We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 3 June 2011

Ý NGHĨA NGÀY QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA 19/6

Ngày 20.7.1954 đánh dấu ngày quốc hận thứ nhất của dân tộc Việt Nam, sau khi cộng sản Bắc Việt cùng với thực dân Pháp ký kết Hiệp định Genève chia đôi đất nước, lấy vĩ tuyến thứ 17 chạy ngang con sông Bến Hải làm ranh giới Bắc Nam. Ðó cũng là ngày đánh dấu cuộc di cư từ bỏ chế độ cộng sản lần thứ nhất của người Việt với gần một triệu dân miền Bắc gồng gánh bồng bế nhau tìm đủ mọi cách để được đáp tàu vào vùng đất miền Nam tự do, nơi đó nước Việt Nam Cộng Hòa non trẻ đang chập chững những bước đầu tiên trong cộng đồng chính trị thế giới.

Giữa bối cảnh một nửa đất nước oằn oại rên siết trong gông cùm cộng sản, trong bóng đêm của dối trá và tội ác, một nửa nước còn lại vừa phải đối phó với quân cộng sản còn nằm mai phục trong các chiến khu cũ thời Pháp và đương đầu với những vấn đề ổn định nội bộ, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, danh xưng lúc đó là Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam, tiếp nhận di sản nghèo nàn và lạc hậu do phía quân đội Pháp hồi hương bàn giao lại, đảm nhận trọng trách nặng nề bảo quốc an dân. Ngày 1.7.1955 Bộ Tổng Tham Mưu của Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam chính thức hình thành, đánh dấu ngày khai sinh một quân lực non trẻ mà đã dám chiến đấu chống lại cả một đại khối cộng sản quốc tế hung hãn tràn xuống từ phương Bắc. Tên tội đồ dân tộc, kẻ giết hàng triệu người mà miệng vẫn cười Hồ Chí Minh, một cán bộ cao cấp của cộng sản quốc tế, cúi đầu làm chó săn nhận vũ khí và thực hiện sách lược “Dùng người Việt giết người Việt” của quan thầy Nga Sô và Trung Cộng, vơ vét thanh thiếu niên miền Bắc đẩy vào miền Nam bắn dùng bọn thổ phỉ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam thực hiện sách lược “Dùng người Miền Nam giết người Miền Nam” tàn sát chính đồng bào ruột thịt của mình.


Dưới thời của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm của nền Ðệ Nhất Cộng Hòa, sau khi ông chính thức làm Tổng Thống sau cuộc Trưng Cầu Dân Ý 1955, Quân Ðội Quốc Gia Việt Nam được cải danh thành Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, với xác quyết quân đội sẽ được phát triển và tối tân hóa thành một đạo quân mạnh để đập tan bất cứ một cuộc xâm lược nào từ phương Bắc. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong suốt lịch sử 20 năm chiến đấu bảo vệ tổ quốc, tuy có những lúc thăng trầm nghiêng ngửa, có những lúc thiệt hại nặng nề, nhưng những người chiến binh dũng cảm Việt Nam Cộng Hòa vẫn giữ vững ý chí chiến đấu, không chấp nhận chế độ cộng sản, quyết đánh cho đến hơi thở và giọt máu cuối cùng. Từ ngày 1.11.1963, sau khi một nhóm tướng lãnh đảo chánh lật đổ Tổng Thống Diệm, đất nước và quân đội Việt Nam Cộng Hòa bị suy yếu trầm trọng vì tình trạng chỉnh lý tranh giành quyền lực liên miên giữa các tướng lãnh. Cộng Sản Bắc Việt nương cơ hội này lăm le tràn xuống đánh dứt điểm miền Nam. Hồi tưởng lại hoàn cảnh đất nước thật đen tối trước ngày 19.6.1965, vận mệnh của nước Việt Nam Cộng Hòa như sợi chỉ mỏng manh treo nghìn cân trước làn sóng xâm nhập đã bắt đầu ồ ạt với hàng trăm ngàn quân chính qui Bắc Việt đã có mặt ở Miền Nam.


Về chính trị, tình hình đầy xáo trộn và bất ổn. Những cuộc xuống đường dưới sự khích động của những phần tử cộng sản nằm vùng và trà trộn liên miên xảy ra, mà hậu quả hiển nhiên và tức thì là sự rối loạn, khẩn trương của xã hội, dân chúng lúc nào cũng lo âu trước thời cuộc hỗn độn. Cộng sản nhân đó gia tăng những hoạt động tuyên truyền, phá hoại, lũng đoạn hàng ngũ những người Quốc Gia. Ở nông thôn thì Việt cộng gia tăng khủng bố dân chúng, bắt cóc, thủ tiêu và ám sát dã man những viên chức xã ấp tận tụy với chính nghĩa quốc gia, thậm chí những người dân vô tội dù chỉ tỏ chút ngần ngừ hay biểu lộ thái độ không hợp tác, ủng hộ, là đã có thể bị Việt cộng tuyên án tử hình và hạ sát. Bầu không khí sợ hãi, chết chóc bao trùm khắp miền nông thôn, nhất là ở những cùng xa xôi hẻo lánh mà Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chưa thể thiết lập nền an ninh vững chắc.


Về mặt quân sự, lợi dụng lúc giao thời, chính phủ dân sự Việt Nam Cộng Hòa không có khả năng tập họp được sức mạnh của quân đội, cộng sản liên tục cho binh đội xâm nhập Miền Nam, chuyển dạng thái chiến tranh xâm lược từ du kích chiến sang vận động chiến, mở những trận đánh lớn để thử thách sức mạnh và ý chí chiến đấu của quân dân Việt Nam Cộng Hòa, điễn hình là những trận đánh Bình Giả và Ðồng Xoài cuối năm 1964 và giữa năm 1965. Trong bối cảnh chính tình nhiễu nhương, quân đội không được lãnh đạo và chỉ huy thích đáng, đã đưa đến thiệt hại rất nặng cho quân ta trong hai trận đánh này, mà chỉ trông cậy vào trái tim nồng nàn tình đất nước tình đồng bào và chính thân xác của các anh, người chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa mới có thể cắn răng ngăn chống được cơn sóng dữ cộng sản đã mấp mé gần ngưỡng cửa Sài Gòn.
Về mặt kinh tế, vì chiến tranh tàn phá, đất đai bị bỏ hoang, do đó mức sản xuất sút kém, đời sống dân chúng lệ thuộc vào ngoại viện. Một đất nước từng xuất cảng gạo mà phải nuốt nước mắt nhận những hạt gạo gọi là viện trợ của nước ngoài. Trong khi đó cộng sản luôn tìm cơ hội cắt đứt đường tiếp tế giữa nông thôn và thành thị, làm cho mức sinh hoạt của xã hội ngày càng đắt đỏ và rất khó kiểm soát, gian thương lộng hành trắng trợn. Người dân ở thành thị khốn khổ vì nạn vật giá gia tăng hàng ngày bao nhiêu, thì người dân ở nông thôn càng oằn nặng dưới sự khủng bố và bóc lột ghê rợn của cộng sản bấy nhiêu. Ðóng góp nuôi quân, thuế khóa nặng nề, dân công, sưu địch, con em bị bắt buộc cầm súng trong vùng cộng sản kiểm soát đã là nguyên nhân thúc đẩy đồng bào liều chết bỏ chạy ra vùng quốc gia để được quân đội bảo vệ và chính quyền giúp đỡ.

Hoàn cảnh bi đát của Việt Nam Cộng Hòa trước ngày 19.6.1965 là như vậy. Ðất nước đã bước đến mấp mé bên bờ vực thẳm, chỉ một bước nữa thôi, quân dân Miền Nam rất có thể sẽ nằm dưới sự thống trị của cộng sản Hà Nội. Nhưng những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không bao giờ cho phép điều đó xảy ra. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, một tập thể duy nhất có tổ chức chặt chẽ và tinh thần kỷ luật cao, không thể chần chờ trước cơn quốc biến, nên đã đứng ra nhận chịu trên vai trách nhiệm nặng nề cứu nguy đất nước và dân tộc. Cho đến gần giữa năm 1965, Hội Ðồng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã loại bỏ được những thế lực phân chia sức mạnh quân đội, cùng chia xẻ trách nhiệm lãnh đạo và điều hành guồng máy quốc gia. Nhưng để tỏ rõ thiện chí và quyết tâm kiến tạo nền dân chủ cho Miền Nam, ngày 5.5.1965, Hội Ðồng Quân Lực đã quyết định trao quyền lãnh đạo đấ nước lại cho chính phủ dân sự, cụ Phan Khắc Sửu được mời làm Quốc Trưởng, Bác sĩ Phan Huy Quát làm Thủ Tướng. Nhưng cũng chỉ hơn một tháng sau, ngày 11.6.1965, chính phủ dân sự do cụ Phan Khắc Sửu làm Quốc Trưởng nhận định rằng tình hình đất nước đã đến lúc lâm nguy nếu người quốc gia không mạnh mẽ hành động và tìm ra một con đường tức thời nào đó. Con đường đó, sau những cân nhắc, chính là sức mạnh của Quân Ðội. Chính phủ Phan Khắc Sửu quyết định trao trả quyền lãnh đạo đất nước lại cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bằng tuyên cáo chính thức như sau:


TUYÊN CÁO

CỦA QUỐC TRƯỞNG
CHỦ TỊCH HỘI ÐỒNG QUỐC GIA LẬP PHÁP VÀ
THỦ TƯỚNG CHÁNH PHỦ VIỆT NAM CỘNG HÒA

Sau khi duyệt lại tình trạng ngày càng một khẩn trương của đất nước, sau khi đã xét lại và xác nhận rằng : những cơ cấu và thể chế Quốc Gia hiện tại không còn phù hợp với tình thế, sau khi đã hội ý cùng toàn thể tướng lãnh Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa tại Phủ Thủ Tướng ngày 11.6.1965, chúng tôi, Quốc Trưởng Việt Nam Cộng Hòa, Hội Ðồng Quốc Gia Lập Pháp, Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa đồng thanh quyết định long trọng trao trả lại cho Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa trách nhiệm và quyền hành lãnh đạo quốc gia đã được Hội Ðồng Quân Lực ủy thác cho chúng tôi chiếu theo Quyết Ðịnh số 8 ngày 5.5.1965, Tuyên Cáo số 7 ngày 5.5.1965, Quyết Ðịnh số 5 ngày 16.2.1965, Quyết Ðịnh số 6 ngày 17.2.1965 và Quyết Ðịnh số 4 ngày 16.2.1965.


Yêu cầu toàn thể đồng bào các giới không phân biệt giai tầng địa phương, đảng phái và tôn giáo, ủng hộ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trong việc lãnh đạo toàn Quân và toàn Dân đúng theo tinh thần của Cách Mạng 1.11.1963.


Làm tại Sài Gòn ngày 11.6.1965

Phan Khắc Sửu
Quốc Trưởng Việt Nam Cộng Hòa
Phan Huy Quát
Thủ Tướng Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa
Phạm Xuân Chiểu
Chủ Tịch Hội Ðồng Quốc Gia Lập Pháp

Ngày 12.6.1965, trong một buổi họp quy tụ tất cả những tướng lãnh đang nắm những trọng trách trong Quân Ðội từ cấp Tổng Tham Mưu Trưởng, Tư Lệnh bốn Vùng Chiến Thuật cho đến các Tư Lệnh Quân Binh Chủng, Hội Ðồng Quân Lực đã đề cử Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu đảm nhận chức vụ Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia (tương đương Tổng Thống), Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ đảm nhận chức vụ Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (tương đương Thủ Tướng), thông qua quyết định như sau:


QUYẾT ÐỊNH

THÀNH LẬP ỦY BAN LÃNH ÐẠO QUỐC GIA
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

- Sau khi nghiên cứu Bản Tuyên Cáo Chung của Quốc Trưởng, Hội Ðồng Quốc Gia Lập Pháp và Chánh Phủ Việt Nam Cộng Hòa ngày 11.6.1965 trao trả trách nhiệm và quyền hành lãnh đạo Quốc Gia cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

- Chiếu biên bản Ðại Hội Ðồng các Tướng Lãnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa ngày 12.6.1965.
Các Tướng Lãnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Tư Lệnh các vùng chiến thuật và quân binh chủng đã quyết định:

Quyết Ðịnh:

Ðiều 1. Thành lập một ủy ban lãnh đạo của Quân Lực mệnh danh là Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia.
Ðiều 2. Thành phần của Ủy Ban nói trên gồm có : một Chủ Tịch, một Tổng Thơ Ký, một Ủy Viên phụ trách điều khiển Hành Pháp, Tổng Trưởng Quốc Phòng, Tổng Tham Mưu Trưởng, các Tư Lệnh Vùng Chiến Thuật, Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Ðô.
Ðiều 3. Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia thay mặt toàn thể Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa điều khiển Quốc Gia.
Ðiều 4. Hoàn toàn tín nhiệm và chỉ định:
A. Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia: Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu.
B. Tổng Thư Ký : Trung Tướng Phạm Xuân Chiểu.
C. Ủy Viên phụ trách điều khiển Hành Pháp: Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ.
Ðiều 5. Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia có nhiệm vụ thiết lập thể chế và các cơ cấu Quốc Gia cùng thành lập một Nội Các Chiến Tranh.

Sài Gòn, ngày 14 tháng 6 năm 1965

Toàn thể các Tướng Lãnh và Tư Lệnh Quân Binh Chủng
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

Ðó là ngày đánh dấu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đứng lên gánh vác hai trách nhiệm lớn: bảo vệ nền tự do độc lập của Việt Nam Cộng Hòa, làm tiền đồn ngăn chống làn sóng cộng sản và xây dựng một đất nước lạc hậu nghèo khó vì chiến tranh triền miên với mục đích tiến lên thành một quốc gia phú cường, ngẫng cao đầu sánh vai với cộng đồng thế giới. Ngày 19.6.1965 thành phần Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia và Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương trong một buổi lễ ra mắt được tổ chức long trọng ở Thủ Ðô Sài Gòn, đã tuyên thệ trung thành với Tổ Quốc, nhận trách nhiệm lèo lái quốc gia và làm thành phần tiền phương của quân dân Việt Nam Cộng Hòa chỉ huy Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bảo vệ đất nước. Từ thời điểm đó, ngày 19.6 được đánh dấu như là một cái mốc lịch sử, một chương mới của cuộc chiến đấu chống đại khối cộng sản quốc tế của quân dân Miền Nam, mà Quân Lực Việt Nam Cộng hòa là thành phần gồng gánh trách nhiệm lãnh đạo đất nước, xây dựng nền độc lập, tự do và dân chủ, bình định những mầm móng nằm vùng bạo loạn, ở tiền tuyến thì chỉ huy quân đội ngăn chống cơn sóng xâm lăng cuồng sát của đạo quân hiếu chiến cộng sản Bắc Việt. Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu sau khi đắc cử Tổng Thống đầu tiên của nền Ðệ Nhị Cộng Hòa trong tháng 11.1967 vẫn tiếp tục cho tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm hàng năm ngày Quân Lực 19.6 với những cuộc diễn binh của tất cả các đơn vị và quân binh chủng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, để biểu dương sức mạnh và ý chí quật khởi của dân tộc Việt Nam chống xâm lược cộng sản từ phương Bắc.
(Ngày 19.1.2004, cựu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, người từng một thời lái máy bay oanh tạc những cơ sở tàng trữ vật chất dành cho cuộc chiến tranh xâm lược Miền Nam ở Miền Bắc, người từng tuyên bố tử thủ Miền Nam trong những ngày cuối cùng của tháng 4.1975 ở Thủ Ðô Sài Gòn, đã tự động lìa bỏ hàng ngũ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nộp đơn xin cộng sản Hà Nội khoan hồng cho ông ta được phép về Việt Nam. Nguyễn Cao Kỳ đã nhục nhã quỳ gối viết những hàng chữ ô uế trong lá đơn xin chiếu khán vào Việt Nam, thể theo những điều kiện của cộng sản Hà Nội. Kỳ đã kính cẩn và khép nép ký cái tên tầm thường của mình dưới huy hiệu cờ máu của cộng sản, mặc nhiên chối bỏ cái quá khứ oanh liệt được làm người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Từ giờ phút đó, Nguyễn Cao Kỳ, con người một thời từng thốt lời ngạo nghễ với giặc cộng và cả với đồng minh, giờ đây đã nhận chịu sự “khoan hồng, nhân đạo” của giặc một cách tuyệt đối và vô điều kiện. Còn nhớ ngày xưa trong những lần Bắc phạt trở về, chỗ ngực chiếc áo bay màu đen của ông Kỳ vàng óng Lá Quốc Kỳ Vàng mà ông rất hãnh diện mang trên đó, thì ngay nay Kỳ đã cúc cung cúi đầu quy phục lá cờ đỏ, biểu tượng của diệt chủng và diệt dân tộc của cộng sản Hà Nội, bằng một thái độ rất ươn hèn rất không tương xứng với vị thế của một người cựu Tướng chỉ huy toàn Miền Nam. Với ảo tưởng rằng sẽ nhận được những cái hôn thắm tình “hữu nghị” và rất “anh em” của bọn cộng sản Hà Nội, Kỳ xênh xang áo gấm về nước. Thật ô nhục, với thân phận là người cao nhất nước của năm 1965 trong cương vị Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia, thì đáng lẽ ít nhất gã thủ tướng của bạo quyền Hà Nội là Phan Văn Khải sẽ ra tận cầu thang máy bay hôn lên cái trán bóng mỡ và lên hai đôi gò má dầy da của Kỳđể tỏ rõ tinh thần “hòa giải hòa hợp” giữa riêng bọn chúng và chỉ mỗi bọn chúng với nhau, thế mà chỉ lèo tèo có một gã gọi là chủ tịch Mặt Trận Tổ Quốc và một gã thành ủy Sài Gòn.

Cộng sản thường có lối đặt chữ rất mù mờ bất thành câu. Mặt Trận Tổ Quốc là mặt trận gì, nếu phải đặt cho tròn câu với đầy đủ danh từ và động từ, thì phải là Mặt Trận Tổ Quốc Ðứng Lên hay Ngồi Xuống hoặc Giải Phóng gì đó, Mặt Trận Tổ Quốc khơi khơi là thế nào ? Như vậy người ta thấy ngay nó là một cái mặt trận không làm gì cả, không ra gì cả, từ đó suy ra rằng gã chủ tịch chỉ là một cái con người rơm lúc lắc theo những cơn gió ngoài đồng. Ðưa một cái hình nộm hữu danh vô thực, vô quyền và không giữ vị trí tối cao nào trong hệ thống tổ chức cộng sản, Hà Nội đã trịch thượng gởi một cái thông điệp đến Nguyễn Cao Kỳ, mà chúng ta có thể hiểu như sau: “Nông Ðức Mạnh, Phan Văn Khải và Trần Ðức Lương sẽ không bao giờ hạ mình xuống ngang hàng với gã hàng thần lơ láo Nguyễn Cao Kỳ, dù là chỉ để ban cho một cái vỗ vai khen ngợi, thì đừng có mà mơ tưởng đến những cái hôn của chúng và đôi cánh tay giang ra ôm ấp trong tư thế “hòa hợp hòa giải”. Lại càng khó có thể được ngồi gác chân trong những bộ salon đắt tiền ở Bắc Bộ Phủ bàn chuyện đại sự với cộng sản”. Ðó là một cách làm nhục đối phương một cách khá là trắng trợn và rõ ràng của Hà Nội, Nguyễn Cao Kỳ đủ thông minh để biết điều đó và đủ hèn để cúi đầu im lặng leo lên máy bay trở về Mỹ quốc, không kèn và không trống.


Từ nay, những nhà viết sử đã có thể thêm vào đằng sau những Trần Di Ái, Trần Ích Tắc, Mạc Ðăng Dung, Lê Chiêu Thống cái tên Nguyễn Cao Kỳ. Còn đối với bè lũ cộng sản Hà Nội:


Chừng nào mà chúng chưa tự trói mình quỳ gối cúi xin dân tộc tha thứ cho những tội ác tày trời của chúng.


Ngày nào mà nhân phẩm người phụ nữ còn bị chà đạp, hàng trăm ngàn cô gái còn bị bán khắp thế giới làm nô lệ tình dục.


Chừng nào mà hàng triệu trẻ em nghèo còn thất học và vẫn lang thang khắp đầu đường xó chợ.


Ngày nào mà người công nhân Việt Nam còn bị bọn chủ ngoại quốc hành hạ, xúc phạm danh dự và thân thể.


Chừng nào mà những nghĩa trang của những tử sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn bị san bằng và hủy diệt, những người chiến sĩ thương phế Việt Nam Cộng Hòa còn bị chà đạp nhân phẩm và bị bỏ rơi ngoài lề xã hội.


Ngày nào mà dân tộc Việt Nam không được hoàn toàn tự do bày tỏ chính kiến khác biệt, niềm tin tôn giáo, tín đồ và những nhà lãnh đạo tôn giáo còn bị bách hại, giam cầm.


Và trên tất cả, chừng nào mà dân tộc Việt Nam vẫn chưa được cho sống như con người đúng nghĩa với những quyền lợi căn bản.


Thì ngày ấy cộng sản Hà Nội đừng có ảo tưởng mơ mộng cái gọi là hòa hợp hòa giải. Chúng chỉ có hai chọn lựa. Thứ nhất, tự nguyện trao trả đất nước lại cho dân tộc để có thể được cứu xét tha thứ. Thứ hai, dọn mình chờ ngày toàn dân đứng lên lật đổ chúng, lúc đó, xin được báo trước và cảnh cáo cho chúng biết, đến sắt thép cũng phải nát tan thành tro bụi dưới cơn thịnh nộ của trời và người).


Với sự trợ giúp của các nước Ðồng Minh, trong đó phần đóng góp chính yếu đến từ Hoa Kỳ từ sau năm 1954, QLVNCH đã dần lớn mạnh, không những đủ khả năng chận đứng đà xâm lăng cuồng bạo của binh đội cộng sản Bắc Việt, mà còn đánh cho bọn chúng tan tành thành từng mảnh vụn trong những chiến thắng lừng danh thế giới như Mậu Thân 1968, chiến dịch hành quân sang Kampuchea đập nát những hang ổ kho tàng tiếp liệu cộng quân năm 1970. Trong cuộc hành quân sang Hạ Lào, chiến dịch Lam Sơn 719, mặc dù bị báo chí và truyền thông Hoa Kỳ cũng như nằm vùng cộng sản tiết lộ bí mật, QLVNCH ngay từ đầu đã ở trong thế hạ phong nhưng vẫn đánh thiệt hại rất nặng lực lượng cộng quân. Chiến thắng lừng lẫy nhất mà đã làm cho toàn thế giới phải cúi đầu ngưỡng phục, kể cả giới truyền thông báo chí phản chiến và thân cộng cũng phải xấu hổ gục đầu công nhận tính chất xâm lược rõ ràng của cộng sản Hà Nội và tinh thần chiến đấu dũng mãnh của QLVNCH. Ðó là cuộc chiến Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972. QLVNCH đã để lại trong lịch sử Việt Nam trang sử chiến đấu chói lọi nhất, thiêu cháy huyền thoại Ðiện Biên Phủ Võ Nguyên Giáp. Sau cơn thảm bại mùa hè 1972 nhục nhã, Giáp bị cách chức.
QLVNCH chiến đấu trong nỗi cô đơn cay cực mà chưa từng có một đội quân nào trên thế giới đã trải qua hoàn cảnh ngặt nghèo tương tự. Vừa phải đổ máu xương ngăn chống cộng sản ở phía trước mặt mà còn phải hứng chịu những vết đâm lút sâu của những thế lực bạn bè từ phía sau lưng và sự hững hờ từ phía hậu phương. Người chiến binh Việt Nam Cộng Hòa bị trói tay không cho đánh, mặc dù chỉ chiến đấu để tự vệ, bảo vệ làng xóm. Chính họ đã hy sinh mạng sống để cho dân tộc được sống và được hạnh phúc. Sự dàn xếp của những thế lực cộng sản quốc tế và tư bản đã đưa đến ngày tang thương 30.4.1975, QLVNCH một lần nữa bị buộc phải hoàn toàn buông súng. Bọn cộng sản tiểu nhân đắc chí ngổ ngáo tiến vào chiếm lấy Việt Nam Cộng Hòa, ngông nghênh tuyên bố đại thắng, thực hiện sách lược sĩ nhục lăng mạ và đày ải những người chiến binh QLVNCH và vợ con gia đình của họ. Nhưng thật sự có phải cộng sản Bắc Việt đã chiến thắng hay không ? Sau hơn một phần tư thế kỷ kể từ ngày 30.4.1975, giờ đây mọi góc cạnh của sự thật đã được phơi bày dưới ánh sáng của mặt trời. Chúng ta khẳng định mạnh mẽ QLVNCH không hề thua và cộng sản không hề thắng trong trận chiến đấu cuối cùng ngày 30.4.1975. Sự thắng thua chỉ được phân định khi hai lực lượng cùng đối mặt chiến đấu giữa hai chiến tuyến. Hai võ sĩ so găng trên võ đài, một võ sĩ bị trói tay chân và với sự đồng tình của ban trọng tài đã bị võ sĩ kia đánh đập rồi tự đưa tay tuyên bố chiến thắng và tha hồ lăng mạ sĩ nhục đối phương. Cuộc thắng thua còn chưa được phân định khi viên đạn cuối cùng còn chưa được bắn ra khỏi nòng súng.

Giờ đây, sau gần ba mươi năm chứng kiến những tội ác ghê tởm hãi hùng của cộng sản Hà Nội bủa lên đầu chính dân tộc của chúng, công luận thế giới đã khẳng định chế độ cộng sản là một cái quái thai kinh khủng nhất trong lịch sử nhân loại và cần phải hủy diệt nó. Ngọn gió đã đổi chiều thuận lợi cho QLVNCH. Hệ thống truyền thông và báo chí ngoại quốc từng một thời ngày xưa góp tay bôi nhọ làm nhục người chiến sĩ VNCH, ngày nay đã hồi phục danh dự cho QLVNCH, biểu dương tinh thần chiến đấu và chính nghĩa của Việt Nam Cộng Hòa. Cuối cùng thì những giá trị nhân bản thực sự của người lính Việt Nam Cộng Hòa đã được thế giới thừa nhận và tôn vinh. Những nắm xương khô đang mục rã theo với thời gian nghiệt ngã của 300 ngàn tử sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nằm câm nín u uất dưới những nghĩa trang hoang phế điêu tàn, hay ở những chống rừng sâu núi thẳm, cùng với nửa triệu chiến sĩ thương phế mà phần lớn còn sống lây lất và khắc khoải bên kia bờ Thái Bình Dương, tất cả những người anh hùng vĩ đại đó giờ đây đã được tôn vinh. Ðiều mà những người còn sống, những người còn lành lặn thân xác phải làm là sẽ cùng nhau tìm cách cắm lên bia mộ các anh những nén hương của lòng tri ân với những giọt nước mắt tiếc thương, cùng nhau gởi về cho các anh thương phế chút lòng của những người đồng đội mà ngày xưa từng kiêu hãnh đứng chung dưới lá Quân Kỳ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, để các anh còn tiếp tục nuôi dưỡng một niềm tin. Rồi sẽ có một ngày, cơn thịnh nộ của đất trời và của toàn dân tộc Việt Nam sẽ như con sóng thần biển Ðông cuốn xô đi những tàn tích của cái ác.


Chúng ta cũng nghiêng mình trước Bức Tường Ðá Ðen ở Washington D.C, tri ân hơn 58,000 chiến sĩ Hoa Kỳ trận vong, những người bạn đã từng sát cánh chia sẽ nỗi cơ cực và chết chóc của chiến tranh với người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, vì nền tự do của đất nước Việt Nam Cộng Hòa. Chúng ta tri ân và vinh danh 300,000 chiến binh thương phế Hoa Kỳ đã bỏ lại một phần thân thể của các anh trên một đất nước thật quá xa xôi để trở về nhận chịu sự thờ ơ lãnh đạm của chính người dân Mỹ, cùng mang mễn những chứng bệnh tinh thần trầm kha. Giờ đây thì anh linh của tất cả những người lính trận vong Hoa Kỳ và Việt Nam đã có thể đi về phía cõi vĩnh hằng với lòng thanh thản, những chiến sĩ thương binh Hoa Kỳ và Việt Nam đã có thể thể ngẫng cao đầu cười nửa miệng trên những đống gạch đổ nát ngỗn ngang của bức tường thành Bá Linh và những mảnh vụn của cái quái thai chủ nghĩa cộng sản. Chính là các anh, người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và người lính Quân Lực Hoa Kỳ đã là nỗ lực chánh hủy diệt cái ác mệnh danh là chủ nghĩa cộng sản đó. Chúng ta có thể xác quyết một điều là, ngày nào mà người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa còn tập họp, đoàn kết đứng chung dưới lá Quốc Kỳ và Quân Kỳ Việt Nam Cộng Hòa, thì ngày đó cộng sản Hà Nội còn rất run sợ, ngày ăn không thấy ngon, đêm ngủ không được yên giấc. Chúng phải hiểu một điều đơn giản nhưng rất thật là, cho dù chúng có nặn cái bộ óc “trí tuệ” của loài Vượn đến thế nào để cho ra bao nhiêu cái nghị quyết nhắm vào người Việt hải ngoại và Tập Thể người lính QLVNCH, thì cũng sẽ hoàn toàn không ăn được cái giải gì, giống như những cú đánh mất hút vào cõi hư vô. Chúng chỉ thắng được chúng ta ngày 30.4.1975, khi chúng ta bị buộc phải buông súng mà thôi. Ba mươi năm trước, cộng sản Hà Nội cậy có súng AK để đánh đập, hạ nhục, giết chóc những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không còn vũ khí trong những trại tù khắc nghiệt và dã man của chúng. Ngày nay, ba mươi bốn năm sau, tuy rằng trong tay người lính chúng ta không còn cây súng M 16, nhưng chúng ta có rất nhiều sức mạnh mà cộng sản Hà Nội hằng run sợ.


Thứ nhất, sự phẫn nộ của người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Hàng trăm ngàn người lính đã ra được đến bến bờ tự do, dù họ không còn vũ khí, nhưng mỗi trái tim bất khuất của các anh chính là thứ vũ khí sắc bén nhất và hữu hiệu nhất, những trái tim đó đã kết nên thành một bức tường cứng rắn. Ba mươi năm nay, cộng sản đã hằng bắn phá vào bức tường ấy, chỉ để thấy rằng chúng đã một lần nữa chiến bại. Tập Thể Người Lính Việt Nam Cộng Hòa vẫn luôn là lực lượng duy nhất đối kháng và ngăn chống cực lực mọi cuộc tấn công của cộng sản, dù là bằng bất cứ hình thức nào.
Thứ hai, cuộc chiến đấu bằng cây viết của những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Cộng sản từng tuyên án: “Một nhà văn “ngụy” bằng mười sư đoàn tác chiến”. Ngày nay, cây viết của những người lính đã trở thành cây súng M 16 bắn những giọt mực ngạo nghễ và thách thức vào mặt cộng sản Hà Nội, ngòi bút xé toang bức màn đen tối của giả dối và tàn bạo để đưa ra trước công luận thế giới và lịch sử sự thật về cuộc chiến tranh xâm lược của cộng sản quốc tế lên Miền Nam và cuộc chiến đấu bảo quốc kiệt liệt của quân dân Miền Nam.

Thứ ba, chiến thắng vẻ vang chấn động cả thế giới của người Việt hải ngoại qua sự kiện vừa kỳ lạ lẫn kỳ diệu: Lá Quốc Kỳ Vàng Ðại Nghĩa Ba Sọc Ðỏ hiện nay đã phất phới, ngạo nghễ tung bay ở nhiều tiểu bang, quận hạt, thành phố và trong nhiều trường đại học khắp nước Mỹ. Ðó há chẳng phải là một dấu hiệu, một sự thừa nhận chân thành của người Mỹ, rằng chỉ có Lá Cờ Vàng Việt Nam mới là biểu tượng của chính khí dân tộc Việt Nam, là biểu trưng của cuộc chiến đấu quật cường của một dân tộc nhỏ bé chỉ có gần 18 triệu người mà đã anh dũng ngăn chống một đại khối cộng sản quốc tế với dân số hơn 1 tỉ người. Không chỉ ở Hoa Kỳ, mà gần như trên toàn thế giới, Lá Quốc Kỳ Vàng Ba Sọc Ðỏ của Việt Nam Cộng Hòa vẫn hằng năm tung bay trên cột cờ thị chính của những thành phố lớn trong ngày 30.4. Ðó há chẳng phải là sự ghê tởm và chối bỏ chủ thuyết cộng sản và lá cờ máu tanh hôi của bè bọn cộng sản Hà Nội của lương tâm thế giới hay sao.


Ngày Quân Lực 19.6 năm nay có nhiều ý nghĩa quan trọng. Nó đánh dấu sự bắt đầu hồi sinh của QLVNCH và của niềm tin chính nghĩa quốc qua cuộc đọ sức gay go giữa cái Thiện và cái Ác. Ngày tàn của bọn cộng sản Hà Nội không còn bao xa nữa. Bên trong cái vỏ bọc hào nhoáng phù du hiện tại mà bọn cộng sản tô vẻ ở quê nhà, chỉ là một cái ruột rỗng tuếch mục nát chờ giờ sụp đổ. Với sự tập họp của những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, được thể hiện qua sự đoàn kết cao độ trong Tập Thể Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa Hải Ngoại, kết hợp với những phong trào đấu tranh đòi quyền sống, quyền làm người và quyền tự do tín ngưỡng ngày càng sôi sục ở quốc ngoại và quốc nội, dân tộc Việt Nam có quyền hy vọng sẽ có nhiều chiến thắng khác liên tục và lừng lẫy hơn, để cuối cùng lật đổ được bè lũ bạo quyền Hà Nội.


Anh linh của tiền nhân, của những vị thần tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Phạm Văn Phú, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, Hồ Ngọc Cẩn, Trung Tá Cảnh Sát Quốc Gia Nguyễn Văn Long, các Trung Ðoàn Trưởng, Tiểu Ðoàn Trưởng, sĩ quan và các chiến sĩ Vị Quốc Vong Thân xin hãy hiển linh thương xót phù trì cho dân tộc Việt Nam và QLVNCH có được nhiều sức mạnh đứng lên lật đổ bạo quyền cộng sản, đem ánh sáng công chính và hạnh phúc trở lại trên khắp mọi miền đất nước, ném bọn chúng vào cõi sâu thẳm tối tăm nhất và đời đời của địa ngục.

Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm

Phạm Phong Dinh

NHỚ NHÉ! YÊU HOÀNG SA-TRƯỜNG SA LÀ PHẢN ĐỘNG!


Cả dân tộc đang đau đáu nỗi lắng lo cho hiện tình đất nước trước bá quyền cộng sản Trung Quốc ngày đêm lăm le, xâm chiếm bờ cõi, biên hải của Việt Nam thì ở nơi cuối Tổ quốc có một phiên tòa được dựng lên để xử những người đã lên tiếng đòi chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam.

Trong vụ án xử 7 người tại Bến Tre bị nhà nước CHXHCN Việt Nam cáo buộc theo điều 79 Bộ Luật Hình Sự chỉ được kéo dài vỏn vẹn trong có một ngày vào 30/05/2011 vừa qua. Các ông bà Dương Kim Khải, Trần Thị Thúy, Nguyễn Thành Tâm, Phạm Văn Thông, Nguyễn Chí Thành, Cao Văn Tỉnh và Phạm Ngọc Hoa, trong có ba đảng viên Việt Tân, bị quy án tổng cộng 32 năm tù giam và 28 năm quản chế tại địa phương.
Theo như bản cáo trạng có đề cập đến những bị can thì họ đã ‘tàng trữ và phát tán các tài liệu có ghi chữ TS-HS-VN’ là những chữ viết tắt của Hoàng Sa, Trường Sa, Việt Nam mà viện kiểm soát đã cáo buộc họ phạm tội chống nhà nước và phản động.
Để hiểu rõ hơn tại sao viện kiểm sát lại cáo buộc hành động mà họ gọi là ‘tàng trữ và phát tán các tài liệu có ghi chữ TS-HS-VN’ lại bị đưa ra tòa xét xử và kết tội. Hãy xem Luật sư Huỳnh Văn Đông trả lời đài RFA sau khi kết thúc phiên tòa thì có thể cho chúng ta câu trả lời đầy ngỡ ngàng.
Luật sư Đông cho RFA hay “Khi tôi trình bày vấn đề HS-TS-VN thẳng ra đó là chữ viết tắt của Hoàng Sa– Trường Sa – Việt Nam thì theo quan điểm của tôi những hành vi đó, hành động đó là đáng biểu dương, thì vị đại diện Viện Kiểm Sát lại lập luận rằng những người tàng trữ và phát tán những tài liệu như thế là chống nhà nước và phản động. Khi đó chúng tôi muốn làm rõ vấn đề này, về vấn đề 6 từ ngữ đó, khi nói về Hoàng Sa –Trường Sa thì tôi có cảm giác và tôi thấy rõ là tòa án cũng như Viện kiểm sát muốn né tránh và không cho chúng tôi trình bày. Cho nên họ yêu cầu công an đưa tôi ra ngoài, nhưng họ lôi tôi ra không phải là lôi một cách bình thường”.
Sự lập luận của vị đại diện kiểm sát để buộc tội người dân khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam là phản động và chống phá nhà nước. Còn vị luận sư thì cho rằng những hành động đó của các bị can là đáng được tuyên duyên.
Tại sao vị đại diện viện kiểm sát lại cho rằng những người tàng trữ và phát tán những tài liệu như thế là chống nhà nước và phản động? Thật sự khó biết được có dấu chỉ gì đằng sau lời nói của vị đại diện kiểm sát cáo buộc những người tàng trữ và phát tán tài liệu về Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Nhưng hành động cáo buộc, kết tội họ của viện kiểm sát như là một sự gián tiếp phủ nhận Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Qua vụ án, cáo trạng và sự lập luận của viện kiểm sát ‘những người tàng trữ và phát tán những tài liệu như thế là chống nhà nước và phản động’ và kết tội những người này với mức án khá nặng. Có thể nhân dân Việt Nam một phần nào đó hiểu được chỉ dụ của nhà nước về Hoàng Sa, Trường Sa là như thế nào ?
Nếu cứ theo sự lập luận của đại diện viện kiểm sát thì xin đề nghị ‘lôi cổ’ hết các văn khố quốc gia, thư viện, bảo tàng và nhà đài Việt Nam đem ra xử bỏ tù hết vì đã tàng trữ và phát tán biết bao nhiêu tài liệu về Hoàng Sa, Trường Sa. Chẳng lẽ những nơi đây lại không có tài liệu nào ? hoặc có cũng không khẳng định rõ ràng Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam?
Trước khi phiên tòa này được dựng lên vài ngày, đã xảy ra một sự kiện đặc biệt nghiêm trọng liên quan đến chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam mà phía Trung Quốc đã ‘ngang ngược xâm phạm’. Sáng 26/5, tàu hải giám Trung Quốc đã vi phạm vùng biển thuộc quyền chủ quyền của Việt Nam, gây thiệt hại lớn về kinh tế và cản trở hoạt động của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN).
Sự kiện này đã và đang dấy lên trong lòng người dân tâm trạng bất an cho Tổ quốc và cho sự an toàn của chính mình. Đã có lời kêu gọi cho một cuộc biểu tình chống Trung Quốc và vì Hoàng Sa, Trường Sa máu thịt thân yêu vào ngày 05/06/ 2011 tại Hà Nội và Sài Gòn. Nhưng có nhiều người đang đặt câu hỏi liệu nhà nước có ủng hộ hay lại bắt giữ những người yêu nước biểu tình chống Trung Quốc tựa giống như kiểu năm 2007 đã từng xảy ra ?
Phiên tòa xử 7 người tại Bến Tre với lập luận của viện kiểm sát ‘những người tàng trữ và phát tán những tài liệu như thế là chống nhà nước và phản động’ dành cho những người đòi chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Đã có rất nhiều người miền Bắc nêu ý tưởng ‘độc đáo’ đầy cay nghiệt. Ông già lái xe ba bánh tại Hà Nội đề xuất: “bây giờ làm băng rôn, biểu ngữ với hàng chữ ‘Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc’ thì nhà nước không bắt, xét xử và bỏ tù đâu”?
Mà giả sử nếu nhà nước không bắt thì chứng tỏ là đề xuất trên của ông già lái xe ba bánh này đúng hay sao ? Mà nếu có ai dám trương biểu ngữ “Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc”như thế này thì chắc chắn nhân dân cả nước sẽ phê phán ngay là mang trọng tội với dân tộc, quê hương, tổ quốc Việt Nam. Chẳng lẽ trái tim yêu nước của chính quyền hiện nay không cùng nhịp đập với toàn dân ?
Tại sao lên tiếng về Hoàng Sa, Trường Sa lại bị bịt miệng ?
Đòi chủ quyền cho đất nước cũng bị bắt, kết tội và bỏ tù ư ?
Dù có một vị chức trách đại diện nhà nước nào đó trong phiên tòa xử 7 người dân tại Bến Tre lập luận tàng trữ và phát tán tài liệu về Hoàng Sa, Trường Sa là phản động, kết án và bỏ tù họ. Thì có lẽ nhân dân cũng không vì lẽ đó mà bị ‘bịt miệng’ mãi được, không vì lẽ đó mà không dám tiếp tục lên tiếng khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa mãi là của Việt Nam.
Có thể là một hành động khôn ngoan nếu như Nhà Nước để cho toàn dân bày tỏ sự phẫn nộ trước hành động xâm lược trắng trợn của Trung Quốc. Hãy để cho toàn dân lên tiếng bảo vệ đất nước ngày 5/6 tới đây, hãy để cho nhà cầm quyền xâm lược Trung Quốc chùn bước trước sức mạnh bảo vệ tổ quốc của dân tộc Việt Nam.
Đồng bào khắp nước sẽ mạnh dạn bày to lòng yêu nước ngày 5/6 tới đây trước toà đại sứ Trung quốc ở Hà Nội và trước lãnh sự quán Trung Quốc ở Sài Gòn.

Paulus Lê Sơn

Bao Giờ Mới Biết Nhục ?

Trong khi cả nước lòng dân sôi lên căm phẫn khi thấy giặc Tầu đã vào đến nhà giương oai quắc mắt cắt cáp tầu khảo sát đáy biển Bình Minh 2 và đàn áp ngư dân ngay trong lòng biển Việt Nam thì đảng và nhà nước lại rỗi hơi bầy trò hội thảo kỷ niệm 100 năm “sự kiện Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước” (5/6/1911-5/6/2011).

Cuộc họp “dư tiền dửng mỡ” này đã diễn ra tại Thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn cũ) hôm 31-05 (2011), chỉ 6 ngày sau khi 3 tầu “hải giám” (giám sát biển) của Bắc Kinh đàn áp, phá hoại công tác thăm dò đáy biển của Công ty dầu hỏa Việt Nam (PetroVietnam, PVN).

Theo lời Phó Tổng Giám đốc PetroVietnam Đỗ Văn Hậu thì các Tầu Trung quốc đã tấn công tầu Bình Minh 2 vào sáng hôm thứ Năm 26/05, tại vùng biển miền Trung chỉ cách mũi Đại Lãnh của tỉnh Phú Yên 120 hải lý (222 cây số), hoàn toàn trong thềm lục địa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Ông Hậu nói với Báo chí tại Hà Nội rằng : “ Việc các tàu hải giám Trung Quốc vào rất sâu trong lãnh hải của Việt Nam để phá hoại, cản trở các hoạt động thăm dò khảo sát bình thường của PVN là một hành động hết sức ngang ngược, vi phạm trắng trợn đối với quyền chủ quyền của Việt Nam, gây thiệt hại lớn về kinh tế và cản trở hoạt động của PVN.” (Thông tấn xã Việt Nam, 27-05-011)

3 tầu Trung Hoa đã vây hãm Bình Minh 2 suốt 4 tiếng đồng hồ, từ 5 giờ sáng cho đến 9 giờ sáng mới bỏ đi, sau khi đã cắt cáp thăm dò của tàu này.

Ông Hậu nói: “Tàu Bình Minh 02 và các tàu bảo vệ đã phải dừng công việc trong ngày 26/05 và thu lại các thiết bị bị hỏng để sửa chữa…. Tàu khảo sát địa chấn của Việt Nam phải tới 6 giờ sáng thứ Sáu 27/05 mới quay trở lại hoạt động bình thường.” (TTXVN, 27-5-011).

Tuy nhiên, ông Hậu không cho biết liệu các tầu của PVN có đánh điện kêu cứu với các đơn vị Bộ đội biên phòng tỉnh Phú Yên hay không, nhưng Bộ Quốc phòng Việt Nam đã không đưa ra bất cứ lời tuyên bố nào về biến cố vi phạm lãnh thổ nghiêm trọng này của phía Tầu.

Cũng nên biết, vùng 4 Hải quân Việt Nam có trách nhiệm “quản lý Quần đảo Trường Sa, đảo Phú Quý và vùng biển phía nam miền Trung, từ Phú Yên đến Bắc Bình Thuận gồm các tỉnh: Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và phía Bắc của Bình Thuận. Trụ sở Bộ chỉ huy: quân cảng Cam Ranh (Khánh Hòa).”

Trong khi, Không quân có Đoàn Hải Vân gồm : “ Trung đoàn Tiêm kích 929 Đà Nẵng MiG-21bis/UM Trung đoàn Trực thăng 954 Đà Nẵng Ka-25, Ka-28, Ka-32, Mi-171 Trung đoàn Huấn luyện 940 Phù Cát MiG-21UM, Su-27SK/UBK Sư đoàn 370”. Trường Sĩ quan Không quân ở Nha Trang có “Trung đoàn Huấn luyện 910 Đông Tác L-39C, Yak-18 Trung đoàn Huấn luyện 920 Cam Ranh L-39C, Yak-52.”

Các đơn vị Không quân này có trách nhiệm quân sự đối với cả hai vùng trời Hoàng Sa và Trường Sa.

Nhưng cả hai Binh chủng Hải và Không quân đều không dám gửi tầu tác chiến ra khơi , hay cho lệnh máy bay cất cánh đánh đuổi các tầu Trung Quốc như Mã Lai và Phi Luật Tân đã làm khi các tầu Trung Hoa xâm nhập vùng tranh chấp của hai nước này trong vùng Trường Sa.

Do đó khi mọi người nghe người Phát ngôn của Bộ Ngoại giao CSVN, Nguyễn Phương Nga nói mạnh trong cuộc họp báo ngày 29-5 (2011) thì cũng chỉ biết “mỉm cười” cho qua.

Hãy đọc báo Pháp Luật, xuất bản ở Thành phố Hồ Chí Minh trong số ra ngày 30-5 (2011) :

(Báo) Lao Động: Hải quân Việt Nam sẽ làm gì để bảo vệ các tàu dầu khí của Việt Nam?

Bà Nguyễn Phương Nga: “Chính sách quốc phòng của Việt Nam là hòa bình và tự vệ. Hải quân của Việt Nam sẽ làm mọi việc cần thiết để bảo vệ vững chắc hòa bình, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam để phục vụ phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.”

Nhưng đã có bao giờ Hải quân Việt Nam dám ra khơi bảo vệ ngư dân Việt Nam khi họ bị quân Tầu bắn phá, giết người, cướp của, bắt giam và tịch thu tài sản trên biển chưa?

Hãy đọc các Báo Việt Nam tường thuật trong Bài viết “Tàu Trung Quốc uy hiếp, bắn đuổi tàu cá Việt Nam” : Lúc 10 giờ 5 phút sáng nay 1/6, thuyền trưởng Lê Văn Giúp cấp báo về Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng Phú Yên, báo tin bị tàu quân sự Trung Quốc bắn và kìm kẹp ngay trong vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam.”

“Theo truyền trưởng Lê Văn Giúp (SN 1962, ngụ TP Tuy Hòa, Phú Yên), tàu cá PY 92305 TS của anh vừa bị tàu Trung Quốc quấy rối vào chiều 31/5. Anh Giúp kể tàu anh đang đánh cá ở cách đảo Đá Đông thuộc quần đảo Trường Sa 5 hải lý, bất ngờ 3 chiếc tàu quân sự của Trung Quốc chạy đến….”

“… Sau khi bắn liền 4 phát xuống nước ngay sát tàu anh Giúp, các tàu trên lướt tới, chạy ngang trước mũi tàu của anh. Anh Giúp phải bẻ mạnh bánh lái mới không đâm trúng tàu Trung Quốc. Sau đó, 3 tàu Trung Quốc còn kìm kẹp tàu anh Giúp cùng một tàu cá khác suốt đêm 31/5….”

Đại tá Nguyễn Trọng Huyền, Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy biên phòng tỉnh Phú Yên cho hay, từ đầu tháng 3, tàu hành nghề của Trung Quốc chèn ép ngư dân, xâm chiếm ngư trường Việt Nam diễn ra phổ biến. “Tuy nhiên, theo báo cáo cáo và mô tả của ngư dân thì lần này là tàu quân sự của Trung Quốc vì tàu có trang bị vũ khí”.

Các báo còn viết :“Cùng ngày tại Quảng Ngãi, vào lúc 10 giờ sáng nay (1-6-011), anh Huỳnh Công Kính, 32 tuổi, ở thôn Đông, xã An Hải, huyện đảo Lý Sơn, chủ tàu cá QNg 66 369 TS cho biết tàu cá của anh bị tàu chiến Trung Quốc phá hoại dây lặn, lấy toàn bộ lương thực, thực phẩm và các ngư lưới cụ khác khi tàu đang khai thác hải sản trên vùng biển thuộc quần đảo Hoàng Sa.”

TỪ MIỆNG NGƯ DÂN

Báo VNEXPRESS viết ngày 30-5 (2011) : “ Tàu Trung Quốc tiến sâu trong vùng biển của Việt Nam, đe dọa, xua đuổi thậm chí dùng vũ lực cướp tài sản của ngư dân là tình trạng được cho là “cơm bữa” đối với ngư dân Việt Nam những ngày này.

Sáng nay, tàu PY92134 cập bến cá Đông Tác ở phường 6, thành phố Tuy Hòa, Phú Yên cùng với 4 chiếc tàu bạn. Thuyền trưởng Nguyễn Thanh Hiệp, người có 15 năm thâm niên câu cá ngừ đại dương, cho biết: “Tàu mang cờ và chữ Trung Quốc xuất hiện rất nhiều trên biển thuộc chủ quyền Việt Nam, gần như đi hướng nào cũng gặp…”.

“ …Theo thuyền trưởng Nguyễn Đình Nhã, từ sau Tết đến giờ, tàu hành nghề mành chụp mực của ngư dân Trung Quốc xuất hiện rất dày ở vùng biển của Việt Nam. Mỗi đoàn của họ có khoảng 8-10 chiếc tàu, “mỗi chiếc to gấp ba, bốn lần tàu ngư dân Việt”.

Những hành động ngăn trở, đe dọa từ tàu Trung Quốc được ngư dân cho biết là như cơm bữa trên biển Đông. Thậm chí không ít trường hợp bị thu sạch thủy sản vừa đánh bắt được ngay trong vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam.

Thuyền trưởng Trần Văn Thoa quê ở Bình Sơn, Quảng Ngãi, cũng vừa đưa tàu về đất liền sau gần một tháng trên biển. “Đến Hoàng Sa được 2 ngày, chúng tôi trúng đậm khoảng 1 tấn cá mó nên rất mừng. Ai ngờ sáng 6/5 bắt đầu có chuyện”.

Ông kể, rạng sáng ngày 6/5, một chiếc tàu sắt trọng tải lớn mang cờ Trung Quốc áp sát, thả ca nô cập tàu cá Việt Nam dùng súng uy hiếp. Hai thuyền viên Phạm Hò và Nguyễn Thành bị kéo xuống hầm thuyền để xúc cá, tôm chuyển sang tàu của họ. Sau hơn 60 phút lục soát và cướp tài sản, tàu Trung Quốc xua đuổi tàu cá anh Thoa rời Hoàng Sa.

“Trong phiên biển này, chúng tôi bắt gặp rất nhiều tàu cá Trung Quốc trên vùng biển Việt Nam, thậm chí có tốp tàu đến hành nghề cách vùng biển Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi chỉ khoảng 40 hải lý”, ngư dân Tiêu Viết Thạch tiếp lời.”

Trong khi đó, trong số ra ngày 01/06 (2011), báo Thanh Niên viết về những chuyện đau lòng của ngư phủ Việt Nam : “ Trong khi đang đánh bắt hải sản trên các ngư trường truyền thống thuộc chủ quyền VN, nhiều ngư dân miền Trung bị tàu Trung Quốc vây bắt, tịch thu tàu cá, hải sản, đòi tiền chuộc khiến họ tán gia bại sản.

Chỉ trong vòng 5 năm, tàu cá của thuyền trưởng Tiêu Viết Là, ở thôn Châu Thuận Biển, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi) đã 4 lần bị Trung Quốc tấn công, bắt giữ, tịch thu tàu.

Đó là vào năm 2006, khi tàu của ông chạy vào núp gió tại khu vực đảo Phú Lâm, bị phía Trung Quốc cho ca-nô đuổi theo thu sạch máy móc, dụng cụ, gạo, cá. Đến tháng 6.2007, trên đường chạy tránh bão tại khu vực quần đảo Hoàng Sa, tàu của ông lại bị tàu Trung Quốc rượt đuổi, bắn 6 ngư dân bị thương, tịch thu chiếc tàu trị giá trên 300 triệu đồng. Năm 2008, một lần nữa ông bị Trung Quốc tịch thu máy móc, phương tiện hành nghề và đến tháng 3.2010 tiếp tục bị bắt, tịch thu tàu. Vì thế, từ một gia đình giàu có nhất, nhì thôn Châu Thuận Biển, bây giờ ông Là trở nên khánh kiệt, nợ nần.

Mất tàu, ông Là đi bạn với tàu cá khác ở địa phương với hy vọng trả bớt nợ nần, nuôi vợ con nhưng chỉ sau một chuyến đành phải giã từ biển xa vì sức khỏe quá yếu, hậu quả từ những trận đòn khi bị Trung Quốc bắt, không thể chống chọi với sóng gió giữa trùng dương. Bao lo toan “cơm áo gạo tiền” lại đổ sang vai vợ – bà Nguyễn Thị Bưởi. Ngày ngày, bà Bưởi xuống bến mua cá rồi ra chợ bán lại kiếm lời để trang trải cuộc sống, nên món nợ mấy trăm triệu đồng chưa biết đến bao giờ mới trả nổi. Bà than thở: “Gia đình còn nợ ngân hàng 120 triệu đồng. Vừa rồi, họ xuống đòi nợ gốc và lãi, nếu không trả được sẽ niêm phong nhà. Tui bây giờ như ngồi trên lửa, chẳng biết tính sao đây?”.

Không chỉ ở xã Bình Châu, huyện Bình Sơn mà nhiều gia đình ngư dân ở huyện đảo Lý Sơn cũng rơi vào tình cảnh tương tự. Điển hình như trường hợp của ngư dân Nguyễn Chí Thạnh (27 tuổi, xã An Hải) khát khao làm giàu từ biển cũng tiêu tan sau khi tàu cá QNg-6517TS – gia tài mà vợ chồng anh dành dụm được và vay mượn người thân – bị Trung Quốc bắt giữ, tịch thu vào tháng 6.2009. Còn gia đình ngư dân Mai Phụng Lưu (ở thôn Tây, xã An Hải) sau 4 lần bị Trung Quốc bắt giữ, tịch thu tàu, đòi tiền chuộc, giờ trắng tay, cô con gái út đi làm thuê ở TP.HCM, còn ông cùng 3 người con trai phải đi bạn với những tàu cá khác…”

Trên đây chỉ là một số ít trường hợp được báo chí nói tới với những ngư dân may mắn còn sống sót. Đã có hàng trăm ngư phủ bị quân Tầu giết mất xác trên biển khi thuyền của họ bị chúng đâm chìm trong đêm tối quanh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, hay bị bão tố cuốn trôi trước những con mắt dửng dưng của quân Tầu ngụy trang ngư dân trong nhiều năm qua.

Chuyện mất người, mất của của ngư dân Việt Nam ở Biển Đông đã cao như núi nhưng đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam, từ trước đến nay chỉ biết phản đối hay xác nhận chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa bằng nước bọt, nghe rất phản động.

Nhưng trước vụ tầu khảo sát địa chấn Bình Minh 2 bị Tầu tấn công ngay trong khu đặc quyền kinh tế và trong phạm vi hải phận Việt Nam mà Chính phủ CSVN vẫn không dám tố cáo hành động xâm lược trắng trợn này với Liên Hiệp Quốc vì Tầu đã vi phạm Hiến chương Liên Hiệp Quốc và Luật biển năm 1982, nói chi đến việc kiện ra trước Tòa án Quốc tế như một số chuyên gia trong nước đề nghị.

Tính nhu nhược của CSVN còn được chứng minh bằng thái độ hèn yếu của các báo chính thống của đảng và nhà nước như các báo Nhân Dân, Quân đội Nhân dân, Sài Gòn Giải Phóng, ViệtNamNet, Thông tấn xã Việt Nam, Đài Tiếng Nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam và Tạp chí Cộng sản đã không dám viết bài Bình luận lên án trả đũa các bài viết hỗn xược của các Báo và Đài Trung Quốc, tiêu biểu như tờ Hoàn Cầu Báo.

Một bài viết trên báo này ra ngày 1/6 (2011) viết rằng : “ Bắc Kinh vẫn không muốn làm gia tăng căng thẳng, nhưng buộc phải thành thật với Việt Nam. Nếu như Việt Nam cứ tiếp tục hoạt động trong vùng biển chủ quyền của Trung Quốc, thì sẽ phải chịu trách nhiệm vì hành vi của mình.

“Nếu Việt Nam thực sự sẵn sàng ‘làm mọi việc cần thiết’, thì cứ việc thử sức mình xem.”

Tờ Hoàn Cầu nói nếu như Hà Nội tính toán rằng qua việc gây áp lực ngoại giao có thể khiến Bắc Kinh nhượng bộ về biển đảo, thì thật quá ngây thơ.

Báo này cũng nhắc lại rằng Việt-Trung hai nước láng giềng có nhiều lợi ích chung trong dàn xếp hòa bình tranh chấp lãnh thổ, và nếu như Trung Quốc tiếp tục kiềm chế thì Việt Nam cũng cần cố gắng không hành xử một cách hung hăng.” (Theo BBC)

NGUYỄN CHÍ VỊNH BẺM MÉP

Trước các hành động hung hãn, bất chấp luật pháp quốc tế của Bắc Kinh thì giới Quân sự của Việt Nam phản ứng ra sao ?

Thái độ của họ đã được Nguyễn Chí Vịnh, Trung tướng, Thứ trưởng Quốc phòng phản ảnh trong bài viết nhân kỷ niệm 66 năm ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22/12/1944-22/12/2010).

Bài báo của Vịnh có nhan đề “Tăng cường hợp tác quốc phòng phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, đóng góp cho hòa bình, ổn định, phồn vinh trong khu vực.”

Bàn về quan hệ giữa Việt Nam và Trung Hoa, Vịnh mơn trớn đàn anh : “ Quan hệ quốc phòng Việt Nam-Trung Quốc dựa trên tinh thần hữu nghị truyền thống và quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước đã tập trung vào thực hiện các cơ chế hợp tác nhằm giữ gìn an ninh chung ở biên giới trên bộ và trên biển, giải quyết các vấn đề an ninh mà hai bên cùng quan tâm.

Cơ chế đối thoại quốc phòng hàng năm cấp Thứ trưởng Quốc phòng giữa hai nước đã được thiết lập, các mối quan hệ quốc phòng khác tiếp tục phát triển đã tăng cường sự hiểu biết, tin cậy lẫn nhau, hợp tác giải quyết các vấn đề an ninh có liên quan đến hai nước và khu vực nhằm biến quan hệ quốc phòng trở thành một trong các mối quan hệ quan trọng giữa Việt Nam-Trung Quốc.”

Bây giờ, sau vụ Bình Minh 2 và các vụ tầu Quân sự của Tầu dám cả gan vào sâu trong nội địa Việt Nam để đánh đuổi ngư dân hay tịch thu hải sản và cướp của thì Vịnh đã sáng mắt ra chưa, hay vẫn còn u mê với phương châm “16 chữ và tinh thần 4 tốt : “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” của anh láng giềng tráo trở ?

Đấy là chưa kể chuyện Tầu mới đây đã ngang nhiên cấm ngư dân Việt Nam đánh cá ở Biển Đông trong thời gian từ 12 giờ ngày 16/5 đến 12 giờ ngày 01/8, phạm vi bao gồm cả một số vùng biển của Việt Nam, trong khi các Tầu võ trang của Trung Hoa lại hộ tống cho hàng trăm thuyền đánh cá của Bắc Kinh tự do hành nghể trên biển.

Như vậy thì đến bao giờ đảng và nhà nước CSVN mới biết nhục, hay còn đợi Tầu dạy cho thêm bài học nữa mới biết mở mắt ra ?

Phạm Trần
(06/011)


Bọn Việt gian CSVN ..- dối với quân tàu Fù thì quỵ l

Bọn Việt gian CSVN ..

- dối với quân tàu Fù thì quỵ lụy ..

- nhưng với dân lành thì bắt nạt, bóc lột và hiếp dáp !!

Rõ ràng là "trên dội zưới dạp"

2/06/11 3:18 AM
Với giặc và với dân: Hèn hạ và phản động
Mời dộc giã xa gần xem ..
cái thái dộ & cữ chĩ khúm núm cũa tên dầy tớ '"nam man" cũa Chệt .. như tớ dược chũ bắt tay..
koai bộ vinh zự lắm !!

Để dân tộc có sức mạnh quật cường như truyền thống cha ông từ ngàn xưa đã từng không khuất phục trước mộng bành trướng phương Bắc, thì sức mạnh tòan dân phải được huy động bằng nhiều cách, nhiều nguồn lực mà trước hết là bằng tinh thần đoàn kết.

Tinh thần đó đúc kết từ ngàn đời nay, là truyền thống của con Lạc, cháu Hồng để lại, là căn nguyên để bảo vệ vững chắc lãnh thổ thiêng liêng của Tổ Quốc mà cha ông ta đã xây dựng lên bằng mồ hôi công sức và bảo vệ bằng núi xương, song máu của bao thế hệ.

Nhưng, nhà cầm quyền Hà Nội đã không làm như vậy.

Những ngày gần đây, người dân Việt Nam khắp nơi trên thế giới đang dồn tâm lực và hướng cái nhìn của mình về Biển Đông, nơi bọn bành trướng Đại Hán đang ngang nhiên tiến sát bờ biển để phá hoại việc làm ăn, xâm phạm lãnh hải cuả đất nước. Nguy cơ của cả dân tộc đang rình rập sau lưng, tiền đồ cha ông đã và đang dần rơi vào tay giặc, hiểm họa mất nước đang cận kề.

Lẽ ra, là một chính quyền “của dân, do dân, vì dân” thì khi Tổ quốc lâm nguy, điều cần thiết và cấp bách nhất là động viên mọi tấm lòng, mọi nguời dân, tập trung mọi lực lượng nhân tài trong toàn dân để có phương án cứu nguy cho Tổ Quốc, cho dân tộc.

Để dân tộc có sức mạnh quật cường như truyền thống cha ông từ ngàn xưa đã từng không khuất phục trước mộng bành trướng phương Bắc, thì sức mạnh tòan dân phải được huy động bằng nhiều cách, nhiều nguồn lực mà trước hết là bằng tinh thần đoàn kết.

Tinh thần đó đúc kết từ ngàn đời nay, là truyền thống của con Lạc, cháu Hồng để lại, là căn nguyên để bảo vệ vững chắc lãnh thổ thiêng liêng của Tổ Quốc mà cha ông ta đã xây dựng lên bằng mồ hôi công sức và bảo vệ bằng núi xương, song máu của bao thế hệ.

Nhưng, nhà cầm quyền Hà Nội đã không làm như vậy.

Hèn với giặc

Nguời ta quan sát thấy những gì khi Trung Cộng ngang nhiên cấm biển Việt Nam, cản trở, bắt bớ ngư dân Việt Nam làm ăn trên biển của mình, Trung Quốc đã ngang nhiên coi Biển Đông là cái ao nhà của chúng. Nhà cầm quyền Việt Nam chỉ phản ứng qua loa lấy lệ vài câu bằng cái gọi là “Người phát ngôn bộ ngoại giao”, nghe như cái băng rè đã cũ đến độ mà mỗi lần phát lại người dân chỉ thấy chán nản và tuyệt vọng.

Càng ngày, diễn biến của vấn đề lãnh thổ càng cho thấy tình hình trở nên ai óan và thê thảm cho số phận của đất nước, của dân tộc qua những bản phát ngôn của Bộ ngoại giao.

Đặc biệt, khi Trung Cộng đưa tàu vào tận ngõ nhà để phá hoaị việc làm ăn của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam, thì những phản ứng lạ lùng của nhà nuớc làm người dân thêm ái ngại cho cái gọi là “Nhà nước hiện nay”. Từ trước đến sau, cũng chỉ là những bản “phát ngôn” không hơn không kém.

Trên các phương tiện truyền thông do nhà nước nắm trọn yết hầu, thậm chí còn không dám gọi thẳng tên kẻ thù của đất nước, của dân tộc là bọn bành trướng Đại Hán Bắc Kinh, mà chỉ là những danh từ “tàu lạ”, lực lượng quân sự nước ngòai…

Thế mới hiểu sự hèn hạ đó đã đến mức nào, có lẽ đã sắp là đỉnh điểm của sự hèn nhát và thiếu một bước ngắn nữa thôi, thì cha con Trần Ích Tắc thế kỷ 21 sẽ chạy lên Phương Bắc để dâng nốt đất này cho giặc.

Thái độ hèn hạ và nhu nhược đó của nhà cầm quyền Việt Nam đã nói lên một bản chất của nhà nước hèn hạ trước ngoại xâm, coi rẻ sinh mạng đồng bào và thờ ơ trước việc mất dần lãnh thổ đất nước vào tay quân giặc.

“Một thước núi, một tấc sông của ta lẽ nào tự nhiên vứt bỏ đi được … kẻ nào dám đem một thước núi sông, một tấc đất biên ải của tổ tiên để lại làm mồi cho giặc thì kẻ ấy sẽ bị tru di…!” Lê Thánh Tôn (Đại việt sử ký toàn thư)

Thái độ đó không phải bây giờ mới phát sinh, nó có lịch sử gắn liền với lịch sử cầm quyền của những nguời cộng sản Việt Nam trên đất nước này. Kể từ khi lên nắm quyền ở đất nước Việt Nam, cái công hàm ngày 14/8/1958 mở đầu cho thái độ coi thường lãnh thổ thiêng liêng của Tổ Quốc vì cái gọi là “Phong trào Cộng sản quốc tế” đến hành động bán dần lãnh thổ trên bộ, trên biển. Rồi thái độ im lặng đồng tình khi Trung Cộng xâm lược Hòang Sa mà nhà cầm quyền CSVN không hé một lời lấy lệ. Thậm chí, cuộc tấn công dữ dội vào Trường Sa năm 1988 làm 64 chiến sĩ ta hi sinh trên biển không biết đến giờ thân xác phiêu bạt nơi nao, nhân dân ta cũng không được một dòng thông báo.

Tinh vi hơn là những vùng đất “cho thuê dài hạn”, những khu khai thác Bauxite ở Tây Nguyên… đều là những canh bạc của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam bán dần lãnh thổ của đất nước vào tay kẻ thù của dân tộc nhằm thỏa mãn túi tiền quan chức cộng sản vinh thân phì gia và giữ nguyên cái ghế độc tài của Đảng Cộng sản trên đầu trên cổ gần 100 triệu người Việt Nam.

Thay vì lá cờ thêu sáu chữ vàng của Trần Quốc Toản ngày xưa kêu gọi cứu nước, nhà cầm quyền Việt Nam hiện đại dựng lên lá cờ 16 chữ mới với những lời lẽ đẹp đẽ nhằm che đậy hành động bán nước bên trong.

Để bảo vệ việc bán lãnh thổ của mình, nhà cầm quyền CSVN không ngần ngại đàn áp ngay chính nguời dân mình khi bày tỏ lòng yêu nước cách ôn hoà. Những cuộc đàn áp năm 2007 đối với sinh viên, thanh niên Việt Nam tại Hà Nội và Sài Gòn để sau đó đón đoàn quân Tàu Cộng vào Tây Nguyên, vào phía Bắc, vào các tỉnh minh chứng những điều vừa nêu.

Có lẽ trong lịch sử Việt Nam, chưa thời nào dù khi mạt vận nhất của dân tộc có những kẻ cầm quyền dùng những hành động tương tự đó đối với lòng yêu nước của người dân nước Việt.

Lộ rõ bộ mặt phản động hung hãn với dân

Ngược lại những thái độ của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam trước kẻ thù của dân tộc, với công lao cha ông ngàn năm ta để lại, với lãnh thổ quốc gia, dân tộc lại là một thái độ hung hãn, cướp bằng được, chiếm bằng hết những tài sản còn có thể chiếm, cướp của nhân dân.

Nhiều cái gọi là dự án, khu công nghiệp đầu tư nước ngòai… đã đẩy hang triệu người nông dân, thành thị từ chỗ yên ấm cả ngàn năm nay buộc phải rời xa tổ ấm, bỏ đất cha ông, mồ mả bao đời để cho Đảng lấy đất đút vào tay những nhà tư bản và làm nặng thêm túi tiền của bọn tư bản đỏ trong nước.

Hàng đoàn, hàng đoàn người dân khiếu kiện, hàng triệu người dân mất đất, sinh mạng và đời sống hàng chục triệu người dân không còn lối thoát, tài nguyên đất nứơc rơi vào tay giặc, xã hội hỗn loạn… tất cả những điều đó không nằm trong sự quan tâm của nhà nước.

Nhà Dòng kín Camelo bị đập phá

Thậm chí, những ngày gần đây, người ta thấy rộ lên khắp nơi những cuộc đập phá, chiếm cướp tài sản tôn giáo đặc biệt là công giáo được tiến hành cấp bách, khẩn trương qua các “Dự án’ như khu đất của Dòng Chúa Cứu Thế ở Đà Lạt, nhà thờ Nhà thờ Kitô Vua thuộc Giáo Xứ Bình Triệu Sài Gòn… và mới đây nhất là đang đập phá tu viện kín Camelo 72 Nguyễn Thái Học – Hà Nội.

Những hành động có tính tập trung, khiêu khích đó đối với một tôn giáo ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay nhằm mục đích gì?

Ai cũng biết, cùng với chiến dịch cướp phá toàn dân, toàn diện của đảng nhằm vơ vét nốt những đồng cắc tài sản cuối cùng của nguời dân sau khi đã bán hết tài nguyên, khoáng sản của đất nuớc, mà người dân lành không có khả năng chống cự. Những năm qua một số hành động cướp phá của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam nhằm vào tôn giáo, đặc biệt là Công giáo đã vấp phải sự kháng cự mãnh liệt của lực lượng giáo dân biết hi sinh, đoàn kết và luôn sẵn sàng bảo vệ Giáo hội cũng như tài sản của Giáo hội.

Nhiều dự án đã và đang âm mưu chiếm cướp của Giáo hội Công giáo đã buộc phải dừng lại.

Bỗng nhiên, những dự án kia được triển khai rầm rộ trong những ngày này bất chấp sự phản đối của giáo dân và những người có lương tri. Nguời ta tự hỏi, đằng sau những hành động này là ý đồ gì?

Có phải, trước cơn binh biến cận kề, trước khi biết vận mệnh của đảng, cơ sở bảo trợ cho những dự án cướp bóc kia sắp đến ngày tiếp bước con đuờng phương Bắc mà ngày xưa Trần Ích Tắc đã ra đi, những người cầm quyền các địa phương đã tìm cách đẩy mạnh chiến dịch này nhằm vét nốt chút canh bạc mà họ đã bỏ tiền đặt cọc quá lớn khi thực hiện việc mua quan bán chức thời gian qua?

Cũng có thể đây là một động tác thường thấy của các chính thể cộng sản nhằm tập trung sự chú ý của người dân trong nước và quốc tế bằng cách tạo ra những scandal mới, thu hút sự chú ý của công luận nhằm làm nhạt đi khí thế phẫn uất, căm hờn của nhân dân với thái độn hèn hạ, nhu nhược của nhà cầm quyền Việt Nam trước bọn bá quyền Trung Quốc?

Dù với ý đồ nào đi nữa, thì đó cũng chỉ là hành động mà dân gian thường gọi là “chó cùng cắn giậu” không hơn không kém.

Những hành động đó càng khẳng định cho mọi người nhận rõ mặt hơn bộ mặt “hèn với giặc, hung hãn với dân”, thậm chí lộ rõ bộ mặt phản động của nhà cầm quyền Hà Nội xưa nay vốn đuợc tô son trát phấn xưng tụng với những lời lẽ hoa mỹ ồn ào.

Ngày 1/6/2011

Song Hà

11 Responses to “Với giặc và với dân: Hèn hạ và phản động”

  1. xuanthong says:
    Bọn CSVN này phải giống như Libya nó mới ngán
    • Phan Thi Lan says:
      Giới trí thức trong nước đều biết đám lãnh đạo CSVN dựa hơi Tàu Cộng đề tồn tại và vơ vét của dân. Ngoài ra, mỗi năm đám lãnh đạo CSVN còn nhận phong bì li xì của bọn Tàu nữa… Do vậy, đừng dùng chữ “hèn” và phải dùng chữ “đồng lõa” thì chuẩn hơn…
  2. Thuận says:
    bọn Trung Quốc từ xưa đến nay vẫn luôn nuôi ý tưởng xâm chiếm đất nước VN, chúng ta không thể để chúng ngang nhiên, cướp đoạt đất đai, lãnh thổ của quê hương mình, phải kiên quyết, thậm chí có thể đổ cả xương máu để bảo vệ chủ quyền quốc gia. Nhà nước VN vẫn còn khá nhu nhược với bọn phương Bắc, nhưng đối với dân chúng thì lại dở nhiều thủ đoạn, áp bức dân tộc VN.
  3. Lannam says:
    “Hung hãn với dân, hèn với giặc.” CÂU NÀY CHÚNG CHÁU KHÔNG ĐỒNG Ý. Tạy sao? Xin thưa là: cái ĐẢNG CSVN – MAFIA ĐỎ chính là BỌN BÁN NƯỚC HẠI DÂN. Mới đúng là THỰC CHẤT bản tính của chúng. Từ khi cái đảng ÁC QỦI này CƯỚP quyền điều hành từ CHÍNH QUYỀN của nhân dân, chúng đã có PHƯƠNG ÁN BÁN NƯỚC HẠI DÂN rồi. Những gì đã xảy ra trong thời gian chúng điều hành đất nước, chúng thi hành PHƯƠNG ÁN ấy. Chúng chỉ là dụng cụ để GIÚP cho ĐẠI HÁN tiến hành CƯỚP đất nước VIỆT, không hơn không kém.
    Những phản đối có mưu tính của cái “loa bộ ngoại giao” chỉ để CHE MẮT, LỪA DỐI NHÂN DÂN như chúng đã từng làm THÔI.
    Một khi đến THỜI ĐIỂM CHÍN MÙA, quân xâm chiếm Đại Hán sẽ chính thức RA MẶT ĐIẾU HÀNH. Khi đó chúng sẽ HOÀN TOÀN TUNG HÀNH không khác gì tại Tibet, Tứ Xuyên. Hiện tại quân dân của ĐẠI HÁN đã XÂY DỰNG CĂN CỨ khắp nơi trên quê hương VN trong nhiều danh nghĩa khác nhau để CHE ĐẬY dã tâm của chúng.
    HỠI NHÂN DÂN, ĐỪNG MÊ NGŨ NỮA, HÃY TỈNH THỨC VÀ HÀNH ĐỘNG, KHI CƠ HỘI CÒN TRONG TAY (trong lúc cả bọn bán nước và Đại Hán chưa hoàn thành chương trình của chúng), CHÚNG TA PHẢI RA TAY TẨY SẠCH BỌN BÁN NƯỚC HẠI DÂN – đảng CSVN khỏi QUÊ HƯƠNG – DÂN TỘC.
    Chúng ta phải lấy lại QUYỀN ĐIỀU HÀNH VÀ BẢO VỆ ĐẤT NƯỚC. Như vậy, quê hương – đất nước VIỆT mới còn hiện diện trên BẢN ĐỒ THẾ GIỚI và còn được ngoại kiều gọi NƯỚC VIỆT NAM.
  4. le tri says:
    Một nhà cầm quyền ăn hại, bán nước!
  5. X Nguyễn says:
    Binh pháp trung quốc xưa hay dùng : muốn đánh nước xa thì gây hấn với láng giềng gần ,nếu vậy thì Tq đang muốn thôn tính Biển đông và các nước asian ?
    Quấy rối VN , Lấy Vn làm phép thử để đặt giàn Khoan ở Philipin và đặt yêu sách đường lưỡi bò ở Biển Đông ? kaka mấy chiêu này xưa như trái đất , con nít Nước Nam Đã học thuộc lòng .- Tq Đừng Có mơ Làm Thôn Tính Được Biển Đông Khi Còn Nước Vn . Còn đụng vào Hoàng Sa Và Trường Sa của Vn Thì Có mà chuốc Họa vào Thân .
  6. Hồng Quang says:
    Sự kiện tầu Trung quốc xâm phạm chủ quyền, đi sâu vào vùng biển VN phá hoại và hăm doạ, cắt cáp của tầu Bình Minh 02 buộc chúng ta phải suy nghĩ rằng VN đã không có lực lượng bảo vệ vùng biển, vì vậy mà tầu TQ ra vào như chỗ không người, hay là lực lượng bảo vệ biển “được lịnh” tránh mặt để cho bọn Tầu phá rối?
  7. thỏ,hãy đợi đấy says:
    Nào anh em ta cung nhau lên đường… biểu tình. Không sợ công an bắt bớ nữa,nếu nó bắt người biểu tình thì vạch mặt tụi nó là lũ hán gian.Đừng tin lũ nhà nước này nữa,hãy nhìn gương philippin kìa,dám thẳng thừng triệu tập đại sứ tàu khựa,còn lũ tay sai này thì sao,câm như hến,chỉ phát biểu lấy lệ qua mồm con vẹt Phương Nga.Tôi yêu Việt Nam.Vùng lên đi các bạn ơi.
  8. Dân Việt Yêu Nước says:
    Đến giờ phút này bọn Việt gian bán nước CS đã lộ rõ mặt. Chúng chắc chắn không còn dám đàn áp hay cấm cản dân biểu tình chống Tàu Cộng như trước đây. Vậy toàn dân ta hãy tham gia cuộc biểu tình chống TQ vào 8g sáng chủ nhật 5/6/2011 tại Hà Nội và SG, như các nhà yêu nước tổ chức và kêu gọi trên internet.
    Lần này kẻ nào ngăn cản cuộc biểu tình yêu nước chống xâm lăng của toàn dân, thì đó chính là KẺ BÁN NƯỚC, chúng ta có quyền có thái độ với chúng. Các tỉnh khác cũng nên tổ chức biểu tình như vậy. Khi chúng ta đồng loạt tỏ thái độ kiên quyết với THỰC DÂN TRUNG CỘNG, thì sẽ có tiếng vang mạnh trên trường quốc tế, và hậu thuẫn cho những văn thư phản kháng sẽ gửi lên tòa án QT.
    Xin đề nghị những nhà ái quốc sẽ thảo văn thư tố cáo TQ xâm lăng, để toàn dân ký và gửi đi sớm. Nếu có thể được, mỗi nhóm yêu nước, mỗi đảng phái CT nên soạn văn thư riêng nữa để cùng gửi, vì chúng ta đều chính danh là những CHỦ NHÂN CỦA ĐẤT NƯỚC. Đừng chờ đợi cái chính quyền bán nước này, vì chúng chỉ làm lấy lệ, và chúng không còn tư cách để phản kháng, vì chính chúng đã ký vào những văn bản bán nước cho bọn quan thày Tàu cộng!!!
  9. Nguyễn Lương Tâm says:
    Cám ơn Song Ha đã có bài viết phân tích rất chính xác. Mong rằng mọi độc giả cố gắng phổ biến thật rộng rãi tới mọi thành phần trong nước để cùng nhau đứng lên bảo vệ Đất Nước cuả chúng ta.
  10. Thanh Thanh says:
    Tổ Quốc đang lâm nguy giặc ngoại xâm thì không lo dẹp, chỉ tăng cường An ninh, công an và bọn quần chúng tự phát vơ vét, cướp bóc và bắt bớ những người yêu nước. Các bạn trong và ngoài nước hãy cùng nhau đứng lên bằng mọi cách để đòi lại chủ quyền cuả nứơc Việt Nam.

Bài Xem Nhiều