghĩa từ ngữ của danh từ Dân Chủ, " quyền tối thượng của Quốc Gia thuộc về dân", sự khác biệt vị thế và quyền hạn của " nhóm lãnh đạo" và " nhóm được lãnh đạo" phải bị xoá bỏ.
Nói cách khác, hiểu theo ý nghĩa từ ngữ của danh từ Dân Chủ, trong Quốc Gia không có " người lãnh đạo" và " kẻ bị trị ".
Đó là tư tưởng " vô chính phủ" ( anarchia), đôi khi chúng ta gặp được đó đây trong các cuộc hàn huyên với bạn bè hay với những người bất mãn, chống lại kẻ hành quyền bất xứng, độc tài, thiên vị.
Đứng trước tình trạng tiêu cực, khi áp dụng vào thực tế như vừa kể, kinh nghiệm các Quốc Gia Dân Chủ phải tìm một ý nghĩa khác thích hợp hơn. Đó là làm thế nào để Quốc Gia Dân Chủ có thể " tự mình quản trị lấy " ( autogoverno) tất cả mọi lãnh vực, không thừa trừ, làm thế nào để có sự đồng thuận giữa giới đương quyền và người bị trị.
Giới đương quyền quản trị là quản trị, do người dân bị trị ủy thác cho phận vu, đáp ứng lại thoả đáng ước vọng, nhu cầu và lý tưởng của dân chúng trong Cộng Đồng Quốc Gia, được phát biểu qua ý kiến cá nhân, các tổ chức xã hội trung gian ( gia đình, học đường, hiệp hội, tôn giáo, chính đảng), cũng như cơ chế dân cử Quốc Gia ( Quốc Hội).
Nói cách khác, nhu cầu, ước vọng và lý tưởng của người dân đối với giới hành xử đương quyền ( Chính Quyền), có thể được phát biểu qua:
- tiến trình soạn thảo, " chuẩn y hay bác bỏ luật pháp " để định hướng đường lối chính trị Quốc Gia ( Điều 72, id:).
- tiến trình chuẩn y hay bác bỏ chính hướng Quốc Gia của Chính Phủ vừa mới được thành lập ( Điều 94, đoạn 1 id.),
- trưng cầu dân ý để nghị hay bải bỏ luật pháp ( Điều 75 và 134, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc),
- các cuộc điều tra của Quốc Hội ( Điều 82, id.), liên quan đến đường lối và hoạt động của Chính Quyền,
- động tác bất tín nhiệm, bắt buộc Chính Quyền đương hành phải từ chức ( Điều 94, đoạn 2, id.) và có thể bị Quốc Hội tố giác trước pháp luật ( Điều 96, id);
- viên chức của các cơ quan công quyền chịu trách nhiệm dân luật và hình luật trực tiếp đối với những động tác và phương cách hành xử bất chính của mình ( Điều 28, id.).

Tất cả những phương thức chính yếu vừa kể,

và còn những phương thức tiền liệu khác như:
* định chế tản quyền cho các Tiểu Bang ( Điều 50; 79, đoạn 3 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức) hay cho Vùng, Tỉnh, Xã Âp ( Điều 5; 75, đoạn 1; 114-126 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc), ( cfr. DÂN CHỦ, VAI TRÒ HIẾN ĐỊNH CỘNG ĐỒNG ĐỊA PHƯƠNG)
* định chế các chính đảng thiểu số đối lập có thực quyền để " cắt tỉa, định hướng, hảm thắng" các cách hành xử quá lố của giới đương quyền ( Điều 93, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức) ( cfr. THIỂU SỐ ĐỐI LẬP, HIẾN PHÁP CỘNG HAÒ LIÊN BANG ĐỨC),
tất cả đều nhằm đáp ứng lại mục đích tối hậu không thể thiếu của Dân Chủ:

" giới đương quyền quản trị hành xử đáp ứng lại nhu cầu, ước vọng và lý tưởng của người dân bị trị ".


Nói cách khác, trong thể chế Dân Chủ có sự đồng nhất giữa Chính Quyền và người dân: người dân " đồng thuận" ( La Ngữ, consensus) cho Chính Quyền hoạt động để đáp ứng lại nhu cầu và ước vọng của họ, chủ nhân của quyền lực Đất Nước, " Dân Chủ ".

Cho đến lúc nào, Chính Quyền còn được sự đồng thuận đó ( consensus), Chính Quyền đó là Chính Quyền Dân Chủ.
Không đồng thuận nữa, người dân có những phương thức vừa kể để " cắt tỉa, định hướng, hãm thắng", và sau cùng Chính Quyền có thể bị truất phế.
Đó là những đặc tính phải có của một nền Dân Chủ đích thực, " quyền tối thượng của Quốc Gia thuộc về dân", người dân tham dự và kiểm soát những người quản trị hành xử quyền lực Quốc Gia, để tránh độc tài, thiên vị và không hiệu năng.
Giữa người dân bị trị và Chính Quyền điều hành, luôn luôn có sự nối kết trên tinh thần đồng thuận ( Temistocles Martines, Diritto Costituzionale, Giuffré, Milano 1998, 245-246)

Đặc tính đó sẽ mất đi, nếu chúng ta đem so sánh Quốc Gia Dân Chủ và Quốc Gia độc tài, phe nhóm, đảng trị.

Quốc Gia độc tài, phe nhóm, đảng trị là Quốc Gia cho mình là siêu đẳng, " đỉnh cao trí tuệ ", chỉ có nhóm người lãnh đạo là nhóm những người thực sự độc quyền giải thích và thực hiện nhu cầu, lợi thú, ước vọng và lý tưởng của dân chúng.
Và do đó, không chấp nhận bất cứ chính kiến nào khác được coi là có khả năng đi đúng đường lối Quốc Gia, nếu không phải là chính kiến đồng thuận " nhất trí " với đường lối lãnh đạo của " Đảng và Nhà Nước".
Và rồi từ thái độ cho mình là " đỉnh cao trí tuệ", là " đội ngủ tiền phong của giới nhân công, nông dân và của cả dân tộc..." đó, nhóm người cai trị cho rằng các thể thức bầu cử là vô ích, hay có cùng lắm chỉ là hình thức mỵ dân, xoa dịu dân bằng " Đảng cử dân bầu", giới đương quyền là giới được xếp đặt " từ trên ban xuống ", và mọi quyền công dân không có mục đích " nhất trí", với nhóm điều hành đều bị bải bỏ, trong đó có các quyền
- tự do hội họp,
- tự do lập hội và gia nhập hội,
- tự do ngôn luận...
Bởi lẽ các quyền đó, như chúng ta thấy ở trên, sẽ đưa đến việc đối lập, chỉ trích " cắt tiả, định hướng, hảm thắng" cách hành xử của nhóm độc tài ( Temistocles Martines, op. cit., 246).

Trái lại, thể chế Dân Chủ tiền liệu một chuổi các cơ chế được cấu trúc để làm cho người dân tham dự vào đường lối chính trị và hoạt động của Chính Quyền:

- hoặc gián tiếp bằng cách tiền liệu cho người dân đề cử người của mình vào giới lãnh đạo, bằng các cuộc bâu cử trực tiếp đơn danh hay theo đa số tỷ lệ qua các chinh đảng ( cfr. LUẬT BẦU CỬ CỘNG HOÀ LIÊN BANG ĐỨC),
- hoặc trực tiếp bằng cách thiết định cho người dân một số quyền liên quan đến các quyết định hay nhằm thúc đẩy Chính Quyền phải thi hành, qua các cuộc trưng cầu dân ý thu hồi ( referendum abbrogativo)
- hoặc với một số cử tri được xác định, người dân có quyền đưa ra những sáng kiến về các dự án luật mà mình thấy cần thiết ( Điều 71, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc; điều 76, đoạn 2, Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức),
- hoặc với phương thức tản quyền, để cá nhân, các nhóm xã hội trung gian, các cộng đồng địa phương đều có thể góp ý để thiết định đường lối chính trị Quốc Gia ( Điều 49; 75 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc; điều 21; 50; 79 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức).
Tất cả những hình thức vừa kể được nêu rõ trong Hiến Pháp:

- " Quyền tối thượng của Quốc Gia thuộc về dân, dân chúng hành xử quyền tối thượng của mình theo hình thức và trong giới mức được Hiến Pháp xác định" ( Điều 1, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).

- " Tất cả quyền lực Quốc Gia phát xuất từ dân chúng. Quyền lực đó được dân chúng hành xử qua các cuộc đầu phiếu, trưng cầu dân ý và qua các cơ quan chuyên biệt lập pháp, hành pháp và tư pháp" ( Điều 20, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức).

Và rồi tiếp tục ở những điều khoản kế tiếp, cả hai Hiến Pháp đều tiếp tục liệt kê và xác định các " hình thức và giới mức hiến định", để người dân hành xử " quyền tối thượng" của mình trong cuộc sống cộng đồng Quốc Gia.

Thể chế Dân Chủ tổ chức quyền lực Quốc Gia như vừa kể, " theo hình thức và trong giới mức hiến định", bảo đảm được mối liên hệ giữa giới hành quyền và kẻ bị trị không bị gián đoạn, bảo đảm cho các động tác của giới đương quyền có khuynh hướng đáp ứng lại nhu cầu, lợi thú và ước vọng, lý tưởng của người dân ( Mortati Costantino, Istituzioni di Diritto Pubblico, Cedam, Padova 1975, 312-316).
Đi vào chi tiếc hơn, các phương thức bảo đảm cho động tác của Chính Quyền đáp ứng lại nhu cầu của người dân, như trên đã nói, trong nền Dân Chủ Tây Âu hiện đại, được Hiến Pháp xác định, chúng ta có:
- Dân chủ đại diện,
- Dân chủ trực tiếp,
- Dân chủ tản quyền,
- Nguyên tắc bình đẳng,
- Dân chủ đa nguyên.

a) Dân Chủ Đại Điện.

Các Quốc Gia hiện đại của chúng ta là những Quốc Gia đông thập bội, hàng chục lần có khi hàng trăm lần dân chúng, so với các Thị Xã ( Polis) của thời Cộng Hoà Athène Hy Lạp.
Bởi đó, trừ ra một vài trường hợp bất thường, hình thức Dân Chủ Trực Tiếp ( trưng cầu dân ý), như ở các Thị Xã lúc đó là những gì không ai có thể hình dung ra được: mỗi khi có chuyện cần, dân chúng được triệu tập ra công trường thành phố để được hỏi ý kiến bằng cách giơ tay hay hô to để phát biểu " đồng thuận hay bác bỏ" .
Phương thức áp dụng Dân Chủ của các Quốc Gia hiện đại của chúng ta là phương thức được Hiến Pháp 1949 mô tả ở trên:

- " Tất cả quyền lực Quốc Gia phát xuất từ dân chúng. Quyền lực đó được dân chúng hành xử qua các cuộc đầu phiếu, trưng cầu dân ý và qua các cơ quan chuyên biệt lập pháp, hành pháp và tư pháp" ( Điều 20, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức).


Để áp dụng Dân Chủ Đại Điện, thể chế hiến định của chúng ta xác nhận quyền bầu cử mọi công dân đến tuổi trưởng thành, để chọn người vào điều hành ở các " cơ quan chuyên biệt lập pháp, hành pháp và tư pháp":


-" Hạ Viện được tuyển chọn qua cuộc đầu phiếu phổ thông và trực tiếp" ( Điều 56, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).

- " Các dân biểu Hạ Viện ( Bundestag) được tuyển chọn qua các cuộc đầu phiếu phổ thông, trực tiếp, tự do, bình đẳng và kín" ( Điều 38, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức).

Ở Ý Quốc, Hiến Pháp hạn định tuổi của các ứng cử viên Thượng Viện phải ở mức trưởng thành đến 25 tuổi:

- " Các thượng nghị sĩ được tuyển chọn qua cuộc phổ thông đầu phiếu và trực tiếp. Các ứng viên phải ở trên 25 tuổi" ( Điều 58, đoạn 1, Hiến Pháp 1947 ý Quốc).
Để bảo đảm cho hoạt động của Chính Quyền khỏi bị rối loạn và gián đoạn, Hiến Pháp tiền liệu cho Tổng Thống Cộng Hoà có quyền giải tán Quốc Hội trước định kỳ, nếu Quốc Hội không bảo đảm được cho hoạt động của Chính Quyền đều hòa và liên tục:
- " Tổng Thống Cộng Hoà, sau khi hỏi ý kiến Lưỡng Viện Quốc Hội, có thể giải tán Quốc Hội hay một trong hai Viện" ( Điều 83, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).
Đối với vai trò quản trị và điều hành của Chính Quyền, Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức cẩn thận hơn và đặt điều kiện Hạ Viện chỉ có thể bất tín nhiệm Chính Quyền đương nhiệm, nếu có khả năng tuyển chọn được một Thủ Tướng ( Kanzler) khác với đa số phiếu tuyệt đối của mình. Đó là hình thức " lá phiếu bất tín nhiệm xây dựng" ( konstruktive Misstrauensvotum):
- " Hạ Viện có thể bày tỏ sự bất tín nhiệm của mình đối với Thủ Tướng ( đương nhiệm), chỉ khi nào tuyển chọn đượcmột người khác thay thế với đa số phiếu các thành viên của mình..." ( Điều 67, Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức).
( cfr. CHÍNH QUYỀN CỘNG HOÀ LIÊN BANG ĐỨC, CƠ CHẾ PHÒNG NGỪA CHỐNG ĐỘC TÀI VÀ BẤT ỔN).
Và rồi đặc tính được dân chúng tuyển chọn qua các cuộc đầu phiếu cũng được trải rộng ra cho các cơ chế địa phương Tiểu Bang hay Vùng, Tỉnh, Xã Âp, như chúng ta đã đề cập ở trên.

b) Dân Chủ Trực Tiếp.

Trong một vài trường hợp đặc biệt, cuộc sống Quốc Gia của chúng ta vẫn còn xử dụng phương thức Dân Chủ Trực Tiếp của thời Cộng Hoà Athène.
Đó là các trường hợp xử dụng Trưng Cầu Dân Ý để
- bải bỏ luật pháp hay những nghị định có hiệu lực pháp định:
* " Trưng cầu dân ý được tổ chức để bải bỏ toàn phần hay một phần một đạo luật hay một nghị định có giá trị luật, nếu có 50.000 cử tri hay 5 Hội Đồng Vùng yêu cầu" ( Điều 75, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).

- tu chính Hiến Pháp hay các luật hiến pháp:

* " Chính các đạo luật đó ( để tu chính Hiến Pháp) phải được thông qua bằng cuộc trưng cầu dân ý, khi trong thời gian kể từ ngày đạo luật được công bố, có 1/5 thành viên của một Viện Quốc Hội, 50.000 cử tri hay 5 Hội Đồng Vùng yêu cầu. Đạo luật được đặt dưới quyền thiết định của trưng cầu dân ý sẽ không được công bố, nếu không được chấp thuận với đa số" ( Điều 138, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).

- thiết kế, sáp nhập hay sửa đổi diện tích đất đai của Vùng, Tỉnh, Xã Ấp:

* " Với một đạo luật Hiến Pháp, sau khi Hội Đồng Vùng được hỏi ý kiến, có thể sáp nhập các Vùng hiện hành hay tạo ra các Vùng mới, có ít nhứt một triệu dân, khi có nhiều Xã Ấp đại diện cho ít nhứt 1/3 dân chúng liên hệ yêu cầu và dư án luật phải được cuộc trưng cầu dân ý dân chúng sở tai liên hệ chuẩn y" ( Điều 132, đoạn 1 id.).
Cùng với một đạo luật tương tợ, Hiến Pháp xác định cho thiết lập một Tỉnh mới trong Vùng, được luật pháp Quốc Gia thiết định, nếu có Xã Ấp đưa ra sáng kiến và trưng cầu dân chúng sở tại liên hệ đồng thuận ( Điều 133, đoạn 1, id.).

- dân chúng đề ra dự án luật và các lời yêu cầu, nhờ đó dân chúng có thể đệ trình Quốc Hội các dự án và nguyện vọng nói lên nhu cầu cho lợi ích công cộng của cuộc sống:

* " Dân chúng hành xử quyền sáng kiến đưa ra dự án luật, nếu có ít nhứt 50.000 cử tri yêu cầu về một đề án, được viết ra thành điều khoản" ( Điều 71, đoạn 2 , id.).
* " Mọi công dân đều có quyền đệ trình thỉnh nguyện thư đến Quốc Hội, để yêu cầu thành lập những đạo luật hay nói lên những nhu cầu chung" ( Điều 50, id.).

Hiểu như vậy, dù với Dân Chủ Đại Diện hay Dân Chủ Trực Tiếp, Hiến Pháp của một Quốc Gia Dân Chủ thực sự có bổn phận tiền liệu các thể thức để dân chúng bị trị và giới lãnh đạo đương quyền luôn luôn có khuynh hướng đồng thuận nhau ( consensus) trong việc định hướng đường lối chính trị và các động tác đáp ứng lại nhu cầu, ước vọng, lợi thú và lý tưởng của người dân, chủ nhân của Đất Nưóc.

Mục đích của Quốc Gia được thiết lập là để phục vụ con người và lợi ích cho cuộc sống Cộng Đồng Quốc Gia là vậy.

c) Dân Chủ Đa Nguyên.

Dân Chủ Đa Nguyên, đồng thời cũng là một phương thức tản quyền, được thực hiện bằng cách dành cho
- người dân có quyền gia nhập chính đảng, để góp phần định hướng chính hướng Quốc Gia:
* " Mọi công dân có quyền tự do gia nhập chính đảng, để cùng nhau hợp tác theo phương thức dân chủ, thiết định đường lối chính trị Quốc Gia" ( Điều 49 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).

- người dân có quyền gia nhập công đoàn để bảo vệ quyền lợi của từng lớp liên hệ, chủ nhân cũng như công nhân, với khế ước lao động toàn quốc có giá trị chung cho lãnh vực nghề nghiệp liên hệ:

* " Các công đoàn được ghi danh có tư cách pháp nhân, được đại diện tùy theo số lượng tỷ lệ thành viên liên hệ, có thể ký kết khế ước lao động chung với hiệu lực bắt buộc có giá trị cho tất cả các thành viên thuộc lãnh vực liên hệ, được khế ước đề cập đến" ( Điều 39, đoạn 3, id.).

- người dân có quyền đình công, một phương thức để điều chỉnh hoá tình trạng bất công về kinh tế, mà công nhân cũng như chủ nhân gặp phải trong lãnh vực lao động:

* " Quyền đình công được hành xử trong giới mức do luật pháp thiết định" ( Điều 40, id.).

- các nhóm áp lực thuộc nhiều lãnh vực, kinh tế, chính trị, chức nghiệp, văn hoá, tôn giáo..., mà hoạt động không được luật pháp minh nhiên đề cập đến, nhưng không phải vì đó mà có thể coi là có ảnh hưởng không tốt đẹp hoặc hoàn toàn tiêu cực đối với cuộc sống cộng đồng Quốc Gia.

Bởi lẽ các nhóm áp lực vừa kể, trong cuộc sống cộng đồng Quốc Gia, là những tổ chức phát triển kiến thức, văn hoá, luân lý góp phần bảo vệ và phát huy giá trị con người và xã hội mà tổ chức Quốc Gia cần có được để chu toàn bổn phận phục vụ con người của mình ( Temistoles Martines, op. cit., 155).

- các tổ chức xã hội trung gian, trung gian giữa con người và cơ chế Quốc Gia, môi trường sống thích hợp với bản tính hợp đoàn, xã hội của con người, như người La Tinh thường nói: " Homo animal sociale est " ( Con người là chủ thể sống động có khuynh hướng xã hội).

Và đó là lý do tại sao Hiến Pháp 1947 Ý Quốc đứng ra bảo đảm, không những phẩm giá và các quyền con người, như mỗi chủ thể riêng rẻ, mà còn cả con người với tư cách là thành phần các tổ chức xã hội trung gian:

* " Nền Cộng Hoà nhận biết và bảo đảm các quyền bất khả xâm phạm của con người, con người như các nhân hay con người như thành phần xã hội, nơi mỗi cá nhân phát triển con người của mình và đòi buộc các bổn phận liên đới không thể thiếu trong lãnh vực chính trị, kinh tế và xã hội" ( Điều 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).


Các tổ chức xã hội trung gian đó là gia đình, học đường, hiệp hội văn hoá, chính trị, kinh tế, xã hội, tôn giáo " trong đó con người có điều kiện thuận tiện và được trợ giúp phát triển nhân cách của mình và góp phần vào cuộc sống dân chủ " ( Panunzio, Riforma delle istituzioni e partecipazione popolare, in Quaderno Costituzionali, 1992, 551).


- các phong trào bộc phát, như phong trào học sinh, sinh viên, phong trào bảo vệ môi trường, phong trào tẩy chai thuốc phiện..., là những tổ chức xã hội trung gian, bộc phát nói lên trạng thái không thoả mãn về phương diện học vấn, văn hóa, xã hội mà đường lối và phương thức tổ chức, quản trị của những ai có nhiệm vụ đối với Quốc Gia không đáp ứng lại nhu cầu và ước vọng của họ ( Temistocles Martines, op. cit., 248-249).


- các tổ chức thiện nguyện, cùng trợ lực với các cơ cấu Quốc Gia trợ giúp người nghèo khổ, tàn tật, đơn côi, thiếu phương tiện, được Viện Bảo Hiến xác nhận giá trị cao cả của các động tác nhân bản mà các tổ chức thực hiện cho đồng bào và người đồng loại của mình. Đó là:

* " những giá trị xã hội và vai trò các hoạt động của người thiện nguyện ( volontariato), như là cử chỉ thể hiện việc tham gia, liên đới và đa nguyên trong cộng đồng xã hội" ( Corte Cost., sent. 243 del 1987; Legge 11.08.1991, n. 266).

Đươn kết các động tác cá nhân hay xã hội trung gian vào các hoạt động của cơ chế tổ chức Quốc Gia, để " Thăng Tiến con người và Thăng Tiến xã hội ", đã được chính Hiến Pháp tiền liệu mà chúng ta đã có dịp trích dẫn ở trên:

* " Nền Cộng Hoà nhận biết và bảo vệ cho con người, con người như cá nhân hay con người như thành phần xã hội..." ( Điều 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).
Với thể thức tuyên bố vừa kể, tổ chức Quốc Gia Ý, và chúng tôi cũng ước gì đó là tâm thức của Việt Nam Cộng Hoà trong tương lai, có ý xác nhận rằng:
* " Trong tổ chức Quốc Gia, không phải con người để phục vụ Quốc Gia, mà là Quốc Gia được tổ chức để phục vụ con người, với ý nghĩa mục đích của Quốc Gia là để bảo đảm cho con người được phát triển toàn vẹn nhân cách của mình và bảo vệ các quyền của con người" ( Mortati Costantino, Costituzione ( Dottrina Generale), Giuffré, Milano 1956, 140).

Nói tóm lại, với phương thức Dân Chủ Đa Nguyên, quyền lực Quốc Gia được chuyển giao cho nhiều chủ thể hành xử khác nhau, cũng không có mục đích gì khác hơn là để tránh độc tài lạm quyền và phục vụ con người, mục đích tối thượng của tổ chức Quốc Gia và vì là chủ nhân quyền lực Quốc Gia.


d) Nguyên tắc bình đẳng.

Và rồi đặc tính dân chủ của một Quốc Gia Dân Chủ thực sự, không chỉ hệ tại ở việc Hiến Pháp tuyên bố Dân Chủ trên lý thuyết, mà còn tiền liệu các phương thức thiết thực, để thực hiện và thực hiện có hiệu quả những gì mình tuyên bố.
Ước gì Hiến Pháp của Việt Nam trong tương lai cũng tiền liệu những phương thức, để biến Dân Chủ thuyết lý thành Dân Chủ thực hữu
Và đó là những gì Hiến Pháp 1947 Ý Quốc đã tiền liệu:
* " Mọi công dân đều có địa vị xã hội ngang nhau và bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt phái giống, chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến và địa vị cá nhân hay xã hội" ( Điều 3, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).
- " Không ai có thể bị thiệt thòi hay được ưu đải vì lý do phái tính, sinh trưởng,chủng tộc, ngôn ngữ, quốc tịch hay xuất xứ, niềm tin, ý kiến tôn giáo hay chính kiến" ( Điều 3, đoạn 3 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức).

Và đây là phương thức Hiến Pháp tiền liệu, bằng cách quy trách cho chính tổ chức Quốc Gia có nhiệm vụ tạo các điều kiện thích hợp để người dân được hưởng quyền bình đẳng thực hữu:

* " Bổn phận của Nền Cộng Hoà là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội, là những chướng ngại, trong khi giới hạn thật sự tự do và bình đẳng của người dân, không cho phép mỗi cá nhân triển nở hoàn hảo con người của mình và cộng tác một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của Xứ Sở" ( Điều 3, đoạn 2, id.).

Nói tóm lại, ngoài ra các đặc tính Dân Chủ trực tiếp, Dân Chủ luận phiên, Dân Chủ tham dự của nền Dân Chủ nguyên thủy Hy Lạp, nền Dân Chủ hiện đại của chúng ta cần phải có những đặc tính:

- Dân Chủ đại diện,
- Dân Chủ đa nguyên,
- Dân Chủ bình đẳng,
- Dân Chủ đa số, với thành phần thiểu số được tôn trọng và có thực quyền đối lập.
- Dân Chủ với quyền hành phải được kiểm soát trước, đang khi và sau khi được người dân ủy quyền.
( cfr. - ĐA ĐẢNG VÀ CHÍNH ĐẢNG ĐỐI LẬP TRONG HIẾN PHÁP DÂN CHỦ;
- CHÍNH ĐẢNG TRONG HIẾN PHÁP HIỆN ĐẠI;
- QUỐC HỘI KIỂM SOÁT ĐƯỜNG LỐI LÃNH ĐẠO QUỐC GIA ).

Phải chăng vùng Nội Mông của Trung Quốc sắp rơi vào bạo loạn ?


Vùng Nội Mông Trung Quốc có gần 6 triệu dân gốc Mông Cổ, đông gấp đôi nước Mông Cổ láng giềng (DR)
Vùng Nội Mông Trung Quốc có gần 6 triệu dân gốc Mông Cổ, đông gấp đôi nước Mông Cổ láng giềng (DR)
Tú Anh

Phải chăng vùng Nội Mông của Trung Quốc sắp rơi vào bạo loạn ? Một tổ chức nhân quyền thông báo những cuộc biểu tình với quy mô chưa từng thấy diễn ra ngay trong tuần này, sau khi đã có nhiều lời kêu gọi người Mông Cổ xuống đường biểu tình nhằm bảo vệ đất đai và quyền lợi của họ.

Theo tổ chức phi chính phủ mang tên Trung tâm Nhân quyền Nam Mông Cổ, có cơ sở tại Hoa Kỳ thì trên các mạng liên lạc xã hội đã có thêm nhiều thông điệp kêu gọi người dân Nội Mông xuống đường biểu tình. Phong trào xuống đường đã bắt đầu từ thứ hai tuần này với cuộc tuần hành của nhiều trăm người phản đối vụ việc một người Hán lái xe tải cán chết một người Mông Cổ chăn cừu.

Theo AFP, tai nạn xảy ra tại huyện Tích Lâm Quách Lặc Minh (XilinGol) vào ngày 10/05/2011 khi nhiều trăm người Mông Cổ làm nghề chăn nuôi ngăn chận một đoàn xe tải chở than đá. Hoạt động khai thác than đá của người Hán gây ô nhiễm môi trường tác hại cho ngành chăn nuôi của người Mông Cổ.

Một người chăn cừu tên Mergen bị xe tải cán chết. Chính quyền thông báo bắt giam 4 người có liên quan đến cái chết của nạn nhân và phá hoại đồng cỏ của giới chăn nuôi. Tuy nhiên, động thái này không xoa dịu được người dân địa phương gốc Mông Cổ, nhiều trăm người đã biểu tình phản đối hôm thứ hai.

Hôm qua 26/05/2011, tại Xilin Gol diễn ra hai cuộc xuống đường. Nhiều cuộc biểu tình khác đang được chuẩn bị với lời kêu gọi bảo vệ "đất đai và quyền sống". Một cư dân địa phương tiết lộ với AFP là họ có một chương trình hành động bí mật.

Tại vùng Nội Mông Trung Quốc, hiện có khoảng 6 triệu dân gốc Mông Cổ, tức đông gấp đôi dân số tại nước Mông Cổ láng giềng. Nhiều người dân than phiền họ bị chính quyền Trung Quốc trấn áp chính trị và văn hóa.

Một nhà tranh đấu năng nỗ tên Hada đã bị kết án tù 15 năm. Nhưng từ ngày mãn án vào ngày 10/12/2010, ông bị mất tích. Vợ và con của ông cũng biệt tăm. Người dân địa phương nghi là chính quyền giam giữ toàn gia đình ông Hada ở một nơi bí mật.

Theo AFP, chính quyền Trung Quốc chắc chắn sẽ phản ứng mạnh để đối phó với phong trào biểu tình. Từ khi xảy ra các cuộc nổi dậy tại Trung Đông, Bắc Kinh lo sợ làn sóng tranh đấu lan đến Trung Quốc. Các biện pháp an ninh đã được siết chặt tại các vùng lãnh thổ láng giềng bị Trung Quốc sát nhập như Tây Tạng, Tân Cương.

Lãnh đạo và Đạo đức

Lãnh đạo và Đạo đức:

Từ Gene Sharp và cách mạng bất bạo động

đến DSK hay Dê S(X)ồm ăn trái Khổ qua…


Dê xồm ăn trái khổ qua

Ăn dằm sâu rọm, chết cha dê xồm …
(ca dao miền Nam)


I/ Gene Sharp và cách mạng bất bạo động


Hôm qua, ngày 22 tháng Năm, Đảng Cộng sản Việt Nam buộc người dân trong nước đi bầu Quốc Hội. Một Quốc Hội bù nhìn, trong một không khí nghẹt thở, lạm phát phi mã, giá tăng chóng mặt, cấm đổi tiền ngoại quốc tự do, cấm mua vàng tự do, buộc dân chúng sử dùng tiền khỉ (monnaie de singe), với những đồng tiền giấy, lòe loẹt đủ màu, được in ra như in giấy quảng cáo vậy ! Có khác chi cái thời xa xưa, cái thời “tiền Cụ Hồ” của thủa chiến khu Việt Minh vậy ! Lần nầy cũng như mọi lần trước, người việt hải ngoại chúng ta và các phong trào đấu tranh dân chủ trong nước đều lên tiếng kêu gọi tầy chay cuộc bầu cử. Thế nhưng, cũng như mọi nhà cầm quyền độc tài khác trên thế giới, Đảng Cộng sản Việt Nam đương quyền vẫn mắt nhắm, bịt tai tiếp tục độc diễn vỡ kịch cầm quyền xưa cũ, là, một mặt đàn áp thẳng tay quần chúng và mọi tiếng nói hay mọi tư tưởng đối nghịch và, một mặt mua chuộc những tay thuộc hạ bằng chia sẻ lợi lộc và quyền lực.


1/Tình hình cách mạng ở Bắc phi và Trung đông

Người dân Việt Nam, cũng như các người dân Trung Quốc hay Miến Điện, Tunisie, Ai Cập, Syrie, Yémen hay Lybie… từ trước đến nay đều chỉ biết, hoặc im miệng cúi đầu vâng lệnh, hoặc,… như dân chúng Tunisie, Ai cập, Lybie, Syrie hay Yémen nổi dậy biểu tình đòi có tiếng nói dân chủ, đòi lại quyền tự quyết, quyền tụ cai quản, quản trị điều hành vận mệnh của đất nước mình.

Nhưng ngày nay, nếu dân chúng Lybie đã nổi dậy, đất nước Lybie vẫn đang bị khó khăn bởi tên độc tài Khadafi vẫn bám vào ngai vàng, và Lybie đang lâm vào một cuộc nội chiến. Và, mặc dù lực lượng của quân kháng chiến tuy không tương xứng với lực lượng của tên độc tài Khadafi (Gaddafi), nhưng vì nhờ quyết tâm, sau một thời gian cầm cự, đã chứng minh với dư luận thế giới tánh chánh thống của cuộc cách mạng và lòng quả cảm và quyết tâm của toàn dân quân kháng chiến nên nay đã được thế giới, NATO và Pháp giúp đở. Trái lại, với tình hình ở Syrie và Yémen. Ở Syrie, tên Tổng thống độc tài Bachar El Assad vẫn còn cho công an, cảnh sát và quân đội tiếp tục dùng súng bắn đạn thật đàn áp dân biểu tình. Mặc dù bị đàn áp dữ dội, trong máu lữa, hằng ngày tại thủ đô Damas, và các thành phố lớn, vẫn còn có người dám xuống đường tham dự biểu tình, và, các người biểu tình đang vẫn bị đàn áp trong máu lữa, mỗi ngày đều đều, vẫn có những người chết, vẫn có những người bị thương, vẫn có người bị bắt mang đi mất tích. Và như vậy, từ hai tháng nay phong trào biểu tình đòi dân chủ, đòi tự do vẫn tiếp tục càng ngày càng dâng cao, mặc cho có người chết, mặc cho có người bị thương, mặc cho dân chúng biểu tình bị thiệt hại, mặc cho họ tay không, hay chỉ với đá và gậy gộc, họ dám chống lại lựu đạn, khói cay và súng thiệt, đạn thiệt, có khi cả xe tăng và súng máy. Con số người chết vì bị đàn áp khi biểu tình, tính đến ngày hôm qua đã đến con số rất cao là 900 người. Nhờ quyết tâm và lòng hy sanh nầy, ngày nay, sau hai tháng biểu tình, chấp nhận thương đau với trên 900 người thiệt mạng và cả ngàn người bị thương, dư luận quốc tế, Liên hiệp Quốc, Liên hiệp Âu châu, Mỹ động lòng lên tiếng buộc tội Bachar El Assad, ra biện pháp chế tài, phong tỏa các trương mục ngân hàng của cá nhơn tên độc tài Bachar El Assad cùng gia đình liên hệ và các quan chức của chế độ ở các ngân hàng ngoài Syrie, đồng thời cũng cấm tất cả các thành viên Liên Âu và Liên hiệp Quốc không cấp chiếu khán nhập cảnh nhận cho gia đình Bachar El Assad tá túc. Biện pháp chế tài nầy cũng đã được áp dụng với Khadafi, với Hosni Moubarak và Ben Ali, các tên Tổng thống độc tài Lybie, Ai Cập và Tunisie đã hoặc đang bị lật đỗ.

Ở Yémen, cũng thế, sau hai tháng biểu tình, xuống đường, bị đàn áp trong máu, dân chúng Yémen được Tông thống độc tài Saleh hứa sẽ từ chức, trao quyền lại cho dân chúng sau 30 năm cầm quyền. Nhưng tên độc tài ngoài cái tội độc tài, nay lại thêm tội nói dối, và lường gạt nhơn dân Yémen, vì qua bao nhiêu lần hứa, bấy nhiêu lần lơ là và quyết tâm… và bám trụ ngai vàng mặc dù ngày nay không còn cái gì để bám nữa.

2/ và Việt Nam ? và Trung Quốc ?

Bài học chung cho dân chúng Việt Nam và Trung Quốc là con đường đấu tranh chống các chế độ độc tài rất khó khăn. Với một nhóm nhỏ gia đình trị, như Tunisie hay Ai cập, nó đã gay go, và nhiều hy sanh rồi, nhưng còn tương đối dễ dàng hơn so sánh đối với những tập đoàn Đảng như ở Syrie với Đảng Baas, hay các Đảng Cộng sản ở Việt Nam hay ở Trung Quốc, vì nó có nhiều giây mơ rễ má, vì nó là một tổ chức với nhiều chế độ kỳ thị đấu tranh lẫn nhau: kỳ thị theo thành phần một loại “apartheid” : kỳ thị chia rẽ người trong gia đình Đảng và người ngoài gia đình Đảng; kỳ thị giữa Đảng viên và không Đảng viên; kỳ thị giữa các địa phương, Nam, Trung Bắc; kỳ thị phân chia dân thành thị với dân nông thôn; kỳ thị chia rẽ từng nhóm tư tưởng, kỳ thị chia rẽ dân chúng thành từng thành phần, từng giai cấp, từng tôn giáo khác nhau, nhận định và đánh giá con người qua bằng cấp, học hành, gia thế, lý lịch, gia phả, dòng họ … vì thế nên sự đấu tranh dân chủ rất khó khăn, vì những quyền lợi đấu tranh và những đòi hỏi đều khác nhau. Ở Việt Nam và ở Trung Quốc khó có một sự đồng nhứt quyền lợi để có một cuộc đấu tranh dân chủ, dân quê mất đất mất nhà là dân oan khiếu kiện cho đất đai, các giáo hữu các tôn giáo thì đấu tranh cho tự do được thờ cúng, Thiên Chúa Giáo La mã chổ nầy được thợ phượng rước lễ, nhưng chổ khác thì tu viện bị sung công, tịch thu, Tin lành thì nhà Nguyện ở thành phố lớn được làm lễ, nhưng ở trên Cao nguyên Trung phần hay ở miền Bắc như Mường nhé thì bị đàn áp, nhà Nguyện bị phá sập, tín hữu bắt buộc phải bỏ Đạo Chúa về lại Đạo tổ tiên; công nhơn, thợ thuyền thì biểu tình đình công bãi khóa chỉ để được tăng lương… các nhà dân chủ trí thức thì đòi có tiếng nói dân chủ tự do. Tuy phong trào đấu tranh ở Việt Nam và Trung Quộc nay vẫn còn rời rạt, nhưng cơn gió cách mạng Bắc Phi và Trung đông đang thổi mạnh về hướng đông, và đặc biệt ngày nay sau khi thấy kết quả của những hy sanh của nhơn dân Lybie, Syrie và Yémen là phản ứng rất có hiệu quả của dư luận thế giới. Chắc chắn tất cả các nhà cầm quyền độc tài trên thế giới phải sợ, và họ đang sợ. Phải họ đang rất SỢ , họ rất sợ các đòi hỏi về tự do tư tưởng, tự do ngôn, tóm lại các nguyên tắc tất yếu của chế độ dân chủ là tự do ngôn luận, tư do tư tưởng là đa nguyên. Và khi có đa nguyên là phải có đa đảng để cùng chia sẻ sự quản trị điều hành đất nước, nghĩa là chia sẻ quyền quản trị với họ, với Đảng Cộng sản độc tài. Và đã là độc tài là không chia sẻ với ai cả. Chỉ có sống còn thôi. Nếu ngày mai, Đảng Cộng sản phải chia quyền quản trị và tự quyết với nhơn dân , Đảng Cộng sản sẽ bị hủy diệt, vì Dân chủ, Lương thiện, Công bằng, Công lý, Trong sáng và Đạo đức sẽ phá vỡ và hủy diệt lý thuyết Cộng sản độc tài.

3/ Gene Sharp

Dân chúng Việt Nam và các nhà dân chủ Việt Nam ( và Trung Quốc) cũng nên tham khảo trên mạng cuốn sách, vỏn vẹn, ngắn gọn với 93 trang, sẳn sàng cho sao chép (download) và đã được phiên dịch trên 24 ngôn ngữ :

“Từ Độc tài đến Dân chủ. Một khung khái niệm thực tiển cho một cuộc giải phóng”

(De la dictature à la démocratie. Un cadre conceptuel pour la libération –

From dictatorship to democracy. A conceptual framework for liberation)

của Tiến sĩ Gene Sharp, 82 tuổi, Giáo sư Danh dự về Khoa Học Chánh trị của Đại Học Massashusetts Dartmouth, Huê Kỳ (Professor Emeritus of political science) viết năm 1993, theo lời yêu cầu của các nhà đấu tranh dân chủ Miến điện. Cuốn sách nầy nay đã biến thành là cuốn chỉ nam cho các cuộc đấu tranh dân chủ và giải phóng bất bạo động chống các chế độ độc tài từ hơn cả chục năm nay trên toàn thế giới từ Burma, Bosnia, Estonia hay Zimbabwe, và ngày nay Tunisia và Ai Cập, Lybia, Syrie, Yémen …. Luật sư Nguyễn Văn Đài vì đã dịch cuốn sách nầy nên đã bị bắt và vào tù vì tôi « chống phá Nhà nước XHCN ». Tại Mạc Tư Khoa ( Liên Bang Nga), một nhà văn đã muốn dịch và xuất bản một bản bằng tiếng Nga liền bị Công an Liên Bang Nga FSB, hậu thân của KGB Liên Xô, viếng thăm. Bản dịch liền bị tịch thu, nhưng một bản dịch khác bằng tiếng Nga vẫn được xuất bản ở ngoại quốc. Hai nhà sách lớn ở Mạc tư Khoa có bài bán bản dịch nầy tự nhiện bị hoả hoạn cháy rụi. Nói như vậy để chứng minh rằng cuốn sách nầy hiện là một cơn ác mộng cho các nhà độc tài trên thế giới.

Các nhà dân chủ, các nhà đối kháng, các nhà yêu nước trong nước và ngoài nước Việt Nam, hãy mạnh dạn xuống đường biểu tình, nếu chúng ta không có chung một nguyện vọng, nếu chúng ta không chia sẻ cùng chung một quyền lợi, thi chúng ta có chung một chí hướng là lòng ái quốc của chúng ta quyết tâm không làm nô lệ cho Hán tộc. Ngày nay, nạn Hán hóa càng ngày càng trầm trọng ở Việt Nam. Hãy nhìn hằng ngày hàng hóa trong các chợ búa, từ cách ăn mặc đến các món hàng tiêu dùng hằng ngày, thật là đầy rẩy hàng hóa Tàu… Hãy nhìn vật dụng trong nhà, từ cái quần cái áo, chiếc dép, đôi giầy, chiếc xe đạp, cái thau nước…tất cả đều mang nhản hiệu Tàu. Người Tàu ở khắp mọi nơi, trên núi từng làng, từng mạc hoàn toàn Tàu, từ bảng hiệu tiếng nói đến cư dân Ngoài biển khơi, ngư dân Việt Nam bị cấm đánh cá xa ven biển… Vì các Hải đảo bị mất chủ quyền, nên nếu tàu cá ngư dân Việt Nam đi xa ven biển, chẳng may đến gần các Hải đảo liền bị tàu « lạ » đâm chìm. Cái ngôn từ « lạ » chỉ để « ám chỉ » tàu Trung Quốc, mà không dám chỉ rõ ràng. Thật là nhục nhã !

Nỗi nhục mất nước nầy, nay sẽ là chí hướng chung của toàn thể nhơn dân Việt Nam. Nếu còn có sự chia rẽ kỳ thị giữa Đảng viên và không Đảng viên, nếu còn có kỳ thị địa phương, nếu còn có chia rẽ giữa các thành phần xã hôi, các giai cấp, thì nỗi nhục mất nước và cái họa Hán hóa sẽ giúp đoàn kết lại toàn thể nhơn dân Việt Nam, toàn thể các nhà đấu tranh cho Tự do, cho Dân chủ, cho Đa nguyên, cho Đa đảng cho Công bằng cho Công lý cùng xuống đường đòi lại quyền quản trị và quyết định vận mệnh đất nước Việt Nam !. Trò hề của cuộc bầu cử Quốc hội vừa qua đã chứng mình một lần nữa là nhơn dân Việt Nam chỉ là những con rối trong tay Đảng Cộng sản.

Nếu có ai phản biện rằng Việt Nam đang bị nạn khủng hoảng kinh tế, lạm phát phi mã, đồng tiền bị phá giá, làm cách mạng bây giờ e rằng sẽ gây khó khăn nữa cho tương lai, e rằng nghèo lại càng nghèo thêm, vi tư bản ngoại quốc sẽ sợ bát ổn định sẽ bỏ rơi Việt Nam !

Xìn đừng lo !. Đồng bào hãy cùng nhau đứng lên ! Đồng bào hãy chứng minh cho thế giới biết là nhơn dân Việt Nam thực sự muốn thay đổi chế độ, xóa bỏ độc tài để đi vào dân chủ. Chỉ cần kiên trí, dám hy sanh. Một ngày, toàn dân biểu tình, thế giới sẽ chỉ ngó tới. Một tuần toàn dân biểu tình, thế giới cũng sẽ nói tới. Nhưng một tháng biểu tình, thế giới sẽ ủng hộ chúng ta. Và nếu nhà cầm quyền Cộng sản đàn áp, nhà cầm quyền sẽ bị thế giới trừng phạt ngay, lên án, phong tỏa các trương mục, các tài sản các gia đình cán bộ tham nhũng ăn cắp tiền bạc do quốc tế viện trợ giúp đở Việt Nam và các tiền ấy sẽ được trả lại cho Việt Nam tương lai. Việt Nam không nghèo đâu ? Việt Nam sẽ lấy lại những số tiền tham nhũng khổng lồ đang nằm ngủ trong các trương mục hải ngoại của các tên cán bộ tham nhũng và những tên đại gia lưu manh.

Hãy mạnh dạn, hãy can trường đi theo con đường cách mạng bất bạo động của nhơn dân Tunisie, nhơn dân Ai cập, Lybia, Syria và Yémen…

II /Dê Sồm và Đạo đức :

Nếu các quốc gia đang lên và nhược tiểu chúng ta bị nạn độc tài, thì thế giới tiên tiến bị khủng hoảng Đạo đức. Từ hơn mười ngày nay, cựu Tổng Giám đốc Quỹ Tiền tệ Quôc tế (FMI – IMF ) Dominique Strauss-Kahn (DSK) đã bị câu lưu, còng tay dẫn ra tòa, ngay bắt buộc phải từ chức, tuy được tại ngoại hầu tra nhưng trong một tình trạng nhục nhã, chỉ vì tội hành hung, hiếp dâm cô làm phòng một đại khách sạn.


Dominique Strass-Kahn, nhà kinh tế gia đại tài của Pháp, cựu Tổng trưởng Kinh tế của chánh phủ Jospin, người đã được thế giới tài chánh và kinh tế đặt nhiều hy vọng để giúp thế giới, nhứt là thế giới âu châu vượt qua khỏi các nạn suy thoái kinh tế. Thứ nhứt vì với tình hình kinh tế suy sụp nặng nề của bốn quốc gia châu âu trong thị trường hối đoái euros : khối PIGS ( Portugal, Ireland, Greece và Spain). Cuộc họp nhóm nhà ngói G8 vào ngày 26 tháng năm nầy tại Deauville thơ mộng của Pháp sẽ không có mặt DSK ( Dominique Strauss-Kahn), và các quốc gia PIGS sẽ gặp khó khăn, nhứt là Hy lạp vì ngày nay Quỹ Tiến tệ quốc tế đang bị khủng hoảng vì không có một tay đầu đàng có trọng lượng.

DSK, với những chữ D và chữ S, nếu anh ta là người Việt Nam mình, sẽ có người thốt lên là : « sao mà tên ông nầy nó có chữ tiền định như vậy ! ". DS là Dê Sồm. Dân miền Nam mình thì S hay X cũng đọc là xồm cả !

Quả thật, nếu anh DSK nầy có một tài nghệ kinh tế thuộc là tay thượng thặng, vào hàng cao thủ thì cái máu ba mươi lăm của anh cũng thuộc hàng cao thủ. Anh dê khỏi chê, anh khỏi nói, anh dê nổi tiếng. Ở xứ Pháp của tui nầy, đàn bà vẫn thích đàn ông galant, vẫn thích đàn ông nịnh đầm, biết hôn nhẹ cổ tay khi gặp nhau, choàng tay nhè nhẹ sau lưng mời cô nàng đi trước, đưa tay cho cô nàng vịnh khi lên cầu thang, kéo ghế mời cô nàng ngồi… nhưng tất cả với những cử chỉ thoáng nhẹ, rờ nhẹ, xoa nhẹ.. nhưng gặp DSK, anh chàng nầy hốt ráo, và anh rất xàm xở. DSK nổi tiếng đến các cô nhà báo ở Pháp kháu nhau rằng không đi phỏng vấn chàng DSK một mình, phải luôn luôn dắt theo một anh phó nhòm để bảo vệ tiết phong. Chỉ đến làm việc mới một năm, các nhơn viên nữ ở Quỹ Tiền tệ đã dặn nhau tránh không vào phòng gặp ông Tổng Giám đốc một mình. Ông Tổng không tha một ai ! Nhưng nếu ở Pháp, bạn bè đồng chí đều biết cái tật dê xồm của ông cựu Tổng trưởng và cựu Tổng Giám đốc thường để bụng hoặc vừa nói vừa cười, ở xứ Cờ Hoa Tin lành đầy Đạo đức Ông Tông Dê Xồm kỳ nầy sẽ thanh bại danh liệt.

Tục ngữ Việt ta có câu : « Có làm đ.. thì hãy làm ở ba phương, nhưng cũng ráng chừa một phương để kiếm chồng ! »

Tục ngữ Tây có câu : , « Jamais dans sa paroisse ! », nghĩa là « Không nên chụp giựt trong đất của chùa mình, trong nhóm của gia đình mình »

Đàng này anh DSK làm ráo. Đông Tây Nam Bắc, già trẻ mập ốm, gặp cái gì anh hốt cái đó. Ở Pháp ảnh hốt một cô nhà báo trong trong nội bô Đảng xã hôi mình. Ở IMF anh hốt cô cộng sự viên dưới quyền mình. Và nay lang bạt giang hồ, đang ở khách sạn, anh nổi hứng bất tử anh hốt cô làm phòng.

Và Dê Xồm ăn trúng sâu rọm, và chết cha Dê xồm

.
Để kết luận:


Các nhà độc tài nó mất tánh người vì nó vô cảm, nó khinh người dân. Nhìn dân đói, nó không biết thương, nhìn dân khổ nó không biết xót. Thằng độc tài nó không biết người dân là ai.


Các tên dê sồm cũng vô cảm, vi hắn khinh phụ nữ, xem phụ nữ như một món đồ chơi. Tồi tệ hơn nữa là hắn lợi dụng địa vị, lợi dụng quyền hành. (Abus de pouvoir)

Có người bênh vực nói và hỏi nhưng nếu chẳng may ông ta bị cám dỗ, lọt vào một cái bẩy, nhưng vậy ông ta là một nạn nhơn của đàn bà. Tôi xin trả lời, nếu thực sự DSK là người biết tự trọng, nếu Bill Clinton là người biết tự trọng; ở chức vụ Tổng Giám Đốc một quỹ Tiền tệ Quốc tê, như một DSK, ở một chức vụ số một thế giới như một cựu Tông thống Bill Clinton, các vị ấy không có quyền để bị cám dỗ. Các vị ấy quên chức vụ của các vị ấy là chức vụ phục vụ Công cộng. quý vị ấy chỉ biệt phục vụ cho con người, cho cá nhơn của quý vị ấy. Đừng đổ thừa đàn bà, là ác quỷ, là …

Độc tài, dê sồm, tất cả chỉ vì vấn đề thiếu đạo đức, thiếu luân lý… chẳng qua thiếu lòng nhơn đạo, tự trọng không yêu nhơn loại, không yêu đất nước, không yêu công cộng. .

Đó là hạng người tuy cố gắng làm chánh trị, cố gắng làm lãnh đạo nhưng vẫn thiếu Đạo đức.

Định nghĩa của nền Cộng hòa – République là do cụm từ la tinh Rès Publica chữ Pháp là « pour la chose publique », phục vụ công cộng. Người yêu chế độ Công hòa, người có tinh thần Công hòa là người biết phục vụ chế độ công cộng, phục vụ bá tánh, phục vụ thiên hạ.

(Đảng Cộng sản Việt Nam đặt tên cho nước Việt Nam đầu tiên là Dân chủ Công Hòa, thì là một nước không có Dân chủ, vì độc đảng, không có Cộng hòa vi không phục vụ cho toàn dân mà chỉ phục vụ cho đảng. Lần sau đặt là Công hòa Xã hội Chủ nghĩa, thì cũng chẳng có Cộng hòa vì phục vụ đảng và cũng chẳng có xã hội vì không có chế độ an sanh liên đới xã hôi. )

Nhưng đó là những nghịch lý của độc tài nói xuôi cũng được nói ngược cũng xong !

Không phục vụ công cộng không thấy công cộng, không thấy đất nước, không thấy quần chúng, nhơn dân. Các con người lãnh đạo nầy chỉ thấy cá nhơn mình, quyền lợi mình hay dục vọng mình ./.

Phan Văn Song

Thông báo của Tòa Đại Sứ Mỷ tại Hà Nội

Thông báo của Tòa Đại Sứ Mỷ tại Hà Nội

Sứ quán Mỹ tại Hà Nội
[Bộ ngoại giao Hoa Kỳ - Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội] Bản tiếng Việt "Báo cáo về tình hình nhân quyền năm 2010: Việt Nam" được ngoại trưởng Hillary Clinton công bố ngày 8/4/2011

Lời mở đầu:

Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, với dân số khoảng 88,6 triệu người, là một nhà nước độc tài do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Các quan ...chức lãnh đạo đứng đầu là Tổng bí thư Nông Đức Mạnh, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Lần bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội gần đây nhất được tiến hành vào năm 2007. Tuy nhiên, cuộc bầu cử đã không diễn ra tự do và công bằng vì tất cả các ứng cử viên đều đã được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chọn lựa và thẩm tra. Mặt trận là cơ quan của Đảng Cộng sản, có trách nhiệm giám sát các tổ chức quần chúng trên cả nước. Các lực lượng an ninh thuộc quyền quản lý của chính quyền dân sự các cấp.

Người dân không thể thay đổi chính quyền, trong khi các phong trào chính trị đối lập bị cấm. Chính phủ đã tăng cường đàn áp và bắt giữ ít nhất 25 người bất đồng chính kiến và kết án 14 người bị bắt trong năm 2008, 2009 và 2010 và từ chối không đưa ra xét xử 10 người bất đồng chính kiến bị bắt giữ cuối năm 2009. Công an đôi khi còn ngược đãi nghi can trong các vụ bắt bớ hoặc giam giữ. Điều kiện nhà tù thường rất khắc nghiệt. Mặc dù tính chuyên nghiệp của lực lượng cảnh sát đã được cải thiện nhưng vẫn có trường hợp một số người làm trong ngành không bị xử phạt gì khi mắc sai phạm. Công dân bị giam giữ tùy tiện vì tham gia hoạt động chính trị và còn bị tước quyền được xét xử công bằng và nhanh chóng. Hệ thống tư pháp bị bóp méo nghiêm trọng do những ảnh hưởng chính trị. Nạn tham nhũng cục bộ và thiếu hiệu quả. Chính phủ tiếp tục hạn chế quyền riêng tư của công dân và tự do báo chí, tự do ngôn luận, hội họp, đi lại và lập hội. Chính phủ kiểm soát gắt gao hơn tự do Internet và đã đồng loạt tiến hành tấn công các trang web chỉ trích Chính phủ cũng như bí mật theo dõi các blogger bất đồng chính kiến. Cách hiểu và bảo vệ quyền tự do tôn giáo vẫn không thống nhất. Mặc dù đã đạt được nhiều bước tiến đáng kể nhưng đây vẫn là một vấn đề nhức nhối, đặc biệt là ở cấp tỉnh và cấp xã. Tham nhũng trong ngành công an vẫn là một vấn nạn. Chính phủ duy trì lệnh cấm đối với các tổ chức nhân quyền độc lập. Bạo lực, phân biệt đối xử với phụ nữ và nạn buôn người vẫn là những vấn đề nhức nhối mặc dù luật pháp và Chính phủ đã nỗ lực giải quyết. Một số nhóm dân tộc thiểu số bị xã hội phân biệt đối xử. Chính phủ hạn chế quyền của người lao động trong việc lập và tham gia các hội đoàn độc lập.


Link chính thức của Tòa Đại Sứ Mỹ tại Hà Nội

http://photos.state.gov/libraries/vietnam/8616/pdf_2011/hrreportvn2010.pdf


Xem nguyên văn báo cáo dài 40 trang tại: http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/ Website Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Hà Nội. (bên trên cùng, góc phải)


Đại dịch của Phó giáo sư – Tiến sĩ – Bác sĩ dưới thời XHCN.


Đại dịch PGS-TS-BS


Nhật ký của Ngọc – Entry này có một tựa đề hơi bí hiểm. Nhưng những ai làm trong nghề y đều biết đó là viết tắt của Phó giáo sư – Tiến sĩ – Bác sĩ. Chỉ có ở nước Nam. Chỉ có ở nước Nam dưới thời XHCN. Nó là biểu hiện của căn bệnh mới phát sinh trong ngành y. Đó là bệnh hám danh. Bệnh hám danh đang làm tan nát hệ thống y khoa và đang biến hóa thành một đại dịch nguy hiểm cho người bệnh.
Có mấy ai còn nhớ đến thầy Phạm Biểu Tâm, thầy Trần Ngọc Ninh? Thầy Phạm Biểu Tâm có sống lại bây giờ không thể là hiệu trưởng trường y. Thầy Trần Ngọc Ninh có ở Việt Nam giờ này cũng không bao giờ thành khoa trưởng, chứ nói gì đến chức danh giáo sư. Cả hai thầy đều không có bằng tiến sĩ. Cái bằng tiến sĩ ngày nay ở đất nước này là một cái bùa hộ mệnh. Nó cũng là cái vé xe cho những chuyến xe đò thăng quan tiến chức. Nó là cái boarding pass cho những phi vụ làm trưởng khoa, làm hiệu trưởng trường y. Đó là luật chơi mới do những người cách mạng đặt ra. Người cách mạng không nhất thiết phải là người trong y giới, cũng chẳng cần làm khoa học. Ở đất nước này, chính trị thống lĩnh tất cả. Làm cách mạng là làm chính trị. Bởi vậy, người cách mạng chẳng cần phải có tấm bằng bác sĩ để đặt ra luật chơi mới cho ngành y. Họ đang hủy hoại nền y học.
Tuần rồi đi dự một hội thảo chuyên đề và gặp một anh bạn đồng môn trên bàn cà phê. “Ủa, ông chưa tiến sĩ hả? Sao không làm một cái”? Anh bạn tôi hỏi. Tôi ngạc nhiên về chuyện làm một cái. Tiến sĩ là một cái gì như đồ chơi. Tôi lắc đầu. Mình đã già. Mình không có khả năng làm nghiên cứu. Cũng chẳng có thầy đỡ đầu. Anh bạn tôi cười lớn nói: Ông mà già gì, đâu cần khả năng làm nghiên cứu, cũng không cần thầy hướng dẫn, chỉ cần bỏ tiền ra mua thôi. Tôi cám ơn tấm lòng của bạn cũ và vẫn thấy mình vui với việc giúp người mà không có những râu ria trước tên mình. Bạn cũ tôi bây giờ là một PGS-TS-BS.
TS-BS bây giờ nhan nhản trong các bệnh viện. Thử dạo một vòng các phòng trong bệnh viện ngoài Hà Nội, sẽ thấy trước cửa phòng ai cũng có danh xưng TS-BS in ngay chính giữa cửa phòng. Bảng hiệu đó cho chúng ta biết người đang ngự trị hoặc chiếm lĩnh căn phòng là một bác sĩ và có bằng tiến sĩ. Bằng tiến sĩ là học vị cao nhất trong thế giới khoa bảng. Tôi không có con số thống kê để nói, nhưng tôi cảm thấy số bác sĩ có danh hiệu TS-BS nhiều hơn bác sĩ trong các bệnh viện Hà Nội. Sài Gòn đang đuổi theo Hà Nội, sắp đến đích nay mai. Với đà này, một ngày không xa bệnh nhân sẽ không còn gặp bác sĩ nữa, họ chỉ gặp TS-BS.
PGS-TS-BS xuất hiện ngày càng dày đặt trong các hội thảo. Nhìn lên bàn chủ tọa chúng ta thấy gì? Có hoa tươi. Có chai nước lọc. Có laptop. Có microphone. Và, có tấm bảng nền trắng chữ đen in những từ viết tắt như PGS-TS-BS. Hoa tươi để làm màu mè. Chai nước lọc vì trí thức không quen uống nước máy sợ nhiễm khuẩn. Laptop để nói rằng ta đây có trình độ IT. Microphone để truyền bá lời vàng ý ngọc. Danh hiệu PGS-TS-BS để khoe thành tựu miệt mài làm khoa học. Một bức tranh đầy hoa sắc, màu mè. Có phần phần cứng (IT, microphone) lẫn phần mềm (hoa, trí lực, bằng cấp).
Danh và thực lúc nào cũng là hai khía cạnh nhức nhối trong y giới. Bao nhiêu tiến sĩ của nước ta là do thực tài, bao nhiêu là giả, dỏm. Không ai biết được, nhưng xã hội biết. Xã hội đã từ lâu phong danh tước “tiến sĩ giấy” cho những kẻ bất tài, hám danh, mua quan bán tước. Cụm từ “Tiến sĩ giấy” ngày càng xuất hiện nhiều trên báo chí, trong những câu chuyện thường ngày. Tức là xã hội biết rằng ngày nay chúng ta có nhiều tiến sĩ dỏm hơn là tiến sĩ thực.
Dỏm có nghĩa là những bằng cấp được mua bán, tiền trao cháo múc.
Anh bạn tôi vừa đề cập trên đây không ngần ngại nói rằng để có cái bằng tiến sĩ, anh phải chi ra nhiều tiền. Hỏi bao nhiêu, anh chỉ cười. Nhưng xã hội biết. Những cái giá 5.000 USD, 10.000 USD, 20.000 USD đã được đề cập đến. 100 triệu đồng. 200 trăm triệu đồng. 400 triệu đồng. Có khi 500 triệu. Có nhiều lò sản xuất văn bằng tiến sĩ và mỗi lò có biểu giá riêng. Quân y nổi tiếng là một trong những lò đào tạo đắt tiền. Các trường y thì rẻ hơn nhưng không rẻ bao nhiêu. Nhiều đồng nghiệp tôi mua bằng như thế. Đó là những con số chóng mặt cho bệnh nhân nghèo. Ai trả tiền? Xin thưa không phải bác sĩ, mà là bệnh nhân. Họ sẽ ăn tiền các hãng dược. Hãng dược nâng giá thuốc. Bệnh nhân là người cuối cùng trong vòng tròn này. Bệnh nhân lãnh đủ. Vì thế, mua bán bằng cấp là một trong những yếu tố làm cho giá thuốc cao đến mức “cắt cổ” như ở nước ta.
Những kẻ hám danh và bất tài xem chuyện mua bằng tiến sĩ là một đầu tư. Họ có thể chi ra vài trăm triệu hôm nay, nhưng nay mai thì sẽ được chức quyền. Trường khoa. Giám đốc bệnh viện. Hiệu trưởng. Tất cả đều mua, đều chạy. Một khi đã ngồi vào vị trí quyền lực, họ ra sức vơ vét tiền của người dân để trả lại chi phí mua bằng, mua chức vụ. Người dân cũng chính là đối tượng sau cùng trong đường dây này. Đừng trách tại sao dân mình nghèo vẫn hoàn nghèo. Cái cơ chế này làm cho họ nghèo. Đã nghèo thì thường chịu phận hèn. Cái cơ chế này làm cho người dân vừa nghèo và vừa hèn.
Dỏm có nghĩa là làm nghiên cứu ma, giả tạo số liệu.
Báo chí đã nêu nhiều vấn đề đạo văn. Nhưng báo chí không hề biết những chuyện động trời hơn đạo văn. Đó là chuyện giả tạo số liệu. Những tiến sĩ dỏm chẳng bao giờ làm nghiên cứu cho tốn công. Họ chỉ ngồi đâu đó giả tạo ra số liệu. Có người làm nghiên cứu nghiêm túc, nhưng khi kết quả không đúng ý, họ sửa số liệu. Chẳng ai hay biết. Thầy cô hướng dẫn chỉ là những người mù vì bất tài, hoặc giả mù vì họ đã ăn tiền. Giả tạo số liệu xong, họ mướn một người nào đó làm phân tích thống kê. Giá phân tích cũng không rẻ chút nào, từ 500 USD đến 2000 USD. Có cậu nọ nay làm chức cao trong trường y từng làm phân tích mướn như thế. Chẳng cần biết đúng sai vì chính người làm mướn cũng mù mờ mà cũng chẳng quan tâm. Phân tích xong, họ mướn người viết luận án. Giá viết cũng từ 500 USD đến 2000 USD. Người viết chỉ cần có bằng cử nhân cũng viết được. “Viết” ở đây có nghĩa là cắt và dán. Hỏi google, dịch, cắt, dán. Vâng, luận án là dịch-cắt-dán. Thế là xong luận án. Thầy dỏm thì làm sao biết được đó là luận án thật hay dỏm. Có thể nói rằng đại đa số những nghiên cứu khoa học ở nước ta hiện nay đều làm theo quy trình như thế. Không có đạo đức khoa học. Không có tinh thần khoa học. Đừng nói đến văn hóa khoa học. Đọc những lời tâm huyết có khi mang tính hô hào của Gs Tuấn về nghiên cứu khoa học mà tôi thấy tội nghiệp cho ông. Ông đâu biết rằng ở trong nước người ta đâu có quan tâm đến nghiên cứu, những lời ông nói ra chỉ là nước đổ đầu vị mà thôi, chẳng ai nghe đâu.
Dỏm có nghĩa là làm nghiên cứu chất lượng còn thấp hơn luận văn cử nhân của các thầy trước 1975.
Nếu có dịp đọc những luận án tiến sĩ của các bác sĩ, người có kiến thức không biết nên cười hay nên khóc. Cười vì những đề tài nghiên cứu như là đề tài của sinh viên học làm nghiên cứu. Khóc vì trình độ thấp đến mức thê thảm. Những đề tài nghiên cứu kinh điển mà thế giới đã làm từ ngày tôi còn ngồi trong trường y cũng được biến hóa thành đề tài tiến sĩ. Có đề tài đánh giá phẫu thuật nội soi mà người đánh giá cũng chính là người thực hiện. Không có cái gì là mới. Không có cái gì để gọi là khoa học. Số liệu đã giả thì làm sao có kết quả thật được.
Còn luận án thì thế nào? Cũng công thức nhập đề – thân bài – kết luận như ai. Nhưng đọc kỹ thì không khỏi phì cười. Phần nhập đề thí sinh hay nói đúng hơn là người viết mướn tha hồ dịch-cắt-dán từ các nguồn trên internet, có khi đem cả kiến thức từ sách giáo khoa thế kỷ 19, những mớ thông tin chẳng liên quan gì đến đề tài. Dân gia có câu “nói dai, nói dài, nói dở” thật là thích hợp cho luận án tiến sĩ. Phần phương pháp thì chẳng có gì để đọc, vì họ chủ yếu là ngụy tạo. Ngụy tạo số liệu thì làm sao dám viết chi tiết phương pháp được. Vả lại, người viết mướn cũng đâu có trình độ chuyên môn để đi chuyên sâu vào phương pháp. Đến phần kết quả là khôi hài nhất. Một chuỗi bảng số liệu. Một chuỗi đồ thị. Điều khôi hài là đồ thị làm từ bảng số liệu. Hai cách trình bày một thông tin! Chưa hết, thí sinh còn bồi thêm câu diễn giải dưới bảng số hay đồ thị. Tức là 3 cách trình bày chỉ nói lên một thông tin. Người ta cần số trang sao cho đủ nên phải làm như thế. Thừa thải? Không thành vấn đề. Vấn đề là làm cho đủ số trang theo quy định của Bộ. Sai sót? Đây đâu phải là công trình khoa học mà quan tâm đến sai sót. Đến phần bàn luận là một tràng từ ngữ bay múa, những ý tưởng hỗn độn, chẳng đâu vào đâu. Những gì Gs Tuấn chỉ cách viết bài báo khoa học không áp dụng ở đây. Không cần đến logic luận. Nó y như là cái thùng lẩu thập cẩm. Có lẽ vài bạn đọc chưa quen sẽ nói tôi cường điệu hóa vấn đề. Các bạn hãy vào thư viện trường y mà đọc xem các luận án tiến sĩ có xứng đáng cái danh xưng cao quý đó hay không. Người ta xem đó là những “luận án tiến sĩ” có mã số, có bìa đỏ, được lưu giữ cẩn thận. Nhưng tôi xem đó là những chứng cứ hùng hồn nhất cho một thời đại nhiễu nhương trong học thuật. Những kẻ đã, đang và sẽ có bằng tiến sĩ từ những cách học dỏm đó sẽ đi vào lịch sử nước nhà như là những tiến sĩ giấy, những con vi khuẩn làm ô uế nền học thuật nước nhà.
Dỏm có nghĩa là người thầy hướng dẫn cũng dỏm.
Sự suy thoái của giáo dục y khoa là một chu kỳ bắt đầu từ người thầy. Sự suy đồi của người thầy bắt đầu từ những ông quan cách mạng. Dưới mắt của quan cách mạng, hồng quan trọng hơn chuyên, đảng viên quan trọng hơn người ngoài đảng. Vì thế chúng ta không ngạc nhiên sau 1975 có những vị mang danh “giáo sư” mà kiến thức còn thua cả bác sĩ gia đình, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy có “giáo sư” đi tuyên truyền cho xuyên tâm liên trị bá bệnh, bo bo bổ dưỡng hơn gạo. Ngày nay, kẻ bất tài nhưng có đảng tịch thì vẫn được cất nhắc làm thầy, được “tạo điều kiện” làm tiến sĩ. Có người được “cơ cấu” (một danh từ mới) chức trưởng khoa, giám đốc bệnh viện rồi, “tổ chức” (cũng là một từ mới) sẽ tìm cho họ cái bằng tiến sĩ. Bằn tiếng sĩ vừa là phương tiện, vừa là cứu cánh trong cái nền học thuật nhếch nhác hiện nay. Bằng tiến sĩ nó tầm thường đến nỗi người ta nhạo báng ra đường gặp tiến sĩ. Nó rẻ tiền vì chúng ta biết rằng bằng tiến sĩ của Việt Nam chỉ là bằng dỏm, không bao giờ xứng đáng với danh vị đó. Thế là chúng ta có thầy dỏm. Thầy dỏm đào tạo ra trò dỏm. Trò dỏm đào tạo tiếp trò dỏm. Sẽ không lâu chúng ta sẽ có nhiều thế hệ tiến sĩ dỏm, giáo sư dỏm. Và chúng ta sẽ phải trả giá cho những cái dỏm đó. Thực ra, bệnh nhâm đang trả giá cho cái dỏm.
Cái giá mà bệnh nhân phải trả cho hệ thống y khoa hám danh này là cái chết. Nhiệm vụ của người bác sĩ lâm sàng trước hết là chữa trị bệnh nhân. Nhiệm vụ đó đòi hỏi kỹ năng lâm sàng tốt. Ngoài ra, còn có sự cảm thông, chia sẻ với bệnh nhân. Nhưng bác sĩ hám danh ngày nay chỉ chạy theo bằng cấp dỏm, làm nghiên cứu dỏm, gây tác hại cho bệnh nhân. Họ không trao dồi kỹ năng lâm sàng. Họ không có thì giờ để đọc sách. Họ thừa thì giờ đi nhậu để làm “ngoại giao”. Thiếu kiến thức lâm sàng. Chẩn đoán sai. Làm xét nghiệm không cần thiết. Đối diện với bệnh nhân thì chỉ hách dịch ra lệnh chứ không biết nói. Hậu quả là chẩn đoán sai, điều trị sai, bệnh nhân chết. Nếu còn sống thì gặp biến chứng, hoặc thương tật suốt đời. Dỏm trong các ngành khác như khoa học xã hội thì có thể không gây tác hại nguy hiểm, nhưng dỏm trong y khoa thì hậu quả khôn lường. Rất tiếc là các quan cách mạng không nhìn thấy hay không nhìn thấy điều hiển nhiên đó để cho sự hám danh và dỏm lên ngôi. Họ phải chịu trách nhiệm trước lịch sử nước nhà.
Bệnh hám danh trong y giới ngày nay đã trở thành đại dịch.
Có lần trong một hội thảo chuyên môn, một anh kia tên là D, học y trước 1975 nhưng ra trường sau 1975, thuộc thành phần răng đen mã tấu – “cách mạng 75″ như người Sài Gòn vẫn nói, được người ta giới thiệu anh ta là TS, nhưng khi anh ta lên bục giảng câu đầu tiên anh ta nói là chỉnh người giới thiệu, rằng chức danh của anh ta bây giờ là PGS. Chính xác hơn là PGS-TS-BS. Cả hội trường có phần sững sờ trước sự khoe khoang hợm hĩnh. Tôi cũng ngạc nhiên khi biết anh ta có bằng tiến sĩ và càng sững sờ khi biết anh ta là PGS. Hỏi đồng nghiệp làm cùng bệnh viện với anh ta, ai cũng cười. Đã có nhiều bệnh nhân thành nạn nhân của anh ta. Thế là biết. Tất cả chỉ là mua bán. Thế mới biết cái cơ chế có khả năng nhào nặn một con người có tư cách thành một kẻ háu danh hợm hĩnh. Và chỉ trong một thời gian ngắn. Nhưng trường hợp của anh D chỉ là một hạt cát trong sa mạc y giới. Ngày nay có hàng chục ngàn người như thế. Nó đã thành một đại dịch. Dịch hám danh. Dịch hám bằng cấp. Đại dịch hám danh và hám bằng cấp còn nguy hiểm đến bệnh nhân hơn các đại dịch H1N1 nhiều.
Đại dịch hám danh không chỉ trong y giới mà còn lan tràn ra các địa hạt khác ngoài xã hội. Ai cũng cố gắng tạo cho mình một cái danh xưng trước tên. Ngày nào xã hội biết đến bác sĩ, kỹ sư, tiến sĩ, thạc sĩ, giáo sư … nhưng ngày nay người ta còn gắn CN và Master trước tên mình. CN là cử nhân. Master là cao học. Chưa bao giờ tôi thấy một sự háu danh quái đản như hiện nay. Trong y giới, người ta còn gắn thêm TS-BS, hoặc PGS-TS-BS. Nếu có danh xưng gì khác như thầy thuốc nhân dân, thầy thuốc ưu tú, người ta cũng gắn vào luôn. Nếu một người nông dân không có bằng cử nhân thì họ được gọi là gì. Không là gì cả. Do đó, đại dịch dịch hám danh nó phân chia xã hội thành những người có và những người không có. Nó dẫn đến nạn kỳ thị. Kẻ có danh xem thường người không có danh. Vì thế người ta phải chạy theo danh, phải mua danh bán tước. Đại dịch hám danh tạo ra một thị trường mua bán tước danh, bằng cấp. Từ cấp trung ương đến địa phương, hiện tượng mua bán bằng cấp xảy ra hàng ngày. Mua bán tước danh và bằng cấp là hành động xem thường kỷ cương phép tắt trong học thuật. Vì thế dịch hám danh không chỉ làm phân hóa, kỳ thị xã hội, mà còn làm hủy hoại nền học thuật quốc gia.
Sau khi gặp bạn tôi gặp trong hội thảo tuần qua làm tôi có cảm hứng viết entry này tôi lên taxi về nhà. Trên đường về nhà bị kẹt xe, anh tài xế phải vất vả nhích từng cm. Mưa càng lúc càng nặng hạt. Đường xá ngập nước như trong cơn bão lụt. Ngay giữa thành phố có thời mang danh Hòn ngọc viễn đông. Anh tài xế cùng độ tuổi tôi lắc đầu ngao ngán. Anh nhìn tôi ái ngại vì quá trễ giờ. Chúng tôi nói chuyện đời. Anh chỉ vào con đường ngập nước và nói họ đang phá nát thành phố này. Tôi đồng ý. Nhưng tôi muốn thêm rằng họ cũng đang hủy hoại nền học thuật nước nhà bằng cách tạo ra một đại dịch PGS-TS-BS.

http://bsngoc.wordpress.com/2011/05/22/d%E1%BA%A1i-d%E1%BB%8Bch-pgs-ts-bs/

Hãy hỗ trợ chúng tôi!

Thưa quý vị và các bạn,
Như quý vị và các bạn đã biết: Tên miền www.thongluan.org của chúng tôi đã bị cướp ngày 30/04/2011 và hiện nay trang www.thongluan.org đang nằm trong tay bọn tin tặc, chúng tôi đang nỗ lực tiến hành các thủ tục pháp lý để đòi lại tên miền này.

Chúng tôi không thể vắng mặt lâu hơn, nên tạm thời chúng tôi - Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên ra mắt trang nhà mới tại địa chỉ: www.ethongluan.org



Chân thành cám ơn quý vị và các bạn.
Thay mặt BBT e-Thông Luận,
Phạm Đỉnh
---------------


Hãy hỗ trợ chúng tôi!

Vấn đề của chúng tôi cũng là của mọi người dân chủ

Chúng tôi xin thông báo trước công công luận sự kiện sau đây:

Từ ngày 30-4-2011 ban biên tập Thông Luận không còn vào được báo điện tử Thông Luận (www.thongluan.org) nữa. Trang báo này đã bị cướp đoạt. Bọn tin tặc giữ nguyên giao diện và địa chỉ toà soạn cũng như nội dung của tờ báo cho đến tháng 3-2011 và thỉnh thoảng thêm một bài tạo ấn tượng là trang báo vẫn còn là của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên nhưng không được cập nhật.

Liên lạc với công ty Network Solution, nơi đăng ký tên miền thongluan.org chúng tôi được cho biết là tên miền này đã được chuyển sang một công ty khác, công ty OnlineNIC, do một công ty ở Hồng Kông làm dịch vụ bảo quản tên miền có tên là Domain ID Shield Service giữ thay cho một kẻ dấu mặt. Theo yêu cầu của chúng tôi Network Solution đã liên lạc với OnlineNIC và được biết là kẻ dấu mặt này đã mạo danh người đại diện Thông Luận để chuyển tên miền cho hắn. Bọn giặc mạng này sau khi đã mạo danh Thông Luận để cướp tên miền cũng đã vào được cơ sở dữ kiện của Thông Luận đặt tại một công ty khác để ăn cắp nội dung và đưa lên mạng.

Tóm lại trang Web www.thongluan.org hiện đang nằm trong tay bọn tin tặc.

Chúng tôi đang xúc tiến công việc đòi lại tên miền và truy lùng bọn giặc mạng để đưa chúng ra trước pháp luật. Cố gắng này có thể đòi hỏi một thời gian đáng kể. Do đó chúng tôi quyết định thành lập trang Web www.ethongluan.org này để tiếp tục hoạt động truyền thông trong khi chờ đợi kết quả cuộc tranh tụng.

Xin nhắc lại để nhấn mạnh một lần nữa là từ nay báo điện tử của THDCĐN là www.ethongluan.org.

Việc cướp đoạt tên miền và đánh phá các báo mạng bằng những hành động đạo tặc như gửi vi trùng, xóa hoặc thay đổi nội dung, tạo các đợt sóng thần truy cập giả do một robot phát ra làm tê liệt máy phục vụ, lan truyền địa chỉ gian để chuyển hướng những truy cập sang một trang Web gian v.v. là sự kiện đã xuất hiện từ vài năm nay và ngày càng được triệt để hóa và tinh vi hóa. Chính quyền cộng sản Việt Nam đã sử dụng cả một đội ngũ công an khoa học với hàng trăm chuyên viên mạng cho hành vi đạo tặc này. Hầu hết các báo mạng của những người và tổ chức dân chủ đối lập hoặc độc lập với chính quyền cộng sản Việt Nam đều đã bị đánh phá. Báo điện tử Thông Luận đã là đối tượng được đặc biệt chiếu cố từ hơn ba năm qua, có khi nhiều lần trong cùng một ngày.

Cho đến nay phản ứng của chúng ta đã chỉ giản dị là phục hồi lại nội dung đã bị phá hoại, sử dụng một tên miền khác mỗi khi bị cướp đoạt tên miền. Tình trạng này không thể tiếp tục, những hành động đạo tặc phải bị ngăn chặn và trừng phạt để lành sạch hóa không gian mạng. Chúng tôi quyết định phản công đòi lại tên miền, truy lùng các thủ phạm và đưa chúng ra trước pháp luật và công luận. Dù đây là chọn lựa vất vả và tốn kém nhưng chúng tôi sẽ làm.

Cuộc đấu tranh của chúng tôi trước hết nhắm ngăn chặn một hành động phạm pháp nghiêm trọng mà nhiều người và cơ quan ngôn luận đã và sẽ còn là nạn nhân. Đó cũng là cuộc đấu tranh chung của mọi người và tổ chức dân chủ mà vũ khí chính là truyền thông.

Cố gắng này có thể đòi nhiều thời gian và phí tổn vì hiện nay không gian mạng còn phức tạp và luật pháp mạng còn nhiều thiếu sót nhưng chúng tôi đã có chuẩn bị và có lý do vững chắc để tin rằng sẽ đạt kết quả, nghĩa là sẽ vạch mặt được bọn tin tặc và khiến chúng bị luật pháp trừng trị. Hãy yểm trợ chúng tôi, trước hết là bằng cách lên tiếng bênh vực một trong những quyền con người căn bản nhất và một tổ chức dân chủ, sau nhiều nhẫn nại, không còn chọn lựa nào khác hơn là phản công lại những đánh phá đạo tặc.

Nhưng ai có lý do và phương tiện để thực hiện những hành động đạo tặc này? Hỏi cũng là trả lời. Đó chỉ có thể là chính quyền cộng sản Việt Nam. Trong lần đánh phá này các dữ kiện mà chúng tôi có trong tay cũng chứng tỏ họ đã mượn bàn tay của công an mạng Trung Quốc. Thêm một chỉ dấu về sự câu kết giữa hai chế độ bạo ngược.

Nhưng tại so họ thấy có nhu cầu phải đánh phá các tiếng nói đối lập và độc lập? Tại sao một chính quyền lại phải hạ mình hành động lén lút như một bọn trộm cắp? Đó là vì những tiếng nói dân chủ trung thực đã có trọng lượng khiến họ phải sợ và vì chính họ có sẵn bản chất đạo tặc.

Quan trọng hơn, đó là vì họ không còn gì để nói. Như mọi chế độ độc tài còn lại sau khi bức tường Berlin sụp đổ, chính quyền cộng sản Việt Nam không còn gì để nói, không có gì để đề nghị và thuyết phục. Dù có hơn một ngàn tờ báo đủ loại nhưng họ không có gì để biện luận và thông tin cả vì mọi lý luận nghiêm chỉnh đều chỉ chứng minh chế độ không còn lý do tồn tại và mọi thông tin trung thực đều chỉ có tác dụng phơi bày sự tồi dở và gian trá của họ. Sự đoạn tuyệt giữa chính quyền cộng sản và nhân dân Việt Nam đã dứt khoát. Vũ khí duy nhất của chế độ chỉ còn là đàn áp.

Nhưng không một chính quyền nào có thể tồn tại nếu chỉ thuần túy dựa trên đàn áp. Mọi chính quyền, trong lịch sử của mọi dân tộc, muốn tồn tại được đều phải dựa trên hai cột trụ thuyết phục và khuất phục, trong đó thuyết phục là chính, bạo lực chỉ dùng để khuất phục một thiểu số không thể thuyết phục. Chế độ cộng sản Việt Nam chỉ đứng trên một chân, và một chân yếu. Nó chắc chắn sẽ bị đào thải. Trong thế tuyệt vọng đó nó đã luống cuống đánh phá những tiếng nói mà nó không thể dập tắt. Nhưng đây cũng chỉ là một phản ứng tuyệt vọng. Trong thời đại bùng nổ của truyền thông và các phương tiện truyền thông này một tiếng nói tạm thời bị ngăn trở sẽ có nhiều tiếng nói khác cất lên, một trang Web tạm thời bị gián đoạn sẽ có thêm mười trang Web khác. Vô vọng.

Không những vô vọng mà còn dại dột bởi vì sẽ càng bị lên án trước cả công luận lẫn luật pháp. Chúng tôi sẽ có quyết tâm và sự kiên trì cần thiết.

Thông Luận

----------------------

Lời Kêu Gọi

Bài Xem Nhiều