We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Sunday, 29 May 2011

Phải chăng kẻ chiến thắng cam tâm tình nguyện đi làm “Lao Nô” cho quân thù?

Càng gần đến ngày 30/4 những người chiến thắng, đích danh gọi là cộng sản Bắc Việt thì họ sẽ sơn son thếp vàng lại tấm bảng “PHONG THÁNH” cho cuộc “Đại Thắng Mùa Xuân 1975” thật thần thánh “Chống Mỹ, cứu nước - Giải phóng Miền Nam”, đã đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào. Đúng như thế, Mỹ đã phải tủi nhục thân tàn ma dại chạy trối chết thoát khỏi vũng lầy chiến tranh VN; còn bọn Ngụy, đích danh gọi là Quân Đội VN Cộng Hòa và chính quyền tự do dân chủ Miền Nam bàng hoàng lo sợ chịu thân phận của kẻ chiến bại và phải chấp nhận tất cả mọi sự trừng trị của cs Bắc Việt. Hình như sự trừng phạt này vẫn còn tiếp tục… kéo dài đến 36 năm nay. Chỉ cần lật một trong 700 tờ báo lề phải, như tờ QĐND trong những ngày cuối tháng 4 là người đọc thấy họ đang rỉ rả về những luận điệu thù hận này.

Phóng viên chiến trường người Anh, ông John Pilger thuở ấy ghi lại nhật ký chiến trường vào những ngày cuối cùng của tháng 4/1975 tại thủ đô Sài Gòn. Lúc ấy vị đại sứ Mỹ Graham Martin xuất hiện trên truyền hình Sài Gòn, cam kết Washington sẽ không rời Việt Nam. Lời cuối cùng của ông Martin: "Tôi, Đại sứ Mỹ, sẽ không chạy trốn lúc nửa đêm. Bất kỳ ai cũng có thể tới nhà tôi và chứng kiến tôi chưa thu dọn hành lý".

Một lời trấn an hèn nhát của vị đại diện chính quyền Washington trước khi đào tẩu. Phóng viên Pilger cho biết thêm về một tín hiệu triệt thoái rút quân toàn diện của quân đội Mỹ vào ngày 29/4/1975 khi lực lượng quân đội Mỹ cho phát sóng Radio mật hiệu di tản bằng bản nhạc Giáng Sinh bất hủ do ca sĩ nổi danh Bing Crosby hát: " I'm dreaming of a white Christmas " – (Tôi mơ ước về một Giáng Sinh tuyết) thì một người bạn hữu của nhà phóng viên Pilger đã quyết định ngay lập tức: "OK, chạy được rồi đấy!". (Một thông báo về di tản được bí mật ghi ra như sau: mang theo hai bộ quần áo để thay đổi, một áo mưa, một bộ dụng cụ may vá, một cái ô dù, một cái mở hộp, thuốc phòng chống côn trùng, giấy chứng nhận kết hôn…). Cuộc di tản căng thẳng chớp nhoáng và cuối cùng trên nóc nhà tòa đại sứ Mỹ đã đưa được khoảng 7.000 người bằng trực thăng ra khỏi VN, gồm 1.300 người Mỹ và 5.500 người Việt trong vòng 18 tiếng đồng hồ.

Thế là hết! Chấm dứt cuộc tham chiến của Mỹ với người bạn Việt Nam Cộng Hòa vào ngày 30/4/1975. Miền Nam Việt Nam đã bị bức tử!

Thời gian qua mau, đã 36 năm rồi! Thời gian của một nửa đời người sống trên hành tinh này! Bắc Nam đã thống nhất, nhưng đến ngày kỷ niệm thứ 36, thay vì có thể kể cho nhau nghe những từ ngữ yêu thương, hòa giải, nối kết tình anh em giữa hai miền thì người Miền Nam vẫn còn phải đón nhận những mặc cảm của kẻ chiến bại, vẫn còn là ngụy quân, ngụy quyền, bù nhìn tay sai, phục vụ cho âm mưu thực dân mới, những từ ngữ Mỹ cút Ngụy nhào vẫn còn oang oang nơi cửa miệng của kẻ tiếp tục say men chiến thắng để chủ đích kết án bản chất hiếu chiến phản động cho người Miền Nam. Điều ấy chẳng khác chi một bản giáo điều bảo thủ mù quáng nhằm nuôi dưỡng thù hận của quá khứ chiến tranh!

Đến nay, chưa có một luận đề tin tưởng và bao dung nào được nói về sự hòa giải bình đẳng của dân tộc ngoài cách đe dọa cải tạo hoặc bắt đi tù học tập từ năm 1975 tại Việt Nam. Nước Đức sau thống nhất, các nhà lãnh đạo chính trị cũng như tôn giáo, xã hội quá khoan dung, thay vì trả thù hoặc kết án kẻ chiến bại, tất cả mọi người đồng tâm đưa tay ra kết đoàn nâng đỡ và xây dựng đất nước.

Tại Việt Nam, chờ mãi đến 35 năm sau mới có một người can đảm ký tên Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ gửi thư lên Quốc Hội VN vào ngày 30/8/2010: “Kiến nghị trả tự do cho tất cả tù nhân cựu quân nhân và viên chức chính quyền Việt Nam cộng hòa”. Lời kiến nghị này chẳng khác những gì người Đức giữa Đông và Tây đã thực hiện thành công trong 20 năm vừa qua cho dân tộc họ. Luật sư Cù Huy Hà Vũ - người đang được thế giới chú ý về bản án tù bất công 7 năm, đã đưa ra luận đề thuận lòng người, ít nhất cho những người đã được hưởng cuộc sống tự do của chế độ VN Cộng Hòa: “Dù là tất yếu để Non – Sông Việt Nam liền một giải, để Độc lập Dân tộc được toàn vẹn thì đó vẫn là một cuộc Nội chiến, một cuộc chiến tranh Huynh - Đệ tương tàn giữa những người Việt Nam.

Vì vậy, một khi chiến tranh chấm dứt thì xóa bỏ hận thù giữa những người Việt từng ở hai bờ chiến tuyến hay Hòa giải Dân tộc là Nghĩa vụ, và hơn thế nữa, là Đạo lý của mọi người Việt Nam. Và trong sự nghiệp Hòa giải này – tôi khẳng định – vĩ đại không kém cuộc chiến vừa kết thúc nhằm thống nhất đất nước – những người chiến thắng phải đi bước trước, mà giang tay ôm vào lòng những người anh em chiến bại để tỏ chữ Hiếu đối với Mẹ chung - Tổ quốc, để mọi người Việt dẫu chính kiến có khác biệt lại sum họp Một Nhà!

… Trớ trêu thay, Ban lãnh đạo của nước Việt Nam thống nhất sau 30 năm chiến tranh chẳng những đã không học tập tấm gương hòa giải dân tộc của Hồ Chí Minh, mà ngược lại, còn khoét sâu vết thương của dân tộc bằng việc tập trung “cải tạo” trong nhiều năm trời cả trăm nghìn quân nhân, viên chức Việt Nam cộng hòa, bằng kỷ niệm liên tục 35 năm nay “Ngày giải phóng Miền Nam” đậm chất “thắng – thua”… đẩy không ít người Việt thuộc chính quyền cũ rơi vào vòng xoáy của sự thù hận với hệ quả là một số người bị chính quyền mới kết vào “tội xâm phạm an ninh quốc gia”!

Một khúc mắc thời đại, hay đúng hơn là một vết thương nhiễm trùng chưa có thuốc kháng chế bám chặt trên cơ thể của 3 triệu đảng viên csVN từ 36 năm qua. Vết thương này, cho đến nay không ai được phép đụng vào cứu chữa cho nó. Ngày nay Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ tìm cách tiếp cận đến thân chủ để mổ xẻ ung nhọt độc hại này: “Và hận thù ấy lại dẫn đến chia rẽ khác không kém phần đau đớn, lần này ngay trong nội bộ những người đã ca khúc khải hoàn, bởi có mấy gia đình Việt Nam không có người thân ở bên kia chiến tuyến.

Kinh khủng hơn nữa, chính những hận thù và chia rẽ dân tộc ấy đang từng ngày, từng giờ tiếp tay cho nguy cơ Việt Nam bị Bắc thuộc lần thứ Tư và lần này e vĩnh viễn!”. - Hết trích.

Theo thống kê, người Việt Nam đang sống trong giải đất hình chữ S với dân số 85 triệu thì gần 2/3 đã được sinh ra sau chiến tranh VN - hai thế hệ trẻ người Việt Nam đã sinh ra sau 1975, như thế trên dưới 50 triệu người VN chưa bao giờ nghe tiếng súng hoặc tiếng bom nổ trong đời của mình, và họ không phải nghĩ đến cảnh cầm súng bắn vào nhau nơi chiến trường. Tại sao phải gieo lòng thù hận của quá khứ chiến tranh vào tâm trí của hai thế hệ trẻ này?! Có thể nói dân tộc Việt Nam sau sự đô hộ 100 năm của thực dân Pháp, bây giờ là lúc ngưng tiếng súng hoàn toàn để tạo thành một khối, gói trong cùng một bọc để có thể sống trong hòa bình xây dựng đất nước hùng mạnh.

Trong lúc này tư tưởng hòa giải thật lòng, từ con tim giữa hai miền Nam Bắc của Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ cần thiết hơn bao giờ hết cho dân tộc Việt Nam.

Minh chứng đã có của dân tộc Đức, họ chỉ cần thời gian 20 năm sau thống nhất đã thành công xây dựng đất nước tiến lên và nước Đức đang trở thành một quốc gia giàu mạnh nhất trong khối Liên Hiệp Âu Châu.

Phát triển đất nước Việt Nam thời hiện tại bằng kinh tế mũi nhọn Vanashin?

Còn Việt Nam với chính sách toàn quyền đảng trị của csVN sau 36 năm thống nhất chúng ta thực đã đủ sức vươn lên cao như sức mạnh của con rồng Á Châu? Chúng ta đã được phép tự hào sánh vai song bước cùng các quốc gia bạn bên cạnh và trong vùng? Được gia nhập WTO thay vì gia tăng được sức mạnh từ đôi tay của mình hay luôn phải cúi đầu ngửa tay nhận viện trợ của người ngoài nhằm tiếp tục xóa đói giảm nghèo?

Sức mạnh của thế giới được tính theo sự tăng trưởng kinh tế và sự nâng cao đời sống của người dân. Dường như người quốc nội cũng như những nhà đầu tư ngoại quốc đang nhìn thấy những công trình mũi nhọn của VN cứ như con tàu thả dốc không phanh xe. Tên gọi Vinashin với số nợ kinh hoàng hơn 86.000 tỷ đồng, tiếp theo với các tin tức trong những ngày vừa qua đăng tải về vụ Công ty Cho thuê tài chính ALC II liên quan đến ngân hàng Agribank cũng đang trên đường phá sản giống như dập khuôn với Vinashin vì thua lỗ 3.000 tỉ đồng. Được kể thêm phải nêu ra Tổng công ty xăng dầu đang thâm thủng ngân quỹ hàng ngày tỉ đồng chỉ trong vòng 3 tháng. Thua lỗ cứ gia tăng như cơn sóng thần Tsunami cuốn vào nền kinh tế VN, ví dụ năm 2010 công ty Điện lực Việt Nam (EVN), một tập đoàn lớn của Nhà nước đã thông báo lỗ hơn 8.000 tỉ đồng. Thế mà vào đầu tháng 4/2011 tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PetroVietnam) cho biết, EVN còn nợ tập đoàn này khoảng 5.000 tỉ đồng. Chuyện nợ ngàn tỉ cứ như trò đùa chẳng khác đưa tay mua vài bó rau trong thời bão giá: đã lỗ thật to làm sao còn sớm trả được nợ? Tiếp theo vào đầu tháng 3/2011 Thanh tra Chính phủ cho biết 5 ngân hàng to đã có nhiều sai phạm gây thất thoát 160 tỷ đồng cho nhà nước.

Câu chuyện nợ nần của VN chưa kịp đến hồi kết thúc thì cách đây vài hôm, 20/4/2011 báo chí lại khui thêm ra việc Tập đoàn Công nghiệp Than khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) đã lên tiếng về việc EVN nợ mình 1.600 tỷ đồng, thời điểm mang nợ tính đến 31/3/2011. Như vậy, trong khoảng một thời gian ngắn tập đoàn Điện lực Việt Nam đã bị phanh phui ra số nợ lớn của PetroVienam và Vinacomin, cộng chung nợ của 2 nơi là 6.600 tỷ đồng. Nếu tính thêm vào số thua lỗ 8.000 tỉ đồng trước đó sẽ tổng cộng ra một con số rất nghiêm trọng 14.600 tỉ đồng. Tập đoàn EVN luôn được mệnh danh là đứa “con cưng” của nền kinh tế Việt Nam và đang “ngập đầu ngập cổ” trong nợ nần.

Lại một đứa “con cưng” khác của nền kinh tế nước nhà, Công ty Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) đã thua lỗ đậm trong 3 tháng đầu năm. Báo SGTT đưa tin: sáng nay 4/4, bà Đàm Thu Huyền, phó tổng giám đốc tổng Công ty Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) cho biết, thống kê nhanh của đơn vị này cho thấy, tính đến hết ngày 31/3, Petrolimex đã lỗ 2.650 tỉ đồng trong quý 1. Tính ra mỗi ngày công ty Petrolimex đang lỗ một khoản tiền khổng lồ trên 29 tỷ đồng. Nhà nước đang giữ 75% cổ phần của tổng công ty này.

Lãnh đạo Bộ Tài chính, Bộ trưởng Vũ Văn Ninh cũng thừa nhận một sự phá sản có hệ thống từ những tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước thua lỗ khi ông cho biết thống kê cách đây 2 năm trước: Năm 2009, cả nước có 1.358 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài FDI hoạt động. Tuy nhiên, có tới 56% trong số này báo cáo làm ăn thua lỗ. Hầu như họ đều là những doanh nghiệp nhà nước hoặc có cổ phần của nhà nước.

Nhìn thất bại thê thảm như thế người ta có thể nói rằng một đằng do quản lý kinh tế, tài chính yếu kém, đằng khác phải có một động cơ to lớn đứng sau lưng, đó là một màng nhện rối mù nhằm hưởng lợi chia chác miếng bánh với nhau hoặc táo tợn tham gia vào đục khoét tham nhũng, rửa tiền hoặc lấy tiền nhà nước làm của riêng.

Sự tụt dốc về kinh tế đang đè nặng lên nợ công của Việt Nam, năm 2010 đã đạt đến mức 56,6% GDP: tổng sản lượng quốc gia. Mức nợ công kỷ lục của VN dưới triều đại của TT Nguyễn Tấn Dũng. Con số này so sánh với nợ công của Hy Lạp khoảng 1/3. Đây là một tiếng chuông báo động cho nền kinh tế VN, dù rằng nhiều chuyên gia kinh tế VN vẫn kiên định số nợ công của VN còn nằm trong ngưỡng cửa an toàn. Người bi quan cho rằng nợ công ở Việt Nam đang tăng nhanh và sẽ trở thành căn bệnh "kinh niên" của nền kinh tế. Đàng khác những tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước cứ tiếp tục thua lỗ - có nơi đã tuột dốc đến 3 năm rồi – thì lãi xuất của nợ công rõ ràng càng tăng lên cao.

Tình hình kinh tế lụn bại chưa từng xảy ra đang làm cho người dân VN xoay sở rất khó khăn trong thời bão giá trầm trọng này. Nạn lạm phát đang từ 8,93, nay trong tháng 3 đã phi mã tới mức độ báo động 13,89% khiến cho Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và Quỹ tiền tệ Quốc tế phải liên tục cảnh báo nhà nước csVN. Nơi đang đoạt giải quán quân gây sốc về lạm phát là TP Sàigòn với 14% so với năm vừa qua và cũng là mức cao nhất kể từ tháng 5/2008. Lại thêm một kỷ lục mới về lạm phát của TT Nguyễn Tấn Dũng khi ông hãnh diện đưa ra chỉ tiêu lạm phát chỉ đến ngưỡng 7% cho năm 2011. Ngoài ra nguồn ngoại tệ dự trữ của năm 2010 là 25,8 tỉ Đôla, bây giờ đã bốc hơi nhanh chóng mất đi một nửa còn 12,2 tỉ trong đầu năm 2011. Công ty xếp hạng tín nhiệm về đầu tư Moody's Investors Service Inc. cảnh báo rằng nếu nguồn ngoại tệ dự trữ tiếp tục giảm sẽ làm mất cán cân cân bằng kinh tế tại VN.

Nếu tính thêm nợ nước ngoài chúng ta sẽ thấy con số cứ vùn vú tăng lên cao cho nhà nước VN. Vào tháng 1/2011 Bộ Tài chính đã công bố bản tin nợ nước ngoài số 6 và cho biết trong năm 2010 VN đã vay thêm 1 tỉ USD, nâng tổng số nợ lên 29 tỉ USD, chiếm 42,2% GDP. Số tiền lãi phải trả cho chủ nợ nước ngoài thì Việt Nam phải cần trên 4 tỉ USD, tương đương 80.000 tỉ ĐVN để hoàn thành số nợ cho năm 2011. Các nhà kinh tế nhìn ra số tiền này đang chiếm đến 11,9% tổng chi ngân sách của VN.

Nhà nước csVN luôn có một biệt tài chạy chữa theo kiểu đột phá “vỡ chỗ nào đắp ngay chỗ đấy” hoặc là “đi tắt đón đầu” trong cảnh “dầu sôi lửa bỏng” đang làm cho cuộc sống của người dân điêu đứng lầm than về bão giá: thực phẩm, điện, nước, gas xăng dầu, nhà cửa, thuốc men, v.v… tăng lên như phi mã và cộng thêm với đồng tiền VN trượt giá. Dân nghèo cứ phải thắt lưng buộc bụng sống vất vưởng cho qua ngày.

Tiện nói về lạm phát chúng ta cần biết thêm một chút về Hy Lạp và Ireland. Tại Hy Lạp mức lạm phát trong năm 2010 tăng lên 5,4%, mức cao nhất từ 13 năm nay. Và Ireland cũng trong năm 2010 nạn lạm phát phi mã lên 5,6%, khi ấy trong khi khối Liên Minh Âu Châu đồng lòng lấy tiêu chuẩn ở mực cao nhất là 3%. Việc gì đã đến với hai quốc gia này thế giới đã biết tỏ tường: bị phá sản toàn diện, dân chúng lầm than với bão giá. Như thế, mức báo động đỏ 13,89% vượt kỷ lục lạm phát ở VN có làm cho người dân lo sợ không? Và VN đang tiến dần đến bờ vực thẳm phá sản chăng?

Đọc được 2 bình luận trong báo nhà nước, tờ mạng Vietstock (Thông tin dữ liệu tài chính kế toán kinh tế VN) vào ngày 20/04/2011 với tựa đề “Lạm phát của Việt Nam đứng thứ 2 thế giới” cho thấy tình hình kinh tế hiện tại rất khẩn trương. Nhìn vào các nước trong khu vực tại châu Á, họ chỉ có lạm phát từ mức 0 đến 6% mà thôi.

Tại diễn đàn mở của báo Vietstock chúng ta đọc được những bức xúc hiện tại của người dân, ví dụ điển hình qua:

- San (20/04/2011 - 14:44): Bao nhiêu năm liền gần đây lạm phát VN luôn ở mức quá cao, dân nghèo càng ngày càng khổ, mà sao không thấy ai phải chịu trách nhiệm nhỉ?

- Đỗ Trọng Tường (20/04/2011 - 12:22): Hoan hô VN ta đứng hạng nhì thế giới (về lạm phát). Thật là OAI - HOÀNH TRÁNG và vinh dự cho VN ta. Như vậy ta có đi ra ngoại quốc thì thế giới sẽ phải NGẢ NÓN mà kính nể TA chứ. Đây là một minh chứng hùng hồn cho sự TÀI LÃNH ĐẠO và điều hành kinh tế của đất nước. HY VỌNG rằng trong thời gian tới TA phải Đứng hạng 1 thế giới, thế mới thật là OAI hoàn hảo.

Trở về đống sắt vụn khổng lồ Vinashin, một điều thú vị khi tìm được các tài liệu của các năm cũ, một chi tiết cho chúng ta thấy nợ quá hạn của Vanashin vào năm 2008 khi được thanh tra kiểm đến chỉ là một con số rất nhỏ không đáng lo ngại cho một mũi nhọn kinh tế nhà nước hàng đầu: 3.812 tỉ đồng nợ. Đùng một cái, như cơn sóng thần Tsunami ụp đến, chỉ qua 2 năm sau tiền nợ đã trở thành 86.000 tỉ đồng. Kỷ lục của Việt Nam!

Một chi tiết khác chúng ta cần biết, theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước VN, tính đến 31/12/2008, tổng nợ tín dụng của 7 Tập Đoàn mũi nhọn quốc gia (Dầu khí, Than khoáng sản, Cao su, Dệt may, Công nghiệp Tàu thủy, Điện lực, Bưu chính Viễn thông) là 128.786 tỉ đồng, tăng nợ lên 20,54% so với cuối 2007, chiếm gần 10% so với tổng nợ tín dụng đối với nền kinh tế VN ở cùng thời điểm.

Như thế, những món nợ và thua lỗ của các tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước kể trên có thể tuột dốc theo dấu vết của chiếc tầu mũi nhọn Vinashin không? Thời gian sẽ là mức đo chính xác nhất cho họ và cho nhà nước csVN!

Cuộc cứu nguy nền kinh tế VN bằng cách xuất khẩu lao động hoặc là buôn nô lệ?

Theo cách nhìn của chính quyền csVN, qua cuộc Hội thảo Đánh giá thực trạng lao động đi làm việc ở nước ngoài đã trở về Việt Nam vừa diễn ra ở Hà Nội thì chương trình đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài đã trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn (Sic!), nhằm góp phần giải quyết nhiều vấn đề của lao động xã hội như giải quyết việc làm cho người dân.

Cách định nghĩa này xem thật mỹ miều và mang tính nhân văn kinh tế. Kế hoạch cứu nguy nền kinh tế này đã được thực hiện trong nhiều năm nay. Lý do chính đáng là lợi nhuận quá to lớn cho người ban hành luật về nó, còn công nhân đi lao động cũng có dịp cải thiện cuộc sống kinh tế cho riêng mình và gia đình, điều này không ai có thể phủ nhận về việc mang sức lực và mồ hôi đổi lấy cơm ăn áo mặc của họ. Nhiều người cũng đã dựa vào đó để đạt được thành quả tốt đẹp.

Một con số thống kê chính thức làm cho người đọc thấy được lợi nhuận đang nằm trong tay của nhà nước csVN. Theo báo cáo của Quỹ hỗ trợ XKLĐ thuộc Bộ LĐ-TB-XH vào tháng 3/2009 mở mắt cho chúng ta thấy một siêu lợi nhuận như sau: “… Từ năm 2004 (thời điểm thành lập) đến nay, Quỹ hỗ trợ XKLĐ đã thu tới hơn 92 tỷ US (Đôla Mỹ) nhưng đến nay Quỹ này mới chi hơn 2,4 tỷ. Theo Quyết định số 163/2004/QĐ-TTg, Quỹ hỗ trợ XKLĐ thuộc Bộ LĐ-TB-XH nhằm thực hiện việc phát triển thị trường lao động ngoài nước; nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của lao động VN trên thị trường lao động quốc tế; hỗ trợ rủi ro cho người lao động và doanh nghiệp trong hoạt động XKLĐ.”

Một cú làm ăn nhẹ nhàng, không tốn sức, giầu nhất mà lại nhàn nhất, chẳng cần phải bỏ vốn đầu tư mà siêu lợi nhuận mang về hàng tỉ Đôla Mỹ, hơn hẳn rất nhiều các tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước.

Vì thế khi trao đổi với Thời báo Kinh tế Sài Gòn ngày 23/3, ông Đào Công Hải, Phó Cục trưởng Cục quản lý lao động ngoài nước, Bộ LĐ-TB-XH khẳng định trong năm 2011, có thể hoàn thành chỉ tiêu đưa 87.000 lao động đi làm việc tại nước ngoài.

Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐ-TB-XH), năm 2010, các doanh nghiệp làm công tác xuất khẩu lao động Việt Nam đã đưa lao động đi làm việc ở hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ, với 85.546 lao động, đạt 100,64% kế hoạch, tăng 16,4% so với năm 2009.

Theo đánh giá của Cục Quản lý Lao động ngoài nước, hầu hết lao động nghèo đang có việc làm khá ổn định ở nước ngoài với mức thu nhập bình quân 4 triệu đồng đến 5 triệu đồng/tháng ở thị trường Malaysia; 6 triệu đồng đến 7 triệu đồng ở Libya, UAE và 15 triệu đồng đến 20 triệu đồng/tháng ở Nhật Bản, Hàn Quốc.

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cho biết con số của năm 2010 như sau:

28.499 lao động đi Đài Loan
11.741 lao động đi Malaysia
8.628 lao động đi Hàn Quốc
5.903 lao động đi Lào
5.242 lao động đi Libya
5.241 lao động đi UAE
4.913 lao động đi Nhật Bản
4.725 lao động đi đến các thị trường khác là
3.615 lao động đi Campuchia
3.124 lao động đi Macao
2.729 lao động đi Ả rập Xê út
1.204 lao động đi Bahrain

Cũng theo Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội báo cáo bảng thống kê từ năm 2007 đến tháng 6/2010 có 282.106 lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng chính thức, trong đó họ đi đến các quốc gia làm việc:

89.887 lao động đi Đài Loan
39.817 lao động đi Malaysia
39.382 lao động đi Hàn Quốc
32.196 lao động đi Khu vực Trung Đông
19.590 lao động đi Nhật Bản
12.092 lao động đi Khu vực châu Phi

Nhìn con số 282.106 lao động chính thức (chưa tính thêm vào con số lớn lao động chui) để có đủ hồ sơ nhận việc làm cũng như để xuất cảnh, chi phí cho cò, cho các công ty có chức năng xuất khẩu lao động, cho chính quyền địa phương, các tòa đại sứ, vé máy bay, v.v… Đổ đồng mỗi bộ hộ sơ người lao động phải ứng trước cả 10.000 USD, có chỗ việc làm tốt phải chi nhiều tiền hơn. Điều này đã mang lại gần 3 tỉ USD, so sánh hơn một nửa số nợ khổng lồ của đống sắt vụn Vanashin. Một sáng kiến buôn nô lệ của thời đại mới như là cách thức nhằm tăng cường kinh tế cho họ. Ngoài ra, hàng năm phải cộng thêm số tiền gửi về cho gia đình của những người đi lao động nước ngoài khoảng 2 tỉ USD (số ước tính qua các ngân hàng, con số gửi ngoài có thể lên cao hơn nữa).

Thêm một tin thú vị sốt dẻo và thật mới vào ngày 22/4, tại TP Cần Thơ, Bộ LĐ-TB-XH phối hợp cùng Bộ Tư pháp tổ chức hội nghị toàn quốc về “Hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài”. Tình trạng phụ nữ VN lấy chồng nước ngoài trở thành ồ ạt theo phong trào „ra đi xóa đói giảm nghèo“ và bên cảnh xuất cảnh lao động thì việc lấy chồng nước ngoài cũng được xem là một nền kinh tế mũi nhọn quan trọng hàng đầu. Qua những tổ chức trung gian, cò và chi phí cho nhà nước làm giấy tờ số tiền lên đến hàng tỉ Đôla Mỹ. Tại hội nghị này Thứ trưởng Bộ Tư pháp Đinh Trung Tụng cho biết: “Từ năm 1995-2010, cả nước có hơn 257.555 công dân VN kết hôn với người nước ngoài hoặc kết hôn với công dân định cư ở nước ngoài, trong đó có trên 80% là phụ nữ. Công dân VN đã kết hôn với công dân của hơn 50 quốc gia và vùng lãnh thổ”. Trong đó, Trung Quốc chiếm gần 11%, Đài Loan chiếm 30%, Mỹ gần 14 %, Hàn Quốc gần 13%... Theo thống kê của Văn phòng Kinh tế-Văn hóa Đài Bắc, hiện có hơn 100.000 cô dâu VN đã lấy chồng sang Đài Loan. Con số lấy chồng nước ngoài này cũng chẳng kém gì những người đang đi lao động nước ngoài trong 15 năm vừa qua.

Hiện nay, 539.661 người đi lao động nước ngoài và các chị em phụ nữ lấy chồng nước ngoài đang là một nguồn lợi vô tận (không vốn) cho nhà nước csVN.

Báo chí Mỹ phanh phui ra vụ “Lao Nô” Việt Nam tại Mỹ vào ngày 15/4/2011

Những ngày vừa qua bài toán cho sự bền vững của kế hoạch đưa người đi xuất khẩu lao động nước ngoài vẫn chưa thể giải quyết vẹn toàn, nếu ký giả Lise Olsen tờ báo Mỹ của Housten Chronicle, Texas phát hành ngày thứ sáu, 15/4/2011 không viết về tệ nạn buôn người lao động bất hợp pháp từ VN với tựa đề dựa theo bản dịch của anh Ba Sàm: „Họ là những “Lao Nô nhập cư” bị các công ty của Mỹ lừa? Công nhân Việt cáo buộc các công ty ở bên nhà đã bóc lột họ“. (Were they 'indentured servants'? Cheated by U.S. firms, Vietnamese allege homeland exploited them). Một bài báo dài lột tả rõ ràng những chi tiết đen tối đứng đằng sau sân khấu lấy tên Xuất khẩu Lao động của nhà nước csVN.

Vị thẩm phán của Quận Harry đưa ra quyết định một khoản tiền bồi thường chưa có tiền lệ là 60 triệu Đôla cho những thợ hàn người Việt được tuyên bố là đã bị các công ty cung ứng lao động của Mỹ bóc lột.

Đơn kiện xác định thủ phạm là hai công ty lớn của Việt Nam, cả hai công ty này đều do nhà nước (VN) sở hữu một phần: Công ty Dịch vụ và Đầu tư Thương mại, tên viết tắt là Interserco, và Tổng công ty Công nghiệp Ô tô, tên viết tắt là Vinamotors.

Luật sư của các công nhân này, Tony Buzbee, cho rằng các công ty có quan hệ với chính phủ Việt Nam nói trên đã cố tình tuyển dụng lừa đảo để xuất khẩu rất nhiều người lao động và bóc lột họ theo cách chiếm đoạt số tiền tiết kiệm của họ rồi đưa họ sang làm việc tại những công ty của Mỹ chỉ muốn thu lợi từ những nhân công “chung quy chỉ là những lao nô nhập cư.” Đơn kiện lên tòa án liên bang này đòi một khoản tiền bồi thường nữa là 100 triệu đô.

Một điều hèn hạ theo thói quen làm việc cẩu thả vô trách nhiệm của các vị đại diện của nhà nước csVN tại nước sở tại- nơi nào cũng thế, họ trốn tránh gặp gỡ báo chí. Tờ báo Housten Chronicle cho độc giả Mỹ biết thêm tình tiết:

Nhân viên tại tòa lãnh sự quán của Việt Nam ở Houston đã không nhấc máy trả lời những lời cáo buộc và những cuộc gọi tới tòa đại sứ Việt Nam ở Washington rồi được hướng dẫn là phải gọi tới lãnh sự quán ở Houston. Phát ngôn viên của tòa đại sứ đã không nhấc máy trả lời các cú điện thoại gọi tới hôm thứ Tư.

Lý do thưa kiện được tờ báo địa phương này viết rất rõ ràng:

Năm 2008, người lao động muốn được tuyển dụng phải trả ngay một khoản thủ tục phí lên tới 15.000 đôla – số tiền này được gom từ tiền thế chấp nhà cửa, bán phương tiện làm ăn sinh sống và vay mượn tiền tiết kiệm cả đời của những người họ hàng. Để đổi lại, họ được hứa hẹn sẽ nhận được tổng số tiền công vào khoảng 100.000 đôla cho một hợp đồng kéo dài 30 tháng.

Sau khi sang tới Mỹ, những công nhân này được đưa tới sống trong “những ngôi nhà như dành cho súc vật”, “bị đối xử như những lao nô nhập cư” và bị sa thải sau 8 tháng khi chính các công ty môi giới này dự định thay họ bằng những chuyến hàng mới và do đó là những khoản thanh toán thủ tục phí mới, theo các cuộc phỏng vấn và theo đơn kiện được đệ trình lên tòa án liên bang hàng quận ở Galveston.

“Đây là cường quốc và chúng tôi không thể tin nổi, rút cục chúng tôi đã bị lừa như thế này, công ty đang lừa chúng tôi,” Ngo Ba Chin, một người trong số những công nhân nói trên đã trả lời báo Chronicle thông qua một người phiên dịch. Tình cảnh ở đây tồi tệ hơn bất cứ nước nào khác mà anh ta từng tới làm việc chẳng hạn như Nga, Hàn Quốc và Lybia. “Không khác gì đi tù.”

Vấn đề ngoại giao được đặt ra về nhân quyền và quyền của người lao động do tờ báo Housten Chronicle tiếp tục luận cứ:

Bộ Ngoại giao Mỹ công bố từ rất lâu trước đây đã chỉ trích chính phủ Việt Nam không bảo vệ công dân của mình khỏi nạn buôn người trong đó bao gồm cả việc “các công ty xuất khẩu lao động của Việt Nam”, hầu hết là những công ty của nhà nước, đã thu những khoản phí bất hợp pháp và quá cao. Những khoản phí này thuộc loại “cao nhất” so với mức phí của “nhân công nước ngoài đến từ tất cả các nước châu Á khác”, điều này khiến cho họ rất dễ bị rơi vào tình trạng bị trói chặt vì nợ nần và lao động cưỡng bách,” Báo cáo năm 2010 về tình hình buôn người do Bộ Ngoại giao công bố đã viết như vậy.- Hết trích.

Như thế, lần này nhà nước csVN sẽ phải muối mặt đối diện với dư luận của người dân Hoa Kỳ đang giơ tay chỉ đích danh kẻ buôn người bất hợp pháp mà nhà nước csVN luôn tìm cách dối trá che đậy. Nếu cuộc kiện cáo này còn kéo dài nơi pháp đình của nước Hoa Kỳ tự do và báo chí có dịp khui thêm ra các ngõ ngách lừa đảo đưa dân VN đi làm nô lệ thì e rằng nhà nước VN phải cúi đầu nhục nhã nhận tội. Một điều ai cũng biết - chính quyền sở tại cũng như người VN sống tại nước ngoài, mọi người rõ ràng nhìn thấy cánh tay vươn dài của một hệ thống buôn người trái phép của csVN chính là những tòa đại sứ, lãnh sự VN ở nước ngoài. Đối với hạng người này chỉ biết có tiền, tiền và tiền…, và họ sẵn sàng hành hạ dân của mình sống ở nước ngoài để nhận được tiền đưa tay. Ai đang ở Mã Lai luôn biết rõ rằng khi gọi điện thoại vào sứ quán VN thì cả ngày không có ai chịu bắt máy nghe.

Tạm kết

Tiền đề viết cho chủ đề bài này: Phải chăng kẻ chiến thắng cam tâm tình nguyện đi làm „lao nô“ cho quân thù? cho thấy điều ấy đã trở thành hiện thực ngay trên quê hương của đế quốc Mỹ. Rồi kẻ chiến thắng, được gọi là cs Bắc Việt phải cúi đầu chịu nhận án xử từ chiếc búa công lý tại toà án Mỹ.

Ký giả Lise Olsen phải là một người rất am tường về Việt Nam cũng như về kế hoạch buôn người trái phép của csVN để tố cáo “kẻ chiến thắng” với những lời lẽ đanh thép. Thiết tưởng rằng nếu chúng ta thêm lời bình luận vào cũng bằng thừa.

Nơi đây chúng ta nên đặt câu hỏi cho người cs Bắc Việt: Đâu rồi chiến thắng thần thánh của 30 tháng 4 năm 1975? Đâu rồi lý tưởng giải phóng đánh đuổi thực dân, chống lại bóc lột của tư bản? Đâu rồi một thiên đường cộng sản xã hội chủ nghĩa luôn hão huyền hứa hẹn cho dân tộc VN từ 66 năm nay?

Không lẽ người cộng sản VN đang phản bội lại lý tưởng cao quý của mình để dã tâm trở thành một kẻ mang chính dân mình bán đi làm nô lệ cho những kẻ tử thù đã thất bại khi đối địch trong cuộc chiến như đế quốc Mỹ và thực dân Pháp, nếu thêm các Đồng Minh tư bản tự do khác vào nữa như Nam Hàn, Nhật Bản, Đài Loan, Mã Lai…? Hoặc diễn tả theo cách khác: việc buôn người cho kẻ thù tư bản là nguồn lợi nhuận duy nhất và đang là kế hoạch mũi nhọn cứu nguy nền kinh tế của người chiến thắng, cs Bắc Việt! Nếu đúng như thế thì Lao Nô đi bán sức mình cho bọn “Tư Bản giãy chết” nước ngoài đang trở thành người “Con Cả rất tốt bụng” nằm trong diện kinh tế vĩ mô “giàu nhanh mà nhàn” của nhà nước csVN. Đểu cáng đến mức tận cùng lúc được nghe từ cửa miệng một vị quan to ở Hà Nội phán ra rằng: “Đấy, nhà nước thật lòng muốn giúp dân xóa đói giảm nghèo, cải thiện cuộc sống cho họ!”.

Một câu hát trong bản nhạc Chiều Tây Đô được phép tạm kết cho bài viết này: “… Bao năm giải phóng như thế này phải không anh ?”.

… với vài phút mặc niệm cho ngày 30/4/1975

http://www.vietcatholic.net/News/Html/89465.htm

NHỮNG NGƯỜI ĐÃ TỪNG LÀ CỘNG SẢN – HỌ ĐÃ NÓI và VIẾT NHỮNG GÌ ?

Cháu ngoan bác Hồ
Hãy thông thả đọc mới thấu hiểu hết tư tưởng hcm dzĩ đại


Họ đã nói và viết những gì?

Nguyễn Hộ người có 55 tuổi đảng, Chủ Tịch Đoàn Chủ Tịch Mặt Trận Tổ Quốc Trung Ương, thủ lãnh của Nhóm Truyền Thống Kháng Chiến, viết trong tập hồi ký Quan Điểm Và Cuộc Sống: "Ngày 21/3/1990 tôi rời khỏi Saigòn cũng là ngày tôi rời khỏi Đảng CSVN. Tôi làm cách mạng đã 56 năm, gia đình tôi có 2 liệt sĩ, Nguyễn Văn Đào, anh ruột, Đại Tá QĐNDVN, hy sinh ngày 9/1/1966 tại Củ Chi, và vợ tôi Trần Thị Thiệt bị bắt và chết tại Tổng Nha Cảnh Sát Sài gòn vào tết Mậu Thân 1968 nhưng phải thú nhận rằng tôi đã chọn sai lý tưởng: Cộng Sản Chủ Nghĩa. Bởi vì suốt hơn 60 năm trên con đường cách mạng ấy nhân dân Việt Nam đã chịu hy sinh quá lớn lao nhưng cuối cùng chẳng được gì, đất nước vẫn nghèo nàn lạc hậu, nhân dân không có ấm no hạnh phúc, không có dân chủ tự do. Đó là điều sĩ nhục (nguồn: Wikipedia)".

Nguyễn Minh Cần, nguyên Phó Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội, nguyên Đại Sứ Cộng Sản Hà Nội tại Liên Sô, ghi lại tính tàn độc và lưu manh của Đảng Cộng Sản trong cuộc Cải Cách Ruộng Đất 1953-1956: "Giết oan hàng trăm ngàn người, đầy ải hàng triệu người, làm cho đạo lý suy đồi luân thường đảo ngược. Tại cuộc mít tinh tối 29/10/1956, ông Võ Nguyên Giáp chỉ cho biết con số 12 nghìn cán bộ và đảng viên đã được trả tự do mà thôi! Con số đó đúng hay không, ai mà biết được! Tóm lại, những con số về người bị thiệt mạng trong CCRĐ vẫn chưa xác định được. Dù thế nào chăng nữa, với những con số ước tính đã cho thấy đây là một tội ác tày trời. Tội ác này chính là tội ác chống nhân loại" (Nguyễn Minh Cần, Xin Đừng Quên Bài Học Cải Cách Ruộng Đất Nửa Thế Kỷ Trước)

Trung Tướng Trần Độ, Cựu Phó Chủ Tịch Quốc Hội, viết: "Cuộc cách mạng ở Việt Nam đã đập tan và xoá bỏ được một chính quyền thực dân phong kiến, một xã hội nô lệ, mất nước, đói nghèo, nhục nhã. Nhưng lại xây dựng nên một xã hội nhiều bất công, nhiều tệ nạn, một chính quyền phản dân chủ, chuyên chế, một chế độ độc đảng và toàn trị, nhiều thói xấu giống như và tệ hơn là trong chế độ cũ…” Và trong một lần nói chuyện, khi được hỏi về chế độ lao tù, ông nói “Nếu nhà tù Pháp thời xưa mà giống nhà tù cộng sản bây giờ thì chúng tôi chết lâu rồi, làm gì còn có người vượt ngục". Cuối cùng, để biện minh cho những đóng góp của mình vào chế độ, ông Trần Độ làm bốn câu thơ:

Những mơ xoá ác ở trên đời,
Ta phó thân ta với đất trời
Ác xoá đi, thay bằng cực thiện
Tháng ngày biến hoá, ác luân hồi.
(Nguồn: Trần Độ- Nhật Ký Rồng Rắn)



Hoàng Minh Chính gia nhập đảng từ năm 1939, Phó Viện Trưởng Trường Nguyễn Ái Quốc kiêm Viện Trưởng Viện Triết học Mác-Lênin trong một bài phát biểu đã than thở rằng “Người dân dưới chế độ cộng sản đã bị áp bức tệ hại hơn cả thời còn mồ ma thực dân đế quốc. Ngay cả thời kỳ nô lệ, người dân ai muốn ra báo cũng chỉ cần nộp một giấy xin phép và bản lưu chiểu. Điển hình là cụ Huỳnh Thúc Kháng bị thực dân Pháp xử 13 năm tù về tội chống Pháp và bị đầy ra Côn Đảo từ năm 1908 đến năm 1921 mới được trả tự do. Khi mãn hạn tù cụ được thả về Huế, tại đây, cụ đắc cử dân biểu năm 1926, rồi được cử làm Viện trưởng Viện Dân Biểu Trung Kỳ và đứng ra xuất bản tờ báo Tiếng Dân. Một người bị tù vì tội chống thực dân còn được thực dân cho ra báo trong khi đó một người từng nắm giữ chức Phó Chủ Tịch Quốc Hội của chế độ mà xin phép ra một tờ báo cũng không được". (nguồn: Wikipedia)



Cũng nên biết rằng năm 1946 cụ Huỳnh Thúc Kháng đã giữ chức Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ trong Nội Các Chính Phủ Liên Hiệp và giữ chức Quyền Chủ Tịch Nước trong khi Hồ Chí Minh đi Pháp tham dự Hội Nghị Fontainebleau. Như vậy không thể gán ghép cụ Huỳnh là Việt Gian hay nói cụ Huỳnh vì thỏa hiệp với Pháp nên đã được Pháp cho ra báo.

Trần Lâm sinh năm 1925 vào đảng năm 1947, Vụ phó Ủy Ban Kế Hoạch Nhà nước, thẩm phán Tòa Án Nhân Dân Tối Cao, đã viết trong bài “Những dòng suy nghĩ từ Đại hội đến Quốc hội” số tháng 9/2007: "Đảng thì luôn nói Quốc hội là của dân, do dân, vì dân. Người hiểu biết trong dân thì coi Quốc hội là bù nhìn. Đảng và Nhà nước tổ chức bầu cử, biết đây là kiểu dàn dựng, nhưng cứ làm".

Trần Quốc Thuận, Phó chủ nhiệm văn phòng Quốc Hội CSVN, trả lời phỏng vấn của báo Thanh Niên: “Cơ chế hiện nay tạo kẽ hở cho tham nhũng vơ vét tiền của của nhà nước... Nhưng cái mà chúng ta mất lớn nhất lại không phải là tiền, dù số tiền bị mất lên đến hằng trăm tỷ, mà cái lớn nhất bị mất là đạo đức. Chúng ta hiện sống trong một xã hội mà chúng ta phải nói dối với nhau để sống. Nói dối hằng ngày trở thành thói quen, rồi thói quen đó lặp lại nhiều lần thành đạo đức mà cái đạo đức đó rất mất đạo đức”.

Nguyễn Khải, nhà văn, Đại Tá, Đại Biểu Quốc Hội, Phó Tổng Thư Ký Hội Nhà Văn CS, đã viết trong “Đi Tìm Cái Tôi Đã Mất”: “Ngôn từ là mặt yếu nhất trong các lãnh vực thượng tầng cấu trúc tại các nước xã hội chủ nghĩa vì lãnh đạo các nước đó dùng ngôn từ để che đậy... Người cộng sản nói dối lem lém, nói dối lì lợm, nói dối không hề biết xấu hổ và không hề run sợ . Người dân vì muốn sống còn cũng đành phải dối trá theo”.

Nguyễn Văn Trấn, con hùm xám Chợ Đệm Mỹ Tho, Phụ Tá Bí Thư Đảng Ủy Nam Bộ (1944), Chỉ Huy Trưởng Kiêm Bí Thư Quân Ủy Quân Khu 9 (1947), Chủ Nhiệm Văn Phòng Phó Thủ Tướng, Chủ Nhiệm Ủy Ban Kế Hoạch Thống Nhất Toàn Quốc (1962-1974). thì nói huỵch tẹt theo lối nói Miền Nam: "Tội ác của chế độ này, từ 40 năm nay, thật nói không hết". (Viết Cho Mẹ và Quốc Hội trang 345, nhà xuất bản Văn Nghệ, 1995)

Nguyễn Văn An, cựu ủy viên Bộ Chính Trị Cộng Sản Việt Nam, trưởng Ban Tổ Chức Trung Ương Ðảng và là chủ tịch Quốc Hội từ 2001 đến 2006, có lúc đã hy vọng lên làm Tổng Bí Thư, trong một bài phỏng vấn mới xuất hiện trên mạng lưới Tuần Việt Nam xuất bản trong nước đã nói “Đảng đã mắc phải lỗi hệ thống và đã sai lầm ngay từ nền tảng”. Ông giải thích: “Lỗi hệ thống là lỗi từ gốc đến ngọn, từ lý thuyết đến mô hình”.

Và còn rất nhiều, rất nhiều nữa những trăn trở phản tỉnh của: Lê Hồng Hà Cục Trưởng Cục An Ninh Bộ Công An, Lê Liêm Cục Nội Chính, Nguyễn Trung Thành Cục Trưởng Cục Bảo Vệ Đảng, Nguyễn Văn Hiếu Ủy Viên Thường Trực Mặt Trận Tổ Quốc, Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh nguyên Đại Sứ Hà Nội tại Trung Cộng, Đại Tá Bùi Tín Phó Tổng Biên Tâp tờ Nhân Dân, Đại Tá Phạm Quế Dương Viện Quân Sử Hà Nội, Trung Tá Trần Anh Kim người anh hùng chống cuộc xâm lăng từ phương Bắc năm 1979, Sứ Thần Dương Danh Dy, đại diện Hà Nội tại Trung Quốc, và các ông Hà Sĩ Phu, Bùi Minh Quốc, Trần Vàng Sao cùng những tuổi trẻ được sinh ra và trưởng thành trong chế độ như Luật Sư Lê Thị Công Nhân, Lê Công Định, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Tiến Trung, Phạm Thanh Nghiên, Phạm Hồng Sơn, Trần Huỳnh Duy Thức, Trần Khải Thanh Thủy, Cù Huy Hà Vũ, Điếu Cày, Mẹ Nấm, Người Buôn Gió… Nhiều lắm, nhiều lắm, biết kể sao cho hết.

Đứng trước sự phẫn nộ của người dân và một số người ý thức trong đảng, Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh trong một lần nói chuyện tại Hội Các Nhà Văn đành phải hô hào cởi trói cho văn nghệ (có nghĩa là Đảng coi giới văn nghệ sĩ như loài cầm thú) và cựu Thủ Tướng Võ Văn Kiệt thì hô hào: “Đổi mới hay là chết”. Mà đổi mới là gì? Là cóp nhặt và làm theo những gì Miền Nam đã làm từ mấy chục năm về trước. Cũng chính nhờ biết “đổi mới” nên người dân Việt Nam mới có gạo ăn, thay vì cho mãi đến những năm 1989-1990, suốt mấy chục năm trong thời bao cấp, ngoại trừ đảng viên cán bộ và công an là được ăn cơm, còn tuyệt đại đa số nhân dân phải ăn bo bo là loại đồ ăn dành cho bò cho ngựa và mỗi chén cơm có tới hai phần là ngô khoai sắn độn.

Thế là sau cuộc cách mạng long trời lở đất với hơn ba chục năm khói lửa, máu chảy thành sông, xương cao hơn núi, Cộng Sản Hà Nội lại phải đi theo những gì trước đây họ từng hô hào phá bỏ tiêu diệt. Từ ba dòng thác cách mạng chuyên chính vô sản, hy sinh hơn bốn triệu mạng người, đi lòng dòng gần nửa thế kỷ, Cộng Sản Hà Nội lại phải rập khuôn theo mô hình của Miền Nam. Theo bản công bố của Bộ Lao Động Thương Binh Xã Hội phổ biến ngày 14-12-1998 trên đài Hà Nội thì phía Cộng Sản Bắc Việt đã chết trên 3 triệu người. Quảng Nam, Quảng Bình bị thiệt hại nặng nhất, trung bình mỗi gia đình một người. Miền Nam có 300,000 quân nhân tử trận. Theo ông Nguyễn Hộ trong Quan Điểm và Cuộc Sống thì cả hai miền Nam Bắc đã chết trên 11 triệu người. Cái giá phải trả quá đắt!
Lê Minh Khôi





================================

Cháu ngoan Hồ tặc

Trí thức thổ tả

Những người Việt Nam ở ngoại quốc có học vị cao rất nhiều, họ giỏi về chuyên môn, nhưng một số lớn còn rất kém cỏi về trình độ chính trị. Vì thế nên họ dễ bị cộng sản tuyên truyền rồi trở thành mù quáng, quá tin tưởng vào cái thiên đàng bánh vẽ của XHCN và cái lý thuyết trời ơi đất hỡi của đảng Cộng Sản. Ngày xưa (trước năm 1975) thì không nói làm gì, vì lúc đó lịch sử chưa sang trang, chưa rõ ràng; lại đi du học ngoại quốc với nổi dằn vặt quê hương đang có chiến tranh thì hình ảnh người lính bộ đội bắc Việt hay du kích của MTGPMN dễ làm cho người Việt trí thức ở ngoại quốc suy nghĩ thiên vị, không rõ đâu là chính nghĩa. Có lẽ đó là một phần nguyên nhân đã khiến họ trở thành thiên tả. Ngay tại Sài gòn vào thờì chiến tranh, sinh viên mà cứ mải, ham đọc những tạp chí như “Đối Diện,” “Thức Tỉnh” của Linh Mục Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan… là muốn cuốn gói vô Hố Bò, Tam Giác Sắt, Chiến Khu Đ rồi; Đâu cần dùng tới bộ máy tuyên truyền bất kể hao tốn của Việt cộng.

Nhưng mà… đảng Cộng Sản đã cai trị đất nước trên 32 năm rồi, hồ sơ sử liệu đã được bạch hóa, cùng với sự lên tiếng của những nhân chứng còn sống từng là nạn nhân của chế độ Cộng Sản bạo tàn đầy rẩy đây mà.

Mình đâu có sống dai để đủ kiếp học hết bài học đắng cay này đến bài học cay đắng khác từ Cộng Sản. Hãy nhìn lại nổi đắng cay nghiệt ngã của kẻ đã đi vào quỹ đạo của CS. Họ là “trí thức” chứ không phải là bần nông khố rách ít học. Họ đã được cộng sản Hà nội trả công khuyển mã của họ cái gì?

Thời xa xưa kia, Nguyễn Văn Trấn (đại gia chợ Đệm) [1], Dương Bạch Mai (đại địa chủ, “parler francais” như gió) Trần Văn Giàu (lý thuyết gia Cộng Sản, công lao qúa xá trời trong Nam). Những người nầy đã cúng dường tam bảo CS không biết bao nhiêu của cải, tim óc, sức lực của mình cho “cách mạng” trong thời Việt minh còn mặc quần xà lỏong chơi tầm vông vạt nhọn. Năm 1975, khi về Nam, ông “khai quốc công thần” Nguyễn Văn Trấn “được” bộ chính trị CS cho công an “hầu hạ” canh gác cửa 24/24 vì thấy thả hổ về rừng nguy hiểm quá… Mấy chục năm công lao mà CS chỉ cho người ta chức “Bật Mã Ôn” (giữ ngựa) thì lỡ người ta quậy thì sao? Trần Văn Giàu thì đã bị thất sủng từ lâu lắm rồi. Chủ Tịch Quốc Hội Dương Bạch Mai thì phổi bò và thẳng ruột ngựa Nam Kỳ nên được đảng cho đi chầu Lenin sớm để vừa tiện sổ sách vừa tiết kiệm ngân quỹ nhà nước. Nên biết Dương Bạch Mai chết trong lúc nghỉ giải lao trong một phiên họp quốc hội CS. Nhiều nguồn tin cho biết Dương Bạch Mai uống chén nước trà bị bỏ thuốc độc(?!) Cay hơn nữa là Dương Bạch Mai còn được chính ngay kẻ đã “trừ khử” mình đến dự tang lễ làm tuồng khóc thống thiết “kính chúc đồng chí chết mạnh giỏi!”. Thế mới biết chính trị cao là gì!

Gần hơn chút nữa, những tay “trí thức” của MTGPMN anh hùng làm được trò trống gì sau ngày 30 tháng 4 năm 1975? Nguyễn Hữu Thọ, “người” được “Bác” giao cho nhiệm vụ lãnh đạo mặt trợn và cũng là “người” đã đi đến cuối con đường… đã hoàn thành một cách xuất sắc nhiệm vụ mà dân tộc đã giao cho…” Ai có theo dõi tin tức, báo chí cũng biết thân phận của “người” này như thế nào trước khi đi chầu “Bác” rồi. Nguyễn Thị Định (người Giồng Trôm, Bến Tre) chưa hề biết sờ (hay bóp) cò súng đến một lần lấy hên mà lại được CS phong là “nữ tướng tóc dài,” “tư lịnh phó lực lương võ trang quân đội Giải phóng,” trong khi kẻ nhắc tuồng cho em Định là đồng chí Nguyễn Chí Thanh – một cánh tay dài của Hà nội. Sau ngày MTGPMN bị xóa sổ, em Định được làm cái giống gì (?) ở chức vụ “thứ truởng Bộ Thương Binh” và “chủ tịt hội liên hiệp phụ nữ?”. Nguyễn Thị Bình (tên thật là Nguyễn Châu Sa sinh tại Sa đéc, đổi tên mới là Nguyễn Thị Bình vào năm 1962) “được” làm “phó chủ tịch nhà nước,” “phó trưởng Ban Đối Ngoại trung Ương Đảng.” Mấy cái "hàm" "phó" và "thứ" đó cũng chỉ lại là những cái chức ngồi chơi xơi nuớc cho đẹp mắt với bà con miền Nam, đâu có ý nghĩa gì trong chế độ lúc nào cũng duy trì các Nhiếp Chính Vương (còn gọi là bộ chính trị - nếu thu hẹp hơn thì có Duẩn, Thọ, sau nầy thì thêm Mười, Anh…), khi các Nhiếp Chính Vương nầy phát cân đai áo mão cho ai thì hãy coi như hồng ân từ Bác và đảng. Sống dưới thời buổi “độc lập tự do hạnh phúc” mà “than vãn” thì cũng được CS xem như đồng nghĩa với đang chán sống; có mà tiêu tùng sớm. Còn ông giám đốc công ty đường thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm là ông Trương Như Tảng đường mía nữa chứ! Me xừ này phải chờ đến lúc CS thu hết miền Nam mới biết “đường” nào là đường trắng, đường nào là đường thẻ, may phước gài kịp “số de,” chứ chậm chân một chút nữa có thể bị tai nạn lưu thông chết hết cả nhà (như trường hợp kịch tác gia Lưu Quang Vũ và gia đình). Đề nghị “trí thức” phe ta nên đọc cuốn “memoir” (mémoire) của cái gọi là “tảng đường mía chết hụt này” để cho sáng mắt sáng lòng.

Thôi, phải cất công nói chi cho xa xôi, tấm gương sát bên mình là thầy (?) Châu Tâm Luân [2], bà (?) Ngô Bá Thành [3], ông Chu Phạm Ngọc Sơn, Trần Ngọc Liễng… bằng cấp treo đầy cả tường, nhìn phát chóng mặt… hay là các ông cố đạo Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín không lo phận sự rao giảng phúc âm của Chúa mà cứ lo nói xa nói gần để ru ngủ người mọi người dân miền Nam bỏ súng hướng về xã hội “thiên đường.” Nhưng ngay chính cá nhân của mình lại phải đợi được đối diện thật sự với “thiên đường” (?) mới “thức tỉnh” (!)

Đừng mong đợi người Cộng Sản đang ngồi ghế lãnh đạo hồi tâm (còn được gọi cho hoa mỹ mị dân là “đổi mới”). Họ tra thêm son trét thêm phấn vào mặt, thay đổi ngoại hình chút chút để dễ diển màn (bỉ ổi) khác thôi. Trí thức tay mơ thấy gái bia ôm lên giọng “em đang đổi mới” mà lại dại dột “yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ” là bỏ mẹ cả đám. Cứ rước em về nâng khai sửa tráp (văn chương bình dân giáo dục gọi là “nâng bi sửa d..”) đi, ba bảy 21 ngày là biết liền hà... Cộng Sản là cái gì? Bộ Chính Trị là cái quái gì trong trào lưu dân chủ trên thế giới ngày nay? Các trào lưu dân chủ và nhân quyền đang làm cho họ xanh mặt, tóat mồ hôi… trán. Ở ngoài mặt họ vẫn đang khoác cái áo Cộng Sản chứ thật ra họ là đại tư bản từ lâu rồi. Phải giữ cái áo cộng sản thì họ mới có thể chơi ngang, đàn áp, cầm tù, bịt mồm và cướp giật của người dân đồng thời bảo vệ tài sản đã vơ vét mà không sợ pháp luật! “Organized Crime” ở Mỹ như Mafia chỉ đáng sách dép cho mấy tên CSVN.

Trí thức mà quá kém cỏi về sự gian xảo trong chính trị thì thua là phải rồi… nhưng mà cũng thấy tội nghiệp cho cái đám trí thức lọai này, đến giờ này vẫn còn muốn thua thêm chút nữa cho nó trọn vẹn, cho nó đầy đủ, hòan tất cho nó xong phim! Bởi vậy nên anh Ba Bếp (tên gọi của “Bác” Hồ khi lên làm việc đầu bếp trên tầu buôn của Pháp từ hãng nhà Rồng Sài Gòn 1910?) đâu cần học hành gì nhiều cho tốn thời giờ! Từ ngày anh Ba (bếp) bị quan Tây bác đơn (1911) xin học trường hậu bổ (của Tây thuộc địa) để làm quan cho Tây, anh Ba hơi căm, chuyển qua học nghề làm chính trị gian ác nên sai khiến hết đám trí thức nhẹ dạ dễ dàng như lấy đồ trong túi ra. Thấy mà tội nghiệp!!!

Phụ Chú:
[1] Nguyễn Văn Trấn đây là Bảy Trấn (chứ không phải là ông Nguyễn Văn Trấn hậu sinh nào đó mới “về thăm Việt Nam sau 32 năm” đâu!) Đây là Trấn “Camel” (dân cậu miệt vườn, chỉ hút thuốc lá hiệu Camel) người chợ Đệm Long An, loại trí thức địa chủ, một đại thụ của Cộng Sản thời thập niên 30… Đại thụ nầy là tác gỉa cuốn sách “Viết Cho Mẹ Và Quốc Hội;”(để chửi xéo đảng CSVN). Hắn cùng cỡ tuổi với các tên trùm CS như Trần Văn Giàu, Dương Bạch Mai, Ung Văn Khiêm… đã bỏ lúa ruộng không ai thâu, nhà lầu không ai ở để đi theo Cộng Sản. Nguyễn Văn Trấn đã từng là chính ủy Khu 9 (miền Tây Nam bộ), chủ nhiệm báo “Le Peuple” đấu tranh công khai với thực dân thời Cộng Sản miền Nam như vịt mới ra ràng. Tập kết ra bắc (cùng lúc với Tô Ký, Đồng Văn Cống, Huỳnh Văn Nghệ...) Sau này Lê Duẩn không cho Nguyễn Văn Trấn được đến một cục xương còn dính chút thịt để gặm cho đỡ tủi! Về Nam sau năm 75, chả có chức vụ gì dù đã có 62 tuổi đảng (tính đến năm 1997), ôm nỗi uất ức cho tới ngày chết.

[2] Châu Tâm Luân người Việt gốc “xì dầu củ cải muối,” được đi du học Hoa Kỳ bằng học bổng quốc gia của VNCH, tốt nghiệp tiến sĩ Kinh Tế (Đại Học Illinois năm 1966), về Việt Nam cuối thập niên 60, dậy môn “Kinh Tế Nông Thôn” và “Quản Trị Nông Trại” tại Trung Tâm Quốc Gia Nông Nghiệp (TTQGNN) Sài Gòn (và cũng dậy môn Kinh Tế tại Đại Học Vạn Hạnh). Ông Châu Tâm Luân đã có lần giữ chức vụ “giám đốc” TTQGNN (gồm cả 3 trường Cao Đẳng Canh Nông, Cao Đẳng Thủy Lâm và Cao Đẳng Thú Y Sài Gòn) trong một thời gian ngắn (vào giai đọan mà các chính trị gia mới trổ mã dậy thì Hùynh Tấn Mẫm và Lê Văn Nuôi sách động sinh viên, học sinh Sài gòn “xuống đường” biểu tình chống Mỹ và chống chính phủ VNCH mạnh mẽ nhất). Trong các lớp học Kinh Tế mà ông Luân dậy, ông công khai giảng cho sinh viên là “xã hội chủ nghĩa là con đường duy nhất (sic) để đưa Việt Nam đến vinh quang (Giỏi nhỉ! Tiến sĩ củ cải này chép y chang lại lời của việt gian HCM)” mà không hề thấy ông ta bị công an cảnh sát của chính phủ VNCH đến hỏi thăm (?) – Có lẽ ông ta “too visible!” lúc bấy giờ vì thường xuyên được truyền thông của Mỹ đến trường phóng vấn dài dài (đài CBS, NBC, ABC…) Vào những năm, những ngày cuối cùng của VNCH, xì thẩu Châu Tâm Luân đứng cùng danh sách với các nhân vật của “thành phần (lòng thòng ở chính giữa!) gọi là thứ 3,” rất ồn ào hô hào hòa giải hòa hợp dân tộc… Sau 30 tháng 4 năm 1975, con vẹt ngây thơ này không được CS dùng đến 1 ngày để quét lá đa (không phải đi “cải tạo” vì đã tốt nghiệp tiến sĩ tại Hoa kỳ là may lắm rồi). Sau đó ông Châu Tâm Luân trốn vượt biên đi định cư ở ngọai quốc (định cư ở Thụy sĩ?) Chứ Mỹ chắc chắn là họ không chấp nhận con két “thổ tả” này!)

[3] Bà (?) Ngô Bá Thành tên thật là Phạm Thị Thanh Vân (Ngô bá Thành là tên chồng của bà). Ông Ngô Bá Thành cũng là công chức của VNCH, dậy học trường Cao Đẳng Canh Nông Sài Gòn. Kể ra chính phủ VNCH dân chủ và dễ dãi thiệt, vẫn trả lương tháng đầy đủ, vẫn cho ông Ngô Bá Thành dậy học như chẳng hề có chuyện gì xẩy ra… Bà Thành tốt nghiệp tiến sĩ Luật tại Pháp và sau đó có học và làm việc trong một thời gian ngắn tại Đại Học Columbia (New York) Hoa Kỳ. Ở Sài Gòn, bà Ngô bá láp này tự phong cho mình là “chủ tịt” của “Phong trào phụ nữ đòi quyền sướng;” biểu tình, tuyệt thực chống chính phủ VNCH (và sự hiện diện của đồng minh ở Việt Nam) rất kịch liệt. Sau 30 tháng 4 năm 1975 được CS cho làm đại biểu Quốc Hội CS trong 3 khóa (6,7 và 8). Đến khóa 9 thì bị gạt ra. Bà chỉ tuyên bố sự tức giận của mình (bà cho là mình bị gian lận bầu cử? Xin nhờ bà một tí: Chế độ CS làm quái gì có bầu cử một cách dân chủ?) qua sự phỏng vấn của đài BBC chứ chả bao giờ dám biểu tình hay tuyệt thực gì cả? (nên biết, CS chỉ chờ bà này tuyệt thực là tụi nó “cúp” nước luôn thì có mà uống nước tè!) . . .

Trần Văn Giang





Cháu ngoan Hồ phỉ

Đàn cá trong ao Hồ tặc

Lê Diễn Đức



Kể về bản thân là chuyện nên kỵ. Nói về cái dở thì không sao, nhưng nói cái hay, dễ bị coi là khoe mẽ. Vì thế, tôi thỉnh cầu trước một sự châm chước.

Tôi có ý định lấy chính mình làm điểm xuất phát để bàn về một chuyện khác. Về những cay đắng của một con người. Như một ví dụ. Chẳng phải để dạy dỗ ai (làm gì dám cho mình ghê thế!). Cũng chẳng khoác cái áo “dân chủ, nhân quyền” gì ráo trọi. Càng không nhân danh trí thức. Đơn giản chỉ là những nghĩ suy. Một kinh nghiệm.

Khi mới ở tuổi lên mười, tôi đã đạt danh hiệu “Cháu ngoan Bác Hồ”. Năm 1967 tôi được Hồ Chí Minh trao phần thưởng cho kết quả học tập xuất sắc với tất cả 14 môn học đạt điểm cao nhất. Đó là một cuốn sổ tay kích thước khoảng 20 x 15cm, giấy trắng tinh, bìa cứng láng bóng, màu xanh dương, có in hình Hồ Chí Minh chụp thẳng và dòng chữ phía dưới “Giải thưởng của Hồ Chủ Tịch”. Với tôi, gia đình, trường học và chính quyền địa phương, giải thưởng này là một vinh dự, vì không phải tỉnh, thành phố nào cũng có thưởng, và nếu có thì chỉ có một hoặc hai người. Buổi trao giải thưởng được tổ chức hào hứng trên sân kho của hợp tác xã, dưới ánh trăng (vì lúc bấy giờ máy bay Mỹ đánh phá miền Bắc dữ dội, học sinh đi sơ tán ở thôn quê, ban đêm không dám nổi lửa, thắp đèn). Bà con làng xóm tụ hội rất đông. Ba tôi cảm động đến phát khóc. Tôi nâng niu cuốn sổ tay đến mức không dám xài, lâu lâu lấy ra ngắm nghía ! Tuy nhiên cũng chưa tức cười thảm hại bằng thằng bạn.
Năm 1968, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn thăm trường, tặng cho mỗi đứa được cử đi gặp một cục kẹo Hải Châu (thứ cao cấp, hiếm hoi, xa xỉ với lũ học sinh nghèo trong những ngày chiến tranh). Thằng bạn thèm rỏ dãi nhưng trân trọng quá, không dám ăn, để dành làm kỷ niệm. Trời nóng, chỉ vài hôm, cục kẹo chảy nhão nhoẹt dính bê bết với giấy bọc, phải vứt đi. Hắn đi Đông Đức, về nước giảng dạy ở Bách khoa Hà Nội, cho đến giờ. Tôi tin chắc hắn không quên chuyện này!

Tôi sang Ba Lan năm 1969. Cả đoàn du học sinh chúng tôi phải vào nằm viện để bác sĩ khám, tẩy giun sán trước khi được sống chung với người ta tại Trung tâm học tiếng Ba Lan dành cho người nước ngoài. Trong bệnh viện, được báo tin Hồ Chí Minh từ trần, chúng tôi khóc thảm thiết ! Mấy cô y tá Ba Lan ngơ ngác, lúng túng chẳng biết chuyện gì xảy ra !

Chúng tôi đã yêu Đảng, yêu Bác Hồ đến thế ! Đã một thời ngây thơ, ngây ngô như thế !

Đến năm 1994, Kim Nhật Thành chết, xem TV thấy dân Bắc Triều Tiên đứng đông nghẹt hai bên đường ôm nhau gào khóc. Lúc này thì tôi đã bật cười ! Cười cả chính mình ! Tôi cũng đã y chang vậy ngày nào, bị ngu hoá, bị lừa gạt mà không biết.

Phải thừa nhận các chế độ cộng sản đạt mức siêu đẳng về chuyện nuôi trồng con người theo ý đồ của mình.

Thế hệ tôi và cả xã hội miền Bắc, mỗi một con người được nhào nặn, rèn luyện, nhồi nhét tư tưởng vào trí não, để không còn là mình nữa, chỉ biết suy nghĩ và hành động theo những lời dạy dỗ của Đảng và Bác, đi theo con đường mà Bác và Đảng vạch ra, như con rối, như cái máy. Cái bóng Đảng, Bác...bao trùm lên đời sống.

Phản ứng của chúng tôi chẳng khác gì những con cá trong ao của ông Hồ ở Phủ Chủ Tịch. Không hơn, không kém.

Vào năm 1958, theo yêu cầu của ông Hồ, kiến trúc sư Nguyễn Văn Ninh đã thiết kế cho ông ngôi nhà sàn theo kiểu của người miền núi, cùng với vườn cây, ao cá.

Ngôi nhà sàn có hai tầng, tầng trên ông Hồ dùng làm phòng ngủ và phòng làm việc trong mùa đông, tầng dưới là nơi ông làm việc vào mùa hè, họp Bộ Chính trị. Ngôi nhà sàn xây dựng xong vào ngày 1/5/1958, bằng gỗ loại bình thường, chiếu theo căn dặn của ông – báo chí viết như thế.

Tuy nhiên, trong thực tế, mãi sau này tôi mới biết, gỗ được sử dụng để làm ngôi nhà sàn “giản dị” thuộc loại tốt. Ngoài ra, sự giản dị này cũng đáng bàn... Bởi vì, ngôi nhà tọa lạc giữa phong cảnh hữu tình, đầy cây cỏ, hoa lá xanh tươi, chim bay, cá lượn bốn mùa. Bác ngồi thư giãn, hút thuốc lá 555 hay xì-gà của Fidel Castro gửi tặng thì còn gì bằng ! Đấy là chưa nói đến chuyện có các nàng tới hầu hạ (như cô Nông Thị Xuân chẳng hạn)! Ngay giữa thủ đô chật hẹp, ồn ào, bụi bặm mà hưởng thụ một dinh cơ tao nhã, thanh bạch như vầy, thì khác gì cuộc sống của Tiên ông dưới trần, quả là chưa có tiền lệ.



Vào thời buổi kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, lắm đại gia tư bản đỏ "chơi độc" theo gương ông Hồ, cũng xây những dinh thự to rầm theo kiểu nhà sàn bằng toàn gỗ quý, vườn tược được trồng nhiều loại cây kiểng mà một chậu trị giá hàng chục ngàn đôla. Cũng ngay trong lòng Hà Nội.

Hồi nhỏ tôi được nghe nhiều huyền thoại về ông Hồ. Với chúng tôi, tên Hồ Chí Minh đồng nghĩa với đấng siêu nhân, thánh thiện và lòng tôn kính. Ở Nghệ An, có bài đồng giao xem ông Hồ, Tướng Giáp sinh ra như là tất yếu của Trời Đất: “Đụn Sơn phân dái / Hòn Đái thất thanh / Nam Đàn sinh Thánh / Đông Thành sinh Tướng"

Mỗi lần nghe ai kể về đời sống của Bác, nói đến đàn cá trong ao của Bác, lũ trẻ chúng tôi xuýt xoa, phục lăn. Số là đàn cá đông đúc được ông Hồ luyện công phu. Sau một thời gian nhử mồi cám dỗ, ông đã thành công. Khi cho cá ăn, ông chỉ cầm cái que gõ gõ vào cái hộp đựng mồi hay thành bờ ao gì đó.. là cả đàn lúc nhúc bơi lại.

Những Con Chó của Pavlov

Khi lên cấp 2, bắt đầu học vật lý, tôi không còn phục cao kiến luyện cá của ông Hồ nữa, mà chỉ phục ông ở tính kiên nhẫn. Tôi cúc cục mãi mới tập gọi được đàn gà. Còn dạy cá đâu phải giỡn ! Té ra ông Hồ chỉ thực hành lý thuyết từ xửa xưa của nhà khoa học người Nga Ivan Pavlov, Giải thưởng Nobel Y học năm 1904.

Ivan Pavlov nổi danh từ việc thí nghiệm phản ứng tiêu hoá trên cơ thể chó. Qua nghiên cứu sinh lý học của nước bọt, ông khẳng định rằng, nước bọt không chỉ tiết ra lúc ăn, mà cả trong phản ứng trước bữa ăn. Thức ăn gây chảy nước bọt được gọi là “kích thích ban đầu”, còn tiếng chuông gõ hoặc ánh sáng của cái đèn xuất hiện trước bữa ăn, gọi là loại “thức ăn phụ trợ”. Kích thích chó liên tục một thời gian dài bằng “thức ăn phụ trợ”, cùng lúc với “kích thích ban đầu” để tạo thói quen, ông đã làm chó tiết nước bọt chỉ còn qua sự kích thích thứ cấp. Hiện tượng này được gọi là phản xạ có điều kiện của Pavlov, trái ngược với sự chảy nước bọt bẩm sinh, là phản xạ vô điều kiện.

Thì ra, những con cá của ông Hồ chỉ là một phiên bản nhỏ từ con chó của Pavlov.



Phiên bản lớn mới thật hãi hùng.

Người ta nói Việt Nam là một nhà tù lớn, hay cả quốc gia đang bị nhốt trong cái cũi.

Trong cái cũi này, giống như đàn cá trong ao, ông Hồ và Đảng Cộng sản Việt Nam đã áp dụng muôn vàn “thức ăn phụ trợ” để “trồng người” vì “hạnh phúc trăm năm” của… Đảng.



Bằng quản lý trong tay sổ hộ khẩu, sổ gạo, sổ dầu, phiếu thực phẩm, phiếu vải, học đại học; nay thêm sổ đỏ, chứng minh nhân dân, hộ chiếu, giấy chủ quyền xe, v.v… – ông Hồ và Đảng từ lúc cầm quyền đến nay đã biến đất nước thành một phòng thực nghiệm vĩ đại của “phản xạ có điều kiện”, biến dân tộc thành một bầy đàn ngoan ngoãn. Hàng chục triệu người Việt đã, đang và tiếp tục trở thành những con cá trong ao hay là những con chó của Pavlov.



Ngoài ra, còn một “thức ăn phụ trợ” khác công hiệu. Đó là bộ máy tuyên truyền khổng lồ, chằng chịt từ trung ương xuống thôn xã, bản làng, liên tục đập vào não trạng con người ngay từ thưở thiếu thời. Bất kỳ nguồn thông tin nào bất lợi cho sự độc quyền cai trị của Đảng đều bị ngăn chặn. Những mầm mống phản kháng ngay lập tức bị đè bẹp, đời sống của gia đình, người thân bị phong toả đến bần cùng…

Cho nên, lúc còn là học sinh, tay còn vương mực tím, khi ông Hồ chết, tôi và các bạn tôi cùng thời đã chảy dài nước mắt, cũng không có gì là lạ. Đúng ra, chúng tôi nên được chia sẻ, được thương hại, tội nghiệp.

Nhưng nhờ Trời, ngay trong năm thứ nhất học đại học, tôi đã nhanh chóng nhận ra lẽ thường phải có ở đời, sự bất công và bất nhân của chế độ cộng sản. Nó tước đi của con người đời sống riêng tư, cá tính và những quyền tự do tối thiểu nhất. Chúng tôi bị Toà đại sứ Việt Nam tại Ba Lan cấm không được yêu đương, không được mặc quần jeans ra ngoài đường, không được khiêu vũ, không được đến thăm nhà người bản xứ, không được đi lao động kiếm thêm tiền trong dịp nghỉ Hè, v.v… Một ngàn lẻ một thứ cấm ! Hàng tuần họp chi đoàn, viết bản tự kiểm. Lơ mơ là bị trục xuất về nước !



Và tôi lơ mơ, xé rào nên bị trục xuất thật. Vừa đặt chân tới ga xe lửa Hàng Cỏ, Hà Nội, chưa kịp xuống tàu, hai công an đã xông lên chỗ ngồi và áp tải tôi vào trại giam, sau đó lãnh án tù hai năm về tội yêu và trốn ở lại nước ngoài. Ra tù, lận đận mãi tôi mới xoay được việc làm và quay lại Ba Lan năm 1989, đúng lúc chế độ cộng sản Ba Lan sụp đổ. Làm nhân chứng của 20 năm xây dựng thể chế dân chủ ở Ba Lan với muôn vàn khó khăn nhưng thành quả phát triển giành được thấy rõ qua từng năm tháng, nhãn quan chính trị của tôi thay đổi hoàn toàn. Tôi được tỉnh ngộ qua liệu pháp điện áp của thực tế một xã hội từ chế độ cộng sản chuyển sang dân chủ tự do, cho mình cơ hội nhìn nhận, phân biệt Ác và Thiện. Quy trình tiến hoá bình thường của tôi được tái hiện, từ “con cá của Bác Hồ”, “con chó của Pavlov” lên làm người.
Tôi lột xác cùng với những thăng trầm của tiến trình dân chủ hoá ở Ba Lan và Đông Âu.



Ba Lan tự do đã đưa sự thật lịch sử ra ánh sáng và công lý. Quá khứ đã chứng minh không thể chối cãi rằng, chế độ cộng sản tồn tại thực chất nhờ dối trá và bạo lực. Những người cộng sản không thèm nghe ai khi thấy phương hại đến độc quyền lãnh đạo của họ, cho dù những lời khuyên đó có mang lại lợi ích cho đất nước đến đâu. Chỉ khi bị áp lực tranh đấu mạnh mẽ của quần chúng, bị thất bại, bị dồn vào thế cùng, họ mới làm ra vẻ hướng thiện hoặc nhượng bộ. Nhưng khi có sức mạnh và nhất là lúc thành công, họ tự mãn, cao ngạo, và độc ác gấp bội. Bản chất lưu manh, cướp giật của họ, theo thời gian càng ngày càng lộ liễu. Họ biến thù thành bạn, biến bạn thành thù tuỳ theo tình huống có lợi cho sự bảo đảm quyền lực. Họ là bậc thầy của sự tráo trở, lật lọng và bội bạc. Quan điểm phải hợp tác với cộng sản để cải tạo cộng sản, có cách nói cho cộng sản nghe, đã chứng tỏ tính chất xuẩn ngốc của nó qua hậu quả việc làm của rất nhiều người từ hàng chục năm nay. Chưa có vị “quân sư” nào làm cộng sản thay đổi được bản chất, ngược lại, họ thường bị phản phé, ngược đãi và chịu chung một bi kịch giống nhau. Rốt cuộc họ chỉ là những kẻ bị phấn khích hoặc có tâm thức bất bình thường, thích đi theo vết xe đổ.



Thiếu tự do và thông tin với bên ngoài, con người không thể nào có đủ kiến thức để nhìn nhận, so sánh các mô hình sinh hoạt xã hội khác, cho nên đại bộ phận người Việt trong chế độ cộng sản, nhất là nông dân, cứ tưởng rằng, cái ao, cái cũi mà trong đó mình đang được Đảng ban phát là “đỉnh cao chói lọi” rồi.

Mẹ kiếp! Nhốt người ta lại, bưng tai, bịt mắt, chỉ mở cho nhìn, cho nghe những gì mình muốn áp đặt, cùng với sự đe doạ mạng sống thường trực – rồi bảo “dân trí thấp”, “dân tộc chưa trưởng thành”. Nói thế có khác gì trói chân, buộc tay thằng bé, cho ăn uống nhỏ giọt, cách ly với sông nước, rồi phán nó chậm lớn, không có khả năng biết bơi. Đểu giả, mất dạy cỡ này là cùng!



Vậy mà, lạ lùng thay, có những người không sinh ra trong chế độ ấy, đầu đã hai thứ tóc, mà giờ đây bắt đầu muốn yêu bác Hồ như thế hệ chúng tôi mấy chục năm trước đây !

Lạ lùng nữa, vì những người ấy đã tháo thân chạy khỏi chế độ cộng sản và được lớn lên, ăn học, trở thành kỹ sư, giáo sư, tiến sĩ ở các quốc gia dân chủ, tự do.

Lạ lùng hơn, vì những người ấy, được gọi là trí thức, không thể không biết đến tội ác mà chủ nghĩa cộng sản toàn trị đã gây ra cho nhân loại nói chung và đối với dân tộc Việt Nam nói riêng trong suốt gần một thế kỷ.

Lạ lùng đến kinh ngạc, vì những bi kịch Cải cách Ruộng đất, Nhân Văn Giai Phẩm, vụ Xét lại Chống Đảng, Thảm sát Tết Mậu Thân Huế 1968, Cải tạo Tư bản, Tư thương miền Nam sau 1975, Chiến dịch bán bãi thu vàng, các vụ án Minh Phụng-Epco, Năm Cam, PMU 18, PCI, vân vân và vân vân… – chẳng mang đến cho họ một chút ý thức gì về dã tâm khủng khiếp và ghê tởm của lãnh đạo Đảng cộng sản Việt Nam.



Không biết bị ám bởi phản xạ có điều kiện nào qua “thức ăn phụ trợ” của thời “đổi mới”, “tăng trưởng”, “phát triển”, “vươn ra biển lớn”, mà giữa lòng Hà Nội xuất hiện một sự đảo ngược tiến trình tiến hoá của loài người. Cả ngàn con người đang no cơm ấm cật, xiêm áo chỉnh tề, bỗng dưng biến thành đàn cá Bác Hồ, bầy chó của Pavlov, “hân hoan”, “hồn nhiên” hát bài “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”. Và rồi sau khi kết thúc thắng lợi ra về, cùng nhau đồng ca điệp khúc: "dân trí Việt Nam còn thấp”, “dân tộc ta chưa trưởng thành” nên chưa thể vươn tới tiến trình dân chủ hoá.

Bệnh này coi bộ hết phương cứu chữa !

Warsaw, Ba Lan 20/12/2009


-----------------

Lần gặp bác Hồ tôi bị mất trinh
Huỳnh Thị Thanh Xuân Quãng Nam - Đà Nẵng 2005/09/02


TÔI YÊU LÁ CỜ VÀNG





CỜ VÀNG BA QUE XỎ LÁ

“Trên một miếng vải màu vàng người ta vẽ lên 3 sọc đỏ, đó là lá cờ ba que xỏ lá của bọn ngụy quân, ngụy quyền đã bại trận, và hiện nay nó là cờ của bè lũ phản động Hải Ngoại toàn là những kẻ bỏ nước ra đi, giờ vẫn ôm hận thù. Không biết sống ở nước ngoài thì yêu Việt Nam cỡ nào mà đấu với chả tranh, chỉ luôn nuôi hận thù đòi lật đổ chế độ, một chế độ ổn định không có các cuộc biểu tình bạo loạn, và không bị đánh bom khủng bố như các nước phương tây…”Đó là tất cả những gì tôi được nghe, được tuyên truyền, và được quyền biết đến trong suốt quảng đời tuổi trẻ sống và học tập theo gương bác Hồ vĩ đại, và đó cũng là những luận điệu được lặp đi lặp lại na ná nhau của phần đông thế hệ thanh niên quốc nội sinh sau năm 1975 khi được hỏi “bạn biết gì về cờ vàng ba sọc đỏ”. Và không biết nên vui hay buồn khi phải cho mọi người biết một sự thật rằng trong thời gian ở Đài Loan tôi có thăm dò cộng đồng người việt cũng bằng câu hỏi đó thì cứ khoảng 10 người Việt Nam sang du học, lao động hoặc kết hôn thì đến 6 người trả lời “cờ vàng ba sọc đỏ? tôi chưa nghe đến bao giờ, là cờ của nước nào vậy?” 3,9 người còn lại sẽ trả lời như ở đầu bài (1). Đấy! nói như thế để những ai may mắn có điều kiện tiếp xúc với internet và đang đọc những dòng này biết được sự quan tâm đến hiện tình đất nước và hiểu biết về lịch sử của đa phần người dân đang ở mức độ nào. Và chính tôi một thời gian trước đây khi còn ngồi dưới mái trường xã hội chủ nghĩa cũng không hơn gì họ, thậm chí còn ngờ nghệch ảo tưởng hơn nhiều, và tôi cảm thấy “thằng tôi” của ngày hôm qua đáng thương hơn đáng giận.Vì tôi được sinh ra tại Việt Nam sau năm 1975- khi đất nước đã được được những người Cộng Sản “thống nhất”.

Vì ông bà cha mẹ họ hàng gia đình tôi là những người từng đổ máu chiến đấu cho lí tưởng Cộng Sản.

Vì tôi đã được học dưới mái trường xã hội chủ nghĩa 12 năm với những trang sử đánh Mỹ cứu nước hào hùng của dân tộc.

Vì cứ vào thứ hai đầu tuần phải nghiêm trang trong tư thế chào cờ mắt nhìn lá cờ đỏ sao vàng được kéo lên đầy vẻ tự hào và miệng hát “đường vinh quang xây xác quân thù, thắng gian lao cùng nhau lập chiến khu, vì nhân dân chiến đấu không ngừng …”.

Vì tôi đã từng là đoàn viên thanh niên Cộng Sản Hồ Chí Minh, và với 1 lý lịch tốt như gia đình tôi thì nếu cố gắng phấn đấu tôi sẽ được kết nạp vào đảng với nhiều cơ hội tiến thân .

Vì tôi đã từng yêu bác Hồ hơn bất kỳ thiếu niên nhi đồng nào trên đất nước việt nam này, từ khi còn bé tôi đã nằm lòng những bài thơ của Tố Hữu, đã đọc nhàu nát những cuốn sách kể chuyện về bác Hồ, và còn cẩn thận ép tấm ảnh bác trong cuốn tập nhỏ và xếp ngay ngắn trong cặp sách với niềm tin ánh sáng của bác sẽ soi đường khi mình lạc lối.

Vì thế tôi dám chắc nếu mọi người từ khi lọt lòng đều phải sống trong hoàn cảnh ấy thì cũng không khá gì hơn tôi và những bạn trẻ trong nước hiện nay, vậy nên xin mọi người đừng mỉa mai chúng tôi, đừng thù ghét mỗi khi chúng tôi phỉ báng lá cờ vàng ba sọc đỏ, mà xin hãy rộng lòng yêu thương , vì chúng tôi là sản phẩm của mái trường xã hội chủ nghĩa , vì chúng tôi là những tờ giấy trắng như biết bao trẻ em trên khắp hành tinh này nhưng “họ” đã bôi trét lên đó những gì tai hại nhất. Chỉ có lòng bao dung với ánh sáng của tình thương dẫn đường mới có thể giúp chúng tôi thoát khỏi những ảo tưởng để trải lòng tiếp nhận những thông tin mới.

Tôi yêu quê hương xứ sở vô cùng, tôi nhớ những nón lá những đôi vai gầy một nắng hai sương, nhưng sao những ngọn núi những dòng sông giờ đây đã điêu tàn tan hoang đến vậy, nhưng sao những người tôi yêu dù chăm chỉ làm ăn, chịu thương chịu khó mà phải sống một cuộc sống cơ cực và mất tự do đến thế. Vậy nên tôi đã quyết tâm truy tìm và kiểm chứng lại tất cả những gì tôi đã được học , và mỗi lần những sự thật trần trụi được phơi bày là những lần lòng tôi lại mang thêm nhiều những vết thương .

Chính vì thế nên mặc dù biết rõ sẽ gặp nhiều rắc rồi từ phía chính quyền cộng sản nhưng tôi cảm thấy mình có trách nhiệm phải nói cho thế hệ trẻ hôm nay và mai sau biết được nguồn gốc và ý nghĩa của 2 lá cờ: đỏ sao vàng và vàng ba sọc đỏ cùng những trải nghiệm trên con đường thay đổi nhận thức của mình . Để từ đó những chủ nhân tương lai của đất nước quyết định đâu là sinh lộ cho quê hương.
Cờ vàng ba sọc đỏTôi còn nhớ lần đầu tiên tôi biết đến lá cờ vàng ba sọc là vào khoảng thời gian tôi học cấp 2, khi tôi nghe các anh lớn bàn chuyện với nhau về hát nhạc vàng nhạc đỏ, tôi đã thắc mắc tại sao lại có sự phân biệt này, còn hỏi “làm răng để khi nghe biết được cái mô là nhạc vàng cái mô là nhạc đỏ”. Tất nhiên tôi bị mấy anh gỏ to đầu nói “mi ngu lắm nhạc vàng là nhạc phản động mi đã nghe ai nói cờ vàng ba que xỏ lá của bọn ngụy chưa , mi cứ thấy ai hát lè nhè như Duy Khánh, Chế Linh là nhạc vàng, mi cứ thấy mấy cái video có cảnh trai gái hở hang nhảy nhót quấn lấy nhau trên sân khấu có mấy thằng lính cầm cờ ba que chạy lui chạy tới là nhạc vàng…”

Nể phục trước những kiến giải sâu xa của các anh lớn ,thế là từ đó tôi có thêm hiểu biết quý báu về cái gọi là nhạc vàng, cờ vàng, và thỉnh thoảng để ra vẻ hiểu biết với tụi bạn cùng trang lứa tôi dạy lại chúng nó cụm từ “cờ vàng ba que xỏ lá” một cách đầy tâm đắc với kiến thức của mình.

Và hiện nay khi nhìn lại thế hệ các em tôi, tôi thấy các em cũng không hiểu biết hơn tôi ngày trước là bao, nhưng điều đáng buồn hơn là ngay cả các anh tiến sỹ (2) cũng không biết hay cố tình không biết, làm sao có thể giải thích cho mọi người hiểu được vấn đề 1 cách trọn vẹn, khi để hiểu được nguồn gốc và tính dân tộc của 2 lá cờ thì phải lội ngược dòng lịch sử để tìm rõ căn nguyên, lại càng khó hơn khi nhiều trang web ở Hải Ngoại bị đặt tường lửa, phương tiện truyền thông trong nước thì đều là công cụ của đảng, và toàn bộ sử liệu từ đầu thế kỷ 20 cho đến nay trong các thư viện và nhà sách Việt Nam đều là sách của đảng được nhào nặn bởi những “sử nô” danh tiếng thường xuyên xuất hiện trên các phương tiện truyền thông, thế nên chỉ nghe tên thôi bọn trẻ cũng có thể hoàn toàn tin là sự thật, trong mắt trẻ thơ những gì được đăng tải trên truyền hình, sách vở và báo chí đều là sự thật, thế nên hỡi ôi các nhà báo các nhà làm phim các nhà giáo dục quí vị có thấy day dứt lương tâm khi đã đánh lừa niềm tin của con em chúng ta hay không?

Chính vì thế nên thỉnh thoảng ở các diễn đàn tiếng nói tự do của người dân Việt Nam trên yahoo, paltalk, và gần đây là phong trào viết blog không tránh khỏi có nhiều lời lẽ miệt thị hay tẩy chay cờ vàng.

Nay tôi xin được lược trích lại một số tư liệu (3) để lần nữa xác định rằng lá cờ vàng đã có từ trước khi nền Đệ Nhất Cộng Hòa ra đời.

1. Long Tinh Kỳ (1802-1885) : Quốc Kỳ nguyên thủy của triều đình Nhà Nguyễn

Đối chiếu với các tài liệu được tham khảo thì lá quốc kỳ đầu tiên trong thời nhà Nguyễn đã được đặt tên bằng tiếng Hán là “Long Tinh Kỳ”. (Ghi chú cho tuổi trẻ Việt Nam: Ý nghĩa của các chữ Hán như sau: Kỳ là cờ. Long là Rồng, biểu tượng cho hoàng đế, có màu vàng. Râu tua màu xanh dương chung quanh tượng trưng cho Tiên và cũng là màu đại dương, nơi Rồng cư ngụ. Tinh có nghĩa là ngôi sao trên trời, mà cũng có nghĩa là màu đỏ. Màu đỏ còn biểu tượng cho phương Nam và cho lòng nhiệt thành. Long Tinh Kỳ là Cờ Rồng có chấm Đỏ viền tua xanh, biểu hiệu cho một dân tộc có nguồn gốc Rồng Tiên ở phương Nam vùng nhiệt đới.)

2. Đại Nam Quốc Kỳ (1885-1890)

Đây là hình lá cờ Đại Nam của triều đình Đồng Khánh, được tìm thấy qua tài liệu của người Tây phương.

3. Quốc kỳ Nền Vàng Ba Sọc Đỏ dưới hai triều đại Kháng Pháp 1890 – 1920

Nền vàng.
Ba sọc đỏ bằng nhau biểu hiệu Bắc Nam Trung bất khả phân.
Có thể nói Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ – gọi tắt là “Cờ Vàng” – là lá “quốc kỳ” đúng nghĩa đầu tiên của dân tộc Việt, vì nó hàm chứa nguyện vọng độc lập và thống nhất của lãnh thổ Việt.

Sự kiến tạo lá quốc kỳ mới ấy có nhiều ý nghĩa vô cùng quan trọng:

- Thể hiện ý chí đấu tranh, bác bỏ hiệp ước Quý Mùi, “chia để trị” của thực dân Pháp, đã tao ra tình trạng Nam Kỳ thuộc địa, Trung Bắc kỳ bảo hộ.
- Xác quyết sự toàn vẹn lãnh thổ của Đại Nam Quốc, ba miền đều có tư thế chính trị giống nhau và bất khả phân trong nền tảng màu Vàng của dân tộc Việt ở phương Nam.
- Nêu cao tinh thần “quốc gia dân tộc”, bằng cách đoạn tuyệt với sự liên hệ của chữ Hán, cũng như thoát ly ra khỏi nền bảo hộ Pháp và triều cống Tàu.

Chính vì các ý nghĩa trên mà lá cờ Vàng còn được mệnh danh là cờ “Quốc Gia”. Như vậy, từ ngữ “quốc gia” có từ cuối thế kỷ 19, đối nghịch với “thuộc địa”, chớ không chỉ mới có vào bán thế kỷ 20 khi từ ngữ “cộng sản” xuất hiện.

4. Cờ Bắc Trung Kỳ trong thời miền Nam thành thuộc địa Pháp

Long Tinh Kỳ (1920 – 10 Mar, 1945).
Nền vàng. Một sọc đỏ lớn.
Biểu tượng cho Bắc và Trung kỳ mà thôi.
10-3-45 là ngày cáo chung của chế độ bảo hộ Pháp

Lá cờ Vàng Một Sọc Đỏ, cũng được gọi là cờ “Long Tinh”, vì nó biến thể từ Long Tinh Kỳ nguyên thủy trong mấy chục năm đầu của nhà Nguyễn. Nền vàng có hình chữ nhật tương tự như quốc kỳ của các quốc gia khác. Chấm đỏ được kéo dài ra thành sọc đỏ ở giữa. Tua xanh không còn nữa. Đây là lá cờ biểu hiệu cho một quốc gia chỉ còn hai miền Bắc và Trung, thuộc quyền bảo hộ Pháp. Lá cờ này trải qua đời vua Khải Định và tồn tại trong đời vua Bảo Đại, sau khi vua Khải Định băng hà vào năm 1925. Sau khi lên ngôi vào đầu năm 1926 lúc mới 12 tuổi, vua Bảo Đại trao hết quyền cho “Hội Đồng Phụ Chính” với sự chỉ đạo của Toàn Quyền Pháp rồi trở sang Paris tiếp tục học cho đến 1932 mới trở về chấp chính. Lá cờ Long Tinh vẫn được tiếp tục dùng làm biểu tượng của triều đình Huế, lúc bấy giờ chỉ còn thẩm quyền cai trị hai miền Bắc và Trung dưới sự bảo hộ của Pháp.

5. Cờ Nam Kỳ Thuộc Địa (miền Nam thuộc địa Pháp)

Cờ Nam Kỳ Thuộc Địa (1923 – Mar 10, 1945)
Nền vàng
Cờ Tam Tài, màu xanh trắng đỏ nằm trên góc trái.
10-3-45: Nhật đảo chính Pháp
Cờ này tồn tại đến 10-3-45 thì cáo chung sau khi Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương.

6. Long Tinh Kỳ trong thời Nhật chiếm Đông Dương, 11 tháng 3, 1945 – Aug 1945

Long Tinh Đế Kỳ (11 Mar – 30 Aug, 1945)
Nền vàng,
Sọc đỏ bằng 1/3 cờ.
11-3-45: Bảo Đại tuyên bố VN độc lập, Long Tinh Kỳ trở thành Đế Kỳ
30-8-45: Bảo Đại thoái vị, Đế Kỳ cáo chung.

Một ngày sau khi Nhật đảo chánh Pháp, vua Bảo Đại đăng đàn tại Huế vào ngày 11-3-45, tuyên bố hủy bỏ hòa ước Quý Mùi 1883 và Giáp Thân 1884, Việt Nam thống nhất và độc lập, theo chế độ Quân Chủ tân thời như một số quốc gia Tây Phương, và ủy nhiệm cho học giả Trần Trọng Kim thành lập chính phủ. Sau đó, vua Bảo Đại phân định cho Long Tinh Kỳ trở lại cương vị của Đế Kỳ, chỉ treo nơi Hoàng Thành Huế hoặc mang theo những nơi vua tuần du. Long Tinh Đế Kỳ cũng tương tự như Long Tinh Quốc Kỳ trong thời Pháp bảo hộ, nhưng nền vàng đậm hơn và sọc đỏ thu hẹp lại bằng 1/3 chiều cao lá cờ, để tương xứng với cờ Quẻ Ly của chính phủ Trần Trọng Kim.

6. Cờ Quẻ Ly của quốc gia Việt Nam trong thời Nhật chiếm Đông Dương

Cờ Quẻ Ly thời Nhật (11 Mar – 5 Sep, 1945)
Nền vàng, ba sọc đỏ, sọc giữa đứt khoảng hơi giống hình Quẻ Ly
Quốc kỳ chính thức thời Nhật, đồng thời với Long Tinh Kế Kỳ

Để biểu trưng cho Quốc Gia trong chế độ Quân Chủ, Bảo Đại ký sắc lệnh chấp thuận đề nghị của Thủ Tướng Trần Trọng Kim, lấy lại quốc hiệu Việt Nam mà nhà Thanh đã chấp thuận trong thời vua Gia Long, và sáng tạo ra một quốc kỳ mới. Đó là lá cờ có nền vàng tương tự như Long Tinh Đế Kỳ nhưng vạch đỏ được chia làm ba vạch nhỏ bằng nhau, riêng vạch giữa thì đứt khoảng, tương tự như quẻ Ly, một quẻ trong bát Quái.

7. Cờ Đỏ Sao Vàng của Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa”

Cờ Mặt Trận Việt Minh (5 Sep, 1945 – 20 Dec, 1946)
Nền đỏ, sao vàng, cạnh sao hơi cong.
5-9-45: Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 5 dùng cờ Việt Minh làm Quốc Kỳ, thay thế cờ Quẻ Ly.
20-12-46: Việt Minh rút vào bưng kháng chiến chống Pháp. Cờ Việt Minh tạm mất tư thế Quốc Kỳ.

- Trong suốt năm 1946, quân đội Pháp càng ngày càng chiếm ưu thế trên các cuộc đụng độ với quân đội Việt Minh. Đến 20-12-46, Pháp chiếm được Bắc Bộ Phủ, Hồ Chí Minh tuyên bố rút vào bưng kháng chiến. Dần dần, Pháp chiếm đóng và kiểm soát các thành phố, quận lỵ, và các làng xã đông dân; còn Việt Minh thì đồn trú tại các vùng quê, rừng núi hẻo lánh. Như vậy, Cờ Đỏ Việt Minh bị xem như tạm thời mất tư thế “quốc kỳ” kể từ ngày 20-12-46 là ngày Pháp chiếm Bắc Bộ Phủ cho đến ngày 20-7-1954 là ngày đất nước chia đôi và Việt Minh trở lại cầm quyền trên miền Bắc Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở lên.

8. Cờ Vàng sọc Xanh của Chính Phủ Lâm Thời “Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc”

Cờ Nam Kỳ Cộng Hoà Quốc (1 Jun, 1946 – 2 Jun, 1948)
1-6-46: Nam Kỳ CH Quốc trong Liên Bang Đông Dương.
Nền vàng, ba sọc xanh, hai sọc trắng
2-6-48: Bảo Đại lập Quốc Gia Việt Nam trong Liên Hiệp Pháp, thống nhất ba miền.

9. Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của “Việt Nam Quốc” và “Việt Nam Cộng Hòa”

Cờ Vàng Quốc Gia VN (2 Jun, 1948 – 20 Jul, 1954)
2-6-48: Chính Phủ Trung Ương dùng Cờ Vàng làm quốc kỳ giống như Đại Nam Kỳ thời 1890-1920.
20-7-54: Đất nước chia đôi theo Hiệp Định Genève. Từ đó, Cờ Vàng vẫn được dùng làm Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hoà từ 20-7-54 đến 30-4-75.

Vào năm 1948, Bảo Đại không muốn tái sử dụng Long Tinh Kỳ vì đó là Đế Kỳ của một đế chế mà ông đã chấm dứt vào tháng 8 năm 1945. Một ông vua tha thiết với nền độc lập và sự toàn vẹn lãnh thổ, đến nỗi chịu thoái vị vì quyền lợi tối thượng của đất nước, hẳn dư biết nguồn gốc của lá Cờ Vàng. Ngoài ra, một vài chi tiết lịch sử quan trọng khác cũng đã góp phần vào việc chọn lựa Cờ Vàng: Đó là cái chết oan ức tại Phi Châu vào cuối năm 1945 của hoàng tử Vĩnh San, tức là cựu hoàng Duy Tân, và sự hiện diện tại Sài Gòn từ năm 1947 của cựu hoàng Thành Thái, thân sinh của Duy Tân. Cờ Vàng đã được dùng làm Quốc Kỳ lần đầu trong triều đại của hai vị vua này. Cả hai đã là linh hồn của cuộc kháng chiến chống Pháp dành độc lập vào đầu thế kỷ 20, mà hậu quả là cuộc xử tử các thủ lãnh Quang Phục Hội như anh hùng Thái Phiên, Trần Cao Vân vào năm 1916, và án lưu đày Phi Châu của hai vị vua ái quốc ấy. Năm 1942, hoàng tử Vĩnh San gia nhập quân đội Pháp (cánh De Gaulle), đến năm 1945 được thăng cấp Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng. Khi Thế Chiến thứ 2 kết thúc, Tướng De Gaulle về Pháp cầm quyền, dự định cho ông về Việt Nam. Nhưng sau đó, có người tố cáo cho De Gaulle biết Vĩnh San luôn luôn ấp ủ chủ trương Việt Nam độc lập và thống nhất Nam, Trung, Bắc. Vì vậy, trong lần hội kiến với De Gaulle vào ngày 14-12-1945, ông bị khiển trách nặng nề và bị tước mất cấp bậc. Ông đã tâm sự với người bạn thân rằng ông lo ngại sẽ bị hại. Ngày 24-12-45, ông bị đưa về lại đảo Réunion. Hai hôm sau, ông bị tử nạn máy bay tại Trung Phi. Cái chết đầy nghi vấn của cựu hoàng Duy Tân đã làm dư luận Việt Nam xúc động và thương tiếc vị vua ái quốc. Năm 1947, cha ông là cựu hoàng Thành Thái lúc bấy giờ đã 68 tuổi, được Pháp cho về Sài Gòn, với điều kiện là ông không giữ bất cứ một trách nhiệm chính trị nào cả. Dù vậy, sự hiện diện của cựu hoàng Thành Thái cùng với cái chết của cựu hoàng Duy Tân hiển nhiên đã gợi lên tinh thần tôn kính hoài bão của hai vua. Chắc chắn Bảo Đại có đến thăm bậc Thái Thượng Hoàng khả kính của ông, và hội ý trong việc chọn Cờ Vàng làm Quốc Kỳ, nhưng ông không thể tiết lộ ra, vì sẽ phạm vào điều kiện của De Gaulle khi cho cựu hoàng Thành Thái về VN, là không được tham dự vào chính trị phục quốc. Sự rao truyền rằng Cờ Vàng do họa sĩ Lê Văn Đệ vẽ ra mà không nhắc đến sự hiện hữu của Cờ Vàng 50 năm trước, cũng có dụng ý. Đó là vì nhu cầu bảo vệ an nguy của cựu hoàng Thành Thái. Vì thế, việc Quốc Trưởng Bảo Đại lựa chọn Cờ Vàng của thời chống Pháp làm Quốc Kỳ cho tân chế độ là một quyết định sáng suốt và hợp chính nghĩa.

Vì nguồn gốc kháng Pháp hào hùng của Cờ Vàng, mà năm 1955, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm tổ chức “trưng cầu dân ý”, lập ra chế độ Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hoà, quốc hội mới vẫn giữ nguyên quốc kỳ của một chế độ đã cáo chung. Cuộc đảo chánh năm 1963, chấm dứt nền Đệ Nhất Cộng Hòa, lập nên Đệ Nghị Cộng Hoà, Cờ Vàng vẫn được giữ nguyên là Quốc Kỳ cho đến khi miền Nam bị miền Bắc thôn tính. Hết Trích.

Vậy đã rõ ràng cờ vàng ba sọc đỏ không phải là “cờ ba que xỏ lá” mà đó đã từng là một Quốc Kỳ của nhiều chế độ trước đó , đồng thời mang đầy đủ nguyện vọng dành độc lập ,ý thức chống giặc ngoại xâm và yêu chuộng tự do của cả một dân tộc. Và hiện nay cờ vàng ba sọc đỏ là ngọn cờ của người Việt hải ngoại.

Cờ đỏ sao vàng :

Đây là lá cờ đã gắn bó với suốt cả cuộc đời tuổi thơ tôi với tất cả bạn bè họ hàng và người thân của mình , nên tôi nghĩ mình có đủ nghi ngờ và tỉnh táo khi đề cập đến “mặt kia” của nó, “mặt kia mà tôi muốn nói đến chính là những sự thật đã bị Đảng Cộng Sản với công cụ là những “nhà sử nô” “nhà bồi bút ” tìm mọi cách thủ tiêu và dấu nhẹm trong mấy chục năm nay và “mặt kia” chính là tội lỗi đê hèn khi đánh lừa niềm tin của hàng triệu người trong suốt chiều dài lịch sử phải “chết vinh quang” và “chết tức tưởi” dưới ngọn cờ đó.

Trước hết chúng ta hãy nghe chính quyền Cộng Sản giới thiệu về lá cờ Tổ Quốc trên website của Đảng có vài điểm chú ý sau :

- “Đêm cuối cùng trước khi rời cơ quan tuyên truyền của Đảng, từ Xóm Chuồng Ngựa về Bàn Cờ. dưới ngọn đèn leo lét, Nguyễn Hữu Tiến đã thức trắng đêm vẽ đi, vẽ lại trên phiến đá hình tượng lá cờ đỏ với ngôi sao vàng năm cánh tượng trưng cho cuộc chiến đấu đầy gian khổ, hy sinh của các tầng lớp nhân dân: Sĩ, Nông, Công, Thương, Binh đoàn kết dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.” (4)

- Lá cờ đỏ sao vàng từ đấy đã xuất hiện nhiều lần trong các cuộc khởi nghĩa, biểu tình của quần chúng. Lá cờ đã tung bay trên cả nước trong những ngày Tháng Tám năm 1945 lịch sử; trên quảng trường Ba Đình, Hà Nội ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh một kỷ nguyên mới cho đất nước ta. Ngày 5 tháng Chín năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh ấn định Quốc kỳ Việt Nam là cờ đỏ sao vàng.

Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khoá I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, ngày 2 tháng Ba năm 1946 đã biểu quyết nhất trí cờ đỏ sao vàng là Quốc kỳ của nước ta. (5)

- Hình ảnh sao vàng trong thơ Hồ Chí Minh:

Một canh…hai canh…lại ba canh
Trằn trọc, băn khoăn giấc chẳng thành
Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt
Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh
Tất cả lai lịch về lá cờ đỏ sao vàng đều được giải thích rất mơ hồ , đọc xong tôi thấy có 3 câu câu hỏi lớn cần phải làm sáng tỏ :

Thứ nhất : lá cờ đỏ sao vàng có ý nghĩa gì và nguồn gốc ra sao ?
Thứ hai : tại sao hiện nay nó là Quốc Kỳ của Việt Nam ?
Thứ ba: những thành quả mà nó mang lại cho dân tộc?

1. Lá cờ đỏ sao vàng có ý nghĩa gì và nguồn gốc ra sao :

Cờ Liên Sô nền đỏ, trên đầu góc trái có hình búa liềm.
“Tượng trưng cho chủ quyền của Liên bang Xô Viết và khối liên minh không gì phá vỡ nổi(6) của công nhân và nông dân trong cuộc đấu tranh để xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa”. Màu đỏ tượng trưng cho cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân Xô Viết dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Liên Xô nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Búa liềm chỉ khối liên minh vững chắc của giai cấp công nhân và nông dân. Ngôi sao năm cánh trên cờ Liên Xô tượng trưng cho thắng lợi cuối cùng của các tư tưởng chủ nghĩa cộng sản trên 5 châu lục toàn thế giới.” (7)

Nhắc đến chủ nghĩa cộng sản phải nhắc đến Mác với câu nói“ Vô sản thế giới đoàn kết lại” mà sau này được dùng làm khẩu hiệu của những người Cộng Sản, và theo Mác để xây dựng một xã hội mới không còn cảnh người bóc lột người thì phải từ bỏ tất cả những giá trị của xã hội cũ, phải từ bỏ quyền tư hữu, từ bỏ gia đình, từ bỏ quê hương, từ bỏ tôn giáo, và từ bỏ hết tất cả những giá trị văn minh nhân loại suốt mấy ngàn năm qua… Tôi đang tự hỏi không biết khi đem chủ nghĩa Mác về Việt Nam ông Hồ Chí Minh có biết hay cố tình không biết là vào những năm cuối đời Mác đã ăn năn hối lỗi về sự lầm lạc của chủ nghĩa Cộng Sản, cũng giống như nhận định “Ngay cả Mác cũng không thể trung thành với một lý thuyết như thế. Lý thuyết ấy như một cô gái cực đẹp nhưng lẫn thẩn, chắc chắn người ta sẽ vồ lấy và sau đó tất yếu là sự phản bội.” (8)

Hậu quả mà chủ nghĩa Cộng Sản đã gây ra tại nước Nga còn nặng nề hơn nhiều so với Việt Nam từ tổn thất con người cho đến tôn giáo ,chính trị, kinh tế , văn hóa … mà nổi bật nhất là cuộc thanh trừng vĩ đại hay còn gọi là “nỗi khiếp sợ vĩ đại” trong thập niên 1930 Stalin đã ký quyết định giết hàng chục nghìn người được coi là đối thủ chính trị hay bất đồng chính kiến với ông ta , và đẩy hàng triệu người đến các trại lao động tập trung Gulag .

Năm 1953 khi nghe tin Stalin qua đời , nhà thơ Tố Hữu đã có những câu thơ làm rúng động lương tâm con người :

“Sta-lin sta-lin!
Yêu biết mấy khi con tập nói
Tiếng đầu lòng con gọi Sta-lin
[…]
Thương cha thương mẹ thương chồng
Thương mình thương một thương Ông thương mười”
Phần đánh giá xin nhường cho bạn đọc .

Tiếp đây tôi xin trích 1 đoạn nói chuyện giữa đạo sĩ Hamud và giáo sư Allen trong cuốn “Hành trình về phương đông” được xuất bản từ năm 1924 để mọi người chiêm nghiệm.

“Hamud im lặng một lúc rồi thong thả :
- Tôi muốn các ông ghi nhận một điều này, các ông có thể coi đó như một lời tiên đoán hay cảnh cáo trước cũng được. Thời gian sắp đến sẽ là một giai đoạn cực kỳ tiến bộ về tri thức, nhưng thoái bộ về tâm linh.[…] Thêm vào đó, sự khai quật các ngôi cổ mộ Ai cập sẽ tháo củi xổ lồng cho vô số âm binh, các động lực cực kỳ hung dữ. Như tôi vừa kể với các ông, thời kỳ chót của nền văn minh Ai cập, các giáo sĩ đã thực hành tà thuật tối đa, mà khoa ướp xác là một bí thuật mang sự liên lạc của cõi vô hình vào cõi trần[…] Một số pháp sư vốn là sứ giả cõi âm sẽ đầu thai trở lại, hoặc nhập xác để tác oai, tác quái, tái tạo một xã hội tối tăm, sa đoạ, đi ngược trào lưu tiến hoá của thượng đế. Thế giới sẽ trở thành nạn nhân của thứ tôn giáo ma quái này.. Chiến tranh, đau khổ, bất an cùng các kích thích của cảm giác mới lạ do nền “khoa học hiện tượng” mang lại, sẽ thúc đẩy con người vào các cùng cực của cuộc sống […] họ sẽ đội lốt tôn giáo, họ sẽ kêu gọi sự hợp tác của thần quyền, họ sẽ đặt ra các giáo điều mới, thay thế các chân lý cao đẹp để lôi kéo con người từ bỏ thượng đế. Họ sẽ sử dụng danh từ, ngôn ngữ để đánh lạc hướng mọi người, tuy nhiên trước sau gì họ cũng phải chết và trước khi chết, họ sẽ di chúc yêu cầu ướp xác họ và xây dựng những nhà mồ vĩ đại bằng đá như họ đã từng làm trong quá khứ…
Giáo sư Allen bật cười :
- Như vậy thì nhận diện họ quá dễ, nhưng tôi không tin thời buổi này còn ai ướp xác, xây cất nhà mồ như vậy, ông nên nhớ chúng ta đã bắt đầu vào thế kỷ 20, không phải 8 ngàn năm trước ?

Hamud mỉm cười :
- Rồi các ông sẽ thấy, tôi mong các ông ghi chép những điều này cẩn thận rồi đúng hay sai thời gian sẽ trả lời.”

Cờ Trung Cộng cũng một nền đỏ, trên đầu góc trái có một ngôi sao vàng lớn và 4 ngôi sao vàng nhỏ hình cánh cung phía bên mặt.

Về các thành tựu mà Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã mang lại cho dân tộc Trung Hoa thì các bạn có thể tìm đọc thêm ở tài liệu “Cửu Bình” (chín bài bình luận về Đảng Cộng Sản) (9) tài liệu này được ví như một quả bom mang sức công phá khủng khiếp vào chính quyền các nước khối cộng sản, và chỉ sau 1 năm ra mắt đã khiến hơn 6 triệu đảng viên Trung Quốc trả lại thẻ đảng, thiết nghĩ chúng ta cũng nên quảng bá rộng rãi tài liệu này để giúp những người Cộng Sản Việt Nam sớm thức tỉnh .

Còn ai lâu nay chỉ quen nghe những lời đạo đức từ miệng của các lãnh tụ Cộng Sản thì hãy nghe Mao tuyên bố rùng rợn : “Người chết cũng có lợi, xác họ làm phân bón”, “ chúng ta sẳn sàng hy sinh 300 triệu dân Trung Quốc để hoàn thành chủ nghĩa Cộng Sản” (10)

Cờ Việt Minh – cờ đỏ sao vàng cạnh sao hơi cong.
Năm 1927 ở vùng Nghệ Tĩnh có cuộc phiến động gây ra bởi Đảng Cộng Sản do Nguyễn Ái Quốc cầm đầu. Đến ngày mùng 9 tháng 3 năm 1945 quân Nhật đánh đánh quân Pháp và giao quyền lại cho vua Bảo Đại. Được mấy tháng thì đồng minh thắng trận, Nhật đầu hàng. Đảng Việt Minh dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Ái Quốc đổi tên là Hồ Chí Minh nổi lên cướp chính quyền. Vua Bảo Đại thoái vị nhường quyền cho đảng Việt Minh.

Việt Minh là tên gọi tắt của đảng Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội do Đảng Cộng Sản lập ra khi còn ở bên Quảng Tây Trung Quốc, tránh 2 chữ Cộng Sản cho người ta khỏi nghi ngờ. (11)

2. Tại sao hiện nay cờ đỏ sao vàng là Quốc Kỳ của Việt Nam :Trong một cuộc giao lưu trực tiếp trên truyền hình khi được hỏi “ông định nghĩa thế nào về sự thật lịch sử”, ông Dương Trung Quốc tổng thư ký hội sử học Việt Nam đã trả lời : “Trách nhiệm của những người làm sử chúng tôi là phải nghiên cứu để tìm ra sự thật lịch sử, vì chỉ có sự thật mới tạo được niềm tin trong nhân dân. Chúng tôi quan niệm, không phải sự thật nào cũng có thể nói ra, nhưng đã nói thì phải nói đúng sự thật. Chúng ta phải tìm lại, để học lại nghiêm túc những bài học của lịch sử.” (12)

Trời ơi ! sự thật là sự thật, tại sao lại có những sự thật không thể nói ra?

Và câu hỏi được đặt ra là biến cố tháng 8-1945 do Việt Minh gây ra có phải là một cuộc cách mạng không! Về câu hỏi này thì mặc dù đã được nghe ý kiến của nhiều người nhưng tôi vẫn chưa thể có kết luận thỏa đáng cho bản thân. Nhưng dù sao cũng thật khó khi nói cuộc cướp chính quyền không phải là nguyện vọng của người dân, mà trên thực tế người dân của chúng ta lúc đó đa phần nghèo khó nhưng bản tính thật thà chấc phác họ đã tin theo những hứa hẹn hão huyền của chủ nghĩa cộng sản nhằm mơ tưởng một xã hội công bằng văn minh không có cảnh người bóc lột người, nhưng họ đã không thể hiểu được bản chất của Cộng Sản là chiến tranh, hận thù, độc tài, giết chóc, tham lam, bóc lột và khủng bố …

Rồi đến 20-12-1946 Pháp chiếm Bắc Bộ phủ, Hồ Chí Minh phải rút vào các vùng núi hẻo lánh tiếp tục ôm lý tưởng Cộng Sản để “giải phóng dân tộc”, như thế lá cờ đỏ sao vàng chỉ hiện diện chính thức trong tư thế Quốc Kỳ khoảng thời gian từ 5-9-1945 đến 20-12-1946 .

Trong khi đó tại miền Nam từ 1-6-1946 đến 2-6-1948 dùng cờ Nam Kỳ Cộng Hòa Quốc với nền vàng ở giữa là 3 sọc xanh, chen giữa 3 sọc xanh là 2 sọc trắng .

Và từ 2-6-1948 Chính phủ trung ương dùng lá cờ vàng 3 sọc đỏ chính thức làm Quốc Kỳ và lá cờ này giống với Đại Nam Kỳ thời 1890- 1920, mãi đến 20-7-1954 khi đất nước bị chi đôi theo hiệp định Geneve. Từ đó lá cờ vàng 3 sọc đỏ vẫn được dùng làm lá Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hòa từ 20-7-1954 cho đến 30-4-1975.

Đó chỉ là những mốc khái quát sơ lược về sự thay đổi của Quốc Kỳ Việt Nam, các bạn có thể tham khảo thêm ở những tài liệu khác để hiểu thêm chi tiết.

Như vậy từ 20-7-1954 đất nước ta thực sự bị chia cắt thành 2 miền, mà sau này nguyên nhân góp phần làm miền Nam rơi vào tay Cộng Sản chính là việc ký kết hiệp định Paris vào ngày 27-1-1973 chấm dứt mọi sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ và cuối tháng 3 năm 1973 lính Mỹ cuối cũng đã rút khỏi Việt Nam, chúng ta cũng nhìn nhận rằng vào thời điểm trước đó những cuộc biểu tình phản chiến diễn ra rầm rộ cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình lúc đó.

Thật đúng là một thời đại tiến bộ về tri thức mà thoái bộ về tâm linh, giai đoạn 1954-1975 là giai đoạn mà các mặt của đời sống như y tế, giáo dục, văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội ở miền Nam ngày một tiến lên và miền Bắc thì cứ thụt lùi theo khoảng cách ngày một xa,vậy mà bộ máy tuyên truyền của Hồ Chí Minh luôn phát đi những bản tin về đời sống cơ cực khốn khó của hòn ngọc viễn đông, đánh cho mỹ cút ngụy nhào, bác cháu ta sẽ xây lại đất nước mười phần đẹp hơn lại còn tuyên truyền rằng đời sống người dân miền nam rất khốn khó, miền bắc sẽ tiếp tế cho miền Nam hàng triệu tấn lương thực và thuốc men…, các giá trị chuẩn mực đạo đức thực sự bị thoái hóa trầm trọng, và cái mốc 1975 cũng giống như cánh cửa hy vọng tiến hóa cuối cùng của dân Việt vị đóng sập lại bởi các âm binh.

Trong khi đó hãy nhìn lại suốt chiều dài lịch sử, người Việt chúng ta vốn bản tính hiền lành chất phác lấy nhân lễ nghĩa trí tín làm đạo thường cho sự ăn ở đối xử lẫn nhau , còn nhớ năm xưa khi Nội Thư Hoàng Tá Thốn đưa bọn Ô Mã Nhi về nước đã dùng kế của Hưng Đạo Vương, lấy người giỏi bơi lặn, sung làm phu thuyền, ban đêm dùi thuyền cho đắm, bọn Ô Mã Nhi đều chết đuối cả. Để rồi đời sau Sử Thần Ngô Sỹ Liên phải thốt lên “Chữ Tín là vật báu của nước, mà làm cho người khác phục mình sâu sắc thì đó là gốc của vương chính, Hưng Đạo Vương dùng bá thuật, muốn được thành công trong một thời mà thất Tín với muôn đời, đã nói là đưa về nước mà lại dùng mưu kế để giết đi thì thực là quỷ quyệt lắm [...] đâu có thể nói chữ Tín chỉ là chuyện nhỏ nhặt ”. (13)

Than ôi nghe người viết sử luận bình việc Tín Nghĩa mà hậu bối xấu hổ lắm thay, cái gốc của dân tộc này đã mất rồi ! Hỡi các Vua Hùng có công dựng nước, các bậc sỹ phu đã ngã xuống để giử nước, hỡi hồn thiêng sông núi hãy về đây, hãy về chứng kiến triều đại Cộng Sản, một Hồ Chí Minh bám theo học thuyết Mácxít, Lêninit,Stalinit, Maoít đã đem bóng ma Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản nấp dưới lá cờ đỏ sao vàng về bao trùm lên quê hương Việt Nam. Họ[chính quyền Cộng Sản] dùng tất cả những mưu mô xảo trá đẩy hàng triệu người vào biển máu vì mù quáng tin theo những khẩu hiệu có cánh như “đánh Mỹ cứu nước”, “giải phóng miền nam”, “xây dựng thiên đàng hạ giới” , “chấm dứt cảnh người bóc lột người” … để rồi khi “con thuyền cách mạng” cập bến thành công thì họ hiện nguyên bản chất ngu dốt tham lam nhưng có ưu thế là rất ác ôn, họ quay lại bóc lột ngay chính đồng bào ruột thịt của mình. Thử hỏi nhân lễ nghĩa trí tín ở chổ nào , có thủ đoạn nào đê tiện hơn thế không?

Hãy nhìn sang nước bạn và nghe ông M. Gorbatchev, cựu Tổng bí Thư Đảng Cộng sản Liên Sô : “Tôi đã bỏ hơn nửa cuộc đời đấu tranh cho lý tưởng cộng sản, nhưng ngày hôm nay tôi phải đau buồn mà nói rằng cộng sản chỉ biết tuyên truyền và nói láo.”, trong khi đó đất nước của chúng ta đã sinh ra một người phụ nữ thông minh xinh đẹp nhưng thiếu trung thực – Nguyễn Thị Bình, bộ trưởng ngoại vụ của chính phủ cách mạng lâm thời, vào năm 1973 tại Paris khi được ký giả Michel Tauriac phỏng vấn : “Xin trả lời tôi thẳng thắn, thưa bà, bà có phải cộng sản không?”. Rất “thông minh”,người phụ nữ ấy đã trả lời: “Không, thưa ông, tôi không phải cộng sản” và trước đó tháng 4 năm 1959 trước các ký giả Mỹ, Fidel Castro cũng đã tuyên bố : “Tôi đã nói một cách rõ ràng và khẳng định là chúng tôi không phải là cộng sản” (14 ) .

Tất cả những điều đó để cho chúng ta thấy rằng một khi những người cộng sản vẫn còn nắm chính quyền trong tay thì họ chỉ biết tuyên truyền và nói láo, khi mà cả thế giới đã quá hiểu bản chất tham tàn của cộng sản mà “theo cuốn The Black Book of Communism tiết lộ cho biết số người vô tội bị Quốc Tế Cộng Sản sát hại khắp nơi trên thế giới được ước tính như sau: tại Nga Sô hơn 20 triệu, tại Trung Hoa lục địa 65 triệu, Việt Nam 1 triệu, Bắc Hàn 2 triệu, Cambodia 2 triệu, Đông Âu 1 triệu, Phi Châu 1,7 triệu, Afghanistan 1,5 triệu và châu Mỹ La Tinh 150.000 người. Tất cả đã chết dưới bàn tay của Lenine, Staline, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh, Pol Pot và Kim Nhật Thành.” (15) với 1 bản cáo trạng làm cả thế giới phải khiếp sợ như thế, thế nên họ đã khéo léo ẩn mình dưới vỏ bọc là “mặt trận quốc gia giải phóng” chứ không chịu nhận mình là Cộng Sản để đánh lừa những ánh mắt tò mò nhìn từ thế giới bên ngoài, và bên trong thì họ ra sức bưng bít thông tin tuyên truyền dối trá và hứa hẹn với người dân đủ điều , nhiều trí thức và báo giới phương tây chưa một ngày sống dưới chế độ Cộng Sản đã mắc vố lừa thật to khi lòng trắc ẩn của họ cũng bị đánh lừa, hay họ chưa hiểu thấu đáo về bản chất của 1 cuộc chiến , họ xuống đường hô to khẩu hiệu đòi Mỹ phải rút quân, điều đó trên thực tế là đã thể hiện sự bất lực trước sự bành trướng của Đệ Tam Cộng Sản, khi ma quỷ đã đạt đến trình độ thượng thừa về hóa trang. Norman Morrison đặt người con gái bé bỏng Emily xuống gởi cho một người nào đó trong đám đông xung quanh rồi châm lửa tự thiêu trước lầu năm góc, một Norman 22 tuổi ngày đó cũng đã chọn một cái chết với lý tưởng thật cao đẹp như những người thanh niên Bắc Việt ngã xuống bên lá cờ đỏ sao vàng với một lòng tin sắt đá là họ đã chết cho tự do, chết cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng những người miền nam ruột thịt đang phải sống dưới ách đô hộ của Mỹ … Thế là bài “Emily em ơi” của Tố Hữu đến tận hôm nay vẫn còn góp mặt trong sách giáo khoa của con em chúng ta, và những hình ảnh phản chiến được Hà Nội tuyên truyền như một sự ủng hộ chính nghĩa từ thế giới, đã đẩy lớp lớp thanh niên đổ biết bao xương máu ngay trên chính quê hương mình để đấu tranh cho lợi ích của một bộ phận đảng viên cao cấp.

Và giờ đây có lẽ các sinh viên trí thức các giáo sư khuynh tả ngày nào đã phải ăn năn hay xấu hổ khi thấy một Việt Nam không hề có tự do dân chủ đa đảng đa nguyên, tôn giáo bị đàn áp, và con người phải sống cuộc sống túng quẫn, nếu họ có dịp đến Việt Nam ngày hôm nay họ sẽ được ngã lưng trên một chiếc giường thật êm ái trong căn phòng lộng lẫy của một khách sạn cao cấp không thua bất kỳ nơi nào, họ có thể phóng tầm nhìn ra xa để thấy một cuộc sống mới sau chiến tranh thật sôi động với những dòng sông xe gắn máy cuộn chảy trên đường phố , bên cạnh những tấm bảng sặc sở đậm chất tuyên truyền cố hữu của những nước Cộng Sản với hình cờ đỏ sao vàng , búa liềm hay chếch lên phía trên tấm hình ông Hồ Chí Minh luôn có những câu khẩu hiệu đại loại như “vì mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn minh” , họ sẽ hiểu thế nào là “dân giàu” khi nhìn thấy những cửa hàng với những nhản hiệu thời trang như Gucci, Louis Vuitton, của những nhà tư bản mới và khách hàng là những vị tư bản đỏ cưỡi trên những con xe đắt tiền , họ sẽ thấm thía thế nào là “xã hội công bằng” khi thấy dân oan trong đó có cả những gia đình có công với cách mạng kéo nhau đi khiếu kiện vì bị chính quyền cướp mất đất đai, đời sống rơi vào ngõ cụt … tất cả còn thảm cảnh hơn hình ảnh lính Mỹ bật quẹt Zippo đốt nhà tranh mà họ đã thấy trên báo chí , họ sẽ thấy tôn giáo ở nước này đang bị bóp chết dần dần và tệ hại hơn là sự biến thái của các linh mục, hòa thượng quốc doanh, tất cả còn đau đớn hơn hình ảnh Thích Quảng Đức tự thiêu năm nào, họ sẽ học được bài học thế nào là “văn minh” ở xứ này khi thấy có nhiều những trẻ em bụi đời sống vất vưởng trên đường phố phải cấu xé lẫn nhau để dành dật miếng ăn không khác gì những con thú hoang hay trong các động mại dâm ở Campuchia có rất nhiều những đứa trẻ nói tiếng Việt, tất cả còn thê lương hơn em bé Kim Phúc trần truồng với vết bỏng Napalm mà họ đã xót xa năm ấy. Như thế ai dám bảo rằng sự nhẹ dạ cả tin của người phương tây không góp phần vào sự hiện diện của lá cờ đỏ sao vàng ở Việt Nam hiện nay.

Và ngày 30-4-1975 là ngày mà “có triệu người vui, cũng có triệu người buồn” để rồi ngay sau đó thôi thì triệu người vui kia cũng phải gào khóc thảm thương như những con thú đang bị ông chủ cách mạng của mình xẻ thịt trong lò mổ. Thời điểm đó để che mắt và trấn an dư luận Cộng Sản Bắc Việt đã thành lập chính phủ lâm thời với lá cờ nửa trên đỏ, nửa dưới xanh, ở giửa là ngôi sao vàng, nhưng đâu rồi cũng lại vào đó ngày 2-7-1976 chính thức thống nhất 2 miền thành Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và dùng lá cờ đỏ sao vàng làm Quốc Kỳ cho đến hôm nay.

Như vậy chúng ta đã thấy rõ để chiếm được vị trí làm lá Quốc Kỳ của nước Việt Nam ngày hôm nay, lá cờ đỏ sao vàng đã giương cao một lý tưởng cao đẹp nhưng ảo tưởng, lá cờ đỏ sao vàng đã đánh lừa niềm tin của rất nhiều người, đã tuyên truyền vô cũng tinh vi và xảo trá, đã tắm bằng máu của hàng triệu người vô tội trên cả 2 chiến tuyến trong một cuộc chiến không đáng có (16a), đã thể hiện bản chất là đứa con trung thành của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản và hiện nay là chư hầu của Trung Cộng …

Dù hiện nay tôi không còn tin vào lá cờ đó nữa nhưng tôi vẫn luôn luôn dành tình yêu thương và tự hào bởi cách mà cha ông mình đã hy sinh, họ đã hiến dâng cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng, họ đã phơi xác trên hàng rào kẽm gai với viên đạn găm trong lồng ngực khi trên tay còn nắm chặt lá cờ đỏ sao vàng, dòng máu đỏ từ tim tung tóe mạnh liệt như họ đã từng tin rằng họ chết cho quê hương, họ chết cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, họ chết cho thế hệ mai sau được sống tự do hạnh phúc , mà giờ đây tôi đau buồn nhận ra rằng sau 33 năm sống dưới triều đại Cộng Sản, dân tộc này không còn nhiều người dám hy sinh như thế. Từ góc nhìn giá trị nhân bản thì đó là một cái chết vinh quang một cái chết rất người, nhưng nhìn từ cục diện chính trị thế giới tại thời điểm đó thì đó là một cái chết tức tưởi một cái chết lãng xẹt, VÌ ĐÁNG RA TẤT CẢ NHỮNG NGƯỜI VIỆT NAM KHÔNG CÓ AI PHẢI CHẾT. (16b)

3. Những thành quả mà lá cờ đỏ sao vàng mang về cho dân tộc :

1930-1931
Phong trào “Xô Viết Nghệ Tỉnh” là cuộc nổi dậy đầu tiên do Đảng Cộng Sản lãnh đạo với khẩu hiệu “Trí, phú , địa , hào, phải đào tận gốc trốc tận rễ” tức là cứ theo thứ tự bất lợi cho cách mạng thì tầng lớp trí, được “ưu tiên” rồi đến ,phú địa, hào đều phải được giết sạch thì thành phần vô sản mới có thể đẩy mạnh phong trào Cộng Sản trên khắp cả nước .

Và bài vè của Hà Sỹ Phu thật chua chát lắm thay khi cho chúng ta thấy bộ mặt lật lọng của Đảng Cộng Sản từ ngày còn sơ khai đến ngày đè đầu cưỡi cổ được dân tộc, “hiền tài là nguyên khí của quốc gia” nghe cũng có lý nhưng nếu bỏ Trí lên trên thì xem ra không được logic lắm với cái lịch sử giết chóc dã man kia, thế là xếp CÔNG- NÔNG-TRÍ .

Bốn anh Trí Phú Địa Hào
Chỉ riêng anh Trí lao đao đến giờ
Đảng ta thương Trí ngu ngơ
Cho Công – Nông – Trí chung cờ liên minh
Trông lên Liềm – Búa hai hình
Trí ta vẫn chẳng thấy mình ở đâu
Quay sang tìm Phú, Địa, Hào
Thấy ba bụng phệ… đã vào… Đảng ta!
1949-1956
“Cải cách ruộng đất” lần này thì với khẩu hiệu “hãy giết sạch lũ cường hào địa chủ ác bá” “đào tận gốc trốc tận rễ” “ cường hào ác bá phá ra tro” . Đúng , đảng ta luôn luôn đúng , phải giết hết phải đập phá hết tất cả ,lấy của người giàu chia cho người nghèo , sẽ không còn người bóc lột người . Tất cả những nơi thơ tự , chùa chiền , đình làng đều bị phá hủi, những người dân chịu khó tích cóp làm ăn bấy lâu nay , giờ đây trở thành những tên cường hào ác bá hay việt gian phản động , sẽ bị đem ra đấu tố bởi chồng con hay chính cha mẹ họ , hãy lắng nghe nhà thơ Xuân Diệu :
“Anh em ơi! Quyết chung lưng
Đấu tranh tiêu diệt tàn hung tử thù
Địa hào, đối lập ra tro,
Lưng chừng phản động đến giờ tan xương.
Thắp đuốc cho sáng khắp đường,
Thắp đuốc cho sáng đình làng đêm nay.
Lôi cổ bọn nó ra đây
Bắt quỳ gục xuống, đoạ đày chết thôi…”
Những ai bị đọa đày mà chưa chết thì sẽ bị đem ra xử bắn hay dùng trâu cày kéo đứt cổ để răn đe mọi người .

Ước tính trong thời gian này có hơn 150 ngàn người đã bị sát hại, những truyền thống tốt đẹp, đời sống tinh thần và tâm linh của người Việt bị phá hủy.

Sau đó với “chiến dịch sửa sai” Trường Chinh và Hồ Viết Thắng phải ngậm đắng nuốt cay khi Bác lấy khăn lau nước mắt rồi đem hai chú ra làm vật tế thần để xóa tan sự phẩn nộ trong quần chúng , thế mà thế hệ ba tôi ai cũng tin là thật, còn khen Bác thật đúng là con người nhân nghĩa đã khóc thương dân , chỉ có tụi cấp dưới làm bậy thôi .

1955-1958
“Nhân Văn Giai Phẩm” gắn liền với những tên tuổi như Nguyễn Hữu Đang ,Trần Dần, Lê Đạt, đã bị kết án tù đày vì dám lập ra tờ báo Nhân Văn và ấn bản Giai Phẩm với nội dung là những câu thơ tiêu biểu như của Trần Dần :

“Tôi bước đi không thấy phố không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa trên mầu cờ đỏ”
Người trực tiếp đứng ra tiêu diệt “Nhân Văn Giai Phẩm” chính là nhà thơ Tố Hữu trưởng ban tuyên huấn trung ương với những vần thơ khát máu:
“Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ
Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong,
Cho Đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng
Thờ Mao Chủ tịch, thờ Sít-ta-lin… bất diệt.”
Và những người có dính líu cũng bị tù đày tùy theo mức độ liên quan , tất nhiên những người này sẽ mang theo một “vết nhơ” không chỉ trong lý lịch của mình mà còn liên lụy đến con em. Như trường hợp nhà thơ Lê Đạt kể từ ngày 12-8-1958 bị đẩy đi tù đày lao động khổ sai, 30 năm mất bóng trên diễn đàn văn và trước khi ông chết 1 năm đã được trao giải thưởng văn học nghệ thuật nhà nước 2007.

1959.
Quốc hội ký quyết định thông qua vấn đề “hợp tác hóa nông nghiệp”, tôi đã đọc quyết định này 2 lần mà không hiểu nó viết về vấn đề gì , âu cũng là cách hành văn mơ hồ trong văn bản luật pháp của Cộng Sản, nhưng trên thực tế sau cải cách ruộng đất, cướp của người giàu chia cho người nghèo, thành phần bần cố nông nay được chia cho 1 ô đất nhỏ và vài cái cuốc cái xẻng , nhưng để vô sản hóa đến tận cùng đảng ta đã dùng những “kế hoạch kinh tế 3 năm, 5 năm” “công tư hợp doanh” “ hợp tác xã” để dần dần công hữu hóa hết những tài sản còn sót lại của thành phần bần nông , khiến miền Bắc trở nên vô cùng nghèo nàn và lạc hậu, trong khi tại thời điềm này ở miền Nam dưới lá cờ vàng tung bay quốc dân đang sống ở một nơi được mệnh danh là hòn ngọc viễn đông, tình cảnh thật không khác gì bắc Hàn, nam Hàn ngày hôm nay .

Ai khổ mặc kệ, Hồ Chí Minh thì vẫn cứ ở trên bục ra rả thuyết pháp “Đảng ta là vĩ đại, vì ngoài lợi ích của giai cấp, của nông dân, của dân tộc, đảng ta không có lợi ích gì khác”

1968 “Huế Mậu Thân”.
Thơ chúc tết của Hồ Chí Minh :

“xuân này hơn hẳn mấy xuân qua
Thắng trận tin vui khắp nước nhà
Nam Bắc thi đua đánh giặc mỹ
Tiến lên! toàn thắng ắt về ta”
“Trong cuộc đấu tranh chống Mỹ cứu nước. Ta được tận hưởng tư tưởng, tình cảm cao đẹp của Bác Hồ, yêu nước, yêu dân, tin dân, tin cách mạng, tin vào thắng lợi qua những vần thơ Tết Xuân Mậu Thân, cho ta soi mình vào tâm đức tổ tiên, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ.” (Trích báo đảng kỷ niệm 40 năm tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân của tiến sỹ Trần Viết Hoàn)

Và kết quả của tình “yêu nước, yêu dân” đó là ở Huế có 9776 ngôi nhà bị phá hủy, hoàn toàn, 3169 ngôi nhà bị hư hỏng nặng, 7000 người vô tội đã bỏ mạng.

“Chiều đi qua Bãi Dâu, hát trên những xác người
Tôi đã thấy, tôi đã thấy
Trên con đường người cha già ôm con lạnh giá
Chiều đi qua Bãi Dâu, hát trên những xác người
Tôi đã thấy, tôi đã thấy
Những hố hầm đã chôn vùi thân xác anh em”

Trịnh Công Sơn 1968.

1972 “Mùa hè đỏ lửa”.

“Mùa Hè 1972, trên thôn xóm và thị trấn của ba miền đồng bốc cháy một thứ lửa nhân tạo, nóng hơn, mạnh hơn, tàn khốc gấp ngàn lần, vạn lần khối lửa mặt trời sát mặt. Lửa ngùn ngụt. Lửa bừng bừng. Lửa kêu tiếng lớn đại pháo. Lửa lép bép nức nở thịt da người nung chín. Lửa kéo dài qua đêm. Lửa bốc khói mờ trời khi ngày sáng. Lửa gào chêm tiếng khóc của người. Lửa hốt hoảng khi cái chết chạm mặt. Lửa dậy mùi thây ma. Lửa tử khí trùng trùng giăng kín quê hương thê thảm khốn cùng.
Kinh khiếp hơn Ất Dậu, tàn khốc hơn Mậu Thân, cao hơn bão tố, phá nát hơn hồng thủy. Mùa Hè năm 1972 – Mùa Hè máu. Mùa Hè của sự chết và tan vỡ toàn diện. Mùa Hè cuối đáy điêu linh. Dân tộc ta sao nỡ quá đọa đày!” (17)

30-4-1975 Đối với tôi những con số này như mang theo thông điệp của quỷ, nó nhắc cho người Việt Nam phải nhớ rằng: Hỡi người anh em ! chúng ta phải thương yêu nhau vì tất cả chúng ta đều đau khổ.

Những gì viết trên đây chỉ mang tính chất liệt kê, còn để trình bày đầy đủ thì không bút mực nào chịu đựng nỗi bi kịch oan khiên đó.

Hãy điểm xem đến nay đất nước ta đã đạt được những thành tựu gì từ khi lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập :

- Tham nhũng tràn lan, quan sống phè phỡn, đạo đức xã hội suy đồi, con giết cha , mẹ bán con, vợ giết chồng …
- Kinh tế ,chính trị, y tế, giáo dục, văn hóa, xã hội xuống cấp, tụt hậu thê thảm so với thế giới.
- Trí thức, sử gia, luật gia, khoa học gia, kỹ sư, bác sỹ dược sỹ, tiến sỹ, nhà văn nhà báo , họa sĩ nhạc sĩ và thi sĩ … đa số đều trở nên vô cảm .
- Lạm phát phi mã cộng thêm quan lại tham lam đẩy người dân vào cảnh khốn cùng
- Hàng triệu người Việt Nam vượt biên tìm cuộc sống hạnh phúc ở xứ người.
- Hàng chục ngàn cô gái Việt Nam bị bán sang nước ngoài để bán thân, trong đó có cả những em bé.
- Hàng trăm ngàn lao động phải chạy ra ngước ngoài để bán bán sức .
- Bao cảnh đời khó khăn khổ sở đói nghèo trong nước phải làm những nghề mạt hạng ăn xin, bán dâm, giết người trộm cắp…
- Tình trạng dân oan khiếu kiện kéo dài, oán hận không được giải quyết
- Tôn giáo bị đàn áp, linh mục và hòa thượng quốc doanh thì tăng lên theo cấp số nhân.
- Công lý bị phỉ báng, tự do bị tước đoạt và nhân quyền bị bóp nghẹt
- Đất đai của tổ tiên thì ngày một bị thu hẹp lại

Nhìn vào một xã hội như thế để thấy được cái vô đạo đức của người làm chính trị, và “khi khảo sát và nghiên cứu sự phát triển trên thế giới mới thấy xã hội Việt Nam hiện nay vẫn ở thời Trung Cổ, tức tụt hậu sau thế giới gần 500 năm” (18). Nhưng theo tôi thì không cần so với thế giới làm gì , người Việt hôm nay còn tụt hậu hơn chính mình 500 trước . Bạn sẽ bảo tôi, làm sao có thể như vậy được khi chúng ta hàng ngày vẫn được chạy ô tô, ở nhà có máy lạnh, xem truyền hình, ăn KFC và uống Coca Cola … toàn là những thứ mà 500 trước không hề có. Nhưng chỉ cần bạn chịu khó đọc lại lịch sử thôi thì sẽ thấy muôn mặt đời sống xã hội hiện nay đang tuột dốc không phanh. (1460- 1497) thời vua Lê Thánh Tông, cha mẹ dạy con có phép tắc, trai gái đều có nghề nghiệp, không có nạn rượu chè cờ bạc, không tụ tập đồ đảng để đi trộm cướp, vợ chồng cần kiệm làm ăn, ân nghĩa trọn vẹn, quan dân đều phải hiếu để, chăm chỉ làm ruộng cùng giúp đỡ lẫn nhau… về giao thiệp với Tàu thì luôn cho người dám sát đề cao cảnh giác, ngài nói rằng “Ta phải giử gìn cẩn thận, đừng để cho ai lấy mất 1 tấc núi, 1 tấc sông của Thái Tổ để lại” (19). Nhờ có những bậc minh quân tài trí đức độ như thế nên văn hóa nước ta thời đó mới được hưng thịnh. Chỉ mấy điều đó thôi chưa đủ để chúng ta phải hổ thẹn sao?

Chính quyền Cộng sản đã biến đời sống xã hội của Việt Nam thành một thứ xã hội mà con người sống trong đó phải luôn luôn toan tính ăn thịt nhau để sống, đó chính là hậu quả của học thuyết vô thần, họ tiêu diệt tôn giáo cho đó là “thuốc phiện” ru ngủ nhân dân, họ luôn luôn sống trong hận thù, thứ hận thù giai cấp, mà những ai không phải là Cộng Sản thì được họ xếp vào những kẻ thù cần “phải bị đấu tố như những tên bồi của đế quốc” (20) như Hồ Chí Minh đã từng nói. Ngày trước Phạm Quỳnh một nhà trí thức lỗi lạc với chủ trương “xây dựng một Việt Nam phú cường tự do và độc lập” đã bị Việt Minh đấu tố là tên việt gian phản quốc , rồi bị đưa vào rừng đập vở đầu bằng cày và cuốc, đến sau này khi nhạc sỹ Phạm Tuyên con trai của Phạm Quỳnh được gặp Hồ Chí Minh vào năm 1945, “ông già dân tộc” đã khẳng khái nói rằng : “Cụ Phạm là người của lịch sử, sẽ được lịch sử đánh giá lại sau này. Con cháu cứ vững tâm đi theo cách mạng”. (21), Và Hòa Hảo-Huỳnh Phú Sổ, Quốc Dân Đảng-Nguyễn Thái Học, Duy Tân-Lý Đông A, Đệ Tứ Cộng Sản-Tạ Thu Thâu … tất cả đều bị ám hại bởi những thủ đoạn tương tự .

Ngày hôm nay thì chính quyền Cộng Sản lại quay sang hận thù với chính người dân trong nước, bà con dân oan biểu tình, người dân lao động đình công, giáo dân cầu nguyện, hay sinh viên xuống đường đả đảo Trung Cộng…. tất tả những thành phần này đã được bộ máy an ninh khổng lồ dành cho sự chăm sóc đặc biệt, họ dùng công cụ là báo chí và truyền hình với những tay sai đắc lực là lũ văn nô bồi bút ra sức nhào nặn bóp méo sự thật một cách trắng trợn, rồi tuyên truyền về sự nguy hiểm của các thế lực thù địch, diễn biến hòa bình, phản động, khủng bố …ai có ý định chống đối là bắt giam.

Họ luôn mồm kêu gọi hòa đồng hòa giải dân tộc, nhưng luôn gọi thành phần người Việt hải ngoại với cờ vàng ba sọc trên tay là “bọn chống cộng cực đoan”, ai mới là kẻ cực đoan đây khi chính quyền Cộng Sản là kẻ nắm quân đội trong tay với pháp luật là giấy thông hành , chính quyền sẽ bỏ tù hết những tên nào dám vì lợi ích quốc dân mà làm tổn hại đến lợi ích của đảng, vậy xin hỏi ai mới là kẻ khủng bố cực đoan đây?

Để minh họa rõ hơn về vấn đề này hãy lấy Lê Thị Công Nhân làm một ví dụ, chị đã chịu án 4 năm tù và 3 năm quản chế vì tội dám bất đồng chính kiến. Và ký giả Xuân Hồng của BBC đã đặt so sánh về hoạt động thời trẻ của bà Nguyễn Thị Bình với những nhà bất đồng chính kiến gần đây như Lê Thị Công Nhân, hỏi bà có suy nghĩ gì . Bà ta đã trả lời “Những việc làm của họ [những người đấu tranh chính trị] trong tình hình này không đem lại lợi ích cho đất nước.” (22)

Vậy là đã rõ, người đàn bà thiếu trung thực này đã một lần xảo trá với báo chí phương tây năm 1973, giờ đây bà ta còn dám bảo việc đấu tranh chính trị xóa bỏ cái đảng độc tài thối nát này đi không mang lại lợi ích cho đất nước, vậy nó không bị xóa bỏ thì mang lại lợi ích cho ai?

Đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay có đầy đủ các “đức tính” tham lam, độc tài, cực đoan, khủng bố, họ cho rằng đất nước Việt Nam này chỉ do một mình họ quyết định mà người dân không có quyền tham gia, bằng chứng là gần đây khi thấy phong trào viết Blog phát triển mạnh với nhiều sự thật rùng rợn của đảng được phơi bày, họ đã đánh hơi thấy mối nguy hiểm , họ cho cái loa phóng thanh Đỗ Quý Doãn phát đi bản tin : “Blog Không được đề cấp đến các vấn đề kinh tế chính trị xã hội theo hướng tiêu cực, Quy định hoạt động blog sẽ định ra những tiêu chí để người tham gia hoạt động biết việc nào mình được làm và việc nào không được làm.” (23)

Mọi người đã thấy bản chất độc tài cực đoan bộc lộ rõ chưa, trí tuệ của họ vĩ đại đến độ biết hướng nào là tiêu cực ,việc gì là nên làm và việc gì không nên làm cơ đấy! Lấy ví dụ đó để thấy rằng đảng không cho phép người dân bàn việc nước, mà cái đất nước này của ai, đâu phải của riêng người Cộng Sản đâu mà tự cho mình cái quyền cắt đất cắt biển dâng cho Trung Cộng. Chợt nghĩ nếu Trần Quốc Toản vô phúc sống dưới chế độ này dám bóp nát quả cam cái coi, chí ít cũng phải lãnh án 3 đến 4 năm tù .

[...]

Như vậy chúng ta có thể thấy từ năm 1927 khi đó ở Việt Nam chưa xuất hiện lá cờ đỏ sao vàng , nhưng trên thực tế thì nó đã ấp ủ từ trong âm mưu bành trướng của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản mà Hồ Chí Minh là tay sai, và từ đó đến nay nó không hề mang ý thức dành tự do, không có nguồn gốc dân tộc và không có tình yêu thương đồng bào.

Có lẽ năm xưa khi Trần Trọng Kim viết cuốn Việt Nam Sử Lược không thể hình dung ra được kết quả “trăm năm trồng người” của Hồ Chí Minh nên mới có những câu cảm thán “Người bản quốc phải biết rằng phàm sự sinh tồn tiến hóa của một nước, là ở cái chí nguyện, sự nhẫn nại và sự cố gắng của người trong nước. Vậy ta phải hết sức mà học tập, giử cái tâm cái trí cho bền vững thì chắc tương lai còn hy vọng” .

Ôi! sao tôi bi quan quá, tương lai còn hy vọng không khi ở trong nước ngày nào cũng thấy thi đua học tập tư tưởng Hồ Chí Minh, người người nhẫn nại phấn đấu vào đảng để được hưởng đặc quyền đặc lợi , bác Hồ kính yêu cũng đã từng nói : “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, thì phải có những con người xã hội chủ nghĩa”, bác ơi bác hô khẩu hiệu thì không ai dám so với bác , nhưng bác về mà xem thành quả trăm năm trồng người của bác này, một người lý tưởng trong xã hội Việt Nam hiện nay được định hướng như sau :

Phải phấn đấu vào đại học ,rồi ráng lên thạc sỹ, tiến sỹ, sau đó ra trường làm thật nhiều tiền, phấn đấu mua thật nhiều áo quần hàng hiệu, phấn đấu sắm ô tô hạng sang, và phấn đấu ở biệt thự cao cấp … và dường như đó đã thành những giá trị chuẫn mực của các chàng trai cô gái cần phải cố gắng đạt đến trong cuộc sống. Một bộ phận không nhỏ khác thì cái tâm cái trí đã chìm vào rượu chè và các cuộc chơi thâu đêm suốt sáng , họ không tìm được ý nghĩa đích thực trong cuộc sống hiện tại, họ đang lạc lối trong “thiên đàng hạ giới” như những con thú hoang quen với khu rừng của nó và hàng ngày phải cắn xé đồng loại để dành dật miếng ăn. Chỉ còn một số bộ phận nhỏ họ là những thanh niên rất giỏi trong nhiều lĩnh vực của đời sống như y khoa, kinh tế, kiến trúc … nhưng họ chỉ có thể cứu vài người bệnh đang hấp hối, thành lập vài công ty giải quyết công ăn việc làm cho vài người, và xây những tòa nhà cao tầng, những khu vui chơi tráng lệ để phục vụ cho 1 bộ phận người dân, và họ đâu biết rằng họ chỉ là những bánh răng tốt hiếm hoi trong một guồng máy khổng lồ bệ rạc và rĩ rét phải oằn mình kéo theo lũ cán bộ mặt người với đầy đủ phẩm chất của heo. Cái dân tộc này cần trong thời điểm hiện nay không phải là những chiếc bánh răng rời rạc, mạ vàng hay bằng kim cương, mà cần một guồng máy được điều khiển bởi ý chí và sức mạnh toàn dân để đuổi theo thế giới văn minh đã tiến quá xa kia kìa.

Giờ đây khi đang gõ những dòng để kết thúc bài viết này, chỉ còn tiếng lách tách trên bàn phím trong đêm khuya nơi đất khách quê người càng khiến tôi nao lòng và cảm thấy cô đơn hơn bao giờ , tôi đang ngồi đây, đang nghe tiếng thở yếu ớt từ quê hương xa xôi vọng lại như một bệnh nhân đã kiệt sức vì chống chọi với căn bệnh trầm kha, để cứu bệnh nhân Việt Nam bây giờ đã là quá muộn, tôi mong rằng khi đọc xong những dòng tâm huyết này đây , các bạn của tôi ở trong nước sẽ nhận ra đâu là “ngọn cờ đại nghĩa của dân tộc Việt” để rồi sống có trách nhiệm với bản thân trước tính mệnh của dân tộc, như chúa Giêsu đã nói “Anh em hãy tìm lấy sự thật, và sự thật sẽ giải phóng anh em” .

Có một số anh em của tôi có quan điểm rằng “họ chỉ đấu tranh vì tự dân chủ chứ không chống cộng”

Nay tôi xin bày tỏ quan điểm của mình rằng : những gì cần nói tôi đã nói trong nội dung bài viết này, chúng ta đã thấy rõ bản chất tà giáo của chủ nghĩa Cộng Sản đang ẩn nấp dưới ngọn cờ dân tộc, và một khi so sánh bản chất cố hữu ở các nước cộng sản với các nước không cộng sản thì chúng ta sẽ thấy 2 vấn đề :

Một chế độ Độc Tài có thể không phải là chế độ Cộng Sản (tức đảng Dân Chủ hay đảng Lao Ðộng cũng có thể trở thành độc tài), nhưng Cộng Sản chắc chắn phải là Độc Tài

Một nước tự do dân chủ đa nguyên đa đảng thì có thể có đảng Cộng Sản hoạt động, nhưng một nước Cộng Sản thì không thể đòi hỏi vế ngược lại .

Vì bản chất cố hữu mang tính di truyền đó của chính quyền Cộng Sản nên chúng ta không thể hợp tác với chính quyền Cộng Sản chống tham nhũng, cũng giống như chúng ta không thể dạy cho con linh cẩu sống bằng cách ăn hoa quả .

Chúng ta không thể hợp tác với chính quyền Cộng Sản xây dựng nhà nước pháp quyền.

Chúng ta không thể đòi hỏi ở chính quyền cộng sản tự do và dân chủ, vì như ông Nguyễn Minh Triết đã nói 1 câu rất thật lòng “ bỏ điều 4 là tự sát”

Trong cuộc đấu tranh này chúng ta phải nhìn rõ một sự thật rằng với một chính quyền mà nhân lễ nghĩa trí tín đều không có, thì đừng mong họ tự sát cho dân tộc sống .

Và hiện nay Quốc Tế Cộng Sản đã bị tòa án quân sự thế giới lên án với :

Tội ác chống lại hòa bình thế giới
Tội ác chiến tranh
Tội ác chống lại con người

vậy chúng ta chống cộng có nghĩa là chúng ta chống lại làn sóng vô thần đang ám hại, xô đẩy loài người xa rời thượng đế, xa rời rời lẽ sống đạo đức ở đời.

Chúng ta chống cộng có nghĩa là đấu tranh cho hòa bình tự do dân chủ và xóa bỏ hận thù do chủ nghĩa Cộng Sản dựng lên.

Và hơn hết chúng ta chống cộng có nghĩa là chúng ta giúp đở những người anh em đang còn u mê với lý tưởng Cộng Sản (trong đó có cả những người thân trong gia đình tôi), hãy thức tỉnh hãy quay về với nhân dân, giúp họ thoát khỏi bờ vực thẳm của lương tâm con người. (24)

Cuối cùng tôi rất mong muốn được lắng nghe những tiếng nói phản biện, làm ơn hãy cho tôi một lý do để thế hệ hôm nay và mai sau tiếp tục lầm lũi bước đi dưới sự chỉ đạo của đảng và giương cao lá cờ đỏ sao vàng .

Lê Trung Thành

Chú thích:
1. Tất nhiên đây chỉ là một khảo sát với vài người mà tôi có dịp trò chuyện, chưa có ai quan tâm đến vấn đề này nên tôi dành 0,1 cho hy vọng .
2. Tôi có một người anh hiện là tiến sỹ triết học Mác Lênin hàng ngày vẫn đang miệt mài thuyết pháp trên bục giảng các trường đại học ở Sài Gòn, bài viết này cũng xin tặng anh, vì anh rất quan tâm đến tôi , luôn nhắc nhở tôi phải cảnh giác cao trước âm mưu lôi kéo kích động của các thế lực thù địch phản động, khủng bố …
3. Trích từ “Quốc Kỳ Việt Nam- Nguồn gốc và lẽ chính thống” của Kỹ Sư Nguyễn Đình Sài. Tôi cũng đã kiểm chứng ở phần tài liệu tham khảo của tác giả cộng thêm một số sử liệu khác và thấy rằng đây là một tài liệu khả tín, nếu các bạn không đồng ý thì có thể đưa ra những tư liệu phản bác lại. 4. “Người vẽ Quốc Kỳ Việt Nam”, Nguyễn Xuyến, Website Đảng Cộng Sản Việt Nam, 08/09/2004.
5. “Quốc Kỳ Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” website Đảng Cộng Sản Việt Nam, 15/08/2003
6. Quốc kỳ Liên bang Nga hiện nay là lá cờ có 3 màu, xếp thứ tự từ trên xuống dưới: trắng, xanh, đỏ. Lá cờ 3 màu bắt nguồn từ thời hoàng đế Piốt vĩ đại. Và sau sự sụp đổ của Đảng cộng sản Liên Xô đã đưa lá cờ 3 màu truyền thống của Nga trở lại đất nước này.
7. “Quốc Huy Quốc Kỳ và Quốc Ca của nước Nga” Website Đảng Cộng Sản Việt Nam , 24/10/2005.
8. “Chia tay ý thức hệ”, Hà Sỹ Phu, 1995
9. Đọc “Cửu Bình” ở : www.cuubinh.org hoặc www.cuubinh.net , Tài liệu gốc bằng tiếng Trung : http://dajiyuan.com/gb/4/11/19/n722351.htm
10. “Mao Unknow Story”, chương 40, Jung Chang& Jon Halliday
11. “Việt Nam Sử Lược” ,tr234, Trần Trọng Kim.
12. “Cách mạng tháng 8: những thông điệp từ quá khứ”, Vietnamnet, 17-8-2005
13. “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư”, tr199.
14. “Hồ sơ đen cộng sản Việt Nam từ 1945 đến nay”, tr56, Michel Tauriac, Nguyên Văn chuyển ngữ, văn mới 2002.
15. “Hải Ngoại huyết thư”, Nguyễn Anh Tuấn.
16a, 16b. Bài học kinh nghiệm của Nhật Bản trong giai đọan thay đổi chế độ từ quân chủ phong kiến sang quân chủ lập hiến, rồi từ quân chủ sang dân chủ , một Nhật Hoàng nhìn xa trông rộng, ông đã nhẫn nhục làm tù binh cho Hoa Kỳ đễ dựa vào Hoa Kỳ mưu lợi cho quốc dân mà kết thúc là hiệp định San Francisco được ký kết , Hoa Kỳ trao trả độc lập cho Nhật bản năm 1951 … cùng với phong trào trao trả thuộc địa sau này mà Hồng Kông là 1 ví dụ… so sánh và liên hệ như thế cho chúng ta thấy nếu như không có Hồ Chí Minh thì dân tộc này sẽ không có ai phải chết vì chiến tranh , thậm chí có thể đã là một quốc gia phú cường hàng đầu Châu Á.
17. “Mùa hè đỏ lửa” Phan Nhật Nam
18. “Cờ vàng ba sọc đỏ: Ngọn cờ đại nghĩa của dân tộc Việt”, Nguyễn Anh Tuấn.
19. “Việt Nam Sử Lược” ,tr102, Trần Trọng Kim.
20. “Hai Việt Nam”, tr 120, Bernard Fall, Payot, 1967.
21. “Nhạc Sỹ Phạm Tuyên, lịch sử sẽ công bằng với cha tôi” Tiền Phong, 4-12-2007.
22. BBC phỏng vấn bà Nguyễn Thị Bình , 13/10/2008.
23. Thứ trưởng thông tin truyền thông Đỗ Quý Doãn trao đổi với Vietnamnet, 2/10/2008.
24. Bài viết này cũng dành tặng cho một người bác của tôi hiện đang công tác ở Phòng PA25, mong rằng sau khi đọc được bài viết này bác cháu mình sẽ hiểu nhau hơn .
***

“Mặt trời đứng bóng thì xế,
Mặt trăng khi tròn thì khuyết,
Vật gì thịnh lắm thì suy.”

Những người Cộng sản nhận định rằng : “Cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 thực sự là biểu trưng, là kết quả của khối đại đoàn kết dân tộc, là hội tụ của các nguồn xung lực hồi sinh mạnh mẽ của toàn dân tộc trong thời khắc bước ngoặt lịch sử dưới ngọn cờ chói lọi tinh thần yêu nước của mặt trận Việt Minh do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo.”

http://baotoquoc.com/2009/12/26/c%E1%BB%9D-vang-ba-que-x%E1%BB%8F-la/

Bài Xem Nhiều