We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 1 June 2011

Lột Trần Chế Độ CSVN

Đối với thế giới, uy tín của chính quyền cộng sản Việt Nam đã mất từ lâu, mất một phần khi xảy ra cuộc chiếm đóng Cambodia, mất toàn phần khi làn sóng thuyền nhân tràn lên các đại dương và xác chết của họ trôi khắp bãi bờ các quốc gia khác.

Với dân chúng trong nước, giờ đây họ thôi là nhà cầm quyền vĩ đại. Bởi sự thoát đồng đã xảy ra từ rất lâu, họ thôi là thượng đế và dân chúng thôi là những con nộm bị điều khiển bằng thứ tôn giáo do kẻ cầm quyền sáng tác. Dân chúng đã nhìn rõ bản mặt của họ: những con vật đi bằng hai chân, những con vật tham tàn, những con vật đang run sợ vì sự tham tàn của chúng không còn được bóng tối che đậy.

Nhà cầm quyền Hà Nội lúc này chỉ còn tin vào nòng súng. Nhưng bất kì kẻ cầm súng nào cũng có lúc chết vì chính thứ vũ khí mà họ sử dụng. Bởi vì, chẳng có thứ vũ khí nào tự động nhả đạn. Vũ khí nào cũng cần bàn tay của con người, dù là bàn tay bấm nút chiến tranh hạt nhân hay bàn tay cầm dao găm, súng lục. Khi con người đã nhìn rõ sự thật, khi họ không còn bị huyễn hoặc bởi các trò mị dân, khi họ hiểu họ là ai và họ có thể làm chủ số phận của họ bằng cách nào, lúc ấy, các nòng súng sẽ đổi hướng.

Tiếng nhạc ầm ĩ trong ngày hội “Ngàn năm Thăng Long” hẳn đã át đi tiếng nức nở của trên năm mươi gia đình nạn nhân chết vì bão lụt ở miền Trung. Các quan chức Hà Nội không bỏ ra một nửa giây để tưởng niệm những kẻ xấu số. Họ quên. Cũng như họ đã từng quên những người dân đánh cá tỉnh Thanh bị giặc Tầu giết ngoài khơi, như họ quên các chiến sĩ đã bỏ mình trên biên giới vào cuộc chiến tranh năm 1979. . .

Họ quên và họ quên. Vậy họ nhớ điều gì?

Khi con gái họ có nhu cầu mua một chiếc váy cưới xấp xỉ 200. 000 euros tại đại lộ Champs Elysées thì họ phải nghĩ cách làm đầy thêm các ngân khoản ở ngân hàng ngoại quốc. Khi nhân tình của họ cần chiếc xe hơi sang trọng như xe của cô Hồ Thu Hồng thì họ phải nghĩ cách để kiếm cho bằng được chiếc xe ấy, để nàng khỏi tủi thân vì kém chị kém em. Khi ngôi lầu của họ chỉ đáng giá hai triệu đô la mà của kẻ khác giá gấp đôi thì họ phải tìm cách đuổi kịp và vượt hắn. Đó là mối quan tâm cốt lõi của giai cấp tư sản đỏ Việt Nam giờ đây, cái guồng quay cũ kĩ của đám mới giầu.

Ai đó từng nói câu này: “Trong giai đoạn tích luỹ tư bản, giai cấp tư sản có thể giết chết cha đẻ của họ để có tiền”.

Giai cấp tư sản đỏ Việt Nam cũng có chung một trạng thái tâm lý đó: khát tiền, làm mọi thứ để có tiền, bất kể phương tiện nào, dù đó là tội ác. Nhưng tư sản đỏ Việt Nam không cần giết bố, bởi họ có một đối tượng khác dễ giết hơn nhiều: dân đen. Họ không cần đốn ngã kẻ sinh thành bởi có thể hút máu dân đen một cách thoả thuê, vừa thoả mãn cơn khát tiền lại vừa yên ổn lương tâm vì không mắc tội giết cha. Lấy ví dụ về tập đoàn Vinashin. Mua một vỏ tầu cũ nát, đáy nứt, không thể vận hành, lấy sơn quét lên rồi rút hàng triệu đô la trong công quỹ. Hàng triệu đô la ấy quan lớn bỏ túi, còn con tầu “bãi rác” sơn bóng loáng kia được đặt trên đất liền để làm “hiện vật bảo tàng”.

Nghe tưởng như chuyện đùa. Nghe như tiếu lâm. Thứ tiếu lâm cười ra nước mắt. Chỉ có ở Việt Nam, nơi kẻ cầm quyền coi dân là lũ trâu bò, mới dám làm điều ngang ngược đó. Chỉ có ở xứ Việt Nam, khi tất cả các cuộc kí kết, thương thuyết của chính phủ đều diễn ra trong bóng đêm và dân chúng không được quyền biết đến mới có thể xảy ra hiện tượng này. Lấy ví dụ thứ hai: các vụ buôn người. Dưới chế độ độc đảng, độc tài, ai có thể làm được điều này nếu không là chính các thành viên trong chế độ ấy. Tại sao lại buôn người? Vì buôn người thu lời nhanh nhất, mà vốn đầu tư coi như zero nếu có quyền hành. Cho nên, buôn người là nghề mới của đảng cộng sản Việt Nam, đảng thừa thãi quyền hành vì không có đối trọng.

Đã là lái buôn, ắt phải tham. Lòng tham mà không bị điều tiết bởi các điều luật thì nó sẽ phát triển vô cùng tận. Do đó, món hàng hoá có tên gọi là “dân đen”của các quan chức Việt Nam sẽ được khai thác tối đa để làm đầy túi các bậc trị vì dân. Khi đã coi dân chúng là hàng hoá, ắt người cộng sản phải tìm mọi cách để đám dân đen trở thành vật vô tri, tức là các công cụ, thứ công cụ này có chức năng sản xuất nhưng phải câm và phải điếc. Khi mà các công cụ dân đen không chịu nổi đàn áp, buộc mở mồm thì lập tức họ có cách để bắt nó phải câm. Vũ khí đó có tên gọi “chuyên chính”, bộ máy đàn áp trứ danh lâu nay.

Hãy đọc báo Công an nhân dân đưa tin về vụ xử ba thanh niên sáng lập công đoàn Tự do ngày 27 tháng 10 năm nay:

“Được Trần Ngọc Thành, kẻ cầm đầu Uỷ ban bảo vệ người lao động Việt Nam đưa Hùng, Hạnh sang Malaysia đào tạo, huấn luyện, rồi từ ngày 28/1 đến ngày 9/2/10, Trần Ngọc Thành đã chỉ đạo Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương thực hiện các vụ kích động biểu tình, rải truyền đơn ở Trà Vinh, Đồng Nai, Tp HCM, nội dung kêu gọi người dân chống lại Đảng, Nhà nước, kêu gọi đấu tranh để đòi dân chủ; lợi dụng các vấn đề còn thiếu sót trong chế độ lao động, tiền lương của công nhân ở một số khu công nghiệp để tổ chức tuyên truyền, kích động công nhân đình công, biểu tình, phá hoại máy móc, nhà xưởng, tài sản của doanh nghiệp. . . ”

Thứ nhất, tác giả bài báo này quên rằng “Kích động công nhân đình công, biểu tình, phá hoại máy móc, nhà xưởng, tài sản của doanh nghiệp” là đích xác các hành động của người cộng sản Việt Nam những năm trước cách mạng. Các hành động này cũng đã từng xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới, khi giai cấp lao động không chịu nổi sự áp bức và bóc lột của đám chủ nhân. Các phản ứng tiêu cực này chỉ xảy ra khi sự thoả thuận giữa người làm công với kẻ trả công bị vi phạm và cuộc sống của người lao động bị đe doạ.

Phải chăng tác giả bài báo này cho rằng chỉ riêng đảng cộng sản vĩ đại của ông ta là được quyền sử dụng chiêu thức ấy còn những người khác thì bị cấm vì họ không được là người mà chỉ là thứ phẩm của người, tức “dưới người”, nói cách khác: “người vượn Néandertal”?

Thứ hai, câu “lợi dụng các vấn đề thiếu sót trong chế độ lao động, tiền lương của công nhân. . . ” chỉ là lối mỹ từ hoá sự vật. Nói một cách xác thực và dân giã, hiện nay các quan lớn cộng sản Việt Nam đang thực thi chính sách “bòn nơi khố quạnh, đãi nơi quần hồng”.

Tại sao lại “bòn nơi khố quạnh”? Vì ngu, vì tham, vì trước ngoại nhân thì dốt nát và khiếp nhược nên các quan lớn chỉ có lối kiếm tiền dễ nhất là bóc lột đồng bào mình, những người không có phương tiện để tự bảo vệ, những kẻ bị hà hiếp, bị tê liệt cùng một lần vì đói nghèo và sợhãi.

Tại sao lại “đãi nơi quần hồng”? Vì người cộng sản lúc này thôi còn là cộng sản, họ đã trở thành đám tư sản dù vẫn giữ vẻ mặt ngô nghê và bộ điệu lố bịch của kẻ cách đây chưa lâu còn lo le sợi dây giong lợn giống hoặc lúc lắc cái ống bơ đựng xu lẻ ăn mày. Khi đã đổi vai thì họ phải bám vào cái giai cấp tương lai của họ, giai cấp mới này chính là đám quần hồng, thế nên họ phải đãi đám quần hồng để còn kiếm chác phần đường mật trong đũng cái quần hồng ấy.

Sự thật đơn giản, nếu người ta nhìn thẳng vào nó.

Đám cầm quyền hôm nay đã rơi từ đỉnh cao của sự “kiêu ngạo cộng sản” xuống vũng bùn của“các con lợn truỵ lạc phương Tây” mà trước đây họ thường sa sả chửi rủa, họ đang sống xả láng trong cảnh phồn vinh mà trước đây họ mỏi mồm lên án. Nói tóm lại, họ đang là thứ “khỉ khoác quần áo”, thứ “nhặt cái đuôi của bọn tiểu tư sản cắm vào lỗ mồm” như ông tổ hói đầu Lenin của họ từng cảnh báo trước đây.

Trong cuộc sống tối tăm, nhục nhằn của người nô lệ, các anh hùng đánh đuổi ngoại xâm chính là các bậc thánh sống, được tôn trọng, thần phục, ngưỡng mộ, và có toàn quyền trở thành các nhà sáng lập triều đình.

Nhìn lại lịch sử, ta dễ dàng chiêm nghiệm điều đó. Phải chăng triều Lý, triều Trần, triều Lê, triều Tây Sơn Nguyễn Huệ đều được khởi dựng sau các chiến thắng lẫy lừng chống kẻ xâm lăng? Ngoại trừ Đinh Bộ Lĩnh là viên tướng phất cờ khởi nghĩa dẹp loạn sứ quân, thống nhất đất nước, nói một cách dễ hiểu là viên tướng duy nhất xây dựng triều đình khi chiến thắng các cuộc nội chiến phân quyền, còn lại, những gương mặt sáng chói trong lịch sử đất Việt đều là những anhhùng chống Tầu và chống Nguyên – Mông. Các triều vua này từng tuyên bố “Sông núi nước Nam vua Nam ở”. Và cuộc sống mái của họ là giành mục đích người Việt Nam là người Việt Nam, dẫu áo vải quần thâm nhưng đàn ông nhất quyết không cạo trọc, tết sam như gã A. Q, đàn bà không bó chân nhưcác mợ Tầu. Tuân theo logic ấy, triều cộng sản được hình thành là nhờ nó có công trong cuộc cách mạng chống giặc Tây. Và người ta còn khoan dung cho nó là vì tính đến cái công ấy, cái công “dành độc lập dân tộc”, cái khả năng nốitiếp truyền thống của các Vua nước Nam nhất thiết phải ở đất nước Nam, coi sự tồn tại của non sông quý hơn tròng mắt của chính họ.

Cái tinh thần bất khuất ấy, còn hay chăng?

Còn hay chăng, tinh thần dân tộc của những người đã đổ máu đểcắm ngọn cờ hồng lên thành Hà Nội sáu mươi lăm năm trước, những cảm tử quân đã ôm bom ba càng vào mùa đông năm 1946 với lời thề “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”?

Nếu những anh hùng vô danh ấy có linh hồn, hẳn các linh hồn ấy giờ đây đang nức nở.

Nếu những hiển linh của các vua xưa có thể cất lời, thì lời đầu tiên họ nói sẽ là “Lũ người này đã phản bội lại dân tộc, bọn sâu bọnày đã bôi nhọ mặt chúng ta!”

Ngày Hội Ngàn năm Thăng Long diễn ra vào đúng ngày 1 tháng 10, thằng mù cũng biết đó chính là ngày Quốc khánh Trung Quốc. Tại sao lại là con số này? Tại sao có sự lựa chọn này? Vô ý chăng? Nhầm nhỡ chăng? Mất trí nhớ chăng?

Cứ coi như Bộ trưởng Bộ Văn hoá dốt nát thì trên đầu ông ta còn mười một người trong bộchính trị. Không lẽ cả mười một người này mắc chứng mất trí nhớ? Không lẽ cả mười một người này mắc bệnh thiểu năng?

Nếu để cho mười một kẻ thiểu năng đứng trên đầu trên cổ mình thì dân Việt xứng đáng là các bệnh nhân của trại tâm thần, một trại tâm thần khổng lồ chưa từng thấy mà trong đó các con bệnh bịtiêm thuốc ngủ liều cao liên miên nên đờ đẫn, không còn khả năng nhận thức sự vật xung quanh. Nếu không, họ đã bị bán đứng cho Tầu, và tương lai của họ, một tương lai không tránh được sẽ là bản sao lại sầu thảm của những người dân Tây Tạng hoặc Tân Cương một khi họ bó tay trước lũ bán nước.

Chọn ngày Quốc Khánh Trung Quốc để mở hội Ngàn năm Thăng Long là một biểu tượng hai mặt.

1. Với triều đình Bắc Kinh chính phủ Hà Nội đã làm bản tuyên bố: Thành Thăng Long cũng chỉ là một bộ phận trong lịch sử mẫu quốc, nó phải được treo đèn kết hoa cùng một lần với đèn hoa của thủ phủ đại triều. Một khi thủ đô của một quốc gia đã định vị nhưvậy, có nghĩa quốc gia ấy tự xác nhận danh tính chư hầu một cách công khai. Sự kiện này là bản giao kèo bộc lộ lòng trung thành vô hạn và vô điều kiện của đám hàng thần Hà Nội.

2. Với dân chúng, đây cũng là lời tuyên bố thẳng thừng: Chúng tao bất chấp lịch sử, chúng tao có toàn quyền định đoạt vận mệnh đất nước. Kẻ nào chống lại, kẻ đó sẽ bị tiêu diệt.

Chọn ngày quốc khánh Trung Hoa để mở hội Ngàn năm Thăng Long là bằng chứng hiển nhiên để mảnh vải rách cuối cùng che thân chế độ cộng sản rơi xuống. Họ đã trở thành kẻ bán nước, công khai hoá hành vi bán nước của mình.

Nếu như năm 1945, cha anh họlà các anh hùng giải phóng dân tộc thì giờ đây, trái lại, họ là những tên phản tặc, sỉ nhục của tổ tiên, chẳng những cắt đất, cắt biển dâng cho giặc mà còn đương nhiên ném bùn lên lịch sử. Người Việt Nam ta có câu “hổ phụ sinh cẩu tử”. Mà bọn người này, không những là những con “cẩu tử” mà còn là “cẩu ghẻ”, “cẩu sida”.

Những người cầm quyền Hà Nội thừa thông minh để hiểu rằng họlà những con cẩu ghẻ. Rằng trong dòng máu của bất cứ người Việt nào cũng lưu cữu một thành tố có tên gọi “chống ngoại xâm”, mà thứ ngoại xâm thống trị lâu dài nhất, tàn độc nhất, để lại các kinh nghiệm đau thương sâu đậm nhất trong kí ức là “giặc phương Bắc”.

Cuộc thực dân hoá của Pháp 100 năm chỉ là cơn bão chóng qua so với thời kì bắc thuộc của giặc Tầu. Họ biết rằng bất cứ kẻ nào phản lại truyền thống đấu tranh dân tộc, kẻ đó mất chỗ đứng trong lòng dân chúng. Ngày hôm trước còn được tung hô hoàng đế, hôm sau đã biến thành “Thằng chó săn, thằng phản tặc, phường bán nước”.

Đó là trường hợp vua Lê Chiêu Thống đã phải chịu do hành vi bán nước của ông ta. Còn câu ca “Nguyễn Ánh cõng rắn về cắn gà nhà” mãi mãi là bài học lịch sử tố cáo tội ác của kẻ đặt lợi ích dòng họ trên quyền lợi dân tộc. Giờ đây, nhà cầm quyền Hà Nội biết rằng họ đã bị đẩy sang bên kia đường biên, họ rơi vào cùng một bè lũ với Lê Chiêu Thống và Nguyễn Ánh.

Để đặt tên cho họ một cách rõ ràng và chính xác, tôi xin nhại lại câu “cõng rắn về cắn gà nhà” của các cụ xưa mà rằng nhà cầm quyền Hà Nội giờ đây là bọn “dẫn hổ về thịt dê nhà”

DẪN HỔ VỀ THỊT DÊ NHÀ.

Tại sao lại là hổ và dê?

Hổ, vì vương triều phương Bắc bây giờ mạnh hơn thực dân Pháp năm xưa nhiều lần, để so sánh một cách chính xác thì phải dùng hình ảnh con hổ chứ không thể là con rắn.

Dê, vì nhìn lại bản đồ, bạn đọc sẽthấy rằng toàn bộ bán đảo Đông Dương có thể ví như một con dê mà Tây nguyên chính là phầnsống lưng con dê đó. Một khi con hổ Trung Hoa cắm được móng vuốt lên chính giữa lưng con dê này, coi như số mạng con dê đã nằm trong hai hàm răng của nó.

Đế quốc Trung Hoa sẽ trải rộng khắp châu Á. Việt, Miên, Lào sẽ trở thành các tỉnh thành khác nhau của Trung Hoa, “công đầu” này thuộc về ai nếu không là nhà cầm quyền Hà Nội, kẻdựng lên công trình bauxite Tây nguyên?

Bauxite ư? Trò lừa đảo!

Thiếu gì các quặng bauxite rải rác khắp miền Bắc Việt Nam, tại sao không là Lào Cai, Yên Bái hay Cao Bằng mà lại là Tây Nguyên? Vả chăng, khai thác bauxite để làm gì? Kiếm tiền chăng? Dối trá! Biết bao bài báo đã phân tích chán chê lợi hại về khai thác bauxite, kể cả các tài liệu trên thếgiới cũng công bố rộng rãi tác hại của nó, mà vụ gần đây nhất là Vùng bùn đỏ Hungaria. Còn có thể nói thêm được điều gì khi mà sự bán nước hiển nhiên đã bầy ra trước mặt dân chúng, giữa thanh thiên bạch nhật?

Nhà cầm quyền Hà Nội hoàn toàn có ý thức về hành vi bán nước của họ, bởi con tính của họlà trở thành một thứ “Thái thú Tô Định hiện đại”, được hưởng đủ phần xôi thịt của Bắc triều.

Còn Việt Nam biến thành một tỉnh nào đó của Trung Quốc, mang tên Quảng Việt, Quảng Nam, Quảng Lạc. . . họ không cần quan tâm. Họ biết rõ rằng hành động của họ là đi ngược lại lợi ích của nhân dân, biết rằng không người Việt nào cam tâm làm nô lệ cho Tầu, rằng kinh nghiệm đau đớn của tổ tiên luôn luôn sống trong ý thức lẫn vô thức dân tộc, thế nên họ chủ trương đàn áp dân chúng, họ chủ trương dùng bàn tay sắt để bóp nghẹt cổ những ai muốn nói lời phản kháng. Không phải ngẫu nhiên mà năm 2009, thứ trưởng bộ nội vụ Nguyễn Văn Hưởng tức Trần đã công khai dọa nạt những người trí thức Việt Nam vào dịp viện IDS của tiến sĩ Nguyễn Quang A tuyên bố giải tán.

Ông nghị Trần nói rằng “Ở Việt Nam đảng độc quyền lãnh đạo nên không thể có phản biện. Phản biện tức là phản động. Các anh muốn phản biện hả? Nhà tù đang còn nhiều chỗ lắm. Nhưng chúng tôi cũng không cần đến nhà tù, chúng tôi có các phương tiện hữu hiệu hơn. Tai nạn xe cộbây giờ tổ chức rất dễ dàng. Còn một biện pháp rẻ hơn và nhàn nhã hơn: đầu độc. Các anh uống cà phê rồi khi về đến nhà thì cứng đơ ra mà chết. Những bài bản này thế giới sử dụng đã lâu, chúng tôi cũng không thua kém họ. . . ”

Những lời lẽ này nói lên điều gì nếu chẳng phải sự công khai triệt để của tính tội phạm và tư cách chó? Một chính thể không còn lý do chính đáng để tồn tại thì chỉ có thể duy trì bằng bạo lực, chỉ có thể sử dụng bọn tội phạm, bọn sát nhân, bọn cặn bã xã hội, tóm lại, bọn chó giữ nhà. Không còn lý tưởng, không còn đạo đức, ngập chìm trong tham lam, truỵ lạc, con người trượt từ chữ NGƯỜI sang chữ CON.

Bác chúng em

Vào những năm 1989, 1990, tôi có vinh hạnh làm quen và gặp gỡ ông Lê Giản, người công an đầu tiên của Việt Nam, người lãnh đạo bộ máy cảnh sát từ những năm đầu cách mạng. Ông Lê Giản đích thực là “Người công an nhân dân, từ nhân dân mà ra, do dân và vì dân”.

Tôi hiểu vì sao cuộc kháng chiến thành công. Kháng chiến thành công vì có những người như ông Lê Giản.

Nhưng ông Lê Giản đã chết và“Người công an nhân dân”cũng đã chết theo. Cái chết này xảy ra từ từ với thời gian, một cái chết âm thầm, nhưng không phải là vô hình vô ảnh.

Tôi chứng minh:

Cách đây ngót ba thập kỉ, khi những lượt hoa quả đầu tiên từphương bắc tràn vào nước ta, các phòng phân tích thuộc Bộ Nội vụđã báo cáo lên bộ chính trị rằng các thứ hoa quả này đều tẩm formaldéhyde (thuốc ướp xác chết) vô cùng độc hại cho người tiêu dùng vì nó phá huỷ mô liên kết của các tế bào và là tác nhân gây ra bệnh ung thư.

Bộ chính trị ra lệnh cấm phổ biến sự thực trên vì “sợ mất lòng nước bạn”. Các sĩ quan công an chỉ có thể ngăn cấm chính vợ con họ và rỉ tai những người thân cận nhất (anh em ruột, cha mẹ vợchẳng hạn), đối với người ngoài, họ tuyệt đối tuân thủ mệnh lệnh cấp trên. Tuyệt đối im lặng. Tuyệt đối thản nhiên nhìn đồng bào mình ăn thứ đồ ăn nhiễm độc, biết chắc chắn rằng ngày một ngày hai họ sẽ ung thư và sẽ chết vì bệnh đó.

Tính kỉ luật của đám sĩ quan này mới cao thượng làm sao(!) Và cao thượng làm sao, những kẻngồi quanh bàn họp bộ chính trị, những bậc lương đống của triều đình, chịu trách nhiệm chăn dắt dân đen, đàng hoàng ra lệnh cấm rò rỉ sự thật vào tai dân chúng, bỏmặc mấy chục triệu người bị đầu độc và chết dần chết mòn!

Đối với tôi, con đường bán mình cho giặc của chế độ Hà Nội đã khởi sự từ ngày ấy. Và ngày ấy cũng là cái mốc đánh dấu sựchuyển biến chất lượng này: từ người công an nhân dân, công an đã trở thành kẻ quay lưng lại với nhân dân.

Ba thập kỉ đã qua, những kẻ quay lưng lại với nhân dân đã trượt không ngừng trên con dốc, để trởthành kẻ thù của nhân dân.

Bây giờ, gương mặt nào là gương mặt đích thực của công an? Người hùng bảo vệ dân hay đám chó giữ nhà cắn cổ dân để bảo vệông chủ của nó?

Hãy xem lại các hình ảnh đưa lên internet năm 2008 về vụ nông dân bị cướp đất biểu tình ở Sài Gòn. Những người dân cầy gầy gò xơ xác, đa phần là người già và phụ nữ, từ các tỉnh Tiền Giang, An Giang, Bến Tre, Long An, Bình Thuận đổ đến trước văn phòng Quốc hội 2 với các khẩu hiệu “Trả đất cho dân”, “Chống cửa quyền, tham nhũng”. Những người dân ấy đã bị đám công an và dân phòng béo múp vì bia rượu, mặt hằm hằm sát khí đối xử ra sao? Mấy thế kỉđã qua nhưng hình ảnh bọn người này vẫn là bản sao chính xác bọn nha lại mà Nguyễn Du đã mô tả trong Truyện Kiều:“Đầy nhà một lũ ruồi xanh” và“Đầu trâu mặt ngựa ào ào nhưsôi”.

Gần đây nhất, hãy nhìn hình ảnh anh Nguyễn Ngọc Quang, một giáo dân ở Định Quán, tỉnh Đồng Nai vì tham gia đấu tranh cho dân chủ mà bị công an Đà Lạt ba lần tổ chức tai nạn xe cộ để kẹp suýt chết. Tôi tự hỏi, có lúc nào những người công an này tự vấn lương tâm? Tại sao họ không dùng sức lực, dùng khả năng hung bạo mà họ sẵn có để giết những tên giặc Tầu, lũ dã nhân tàn sát những người dân đánh cá Thanh Hoá?

Nếu là những người mà nghề nghiệp đặt trên bạo lực, bản năng hiếu chiến mạnh mẽ, tại sao họkhông dùng khả năng đó để tiêu diệt ngoại xâm mà lại đi đàn áp những sinh viên yêu nước biểu tình đòi Trường Sa, Hoàng Sa trước sứ quán Tầu? Tại sao? Vì họ thiếu trí khôn hay vì họ là những kẻ mù loà, óc não bị khô cứng trong một cuộc sống mà ngoài việc tuân theo mệnh lệnh cấp trên không còn khả năng nghĩ đến điều gì khác ?

Vì chưa từng là công an, nên tôi dành những câu hỏi ấy cho họ trảlời. Tôi chỉ nêu lên nhận xét thứhai, nhận xét khi tôi nhìn tấm ảnh đoàn biểu tình đòi mạng người xảy ra tại thị xã Bắc Giang ngày 25 tháng 7 năm nay.

Nhiều người biết rằng, ngày 23 tháng 7, hai công an huyện Tân Yên tỉnh Bắc Giang đã đánh chết anh Nguyễn Văn Khương, 21 tuổi, quê quán tại huyện Việt Yên vì tội danh không đội mũ bảo hiểm. Ngày 25 tháng 7, gia đình anh Khương đã chở xác chàng trai này lên thị xã Bắc Giang đòi đền mạng. Dân chúng xông lênủng hộ gia đình nạn nhân, con sốlên đến hàng ngàn người, làm thành một cuộc biểu tình rầm rộchưa từng có trong lịch sử tỉnh Bắc Giang, mà theo bài phỏng vấn, các cụ già đã nói rằng còn đông hơn ngày theo Việt Minh cướp chính quyền năm Ất dậu.

Trong sự kiện này, tôi chú ý đến một chi tiết: công an đưa xe cứu hoả mang vòi rồng đến trấn áp dân chúng, nhưng trước khí thếcăm hờn của đám đông, công an bỏ chạy, hàng chục người dân trèo lên xe đứng. Hiện tượng đó chứng tỏ không phải lúc nào công an cũng tê liệt vì mù loà, luôn hành động như đám robot hoặc lũ chó berger. Trong lúc nguy khốn, họ đã tính toán và đã chọn con đường bỏ chạy để thoát thân.

Có lẽ, con tính của họ cũng đơn giản thôi. Không phải công an nào cũng phú quý vinh hoa nhưông nghị Nguyễn Văn Hưởng. Đa phần những người lính quèn chỉ đủ sức nuôi một vợ thôi mà để nuôi cô vợ này với hai, ba đứa con kèm theo cuộc sống của họcũng không phải là “thiên đường nơi hạ giới”. Nếu máu đổ ra mà chỉ để bảo đảm cuộc sống ấy thì đó là một cuộc đổi chác ngu xuẩn. Thêm nữa, lớp lính bây giờtương đối trẻ, họ biết chữ nên không hoàn toàn bị bưng bít thông tin, họ hiểu được số phận của đám công an ra sao khi các cuộc cách mạng dân chủ xảy ra ởNga, ở Tiệp, ở Hung, ở Đức, và ở Ukraina mới rồi. Thêm nữa, dù hổ thẹn hay cố tình bưng bít lương tâm, nơi thầm kín nhất của con tim, họ cũng hiểu rằng chết vì một lý tưởng cao cảthì đó là cái chết xứng đáng không làm hổ thẹn cho con cháu, chết chỉ vì miếng cơm thì đó là cái chết của con chó gác sân mà khi dân chúng nổi lên, họ sẽ lấy bắp cầy phang vỡ sọ hoặc dùng câu liêm cắt cổ.

Khi lòng dũng cảm và tinh thần hào hiệp không còn nữa, cái còn lại là sự tính toán vị kỉ của mỗicon người. Sự vị kỉ này cũng có mặt tốt của nó, nó là rào cản đểchủ nghĩa cuồng tín không thểđặt chân vào mảnh sân của mỗi căn nhà.

Một người công an, nếu chưa mất toàn bộ sự sáng suốt, ắt phải biết tính toán họ được bao nhiêu và mất bao nhiêu, liệu số lương bổng họ được có trang trải nổi phần tiêu phí cho đám tang của họ và nuôi nổi cô vợ với lũ con còn lại, hay sự hy sinh của họ chỉđể làm nặng thêm túi tiền các quan lớn, khiến các quan thêm rửng mỡ để đi hiếp trẻ con (nhưông chủ tịch kiêm phó bí thư tỉnh Hà Giang tên Nguyễn Trường Tộvà các ông khác chưa bị lộ mặt), hay máu họ đổ xuống chỉ để đổi lấy các hộp kem đắt tiền nhằm bổdưỡng làn da mịn màng cho các mỹ nhân của quan lớn (như đám mèo cái đang vờn quanh rốn ông nghị Nguyễn Văn Hưởng)? Vân vân và vân vân. . .

Sự tính toán luôn có lợi cho con người. Bởi thánh nhân thường hiếm mà kẻ trục lợi thường nhiều nên không thể đòi hỏi tất cả mọi người đều xả thân vì đất nước. Tuy nhiên, nếu không là thánh nhân thì họ cũng là dân Việt. Là dân Việt, họ phải hiểu rằng truyền thống chống Tầu là dòng máu sôi sục liên tục chảy trong tim dân tộc này. Bất cứ kẻ bán nước nào, sớm hay muộn, trước hay sau cũng sẽ nằm trước mũi súng của nhân dân.

Dân Việt :

Ai là dân Việt?

Phải chăng đó là tộc người duy nhất trong hàng trăm tộc Việt (Bách Việt) xưa kia sống ở phía nam sông Dương Tử còn giữ lại được bản sắc mà chưa bị đồng hoá như chín mươi chín tộc Việt kia?

Phải chăng vì sự cứng đầu này mà đất Việt luôn luôn là con mồi trong tâm thức Bắc triều?

Ngoài các lý do về nhu cầu bờbiển với các hải cảng, nhu cầu khoáng sản, còn một nhu cầu thầm kín nữa mà quan lại phương Bắc không nói ra, đó là nhu cầu đồng hoá nốt cái phần còn lại của Bách Việt.

Niềm kiêu hãnh Đại quốc là ở đó. Mối bực mình của Đại quốc cũng là ở đó. Một khi họ đã thâu tóm, đã chiếm lĩnh, đã áp đặt nền văn hoá và chữ Hán lên chín mươi chín tộc Việt kia, lẽ nào còn cái tộc cuối cùng họ phải chịu thua?Ở thế thượng phong mà mấy ngàn năm nay chưa nuốt trọn hòn xôi Việt Nam, mảnh đất cỏn con, dường như là một “vết thương lòng, một sự tự ái” mà vua chúa Trung Hoa không chịu được.

Cách đây vài năm, ai đó từng nói với tôi rằng “Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch là địch thủ, nhưng về chính sách đối với Việt Nam thì bọn họ sẽ ngồi cùng một bàn”.

Đó là một nhận định sáng suốt.

Năm trước, ông bộ trưởng bộ quốc phòng Trung Quốc tiến hành cuộc điều tra dư luận xem bao nhiêu phần trăm dân chúngủng hộ xâm chiếm Việt Nam. Theo công bố của ông ta thì con số này lên đến trên 90%. Cứ cho rằng Trung Quốc là một nước cộng sản nên dân chúng còn sợ hãi, họ phải tuân theo thượng cấp nên có thể trừ đi 20 phần trăm, phần còn lại vẫn là trên 70 phần trăm. Và điều này là sự thật không ai có thể chối bỏ.

Năm nay đã là năm 2010, thế kỉ21, Trung Quốc không còn sống dưới vương triều họ Mao, không còn phải đổi xác người thân cho nhau để chén thịt. Kinh tế phát triển, các phương tiện kĩ thuật phát triển, trình độ văn hoá được nâng cấp, sách báo lan tràn trong các đô thị, không thể cho rằng dân Trung Quốc hoàn toàn bị dắt mũi bởi họ ngu dốt, bởi thiếu thông tin, bởi sợ hãi nhà cầm quyền, ngược lại, họ đang dương dương tự đắc vì là dân của Cường quốc số 2 trên thế giới. Vậy thì, cái “hòn xôi Việt Nam chưa nuốt được” kia không chỉlàm ngáng họng đám cầm quyền mà cũng còn làm ngứa ngáy cổhọng vô số dân đen phương Bắc, một mặc cảm có mẫu số chung.

Vì lý do nào mà bộ trưởng bộquốc phòng Trung Quốc làm cuộc điều tra này? Đó là một trò chơi ngẫu nhiên hay là sự thăm dò có chủ định?

Vì lý do nào mà trên các site internet Trung Quốc tung ra hàng loạt bài chửi bởi, nhục mạ “lũ chó Việt Nam, phải đánh bọn chúng. Lũ chó Việt Nam, lần này chúng ta sẽ thanh toán lịch sử”, và công bố một cách chi tiết chương trình thôn tính Việt Nam trong ba mươi mốt ngày, phần còn lại của bán đảo được quy định là một tuần, tóm lại là chương trình con hổ Trung Quốc nuốt trọn con dê Đông Dương?

Liệu nhà cầm quyền phương Bắc có thể ngang ngược làm những điều ấy chăng nếu như chính quyền Hà Nội còn là một chính quyền độc lập mà không tựnguyện biến mình thành đám gia nô cho vương triều Đại Hán?

Tôi dành những câu hỏi ấy cho bạn đọc trả lời.

Tôi chỉ xin nhắc họ rằng, chúng ta là tộc người cuối cùng sống sót mà không bị đồng hoá thành người Hán. Tổ tiên chúng ta đã đấu tranh không mệt mỏi đểchống lại sự áp đặt của Bắc triều, bởi họ đã nhìn thấy sự đánh mất bản diện, sự lụi tàn của 99 tộc Việt kia.

Để tồn tại và được là chính mình, tổ tiên ta vừa chống chọi vừa lùi xuống phương Nam. Lịch sử của dân tộc Việt tóm gọn trong câu này: “Nam tiến”!

Nam tiến, nam tiến và nam tiến!

Cuộc Nam tiến thứ nhất khởi sựdưới triều Lê, từ năm 1428 đến năm 1527. Kể từ đây, cuộc khai khẩn và chinh phạt tiếp tục không ngưng nghỉ. Từ Thăng Long các đoàn quân xưa vượt qua đèo Ngang, sau lưng họ là những đoàn nông dân và thợ thủ công vào phá rừng, bạt núi, kiến tạo ruộng đồng và lập làng xây ấp. Rồi tiến đến châu Ô, châu Rí. Rồi, từ đèo Ngang vượt qua đèo Hải Vân là chặng đường thứ hai. Cứ thế mà hành trình này tiếp tục cho đến mũi Cà Mau.

Nam tiến, đó là sự nghiệp dựng nước của tổ tiên ta.

Bây giờ, chúng ta không còn cơhội để tiếp tục sự nghiệp của họ. Chúng ta không thể Nam tiến. Trước mặt chúng ta đã là biển. Chúng ta tiến đi đâu?

Người Việt chỉ còn cách tồn tại cuối cùng là giữ lấy đất đai, đất đai ấy là xương máu của cha ông ngàn đời tích tụ lại, đất đai ấy là nơi cắt rốn chôn rau nhưng cũng là thành luỹ mà họ có thể nương tựa vào để duy trì cuộc sống cho mình và cho các thế hệ mai sau.

Để giữ được non sông, để có thểlà người Việt mà không trở thành đám thiểu số khiếp nhược của một vương quốc khác, chúng ta không thể tiếp tục dung dưỡng một chính quyền bán nước, mộtchính quyền đã ngang nhiên cắt đất, cắt biển cống cho phương Bắc, đã nhục nhã biến ngọn cờThăng Long ngàn năm thành một mảnh vải vụn xén ra từ cái váy hồng Bắc Kinh. Chúng ta không thể bảo vệ được Tổ quốc nếu tiếp tục nuôi giữa lòng dân tộc mình một con rắn độc, cũng như Vua An Dương Vương xưa đánh mất non sông vì trót đẻ ra và trót yêu thương đứa con gái phản tặc có tên là Mỵ Châu. Với tất cả các hành vi nhục nhã mà họ đã làm, chế độ Hà Nội giờ đây đã chính thức trở thành một thứ Mỵ Châu.

Tuy nhiên, Mỵ Châu xưa là một người đàn bà xinh đẹp nhưng ngu dốt, kẻ luỵ tình nông nổi nên tội bán nước của cô ta còn được người đời khoan dung. Tại đền thờ Cổ Loa có hai tượng đá, tượng đá ngoài sân là biểu tượng Mỵ Châu nằm gục mặt xuống đất mà bất cứ ai đi qua cũng phải đạp một cái lên lưng và nhổ một bãi nước bọt để trừng phạt “con Mỵ Châu bán nước”. Còn tượng đá trong đền, tựa như một người đàn bà cụt cổ phủ vải đỏ thì lại được hương khói do lòng đồng cảm với “Mỵ Châu khờ dại và lụy tình”. Dân Việt vốn không cuồng tín, họ phân biệt rõ ràng mọi sự, bên kia chữ lý còn đọng chữ tình.

Nhưng nàng Mỵ Châu ngây thơ, khờ dại đã chết từ mấy ngàn năm trước, còn chính quyền Mỵ Châu bây giờ không một chút khờ dại mà cũng chẳng luỵ tình ai, nó chỉluỵ cái túi tiền của chính nó. Mọi tính toán của nó chỉ nhằm tu tạo, xây đắp quyền lợi bản thân, cũng như con thú chỉ có một đam mê duy nhất là liếm cho mượt bộlông của chính nó mà thôi.

Mỵ Châu ngày nay là một con đĩ già trơ trẽn, trần truồng nằm dạng háng sẵn cho phương Bắc.

Người dân Việt phải chém cụt đầu con đĩ ấy, trước khi nó kịp trao hết nỏ thần vào tay giặc nếu chúng ta không muốn lặp lại sốphận bi thảm của An Dương Vương.

Dân tộc Việt không thể làm được điều ấy, nếu quân đội khôngđứng lên cùng với họ.

Quân đội, những người lính của nhân dân, các anh còn ngủ đến bao giờ?

DƯƠNG THU HƯƠNG

ĐỪNG ĐỂ LẤY CỚ CHỐNG TẦU MÀ GIỮ LẠI CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH

Trân trọng kính chuyễn để QUÝ VỊ tham khảo bài viết rất có giá trị và có cơ sở của GsTs Kinh Tế NGUYỄN Phúc Liên. Bài này chứng minh rằng CSVN chính là kẻ phản quốc và tay sai của Trung cộng : '' ĐÃ BÁN MỘT PHẦN LÃNH THỔ VIỆT NAM CHO TRUNG CỘNG '' mà chúng không thể nào chối cải và bưng bít được nữa. Mong rằng đồng bào trong và ngòai nước tìm mọi phương thức giải thể chế độ CSVN bán nước hại dân càng sớm càng tốt. Tòan thế giới sẽ ủng hộ cuộc tranh đấu cho nhân quyền, tự do, dân chủ và tòan vẹn lãnh thổ Việt Nam của chúng ta. Tòan dân hoan nghênh và rất trân quý tinh thần yêu nước thương dân của GsTs Liên và mong đón nhận các bài viết gía trị từ các Vị Trí thức, Luật Sư, Bác sỉ, Giáo sư, Kỷ sư, Ký giả v.v...liên quan đến công cuộc tranh đấu chánh nghĩa của tòan dân ViệtNam. Hy vọng rằng các bài viết có giá trị và tuyệt vời như bài này sẽ được dịch ra Anh hay Pháp ngữ để đánh động dư luận khắp thế giới.

Kính mến,

Bs LÊ Thị Lễ


ĐỪNG ĐỂ LẤY CỚ CHỐNG TẦU MÀ GIỮ LẠI CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH



Thời sự tuần này được ghi nhận như sau: “3 tàu hải giám của Trung Quốc xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, hôm 26 tháng 5 vừa qua, đã tiến sâu vào phạm vi thềm lục địa ở miền Trung Việt Nam. Tàu 84 và 17, trong số 3 tàu hải giám của Trung Quốc, đã tiến sâu vào phạm vi thềm lục địa ở miền Trung VN và cắt giây cáp thăm dò dầu khí tàu Bình Minh hôm 26.05.2011.”

Hành động này của TQ tạo phẫn nộ trong dân chúng buộc Nhà nước CSVN phải lên tiếng mạnh hơn để phản đối. Trong khi ấy Kinh tế CSVN đang tụt dốc trầm trọng. Lạm phát tăng vọt, Vật gia leo thang phi mã tất nhiên cũng làm dân chúng phẫn nộ, đang nổi dậy đẩy Cơ chế CSVN xuống hố cho rồi.

Lòng dân mang hai cái phẫn nộ: (i) Phẫn nộ đối với TQ có hành động xâm lăng tỏ tường; (ii) Phẫn nộ đối với CSVN vì tham nhũng lãng phí mà tàn phá Kinh tế.

Giữa hai cái Phẫn nộ này, CSVN có thể tráo trở đánh lận con đen để hướng dẫn quần chúng đổ dồn lực vào Phẫn nộ thứ nhất đối với TQ mà quên đi cái Phẫn nộ thứ hai đối với chính đảng CSVN về Kinh tế.

Thực ra hai cái Phẫn nộ có cùng một nguồn tội phạm, đó là chính đảng CSVN. Phải truy về cái nguồn tội phạm ấy để CSVN không thể tráo trở đánh lận con đen chạy tội cho mình về biển thủ, cướp bóc Kinh tế.

Đảng CSVN đã bán đứng Lãnh hải

từ thời Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng

Ngày 14 tháng 09 1958, Phạm Văn Đồng, được lệnh của Hồ Chí Minh, ký công hàm nhìn nhận chủ quyền lãnh hải của Trung Cộng dựa theo bản tuyên bố ngày 4 tháng 09, 1958 của Trung Cộng.

BẢN TỰ TUYÊN BỐ CỦA TRUNG CỘNG NGÀY 04.09.1958 VỀ HẢI PHẬN

Trang Luật-học http://law.hku.hk/clsourcebook/10033.htm

Dịch ra Việt-ngữ:

Tuyên Bố của Chính Phủ Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc về Lãnh Hải

(Được thông qua trong kỳ họp thứ 100 của Ban Thường Trực Quốc Hội Nhân Dân ngày 4 tháng 9 năm 1958)

Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc nay tuyên bố:

(1) Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý. Điều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Đài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.

(2) Các đường thẳng nối liền mỗi điểm căn bản của bờ biển trên đất liền và các đảo ngoại biên ngoài khơi được xem là các đường căn bản của lãnh hải dọc theo đất liền Trung Quốc và các đảo ngoài khơi. Phần biển 12 hải lý tính ra từ các đường căn bản là hải phận của Trung Quốc. Phần biển bên trong các đường căn bản, kể cả vịnh Bohai và eo biển Giongzhou, là vùng nội hải của Trung Quốc. Các đảo bên trong các đường căn bản, kể cả đảo Dongyin, đảo Gaodeng, đảo Mazu, đảo Baiquan, đảo Niaoqin, đảo Đại và Tiểu Jinmen, đảo Dadam, đảo Erdan, và đảo Dongdinh, là các đảo thuộc nội hải Trung Quốc.

(3) Nếu không có sự cho phép của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, tất cả máy bay ngoại quốc và tàu bè quân sự không được xâm nhập hải phận Trung Quốc và vùng trời bao trên hải phận này. Bất cứ tàu bè ngoại quốc nào di chuyển trong hải phận Trung Quốc đều phải tuyên thủ các luật lệ liên hệ của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc

(4) Điều (2) và (3) bên trên cũng áp dụng cho Đài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.

Đài Loan và Penghu hiện còn bị cưỡng chiếm bởi Hoa Kỳ. Đây là hành động bất hợp pháp vi phạm sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc. Đài Loan và Penghu đang chờ được chiếm lại. Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc có quyền dùng mọi biện pháp thích ứng để lấy lại các phần đất này trong tương lai. Các nước ngoại quốc không nên xen vào các vấn đề nội bộ của Trung Quốc

http://www.trungtamdukien.org/article.php?id_article=1028

Chú thích:

Quần đảo Tây Sa (tên tiếng Tàu) = Quần đảo Hoàng Sa = Paracel Islands

Quần đảo Nam Sa (tên tiếng Tàu) = Quần đảo Trường Sa = Spratly Islands

CÔNG HÀM KÝ BỞI PHẠM VĂN ĐỒNG

THEO LỆNH CỦA HỒ CHÍ MINH

Thủ Tướng Phủ

Nước Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Hoà

Thưa Đồng chí Tổng lý,

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ:

Chính phủ nước Việt-nam Dân Chủ Cộng Hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng Hoà Nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc.



Chính phủ nước Việt-nam Dân Chủ Cộng Hoà tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung-quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa trên mặt bể.


Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng./.

Kính gửi: Hà-nội, ngày 14 tháng 9 năm 1958.

Đồng chí Chu An Lai (Ấn ký)

Tổng lý Quốc vụ viện PHẠM VĂN ĐỒNG

Nước Cộng hoà Nhân dân Trung-hoa Thủ tướng Chính Phủ

tại BẮC KINH Nước Việt-nam Dân chủ Cộng Hòa

Với Công Hàm chấp nhận chủ quyền của TQ như vậy, thì :

=> TQ tước đoạt quyền sinh sống của dân Việt Nam về ngư nghiệp. Họ bắn giết ngư dân VN vào đánh cá ở lãnh hải mà Hồ Chí Minh/Phạm Văn Đồng đã bán đứng cho họ.

=> Bao nhiêu tài nguyên, như dầu lửa…, dưới biển thuộc lãnh hải đã bán bởi Công Hàm cũng thuộc về TQ và Việt Nam không có quyền khai thác nữa. TQ bắn tầu Bình Minh và cắt đường dây thăm dò dầu khí vì họ coi tài nguyên đã được chính Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng ký giấy bán cho họ.

Không những chỉ có Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng ký giấy bán Lãnh hải thời ấy, mà sau này, đảng CSVN tiếp tục còn bán Biên giới, nhường những tài nguyên trong nội địa để Trung quốc khai thác, như Bauxite Tây Nguyên chẳng hạn. Đồng thời đảng CSVN còn để hàng hóa TQ thả cửa tràn vào Việt Nam để giết Kinh tế.

Cái tội bán Đất, bán Biển của đảng CSVN là quá tỏ tường vậy.

Đảng CSVN hiện nay có thể tráo trở hai cái Phẫn nộ để vẫn giữ lại Cơ chế

Oâng ĐỖ HIẾU, phóng viên RFA, ngày 29.05.2011, đã trích dẫn ra một số những tuyên bố Phẫn nộ từ người dân nhân vụ tầu Trung quốc bắn tầu Bình Minh.

Từ Hà Nội, đại tá Hải Quân Quách Hải Lượng, nguyên tùy viên quân sự sứ quán Cộng Hòa Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam tại Trung Quốc. xem đây là một hành động bá quyền nước lớn của nước láng giềng khổng lổ, đáng bị công luận thế giới và toàn dân Việt Nam lên án:

“Chúng tôi là những người đã tham gia chỉ huy, thuộc về chính quyền, bây giờ tôi là thường dân, tôi có quyền phát biểu ý kiến của một thường dân.

Tôi xin phép được phản ánh cái tình hình, tinh thần của nhân dân Việt Nam đối với sự kiện này, đã từ lâu và bây giờ ngày càng tăng lên. Nhân dân Việt Nam vô cùng phẩn nộ trước hành động ấy của Trung Quốc.”



Một người dân Saigon, ông Trần Huỳnh Duy Tân, nguyên Tổng giám đốc công ty Internet “Một Kết Nối” nhấn mạnh, là người Việt Nam, ai ai cũng thấy rõ cách khiêu khích đó của tàu giám hải Trung Quốc là không thể chấp nhận được và cần phải có biện pháp chống trả quyết liệt:


“Cũng giống như những người Việt Nam khác về thông tin trên báo chí trong cũng như ngoài nước, thời gian vừa qua, tôi thấy rõ ràng là Trung Quốc đã vi phạm chủ quyền lãnh thổ biển của Việt Nam. Tôi mong muốn là nhà nước và nhân dân cả nước đều có biện pháp, có hành động quyết liệt để gìn giữ, lãnh thổ, bờ cõi của đất nước, cần có biện pháp thật sự hữu hiệu trong thời gian tới. Qua báo chí tôi thấy Trung Quốc đang có những biện pháp rất quyết liệt để tranh dành lãnh thổ của Việt Nam.

Tôi mong muốn là nhà nước và nhân dân cả nước đều có biện pháp, có hành động quyết liệt để gìn giữ, lãnh thổ, bờ cõi của đất nước.”

Theo chiều Phẫn nộ của dân chúng đối với TQ và nhất là trong lúc đang gặp việc phá sản Kinh tế làm dân Phẫn nộ với chính mình, CSVN có thể làm mạnh với TQ, đẩy sự Phẫn nộ của dân lên cao đối với TQ trong thâm ý tính toán làm giảm sự Phẫn nộ của dân đối với chính mình về mặt phá sản Kinh tế.

Đảng có thể cho một bộ phận quân đội đứng ra hướng dẫn Phẫn nộ của dân chúng chống TQ. Bộ phận quân đội ấy kêu gọi “chống ngoại xâm “, nhưng dưới quyền điều hành của đảng.

Đảng vẫn còn đó và kêu gọi dân chúng hay chịu khổ cực, nghèo đói, hy sinh để “chống ngoại xâm“. Đây là việc gian trá đánh lận hai cái Phẫn nộ nhằm cứu Cơ chế CSVN đang tụt xuống dốc vỡ tan tành.

Dân phải ý thức: hai cái Phẫn nộ đều do chính đảng CSVN gây ra

Như đã trình bầy trong đoạn đầu với Công Hàm bán Lãnh hải của Phạm Văn Đồng/Hồ Chí Minh, cái Phẫn nộ đối với TQ cũng là cái Phẫn nộ đối với đảng CSVN đã ký giấy bán nước. Hai cái Phẫn nộ lúc này đều quy về một mối: đảng CSVN tội phạm.

Dân ý thức như vậy, thì đảng CSVN không thể gian giảo đánh lận con đen giữa hai Phẫn nộ. Cả hai Phẫn nộ đều đi đến một quyết định: dân NỔI DẬY dứt bỏ cái Cơ chế CSVN tội phạm.

Câu KẾT LUẬN dứt khoát của Dân tộc Việt Nam như sau:

“Người (đảng CSVN) đã mời kẻ cướp (TQ) vào nhà, thì người đó (đảng CSVN) không có quyền lãnh đạo việc chống kẻ cướp (TQ) vậy.”

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

Geneva, 01.06.2011

Web: http://VietTUDAN.net

Báo Quân đội CS thừa nhận:Vì sao Hồ Chí Minh là một huyền thoại?

Báo Quân đội Nhân dân thừa nhận: Hồ Chí Minh chỉ là câu chuyện huyễn hoặc – viển vông không có thực

Cũng có người cho rằng, tác giả cố ý gài bẫy tờ báo và hệ thống kiểm duyệt của Đảng, và đảng đã bị lỡm mà không biết.

Dù sao thì cũng đáng hoan nghênh tờ báo này, và nhất là đáng hoan nghênh tác giả Bắc Hà đã dùng biện pháp “ý ngôn tại ngoại” để người đọc tìm hiểu và thấy rõ hơn về một nhân vật được đảng dựng lên, lợi dụng ngay cả khi đã lìa đời gần nửa thế kỷ vẫn không được yên.

Tóm lại, hoặc là tội nghiệp cho tờ báo và tác giả, nếu sự ngu làm mờ mất lý trí, hoặc đáng hoan nghênh, nếu tác giả muốn nói ra một sự thật.

Nhưng điều đã được khẳng định là: Hồ Chí Minh chỉ là một huyền thoại, một câu chuyện viển vông, huyễn hoặc và không hề có thật.

Không khảo mà xưng, tờ Quân đội Nhân dân của Quân ủy Trung ương (Tức là của Đảng phụ trách Quân đội) trong bài viết “Không bao giờ đánh đổ được huyền thoại Hồ Chí Minh” trên mục “Chính luận” đã thừa nhận rằng: “Về Chủ tịch Hồ Chí Minh, những kỳ tích của Cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX gắn liền với cuộc đời, sự nghiệp, đạo đức của Người, đã thật sự là một huyền thoại trong tâm thức của nhân dân ta và bè bạn quốc tế”.
Không chỉ có thế, tờ báo nhiều lần nhắc lại: “…đã không đáp ứng được cái mà chúng mong đợi, tức là trừ khử được cái huyền thoại về Hồ Chí Minh…” rồi thì: “Các thế lực thù địch dù có quỷ quyệt, thâm độc đến đâu cũng không thể đánh đổ được huyền thoại đó, là vì Huyền thoại Hồ Chí Minh là thành quả vĩ đại của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX”. (Ở đây nên nhớ rằng chữ dân tộc Việt Nam mà đảng dùng là để chỉ Đảng CSVN như cách đánh tráo khái niệm ngôn ngữ xưa nay của đảng).

Trong bài viết này, tờ Quân đội nhân dân đã nhiều lần khẳng định Hồ Chí Minh là câu chuyện huyền thoại. Sự khẳng định này được tờ báo QĐND đăng chính thức, không hề trong “ngoặc kép” hoặc bất cứ giải thích nào khác, mà đó là từ dùng để khẳng định có tính chất chắc chắn.


Vậy, “Huyền thoại” là gì?

Từ điển Tiếng Việt định nghĩa “Huyền thoại” là: Câu chuyện huyền hoặc hay dũng cảm của thời xa xưa và huyền hoặc là điều viển vông, không có thực.

Như vậy, theo đúng nghĩa Tiếng Việt thì “Huyền thoại Hồ Chí Minh” là câu chuyện huyễn hoặc, viển vông không có thực về một nhân vật gọi là Hồ Chí Minh. Điều đáng nói là cái huyền thoại này không phải do bất cứ thế lực thù địch chống phá bên ngoài hay bên trong nào tạo ra, mà chính tờ Quân đội Nhân dân đã công khai xác nhận.

Hồ Chí Minh chỉ là “Huyền thoại”, nghĩa là câu chuyện huyền hoặc, viển vông, không có thực về một nhân vật là Hồ Chí Minh.

Suy cho cùng, thì điều tờ QĐND khẳng định trên đây về Hồ Chí Minh cũng không có gì sai, chỉ có điều là sau mấy chục năm Đảng CSVN đã cố công nhào nặn, thông tin một chiều tạo nên thần thánh và đặc biệt là muốn dùng việc thần thánh hóa ông Hồ Chí Minh làm thành một chiếc bình phong che đậy đằng sau đó là một chế độ độc tài, độc trị, tham nhũng và phản động, phản dân hại nước như đã từng thấy xưa nay và nhất là đang thực tế thấy hiện nay.

Vì sao Hồ Chí Minh là một huyền thoại?

Theo cách nghĩ đơn giản và cụ thể của người Việt Nam, chúng ta phân tích một vài yếu tố để khẳng định điều này như sau:

Một con người, được xác định bởi tên, tuổi, ngày sinh, ngày mất, họ hàng, dòng tộc, vợ con, sự nghiệp,… đó là những yếu tố để xác định một con người cụ thể. Nhìn vào bản lý lịch của mỗi người, chúng ta đều thấy rõ điều này. Thiếu đi một trong những yếu tố như: Tên, ngày sinh, tên cha mẹ, quê quán, ngày mất, ông bà, dòng họ… thì chưa thể xác định cụ thể đó là con người nào.

Với ông Hồ Chí Minh, những yếu tố này đều là một sự lấp lửng và hoàn toàn không được Đảng, nhà nước làm sáng tỏ xưa nay. Đụng đến vấn đề đó chỉ là một sự mập mờ khó hiểu. Vì sao vậy?

Nhiều tài liệu sưu tầm và nhiều tư liệu lịch sử đã khẳng định về ông Hồ Chí Minh với những yếu tố như sau:

- Tên: Không đúng, theo văn bản Đảng cho biết thì ông ra đời và lớn lên là họ Nguyễn, ở làng Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An. Vậy nhưng, nhiều tư liệu lịch sử lại phát hiện ra rằng ông là người họ Hồ ở Quỳnh Lưu, Nghệ An. Điều này Đảng cố giấu, thì họ hàng nhà ông lấy làm hãnh diện lại khoe ra và đạp đổ công lao giấu diếm của Đảng.

- Tuổi: Không đúng, theo văn bản của Đảng và nhà nước, ông Hồ Chí Minh sinh ngày 19/5/1890. Thế nhưng nhiều tài liệu chứng minh rằng ngày sinh này hoàn toàn không đúng, năm sinh càng không. Một lá đơn của ông xin vào học trường Thuộc địa của Pháp – Một ngôi trường đã sản sinh ra rất nhiều những tay sai bậc thầy cho Thực dân Pháp – thì ông tự xác định ông sinh năm 1892.



- Gia đình, dòng họ: Không đúng, theo những gì Đảng và nhà nước tuyên truyền, thì ông Hồ Chí Minh quê ở làng Kim Liên, Nam Đàn. Thế nhưng nhiều tư liệu đã chứng minh rất rõ rằng ông lại có Họ Hồ ở Quỳnh Lưu, Nghệ An.

Chính vì thế, chưa bao giờ Đảng và nhà nước dám nói đến ông nội Hồ Chí Minh là ai. Nhiều nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, mẹ ông Nguyễn Sinh Sắc đã mang hoang thai từ một thầy đồ nho ở Quỳnh Lưu, còn ông nội Nguyễn Sinh Nhậm ở Kim Liên, chỉ là người tô son, trát phấn lên bào thai Nguyễn Sinh Sắc khi bà được gả làm thiếp cho ông nông dân này mà thôi. Điều này được chứng minh bằng việc gần đây, có một video được đưa lên mạng về việc con cháu của vợ hai ông Nguyễn Sinh Sắc về Quỳnh Lưu để nhận họ hàng.

Vậy thì những điều ghi vào lý lịch ông Hồ Chí Minh đâu có phải như đảng đã nói, đây là sự mập mờ tiếp theo.

- Sự nghiệp: Theo đảng vẽ ra, thì ông Hồ Chí Minh đã “ra đi tìm đường cứu nước”. Thế nhưng, lá đơn xin học trường Thuộc địa Pháp, hoàn cảnh ông khi ra đi làm bồi bếp trên tàu sang Pháp lại cho thấy rằng ông đi vì hoàn cảnh gia đình quá túng quẫn. Nếu không trong hoàn cảnh cha nát rượu và bị án, mẹ chết và anh em tứ tán, thì con đường “đi tìm đường cứu nước” của ông Hồ sẽ đến đâu? Chưa nói là thực tế, cái cứu nước đó thực chất là đưa Việt Nam trở thành một mắt xích trong phong trào Cộng sản quốc tế.



Tăng Tuyết Minh, người vợ Hồ Chí Minh khi còn trẻ và khi đã về già

Thậm chí, đảng còn nói rằng ông Hồ Chí Minh là Danh nhân Văn hóa thế giới được Unesco công nhận, nhưng thực tế điều này chỉ là sự dựng chuyện, bịa đặt mà không có thực.

- Vợ con: Cũng theo những tài liệu Đảng tuyên truyền, thì ông Hồ Chí Minh không vợ, không con, không có gia đình… để chuyên tâm lo việc nước.

Vậy nhưng, nhiều tài liệu, những nhân chứng sống đã chỉ rõ rằng ông có vợ và thậm chí là nhiều vợ. Những lời chứng minh của những người từng cùng sống, cùng làm việc và cả những nhà nghiên cứu lịch sử đã khẳng định điều này. Việc ông có vợ cũng là điều bình thường nhưng dưới cái nhìn và nhất là để dựng lên “huyền thoại” đảng ta đã cố công bóp méo và giấu nhẹm.

Vậy đó đâu phải là sự thật?

- Ngày chết: Không đúng, ngày ông Hồ Chí Minh mới chết, đảng và nhà nước công bố ngày ông chết, ngày để con cháu cúng giỗ ông là ngày 3/9/1969. Vậy rồi mấy chục năm sau đảng mới công bố lại rằng ông chết ngày 2/9/1969.

- Di chúc: Cũng khi ông Hồ Chí Minh chết, Đảng cho công bố cái gọi là Di chúc theo ý đảng, đến một lúc nào đó, thấy nó không còn có lợi, đảng mới công bố rằng đó là di chúc dởm và công bố lại bản khác. Bản này cũng chưa hẳn đã là di chúc thật của ông nốt.

Với một con người, mà tất cả mọi thông tin liên quan để xác định con người đó đều là sự giả dối và mập mờ, sai trái thì làm sao có thể xác định rằng đó là một con người thật mà không là huyền thoại, không là huyễn hoặc,là viển vông và không có thực.

Điều đáng hoan nghênh ở tờ Quân đội Nhân dân và tác giả Bắc Hà

Tờ Quân đội Nhân dân, thực chất đã rất hiểu những điều đã phân tích trên đây, nhưng dưới sự kiểm duyệt gắt gao của hệ thống Đảng với báo chí thì chính tác giả bài viết đã nhân cơ hội này khẳng định cho nhân dân, các chiến sĩ, tướng lĩnh quân đội hiểu về nhân vật được Đảng dựng lên để làm bình phong, làm cái phao cứu Đảng đang chết chìm trong làn sóng lòng dân rằng đó chỉ là một huyền thoại và là điều không có thực.

Cũng có người cho rằng, đây là cái sự ngu của một phóng viên của Đảng, nịnh không biết nịnh, bơm lại bơm quá đà làm phụt ra sự thối tha của Đảng trong trường hợp này. Nhưng dù sao, thì cũng là một sự thật được nói ra.

Cũng có người cho rằng, tác giả cố ý gài bẫy tờ báo và hệ thống kiểm duyệt của Đảng, và đảng đã bị lỡm mà không biết.

Dù sao thì cũng đáng hoan nghênh tờ báo này, và nhất là đáng hoan nghênh tác giả Bắc Hà đã dùng biện pháp “ý ngôn tại ngoại” để người đọc tìm hiểu và thấy rõ hơn về một nhân vật được đảng dựng lên, lợi dụng ngay cả khi đã lìa đời gần nửa thế kỷ vẫn không được yên.

Tóm lại, hoặc là tội nghiệp cho tờ báo và tác giả, nếu sự ngu làm mờ mất lý trí, hoặc đáng hoan nghênh, nếu tác giả muốn nói ra một sự thật.

Nhưng điều đã được khẳng định là: Hồ Chí Minh chỉ là một huyền thoại, một câu chuyện viển vông, huyễn hoặc và không hề có thật.

Vì thế, đúng như khẳng định của tờ QĐND là “Không bao giờ đánh đổ được huyền thoại Hồ Chí Minh”, bởi đó chỉ là câu chuyện huyễn hoặc và không có thật, thì làm sao có thể đánh đổ? Nhưng, điều khẳng định là sự huyễn hoặc đã ngày càng mất thiêng.

Ngày 27/5/2011

Hà Minh Tâm

Phạm Quỳnh và Vụ án Nam Phong

Chân dung Phạm Quỳnh và ảnh bìa Nam Phong Tạp chí (DR)
Chân dung Phạm Quỳnh và ảnh bìa Nam Phong Tạp chí (DR)

"Dân Việt Nam chúng tôi, không thể ví như tờ giấy trắng được. Dân tộc chúng tôi là một quyển sách cổ đầy những chữ viết bằng một thứ mực không phai, đã mấy mươi thế kỷ nay; không có thuốc gì xoá hẳn được thứ chữ ấy đi. Không ai có quyền tự do muốn viết gì vào đấy thì viết được. Không thể đem in một thứ chữ ngoài lên trên các dòng chữ cũ được". Phạm Quỳnh.

Tuy không chính thức có vụ án Nam Phong, nhưng sau khi Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác bị xử tử năm 1945, tại miền Bắc, Nam Phong được coi là tờ báo của thực dân do "trùm mật thám" Louis Marty điều khiển với hai "tay sai đắc lực" Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác.

Tại miền Nam từ 1954 đến 1975, các nhà nghiên cứu như Thanh Lãng, Phạm Thế Ngũ... tuy có nhắc đến nguồn cội phát xuất Nam Phong, từ chính quyền thực dân, nhưng vẫn xác nhận giá trị Phạm Quỳnh và đưa Nam Phong vào chương trình giáo dục trung-đại học. Sự kết án Phạm Quỳnh của Nguyễn Văn Trung, chỉ là một hình thức phản phê bình, chống lại quan điểm Thanh Lãng và Phạm Thế Ngũ, nhưng không đủ bằng chứng thuyết phục.

Cái án vô hình về Nam Phong vẫn còn đó, chưa ai minh giải. Xoá án Nam Phong là tìm lại công lao của những người đã xây dựng nền văn học quốc ngữ, đã bị chôn vùi trong 66 năm ở miền Bắc, 36 năm trên toàn quốc: Học trò không được học, không được biết, không được sử dụng những thành tựu vô giá về dịch thuật và tư tưởng mà Nam Phong để lại.

Tên Phạm Quỳnh và Nam Phong hiện đã được đưa vào Từ điển Bách khoa và Từ điển Văn học, bộ mới. Nguyễn Bá Trác bị loại. Từ điển Bách khoa (mục từ Pháp Việt đề huề) vẫn chép lại lời xuyên tạc của Phùng Bảo Thạch: "Báo Nam Phong của Phạm Quỳnh đưa ra khẩu hiệu "Rồng Nam phun bạc đánh đổ Đức tặc" mà theo Phùng, Phan Khôi là tác giả. Không hề có khẩu hiệu này trên Nam Phong. Chỉ có hình một con rồng nhỏ ở bìa sau phần chữ Hán.

Trong một bài hài đàm, Phan Khôi nói phiếm: cái tên nào có chữ Nam, hay bị xui. Không biết tay Lang-Sa nào xỏ lá, Siam thì gọi Siamois; Cambodge là Cambodgien, chỉ có Annam thành Annamite. Vần ite sau chót chỉ dân bán khai. Vậy mà cũng không hẳn xui đâu, Phan nhớ lại hồi thế chiến "chánh phủ mở cuộc quốc trái ở nơi mấy cái cáo thị dán cùng đường, thì có con rồng, dưới lại đề chữ: "Rồng Nam phun bạc đánh đổ Đức tặc". Đức bị đánh đổ không chưa biết, chớ rồng Nam lúc đó phun bạc thiệt nhiều!" (Rồng Nam, Thần Chung số 38 (2/3/1929, sưu tập Lại Nguyên Ân). Vậy, người làm từ điển cũng nên cẩn thận.

Tất cả "tội ác" quy vào việc Nam Phong được thành lập do nghị định của phủ toàn quyền, với sự đỡ đầu của Louis Marty, trưởng phòng chính trị. Nhưng, như chúng tôi đã trình bày trong một kỳ trước, Marty không chỉ đỡ đầu Nam Phong và Hội Khai Trí Tiến Đức mà sau này còn đỡ đầu cả Đặng Thai Mai và Võ Nguyên Giáp nữa.

Bài này nhằm xác định lại vị trí của Nam Phong, trả lời những câu hỏi: Chủ đích của Nam Phong là gì? Những người xây dựng Nam Phong có phải là người "bán nước" hay không?

Nguyễn Bá Trác (1881-1945)

Nguyễn Bá Trác bị kết tội từ trước cách mạng tháng Tám, nhưng không ai nêu chứng rõ rệt, chỉ phỏng theo lời đồn. 1968, một chú thích trong Mémoires de Phan Bội Châu [bản dịch Tự phán ra tiếng Pháp của Georges Boudarel (France-Asie số 194-195, Paris 1968)] cho biết: Nguyễn Bá Trác và Nguyễn Thái Bạt đã chỉ điểm cho Pháp bắt Trần Hữu Lực, một chiến sĩ của Phan Bội Châu. Dường như đó là "nguồn" duy nhất, "chứng tỏ" Nguyễn Bá Trác phản bội.

Trần Hữu Lực là ai?Phan Bội Châu viết:"Trần Hữu Lực người Nghệ An, tên thực là Nguyễn Thức Đường, con trai Đông Khê tiên sinh, là thầy học tôi. Nhà đời nghiệp Nho, mà tính chất ông khác riêng một cách, có thái độ như một nhà võ sĩ thời xưa". (Phan Bội Châu, Tự phán, Nhân Chủ Học Xã, Hoa Kỳ, 1987, trang127).

Trần Hữu Lực theo phong trào Đông du sang Nhật, học trường quân sự Đông Kinh. Khi Nhật giải tán Đông Du, trục xuất Cường Để (1909), Lực nổi giận, định chống lại, nhưng các đồng chí ngăn cản, ông bỏ sang Tầu. Trần Hữu Lực cùng Nguyễn Bá Trác và Nguyễn Thái Bạt được vào học trường quân sự Quảng Tây để làm tướng.

Phan Bội Châu viết:

"Sau khi tốt nghiệp trở về Quảng Đông, được bổ làm thiếu uý xuất lĩnh một đội nhỏ, hễ đến lúc thao luyện, quân sĩ đều kiêng sợ lắm. Đến lúc Việt Nam Quang Phục Hội thành lập [19/6/1912] ông tự nguyện sang Xiêm La, tổ chức toán quân Việt Kiều. Tôi lấy tư cách Quang Phục hội Tổng lý, đặc uỷ ông làm trú Xiêm Quang phục hội chi bộ bộ trưởng [quyền Chi bộ trưởng Quang Phục hội ở Xiêm] (...) Rủi lúc đó, nước Xiêm cũng tuyên chiến với Đức. Chính phủ Xiêm theo lời giao thiệp của người Pháp hết sức phá cách mạng đảng của người Việt Nam, kẻ tù người đuổi. Hai tên trinh thám cho Pháp, một người Trung Kỳ, một người Bắc Kỳ, hết sức săn cho được ông, ông bị dẫn độ với chính phủ Pháp, bắt về Hà Nội, tống vào nhà pha khuyên ông chịu thú phục thì được tha tội. Ông không chịu, đồng một ngày ấy với Hoàng Trọng Mậu bị sang sát [xử bắn] dưới núi Bạch Mai" (Tự phán, Nhân Chủ Học Xã, trang 128).Trần Hữu Lực bị bắt ở Xiêm ngày 26/6/1915. Hoàng Trọng Mậu bị bắt ở Hương Cảng ngày 28/5/1915. (Sđd, trang 186).

Trong bản Nhân chủ học xã trên đây, Phan Bội Châu viết rất rõ: "Hai tên trinh thám cho Pháp, một người Trung Kỳ, một người Bắc Kỳ, hết sức săn cho được ông". Nhưng câu này trong Phan Bội Châu niên biểu (một tên khác của Tự phán) (bản của Chương Thâu, Văn Nghệ tp Hồ Chí Minh, 2001, trang 177), ghi như sau: "Hai tên trinh thám Pháp, một người Bắc Kỳ tên là Hùng; một người Trung Kỳ tên là mỗ(2) hết sức săn cho được ông". Và trong chú thích (2) Chương Thâu viết: "Câu này trong bản của Anh Minh chỉ ghi Nguyễn... và Nguyễn... nhằm che dấu cho hai tên phản bội này. Bản Nguyễn Khắc Ngữ thì không ghi rõ tên mà chỉ chú theo MP là Nguyễn Tiêu Đẩu (Nguyễn Bá Trác) và Nguyễn Thái Bạt (Nguyễn Phong Di)". MP là chữ tắt của Mémoires de Phan Bội Châu bản dịch Tự phán của Boudarel.

Tóm lại, trong các văn bản (dịch) khác nhau của Tự phán, Phan Bội Châu không hề viết rõ tên hai mật thám săn bắt Trần Hữu Lực. Nguyễn Khắc Ngữ và Chương Thâu chép lại chú thích của Boudarel, xác định hai kẻ đó là Nguyễn Bá Trác và Nguyễn Thái Bạt. Hiện chúng tôi không có bản Boudarel, nên không rõ Boudarel dựa vào đâu, để xác định như thế.

Khảo sát Tự phán của Phan Bội ChâuHạn mạn du ký của Nguyễn Bá Trác dẫn đến sự minh oan cho Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Thái Bạt và Lê Dư (Sở Cuồng).

1- Nếu Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Thái Bạt và Lê Dư làm chỉ điểm cho Pháp, thì tại sao Phan Bội Châu lại không viết rõ tên họ ra? Tại sao họ lại không bị đảng Quang Phục giết như trường hợp Phan Bá Ngọc? [Phan Bội Châu viết rất rõ hành vi phản bội của Phan Bá Ngọc (con trai Phan Đình Phùng), và việc Ngọc bị Lê Tán Anh ám sát, với súng và tiền lộ phí do Cường Để cung cấp (Tự phán, trang 209)].

2- Ra đầu thú không phải là một tội đối với đảng; chứng cớ là sau khi đầu thú, Lê Dư vẫn hoạt động tiếp. Phan Bội Châu viết: "Vừa lúc đó [1917], ông Lê Dư ở trong nước ra, đương ở Nhật Bản, đi theo Kỳ Ngoại Hầu, viết giấy mời tôi qua, bảo rằng có 2000 hễ đến Nhật Bản thì đưa ngay. Nghĩ đến Lê mới về thú, bạc này lấy ở đâu vào? Ngẫm nghĩ một hồi lâu mới biết được manh mối bạc này rồi". (Tự phán, trang 191). Lê Dư tiếp tục kinh tài cho đảng tới 1918. Lê Dư chơi thân với Phan Bá Ngọc, cả hai khuyên Phan Bội Châu viết Pháp Việt đề huề luận (Tự phán, trang 199-200), các việc này Phan Bội Châu đều ghi rõ, nhưng ông không hề xác định Lê Dư phản đảng: Vậy đảng biết rất rõ hành động từng người.

3- Trong Tự phán, Phan Bội Châu nhắc đến Nguyễn Bá Trác 2 lần, trong câu "Nguyễn Bá Trác và Nguyễn Thái Bạt, ba người [tức là kể cả Trần Hữu Lực] đồng thời vào nhà quân hiệu" (Tự phán, trang 128)và câu "Quảng Tây cán bộ học đường thì có những người như Trần Hữu Lực, Nguyễn Tiêu Đẩu, Nguyễn Thái Bạt" (trang 166). Ngoài ra, không có lời nào khác, chỉ định Nguyễn Bá Trác và Nguyễn Thái Bạt làm chỉ điểm lùng bắt Trần Hữu Lực ở Xiêm.

4- Trong Hạn mạn du ký, Nguyễn Bá Trác cho biết: ông về tới Sài Gòn tháng 8/1914.

Trong bài Lời di ngôn của của cụ Nguyễn Bá Học, ông viết:

"Hồi tháng 9 năm 1914 tôi tới Hà Nội, mới được tha về vài ngày, liền xuống Nam Định hỏi thăm tiên sinh [Nguyễn Bá Học] (...) Tiên sinh lại hỏi tôi rằng: "Anh ở Hà Nội định làm kế sinh hoạt gì?". Tôi chưa kịp đáp, tiên sinh lại nói rằng: "Tôi bây giờ nguyệt bổng [lương tháng] đã được bốn năm chục, nếu anh chửa được việc gì để làm sinh kế, thời tôi có thể giúp anh được; bản tâm tôi là muốn bảo toàn danh dự cho anh vậy". Tôi mới đáp là đã làm việc báo, tiên sinh nói rằng: "Ừ, thế được, phải cố gắng lên mà phải cẩn thận, chớ có táo suất [nóng nẩy sơ suất], mà làm cho lấp đường ngôn luận của nước ta". (Nam Phong số 50, tháng 8/1921).

Khi về đầu thú, Nguyễn Bá Trác làm công chức ở sở toàn quyền, phụ trách "Công thị báo" từ 1914, đồng thời làm báo "Âu Châu chiến sử" với Phạm Quỳnh, và đến tháng 6/1917, báo Nam Phong. Tháng 9/1914, ông xuống Nam Định thăm thầy cũ Nguyễn Bá Học, dạy Đông Kinh Nghiã Thục, người, sau biến cố Trung Kỳ dân biến, đã cưu mang học trò Quảng Nam ra Hà Nội, nuôi và dậy học trong nhà, số 108, phố Hàng Rượu, Nam Định. Nguyễn Bá Học không những muốn giúp đỡ học trò, mà còn gả con gái cho Nguyễn Bá Trác.

Vậy nếu không có chứng cớ rõ ràng, thì khó có thể gán cho Nguyễn Bá Trác việc sang Xiêm săn lùng Trần Hữu Lực, làm chỉ điểm để Pháp bắt Trần Hữu Lực ngày 26/6/1915.

5- Hạn mạn du ký minh oan cho Nguyễn Bá Trác

Hạn mạn du ký (Lời ký của một người đi chơi phiếm) [nguyên bản chữ Hán, in trênNam Phong chữ Hán trước, sau tác giả dịch và in trênNam Phong quốc ngữ từ số 38 (8/1920) đến số 43 (1/1921)] viết về 6 năm trốn ra ngoại quốc của Nguyễn Bá Trác (3/1908-8/1914).

Sau vụ Trung kỳ dân biến (1908), phong trào Duy Tân và Đông Du bị khủng bố: Nguyễn Bá Trác trốn xuống tàu về Trung, đến Phú Yên, ẩn trong rừng 8, 9 tháng. Ngày 24/12/1908, lên tàu vào Nam; 7/1/1909 đến Mỹ Tho, đi Bến Tre, vào làng Tân Hương dậy học. Ba tháng sau ông lên Sài Gòn. Đêm 3/4/1909, từ Sài Gòn xuống tàu trốn đi Xiêm, tới Bangkok ngày 6/4/1909. Từ đây bắt đầu cuộc lưu vong, đi Hương Cảng, rồi sang Nhật.

Tới Nhật, sinh viên du học đã bị trục xuất. Ở Nhật một tháng, rồi quay về Thượng Hải, định tìm đường lên Bắc Kinh, nhưng không thành. Tháng 2/1910, làm báo với Trần quân [tức Trần Thế Mỹ, một yếu nhân của Quốc dân đảng Trung Hoa] tại Thượng Hải.

Tháng 6/1910, gặp Nguyên quân [tức Trần Hữu Lực] cả hai được một ân nhân giới thiệu thi vào trường sĩ quan Quảng Tây (Quế Lâm) (tháng 9/1910). Trong thời gian học ở Quế Lâm, một lão bà tìm đến trường: Bà người Việt, con quan, bị giặc Khách bắt về Tàu từ thủa nhỏ, bị bán nhiều lần, có người con gái là Trần Tuệ Nương, muốn gả cho Bá Trác để mẹ con tìm đường về nước. Nghĩ phận mình trôi nổi chưa biết ra sao nên Bá Trác khước từ. Hai năm sau trên đường lưu lạc, Bá Trác hay tin Tuệ Nương đã chết.

Chương trình học quân sự là ba năm, nhưng Trác và Lực đỗ vào năm thứ nhì; vì thiếu ngân quỹ, chính phủ Trung Hoa gộp hai năm làm một, nên tháng 9/1911, cả hai tốt nghiệp. Trần Hữu Lực được bổ làm sĩ quan ở sở Binh bị. Nguyễn Bá Trác rời Quế Lâm, theo Quốc dân đảng Trung hoa, bị kéo vào cuộc nội chiến, nay Thượng Hải, Nam Kinh, mai Bắc Kinh, Trùng Khánh, rồi quay về Thượng Hải, cuối cùng quyết định về nước. (Phan Bội Châu bị bắt ở Quảng Châu ngày 20/1/1914 đến tháng 4/1916 mới được tha).

Tháng 1/1914 Bá Trác từ Thượng Hải về Quảng Đông, ở lại 6 tháng. Đầu tháng 7/1914, đáp tầu đi Hương Cảng. Rồi từ Hương Cảng về đến Sàigòn tháng 8/1914.

Hạn mạn du ký là một thiên ký sự. Tác giả ghi rõ ngày tháng từng sự kiện, nhưng đổi tên nhân vật và giấu những gì liên hệ đến tổ chức cách mạng Phan Bội Châu. Tác phẩm còn là văn bản nghiên cứu lịch sử và văn hoá ba nước: Nhật Bản, Trung Hoa và Cao Ly (Triều Tiên). Về giá trị văn chương, sử học và xã hội, Hạn mạn du ký có phần sâu sắc hơn Hải Trình Chí Lược của Phan Huy Chú hay Vũ Trung Tuỳ Bút của Phạm Đình Hổ.

Tác phẩm có 2 đoạn đáng chú ý, có thể minh oan cho Nguyễn Bá Trác:

1- Đoạn viết về lòng nhớ nước và khát vọng trở về đất tổ của lão bà bị cướp khỏi gia đình từ thời niên thiếu, lưu lạc trên đất khách, trọn đời chỉ có một quyết tâm: nuôi con thành người Việt, lấy chồng Việt để tìm đường về tổ quốc. Người mẹ ấy nói: "Ôi! Người mà quên cả ông cha, gọi là người "vong tổ" có thể là người được chăng?". Lời nói ấy, dường như phát tự đáy lòng Nguyễn Bá Trác.

2- Đoạn tả Nguyên quân ngâm bài Hồ Trường. Nguyên quân [anh Nguyên] chính là Trần Hữu Lực, được mô tả như một hiệp sĩ thời xưa, vừa nghệ sĩ, vừa khẳng khái, với giọng thân ái và kính phục, nhưng cũng bộc lộ tâm sự của tác giả:

"Nguyên quân cả năm không hay uống rượu đã uống thì say, đã say hay hát. Hát không hiểu khúc, song tiếng trong mà cao; cứ nghêu ngao mấy câu cổ phong, tự người ngoại quốc nghe đã lấy làm kiêu điệu lắm; cho nên ngày ở Quế Lâm, thi tốt nghiệp rồi, Nguyên quân say rượu tay gõ miệng hát, anh em đồng học đều khen là danh ca.

Chiều hôm ấy [khoảng tháng 3- 4/1910], rượu ngà ngà, Nguyên quân cũng đứng dậy mà hát. Cách phòng có một người khác tên là Lưu mỗ, là người Trực Lệ, hiện làm quan võ coi lính ở Quảng Tây, nghe Nguyên quân hát, bèn vào phòng, chào nói tên họ rồi hỏi Nguyên quân: "Tôi nhớ năm xưa có gặp quý hữu một lần ở tại Đông Kinh nước Nhật". Nguyên quân nói: "Lâu ngày không nhớ rõ". Khách lại hỏi: "Vừa nghe quý hữu hát ấy là điều gì?". Nguyên quân nói: "Ấy là một điệu đặc biệt ở phương nam!" Khách nói:" Nghe tiếng bi mà tráng, nhiều hơi khẳng khái, nam phương có điệu hát đến như thế ru?". Nói rồi, liền gọi thằng hầu lấy bút, xin Nguyên quân viết bài hát cho mà xem. Nguyên quân cầm bút viết ngay. Bài hát dịch ra như sau này:

Trượng phu không hay xé gan bẻ cột phù cương thường;

Hà tất tiêu dao bốn bể, luân lạc tha hương.

Trời nam nghìn dậm thẳm; mây nước một mầu sương.

Học không thành, công chẳng lập, trai trẻ bao lâu mà đầu bạc; trăm năm thân thể bóng tà dương.

Vỗ tay mà hát, nghiêng đầu mà hỏi, trời đất mang mang, ai là tri kỷ, lại đây cùng ta cạn một hồ trường.

Hồ trường! Hồ trường! Ta biết rót về đâu?

Rót về đông phương, nước bể Đông chẩy xiết, sinh cuồng lan.

Rót về tây phương, mưa Tây sơn từng trận chứa chan;

Rót về bắc phương, ngọn bắc phong vì vụt, đá chạy cát dương;

Rót về nam phương, trời nam mù mịt, có người quá chén như điên như cuồng.

Nào ai tỉnh, nào ai say, chí ta ta biết lòng ta hay;

Nam nhi sự nghiệp ở hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây" (Hạn mạn du ký)

Không ai viết về người mình đã "chỉ điểm" cho Pháp bắt giết, như vậy.

Giọng văn bí ẩn, cố giấu tông tích người hiệp sĩ anh hùng, nhưng cũng muốn ngỏ cho người đọc thấy sự thực: Nguyên quân (Trần Hữu Lực) chỉ là một "hiệp sĩ", có giọng ngâm hay, nhưng không phải là người văn học, vì "hát không hiểu khúc".

Bài mà Nguyên quân hát, Ấy là một điệu đặc biệt ở phương nam! - Một điệu phương nam, mà phương nam là đâu? Là nước Việt, nhưng người Việt có ai biết bài này, trừ Nguyễn Bá Trác? Vậy người sáng tác Hồ Trường phải là Nguyễn Bá Trác. Từ trước đến nay, vì không có sự khảo sát văn bản, người ta vẫn cho rằng bài Hồ trường là của Nguyên quân, người Tầu, được Nguyễn Bá Trác dịch sang tiếng Việt.

Sự thực, Nguyên quân chỉ là Nguyễn quân viết trại đi. Tác giả giấu mình, nhưng trong vô thức luôn luôn có cái gì "phản lại" tác giả, ở đây là bốn chữ: Nguyên quânphương nam. Hồ trường là một tuyệt tác, nói lên tâm sự bi tráng của những thanh niên đất Quảng ra Hà Nội, mong học "thành tài" để góp phần canh tân đất nước. Nào ngờ đến Bắc việc đã hỏng. Trốn sang Xiêm, Nhật, chậm rồi. Về Tầu lang thang khất thực, học làm tướng. Theo Quốc dân đảng Trung hoa. Nhưng Dân đảng bại trận. Mọi việc đều hỏng. Bốn phương mù mịt. Đói khát vây quanh. Hồ trường chính là tâm sự bi đát của Nguyễn Bá Trác.

Phạm Quỳnh (1892-1945)

Lời Phạm Quỳnh: "Tôi sinh ra nước đã mất rồi, còn đâu mà tôi bán?" Ẩn một sự thật bi thương. Nam Phong ra đời do nghị định ngày 30/12/1916 của phủ toàn quyền. Vậy Nam Phong nằm trong chính sách cai trị của Pháp lúc bấy giờ.

Trên cái manchette Nam Phong tạp chí là hàng chữ: "L'Information française" (Thông tin Pháp), và "La France devant le monde. Son rôle dans la guerre des nations" (Nước Pháp trước thế giới. Vai trò của Pháp trong cuộc chiến giữa các nước). Vậy "chủ đích" Nam Phong đã rõ.

Với một "chủ đích" như thế, Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác, hai chủ bút quốc ngữ và Hán văn và cũng là hai công chức của Pháp, có thể làm gì?

Trong bài trả lời phỏng vấn Đào Hùng năm 1931, Phạm Quỳnh cho biết: Trong thế chiến thứ nhất, Đức làm báo chữ Hán để tuyên truyền bên Tầu; Pháp bèn giao cho hai ông Quỳnh và Trác làm tờ "Âu Châu chiến sử", chữ Hán, viết bài ký tên người Tầu, tuyên truyền cho Pháp, đem sang Tầu phát không. Trong mấy năm, tờ báo ấy chỉ phát hành ở Tầu, không có ở Đông Dương. Đến 1917, phủ toàn quyền bàn với tôi [Phạm Quỳnh] rằng sẵn có tin tức và bài vở thì nên mở ra một bản quốc văn để làm cơ quan tuyên truyền tin tức trong xứ. Từ đó Nam Phong mới xuất hiện cùng với Đông Dương tạp chí, là hai tờ báo quốc văn ở đất Bắc. [Đào Hùng, Phụ Nữ Tân Văn từ Nam ra Bắc, PNTV số 87 (18/6/1931)]. Như vậy, chính Phạm Quỳnh đã nói rõ mục đích tuyên truyền của Pháp trong việc cho phép Đông Dương và Nam Phong xuất hiện.

Sau này những lập luận chống Phạm Quỳnh thường vịn vào cớ ấy để buộc tội ông.

Nguyễn Văn Trung viết cuốn Chủ đích Nam Phong (Trí đăng, Sài Gòn, 1972), để buộc tội Phạm Quỳnh và phản bác các quan điểm của Thanh Lãng và Phạm Thế Ngũ.

Tiếc rằng, Nguyễn Văn Trung không đem lại điều gì mới hơn các "chủ đích" đã in trên đầu tờ báo và đã được Phạm Quỳnh nói rõ. Ông chỉ đưa ra được một số văn thư chính thức của Pháp, khen ngợi Phạm Quỳnh là người bạn tốt của Pháp (như vụ làm báo Âu Châu chiến sử); ông cũng đọc sơ vài bài viết của Phạm Quỳnh, lựa những câu có thể phê phán được, đưa ra ngoài bối cảnh để buộc tội: tại sao Phạm Quỳnh không chống Pháp mạnh mẽ như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh? Lối lập luận như thế khó đứng vững, bởi Phạm Quỳnh chọn con đường tranh đấu khác: con đường văn hoá, và con đường này Phan Khôi sẽ cùng đi trong nhiều thập niên sau.

Giọng ca tụng Pháp tồi tệ nhất là của Tuyết Huy (Dương Bá Trạc, anh Dương Quảng Hàm) trong Bài ký ngày kỷ niệm quan toàn quyền Sarraut đến Hà Nội trên Nam Phong số 1 (7/1917) và bài Lời mừng cuộc toàn thắng đồng minh, số 17 (11/1918). Lời lẽ đáng xấu hổ, gọi Pháp là "mẹ nuôi ta", coi Nã Phá Luân là "xứ nhà giời", hoan hô "Đại Pháp muôn năm", "Quan toàn quyền Sarraut muôn năm", "Ta chúc nước Lang sa ta vinh quang hách dịch đời đời kiếp kiếp", hệt như sau này người ta ca tụng Liên xô, nhưng rất lạ là Dương Bá Trạc lại không bị kết tội "bán nước".

Phạm Quỳnh và Nguyễn Bá Trác (trong phần quốc văn) không viết bài nào đáng trách. Cùng chủ trương cộng tác Pháp-Việt, nhưng lời lẽ Phạm Quỳnh chừng mực, ít "thân Tây" hơn Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh, đúng như nhận xét của Thanh Lãng.

Tóm lại, trên Nam Phong, ngoài mục Thời đàm (tin tức bình luận thời sự) tuyên truyền cho chính sách của Pháp ở Á Châu, đúng với chủ đích đã ghi trên đầu tờ báo; khó có thể tìm được chứng cớ nào buộc tội Phạm Quỳnh "bán nước" qua các văn bản biên khảo, triết học, phê bình, dịch thuật của ông trên Nam Phong. Vậy ta thử tìm hiểu trong chuyến đi Pháp năm 1922, Phạm Quỳnh có thái độ như thế nào đối với các nhà ái quốc và với giới trí thức Pháp?

Gặp gỡ các nhà ái quốc, năm 1922, tại Pháp

Tâm sự sâu lắng của Phạm Quỳnh trong chuyến đi Pháp năm 1922 được bộc lộ qua loạt bài Pháp du hành trình nhật ký, (in trên Nam Phong từ số 58 (4/1922) đến số 100 (10-11/1925) in lại trong Hành trình nhật ký, Ý Việt, Pháp, 1997].

Khởi hành từ Hải Phòng 9/3/1922, đến Marseille 9/4 và về nước 11/8/1922. Trong 4 tháng ở Pháp, Phạm Quỳnh đã gặp các nhà ái quốc trong nhóm Ngũ Long nhiều lần:

1- Đến Marseille 9/4, ngày 11/4/1922, Phạm Quỳnh ghi: "Hôm nay gặp cụ Phan Tây Hồ, là một nhà chí sĩ nước ta, nay biệt xứ bên quý quốc. Hồi cụ khởi nghiệp, tôi còn nhỏ tuổi, nên chỉ biết tiếng mà không được biết người. Nay sang đến đây mới được gặp cụ, trong lòng ngổn ngang nhiều nỗi, không sao nói xiết. Cùng nhau đàm luận trong mấy giờ." (Hành trình nhật ký, Ý Việt, Pháp, trang 252).

2- Theo mật báo ở Marseille, ngày 11/5/1922, có cuộc gặp gỡ giữa Phan Châu Trinh, Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh. Phan Châu Trinh muốn lật đổ Nam triều, lập Quốc hội An Nam để cai trị cùng với chính phủ Pháp. Nguyễn Văn Vĩnh không đồng ý. Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh hứa sẽ nghĩ biện pháp giúp Phan Châu Trinh. (Thu Trang, Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp 1911/1925, Đông Nam Á, 1983, trang 160).

Phạm Quỳnh ở Marseille đến 12/5 đi Lyon, tới Paris 16/5/1922, ở Hôtel du Monde, số 15, Rue Berthollet cùng với Nguyễn Văn Vĩnh.

3- Ngày 27/6/1922, Phạm Quỳnh đến Société de Géographie Commerciale (Hội Địa dư thương mại)đọc diễn văn giới thiệu hội Khai Trí Tiến Đức. Lê Thanh Cảnh, trong bài "Thử đi tìm một lập trường tranh đấu cho dân tộc Việt nam", (đã dẫn trong một kỳ trước), cho biết, ngay chiều hôm ấy, ông tổ chức mời cơm tại khách sạn Montparnasse, có sự tranh luận sôi nổi giữa Phan Châu Trinh, Nguyễn Ái Quốc, Cao Văn Sến, Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh.

4- Ngày 13/7/1922,Phạm Quỳnh ghi:"Chiều hôm nay ăn cơm An Nam với mấy ông đồng bang ở bên này. Mấy ông này là tay chí sĩ, vào hạng bị hiềm nghi, nên bọn mình đến chơi không khỏi có trinh tử dò thám. Lúc ăn cơm trong nhà, chắc lũ đó đứng ngoài như rươi; nhưng họ cứ việc họ, mình cứ việc mình, có hề chi!" (Hành trình nhật ký, trang 485). Trong cuốn sổ tay, ông viết: "Juillet/13/Jeudi: Ăn cơm An Nam với Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc ở nhà Trường (6 rue des Gobelins)" (Phạm Tôn, Người nặng lòng với nước, tài liệu gia đình, Blog Phạm Tôn).

5- Ngày 16/7/1922,Phạm Quỳnh ghi: "Trưa, mấy ông chí sĩ cùng ăn cơm bữa trước lại chơi ở trọ, nói chuyện giờ lâu. Nghe nói các ông đi đâu cũng có bọn trinh tử theo sau, chắc bọn đó đã đứng đâu ngoài cửa cả" (Hành trình nhật ký, trang 491) Và trong sổ tay: "Dimanche 16/7: ở nhà, Trường, Ái Quốc và Chuyền [Truyền] đến chơi" (Phạm Tôn, bđd).

Tóm lại, trong chuyến đi Pháp năm 1922, Phạm Quỳnh gặp nhóm Yêu Nước,ít nhất năm lần. Và hầu như luôn luôn bị mật thám theo dõi.

Điều này chứng tỏ: năm 1922, có sự tham vấn về tình hình đất nước giữa khuynh hướng ôn hoà của Phạm Quỳnh (chủ trương quân chủ lập hiến) và Nguyễn Văn Vĩnh (chủ trương trực trị) và khuynh hướng chống đối mạnh mẽ của nhóm Ngũ Long, tại Pháp.

Đối diện với trí thức Pháp: đấu tranh cho giáo dục ở Việt Nam

Hoạt động thứ nhì trong thời kỳ Phạm Quỳnh ở Pháp, là tranh đấu cho một đường lối giáo dục phù hợp với dân tộc Việt Nam, thể hiện trong 4 bài diễn thuyết tại các trường lớn. Những bài này được đăng báo ở Pháp, rồi trên Nam Phong, song ngữ và in lại trong cuốn Nouveaux essais franco-annamites (Những bài tiểu luận Pháp-Việt mới), (nxb Bùi Huy Tín, Huế, 1938). Đây là những bài tham luận quan trọng, ít ai biết, lại phải đọc nguyên văn tiếng Pháp, vì bản dịch dù của tác giả, nhưng với thứ tiếng Việt đầu thế kỷ: La France dịch là Đại Pháp; MessieursThưa các ngài, đã làm mất tính dân chủ trong sự khẳng khái đòi chính quyền Pháp thực thi một nền giáo dục đúng đắn ở Việt Nam.

Trước sinh viên và trí thức Pháp, Phạm Quỳnh dùng lối thuyết khách: ông trình bầy và phân tích tiến trình lịch sử và văn hoá Việt nam từ thời thượng cổ, để thuyết phục Pháp không thể "giáo hoá" dân Việt như một dân tộc dã man, tức là bỏ hẳn tiếng Việt, chỉ dạy tiếng Pháp, biến người Việt thành người Pháp.

1- Ngày 26/5/1922.Diễn thuyết tại Ecole des Langues orientales vivantes (Trường Sinh ngữ Đông phương). Đề tài: L'évolution de la langue annamite (Sự tiến hóa của tiếng An-nam), (Nam Phong, phụ lục tiếng Pháp, số 69 (3/1923) và số 70 (4/1923).

Phạm Quỳnh lược qua tình trạng ngôn ngữ ở Việt Nam: Trải ngàn năm bị Tầu đô hộ, văn chương Việt chia làm hai loại: bác học (chữ Hán) và bình dân (chữ Nôm). Tiếng nói dân tộc bị coi thường, chữ Nôm bị khinh rẻ.

Nhưng đến đầu thế kỷ XIX, Nguyễn Du, một đại văn hào xuất hiện, đưa thứ ngôn ngữ thông tục lên hàng kiệt tác với Truyện Kiều. Công của Nguyễn Du đối với quốc âm cũng giống như công của Ronsard, Rabelais đối với tiếng Pháp.

Chữ quốc ngữ, do các linh mục Tây Phương đặt ra với mục đích truyền giáo; nhờ Trương Vĩnh Ký và Paulus Của, được truyền bá rộng rãi ở Nam Kỳ, bởi vì trong Nam không có lớp nho học bảo thủ như đất Bắc.

Khoảng 1900, sau khi Tầu thua Nhật, người Tầu bắt đầu du học Âu Mỹ; khi về nước, họ đã dịch đủ loại tác phẩm Tây phương, từ Darwin, Kant, đến Rousseau, Montesquieu, Voltaire, Diderot... sang chữ Hán. Đó là những sách Tân thư. Các nhà nho Việt đọc Tân thư, tiếp nhận, và dịch lại những danh từ khoa học, kỹ thuật, triết học, mà người Hoa đã dịch sang chữ Hán.

Khi lớp người Tây học (chúng tôi) bắt đầu dịch các sách Tây Phương sang tiếng Việt, thì đã có sẵn kho danh từ do các bậc đàn anh dịch từ chữ Hán sang: Chữ quốc ngữ hiện đại hình thành và giàu mạnh, là nhờ sự cộng tác chặt chẽ giữa hai phái Nho và Tây học.

Sự phục hưng tiếng Việt qua quốc ngữ không được người Pháp biết đến, kể cả những người đã Việt hoá nhất, họ chỉ học tiếng Việt hàng ngày, khi đụng phải một vài danh từ Hán Việt là họ giãy nẩy lên, bảo đấy là tiếng Tầu. Nói là mượn tiếng Tầu thì cũng không đúng hẳn: Thực ra, để tạo chữ mới, tiếng Việt cũng như tiếng Cao Ly, Nhật, quan thoại, đều mượn chữ Hán, một tử ngữ, hệt như người Âu mượn chữ La tinh, Hy lạp. Khi các bạn viết: électro-dynamique thì cũng giống như chúng tôi dùng từ Hán-Việt vậy.

Tại sao phải dùng từ Hán-Việt? Ví dụ intuition dịch là trực giác, trực là thẳng, giác là thấy, dễ hiểu hơn là phiên âm thành anh-tuy-di-on hay giải nghĩa dài dòng sang tiếng Việt. Nhưng có những tiếng có thể dịch thẳng sang tiếng Việt, như l'aréoplane thành tầu bay hoặc automobile phiên âm thành ô tô; la gare thành nhà ga. Về tên riêng, chúng tôi phiên âm tên Napoléon thành những từ Hán Việt Nã Phá Luân, bởi ba chữ này có âm vang chiến đấu; Washington thành Hoa Thịnh Đốn vì âm vang thanh nhã hợp với đất kinh thành.

Khi ngôn ngữ bất đồng, thì không thể hiểu nhau được.

Các bạn đang học trường Sinh Ngữ Đông Phương, vậy nếu các bạn muốn học tiếng nước tôi thì không chỉ học ngôn ngữ hàng ngày, nên học cả ngôn ngữ văn chương, và nếu có thể, học thêm chữ nho, để có thể tìm hiểu đến nguồn cội ngôn ngữ Việt Nam.

(Tóm tắt các ý chính trong bài diễn văn của Phạm Quỳnh).

Bài này mở đầu cho "chiến dịch" cổ động mà Phạm Quỳnh đã trù định: Thừa dịp được toàn quyền Maurice Long cử sang Pháp diễn thuyết tại các trường lớn, ông đã tìm cách thuyết phục Pháp đừng thi hành chính sách đồng hoá ngôn ngữ ở Việt nam. Mở đầu bằng lời khuyên sinh viên trường sinh ngữ, ngoài tiếng Việt hàng ngày, nên học văn chương Việt, học thêm chữ nho, để hiểu những danh từ Hán-Việt.

2-Ngày31/5/1922 diễn thuyết ở Ecole Coloniale (Trường Thuộc địa), đề tài: "L'évolution intellectuelle et morale des Annamites depuis l'établissement du Protectorat français" (Sự tiến hóa về đường tinh thần của người Việt Nam từ khi nước Pháp đặt Bảo hộ) [Nam Phong, phụ lục tiếng Pháp số 66 (12/1922) và 67 (1/1923)].

Phạm Quỳnh ghi: "Trị cái đề này cho cứng và cho ổn cũng khó thật; khó là muốn cho vừa cứng vừa ổn. Nếu ổn quá thì thành ra nịnh rồi, mà nịnh thì mình không mặt mũi nào; mà nếu cứng quá tất sẵng, mà sẵng cũng không xong." (Hành trình nhật ký, trang 343). "Tối hôm nay quyết ăn mặc quần áo An Nam, lấy quốc phục làm lễ phục, cho nó thêm trịnh trọng. Nghiễm nhiên là một anh "đồ" An Nam mà ngồi diễn thuyết bằng tiếng Pháp" (sđd, trang 345).

Bài này có tính cách chính trị: Phạm Quỳnh tổng kết tiến trình lịch sử và văn hoá Việt Nam từ đô hộ Tàu đến đô hộ Tây. Mục đích nói cho "các quan cai trị" tương lai biết rằng: các bạn muốn thành công thì nên học tiếng Việt, tìm hiểu văn hoá Việt. Mọi sự đàn áp đều đưa đến hậu quả không lường được. Phần đầu, ông nói về tình hình văn hoá Việt dưới sự đô hộ của Tàu: Chữ Hán trở thành ngữ tự chính thống.

Phần thứ nhì, và cũng là phần cốt lõi, ông nói đến nền đô hộ của Tây. Đại ý như sau:

Nước Pháp đến nước chúng tôi đã nửa thế kỷ. Chuyện đã rồi, chúng tôi đành phải chịu. "Nhưng đối với lớp đàn anh chúng tôi, thì chẳng qua quý quốc cũng chỉ là một giống "xâm lược" mà thôi". "Trừ là một dân tộc hèn mạt suy đốn, chứ có bao giờ người dân một nước lại giương tay ra đón lấy kẻ ngoại quốc đến cưỡng chiếm nước mình".

Bởi thế nên 20 năm sau khi quý quốc đến chiếm hữu, biết bao nhiêu cuộc nổi dậy chống đối, "cũng chỉ vì cái lòng ái quốc bị khổ nhục, lòng căm tức tới tâm gan". Sự căm thù khiến chúng tôi coi việc học tiếng Pháp và học vần quốc ngữ do người Tây phương đem lại là một cái nhục. Nhưng dần dần, sĩ phu của chúng tôi cũng phải thừa nhận sự yếu kém của nước mình, và họ đã tìm đọc những tư tưởng tiến bộ của J.J. Rousseau, Montesquieu qua những cuốn Tân thư của Tàu, từ đó phát xuất phong trào Đông Du. Họ muốn trông cậy vào Tầu, Nhật để đuổi Pháp ra khỏi xứ sở, mà biến cố 1908 [Trung kỳ dân biến] là đỉnh điểm.

Khi toàn quyền Beau nhậm chức [1902-1908], ông đã hết sức cải tổ chính trị, mở rộng các trường Pháp-Việt và mở trường đại học đầu tiên ở Đông Dương, tôi [Phạm Quỳnh] có hân hạnh với vài người bạn được vào học trường này. Nhưng chỉ ít lâu sau trường bị đóng cửa vì biến cố 1908.

Người ta giải thích rằng: Vì người Nam chưa có trình độ để học Đại học; điều đó đúng vì hồi đó chúng tôi làm gì có trường trung học? Việc lập đại học khi chưa có trung học là một nghịch lý. Thực ra thì ông Beau đã có chủ kiến sẳn: Từng làm đại sứ Pháp tại Trung hoa, ông biết rõ mỗi năm có hàng nghìn người Hoa sang Âu, Mỹ du học, quá tốn kém cho gia đình và nhà nước Trung hoa, cho nên nếu ông lập ra một Đại học Đông Duơng ở Hà Nội, mà người Tầu sang học thì uy thế của Pháp tại Viễn đông càng nổi trội.

Nhưng chính sách khôn ngoan của ông Beau đã không được người kế nhiệm thấu hiểu. [Ở đây, Phạm Quỳnh muốn nói đến toàn quyền Antoine Klobukovski (1908-1910), người đã tàn khốc đàn áp Trung Kỳ dân biến, phong trào Duy Tân và Đông Du, đóng cửa Đông Kinh nghiã thục và Đại học Đông dương]. Đến khi ông Albert Sarraut sang làm toàn quyền, chính sách cộng tác văn hóa Pháp Việt của ông Beau mới lại được tiếp tục: những vở kịch của Molière qua bản dịch của Nguyễn Văn Vĩnh đã được trình diễn ở Hà Nội. [Xin nhắc lại: Albert Sarraut, thuộc đảng xã hội, làm toàn quyền hai lần (1911-1914) và (1917-1919), sau đó là Maurice Long (1921-1923), cả hai tiếp tục chính sách cộng tác văn hoá của Beau].

Phạm Quỳnh kết luận: Chúng tôi là một dân tộc cổ kính có một nền văn hoá lâu đời, ngày nay muốn hội nhập vào thế giới hiện đại, nhưng dứt khoát không muốn từ bỏ nền văn minh, cái quá khứ mà tổ tiên đã để lại qua nhiều thế kỷ. Chúng tôi muốn là chính mình. Muốn giữ lấy bản sắc của mình, giữ lấy cái quốc hồn quốc tuý của dân tộc mình.

Vì sự tình cờ của lịch sử, chúng tôi phải chịu sự bảo hộ của nước Pháp. Chúng tôi muốn được nước Pháp giúp đỡ trong công cuộc cải cách, bởi nước Pháp là một cường quốc, thông qua lịch sử, luôn luôn góp phần vào công cuộc tranh đấu giải phóng con người.

(Tóm lược các ý chính trong bài diễn thuyết)

Bài này Phạm Quỳnh đánh vào tâm lý những nhà cai trị tương lai. Nội dung mãnh liệt. Lời lẽ khôn khéo. Không khác gì lời Phan Văn Trường trong bản Thỉnh nguyện thư 1919. Phạm Quỳnh trong tư thế thuyết khách. Phan Văn Trường viết lời thỉnh nguyện của dân tộc.

3- Ngày5/7/1922. Diễn thuyết ở Société française des amis de L'orient (Hội Ái hữu Đông phương). Đề tài: La poésie annamite (Thi ca Việt Nam), in trong Revue Orient et Occident ở Paris, tháng 8/1922, và Nam Phong phụ trang Pháp ngữ, số 63 (9/1922).

Bài này giới thiệu hai mảng thi ca quan trọng nhất của Việt Nam: ca dao và Truyện Kiều. Vào đề, ông nói ngay: Thi ca của dân tộc nào là đặc biệt của dân tộc ấy, không thể dịch ra tiếng nước khác được. Dịch tức là diệt. Mà muốn dịch, lại phải thông thạo cả hai thứ tiếng. Tôi [Phạm Quỳnh] có thể tự hào biết rõ tiếng nước tôi, nhưng làm sao tôi biết hết những tinh vi trong tiếng Pháp, vậy tôi dịch phải sai nhiều lắm.Muốn thưởng thức thơ nước tôi, các bạn chỉ có cách học tiếng Việt.

Sau đó ông dịch một số câu ca dao và giải thích những cái hay tuyệt vời không thể dịch sang tiếng Pháp được, ví dụ hai chữ chiều chiều dịch thành soir soir thì làm sao nói được nỗi buồn với dư âm day dứt tiềm ẩn trong âm thanh chiều chiều.

Ca dao, mới chỉ là những bông hoa dân gian, hoa rừng, không trồng mà mọc. Còn Truyện Kiều của Nguyễn Du, mới là thơ của nhà đại thi hào dân tộc. Tác phầm Kiều là một quyển sách bói (livre d'horoscopes), giây phút nào trong đời người, bạn cũng có thể mở Kiều và tìm thấy những câu thơ phù hợp. Từ thượng cổ Hy Lạp đến nay, thi nhân luôn luôn băn khoăn tới số phận con người. Nhưng Tây phương thường diễn ca theo lối huyền ca thần bí, trong khi thi nhân nước tôi, lấy thân phận làm chủ não (leit-motiv) của đời người đàn bà bị khổ nhục vì có nhan sắc, có lòng cao thượng và có quan niệm khác thường về nghĩa vụ con người.

Quý quốc sang cai trị chúng tôi đã 50 năm. Trong 100 công chức Pháp thì có độ 10 người biết tiếng Việt, nhưng điều quái lạ là không ai tìm đọc truyện Kiều! Ông Abel des Michels có dịch và chú thích nhưng cũng dịch sai nhiều lắm. Ông Nguyễn Văn Vĩnh, bạn của chúng tôi, đã dịch nhiều tác phẩm của quý quốc sang tiếng nước tôi, và ông đã dịch cuốn Kiều sang tiếng Pháp. Lần này ông sang Pháp để tìm một văn tài thượng đẳng của quý quốc (nobilité littéraire française) có thể nhuận sắc lại bản dịch của ông để in bên Pháp. [Chú thích: Bản dịch Kiều được in dần trên Đông Dương tạp chí từ số 18 trở đi, rồi trên Trung Bắc Tân Văn. Xuất bản sau khi Nguyễn Văn Vĩnh qua đời (nxb Alexandre de Rhodes, 1942, Hà Nội), 2 tập, gồm ba phần: thơ, chú giải, và dịch từng chữ. Nguyễn Văn Vĩnh đã dịch Kiều trong khoảng 1913-1916)].

Tôi nói thế không ra ngoài đề đâu, mỗi chi tiết đều có ý quan trọng về chính trị cả đấy. Bởi có những ý kiến đang thịnh hành cho rằng tiếng An Nam chẳng qua là một "thổ âm" phải tiêu diệt dần đi, thay tiếng Pháp vào. Một tiếng nói mà chúng tôi đã giữ được qua bao nhiêu thế kỷ chống lại tiếng Tầu. Người ta thường nói một dân tộc sống về tiếng nói, và nếu đúng như thế thì dân tộc chúng tôi quyết muốn sống đây! Chẳng phải vì bọn trí thức chúng tôi ghét tiếng Pháp mà nói vậy: chúng tôi muốn truyền bá văn minh Tây phương, nhưng sự truyền bá này phải không phương hại gì đến tiếng Quốc âm và nền văn minh lâu đời của chúng tôi.

(Tóm lược những ý chính trong bài diễn thuyết).

Với chủ đề văn chương, Phạm Quỳnh đã nói chính trị: bảo vệ triệt để ngôn ngữ dân tộc trước nguy cơ bị chính quyền thuộc địa dẹp hẳn để thay thế bằng tiếng Pháp như đối với các nước Châu Phi. Để bảo vệ tiếng Việt, Nguyễn Văn Vĩnh dịch Kiều và Phạm Quỳnh đề cao Kiều như một kiệt tác, để người Pháp thấy cái hay trong tiếng Việt khiến họ phải kính phục và tôn trọng. Sự đề cao Truyện Kiều của Phạm Quỳnh là trong chủ đích ấy, nhưng một số nhà nho không hiểu. Ngô Đức Kế đã cực lực phản đối bằng những lời lẽ luân lý hết sức thiển cận. Sự hiểu lầm Phạm Quỳnh còn kéo dài trong nhiều thập niên sau với Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Văn Hoàn...

4- Ngày22/7/1922 diễn thuyết tại Académie des Sciences morales et politiques (Hội Hàn Lâm Luân lý Chính trị học). Mặc quốc phục. Đề tài giáo dục: "Un problème d'éducation des races. Comment doit-être faite l'éducation des Annamites par La France?" (Một vấn đề giáo dục giống nòi. Nước Pháp phải giáo hoá người An Nam như thế nào?). Đây là bài quan trọng nhất, bàn thẳng vào chính sách giáo dục của Pháp ở Việt Nam.

Bài diễn thuyết mở đầu bằng những lời như sau:

"Trong sử cũ nước Việt Nam chúng tôi, thường nói đến những bậc người đại trí (...) Gặp những cơ hội gì quan trọng, hay là khi nào phải xét đến một cái vấn đề lợi hại cho cả nước, thời chính Hoàng đế hay là các quan quốc vụ đại thần, hay là bất cứ người dân nào hữu tâm về vận mệnh nước nhà, thường hay tìm đến để hỏi han. Mà các bậc ấy bao giờ cũng lấy những điều chính lý, những sự khôn ngoan mà khuyên bảo. Mà những lời khuyên bảo ấy, hầu hết là nghe theo cả.

Toà Hàn Lâm của Đại Pháp, là nơi tẩu trạch [sanctuaire] những ngài học vấn uyên thâm, khôn ngoan tài trí của quý quốc..." [Bản dịch Phạm Quỳnh, Nam Phong số 71 (5/1923)]

Mở đầu, vẫn xác định nước mình có nền văn hoá lâu đời, có những bậc hiền triết mà vua, quan, dân đều phải nghe theo. Sau mới nói đến Hàn lâm viện Pháp, đặt các vị Hàn lâm lên trên hết, hy vọng tiếng nói của họ sẽ được chính quyền Pháp nghe, như ở xứ Việt, từ thủa xa xưa.

Chúng tôi đã bị Pháp đô hộ hơn 40 năm nay. Bởi yếu thế về chính trị, nên đã không "đủ sức chống lại một kẻ xâm lược vừa giỏi vừa mạnh hơn nhiều". Chúng tôi thua trận vì: "nước chúng tôi là gốc ở một cái văn minh rất cổ ở Á Châu, trong bao nhiêu thế kỷ tựa hồ như cách biệt với thế giới bên ngoài".

Tóm lại, trước Hàn Lâm Viện, Phạm Quỳnh vẫn xác định: Pháp là kẻ xâm lược, sau nông nỗi mất nướcbuổi đầu, những phần tử ưu tú của đất nước chúng tôi mới nhận thức được sự yếu kém về học thuật của mình, muốn được thấm nhuần "cái học thuật và cái văn minh nhân đạo" của nước Pháp. Chúng tôi là một dân tộc bị áp bức, trông chờ ở nước Pháp, cái nôi của nhân quyền và giải phóng con người, giúp đỡ học hỏi để trở thành một nước tân tiến. Tóm lại chúng tôi rất mong được giáo hoá, nhưng quý quốc định giáo hoá chúng tôi như thế nào đây?

Sau khi bãi bỏ nền giáo dục cổ truyền của chúng tôi, quý quốc chưa tìm được giải pháp nào ổn thoả. Hiện có hai lập luận:

- Nhóm thực dân lâu đời cho rằng: Dân An Nam càng có kiến thức càng nổi lên chống Pháp, vậy chỉ nên dậy chúng trở thành những người thợ, hoặc thư ký, dễ sai bảo. Đây là một "lập luận hẹp hòi, ích kỷ, không xứng đáng với truyền thống nhân đạo của nước Pháp, mà còn nhục mạ khả năng tri thức của dân tộc tôi".May mà chưa thực hiện.

- Lập luận thứ nhì, đang thực hiện, là mở trường dậy từ cấp tiểu học, tiến dần lên trung học, và đã bắt đầu nền đại học, xin rất cám ơn.

Nhưng lại có vấn đề: Nếu chúng tôi là một dân tộc vô văn hoá, hay một dân tộc mới, vừa xuất hiện trên mảnh đất tân bồi nào đó, không có quá khứ, không có lịch sử, thì việc giáo hoá như vậy cũng được. Tức là cứ việc "Tây hoá" cho thành người Pháp. "Nhưng dân Việt Nam chúng tôi, không thể ví như tờ giấy trắng được. Dân tộc chúng tôi là một quyển sách cổ (un vieux parchemin) đầy những chữ viết bằng một thứ mực không phai, đã mấy mươi thế kỷ nay; không có thuốc gì xoá hẳn được thứ chữ ấy đi. Không ai có quyền tự do muốn viết gì vào đấy thì viết được. Quyển sách cổ ấy, có thể đóng theo kiểu mới cho hợp thời trang, nhưng không thể đem in một thứ chữ ngoài lên trên các dòng chữ cũ được".

Còn một thuyết khác nữa khá phổ biến, cho rằng: Người Nam xưa đã học chữ Tầu, nay học chữ Tây là phải, còn cái tiếng An Nam man rợ ấy phải tiêu diệt dần đi, nó chỉ là một thứ "thổ âm" (patois); đến ngày nào bao nhiêu trẻ con nước Nam đếu biết nói tiếng Pháp cả, thì nước Nam sẽ trên đường tiến bộ. Nhưng giả thử có ngày bao nhiêu trẻ con An Nam đều biết nói mấy câu tiếng Tây "ba rọi" (petit nègre), nhưng lại quên tiếng nước mình, vì không còn được dậy ở trường nữa, thì đó có phải là thời tiến bộ của nước tôi không?

Hay còn một giải pháp hợp lý hơn, là cho dân An Nam học tiếng Việt ở bậc tiểu học, tức là bậc giáo dục phổ thông trước đã. Rồi lên cao hơn, học thêm tiếng Pháp để dự bị vào trung học, cao đẳng, đại học. Chính ở bậc trung học này, cũng phải dậy thêm chữ nho, vì đối với tiếng An Nam, chữ nho cũng giống như chữ La tinh đối với tiếng Pháp. Hiện nay chưa có nghị định nào bắt người An Nam phải học thuần tiếng Pháp cả, nhưng chữ An Nam chỉ có một địa vị rất nhỏ ở cuối bậc tiểu học mà thôi. Thử hỏi chính phủ Pháp có thể trông cậy vào những người An Nam học ở bên Tây, đỗ kỹ sư, tiến sĩ, mà quên cả tiếng mẹ đẻ, thì đối với dân mình, chỉ là những người xa lạ, làm sao có thể truyền bá cái văn minh Tây phương cho họ được?

Vậy nền giáo dục của chính phủ Bảo hộ, muốn có kết quả tốt thì phải đào tạo được những người Việt Nam chân chính, vừa có cái học thái tây, vừa biết giữ gìn ngôn ngữ, phong tục của nước mình.

Vì dân tộc tôi mà tôi tha thiết mong các danh sư của Viện Hàn Lâm Pháp soi xét vần đề này.

(Tóm tắt những ý chính trong bài diễn thuyết).

Bốn bài diễn văn của Phạm Quỳnh năm 1922 tại Paris đã có tác dụng.

Phạm Thế Ngũ viết: "Đến năm 1924, vì nhiều nguyên nhân chính trị, và cũng vì chiến dịch vận động của Phạm Quỳnh, người Pháp lần đầu ở Bắc và Trung, lập ra một bậc Ấu học ở Việt Nam trong ba năm hoàn toàn học bằng tiếng Việt để thi lấy bằng Sơ học yếu lược.(...) Phạm Quỳnh coi đó là một thắng lợi trong công cuộc vận động giáo dục, thực hành chủ nghiã quốc gia về đường văn hoá. Cũng như một thắng lợi khác nữa của ông là việc mở một khoa "Ngôn ngữ và văn chương Hán -Việt" ở trường Cao đẳng mà ông đã được cử phụ trách giảng dậy, một thứ mầm mống của Đại học văn khoa sau này" (Phạm Thế Ngũ, Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên, quyển 3, trang 150).

Công trình văn học, triết học, ngữ học, dịch thuật của Phạm Quỳnh đã xác định địa vị của ông, không ai có thể chối cãi được. Hầu hết trước tác của Phạm Quỳnh nằm trong Nam Phong, hiện nay, trọn bộ 210 số, đã được Viện Việt Học ở California đưa vào DVD. Di sản văn hoá đồ sộ của Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh, hai nhà văn hoá bị kết án "bán nước", hiện vẫn còn ngủ yên chưa được lựa chọn, soạn thảo, chú thích theo tiếng Việt hiện thời và in lại một cách hệ thống để dùng làm sách giáo khoa. Phần Thượng Chi văn tập, đã in lại, không có gì đáng kể. Chỉ riêng về triết học và dịch sách Pháp, công trình của Phạm Quỳnh Nguyễn Văn Vĩnh, cũng đã đầy đủ cho học sinh và sinh viên sử dụng, thay vì dùng những bản dịch của những "dịch giả" mới học tiếng Pháp dăm năm, chưa đủ trình độ và kiến thức để hiểu nguyên bản, nói gì đến dịch đúng.

Nguyễn Bá Trác, ngoài Hán Văn, còn đóng góp hai bài tuyệt bút Ngọn gió hồ GươmBài tình tự với sông Hương, trên Nam Phong số 1 và số 2, có thể coi là hai bài tuỳ bút quốc ngữ đầu tiên, nói lên tâm sự đớn đau của người xa quê nhớ nước. Ngoài trước tác, Phạm Quỳnh cùng Nguyễn Văn Vĩnh, Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, Nguyễn Hữu Tiến... soạn thảo Việt Nam từ điển (của hội Khai Trí Tiến Đức). Việt Nam từ điển ra đời năm 1931 -tiếp nối và bổ sung cho Đại Nam Quấc Âm tự vị của Paulus Của- với những danh từ Hán Việt mới về khoa học, triết học, ngữ học, luận lý, trừu tượng... mà các nhà Nho và Tây học đã dịch từ chữ Hán qua Tân thư, đánh dấu giai đoạn phát triển quốc ngữ Nguyễn Văn Vĩnh-Phạm Quỳnh tiếp nối giai đoạn Trương Vĩnh Ký-Huỳnh Tịnh Của.

Thụy Khuê


Đón đọc kỳ tới: LS.Nguyễn Mạnh Tường

Bài Xem Nhiều