We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Saturday, 4 June 2011

VÙNG LÊN GIỮ NƯỚC

Kính gởi một ngày thành công.



VÙNG LÊN GIỮ NƯỚC


Đọc báo sáng nay thấy lũ đần
Chúng hèn với giặc ác với dân
Dân đi chống giặc xâm lăng Nước
Chúng qùy lạy giặc ôi! qúa bần
Giặc đang tung hoành chiếm biên cương
Chống giặc Trung Cộng Dân xuống đường
Chúng quay súng vào dân trấn áp
Giúp cho giặc Tầu cướp Quê Hương
Quê Cha Đất Tổ từ vua Hùng
Phận ta con cháu phải kiên trung
Ông Cha dựng Nước ta giữ Nước
Khó mấy cũng chiến đấu đến cùng
Biển đông "Tàu Cộng" đang vẫy vùng
Ra vào "Tàu Lạ" vẫn ung dung
Bởi lũ Việt gian Cộng dâng cúng
Giết dân đày đọa tới đường cùng

HỠI ĐỒNG BÀI ƠI! HÃY ANH HÙNG!
TA LÀ CON CHÁU VUA QUANG TRUNG
KHÔNG THỂ CÚI ĐẦU THEO QỦY ĐỎ
VÙNG LÊN! VÙNG LÊN! SỐNG UY HÙNG!
HỠI THANH NIÊN ƠI! HÃY ANH HÙNG
XỨNG DANH CON CHÁU VUA QUANG TRUNG
ĐỨNG THẲNG NGƯỚC CAO TA CÙNG BƯỚC
CON CHÁU QUANG TRUNG SỐNG UY HÙNG!
TA LÀ DÒNG DÕI CỦA TRƯNG VƯƠNG
HỠI CHỊ EM ƠI! HÃY XUỐNG ĐƯỜNG
HÔ VANG CHỐNG GIẶC TẦU PHƯƠNG BẮC
XỨNG DANH CON CHÁU NỮ TRƯNG VƯƠNG
PHƯƠNG NAM ĐẤT VIỆT CỦA VUA HÙNG
GIẶC ĐỎ PHƯƠNG BẮC QÚA TÀN HUNG
PHẬN TA CON CHÁU PHẢI GIỮ NƯỚC
NGÀY SAU KHỎI THẸN VỚI VUA HÙNG
ĐẬP TAN XIỀNG XÍCH SỐNG ANH HÙNG
NGÀY MAI TẤT CẢ HÃY TẬP TRUNG
GIỜ THIÊNG SÔNG NÚI NAY ĐÃ ĐIỂM
SỐNG CHO RA SỐNG MỚI ANH HÙNG
.

Tại sao có sự khác biệt quá lớn giữa người Việt Nam và người Nhật Bản? (3)

Fukuzawa - người khai sáng ra nước Nhật hiện đại


Đối với bất cứ dân tộc nào, văn minh hay lạc hậu, nghèo đói hay thịnh vượng, tự do hay nô lệ... đều tùy thuộc ở thành phần trí thức. Họ là đầu máy của con tàu, là xương sống của đất nước, là nhịp cầu giữa chính quyền với người dân, là những nhà giáo dục mở mang trí tuệ quần chúng, là thành phần chủ lực thực hiện những chương trình của đất nước.

Ở những nước có chế độ coi thường trí thức, xem "trí thức không bằng cục phân" hay khi giai cấp trí thức không ý thức được trách nhiệm và tầm quan trọng của mình, không giữ được "tinh thần kẻ sĩ", thì đất nước đó sẽ nhận lấy những hậu quả thê thảm giống như những gì chúng ta đã chứng kiến trên đất nước VN trong hơn một thế kỷ qua.

Nước Nhật may mắn hơn phần lớn các nước Á Châu khác, khi Minh Trị Thiên Hoàng lên ngôi, họ không phải chỉ có một minh quân ái quốc, biết quý trọng nhân tài mà còn có một tầng lớp trí thức tâm huyết, tìm kiếm học hỏi điều hay mới lạ khắp nơi để thực hiện hoài bão khai sáng quốc dân, gìn giữ nền độc lập đất nước và đưa nước Nhật lên vị trí ngang hàng với các nước Âu Mỹ.

Người trí thức tiên phong, cũng là linh hồn của cuộc Minh Trị Duy Tân (1868-1898) là nhà tư tưởng chiến lược Fukuzawa Yukichi.

Ông là một trong những người có ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử Nhật Bản.

Cho đến ngày nay người Nhật vẫn xem ông là "Người đã khai sáng ra nước Nhật hiện đại", chân dung của ông in trên tờ giấy bạc 10,000 Yen (tờ giấy bạc cao nhất của Nhật) để ghi nhận sự đóng góp to lớn cho việc xây dựng một nước Nhật hiện đại.

Fukuzawa Yukichi sinh năm 1835 trong một gia đình võ sĩ samurai cấp thấp ở Nakatsu (thuộc miền nam nước Nhật). Gia đình nghèo sau khi cha mất sớm, thuở nhỏ ông học tiếng Hán. Đến năm 14 tuổi, Fukuzawa bắt đầu học tiếng Hòa Lan. Năm 1853, việc người Mỹ đặt chân lên Edo đã tạo một chấn động lớn đối với người thanh niên yêu nước 18 tuổi, cùng năm đó ông đến Nagasaki theo nghành Hòa Lan Học (học các môn khoa học bằng tiếng Hòa Lan) để mong học cách chế tạo vũ khí.

Đến năm 1859, sau khi Nhật mở cửa 3 hải cảng mới cho các tàu của Mỹ và Âu Châu, Fukuzawa muốn tìm hiểu về văn minh Tây Phương cho nên đã đến Kanagawa (Yokohama ngày nay), nơi có nhiều tàu buôn ngoại quốc. Tại đây khả năng tiếng Hòa Lan của Fukuzawa trở nên vô dụng vì các thủy thủ chủ yếu chỉ nói tiếng Anh. Fukuzawa ngay lập tức chuyển sang học tiếng Anh. Năm 1860, chính quyền Mạc Phủ gởi một phái đoàn ngoại giao sang Hoa Kỳ, Fukuzawa tình nguyện xin gia nhập làm thông dịch viên. Phái đoàn dừng lại San Francisco một tháng, tại đây Fukuzawa tìm được cuốn tự điển Webster's Dictionary và bắt đầu soạn tự điển Anh-Nhật.

Sau khi về nước ông trở thông dịch viên chính thức của chính quyền Mạc Phủ, năm 1862 được tháp tùng phái đoàn ngoại giao viếng thăm các nước Pháp, Anh, Hòa Lan, Đức và Nga, chuyến đi kéo dài gần một năm. Năm 1867, ông cùng phái đoàn đến các thành phố phía đông của Hoa Kỳ.

Trong 3 chuyến đi ra nước ngoài, với tư cách là một thông dịch viên của một phái đoàn ngoại giao, ông có cơ hội viếng thăm các cơ quan của chính phủ, trường học, bệnh viện, hãng xưởng, trung tâm tài chánh, thương mại ... của các nước Tây Phương. Chính điều này đã giúp ông có một cái nhìn mới về thế giới bên ngoài và sự khác biệt giữa Nhật Bản và Phương Tây. Chính từ lúc đó ông quyết định thay đổi hẳn hướng đi của cuộc đời mình.

Ông cũng lợi dụng những chuyến đi này để mua sách đem về nước dịch ra tiếng Nhật phổ biến cho sinh viên và dân chúng.

Bằng trực giác nhạy bén và lòng thiết tha cống hiến, tất cả những gì thu thập được bằng "mắt thấy tai nghe" trong 3 chuyến đi trên đã được ông ghi lại thật chi tiết trong tác phẩm "Sự tình ở các nước Phương Tây" (Conditions in the West), bao gồm 10 tập, xuất bản năm 1867, 1868, 1870. Vào thời điểm đó, đây là tác phẩm có giá trị nhất đầu tiên của Nhật viết về thế giới Tây Phương.

Ông để lại cho dân tộc Nhật Bản một gia tài thật đồ sộ, bao gồm hơn 100 tác phẩm về đủ mọi đề tài liên quan đến đất nước Nhật, từ ngôn ngữ, tư tưởng, triết học, lịch sử, địa lý cho đến quân sự, kinh tế, thương mại, giáo dục... Ông cũng là tác giả của quyển tự điển Anh-Nhật đầu tiên của Nhật, nhờ đó người Nhật có cơ hội học tiếng Anh dễ dàng hơn.

Sách của ông chỉ nhắm đến một mục đích duy nhất là giới thiệu những tinh hoa của nền văn minh Tây Phương và làm thế nào để khai hóa dân tộc Nhật Bản.

Bên cạnh đó ông sáng lập ra tờ báo Jiji Shimpo (The Times) vào năm 1883 và là cây viết chủ lực cho những đề tài thời sự nóng bỏng (Current Affairs), tờ báo này cũng là diễn đàn tranh luận sôi nổi nhất tại Nhật thời đó và cũng nhờ diễn đàn này mà cô Toshiko Kishida - một thiếu nữ mới ngoài 20 tuổi, có cơ hội đấu tranh cho quyền phụ nữ.

Sau khi từ Hoa Kỳ trở về vào năm 1867, ông thành lập Trường Nghĩa Thục Keio Gijuku tiền thân của đại học Keio để đào tạo nhân tài. Ngày nay Đại Học Keio là một trong những đại học nổi tiếng nhất tại Nhật.

Keio Gijuku là trường tư đầu tiên, cũng là trường đầu tiên ở Nhật giảng dạy theo lối thực dụng của Tây Phương. Chủ trương của trường là cập nhật liên tục những tư tưởng, phương pháp mới. Fukuzawa dạy môn Kinh tế Chính trị (Political Economy), những môn kỹ thuật thì thuê giáo sư Tây Phương.

Vào năm 1896, năm năm trước khi qua đời, Fukuzawa nói chuyện trước các sinh viên của trường Keio và xem đây như là di chúc của ông, lúc này ông đã 61 tuổi, tuổi được xem là khá thọ vào thời đó. Bài nói chuyện này nhắc nhở sinh viên đừng quên sứ mệnh mà họ phải theo đuổi:

"Tôi sẽ không bao giờ hài lòng rời khỏi trường Keio Gijuku khi trường này vẫn chỉ là một học viện; tôi có tham vọng biến nó trở thành nơi phát sinh của đức tính cao thượng, của mẫu mực tri thức và đức hạnh cho cả quốc gia. Trong thực tế, tinh thần này sẽ là nền tảng cho mỗi thành viên trong gia đình, cũng như xã hội. Tôi không muốn nó kết thúc như một đề tài để thảo luận mà là một động lực cho tất cả mọi người thể hiện trong cuộc sống hằng ngày và sẽ biến trường của chúng ta thành một trường kiểu mẫu và dẫn đầu đất nước. Tôi muốn nhân cơ hội này để bày tỏ suy nghĩ của tôi, nó được xem như lời di chúc của tôi và tôi giao phó trách nhiệm đó cho quý vị."

Không phải chỉ đến lúc sắp lìa đời Fukuzawa mới nói ra những điều đó, mà nó đã bàng bạc trong tất cả các tác phẩm của ông.

Di sản ông để lại cho đời không phải là số lượng sách ấn bản mà chính là tinh thần khai hóa, đi trước thời đại nhưng đồng thời cũng kêu gọi mọi người phải tuân thủ những giá trị nhân bản. Đối với ông kiến thức chỉ có giá trị khi ứng dụng vào đời sống hằng ngày chớ không phải nói suông và nhắc nhở mọi người là phải luôn luôn đặt lại vấn đề cho dù đó là những điều mình cho là chân lý - bởi vì không có một chân lý hay tư tưởng nào đúng mãi với thời gian. Chính vì lý do đó mà mặc dầu các tác phẩm của ông đã được viết gần 150 năm trước nhưng cho đến ngày nay người Nhật vẫn còn tìm thấy nhiều giá trị ở đó.

Là người hăng hái cổ động người Nhật học hỏi văn minh Tây Phương nhưng không mang tinh thần vọng ngoại mù quáng, mà chủ trương phải giữ lại những giá trị truyền thống, điều này có thể nhìn thấy ngay ở cá nhân ông, hầu hết những hình ảnh còn lưu lại cho thấy ông luôn mặc y phục truyền thống Nhật Bản cho dù đang đi ra nước ngoài.

Năm 1900 ông được Hoàng Gia Nhật Bản trao tặng giải thưởng 50,000 Yen (một số tiền khá lớn thời đó) do công lao đóng góp cho lãnh vực giáo dục. Ông tặng hết số tiền này cho trường Keio Gijuku.

Ông qua đời năm 1901, thọ 68 tuổi. Ông không chỉ để lại một di sản văn hóa mà còn để lại một tấm gương sáng về đạo đức. Suốt cuộc đời ông luôn cố gắng làm đúng với những gì mà ông đã kêu gọi ở người khác. Một điểm đặc biệt khác về ông là không bao giờ tham gia vào chính phủ mặc dầu được đề nghị nhiều lần, ông cho rằng đứng ngoài chính phủ sẽ đóng góp được nhiều hơn, với tư cách là một người phê bình các chính sách của chính phủ.

Một tác phẩm làm thay đổi người Nhật

Trong hơn 100 tác phẩm của Fukuzawa, đáng chú ý nhất là quyển Khuyến Học (1) (An Encouragement of Learning). Đây không phải là tác phẩm công phu và đồ sộ nhất của ông nhưng là tác phẩm gây ảnh hưởng lớn nhất đối với người Nhật thời bấy giờ và họ vẫn còn tiếp tục đọc cho đến ngày nay.

Tác phẩm này được viết trong khoảng thời gian từ 1872 đến 1876 bao gồm 17 chương, bản dịch từ tiếng Nhật ra tiếng Việt của ông Phạm Hữu Lợi chỉ dầy có 242 trang. Mặc dầu chỉ có 242 trang nhưng bao gồm đủ mọi đề tài, từ cách học làm người cho đến vấn đề độc lập quốc gia, lợi ích của giáo dục, khoa học, vấn đề quyền tự do, quyền bình đẳng trong xã hội và quan hệ giữa chính quyền với người dân, cách tiếp thu văn minh Tây Phương...

Trong lời giới thiệu, dịch giả Phạm Hữu Lợi cho biết là "lần ấn bản lần đầu tiên quyển sách này đã bán được mức kỷ lục 3.4 triệu trong lúc dân số Nhật Bản thời đó chỉ có 35 triệu và là cuốn sách gối đầu giường của mọi người dân Nhật trong thời kỳ Duy tân. Kể từ đó đến nay sách được tái bản liên tục, chỉ tính từ năm 1942 cho đến năm 2000, riêng nhà xuất bản Iwanami Bunko đã tái bản đến 76 lần".

Sau khi đọc qua quyển sách này chúng ta sẽ không ngạc nhiên tại sao quyển sách này bán nhiều đến mức kỷ lục như vậy trong một thời gian rất dài.

Đây là quyển sách mà mọi người Việt Nam nên đọc, mặc dầu đã gần 150 năm trôi qua, nhưng những vấn đề mà ông Fukuzawa nêu ra trong quyển sách này vẫn còn mang tính cách thời sự nóng bỏng đối với người Việt Nam.

Riêng cá nhân người viết dù đã sống tại Úc hơn 30 năm, nhưng khi đọc qua cũng sửng sốt về những quan điểm quá táo bạo đối với thời điểm 150 năm trước và vẫn thấy mới đối với mình ngay ở thời điểm này.

Quan điểm của ông là mọi người phải có một thái độ quyết liệt, không nhân nhượng khi tranh đấu cho quyền con người ngay cả nếu phải đụng chạm đến người có quyền lực cao nhất: "Nếu có kẻ gây phương hại đến nguyên tắc "độc lập và tự do" thì dù có phải biến cả thế giới thành kẻ thù chúng ta cũng không sợ, huống hồ chi phải sợ một số quan chức chính phủ lộng quyền."

Ông viết riêng một cuốn sách đề nghị nước Nhật phải theo thể chế quốc hội nghị viện.

Fukuzawa chủ trương viết quyển sách này không phải chỉ dành cho giới trí thức mà còn cho tất cả mọi người Nhật, cho nên ông dùng một văn phong đơn giản và dễ hiểu.

Nội dung của tác phẩm này có 5 điểm chánh sau đây:

1/ Giáo dục là chìa khóa mở mọi cánh cửa

Ông nhấn mạnh ngay trong lời mở đầu: "Mọi người sinh ra đều bình đẳng, nếu có sự giàu sang hay nghèo khổ, thông minh hay ngu dốt thì đều do giáo dục mà ra cả".

Hay như: "Nền chính trị hà khắc không phải chỉ là tội của kẻ nắm quyền, mà còn là lỗi ở người dân, do vô học hay ngu dốt nên mới dẫn tới thảm họa cho mình".

Đối với ông nếu xã hội mà mọi người đều có kiến thức thì từ quan chức chính quyền, các chuyên viên, thương gia cho đến giới lao động chân tay sẽ làm công việc của mình tốt nhất. Như vậy không những chỉ lợi cho cá nhân mà còn lợi cho đất nước.

Quyển sánh này cũng ghi lại lời phát triển của ông trước các sinh viên của trường Keio trong buổi khai giảng: “Đối thủ mà các bạn phải tranh đấu về trí tuệ là người Phương Tây. Nếu các bạn thắng trong cuộc đọ sức tri thức này thì vị thế của nước Nhật bản sẽ dâng cao trên trường quốc tế. Còn ngược lại, nếu các bạn thua, thì chúng ta, những người Nhật Bản sẽ mãi mãi thấp kém dưới con mắt của họ."

2/ Kiến thức phải có tính cách thực dụng.

Tựa đề của cuốn sách này là "Khuyến khích học hành" nhưng ngay từ những trang đầu ông nhắc nhở độc giả: "Tựa đề của cuốn sách này là khuyến học, nhưng không có nghĩa là tôi khuyên các bạn chỉ có đọc sách... dù có nhồi nhét tri thức trong đầu, nhưng không thể ứng dụng vào hành động thực tế thì cũng vô nghĩa".

Ông chủ trương người có kiến thức phải là người tạo ra được của cải vật chất: "Trong cuộc sống, tôi hầu như không thấy thầy dạy Hán văn nào có được tài sản đáng kể... Cứ học theo kiểu học này chắc có ngày tiêu gia bại sản."

3/ Tinh thần độc lập

Có thể nói tất cả tư tưởng của Fukuzuwa gói trọn trong hai chữ độc lập. Đối với ông, độc lập là yếu tố quan trọng hơn tất cả: "Nếu không có tinh thần độc lập thì mọi hình thái của văn minh chỉ còn là hình thức, hoàn toàn vô dụng."

Ông cho rằng độc lập của quốc gia phải phát xuất từ độc lập cá nhân (national independence through personal independence) bởi vì cá nhân có độc lập thì gia đình mới độc lập và như thế thì quốc gia mới độc lập.

Độc lập theo ông không phải là tự có thể nuôi sống được cá nhân và gia đình mình mà còn có ý nghĩa lớn hơn - đó là độc lập trong cách suy nghĩ: "Một người mất tinh thần độc lập sẽ phải dựa vào người khác, sinh ra phải chịu ơn, luồn cúi, lâu ngày trở thành một thói quen lúc nào cũng sợ sệt, khúm núm trước kẻ có quyền thế. Và như thế cũng sẽ khúm núm sợ sệt trước người ngoại quốc".

4/ Quan hệ giữa chính quyền và người dân

Ông cho rằng quan hệ giữa chính quyền và người dân phải là một quan hệ bình đẳng: "Mục tiêu duy nhất của chính phủ là phải mang lại cuộc sống ấm no và yên ổn cho dân, ngược lại thì người dân cũng phải làm tròn bổn phận của mình".

5/ Ông đả kích Nho giáo dữ dội vì cho rằng cách giáo dục của Nho giáo chỉ đào tạo ra một giai cấp trí thức học ra để làm quan, chớ không phải để giúp đời. Ông cũng cho rằng chính Nho giáo đã mang hủ tục trọng nam khinh nữ vào nước Nhật, vì trước đó Nhật là một xã hội nam nữ bình đẳng, mà điển hình là vị vua đầu tiên của nước Nhật là phụ nữ.

Những điều nêu trên chỉ tóm tắt vài quan điểm chính của Fukuzawa. Với số bán kỷ lục của cuốn sách này từ khi ấn bản lần đầu tiên cho đến nay chứng tỏ là ông đã thuyết phục được người Nhật tin vào những điều mà ông cho là sẽ đưa nước Nhật đi lên.

Cái hay của người Nhật là họ có quan niệm rõ ràng giữa cái đúng và cái sai và một khi đã nhận ra rồi thì có thái độ dứt khoát. Họ đọc qua một quyển sách hay, không phải đọc xong rồi để đó mà đọc xong rồi nghiền ngẫm rồi đem ra ứng dụng vào đời sống.

Chỉ riêng cuốn sách này thôi đã là một đóng góp đáng kể của Fukuzawa cho nước Nhật.

Những người như ông và Minh Trị Thiên Hoàng suốt đời chỉ nghĩ đến đất nước, họ ra đi để lại trong lòng dân tộc của họ sự kính trọng, sự biết ơn và niềm hãnh diện lớn lao. Họ xứng đáng được an vị bên bia đá của lịch sử.

Kết luận

Như đã nói ngay ở lời mở đầu từ bài đầu tiên, người viết chỉ mong đóng góp trong câu hỏi: "Tại sao có sự khác biệt quá lớn giữa người Việt Nam và người Nhật Bản", đóng góp này chỉ nên được xem là những điều rất khiêm tốn, rất ước mong trong tương lai sẽ có nhiều người khác tìm hiểu sâu hơn.

Như chúng ta đều biết là sự khác biệt giữa người Việt Nam và người Nhật Bản rõ nét nhất kể từ khi nước Nhật có cuộc Duy Tân vào giữa thế kỷ thứ 19. Đó là bài học vô cùng quý giá đối với Việt Nam nhưng rất tiếc trong gần 150 năm qua chưa bao giờ chúng ta quan tâm đúng mức để rút ra bài học cho mình.

Họ đã làm sẵn cho chúng ta rất nhiều việc và cũng chứng minh cho thấy là phương pháp của họ hiệu quả, họ biết rõ chỗ nào cần phải học và chỉ cần có 37 năm đã chuyển hóa từ một nước phong kiến tụt hậu trở một cường quốc quân sự và kinh tế.

Một yếu tố quan trọng khác nữa - là con người sinh ra ngoài nhu cầu thỏa mãn về vật chất còn phải được sống xứng đáng với nhân phẩm con người. Những giá trị đó người Nhật đã được hưởng từ thời Minh Trị, trong khi đến ngày nay đó vẫn chỉ là điều mơ ước đối với người VN.

Nếu như trong 150 năm qua chúng ta vẫn chưa thấy "bài học Nhật Bản" thì đây là lúc mà chúng ta phải nhìn thấy.

Nước Nhật và nước VN có nhiều điểm tương đồng, đều là hai nước Á châu, đất hẹp người đông, tài nguyên chẳng có gì đáng kể, văn hóa có khác nhau nhưng đều là hai dân tộc có khả năng tiếp thu nhanh. Nếu vào những năm 1853, nước Nhật đứng trước nguy cơ bị đô hộ bởi Tây Phương, thì ngày nay đất nước chúng ta đang đứng trước nguy cơ lớn hơn thế nữa, đó là nguy cơ bị thôn tính từ đế quốc phương Bắc. Người Nhật thoát được nguy cơ đó nhờ biết thức thời. Còn chúng ta, nếu lần này bị mất nước thì cơ hội lấy lại nền độc lập sẽ khó khăn hơn trước đây gấp trăm lần. Trung Quốc ngày nay họ khôn ngoan hơn xưa rất nhiều, cứ nhìn cách họ đô hộ Tây Tạng thì sẽ thấy rõ và họ đang "xăm lăng" thế giới bằng phương cách hết sức tinh vi.

Sỡ dĩ họ lấn ép dân tộc VN quá đáng trong hơn nửa thế kỷ qua là bởi vì dân ta mang tinh thần bạc nhược bị cai trị bởi một chính quyền u mê, tham lam, tàn bạo và ích kỷ. Tất cả chỉ vì văn hóa của chúng ta yếu kém mà chúng ta không nhận ra. Chúng ta cũng không có những nhà tư tưởng nhìn xa thấy rộng, yêu nước nhiệt tình, cam đảm như Fukuzawa để chỉ rõ cho đồng bào của mình thấy được yếu kém trong văn hóa và cách để sửa chữa.

Từ 150 năm qua chúng ta có cơ hội tiếp xúc với nền văn minh Tây Phương không thua gì dân tộc Nhật Bản, nhưng chúng ta không biết học từ họ giống như người Nhật. Những điều mà chúng ta nghĩ là chúng ta học được văn minh Tây Phương, thật ra chỉ là cái vỏ bên ngoài. Cứ nhìn kỹ chúng ta sẽ thấy rõ, chúng ta chỉ học của họ phong trào thơ văn lãng mạn, tư tưởng Mác-Lenin, chủ nghĩa Cộng Sản, phong trào hiện sinh....

Đó chỉ là trào lưu của một thời hay là những thử nghiệm thất bại, chớ không phải là tinh hoa của nền văn minh Tây Phương. Tinh hoa của Tây Phương chính là quá trình phát triển tư tưởng từ man rợ tiến tới văn minh để con người được sống một cách xứng đáng với những giá trị nhân bản. Quá trình đó bắt đầu từ Socrate, Plato, Aristotle.. cho đến Martin Luther, Decartes, John Locke, Voltaire, Rousseau, Adam Smith... cho đến thánh Gandhi, Luther King, Mandela và vô số những người khác đã tranh đấu tận lực bằng tim óc trong suốt hơn 2000 năm qua. Quá trình đó cũng phải trả giá bằng hằng triệu sinh mạng qua nhiều cuộc cách mạng, đúng có, sai đó, ôn hòa có, đẫm máu có, để cuối cùng đạt được thể chế chính trị dân chủ như ngày hôm nay. Thể chế dân chủ đó có khác về hình thức: thể chế tổng thống theo kiểu Mỹ hay kiểu Pháp, Quốc Hội Nghị Viện theo kiểu Anh hay theo kiểu Bắc Âu, nhưng tựu chung tất cả căn bản đều giống nhau - đó người dân được quyền quyết định vận mệnh của mình.

Chúng ta (người tỵ nạn) hầu hết đang sống tại những xứ văn minh nhất thế giới, chúng ta đang thừa hưởng những giá trị mà thường khi chúng ta không quý trọng đúng mức.

150 năm trước đây người Nhật đã nhìn thấy được điều này. Như người viết đã có nhấn mạnh trong bài hai bài viết trước, trong cuộc Minh Trị Duy Tân chủ yếu là người Nhật học tư tưởng của người Tây Phương chớ không phải là học kỹ thuật. Một khi dân trí cao, người dân ý thức được quyền lợi và tránh nhiệm của mình thì việc tạo dựng nên của cải vật chất chỉ là vấn đề thời gian.

Người Nhật thừa hưởng di sản văn hóa của nhân loại mà không phải mất một sinh mạng, trong lúc đó chúng ta phải trả giá bằng hàng triệu sinh mạng nhưng không được hưởng gì cả.

Có biết bao nhiêu điều chúng ta có thể học được người Nhật nhưng chúng ta không học. Không học không phải vì chúng ta không có đủ khả năng nhưng bởi vì chúng ta không muốn học!. Tự ái dân tộc chăng? vậy thì người Nhật không có tự ái sao khi họ công khai xác nhận văn hóa của họ thấp kém hơn Tây Phương và "copy" gần như nguyên si những tinh hoa Tây Phương mang áp dụng vào xứ họ trong cuộc Duy Tân, và kể từ đó cũng không bao giờ bỏ qua cơ hội biến cái hay của người khác thành cái hay của mình. Nếu vì tự ái để dân tộc mình lầm than đói khổ, bị đối xử gần như xúc vật thì không đáng để hy sinh tự ái đó hay sao?.

"History repeats itself because nobody listens", lịch sử lập lại bởi vì người ta không chịu học hỏi, câu này sao quá đúng với dân tộc VN. Kể từ thời nhà Nguyễn đến nay, chúng ta đi từ sai lầm này đến sai lầm khác, chúng ta chưa một lần có quyết định đúng khi đứng trước khúc quanh lịch sử và sau mỗi thất bại chúng ta đều đổ tránh nhiệm cho người khác, ngay cả một ông tổng thống để mất nước, là một việc lớn nhất đối với một dân tộc, vậy mà vẫn không nhận trách nhiệm, thế mà vẫn có người bênh vực, điều đó đủ cho thấy tinh thần của dân tộc sa sút đến mức nào. Khổng tử đã nói: "Sau mỗi thất bại, người khôn tìm lỗi ở chính mình, người dại tìm lỗi ở người khác", cũng chính vì thế mà lịch sử VN cứ tiếp tục lập lại.

Tranh đấu để đòi hỏi tự do dân chủ cho VN là một việc không thể không làm, nhưng bên cạnh đó còn có một việc quan trọng hơn thế nữa - đó phải thay đổi văn hóa. Văn hóa của chúng ta mang quá nhiều những khuyết tật, phải loại bỏ một cách dứt khoát để thay thế bằng những tinh hoa của văn minh Tây Phương.

Triết gia người Pháp Joseph de Maistre đã nói: "Dân tộc nào thì chế độ đó" (Every country gets the government it deserves) hay nói một cách khác văn hóa nào thì chế độ đó. Nếu chúng ta không nhận ra điều này thì nếu có lật đổ được chế độ cộng sản cũng chỉ thay thế bằng chế độ độc tài kiểu khác, người dân vẫn tiếp tục làm thân phận nô lệ.

Làm người tự do hay làm người nô lệ, đó là chọn lựa của mỗi cá nhân và mỗi dân tộc, không ai có thể làm thế cho mình.

Một trăm năm trước đây khi đến Nhật, hai cụ Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh đều tủi nhục khi so sánh trình độ của dân trí của dân ta với dân Nhật. Một trăm sau con cháu của hai cụ càng tủi nhục hơn và một vài năm sau nữa không biết chúng ta có còn nước để tủi nhục hay không!!!

Phạm Hoài Nam ________________________________________________________

Tham khảo cho 3 bài:

1/ Khuyến học bản dịch của Phạm Hữu Lợi

2/ ĐIỂM QUA NHỮNG TƯ TRÀO CHI PHỐI VĂN HỌC NHẬT BẢN CẬN ĐẠI

Biên khảo: Nguyễn Nam Trân

3/ The Meiji Restoration by Edwin O. Reischauer and Marius B. Jansen

4/ Fukuzawa Yukichi - Wikipedia

5/ The Autobiography of Yukichi Fukuzawa

6/ The Meiji Restoration - Wikipedia

7/ Lịch sử văn hóa văn minh Nhật, GS Tôn Thất Trình

Từ Jane Fonda Tới Thích Nhất Hạnh Những Kẻ Phản Bội Không Sám Hối


Gần đây, có tin Jane Fonda sẽ được Tổng thống Obama “vinh danh” khiến giới cựu quân nhân Mỹ lại có dịp bày tỏ sự phẫn nộ của họ đối với kẻ bị họ lên án là “phản quốc” (traitor). Sự phẫn nộ này đã kéo dài hơn 40 năm qua, từ khi cuộc Chiến tranh Việt Nam ở vào giao đoạn ác liệt nhất.

Khi ấy, Jane Fonda, một cô đào điện ảnh chuyên đóng những vai nhục thể ở Hollywood đã trở thành minh tinh trong phong trào được mệnh danh là “phản chiến”, chống việc Mỹ can thiệp vào cuộc chiến tại Việt Nam, nhưng thực sự là tiếp tay cho Cộng sản Hà-nội đánh chiếm miền Nam VN.

Cùng với chồng lúc ấy là Tom Hayden, Jane Fonda không chỉ khuấy động, làm mưa làm gió trên “mặt trận hậu phương” tại Mỹ, cô ta còn tới đất địch, sang tận Hà-nội để công khai ủng hộ đối phương, chống lại tổ quốc, đâm vào cạnh sườn những người lính Mỹ đang chiến đấu tại Việt Nam.

Fonda không chỉ kêu gọi hoà bình, hay phất cờ “giải phóng”, hay rước ảnh “Uncle Hô” trên đường phố Washington D.C.. Ngày 21.11.1970, cô ta tới Trường Đại Học Michigan để nói với 2,000 sinh viên tại đây như sau: “Nếu các bạn hiểu chủ nghĩa cộng sản là gì, các bạn sẽ hy vọng, các bạn sẽ quỳ gối cầu nguyện để một ngày nào đó chúng ta sẽ trở thành con người cộng sản” (If you understood what communism was, you would hope, you would pray on your knees that we would some day become communist). Sau đó, tại Trường Đại Học Duke ở North Carolina, cô ta lặp lại những điều đã nói ở Michgan, và thêm: “Tôi, một người theo chủ nghĩa xã hội, nghĩ rằng chúng ta nên cố gắng tiến tới một xã hội xã-hội chủ-nghĩa, trên đường tiến tới chủ nghĩa cộng sản.”

Với đầu óc như vậy, dù đang là một triệu phú nhờ đóng phim nhục thể và kinh doanh tại California, Fonda đã sang Hà-nội vào tháng 7 năm 1972 để công khai đứng vào hàng ngũ với các đồng chí tại Việt Nam. Trong dịp này Fonda đã chụp một tấm ảnh “lịch sử”, “hồ hởi” cười toe toét bên cạnh các binh lính CS Bắc Việt và khẩu cao xạ phòng không hướng lên trời sẵn sàng bắn hạ phi cơ Mỹ. Với tấm hình này, Fonda đã trở thành “hoàng hậu” của phong trào phản chiến tại Mỹ, và cũng bị giới quân nhân Mỹ gọi là kẻ phản quốc, là “Hanoi Jane”. Nhưng chưa hết, cũng trong chuyến sang Bắc Việt nói trên, Fonda đã ghi âm những bài phát thanh để CS Hà-nội dùng làm vũ khí tuyên truyền nhắm vào quân nhân Mỹ, trong đó có những đoạn như sau:

“Tôi muốn công khai buộc tội Nixon là một tên Hitler loại mới với những tội ác đang bị phanh phui. Tôi muốn công khai tố cáo rằng trong khi gây ra cuộc chiến tranh xâm lược tại Việt Nam, hắn đã phản bội tất cả mọi điều nhân dân Mỹ yêu chuộng. Thảm kịch là của Hoa Kỳ chứ không phải của nhân dân Việt Nam, vì nhân dân Việt Nam sẽ sớm thu hồi độc lập và tự do…”

Và: “Với những quân nhân Mỹ đang phục vụ trên các hàng không mẫu hạm tại vùng Vịnh Bắc Việt, những người gắn bom vào các phi cơ nên biết rằng những vũ khí ấy là bất hợp pháp. Và việc sử dụng những quả bom ấy hay dung túng việc dùng những quả bom ấy, là phạm tội ác chiến tranh.”

Và: “Tôi hiểu vì sao người Việt Nam chiến đấu chống lại cuộc xâm lấn của người da trắng kỳ thị. Tôi biết những điều đế quốc Hoa Kỳ đã làm trên đất nước chúng tôi cho nên tôi biết cái gì đang nằm trong kho để đưa tới bất cứ quốc gia nào trong thế giới thứ ba có thể mang sự bất hạnh là rơi vào tay một nước như Hoa kỳ và trở thành một thuộc địa…”

Vì những hành động phản quốc trắng trợn như trên mà Jane Fonda đã bị một số tù binh Mỹ đang bị giam tại Bắc Việt lúc ấy từ chối gặp mặt dù bị VC đánh đập dã man, trong đó có Trung tá John McCain. Theo Ông McCain, chỉ có chừng 8 tù binh Mỹ bằng lòng gặp Fonda và những người trong phái đoàn phản chiến của cô ta như Ramsey Clark, Tom Hayden giúp VC dùng để lừa bịp dư luận quốc tế.

Sau khi Chiến tranh Việt Nam chấm dứt, với hàng triệu “thuyền nhân” chạy trốn hoà bình và những trại tù cải tạo trên khắp nước Việt Nam, một số khuôn mặt “phản chiến” trước kia đã tỉnh ngộ, nhưng Jane Fonda thì không.

Đôi lần Fonda có lên tiếng “cáo lỗi” nhưng chỉ là những lời “chung chung” mà giới cựu quân nhân Mỹ cho rằng “chưa đủ”. Năm 1988, nhân một cuộc phỏng vấn của Barbara Walter trong Chương trình 20/20, Fonda đã chỉ “cáo lỗi” (apologize) với những người đã bị tổn thương vì những hành động “không suy nghĩ” (thoughtless) và “bất cẩn” (careless) của cô ta lúc tuổi trẻ. Năm 1999, Jane Fonda được tạp chí Ladies Homes Journal “bình bầu” là một trong “100 Phụ nữ của Thế kỷ” (100 Women of the Century), và trước làn sóng phản đối của công luận, đặc biệt là giới cựu quân nhân, “Hanoi Jane” cũng chỉ lặp lại lời “cáo lỗi” trống rỗng như trên về tấm ảnh “lịch sử” mà cô ta nói là “một việc kinh khủng nhất tôi đã có thể làm” (It was the most horrible thing I could possibly have done), và không nhắc gì đến những hành động phản quốc khác, như những bài tuyên truyền cho cộng sản, những cuộc tiếp xúc với tù binh Mỹ để CSBV dùng lừa bịp thế giới…

Năm 2005, Jane Fonda xuất bản cuốn hồi ký “My Life So Far” và đi vòng nước Mỹ để ra mắt, quảng cáo, ký tên, bán sách. Tại Kansas City, một cựu chiến binh tên Michael Smith đã xếp hàng chờ trong 90 phút để phun nước thuốc lá nhai trong miệng vào mặt “Hanoi Jane”.

Nếu một ngày đẹp trời nào đó, Jane Fonda được TT Obama “vinh danh”, người ta sẽ lại được chứng kiến cựu chiến binh Mỹ hỏi tội bà ta (nay 73 tuổi) nặng nề hơn.

So với những hành động của Jane Fonda trong thời Chiến tranh Việt Nam, Thiền sư Nhất Hạnh cũng có những điểm tương đồng để đáng được gọi là một kẻ phản bội không sám hối dù có những cái khác nhau: Fonda nhỏ hơn Nhất Hạnh 11 tuổi và lập nghiệp bằng nghề đóng phim nhục cảm ở Hollywood, còn Nhất Hạnh thì chọn cửa Phật làm con đường tiến thân.

Nhờ khoác áo cà-sa và sống ở miền Nam Việt Nam, Sư Thích Nhất Hạnh được miễn dịch ở nhà tu học, trong lúc những thanh niên đồng trang lứa hàng hàng lớp lớp tòng quân lên đường bảo vệ non song, chống lại cuộc xâm lăng từ miền Bắc, có người đã nằm xuống, có người đã trở thành thương phế binh.

Sau khi tốt nghiệp Đại Học Văn Khoa Sài-Gòn, Nhất Hạnh được học bổng sang Mỹ du học. Năm 1964, ông trở về Việt Nam, dạy tại Đại Học Vạn Hạnh một thời gian rồi lại xuất ngoại năm 1966 trong lúc Chiến tranh Việt Nam leo thang ác liệt. Là một người có học và trưởng thành tại miền Nam VN, Nhà sư Nhất Hạnh phải biết nguồn gốc của cuộc chiến tranh ấy và thực trạng đất nước cùng những khổ đau và khát vọng của dân tộc Việt Nam.

Thế nhưng, không biết do những móc nối từ trong nước hay tiêm nhiễm tư tưởng phản chiến tại các trường đại học bên Mỹ, Ông Nhất Hạnh bắt đầu viết sách, viết báo, rao giảng những luận điệu không khác gì Jane Fonda. Cũng đổ tội Mỹ xâm lược Việt Nam và phạm nhiều tội ác, cũng vu cáo chế độ VNCH hiếu chiến, và khen “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam” yêu nước và yêu hoà bình. Nhờ chiếc áo cà-sa, nhờ nói và viết tiếng Anh trôi chảy, Ông Nhất Hạnh đã đâm những nhát dao hiểm độc vào quân dân miền Nam Việt Nam, vào chế độ đã ưu đãi, đã nâng đỡ ông để có ngày hôm nay.

Không chỉ diễn thuyết, viết báo, viết sách tại Mỹ để chống Mỹ và chống VNCH, ngày 2.6.1966, Ông Nhất Hạnh còn ra trước Quốc Hội Hoa Kỳ điều trần, nói rằng Mỹ và chế độ VNCH tay sai của Mỹ là nguyên nhân gây ra chiến tranh và những thảm họa tại Việt Nam, và rằng Mỹ đừng can thiệp vào VN nữa thì đất nước xa xôi ấy sẽ có hòa bình.

Khi “hoà bình” đã có tại Việt Nam với chiến xa Liên-Sô tiến vào Dinh Độc Lập ở Sài-Gòn, với hàng triệu người bỏ nước ra đi tị nạn, hàng trăm ngàn người khác bị đày ải trong các trại cải tạo, tôn giáo bị đàn áp, trong đó có Phật giáo, thì Thiền sư Nhất Hạnh không một lời phản đối, lập ra Làng Hồng, rồi đổi ra Làng Mai, ở Pháp và vẫn tiếp tục rao giảng hoà bình theo kiểu cộng sản, và kết tội “đế quốc Mỹ”.

Ngày 11.9.2001, khủng bố Hồi giáo tấn công nước Mỹ, chỉ hai tuần sau, Ông Nhất Hạnh được các nhóm thiên tả ở Mỹ đưa sang New York để rao giảng hoà bình. Tại một nơi chỉ cách “ground zero” vài khu phố, nơi thân xác gần 3,000 người vô tội bị chôn vùi cùng với tất cả những gì của hai toà nhà chọc trời Trung tâm Mậu Dịch Thế Giới sụp đổ còn âm ỉ cháy, Ông Thích Nhất Hạnh đã lên tiếng tố cáo tội ác của người Mỹ, trong đó có câu chuyện về vụ được gọi là “phi cơ Mỹ bỏ bom hủy diệt thành phố Bến Tre với 300,000 thường dân” trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân 1968. Bài rao giảng này cũng được thuê đăng với giá quảng cáo 50,000 Mỹ kim trên tờ New York Times.

Bài rao giảng này cùng với câu chuyện bịa đặt trắng trợn đã gặp phản ứng mạnh tại những cộng đồng người Việt ở Mỹ khiến Nhóm Giao Điểm phải in một cuốn sách để bênh vực thầy, cuốn “Bản Chất Các Phản Ứng về Bài Giảng của H.T. Nhất Hạnh”, nhưng chỉ làm nổi rõ vai trò của Ông Nhất Hạnh trong các nhóm khuynh tả ở phương tây. Trong bài “Vạch Trần âm Mưu Đánh Phá Phật Giáo ở Nam Cali”, Ông Trần Chung Ngọc viết: “Khi đó Thầy Nhất Hạnh ở đâu? Thầy ở ngoại quốc vì chính quyền miền Nam không cho Thầy về nước từ 1966. Thầy không thể là nhân chứng trong vụ bỏ bom Bến Tre. Vậy Thầy nghe tin vụ Bến Tre ở đâu, chắc chắn phải ở ngoại quốc. Nếu nguồn tin này sai thì đó có phải là lỗi của Thầy hay không?”

Vào thời điểm 2001 thì “vụ bỏ bom Bến Tre” xảy ra đã trên 30 năm mà chưa đủ để Thầy Nhất Hạnh, một người rất thông thái, lại có thừa phương tiện để kiểm chứng và biết sự thật về tin ấy, trước khi rao giảng và công khai kết tội nước Mỹ trước thế giới?

Nhưng cũng trong tập sách ấy, một người khác, Ông Hoàng Nguyên Nhuận, lại cam kết: “Chuyện phải san bằng Bến Tre thành bình địa để cứu Bến Tre trong Tết Mậu Thân là chuyện có thật.” Vì nó do “một thiếu tá Mỹ” nói ra và do Phóng viên Peter Arnett của AP “độc quyền khui ra”.

Chuyện ném bom san bằng cả một thành phố với 300,000 dân cư mà không ai hay biết, phải nhờ một thiếu tá Mỹ “tiết lộ” để Phóng viên Peter Arnett “độc quyền khui ra” với Nhà sư Nhất Hạnh! Còn Peter Arnett thì ai theo dõi báo chí đều biết là một nhà báo thiên tả nổi tiếng trong thời Chiến tranh Việt Nam chuyên bịa đặt những tin có hại cho quân đội Mỹ, về sau đã cấu kết với một số người khác dựng đứng ra câu chuyện “Thung Lũng Tử Thần” trên CNN, vu cáo Biệt kích Mỹ dùng hơi độc giết tù binh tại Nam Lào. Trước phản ứng mạnh của quân đội Mỹ với những bằng chứng hiển nhiên, CNN đã phải hủy bỏ bộ phim “tài liệu” láo khoét, cáo lỗi với quân đội Mỹ và sa thải các thủ phạm, trong đó có Peter Arnett.

Tới đây có lẽ không cần phải nói về liên hệ giữa Peter Arnett và Nhất Hạnh, cũng như về giá trị những tin tức do hai người này đưa ra. Nhưng Thiền sư Nhất Hạnh thì không bao giờ nói một lời “cáo lỗi” nào về sự phản bội của ông và về những tin tức bịa đặt do ông tung ra.

Trái lại, như để khẳng định lập trường thiên tả của mình, cuối năm 2005 Thiền sư Nhất Hạnh đã dẫn 100 tăng sinh từ Làng Mai về Việt Nam và được nhà nước cộng sản đón tiếp rình rang, với tán vàng che đầu, với hoa thơm rải trên lối đi, và ông đã tới nhiêu nơi để lập trai đàn, cầu siêu giải oan cho những linh hồn chưa siêu thoát trong chiến tranh, đồng thời lập ra Tu viện Bát Nhã ở Lâm Đồng để cho các tăng sinh từ hải ngoại về tu tập. Nay thì dường như Tu viện Bát Nhã đã bị bọn “xã hội đen” đột nhập cướp phá, và các tăng sinh phải bỏ của chạy lấy người.

Tin mới nhất về Thiền sư Nhất Hạnh là ngày 1.3.2011 vừa qua ông đã được ban biên tập của Nhà Xuất Bản Watkins Books ở London chọn vào danh sách “100 nhân vật đương thời còn sống và có ảnh hưởng về tâm linh lớn nhất trên thế giới”, cũng như Jane Fonda đã được chọn là một trong “100 Phụ nữ của Thế kỷ”.

Ngày nào ông Obama “vinh danh” Jane Fonda thì đừng quên Thích Nhất Hạnh vì hai người có những cái giống nhau: gian dối và phản bội.

Sơn Tùng

4.6.2011

Nhân ngày Quân Lực 19 tháng Sáu: Nhớ đến Biệt Ðội Thiên Nga

Kính chuyển lên Quý vị, quý diễn đàn bài viết của Nữ Thiếu Tá CSQG Nguyễn thanh Thủy Biệt Đội Trưởng Thiên Nga.
Xin cám ơn chị, viết bài rất hay và rất xúc động.
Thưa chị, chúng tôi những người dân Miền Nam đời sống của chúng tôi được bảo vệ bởi những anh hùng .
Thành kính nghiêng mình trước những anh linh đã hy sinh cho Tổ quôc, cho người dân.
Chúng tôi biết chị, thấy tư cách của chị trong lao tù đày đọa. Chị vẫn luôn là NGƯỜI CHỊ của những người như tôi.
Bây giờ, tuy đã lớn tuổi, tuy cuộc sống còn vất vả chị vẫn xứng đáng là người chị, là cánh chim đầu đàn.
Không biết nói gì để tỏ lòng kính trọng, tôi chỉ biết cám ơn chị.


Nhân ngày Quân Lực 19 tháng Sáu: Nhớ đến Biệt Ðội Thiên Nga




Biệt Ðội Thiên Nga ra đời trong những năm cao điểm của cuộc chiến tranh bảo quốc của quân dân Miền Nam đối với bọn xâm lược Cộng Sản phương Bắc. Sau năm 1954, nền Ðệ Nhất Cộng Hòa đã được hình thành ở miền Nam Việt Nam, do đó lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia cũng được củng cố lại để lo an ninh quốc gia và bảo vệ mọi tầng lớp dân chúng. Thành phần nữ nhân viên trong lực lượng Cảnh Sát vẫn còn được sử dụng hạn chế trong các phần vụ như: văn phòng hành chánh, kiểm soát tài nguyên, cảnh sát an ninh phi cảng, hải cảng, cảnh sát ngoại kiều, tiếp tân, trại giam, giáo dục v.v... Những nữ nhân viên này dược tuyển dụng tùy theo nhu cầu công tác, theo từng giai đoạn, chớ chưa có một trường lớp chánh qui nào, v.v.


Mãi cho đến cuối năm 1965, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa mới mở một Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia, nhận thi tuyển cả nam và nữ sinh viên sĩ quan Cảnh Sát. Ðiều kiện tối thiểu về trình độ học vấn là có bằng cấp Tú Tài I trở lên. Sau khi tốt nghiệp, các nữ sĩ quan Cảnh Sát được phân phối về Tổng Nha Cảnh Sát, Khối Ðặc Biệt và một số ít được phân phối về các Nha, Tỉnh thuộc bốn vùng chiến thuật của miền Nam Việt Nam.

Sau hai lần đẩy lui các cuộc tổng tấn công của Việt Cộng vào miền Nam Việt Nam trong Tết Mậu Thân và Tháng Năm 1968, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cần tăng cường lực lượng cảnh sát trong việc bảo vệ an ninh đất nước, ngăn chận Việt Cộng xâm nhập miền Nam Việt Nam bằng đường bộ cũng như đường thủy. Vai trò cảnh sát được đặt nặng và quan trọng hơn, đặc biệt là sự cần thiết để có một tổ chức toàn những nữ cảnh sát để hoạt động trong công tác tình báo, hoạt động riêng rẽ hay phối hợp với các công tác của nam cảnh sát đang hoạt động.

Tháng Tám 1968, do một Sự Vụ Văn Thư của Bộ Tư lệnh Cảnh Sát Quốc Gia, quyết định thành lập một tổ chức toàn là nữ nhân viên, có tên gọi là “Biệt Ðội Thiên Nga”, trực thuộc Khối Ðặc Biệt thuộc Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia, hoạt động độc lập, song song với các tổ chức đã được thành lập trước đó. Nhiệm vụ của Biệt Ðội Thiên Nga là sưu tầm, phân tích tin tức, tổ chức xâm nhập và phá vỡ các tổ chức, các hạ tầng cơ sở của Việt Cộng tại thủ đô Sài Gòn cũng như tại các tỉnh địa phương trên toàn miền Nam Việt Nam.

Công việc khởi đầu gặp rất nhiều khó khăn, từ vấn đề tuyển mộ, đào tạo nhân viên... cho đến các công tác tìm đầu mối, xây dựng cơ sở, giám thị, v.v.

Biệt Ðội Thiên Nga Trung Ương có văn phòng tại Khối Ðặc Biệt, Biệt Ðội Thiên Nga Thủ Ðô và 11 quận có văn phòng tại Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Thủ Ðô và tại Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quận Ðô thành, Biệt Ðội Thiên Nga Vùng I, II, III, IV và tại các tỉnh trên toàn quốc từ Quảng Trị đến Cà Mau.

Biệt Ðội Thiên Nga Trung Ương có 4 ban:

- Ban Hành Chánh

- Ban Tổ Chức Phát Triển

- Ban Huấn Luyện

- Ban Hoạt Vụ

Nhiệm vụ của Thiên Nga Trung Ương là thành lập cơ sở văn phòng, tuyển mộ nhân viên, tổ chức huấn luyện, tìm đầu mối, phát triển công tác. Ðồng thời, Biệt Ðội Thiên Nga Trung Ương đôn đốc và hướng dẫn các Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia, thành lập Biệt Ðội Thiên Nga địa phương ở 11 quận Ðô Thành và tại các tỉnh.

Biệt Ðội Thiên Nga địa phương tuyển mộ nữ nhân viên gửi về Biệt Ðội Thiên Nga Trung Ương ở Sài gòn để đưa đi thụ huấn các khóa học tình báo tại trường Tình Báo Trung Ương. Các phụ nữ được tuyển mộ phải có ít nhất là văn bằng trung học đệ nhất cấp hoặc cao hơn, ngoại trừ các quả phụ của Cảnh Sát không đòi hỏi điều kiện văn bằng như trên, nhưng ít nhất phải có bằng tiểu học.

Các nữ nhân viên được tuyển lựa này gồm đủ mọi lứa tuổi, mọi thành phần khác nhau trong xã hội: có thể là người bán rau cải ở chợ, bán hàng rong, bán vé xe bus, nhân viên bưu điện, điện lực, thư ký văn phòng, học sinh sinh viên, cô giáo và vũ nữ, v.v. Các nữ nhân viên lần lượt được học qua các lớp tình báo căn bản (4 tuần), theo dõi (6 tuần), cán bộ điều khiển (8 tuần)... và đặc biệt là khóa tác xạ tại trường Tình Báo Trung Ương. Khóa sinh phải đủ điểm cho lớp trước mới có thể lên lớp kế tiếp. Trong thời gian thụ huấn, các khóa sinh phải ở nội trú và mang bí số. Việc giảng dạy do các giảng viên trường tình báo phụ trách, còn giám thị do các nhân viên Thiên Nga Trung Ương đảm nhận. Các khóa sinh sau khi thụ huấn chuyên môn trở về đơn vị tại các địa phương, nơi đã gửi đi học và bắt đầu nhận công tác do các ngành Ðặc Biệt phân nhiệm. Công tác trực thuộc sự hướng dẫn của phụ tá Ðặc Biệt địa phương và báo cáo thành quả công tác về Thiên Nga Trung Ương.

Tại Trung Ương, ngoài các lớp kể trên, các nữ nhân viên Thiên Nga còn theo học các lớp kỹ thuật như: nhiếp ảnh (chụp hình bí mật), học lái xe gắn máy và xe hơi, một số được học thêm các lớp thẩm vấn. Biệt Ðội Trưởng, Phụ Tá Biệt Ðội Trưởng Thiên Nga Trung Ương và các Cán Bộ Ðiều Khiển đều là các nữ sĩ quan Cảnh Sát tốt nghiệp khóa I Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia. Riêng Biệt Ðội Trưởng và Phụ Tá đã tốt nghiệp thêm khóa Trưởng Phòng Ðặc Biệt tại trường Tình báo Trung Ương vào các năm 1968-1969.

Ngoài các nữ sĩ quan và nhân viên Cảnh Sát chính thức, Biệt Ðội Thiên Nga còn sử dụng một số rất đông nữ hồi chánh viên, nữ can phạm chính trị, các công nhân hãng xưởng, nhân viên các cơ quan chính phủ (ngoài cơ quan Cảnh Sát), các bạn hàng chợ, các sinh viên trường trung học và đại học... để làm mật báo viên cho Biệt Ðội. Số cộng tác viên cộng tác nhiều gấp rất nhiều lần số nhân viên chính thức.

Các nhân viên Trung Ương đi công tác hoạt vụ đều có học khóa chuyên môn tình báo để được hướng dẫn rõ ràng chi tiết công tác họ phải đảm nhận cũng như cách thức bảo vệ an ninh tối đa cho họ. Các nữ nhân viên hoạt vụ đều có bí số và bí danh. Tùy vào công tác, họ được tạo cho một ngụy tích với tất cả giấy tờ tùy thân và lý lịch mới.

Nhằm đáp ứng nhu cầu bảo mật công tác, Biệt Ðội Thiên Nga Trung Ương có những kiosque buôn bán lẻ, có điện thoại công cộng để làm nơi liên lạc (hộp thư sống và chết) v.v... và một nhà an toàn làm nơi tiếp xúc với tình báo viên, mật báo viên, nhất là các tình báo viên từ mật khu về.

Vì là Biệt Ðội Tình Báo nữ mang tên loài chim Thiên Nga, nên mỗi kế hoạch công tác đều có ám danh của một loài chim khác như Sơn Ca, Họa Mi, Hải Âu, Hoàng Oanh, Hoàng Yến, v.v. Còn các công tác phối hợp với các cơ quan bạn thì dùng ám danh của sông núi như Trùng Dương, Trường Sơn, v.v. Do sự thay đổi cơ cấu của Khối Ðặc Biệt và để thích ứng với tình hình chính trị phức tạp nên cuối năm 1972, Biệt Ðội Thiên Nga mang ám danh mới Ðoàn Ðặc Nhiệm G4231g để bảo mật hoạt động.

Song song với việc xây dựng tổ chức, đào tạo nhân viên, Biệt Ðội Thiên Nga Trung Ương luôn nỗ lực tìm đầu mối, lập kế hoạch công tác, tìm cách xâm nhập, len lỏi vào các hội đoàn Phụ nữ Việt Nam, hội đoàn bạn hàng các chợ, Hội Phụ Nữ Ðòi Quyền Sống, các lực lượng đấu tranh thuộc thành phần thứ ba, các thành phần tôn giáo khuynh tả có Việt Cộng sách động, các tổ chức sinh viên học sinh đấu tranh thân Cộng Sản để kịp thời ngăn chặn những tên Việt Cộng nằm vùng, triệt phá những âm mưu có nguy hại cho an ninh quốc gia. Không những thế, Biệt Ðội Thiên Nga còn xâm nhập vào tận mật khu của Việt Cộng để thu thập tin tức tình báo góp phần tiêu diệt các cơ sở đầu não của Cộng Sản.

Nhìn lại quá trình công tác của các nữ nhân viên Thiên Nga, phải thừa nhận rằng công việc của họ rất nguy hiểm, tánh mạng lúc nào cũng bị đe dọa. Qua các tài liệu tịch thu được của Việt Cộng, sau những thất bại nặng nề, chúng rất đề cao cảnh giác “nữ Thiên Nga”. Việt Cộng luôn tìm cách để bắt cóc, đụng xe gây án mạng hay ám sát những ai chúng nghi ngờ là nhân viên Thiên Nga. Còn các nhân viên Thiên Nga len lỏi vào các hội đoàn, tham dự các cuộc biểu tình, tuyệt thực, chống đối nên cũng phải chịu “hưởng” hơi cay, dùi cui của Cảnh Sát. Các chị em Thiên Nga còn phải hy sinh những tình cảm riêng tư, thời gian dành cho gia đình, vượt qua nhiều khó khăn trở ngại để làm tròn bổn phận công dân yêu nước đấu tranh cho lý tưởng tự do.

Thật khó có thể ghi lại hết những chiến công thầm lặng của các nữ chiến sĩ tình báo Thiên Nga, tuy vậy những công tác sau đây là vài ví dụ điển hình về các hoạt động của Biệt Ðội Thiên Nga.

Một trong các công tác mà Việt Cộng vẫn còn tức tối là việc cung cấp lương thực thực phẩm cho phái đoàn Quân Sự Bốn Bên vào họp tại trại David, Tân Sơn Nhất Sài Gòn. Mặc dù chúng nghi ngờ nên chúng đề nghị để tự chúng chọn nhà thầu cung cấp thực phẩm cho hai phái đoàn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (tức Cộng Sản Bắc Việt) và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, nhưng cuối cùng nhà thầu chúng chọn lại là của Biệt Ðội Thiên Nga. Công tác này mang ám danh là Trùng Dương, hoạt động cho đến ngày cuối cùng 28 Tháng Tư 1975.

- Công tác mang ám danh là Hải Âu đã cài được một nhân viên Thiên Nga vào Hội đoàn phụ nữ đối lập và tạo được niềm tin nên được Việt Cộng chọn đi học lớp tình báo và hoạt động chung với chúng.

- Công tác len lỏi vào Hội Phụ nữ Ðòi Quyền Sống, hoạt động chung với một cán bộ nằm vùng. Mãi đến sau 1975, tên nữ cán bộ mới biết người thư ký của Ban Xã hội là nhân viên Thiên Nga. Lúc ấy, tên nữ cán bộ là Ðại úy Công an tức tối đề nghị gia tăng 6 tháng tù trong khi chị nhân viên Thiên Nga đã có giấy ra trại. Công tác này mang ám danh Họa Mi.

- Trong 5 năm liền, một nữ Huyện ủy viên của Việt Cộng đã hợp tác với Biệt Ðội Thiên Nga. Sau 30 Tháng Tư 1975, chị vẫn giữ chức Huyện ủy của một Huyện gần Saigon. Cho đến sáu tháng sau đó, Việt Cộng mới truy ra được từ hồ sơ còn sót lại ở địa phương, nên đã khai trừ chị khỏi Ðảng Cộng Sản và giam chị ở Chí Hòa. Chị đã may mắn không bị chúng xử tử hình. Sau tôi gặp lại chị tại trại Hàm Tân, chị mới vỡ lẽ tôi -người tên Năm tiếp xúc với chị năm xưa- là Thiếu Tá Biệt Ðội Trưởng Thiên Nga. Công tác này được mang tên Hoàng Oanh.

Các công tác, hoạt động của Thiên Nga càng thành công tốt đẹp bao nhiêu thì Việt Cộng càng tức tối lên án, càng đề cao cảnh giác với nhân viên Thiên Nga. Do đó những bản án không xét xử trả thù hèn hạ dành cho các nữ nhân viên Thiên Nga của Cộng Sản là từ 3 năm đến 13 năm trong các trại tù cải tạo. Tuy vậy các chị em nhân viên của Thiên Nga vẫn hãnh diện, giữ vững nhân cách, lập trường, vượt qua những gian lao của năm tháng tù đày.

Tôi rất xúc động khi phải nhắc lại quá khứ của Biệt Ðội Thiên Nga, với những anh thư đã đem hết những hăng say, nhiệt tình, tinh thần chống Cộng mãnh liệt của tuổi trẻ, hiến dâng để bảo vệ đất nước miền Nam Việt Nam. Tôi rất hãnh diện về Biệt Ðội Thiên Nga, các nữ nhân viên từ Hạ Sĩ Quan cho đến Sĩ Quan, cùng các cộng tác viên đã giữ trọn khí tiết trong lúc sống khổ sở trong lao tù hay trong sự kèm kẹp của chế độ Cộng Sản ngoài xã hội, sau khi được thả về.

Tôi mong ước một ngày gần đây, những nữ Thiên Nga hải ngoại sẽ gặp lại các bạn Thiên Nga còn ở lại Việt Nam, tay bắt mặt mừng trong niềm vui thấy đất nước thật sự có tự do dân chủ.

Tôi viết bài này, cũng mong quý bạn có cái nhìn rõ hơn về người Cảnh Sát Quốc Gia, trong đó có những nữ Cảnh Sát, những chị bán hàng, những anh chị em sinh viên... đã có một thời hiến dâng xương máu cho đất nước.

Cuối cùng, xin được thắp nén hương cho những Thiên Nga đã hy sinh trước và sau ngày 30 Tháng Tư 1975 trên khắp mọi nẻo đường Việt Nam.

Nguyễn Thanh Thủy
Cựu Biệt Ðội Trưởng Thiên Nga
(Khối Ðặc Biệt - Bộ Tư Lệnh CSQG)

Những bó hoa khó ngửi

Cánh Cò - Cám ơn ông Phó vì hành động của ông đã mài dũa tình yêu tổ quốc của chúng tôi trở nên sắc bén hơn. Đó là phản xạ tự nhiên khi bị phản bội. Bởi, chúng tôi thấy, rất rõ, kẻ thù nhiều lắm, đang đứng trong sân nhà mình!

(Chinhphu.vn) - Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải vừa giao UBND TP. Hà Nội chỉ đạo các cơ quan liên quan của thành phố hoàn tất thủ tục về đất đai để Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam sớm triển khai Dự án tổng thể xây dựng Cung hữu nghị Việt - Trung tại xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam tiếp thu ý kiến của Bộ Kế hoạch và Đầu tư để hoàn thiện, phê duyệt Dự án tổng thể xây dựng Cung hữu nghị Việt - Trung theo quy định.

Được biết, dự án Cung hữu nghị Việt-Trung do Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam chủ trì xây dựng.

Dự án có tổng diện tích xây dựng khoảng 14.000 m2 với 2 tầng trên mặt đất và 1 tầng ngầm, gồm hội trường 1.500 chỗ, phòng họp, phòng đa chức năng, phòng làm việc, phòng khám chữa bệnh Trung y…

Tôi copy trọn vẹn bản tin này vì không thể biên tập lại do vừa xúc động, vừa khinh bỉ, và cả đau đớn làm cho tay tôi run lẩy bẩy, không đủ sức kềm chế. Cũng may bản tin rất ngắn.

Tuy chỉ 170 chữ nhưng bản tin từ văn phòng chính phủ này có sức mạnh làm cho bão tố cuồng phong nổi lên trong lòng những ai còn chút lương tâm dành cho xứ sở. Nó cũng có khả năng làm cho những ai đang nóng lòng vì vận nước có thể đứng lên xé toạc ngực ra mà chỉ cho người ta thấy hết nỗi uất ức trong lòng mình.

Sau nhiều ngày im lặng, Bộ chính trị đã có động thái nếu ví von mà nói là ẩn dụ với người dân. Tuy không chính thức và cả chính danh nhưng chúng tôi vẫn hiểu, và cảm nhận được nỗi cay đắng đang trào lên nghẹn cả những lời muốn nói. Vậy là đã rõ, quý vị đầu não trong chính phủ đã quyết định dùng tài vật như một hình thức hối lộ cho Bắc triều sau sự cố Bình Minh 02. Phía sau hậu trường bên kia đã lác đác xuất hiện những cái cười mỉm. Những bộ móng tay cáu bẩn của một thời phong kiến chợt hiện ra len lén vén tấm màn biên giới nhìn về phương Nam, nơi mà lũ chúng tôi khác gì bọn man di đang phùng mang trợn má để bàn chuyện đối phó với Thiên triều!

Ông Phó thủ tướng không cần thiết phải hớt hơ hớt hải ra lệnh cho Hà Nội nhanh chóng xây cho xong cái cung “Hữu nghị”, vì có xây nhanh hay chậm gì thì bà Khương Du cũng đâu bớt xỉa xói, tru tréo biển Đông là ao nhà của Trung Quốc!

Chúng tôi có cảm giác ông lo xây cái cung Hữu nghị này để cho mấy chiếc hải giám bớt lộng hành. Xây cho Thiên triều yên tâm và đây là thông điệp thay thế cho Bắc kinh gửi tới đám vọng động đừng mơ tưởng gì tới chuyện chống lại Bắc phương. Xưa, nay gì thì cũng đều có Lê Chiêu Thống cả!


Phó thái thú và tể tướng thiên triều

Hữu nghị! Sao mà ngài Phó thủ tướng thơ ngây quá vậy? Ông không có chút khái niệm gì về ngôn ngữ hay sao vì người ta chỉ nói hữu nghị khi tình cảm hai chiều khắng khít. Đàng này ông yêu đơn phương, ông yêu mù quáng và thậm chí có thể ví tình yêu của ông đã trở nên bệnh hoạn từ lúc nào rồi. Ông xúm xít xây nhà Hữu nghị để đánh đổi cái gì vậy? Ông biết quá rõ bây giờ đã muộn. Tay đã nhúng chàm rồi, gạo đã thành cơm rồi. Dân ông bị đòn, nhà ông bị đốt mà ông còn kêu gào hữu nghị thì thật tình chúng tôi không biết thần kinh của ông có ổn định hay không?

Nếu còn chút giật mình xin ông hiểu cho rằng hai từ hữu nghị này chỉ đáng quăng vào sọt rác, hà cớ gì mà ông còn ra lệnh cho thuộc hạ làm điều bất chính với tổ tiên?

Chưa đầy một tuần lễ, khi lòng dân chưa kịp sôi lên từ vụ Bình Minh thì chính gáo nước lạnh “Hữu nghị” này làm cho họ uất thêm. Ông Phó Thủ tướng đừng tưởng rằng bọn trí thức chỉ có ngòi viết không làm gì được ông và nhóm lợi ích của ông. Ông vừa phạm một sai lầm rất lớn có thể làm cho đất nước này hỗn loạn, đó là tội tập trung sự bất mãn của dân chúng vào một giỏ.

Cái giỏ mang tên Cung Hữu Nghị Việt Trung mà trong vai trò của Phó Thủ tướng, ông Hoàng Trung Hải đã giật giây cho cả nước nổi loạn!

Xin cám ơn ông Phó. Ông đã giúp chúng tôi sáng mắt sáng lòng một lần nữa khi cứ tin theo mấy ngài cán bộ về hưu tụng ca yêu nước và khuyên chúng tôi theo chân nhà nước nỗ lực tập hợp lòng dân.

Xin cám ơn ông Phó đã cho chúng tôi thấy đừng liều lĩnh chứng tỏ sự yêu nước công khai vì các ông không ngại ngùng gì mà không giao nộp chúng tôi để đổi lấy sự yên ắng dù chỉ vài tuần, hay thậm chí chỉ vài ngày trong cơn dầu sôi lửa bỏng này.

Chúng tôi cám ơn ông Phó đã đưa ra phép thử này khá sớm để chúng tôi còn biết lối nào dành riêng cho mình và tỉnh táo để tránh xa các ông, những kẻ đang cầm quân tay phải nhưng cầm dao tay trái sẵn sàng loại bỏ kẻ nào yêu nước mà không yêu những điều mà ông yêu.

Chúng tôi cám ơn ông Phó đã giải bài toán về sự im lặng khó hiểu của các ông trong bao nhiêu ngày qua. Ông Phó đã xuất hiện đúng lúc và rất ấn tượng với vật phẩm triều cống mang tên Cung Hữu Nghị Việt Trung trên tay. Hữu nghị bằng tài sản của chúng tôi. Hữu nghị bằng đất đai thấm máu của tổ tiên chúng tôi. Dĩ nhiên không phải của các ông nữa rồi vì các ông đã từ chối quốc tịch Hùng Vương kể từ khi yêu thương đắm đuối người tình mang dòng máu quá nhiều phản trắc.

Cám ơn ông Phó vì hành động của ông đã mài dũa tình yêu tổ quốc của chúng tôi trở nên sắc bén hơn. Đó là phản xạ tự nhiên khi bị phản bội. Bởi, chúng tôi thấy, rất rõ, kẻ thù nhiều lắm, đang đứng trong sân nhà mình!

Cánh Cò - http://www.rfavietnam.com/node/636

gửi Dân Làm Báo

Khúc Ruột Ngàn Dặm Bị Bỏ Quên

Những Việt kiều ăn xin trên vùng Biển Hồ Tonlé Sap

Khúc Ruột Ngàn Dặm Bị Bỏ Quên


Khái niệm của một Việt Kiều sống ở nước ngoài không phải là một tổng thể thuần nhất mà nó rất phức tạp và tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố. Những khác biệt, địa lý, kinh tế, tài chánh, văn hoá, tình trạng hội nhập đã tạo nên nét đặc thù riêng của từng nhóm Việt Kiều của từng quốc gia, từng nơi chốn mà họ chọn định cư. Giai đoạn họ đi ra khỏi nước cũng làm nên sự khác biệt nàỵ. Thí dụ người đi khoảng thời gian trước 1975, khác với người đi sau. Người đi vào năm 1975 khác với thuyền nhân hay đường bộ và không giống những người đi theo diện HO hay đoàn tụ gia đình. Cái khác biệt nhất là tình trạng sống và mức sống kinh tế của họ.

Cũng là người Việt mà Việt Kiều ở Úc, ở Mỹ, Âu châu, Đông Âu hay Đài Loan lại hoàn toàn khác với một người Việt ở Campuchia. Ít nhất là vấn đề mức sống và như vậy khi nhìn về Việt Kiều, chúng ta cần có một cái nhìn đa diện cũng như một phong cách đối xử cho vừa công bằng vừa rõ ràng trên nhiều mặt kinh tế, xã hội, giáo dục.

Hôm nay tôi xin bàn tới những Việt kiều ở Campuchia. Dĩ nhiên những người này rất khác với những người ở phương Tây và thậm chí khác cả những người ở Đông nam Á như Hàn quốc, Đài Loan. Việt kiều ở Campuchia cũng có cái khác biệt rõ rệt giữa những người qua lâu đời từ trước năm 75 và người qua sau thời gian này. Nơi chốn định cư của họ ở đó, cũng khác như nguồn gốc của những người Việt đi từ Quảng Ninh, Mống Cái hay từ Sài Gòn hoặc miền Tây. Những người qua theo từng đợt, từng làng vì điều kiện kinh tế khác với những người phụ nữ tình nguyện hay bị bắt qua đó làm nô lệ tình dục, kể cả các em bé bị đưa sang vì tệ nạn ấu dâm.

Trong chuyến viếng thăm Đế Thiên, Đế Thích ở Campuchia, tôi tình cờ chứng kiến cuộc sống của một làng chài Việt Kiều ở vùng Biển Hồ. Nó đã gây cho tôi một ấn tượng sâu đậm và từ đáy lòng tôi đã dấy lên một câu hỏi khó lòng lý giải. Xin kể lại cho bạn đọc nghe và nếu có thể giải đáp dùm tôi.

Tôi bắt đầu chuyến du hành vào vùng Biển Hồ Tonlé Sap vào một ngày nóng oi nồng khủng khiếp. Tháng tư là tháng nóng nhất của Campuchia và người dân ở đây phần lớn sống nhờ vào những cơn mưa. Chúng tôi bắt đầu chuyến đi trên một con tàu có khoảng độ 30 người chạy chầm chậm giữa dòng sông dẫn vào vùng Biển Hồ rộng lớn. Tôi thấy một con chó mực bơi cùng vài đứa nhỏ hụp lặn tắm gần bờ trong dòng nước đục ngầu màu đất sét. Gió mát thổi mơn man, xem ra cả người và vật rất vui và hạnh phúc. Những người du khách trên các tàu khác dơ tay vẫy chào chúng tôi. Khu vực Biển Hồ là nơi nhiều cá nhất trên thế giới, trên đường đi tôi thấy những con cá lóc thật lớn, quẫy đạp trên sóng nước.

Người hướng dẫn viên đoàn du lịch đang nói thao thao bất tuyệt về lịch sử dòng Cửu Long và vùng Biển Hồ Tonlé Sap, ông ta bỗng dừng lại khi thấy tàu đi ngang những căn nhà sàn lụp xụp trên cao, hai bờ con sông dài dẫn vào vùng nước mênh mang. Anh chỉ và nói nơi đó là nhà cư dân vùng này, trong đó có cả người Campuchia và rất nhiều người Việt đã đến đây sinh sống từ lâu, đời này qua đời khác. Phần lớn người Việt đều là những người nhập cư lậu, không thẻ căn cước, khai sinh hay giấy tờ hợp pháp. Họ sinh sống bằng nghề đánh cá nhưng chính quyền quy định chỉ cho đánh 6 tháng, còn 6 tháng phải nghỉ để cho thủy sản sinh sôi nên đời sống kinh tế rất chật vật. Hơn nữa không giấy tờ tùy thân họ không thể lên bờ tìm việc làm thêm, do đó cuộc sống càng khó khăn thêm. Nhìn những căn nhà vá chùm vá đụp bằng tôn hay ván, không đồ đạc hay tài sản gì giá trị, cả đoàn du lịch ai cũng chợt dấy lên một nỗi bùi ngùi thương cảm.

Khi đóng thêm một khoản tiền ngoài quy định để tham quan vùng Biển Hồ này, tôi không ngờ mình lại được thấy một vùng đất sống đặc biệt trong hành trình di dân ra hải ngoại của dân tộc mình như vậy. Lúc tàu chúng tôi bắt đầu ra đến vùng Biển Hồ sóng nước thênh thang trông không thấy bờ, bác tài công tăng thêm vận tốc, tàu chạy nhanh hơn khiến nước dạt về hai bên mạn tàu. Bỗng tôi phát hiện có một, hai rồi ba, bốn con thuyền nhỏ đang chèo đuổi theo chúng tôi. Họ chạy song song cố ý để du khách thấy. Rồi chung quanh tôi xuất hiện thật nhiều con nít, tôi ngạc nhiên con nít ở đâu ra nhiều đến vậy? Tôi nghe được tiếng xin tiền vang lên từ dưới nước. Bác cho con tiền ăn cơm đi bác ơi. Cô ơi cô, cô cho tiền mua sữa nuôi con đi cô . Cho con một ngàn đi bà, cho con một đô đi anh.

Người đàn bà đen nhẻm trông lam lũ, vừa cho con bú, vừa chèo thuyền, vừa xin tiền. Một đứa nhỏ cỡ hai tuổi đen đúa ở truồng, nằm cong queo phơi bụng ngủ ngon lành trong lòng tàu, một bé gái khoảng ba bốn tuổi xoè bàn tay bé xíu xin tiền du khách. Trên chiếc ghe khác, có một phụ nữ nheo nhóc đội nón lá, tay chèo, tay bồng một bé trai khoảng 1 tuổi đang khóc oa oa. Bà với lấy một con rắn hay con trăn gì đó vòng quanh cổ đứa bé cho nó chơi. Con vật ngọ nguậy dưới bàn tay bóp chặt của thằng bé và thằng bé nín khóc. Cả tàu chúng tôi trố mắt nhìn cảnh tượng thằng bé bóp cổ con rắn còn sống như xem một trò ảo thuật. Bà mẹ bắt đầu cất tiếng xin tiền. Tôi không dám có ý kiến gì nhiều về việc họ trưng bày những em bé thơ ra trong những cảnh đói rách thương tâm để làm động lòng du khách. Nhưng nó thật sự đánh đòn tâm lý vào trái tim mềm yếu, vào sự xót thương đồng hương của chúng tôi. Chúng tôi bắt đầu móc bóp lấy tiền lẻ cho họ.

Tiếng nói người hướng dẫn đoàn vang lên như một lời giải thích đúng lúc. Đời sống văn hoá và dân trí người dân ở đây rất thấp, lại không có gì giải trí nên họ chỉ biết ăn, đánh cá và sinh con thôi. Những gia đình có số con trên 9, 10 đứa là chuyện thường. Chính phủ Campuchia có để tâm tới và cử những phái đoàn tới chiếu phim, giảng dạy và giáo dục họ phương pháp ngừa thai và hạn chế sinh đẻ. Bao cao su hay áo mưa được phát hôm trước, hôm sau họ phát giác ra các em nhỏ lấy làm bong bóng thổi chơi. Hỏi tại sao thì được cho biết người dân ở đây quan niệm giàu con chứ không cần giàu của, con cái là của trời cho, nên ngừa làm gì. Thừa hưởng một quan niệm trời sinh, trời nuôi của người bản xứ, đã đưa họ đến tình cảnh đông con, mà càng đông con thì càng nghèo đến nỗi nhà trơ, cửa trống, không tài sản, không đủ ăn. Các em gái lớn ở nhà nấu cơm và đan lưới, còn các em trai lớn theo cha đi đánh cá. Các em nhỏ hơn theo mẹ ăn xin hay tự bơi thuyền đi xin tiền du khách.

Bỗng người lái tàu giật mình chửi lớn khi thấy một em bé chèo chiếc thau nhôm đòi cặp vào tàu. Trời ơi chiếc thau quay vòng vòng mà em bé chèo thật hay. Động cơ máy tàu tạo thành dòng nước xoáy xô mạnh làm chiếc thau của em bé chao nhanh xém lật. Ai cũng giật mình kinh hãi cho em. Trông thật là tội nghiệp.

Câu chuyện được tiếp tục với câu chuyện ngôi trường nổi giữa bốn bề sóng nước. Anh Tour guide đến gần, nhờ tôi đi quyên tiền những người hảo tâm trên tàu để giúp trường học. Anh nói lát nữa chúng ta sẽ ghé vào một quán nước, gần một trường học nổi dựng nên do một số du khách nước ngoài và những nhà từ thiện đóng góp. Dân ở đây tắm giặt, ăn uống và sinh hoạt bằng nước Biển Hồ nên rất mất vệ sinh. Trẻ nhỏ thường ở trần, đi ăn xin, sống thiếu thốn, không được cha mẹ cho đi học nên mù chữ. Một số nhà hảo tâm đã tài trợ cất lên ngôi trường trên một nhà bè nổi. Các giáo viên làm việc tự nguyện, không lãnh lương, dạy miễn phí cho khoảng 300 em. Các em được phát cơm, và giảng dạy chữ quốc ngữ cùng vệ sinh, đức dục. Khi tàu ghé trường học, tôi thay mặt mọi người trao tất cả số tiền cho anh giáo viên khoảng 30 tuổi đang dạy các em. Anh ngỏ lời cảm ơn, nét mặt rất xúc động. Anh chỉ mấy nồi cơm rất to gần đấy bảo các em sắp đến giờ cơm. Tôi thấy các em có khuôn mặt đẹp, rất sáng, trắng và sạch hơn các em bé đã đi ăn xin khác. Khi tàu chúng tôi đi, các em giơ những bàn tay nhỏ xíu vẫy chào.

Chúng tôi rời tàu ra quán nước nổi để dùng giải khát. Lần này thì các em xin ăn tràn lên quán nước đến gần bàn chúng tôi ngồi để xin tiền. Mọi người lại cho và cho những gì có thể, đến khi không còn gì để cho nữa. Một em bé gái độ 6, 7 tuổi ốm tong teo xách nách một đứa em trai khoảng một tuổi còn xổ sữa mập mạp, trông còn to hơn cô chị, leo lên quán nước, trong khi bà mẹ thì ngồi dưới thuyền. Em lại chỗ tôi xin tiền, cùng một đám trẻ con. Tôi đem cho các em những đồng tiền Campuchia cuối còn lại. Các em tranh giành nhau lấy tiền. Vì mắc bồng em nên em gái bị giật mất tiền. Em gái ẵm em chợt khóc oà. Em tôi ngó thấy vội trao lon sữa đậu nành của cô cho em. Em trở về con thuyền với bà mẹ, đặt đứa em xuống, lấy chai sữa không của thằng bé mở nắp và đổ sữa đậu nành vào, rồi ôm em trai vào lòng và cho em bú. Nghĩa cử của em bé gái làm ai cũng cảm động. Em được lon sữa không tự mình uống dù em ốm tong teo, mà đem cho đứa em còn thơ của mình uống, thể hiện lòng hy sinh của một người mẹ dù em còn tấm bé. Tình mẫu tử ẩn hiện đâu đó trong em như một đoá hoa không màu mè càng không phải là một màn kịch trình diễn che đậy để lấy nước mắt của người xem. Em bé Việt Nam ơi, tôi thấy em đẹp quá.

Quán nước nổi là giao điểm cuối của cuộc du hành. Tàu chúng tôi từ từ rời quán trở về bờ, để lại vùng Biển Hồ mênh mông những mảnh đời lênh đênh có cuộc sống đong đưa theo sóng nước. Trên đường về, đầu óc tôi cứ miên man những cảm nghĩ, những tư duy không dứt. Trong đầu tôi chật ních các câu hỏi, những hình ảnh của họ, những người Việt sống ở nước láng giềng Campuchia. Tôi nhớ lại những người tôi đã thấy ở Nam Vang, ở biên giới giữa hai nước. Phần lớn tình trạng kinh tế của họ rất kém và tệ hơn những người trong nước, kể cả việc họ có thể nói tiếng địa phương, sống nếp sống, học văn hoá của người bản xứ và có khả năng dùng cả hai ba thứ tiếng. Họ vẫn bị kỳ thị và ngày xưa còn bị cáp duồn tức chặt đầu. Họ làm những nghề nghiệp mưu sinh đa phần là hạ đẳng. Tôi gặp họ ở chợ bán xôi, bán bắp, trái cây, chè và quét rác. Tôi không rõ họ có nghèo khó, thiếu thốn, khổ sở vì lo toan hay đủ ăn, sống thoải mái sung sướng hay không? Trên phương diện luật pháp, họ là những người ở lậu không giấy tờ để được sinh hoạt như một người sở tại. Câu hỏi cần lý giải là tại sao họ không về lại Việt Nam? Cái gì để họ đánh đổi mà phải sống một cuộc đời ly hương như vậy? Ví dụ như người ta đánh đổi một cuộc sống từ Việt Nam qua Mỹ thì điều này dễ hiểu. Nhưng từ một nước như VN mà phải tha hương, bỏ quê cha đất tổ để qua campuchia thì người ta tìm cái gì ở đó? mà bao nhiêu năm dù phải nheo nhóc, có nhiều gia đình phải xin ăn mà họ vẫn không về. Ai trả lời được câu hỏi rất ray rứt này? Mà trả lời được rất là hay? Nếu bạn có quan tâm, có băn khoăn đến vấn đề này hãy thay tôi tự đặt mình vào vị trí của họ và lý giải dùm tôi xem vì sao họ phải hành động như vậy?

Trịnh Thanh Thủy

Bài Xem Nhiều