We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 24 June 2011

VIẾT CHO THÁNG SÁU

Chủ nhật cuối cùng của tháng Sáu sắp tới, đồng nghĩa với tháng Sáu sắp qua đi.

Một tháng Sáu ấn tượng với những ngày Chủ Nhật đặc biệt.

Và dĩ nhiên, với những tấm lòng yêu nước không cần định hướng đã gặp nhau thì tháng Sáu như một nét son trong quãng đời của họ. Đặc biệt là giới trẻ, đây không phải dịp họ được thể hiện một tinh thần yêu nước một lần duy nhất, mà là thời điểm đánh dấu sự bắt đầu. Một khởi đầu cho quá trình hình thành thái độ, cách nhìn và nhận thức thật sự đối với quê hương, đất nước đồng bào. Một lẽ tất nhiên, không chỉ khi lòng yêu nước bị xúc phạm bởi bất cứ lý do gì thì những con người như thế mới có dịp thể hiện. Họ đã thể hiện trong cuộc sống thường nhật.

Cách đây đúng bốn năm, khi chứng kiến cuộc biểu tình trước lãnh sự quán Trung Quốc của số đông đồng bào với nhiều giới tham gia. Và cũng từ đây “phận nữ nhi” như tôi bắt đầu có một cái nhìn nghiêm túc về chủ quyền đất nước.


Từ đây, tôi suy nghĩ chín chắn khi lựa chọn thái độ khi đón nhận bất cứ một thông tin nào về vấn đề này. Nhất là khi biết tin blogger Điếu Cày bị bắt, Câu lạc bộ nhà báo Tự do bị hạch sách đủ điều từ phía nhà cầm quyền, tôi lại càng khẳng định, mình cần phải có thái độ như thế nào.

Cũng bắt đầu (chắc chắn, tôi khẳng định như vậy) từ lòng yêu nước, tháng Sáu năm 2009. Tôi đã hăm hở viết lên áo dòng chữ "Hoàng Sa - Trường Sa là của Việt Nam" khi biết được những chuyện như ngư dân bị đuổi đánh, bị cướp bóc, bị giết hại ngay trên biển đảo quê mình. Tôi đã tổ chức in áo, viết blog phản đối những hành vi của Trung Quốc, tỏ thái độ với quyết sách của nhà cầm quyền như những người yêu nước khác không đồng tình với việc khai thác quặng ở Tây Nguyên… Nhưng, những ý nghĩ, thái độ và hành động của tôi lại được đáp trả bằng những buổi “trà đàm”, những cuộc “thăm hỏi ân cần”, và hơn thế nữa, tôi đã buộc phải nhìn ánh sang qua khe cửa, với góc nhìn của người mất tự do.

Phải chăng lý do khiến tôi “được” như thế là bởi “nữ nhi” lo việc triều chính?

Bốn năm trôi qua, chủ quyền lãnh thổ quốc gia vẫn bị xâm hại nghiêm trọng núp dưới những từ ngữ rất mỹ miều của nhà cầm quyền hai phía. Những cư xử mang tính quốc tế của nhà nước không làm yên tâm những người yêu nước chân chính, và cũng vì sự ‘không vừa lòng” đó. Họ - những người yêu nước vẫn bị hạch sách, câu lưu hay bị bắt giữ, bị giam cầm.

Cũng đã trôi qua bốn năm, người dân Việt Nam càng khẳng định, những hành vi và cư xử của láng giềng lân bang như thế nào với bản chất làm sao, dưới những câu chữ trong “thời đại mới”. Phải chăng, bốn năm không khẳng định được cả mấy ngàn năm hay sao?

Nhận thức hay nói đúng hơn là dân trí đã thay đổi từng ngày, bốn năm có thể ngắn để hình thành hay phát triển một nền văn minh nhưng không ngắn, đủ để nhận thức và thái độ, tư tưởng của một giai tầng xã hội. Nhận ra một vấn đề nào đó, mà chủ thể hành vi cứ cố tình che đậy, bưng bít hay bôi trát khéo cỡ nào. Chưa nói đến những điều sờ sờ ra và thậm chí là trắng trợn.

Không lẽ, dân tình “đủ dốt” để thấy anh Điếu Cày trốn thuế?

Không lẽ, cũng chỉ vì “nam nữ thụ thụ bất thân” mà xảy ra vụ án “hai bao cao su”?

Bốn năm không phải ngắn để mọi người nhìn ra, họ đang lưu vong trên chính nơi chôn nhau cắt rốn của mình.

Hơn thế nữa, ba sáu ba bảy năm qua đi… niềm đau quá khứ có thể không dội về, nhưng với bốn năm vừa qua..người ta lại nhìn thấy nỗi đau trong tương lai.

Tháng Sáu còn đúng 1 tuần và còn một ngày Chủ Nhật.

Một Chủ Nhật hay nhiều ngày nữa, ai có thể đoán ra …sẽ như thế nào?

Một tháng Sáu có thể nói, đáng tự hào.

Một tháng Sáu không ít niềm đau…

Blog Mẹ Nấm

DIỆT TRÍ THỨC, CÁI GIÁ PHẢI TRẢ




Chế độ cộng sản không có chổ đứng cho thành phần Trí thức ngoài đảng. Một vài gương mặt gọi là cho có “mùi vị dân chủ” trong Quốc Hội thực chất chỉ là thứ son phấn rẻ tiền đảng dùng tô điểm cho gương mặt già cỗi, lồi lõm đầy vết hằn sai lầm trong quá khứ cũng như hiện tại. Đảng ngày nay không khác gì anh nhà quê bán ruộng đất Cha Ông bao đời để lại đóng bộ Complé thắt Cravat bập bẹ vài tiếng Yes Yes – No No đi xế hộp bốn bánh cho nó giống trí thức quý tộc nửa mùa nhưng càng làm ra vẻ Trí thức sang trọng càng lòi ra thứ văn minh khiêm tốn khi công du nước ngoài, trường hợp ông Nguyễn Minh Triết với chức danh Chủ Tịch nước CHXHCNVN mà còn phát ngôn lung tung thì thật xấu hổ cho cá nhân ông lẫn cả nước phải làm trò cười cho thiên hạ dạo trước.

Sự sang trọng không hẳn là bộ Complé đắt tiền hay chiếc đồng hồ Rolex mạ vàng, người sang trọng luôn phải là người có học thức và đối với họ điều không thể thiếu chính là lòng tự trọng, bao dung với người nhưng nghiêm khắc với bản thân. Họ luôn dám cho điều họ có trong đầu để phục vụ cộng đồng Xã hội mà có thể không đòi hỏi gì ngoài việc mong muốn mọi người sống cho đúng nghĩa con người. Tiền bạc & quyền lực có thể mang lại danh vọng nhất thời cho những kẻ có nó, sự tung hô về điều không thật của những tên trí thức cơm gạo, cao bồi làng xã chịu ơn mưa móc của đảng cũng chẳng lâu dài. Tất cả chỉ là giả dối – rổng tuếch và hoang tưởng.

Hậu quả của việc xem thường Trí thức bất đồng chính kiến chính là ngòi nổ và thùng thuốc súng đang nằm ngoài biển đông chứ chưa phải trên đất liền ít ra là vào thời điểm này. Sức mạnh thật sự để có thể chống giặc ngoại xâm hiệu quả chính là tầng lớp trí thức chứ không phải súng đạn hay tên lửa của đảng cộng sản, không thuận lòng dân chỉ dựa vào khí tài lúc này đảng chỉ là con tép riu so với con cá mập khổng lồ khốn nạn phương bắc. Người Mỹ chỉ quan tâm đến quyền lợi của nước họ , họ can thiệp vào biển đông vì ở đó có mỏ dầu và anh Tàu cộng cũng thế, hai anh “bụng bự” đều khát dầu đều mong thứ nước thường gọi là vàng đen chảy vào cuốn họng họ và có thể VN sẽ bầm dập nếu đảng cộng sản vẫn tiếp tục đối ngoại với giặc Tầu theo kiểu “xin tha cho con” sợ mất lòng “đất mẹ ghẻ” hơn sợ mất Nước.

Điều gì đảng sợ sẽ đến. Thái độ của một số quan chức đương quyền chỉ rỏ họ sẵn sàng quỳ lạy Tầu để duy trì quyền lực, bất chấp VN đang trong tình thế dầu sôi lửa bỏng với kẻ thù phương bắc. điều gọi là “Tuần tra chung trên vịnh bắc bộ” thực ra là hành động lòn cúi của lãnh đạo khiếp nhược trước giặc thù, của hạng người tham sanh quý tử, rất hèn với giặc rất ác với Dân.

Nếu không dám công khai ủng hộ dân biểu tình ôn hòa phản đối giặc Tầu chiếm Hoàng sa – Trường sa của Việt Nam sợ mất lòng “mẹ đẻ” thì đảng hãy tránh sang bên, nhân dân VN sẽ giúp đảng làm điều mà đảng không dám làm. Hà cớ gì ngăn cản ruồng bắt đe dọa khủng bố những người yêu nước. Đó không phải là hành động phản bội đồng bào nối giáo cho giặc thì gọi là gì? Hãy nhìn những người xuống đường có phải đa số là tầng lớp trí thức già trẻ và sinh viên học sinh rường cột của Nước nhà không hay họ là thành phần bất hảo trong xã hội không nhận thức được đâu là phải trái để kẻ xấu hay “thế lực thù địch” xúi giục như loa phường cùa đảng rêu rao. Có phải đảng đang dùng bọn côn đồ khoác áo công an để hành xử bẩn với họ không thì đã rõ.

Ngăn cản lòng yêu nước của Trí thức và tuổi trẻ đó là hành động của kẻ ngu xuẩn thay vì phải làm ngược lại, mang nước cho họ uống, mang sẵn trên xe vài thùng chanh tươi phòng khi “kẻ lạ” ném lựu đạn cay có mà dùng. Điều này dễ dàng thực hiện và dân sẽ vui lòng biết mấy. Tiếc thay đảng đã quay lưng với đồng bào đúng với bản chất chuyên chính vô sản. Vì lẻ đó Nhân dân cũng sẽ quay lưng và đảng sẽ gánh lấy trước tiên mọi hậu quả do đảng gây nên.

Nhân dân đã nuôi nấng cưu mang lầm lũ đầy tớ ăn hại, cõng rắn cắn chủ thì không lý do gì để tiếp tục nuôi lũ vong ân, cần loại bỏ hạng người này càng sớm càng tốt cho dân . Gần cả thế kỷ đảng cộng sản làm được gì cho đất nước này ngoài hai chữ “Thống nhất” đầy mất mát tủi nhục, phải chăng cái giá phải trả cho sự thống nhất là đói nghèo, là ly tán lòng người cùng cái họa mất nước ngày càng gần.

Hãy cảm ơn họ! Những người xuống đường với lòng yêu nước bất vụ lợi, hãy nguyền rủa những quan chức tham nhũng Vinashin v.v… đã mang về cho VN hai cái lệnh truy nã của interpol về tội lừa đảo quỵt nợ của hai quan chức cao cấp đảng cộng sản, thật đẹp mặt ông Thủ tướng chẳng kỷ luật ai về việc tham nhũng tày trời này. Chuyện Vinashin không dễ nuốt đâu thưa Thủ tướng! Và đừng quên “cục xương” Bauxite rồi cũng sẽ được đưa lên mâm cho TT dùng nay mai . Sự đời vốn không đơn giản, đâu cứ có tiền có quyền là có tất cả.

Hãy mở cửa nhà giam phóng thích tù chính trị, trả tự do cho Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ cùng tất cả những người tù lương tâm, hãy từ bỏ quyền lực, giải thể đảng cộng sản để cứu nước, không đảng phái nào có thể tranh giành, duy trì quyền lực đi ngược lòng dân. Hãy để Nhân dân quyết định vận mệnh của toàn dân tộc. Hãy để Trí thức và tuổi trẻ thi thố tài năng cống hiến tái thiết nước nhà. Tham quyền cố vị, dùng vũ lực đàn áp Nhân dân khó tránh khỏi chết thảm.

Tiêu diệt CNCS là yêu nước, từ bỏ đảng cộng sản là yêu dân và như thế thật dễ thương hai tiếng Việt Nam, phải không thưa “đỉnh cao” quyền lực?

nguoithathoc1959

http://tiengnoitudodanchu.org/modules.php?name=News&file=article&sid=9813

THẾ ĐỨNG CỦA VIỆT CỘNG

Đã đến lúc bắt buộc Việt Cộng phải có một thái độ rõ ràng, không mập mờ, cũng không thể bỏ mặc cho tình thế đưa đẩy để theo gió phất cờ được nữa.

Cả thế giới đều biết Trung Cộng hiện đã công khai muốn chiếm đoạt biển Đông để lấn chiếm Việt Nam và các nước Đông Nam Á, chiếm tới Nepal để ảnh hưởng tới Ấn Ðộ, uy hiếp Nhật Bản, Philippines, Indonesia, Đại Hàn, Đài Loan v.v... nghĩa là toàn thể Á Châu, lúc đó, chuyện khống chế Hoa Kỳ, Ấn Độ v.v... chỉ là chuyện nhỏ. Dĩ nhiên, qua kinh nghiệm lịch sử, Trung Cộng rồi cũng như đế quốc Mông Cổ, đế quốc La Mã, hay phát xít Đức (Hittler), v.v… hoặc sẽ đi theo con đường của Liên Sô, Ðông Âu mà thôi. Nhưng cái không may cho Việt Nam là quốc gia mà Trung Cộng ra tay đầu tiên, lại càng không may cho chúng ta khi đảng Cộng Sản Việt Nam mà từ Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng đến những tên đương quyền hôm nay tỏ ra là những kẻ phản bội tổ quốc và phục vụ Trung Cộng một cách quá đáng, khiến nhiều người lo ngại Việt Cộng sẽ là một bàn tay đắc lực cho Trung Cộng chẳng những chiếm Việt Nam mà còn sai khiến bọn cầm quyền cộng sản Việt Nam chiếm các nước lân cận Việt Nam tạo nên oán thù cho các dân tộc vùng Đông Nam Á.

1) Chiến thuật của Trung Cộng:

Hai nhu cầu phải giải quyết cấp bách của Trung Cộng là nhiên liệu và lòng dân. Trung Cộng đã đầu tư nhiều tỉ mỹ kim cho dầu lửa ở Lybia và Trung Ðông. Nhưng những ngày gần đây, Cách Mạng Hoa Lài đã gây trở ngại rất nhiều cho Trung Cộng. Giá xăng dầu lên cao gây cho Trung Cộng thiệt hại rất lớn, nhưng điều mà Trung Cộng lo ngại nhất là cạn kiệt nguồn nhập cảng dầu hỏa. Lybia mấy tháng nay phải ngưng trệ xuất cảng dầu cho Trung Cộng, trong khi đó cuộc chiến tại Lybia không biết bao giờ mới chấm dứt. Ngay cả sau khi Gaddafi “đi” rồi, chưa chắc vấn đề cung cấp xăng dầu của Lybia trở lại tốt đẹp cho Trung Cộng. Trung Cộng đã nhận ra Tây Phương (NATO) và Hoa Kỳ đang đánh một đòn chí tử nhắm vào nguồn cung cấp nhiên liệu cho Trung Cộng. Trong thời điểm này, đại diện của phe nổi dậy ở Lybia đang thăm viếng Trung Cộng mong có một cuộc trao đổi “bánh ít đi, bánh qui lại”, Trung Cộng giúp đỡ họ trừ khử Gaddafi và họ sẽ cung cấp xăng dầu cho Trung Cộng “gấp 10 lần hơn trước”. Nhưng thế thượng phong của NATO và Hoa Kỳ ở Lybia khó có thể đảo ngược. Trong khi đó, lò lửa “Cách Mạng Hoa Lài” cũng đang âm ỉ cháy trong nội địa Hoa Lục, dân chúng đang bất mãn, không ngày nào là không có những cuộc biểu tình bạo động, dân Hoa Lục hết chịu nổi cảnh bất công, đàn áp, đói khổ. Muốn trấn an lòng dân, Trung Cộng gãi đúng chỗ ngứa của họ: mộng xâm lăng. Trước là hãnh diện vì Hán Tộc, sau là có chiến lợi phẩm. Chiến lợi phẩm tuyệt hảo là dầu lửa. Vì thế, ở vùng Biển Ðông, những thăm dò của Hoa Kỳ ước lượng chỉ có khỏang 28 tỉ thùng dầu thô, trong khi đó Trung Cộng nhân lên đến 213 tỉ để cho dân Hán tộc hăm hở “dốc lòng” ăn cướp.

Gần đây, Trung Cộng gây hắn với các nước chung quanh từ Nhật Bản, Ðại Hàn, đến Phi luật Tân, Indonesia v.v… kể cả Úc Châu, nhưng tất cả chỉ là DIỆN. Việt Nam mới là ÐIỂM. Việt Nam là mục tiêu mà Trung Cộng sẽ phải chiếm cho bằng được. Sau đó, dùng Việt Nam làm bàn đạp, chiếm các nước khác.

Ai cũng biết Trung Cộng không bao giờ dám xua quân đánh chiếm bất cứ quốc gia nào như Hittler ngày xưa, hay Việt Cộng đánh chiếm Căm Bốt mấy thập niên trước. Ðó là sự thật. Vì nếu Trung Cộng làm như vậy sẽ có những tác hại sau đây đến với chúng: - một là các nước khác nhất là các nước chung quanh Trung Cộng sẽ đoàn kết lại, bao vây Trung Cộng, gây trở ngại cho vấn đề xuất cảng hàng hóa và nhập cảng nguyên liệu của Trung Cộng. Ðây là 2 mạch máu chính của Trung Cộng, nếu bị trì trệ hay bị cắt đứt, Trung Cộng chỉ là một con cá nằm trên cạn, chờ chết. - hai là các cường quốc trên thế giới không thể chấp nhận một hành vi đánh chiếm nước khác như vậy, họ phải trừ khử một Hittler thứ 2 trước khi nó có thể tàn phá, gây nên một trận đại chiến khác. Do đó, Trung Cộng không thể xua quân đánh chiếm Việt Nam, nhưng Trung Cộng đã có sẵn một chiến thuật “không đánh mà vẫn chiếm được Việt Nam”. Lấn chiếm Việt Nam trên biển là điều dễ dàng cho Trung Cộng, hải quân Việt Cộng không đủ sức đương đầu, Việt Cộng cho đến nay vẫn chỉ là một đối tác với Hoa Kỳ, dù được Hoa Kỳ cung cấp vũ khí, huấn luyện, tham gia tập trận chung v.v… nhưng chưa có một “giấy tờ” gì chứng nhận Hoa Kỳ sẽ cứu nguy một khi Việt Cộng bị xâm lăng. Khác với các nước khác, lại không giống như Phi Luật Tân đã công khai yêu cầu Hoa Kỳ giúp đỡ, do đó Trung Cộng đã xem Biển Ðông là của chúng, đem dàn khoan khổng lồ đến vùng này, bắn giết ngư dân Việt Nam, mua chuộc và đe dọa hải quân Việt Cộng. Phần trên bộ thì hiện nay, dân “lao động Trung quốc” ngày càng đổ vào Việt Nam. Hàng hóa Trung Cộng tuôn vào Việt Nam như vào chỗ không người, bạc giả Việt Nam do Trung Cộng in mặc sức “nhập khẩu” Việt Nam. Tất cả những phương tiện xâm lăng nói trên nếu không nhờ Việt Cộng giúp đỡ, Trung Cộng sẽ thất bại. Thất bại vì toàn dân Việt Nam sẽ đứng lên, sẽ chiến đấu và quốc tế sẽ dứt khoát phải can thiệp, tối thiểu cũng là cấm vận, nhất là cấm vận nhiên liệu tức là đánh vào “bách hội huyệt” của Trung Cộng, Trung Cộng phải nhả ngay Việt Nam, phải rút quân về. Nhưng Trung Cộng không thất vọng vì có đảng Cộng Sản Việt Nam cam tâm làm tôi mọi cho chúng.

2) Cách chống đỡ của Việt Cộng:

Chỉ mấy tháng trước đây, nếu ai có “ý đồ” chống Trung Cộng, chắc chắn sẽ bị Việt Cộng thẳng tay đàn áp, nhưng ngày 5.6.2011 vừa qua và tiếp theo các ngày Chủ Nhật kế tiếp, Việt Cộng đã để cho những cuộc biểu tình xảy ra. Tuy nhiên, nhìn cách “cho phép” này chúng ta sẽ thấy “muốn ói”, vì công an vẫn đàn áp một cách tuy âm thầm nhưng rất công hiệu khiến cho các cuộc biểu tình sẽ có cơ tàn lụi. Một nước bị nước khác xâm lăng mà dân chúng không được tự do biểu tình phản đối là tại sao? Việt Nam đang bị Trung Cộng có những hành vi xâm lược thô bạo mà lại chủ trương xây “Cung Hữu Nghị”, hải quân lại đi “cặp kè” với hải quân địch. Chỉ có Việt gian Cộng Sản mới có những thái độ quái đản như vậy,

Trên bình diện ngoại giao, từ cấp bộ trưởng đều có những lời lẽ “hết sức mềm dẻo” nếu không nói là sợ hãi như chó hửi thấy mùi cọp. Như vậy thì làm sao mà chống xâm lăng Trung Cộng được? Tại sao giữa hội nghị về vấn đề Biển Ðông họp 2 ngày qua tại Hoa Kỳ, Việt Cộng không lớn tiếng tố cáo những hành vi xâm lăng lãnh hải Việt Nam của Trung Cộng? Tại sao không đưa ra những bằng chứng những hành vi cướp bóc của Trung Cộng ngay trên biển Việt Nam, những hình ảnh ngư dân Việt Nam phải lạy lục hải quân Trung Cộng để xin tha mạng ngay trên biển Việt Nam do chính báo chí vào truyền thông Trung Cộng cung cấp, là những bằng chứng cụ thể để cả thế giới thấy rõ bộ mặt xâm lược của Trung Cộng? Những sự phản đối của Việt Cộng nhìn tổng quát cũng như chi tiết chỉ là việc làm lấy có, lấy lệ chứ trên thực tế Việt Cộng như một con chó nhỏ trước một con cọp.

Từ trước đến giờ, Việt Cộng một mực tôn thờ Trung Cộng, tôn thờ cho đến nỗi nhiều đảng viên khai quốc công thần phản đối, dân chúng ta thán mà Việt Cộng vẫn giao những vụ đầu tư lớn lao cho Trung Cộng, vẫn để Trung Cộng khai thác bâu xít, một cuộc khai thác trực tiếp giết hại dân chúng. Tại sao hôm nay, Việt Cộng phải “làm ngơ” để dân chúng biểu tình chống Trung Cộng một cách công khai nhưng lại ngấm ngầm đàn áp? Việt Cộng sợ, nếu cấm ngặt như mấy tháng trước đây, dân chúng sẽ nổi lên làm cách mạng lật đổ chúng. Lòng dân đã quá phẫn uất, đã dám làm bất cứ điều gì, hay ít ra cũng nói lên tiếng nói phản đối cho thỏa lòng căm tức. Thế nhưng, công an Việt Cộng chỉ cho dân chúng phát ra những tiếng như muỗi kêu, như thằn lằn chắc lưỡi. Việt Cộng vẫn một lòng bảo vệ sự xâm lăng của Trung Cộng, Việt Cộng vẫn một lòng đàn áp dân chúng không cho chống đối Trung Cộng, dù là bằng những cuộc biểu tình ôn hòa, bất bạo động.

Vì những sự việc nêu trên chứng tỏ Việt Cộng chính là CÔNG CỤ hữu hiệu để Trung Cộng xâm lăng Việt Nam mà không cần phải xua quân qua biên giới, tránh được búa rìu và sự trừng phạt của quốc tế. Tội nối giáo cho giặc của Việt Cộng đã sờ sờ trước mắt, ai cũng thấy, ai cũng biết. Quốc tế cũng thấy nhưng Việt Cộng đương nắm quyền hành, chúng không kêu làm sao quốc tế nhất là Hoa Kỳ cứu được?

Việt Cộng còn sống một ngày, Trung Cộng càng lấn chiếm thêm lãnh hải và lãnh thổ một ngày. Nhưng, cái đau đớn, tủi nhục nhất cho dân tộc Việt Nam thế hệ chúng ta là phải chịu tiếng hèn hạ, nhát sợ và khiếp nhược trước thế giới: Là dân Việt Nam đang đi ngược lại truyền thống của cha ông. “Sĩ khả tử bất khả nhục”. Người Việt Nam hôm nay, dưới sự cai trị của Việt Cộng đành phải chịu những cái nhục nhã, hèn hạ khiếp nhược trước quân thù. Nếu Việt Nam hôm nay không bị Việt Cộng cai trị, tình thế sẽ thế nào, tình hình chống xâm lăng của Trung Cộng ra sao? Có ít nhất 80% thì giờ của các cơ quan truyền thông, truyền hình, phát thanh v.v… dành để phát đi những lời hiệu triệu, những bài bình luận, những tin tức chống Trung Cộng xâm lăng. Các giới đã được đoàn ngũ hóa, các hội nghị “Diên Hồng” đã diễn ra khắp nơi từ trong nước ra hải ngoại. Các nhạc sĩ đã hát lên những bài hát yêu nước, các đại học đã có những cuộc hội thảo, thuyết giảng về nạn xâm lăng v.v… Về thương mại chính phủ đã cấm nhập cảng hàng hóa Trung Cộng, đã tố cáo trước dư luận Trung Cộng xâm lăng. Quân đội đã được lệnh sẵn sàng tác chiến, các cao điểm, các điểm trọng yếu về quân sự được bố trí v.v… Một bức tranh sống động của một dân tộc đang bị xậm lăng sẽ đánh động lương tri của nhân loại, chứ có đâu một nhà nước động đến Trung Cộng là như gà phải cáo, tuyên bố một điều gì liên quan đến sự xâm lăng của Trung Cộng thì vừa nói vừa run. Tại sao cũng là người Việt Nam mà Việt Cộng lại hèn nhát như vậy? Ðó là truyền thống của Cộng Sản, có từ thời Hồ Chí Minh chứ không phải bây giờ. Ðó là vì những tên chóp bu Việt Cộng đã được Trung Cộng nhồi sọ, sập bẫy Trung Cộng, mắc mưu Trung Cộng, bị Trung Cộng khống chế. Những thiệt thòi về lãnh thổ lãnh hải từ thời Hồ Chí Minh và Phạm Văn Ðồng cho đến nay. Muốn “dứt của nợ” này chỉ còn lật đổ chúng.

Chúng ta có thể kết luận: Việt Cộng chẳng những không chống Trung Cộng xâm lược mà còn phục vụ đắc lực cho Trung Cộng chiếm Việt Nam mà không cần xua quân qua đất nước này.

3) Chúng ta, người Việt Nam phải làm gì?

a.- Những luận điệu tay sai Việt Cộng như phải hợp tác với Việt Cộng chống xâm lăng Trung Cộng - nếu có xáo trộn Trung Cộng sẽ thừa cơ đem quân xâm chiếm nước ta - nếu Việt Cộng thấy nguy chúng sẽ kêu cứu và Trung Cộng sẽ qua cứu chúng nó và đô hộ chúng ta, hay Việt Cộng sẽ đàn áp dã man, v.v. Ðây là những luận điệu của Việt Cộng mớm cho tay sai để rung cây nhát khỉ người Việt Nam. Trước hết, chúng ta phải làm những gì cần phải làm, bổn phận đòi hỏi phải làm, dĩ nhiên thành bại không ai bảo đảm được. Tận nhân lực, tri thiên mệnh. Sống xứng đáng là con người mới là điều quan trọng. Tuy nhiên như trên đã nói Trung Cộng không dại gì gây hấn với cả thế giới, không dại gì tự sát.

b.- Xuyên qua các cuộc biểu tình với những đàn áp của công an Việt Cộng chúng ta cũng rút được những kinh nghiệm quý báu. Ðó là phong trào biểu tình chưa rộng khắp, chưa được phổ biến đầy đủ, toàn dân chưa nghe được lời nói chính nghĩa, các cán bộ Việt Cộng về hưu còn nhút nhát, còn sợ mất quyền lợi, còn sợ tù tội. Các cơ quan truyền thông đã quá suy đồi, dù biết rằng họ bị Việt Cộng xiềng cùm đủ cách, nhưng là người cầm bút, là người biết rõ tình thế đất nước đang cựu kỳ nguy hiểm, họ phải vì con người, vì bản thân và nhất là vì các thế hệ tương lai phải nói lên sự thật. Nếu một số đông nhất tề nói lên lòng yêu nước, nói lên tinh thần chống xâm lăng làm sao Việt Cộng có thể bắt giam hết mọi người? Các vị lãnh đạo tôn giáo đều là những người trí thức, phải nói lên tiếng nói của Ðức Phật, của Chúa. Nhân đây, tôi cũng xin có lời tạ lỗi với các linh mục thuộc Dòng Chúa Cứu Thế, các linh mục trong Nhóm Tinh Thần Nguyễn Kim Ðiền là những nhà đấu tranh kiên cường cho Tự Do Dân Chủ, đặc biệt là 2 linh mục Nguyễn Văn Lý và Phan Văn Lợi mà tuần trước tôi đã bỏ sót, Xin thành thật tạ lỗi. Ðiều đáng nói ở đây là mỗi người phải hành xử đúng với chức năng và trách nhiệm của mình. Nếu một giám mục mà không nghiêm khắc sửa phạt những linh mục dưới quyền đi ngược lại giáo lý và giáo luật, không cất chức những linh mục ra nhận lãnh những chức vụ “dân cử” có quyền lợi như một vị giám mục Tây Ban Nha đã cách chức linh mục khi ông này ra ứng cử một chức vụ xã hội, thì chắc chắn hàng ngũ Công giáo khó có thể có kỷ luật để Việt Cộng không đàn áp, bóc lột được. Nếu hàng trí thức, nhất là những giáo sư Ðại Học không nói lên lòng yêu nước và sự thật làm sao không mất nước được?

4) Ðã tuyệt vọng chưa?

Không bao giờ có 2 chữ tuyệt vọng trong từ điển của một dân tộc, trừ phi dân tộc đó muốn tuyệt vọng. Tôi còn nhớ một bài Pháp Văn mà tôi học hồi còn nhỏ, sau một cơn bão, vùi dập tất cả mùa lúa mì của người nông dân, ông ta tuyệt vọng thực sự, nhưng khi thấy những con chim sẻ đào xới đất bùn để kiếm những hạt lúa mì còn vươn vãi trong đất, ông ta bừng tỉnh: giống lúa còn trong đất. Chúng ta phải chiến đấu, cho dù có thất bại thì đó cũng là một thắng lợi được hoãn lại. Huống chi với tình thế hiện nay, nếu chúng ta đứng lên biểu dương cho Việt Gian Cộng Sản thấy hoặc là chúng phải trở về với dân tộc, hoặc là chúng phải chết, để chúng thấy chỉ còn con đường phải trở về với dân tộc. Vạn nhất chúng ngoan cố thì vì dân tộc mà trừ khử chúng. Sau đó, dù cho Trung Cộng có sức mạnh nào, chúng ta cũng có thể bảo vệ đất nước được. Bao giờ chúng ta đoàn kết một lòng, bao giờ toàn dân thấy rõ nạn xâm lăng của Trung Cộng, bao giờ mọi người biết dùng khả năng của mình để làm một cái gì cho đất nước, nhất là cho thế hệ mai sau, lúc đó chúng ta sẽ giữ được nước và đem hòa bình tự do và dân chủ cho Việt Nam.

5) Thế đứng nào cho Việt Cộng hôm nay?

Thế đứng của Việt Cộng hôm nay là một thế đứng mê muội hay là thế đứng trót đã nhúng chàm, chỉ còn cách quất thẳng “roi dân tộc” vào mặt chúng, một là chúng ăn năn hối cải mà trở về, hai là chúng phải chết để dân tộc được sống.

Lê Văn Ấn

Vợ Hiền


Vợ tôi không phải là một người đàn bà có nhan sắc khuynh nước đổ thành. Bởi tôi, vốn tài mạo tầm thường và cũng không có nhiều may mắn bất ngờ để lọt mắt xanh những cô có nhan sắc chim sa cá lặn. Vả lại tôi cũng thường nghe bố tôi tuyên truyền nhồi nhét trong cái đầu từ nhỏ rằng, đẹp đến mấy rồi cũng trở thành méo mó xấu xí, và vợ đẹp là vợ người ta. Vợ tôi cũng không có tài ba xuất chúng, bởi tôi vốn nể sợ và có thành kiến với những người đàn bà tài giỏi, vì họ thường kiêu ngạo và hay thành độc tài vợ trị. Ðộc tài đảng trị thì có thể bỏ nước chạy ra biển chết, chứ độc tài vợ trị thì không chạy đâu cho thoát cả!Vợ tôi chỉ là một người đàn bà trung bình trên tất cả mọi mặt. Với một vóc dáng tầm thường bên ngoài, không vêu vao xấu xí khó nhìn. Bên trong nàng mang một tấm lòng hiền hậu, bao dung, biết hành xử khôn ngoan khéo léo, để đem lại cho gia đình hạnh phúc êm ấm lâu bền mà tôi vô cùng biết ơn mỗi khi nghĩ đến.Trong nhiều năm chung sống, chưa bao giờ nàng nặng lời với tôi, chưa bao giờ có cử chỉ hay ngôn ngữ thiếu lịch sự, cũng chưa lần khóc lóc giận hờn đòi hỏi điều này điều kia, hoặc đặt điều kiện làm khó, hay so đo chuyện nhà với gia đình người khác.Ngoài tình cảm thắm thiết chia sẻ của vợ chồng, nàng âu yếm như một người tình, khoan dung rộng lượng như một người mẹ và hiểu biết như một người tri kỷ.
2.
Năm tôi hai mươi tám tuổi, mẹ tôi nóng ruột thúc hối ép tôi lập gia đình. Bà đưa cái công thức cổ xưa của mấy ông Tàu bày ra là "tam thập nhi lập". Tôi cũng chưa đến ba mươi, mẹ tôi cứ gán đại thêm cho hai tuổi để dễ bề ép uổng. Tuổi đó, thích được quen nhiều bạn gái, bạn thôi thì được, nhưng nghe đến chuyện hôn nhân là xanh mặt. Vì qua kinh nghiệm bạn bè, kinh nghiệm giao tiếp trong sở, tôi thấy đa số mấy anh có vợ rồi thì dường như bị khép chặt trong cái vòng "chuyên chính" của bà vợ nhà! Cái vòng tuy lỏng lẻo và êm ái, nhưng bằng sắt, rất chặt và siết cứng. Một anh bạn thân, lâu lâu giận vợ, đến nhà tôi ở lại, nằm rũ ra trên giường như đống mền rách rầu rĩ nói với tôi:
- Tao chỉ mong có được một ngày an bình, sung sướng như mày, một ngày thôi cũng đủ.Nghe thế thì không sợ sao được? Trong sở tôi có mấy anh bạn bị vợ cào rách mặt và phải lấy cớ là dao cạo râu cắt. Ai cũng biết chuyện gì đã xảy ra, vì mặt mày các anh láng lẫy, trơn tru, có sợi râu nào đâu mà phải cạo cho dao cắt! Một ông lớn tuổi khác, vợ vào tận sở xé áo và kêu bằng mày tao, còn tố cáo ông mang bằng kỷ sư giả bên Pháp về. Nhan nhản những tấm gương gia đình u ám trước mắt như vậy, thì chỉ có ngu quá hoặc liều mạng mới không sợ mà thôi.Tôi khất lần mãi không được, phải bẻn lẻn theo mẹ, đi ra mắt, và xem mặt nhiều cô con gái các gia đình mà bà quen biết. Tôi theo lời dạy của một anh quân sư quạt mo, cứ mang bộ mặt đưa ma đến nhà người ta và ăn nói nhát gừng cộc lốc, thì không ai muốn gả con gái cho, và các cô thấy vậy thì cũng ớn lạnh mà dạt ra. Thế mà cũng có nhiều nhà khen tôi hiền lành, muốn gả con gái cho. Tôi tìm đủ lý do nói riêng với mẹ để chê bai từ khước. Cô thì chê mặt dài, cô thì chê mũi lớn, cô khác chê mắt có đuôi, cô thì mồm như có râu. Toàn cả những lý do vu vơ. Mẹ tôi phiền muộn thở dài, vì biết con trai bà cũng chẳng có sự nghiệp gì sáng giá, chẳng có một phong cách đặc biệt nào, mà đòi hỏi quá đáng chăng?
3.
Không nỡ để mẹ buồn, tôi đem Lam, người bạn gái thân thiết nhất về giới thiệu với mẹ, bà vui vẻ chịu ngay. Bà khen Lam láu lỉnh, bặt thiệp và xinh đẹp.Mẹ tôi đến thăm xả giao nhà Lam hai lần để dò xét gia thế, và quyết liệt chống đối cuộc hôn nhân, lấy lý do là mẹ Lam dữ dằn và có cách cư xử thiếu lễ độ với chồng. Tôi nói:
- Con cưới Lam chứ cưới bà ấy đâu mà mẹ sợ?Mẹ tôi nhất quyết tin rằng, mẹ hổ thì khó sinh được con cừu. Vì cách đối xử của cha mẹ, ảnh hưởng đến tính tình con cái. Cha mẹ dữ dằn, con cái khó mà hiền lành được, vì ngày ngày học cách ăn nói, cách đối xử, tiêm nhiễm những thói quen của cha mẹ, và đem ra xử sự với đời, mà không biết đó là xấu. Tôi cố bào chữa cho Lam, nhưng mẹ tôi đã nhất quyết, không lay chuyển được. Bà nói:
- Mẹ thương con, mẹ không muốn sau này con khổ vì đời sống gia đình thiếu hạnh phúc. Vì không có gì khổ bằng có vợ dữ dằn, hỗn láo, có thể làm người chồng buồn phiền sinh ra rượu chè, cờ bạc, trai gái hư hỏng. Mẹ thương con, lo cho tương lai con nên mẹ không chịu.Tôi định nói với mẹ rằng, con trai của mẹ cũng chẳng hiền lành chi, mà chê thiên hạ. Nhưng sợ mẹ buồn nên im lặng. Mẹ của Lam biết được ý kiến của mẹ tôi, nổi tự ái, nói nhiều lời tàn nhẫn, tổn thương đến gia đình tôi, và tuyên bố không bao giờ gả Lam cho tôi.Khi bị trắc trở, ngăn cấm thì tình yêu càng thêm tha thiết bốc lửa, và hai đứa tôi càng quyết vượt qua hàng rào ngăn cản của gia đình. Muốn sống cho nhau, và sống chết vì tình yêu.Một lần chìu ý mẹ, tôi miễn cưỡng đi xem mặt một cô mà mẹ tôi gọi là gia đình phúc hậu đàng hoàng. Tôi chẳng tha thiết gì, chỉ giữ đủ lịch sự tôi thiểu để cho mẹ khỏi mất mặt.Lần đó Lam biết được, nàng giận dữ sỉ vả tôi:
- Anh là một thằng đểu cáng, xấu xa đê tiện, một kẻ hèn nhát núp váy mẹ, không dám làm gì cả. Anh không xứng đáng với tình yêu của tôi.Tôi nghe mà bàng hoàng, như bị sét đánh. Hai đứa giận nhau. Tôi chợt nhớ tới lời nhận xét của mẹ, và thấy bà cũng có lý phần nào. Nhưng tim tôi vẫn nát tan xót xa vì chuyện tình đổ vỡ. Ngay sau đó, Lam có người yêu mới là Tuân. Tuân cũng là trong đám bạn bè quen biết lâu dài với tôi, tính tình Tuân hiền lành, chịu đựng, và Tuân đã bền bỉ theo đuổi Lam từ lâu. Nửa năm sau, tôi đi dự đám cưới Tuân, Lam với trái tim vỡ nát, nhưng cũng vui mừng vì Lam lấy được chồng hiền lành và đàng hoàng, có thể bảo đảm đời sống tinh thần vật chất cho gia đình sau này. Tôi thật tình nghĩ rằng, tôi không bằng được Tuân về nhiều mặt. Lam bỏ tôi là phải.
4.
Mẹ tôi làm như lấy vợ cho bà, cứ khóc lóc thúc giục mãi. Tôi tâm sự với một người bạn cũ. Anh cười và nói:
- Hay là cậu thử tìm hiểu Mai, em gái tôi xem sao. Nó cũng sẵn có cảm tình với cậu đó. Mai hiền lành lắm.Ðược bạn khuyến khích, tôi bắt đầu tìm hiểu Mai. Nàng không đẹp, không xấu, chăm chỉ, hiền lành. Trước đây, đến nhà bạn chơi, tôi chỉ thấy Mai thấp thoáng đâu đó sau bàn học, hoặc lẳng lặng rút lui sau khi cúi đầu chào lễ phép. Dẫn Mai đi chơi, tôi không tìm hiểu được chi nhiều về Mai, vì nàng quá thụ động, khi nào cũng nhẹ nhàng chìu chuộng, ít đưa ý kiến riêng. Khi hỏi ý, nàng thường bảo:
- Dạ, anh cho em đi đâu cũng thích cả, anh vui thì em cũng vui.Tôi đem nhận xét về cái hiền lành của Mai nói với một người bạn. Anh cười hô hố và nói:
- Trời ơi, khi mới quen thì em nào mà không hiền lành như thánh mẫu, dịu dàng như tiên cô. Khi cưới về thì cái đuôi dài thòng mới lòi ra, và dữ như chằng tinh. Em nào cũng vậy cả.Tôi hỏi thẳng anh của Mai, anh trả lời:
- Con nhỏ hiền lành, biết nhường nhịn và rất dịu dàng. Cậu có phước lắm mới gặp nó. Không phải vì nó là em gái mà tôi khen đâu.Mẹ tôi đến thăm gia đình Mai nhiều lần, khen mẹ của Mai phúc hậu, hiền lành, cư xử lịch sự, phải phép với chồng. Bà nghĩ rằng, nhất định Mai cũng học được nề nếp gia đình của mẹ, không nhiều thì ít. Bà thúc tôi làm đám cưới ngay. Tôi xin hoãn một thời gian để tìm hiểu thêm, mẹ không chịu và bảo:
- Lấy vợ thì lấy liền tay, chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha.Tôi nói rằng, nếu nghe được lời dèm pha đúng, thì cũng là điều tốt, mình khỏi phải xét đoán lầm người. Mẹ tôi lại giảng cho tôi rằng, chín mươi phần trăm cách cư xử của con cái là do ảnh hưởng sinh hoạt tốt xấu của cha mẹ. Cha mẹ gieo vào đầu con cái thứ tư tưởng nào, thì nó sẽ hành động theo lối đó. Thương mẹ, tôi tạm quên kinh nghiệm ghê gớm trong đời sống gia đình của bạn bè và đồng sự, liều thân lấy vợ cho mẹ vui lòng. Có một ông bạn bảo rằng, lại thêm một thằng đàn ông ngu muội đi vào vết xe đổ nghìn năm của nhân loại
.5.
Tôi cưới Mai, nàng như cái bóng dịu hiền bên tôi.Tôi thấy mình tan loãng vào tình yêu êm đềm, và chợt nhận ra đời sống gia đình êm ái, thoải mái và hạnh phúc hơn nhiều lần đời sống độc thân. Không thấy gò bó tù túng trong dây ràng buộc của gia đình như nhiều người thường bảo. Mai lo lắng cho tôi những thứ cần thiết lặt vặt trong cuộc sống bình thường, bổ khuyết cho tôi những thiếu sót, dịu dàng an ủi tôi những khi lo buồn. Tôi nói với vợ:
- Anh ngu quá, biết lấy vợ mà sung sướng hạnh phúc như thế này, thì đâu để độc thân đến gần ba mươi tuổi. Uổng thật.Những khi chúng tôi có ý kiến trái ngược, Mai dịu dàng phân tích thiệt hơn cho tôi nghe, rồi để cho tôi quyết định. Sau khi quyết định xong, dù có trái ý nàng, Mai cũng vui vẻ cố gắng giúp tôi hoàn thành công việc. Không như các bà khác, những lúc chồng làm trái ý, thì các bà mong cho ông chồng thất bại để chứng tỏ ý kiến của bà là đúng, là hay. Mai thường nói:
- Thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn. Nếu ai cũng khăng khăng giữ ý của mình, thì chẳng làm nên được việc gì cả.Cũng có khi quyết định của tôi sai lầm, đưa đến kết quả không tốt. Những lúc này, Mai thường hết lời dịu dàng an ủi tôi, và cho rằng tôi không có lỗi gì cả, ví ai cũng có thể sai lầm, và Mai cho rằng nàng cũng có phần lỗi, vì chưa tận tình giúp tôi đầy đủ ý kiến để làm quyết định. Từ đó, tôi cảm thấy mình phải lắng nghe ý kiến của vợ nhiều hơn.Tôi nghĩ, nếu những lúc này mà Mai dằn vặt, nằng nặc buộc tôi tôi, thì chưa chắc tôi đã thấy mình lầm lỗi. Mai không như một số đàn bà khác, đúng hay sai cũng đổ lỗi cho chồng, và những khi chồng thất bại trong đời, là cái dịp cho các bà chê bai, mai mỉa, nói những lời tàn nhẫn.Ngoài xã hội, có những lúc tôi vô tình hoặc thiếu may mắn, gây nên những sai lầm với người khác, Mai tự đứng ra, gánh vác hết trách nhiệm thay tôi. Tự ái đàn ông, đâu cho phép tôi để vợ gánh vác trách nhiệm thay mình. Tôi thấy thương và quý vợ nhiều hơn. Mai bảo:
- Chuyện nhỏ, để em gánh vác giúp, anh để tâm trí làm những việc khác ích lợi hơn.Tôi thầm nghĩ, tôi thì làm chi có việc lớn mà gánh vác.
6.
Những năm mới lấy nhau, tài chánh gia đình khó khăn, đắp trước bù sau hàng tháng. Áo quần đơn sơ, ăn uống dè xẻn. Thế mà Mai bao giờ cũng vui vẻ, chưa bao giờ nghe Mai than thở hoặc so sánh với các bạn bè khác. Nàng thường nói:
- Chúng ta nghèo vật chất, nhưng giàu hạnh phúc, tinh thần thanh sạch, thế là đủ. Ðời sống biết đủ là đủ.Chính vì Mai không than thở, nên tôi thấy mình có trách nhiệm nhiều hơn về tài chánh gia đình. Buổi chiều về, tôi đi dạy thêm cho các lớp đêm. Ngày nghỉ, tôi mở lớp dạy kèm luyện thi cho từng nhóm nhỏ. Tài chánh gia đình nhờ đó mà dồi dào hơn, có thêm tiền, nhưng Mai không vui, mà chỉ lo cho tôi thiếu sức khỏe sinh bệnh hoạn.Năm đó, tôi không chịu theo bè cánh với nhóm tham nhũng, chúng đày tôi về một tỉnh nhỏ xa xôi. Tôi buồn phiền lắm. Không đi thì không được, đi thì bỏ hết công chuyện làm ăn riêng tư. Mai khuyên tôi nhẫn nhịn, và gắng tìm vui trong hoàn cảnh mới. Khi chúng tôi về tỉnh nhỏ, Mai thường an ủi và nâng đở tinh thần tôi, đặt mua các thứ sách báo tôi thích, để giải trí và quên đi phần nào nổi buồn nơi tỉnh nhỏ. Mai xin được việc ở một nhà dạy trẻ, để phụ thêm kinh tế gia đình....Khi chạy vội về Sài Gòn vào năm 1975, chúng tôi mất tất cả, trở thành trắng tay. Tôi lo lắng và muộn phiền lắm, nhưng nhờ thái độ trầm tĩnh và chịu đựng của Mai mà tôi bớt bối rối. Trước ngày miền Nam sụp đổ, chúng tôi bàn nhau là nên ở hay đi. Ý Mai thì nên đi để bảo toàn tính mạng cho gia đình, khi yên ổn thì quay trở về cũng chẳng mất mát gì. Phần tôi thì vì yêu mến quê hương một cách lãng mạn, quyết ở lại, muốn cùng chia sẻ khổ đau, sống chết cùng quê hương. Chủ nghĩa đối với tôi không quan trọng, tôi nghĩ chính thể nào cũng thế thôi, cũng cùng là người Việt, cùng giòng giống tổ tiên, thì việc gì mà phải bỏ chạy? Tôi đã lầm to. Thảm họa trùm xuống khắp miền Nam. Ðau khổ, lao tù, đói lạnh, đè nén, áp bức. Tôi cũng ôm gói đi tù như mọi bạn bè, Trong tù, tôi vô cùng ân hận về quyết định sai lầm, để thân xác mình bị tù đày, để vợ con bơ vơ, đau khổ, đói rách, không vốn liếng, không tài sản. Ba tháng sau khi tôi đi tù, Mai thấy chồng chưa được thả về, đã xoay xở rất mau. Nàng mua áo quần cũ, cắt ra may thành áo quần trẻ em đem bỏ mối tại các chợ trời hè phố. Ðêm nào cũng may đến mười hai giờ khuya. Một mình nuôi chồng tù tội, nuôi con thơ dại, ngược xuôi trong cuộc đổi đời. Những năm tháng nằm tù, có nhiều thì giờ suy nghĩ, tôi mới sâu sắc nhận ra mình mang ơn vợ quá nhiều. Tình cảm nàng dành cho tôi tràn đầy dịu dàng, bao dung, âu yếm và hy sinh. Tôi biết mình là kẻ có phước được vợ hiền....
7.
Khi tôi được ra tù, thể xác tiều tụy, tinh thần suy nhược, đời sống bất ổn, bị đe dọa thường trực. Hàng tuần bị tên công an khu vực đến thúc giục đuổi đi về vùng kinh tế mới, và nói lời hăm dọa. Tôi nản lòng bàn với Mai để dọn về vùng kinh tế mới cho yên thân. Nàng đã khôn ngoan giải thích rằng, bằng mọi giá phải bám vào thành phố, để sống còn và để bớt bị độc tài áp bức, bớt khốn khổ vì cái u mê của chế độ hành hạ. Nàng thường khuyên tôi:
- Mình hãy xem cuộc đời này như một trò chơi không vui, đừng quá quan tâm đến những gì xảy ra cho mình, cho thiên hạ chung quanh. Những đau khổ mà mình đang chịu đựng cũng là một thứ thử thách, làm cho mình lớn thêm lên, trưởng thành hơn, và cứ vui với những gì nhỏ nhoi nhất có thể có trong thời gian này. Không xấu xa nào có thể tồn tại mãi mãi được, ánh sáng tương lai sẽ có ngày chiếu rọi trên quê hương.Mai đã an ủi, khuyên nhủ và dịu dàng dắt tôi đi qua quãng đời đau khổ trong chế độ lạ lùng vô nhân kỳ quái này. Chúng tôi bữa đói bữa no dắt nhau đi trong đời sống mịt mù của xã hội chủ nghĩa trá hình.Khi tôi ngỏ ý tham gia một tổ chức phục quốc chống lại chính quyền cộng sản trong thành phố, thì Mai đồng ý ngay. Nàng nói:
- Chúng ta đã vất súng đầu hàng, chỉ mong được bình yên sống và góp phần xây dựng lại quê hương.Nhưng kẻ chiến thắng đọa đày nhân dân xuống vực thẳm. Không cho ai yên sống. Chính họ đã buộc chúng ta đứng dậy, cầm lại súng. Việc đáng làm thì phải làm. Nếu ai cũng trốn tránh cả, thì đau khổ này biết bao giờ dứt được? Nhưng phải thận trọng để khói phí thân làm việc dã tràng.Cùng với bạn bè cũ mới, chúng tôi tổ chức mua súng, liên lạc với các nhóm kháng chiến khác. Ra một tờ báo bí mật chuyền tay. Mai đã ngược xuôi giúp đỡ chúng tôi, mang tin tức, chuyển vận hàng hóa. Chúng tôi mơ mộng một ngày ánh sáng tự do chiếu rọi trên quê hương, trở lại đời sống không áp bức kẹp kềm.Một vài người trong nhóm bất cẩn, tổ chức bị đổ bể, đa số anh em bị bắt. Tôi chạy thoát được với cái áo có nhiều lỗ đạn bắn thủng bên hông. Mai nhờ người nhắn tôi bình tĩnh chờ nàng sắp đặt.Nàng vay mượn và bán hết đồ đạc trong nhà, đóng tiền cho tôi bí mật vượt biên...Phút cuối chủ thuyền cho vợ con tôi cùng đi với lời hứa trả tiền sau. Tôi cám ơn Trời Phật đã xui khiến cho chúng tôi còn có bên nhau trong đời.Trên biển đói khát Mai nhường phần ăn uống cho con, cho chồng, với lý do là tôi cần sống hơn nàng, tôi có thể làm được nhiều việc ích lợi hơn. Nhưng theo ý tôi, thì chính Mai mới xứng đáng để sống sót vì đời sống nàng có nhiều ý nghĩa, tốt đẹp hơn.Những ngày khó khăn nắng cháy cực khổ tại trại tỵ nạn, nàng dành lấy hết tất cả việc vặt vãnh như lãnh thức ăn, xách nước, nấu nướng, chăm sóc con cái, để cho tôi có thì giờ tham gia tiếp tay phụ giúp các công tác chung trong trại. Mai dặn tôi tráng xa những nơi có tranh giành, có chút quyền lợi, chỉ kê vai gánh vác những việc có ích chung mà không ai làm. Với khuyến khích và an ủi của vợ, tôi làm được nhiều việc hữu ích cho cộng đồng. Trong lúc đó, một vài anh bạn tôi, tham gia việc cộng đồng mà như làm việc quốc cấm, bị vợ cằn nhằn, ngăn cản, mỉa mai rằng việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng. Nhiều người than vãn về những thiếu thốn, khó khăn, cực khổ trong trại tỵ nạn. Mai thì khi nào cũng vui vẻ, lạc quan, và cho rằng tương lai được sống đời tự do đang rõ ràng trước mắt. Những thiếu thốn khó khăn trong trại tỵ nạn là đương nhiên. Ở đây cũng còn sung sướng hơn những ngày tháng sống với chế độ công sản u ám, bất trắc, chèn ép, sợ hãi. Những khi con tôi chê cơm, Mai nhắc nhở cho chúng những ngày khoai sắn qua bữa, những ngày đói khát trên biển khơi, thì chúng vội vàng ăn ngon lành những chén cơm trong trại tỵ nạn.
8.
Chúng tôi đến Mỹ vào mùa Ðông, tuyết phủ ngút ngàn, trắng xóa cả đất trời. Chưa biết có thể làm gì để nuôi sống gia đình trong miền đất mới, nhưng nhờ trợ cấp xã hội trong thời gian đầu, đắp đổi tạm sống qua ngày. Dù không dư giả, tiền trợ cấp xã hội được Mai chia ra làm ba phần: hai phần ba nuôi sống gia đình với chi tiêu dè xẻn tiện tặn, một phần ba gởi về giúp những bạn bè đang đói khó khắc khoải trong lao tù, trong các vùng kinh tế mới....Hai vợ chồng dắt nhau đi tìm việc, và không nản lòng. Tôi tìm được một chân rửa chén bát tại khách sạn Holiday Inn. Mai tìm được một chân làm bánh ngọt Donut. Chúng tôi tự túc được rồi, và từ đó mà tiến lên, tôi tìm được công việc khác trong hãng tiện có đồng lương khá hơn.Chúng tôi bắt liên lạc với bạn bè xa gần, và ao ước được đóng góp phần nào vào nỗ lực làm vơi khổ trên quê nhà. Thư của bạn bè hồi âm với lời lẽ bi quan, nhiều người khuyên tạm quên chuyện quê hương đi, mà lo cho đời sống bản thân và gia đình trước đã...Nhiều đêm Mai thì thầm:
- Chúng ta có yên lòng hưởng hạnh phúc, tự do khi cả quê hương đang chìm đắm trong khổ đau? Chúng ta có quên được bao nhiêu người đang kỳ vọng chúng ta nơi quê nhà? Liệu chúng ta có làm được gì không hay chỉ mải mê lo cho đời sống riêng tư? ...Chưa bao giờ tôi nghe Mai phàn nàn, sanh nạnh với tôi về công việc trong nhà.Chưa bao giờ nàng lên giọng sai bảo tôi hút bụi, quét nhà, rửa chén bát. Nếu rảnh, thì tôi làm, nếu tôi bận xem những trận thể thao hấp dẫn, thì thôi. Nhiều lúc Mai không cho tôi rửa chén bát, giành lấy mà làm, vì những lúc đó nàng rảnh rang.Chúng tôi cùng làm việc nhà trong tinh thần chia sẻ, không phải trong trách nhiệm phân chia việc nào chồng làm, việc nào vợ làm. Mai chưa bao giờ tranh hơn thua với chồng. Nàng quan niệm rằng, vợ chồng không cần tranh hơn thua nhau, hơn chồng cũng không được gì mà chỉ tổ tình yêu bị tổn thương.. Chưa bao giờ Mai lớn tiếng hay khăng khăng quyết đoán việc gì. Khi nào cũng dịu dàng thảo luận và sẵn sàng chờ lúc thuận tiện để thuyết phục thêm. Tôi đã nghe thấy vợ nhiều người bạn, sẵn sàng xẵng tiếng với chồng, mở miệng ra là nói nặng lời, nói điều chua chát khó nghe, và tôi biết mình may mắn có vợ hiền ...Những lúc tôi gặp khó khăn ngoài xã hội, mang bực bội và cái không vui về nhà, Mai thường khuyên tôi rằng:
- Mục tiêu tối thượng của đời người là đi tìm hạnh phúc. Ði làm kiếm tiền cũng chỉ để mua hạnh phúc. Hạnh phúc đích thực của cuộc sống là gia đình vui vẻ, ấm êm và dễ chịu. Không tội chi đem cái khó khăn bực bội của bên ngoài về nhà cho mất vui, mà phí phạm ngày tháng yên ấm của gia đình. Dù giàu sang danh vọng đến mấy, mà gia đình thiếu hạnh phúc thì đời không còn ý nghĩa gì.Thế là tôi tìm được nguồn vui và yên tĩnh tâm hồn...
9.
Nhiều khi nằm bên nhau, tôi hỏi Mai:
- Sao hơn mười mấy năm sống bên nhau, chưa bao giờ em làm cho anh buồn lòng, chưa bao giờ em làm cho anh phải nổi giận. Em có khi nào buồn giận anh không?Nàng nói:
- Sách dạy cho em biết rằng, người cho thì được nhiều hạnh phúc hơn người nhận. Không cầu thì sẽ được, không đòi thì sẽ có. Biết vui với cái tương đối mà mình đang có, thì trở thành kẻ sung sướng nhất trong đời. Cho đi tình thương chân thành, thì được nhận lại bằng tình thương. Nhiều người đàn bà đòi hỏi ở chồng quá đáng, ngoài khả năng của chồng. Bao nhiêu cũng không thỏa mãn cả. Họ không nhìn thấy sự hy sinh của người khác, mà chỉ cố bươi móc lỗi lầm cỏn con của chồng để mà trách móc, giận hờn. Làm thế không có lợi gì cả, mà chỉ là cách phá hoại hạnh phúc gia đình hữu hiệu nhất.Tôi thành thực mà nói rằng đã học được rất nhiều điều tốt của vợ tôi. Nàng càng dịu dàng, càng thu mình nhỏ lại, thì tôi càng thương yêu trang trải bù đắp cho vợ nhiều hơn. Mỗi khi đi làm về, thấy nét mặt tươi vui hân hoan của vợ, thì bao nhiêu mệt nhọc bực bội trong ngày đều tiêu tan.Khi tôi phạm phải lỗi lầm, hành động sai quấy, vợ tôi thường an ủi rằng, mình là con người chứ đâu phải là thần thánh chi, mà không có sai lầm. Ðừng buồn, cái thiệt hại này cũng là bài học tốt về sau. Những an ủi, khuyến khích tinh thần của vợ, làm cho đời sống tôi nhẹ nhàng, êm ái, thư dãn, không bị dồn ép, không bị áp lực cuộc sống, không có căng thẳng gia đình như nhiều bạn bè khác.Trên bước đường tha hương, một lần vợ chồng Tuân-Lam ghé thăm chúng tôi. Tuân là bạn cũ, Lam là người xưa. Vợ tôi biết rõ mối tình cũ giữa tôi và Lam, nhưng nàng tin chồng, và rất lịch sự, vồn vã đón tiếp họ hết lòng. Có lẽ Mai cũng biết chuyện xưa của chúng tôi đã nguội lạnh từ lâu, chẳng ai còn tiếc thương chi. Tuân vẫn hiền lành phúc hậu như xưa, nét mặt chịu đựng. Ðêm khuya tôi vẳng nghe tiếng Lam đay nghiến dằn vặt chồng ở phòng bên cạnh, nói những lời thiếu lễ độ. Về sau, mỗi lần nghĩ đến Lam, lòng tôi phơi phới, vì may mắn, cuộc đời không phải gắn liền với một người đàn bà như Lam. Tôi biết ơn mẹ nhiều hơn. Kinh nghiệm sống của mẹ đã giúp cho cuộc đời tôi có hạnh phúc hơn. Và tôi biết thương yêu, nể trọng vợ hơn nhiều.
10.
Một chị bạn gia đình không được hạnh phúc, hỏi vợ tôi bí quyết để được chồng thương yêu nể nang. Mai cười mà nói:
- Không có bí quyết nào cả. Chỉ có câu chuyện sau đây, tôi thuộc nằm lòng từ thời còn đi học. Chuyện ở trong sách tập đọc của Pháp. Rằng:
- Có một anh nông dân đem bò ra chợ tỉnh bán. Suốt ngày không bán được phải dẫn bò về. Ðường xa mệt nhọc, con bò trở chứng không chịu đi. Có người gạ đổi con bò lấy con ngựa hồng tung tăng. Anh tưởng được ngựa sẽ thong thả dong cương ra về, nhưng con ngựa lạ chủ không chịu cho anh cưỡi và cũng trì kéo dằng dai. Một người khác dẫn con heo nái ngoan ngoãn đi qua, gạ đổi heo lấy ngựa, anh đổi liền.Ðường xa mệt nhọc, con heo cũng nằm ì không chịu đi, bí quá, anh đổi heo lấy một con dê nái. Con dê càng cứng đầu khủng khiếp, anh vật lộn với dê phờ phạc.Ðêm đã tối mịt mù, một hành khách đề nghị đổi dê lấy một con gà trống lớn. Vừa đói, vừa khát, vừa mệt, anh ôm con gà vào quán đổi lấy bữa cơm. Thế là một bữa ăn trả giá bằng một con bò. Ăn xong, anh nông phu thong thả ra về, vừa đi vừa ca hát khỏe khoắn.Khi về đầu làng, có bạn quen hỏi đi đâu mà về khuya thế. Anh kể chuyện đi bán bò, và đổi con gà lấy bữa cơm. Người bạn hết hồn, khuyên anh khoan về nhà, mà bà vợ nổi cơn tam bành lên, không khéo vợ chồng xô xát gây ra án mạng. Anh nông dân bảo rằng, chắc vợ anh cũng thấy việc làm của anh là có lý. Người bạn ức quá, đánh cá một con bò, nếu chị vợ mà không gây gổ, thì anh nông dân sẽ được một con bò, còn ngược lại, phải mất lại một con bò khác. Người bạn đi theo núp bên ngoài nghe cuộc đối thoại của vợ chồng anh nông dân. Chị vợ hỏi anh, đã ăn gì chưa, đi đường có mệt lắm không, bò bán có được giá không? Anh đáp rằng đã ăn rồi, con bò không bán được mà trên đường về nó không chịu đi nên đã đổi con bò lấy con ngựa rồi. Chị vợ nói rằng, có con ngựa cũng tốt, nó sẽ kéo xe, giúp mình di chuyển mau chóng hơn. Anh chồng cho biết con ngựa không chịu cho anh cưỡi nên đã đổi lấy con heo nái. Chị vợ cũng tán thành ngay và còn dự trù con heo mùa sau sẽ sinh ra một bầy heo khác, rất có lợi. Anh chồng cho biết thêm, con heo cũng trở chứng không chịu đi nên đổi lấy một con dê cái. Chị vợ tiếp liền, là con dê cũng rất có lợi, từ nay mỗi sáng gia đình sẽ có sữa dê mà uống. Anh chồng lắc đầu và cho biết đã đổi con dê ương ngạnh lấy con gà trống lớn. Chị vợ anh nông phu tiếp rằng, có con gà cũng tốt, mỗi sáng nghe nó gáy cũng vui tai. Anh chồng bảo là buổi sáng ra đi không đem tiền theo, đói quá, đã vào quán đổi con gà lấy bữa cơm.Nghe xong, chị vợ anh nông phu đến quàng hai tay, ôm vai chồng và nói rằng, anh làm như thế là phải. Lấy của che thân, chứ đừng lấy thân che của. Ði cả ngày mệt nhọc đói khát, không ăn chịu sao nổi. Em đã để sẵn khăn, múc sẵn nước, anh đi tắm cho khỏe."Mai kết luận rằng: "Muốn được chồng thương cũng rất dễ, đừng bao giờ tranh hơn thua với chồng, việc gì đã lỡ, thì cho qua luôn, vui vẻ chấp nhận, và dịu dàng, nhường nhịn chồng là yếu tố căn bản để được chồng thương".
11.
Ngoài song thân ra, người tôi biết ơn nhiều nhất là vợ tôi. Ðời sống tôi có ý nghĩa hơn, sung sướng hơn, hạnh phúc hơn nhờ vợ khôn ngoan dịu dàng. Nhiều đêm thức giấc tôi nhẹ hôn lên mắt vợ, thầm so sánh tấm lòng hiền chân của vợ với trái tim của một vị nữ thánh. Phần nàng, thì luôn luôn: "Em chỉ muốn làm cái bóng nhỏ và âm thầm bên đời anh thôi". Mai chưa hề đọc thánh kinh, nhưng nàng đã biết chọn chỗ ngồi thấp nhất để được nâng lên cao nhất trong lòng chồng con.


(Tràm Cà Mâu)

CSVN TRÊN BÚA DƯỚI ĐE

HỌA VÔ ĐƠN CHÍ CHO CSVN

hay

CSVN TRÊN BÚA DƯỚI ĐE

Trên Diễn Đàn, có nhiều Bài phân tích về vấn đề An Ninh Biển Đông. Nhưng đối với Việt Nam và Trung quốc, đó là vấn đề CHỦ QUYỀN HẢI ĐẢO VÀ BIỂN VÂY QUANH. Về An Ninh Biển Đông, thì Tầu và Mỹ nhân nhượng dàn xếp với nhau không khó khăn.

Nhưng vấn đề Chủ quyền Hải đảo và Biển vây quanh mới là điều chính yếu mà chúng tôi phân tích hoàn cảnh ngày 16.06.2011 dưới đầu đề HỌA VÔ ĐƠN CHÍ CHO CSVN. Bộ Chính trị CSVN biết rõ rệt là đảng CSVN đang kê đầu ở giữa BÚA (Tầu) và ĐE (Dân chúng VN). Có thể lấy đầu đề của Bài phân tích cho cụ thể hơn: CSVN TRÊN BÚA DƯỚI ĐE.

Trung quốc chắc chắn không nhả Hoàng Sa, Trường Sa và Biển vây quanh vì họ muốn khai thác cho bằng được Dầu khí mà họ đang thiếu thốn. Vì Tài nguyên của vùng các Quần đảo này, mà Trung quốc đã không còn nghĩ đến 16 chữ vàng là gì, nên nhất định giáng BÚA xuống đầu CSVN. Dân chúng Việt Nam thì không thể chịu được việc mất các Hải đảo này và Biển vây quanh.

Chỉ trong tháng tới, khi Trung quốc mang dàn khoan Dầu xuống Trường Sa, thì CSVN khó lòng lấy lại Chủ quyền Hải đảo cho Việt Nam. Đó là nhát BÚA thứ nhất giáng vào đầu CSVN.

Dân chúng Việt Nam, trước cảnh mất Hài đảo mà cái lỗi là do đảng CSVN đã bán cho Trung quốc từ thời Hồ Chí Minh/Phạm Văn Đồng, trở thành hoàn toàn phẫn nộ. Bất lực không lấy lại được Chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa và Biển vây quanh, Dân chúng sẽ từ phong trào chống Tầu xâm lăng chuyển sang Phong trào TÌM GIẾT THỦ PHẠM (CSVN) đã bán đứng những Hải đảo ấy mà nay không đòi được lại.

Chính Trung quốc đẩy CSVN xuống hố và Dân chúng VN lấy đất chôn vùi cái đám CSVN Ma-ca-rồng (Dracula) đi cho rồi.

Nguyễn Phúc Liên

Từ mấy tháng nay, chúng tôi viết về tình trạng tụt dốc Kinh tế Việt Nam và Lạm phát tăng vọt, Vật giá phi mã, làm dân chúng khổ cực. Tất cả tình trạng đau đớn này cũng chỉ vì Cơ chế CSVN chủ trương Độc tài Chính trị nắm Độc quyền Kinh tế để Tham nhũng Lãng phí sinh ra như giòi bọ từ trung ương đến địa phương.

Đây là cái HỌA THỨ NHẤT làm cho CSVN đang đi đường dốc xuống vực thẳm vỡ tan tành, tanh banh. Cuộc NỔI DẬY của đại đa số quần chúng nghèo DÂN OAN/CÔNG NHÂN chống BẤT CÔNG và của Giáo dân Công giáo đòi CÔNG LÝ chỉ cần tiếp sức đẩy việc tụt dốc CSVN mau nhào xuống vực thẳm.

Nhưng cái HỌA THỨ HAI vừa xẩy ra cho cả đảng CSVN, đó là do chính quan thầy Trung Cộng giáng xuống cho. Đảng CSVN đã tròng vào cổ CÔNG HÀM BÁN NƯỚC ký bởi Phạm Văn Đồng do lệnh của Hồ Chí Minh. Cả đảng CSVN, thậm chí cả những đảng viên phản tỉnh vẫn dấu CÔNG HÀM BÁN NƯỚC này như mèo dấu cứt. Không những vậy, cả đảng con cháu Hồ Chí Minh/ Phạm Văn Đồng, vẫn ham quyền và ham tiền bạc, đã tiếp tục bán biên giới, bán tài nguyên nội địa cho Trung quốc để vơ vét tiền bạc cho túi riêng.

Vụ việc gần đây là Trung quốc cắt cáp lần nhất tầu Bình Minh 2 và lần hai tầu Viking 2. Hai tầu này chỉ có mục đích thăm dò dầu khí trong vùng Biển Đông thuộc Việt Nam. Gíao sư Carle THAYER nói việc cắt cáp lần nhất tầu Bình Minh 2 có thể chỉ là sự cố, nhưng việc cắt cáp lần hai tầu Viking 2 thì rõ ràng là chủ trương khẳng định Chủ quyền trên cả vùng Biển Đông này.

Với lo lắng bành trướng thương mại trên Thế giới, Trung quốc phải tìm lý do để biện minh cho thái độ của mình. Cái lý do mà họ đưa ra là từ năm 1958, họ tuyên bố chủ quyền 12 dậm về biển cả từ thềm đất liền. Chủ quyền này chính CON HÀM BÁN NƯỚC Hồ Chí Minh/Phạm Văn Đồng đã chấp nhận. Khi cái Lưỡi bò Trung quốc liếm các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, thì hai quần đảo này gọi là đất đai của họ và họ từ đó tính ra 12 dậm làm Biển của họ. Vì CÔNG HÀM BÁN NƯỚC ấy mà Trung quốc coi việc tầu Bình Minh 2 và tầu Viking 2 thăm dò dầu khí và các tầu ngư dân Việt Nam đánh cá là vi phạm hải phận của họ, nên họ cắt cáp và bắn giết ngư dân VN đánh cá.

Theo Bản Tin dưới đây của FreeVietNews (Posted on 15 Jun 2011), thì không phải Trung quốc cắt cáp lần nhất tầu Bình Minh 2 như một sự cố và cắt cáp lần hai tầu Viking 2 như một Chủ trương theo Gíao sư Carle THAYER, mà còn là một ý đồ Khai thác vĩnh viễn tài nguyên dầu khí cho họ dưới vùng lưỡi bò này mà Hô Chí Minh/Phạm Văn Đồng đã công khai chấp nhận:

Bản Tin của FreeVietNews như sau:

“TRUNG CỘNG SẮP BỐ TRÍ GIÀN KHOAN DẦU KHỔNG LỒ Ở BIỂN NAM TRUNG HOA

Tin Bắc Kinh - Báo chí Trung Cộng đưa tin một dàn khoan dầu nước sâu sẽ được thử nghiệm để chuẩn bị bố trí trong hải phận nằm về phía nam của Hoa lục. Báo chí nhà nước Trung Cộng đưa tin một giàn khoan dầu nước sâu vĩ đại có tên tiếng Anh là Marine Oil 981 sẽ được mang ra thử nghiệm lần đầu tiên trong tuần này để chuẩn bị bố trí tại biển Nam Trung Hoa vào tháng 7. Công tác bố trí giàn khoan chìm phân nửa dưới nước này được tiến hành vào lúc căng thẳng tăng cao tại hải phận mà Việt Nam gọi là Biển Ðông. Phải mất hơn 3 năm và tốn trên 900 triệu đôla để xây giàn khoan này. Ngay khi vừa xây xong, chính phủ Phi Luật Tân đã tỏ ý quan tâm và đã chất vấn Trung Cộng xem họ định đặt nó ở đâu.

Báo chí Trung Cộng nói dàn khoan này dài 114 thước, cao 140 thước và nặng 31,000 tấn. Theo công ty đóng tàu quốc doanh Trung Cộng, dàn khoan này có thể đào sâu ở mặt biển đến 3 cây số, và mũi khoan có thể đi sâu đến 12 cây số. Các kỹ sư nói với báo chí nhà nước Trung Cộng giàn khoan này được thiết kế đặc biệt để hoạt động tại hải phận gập ghềnh của biển Nam Trung Hoa.

Dù Phi Luật Tân đã lên tiếng, nhưng nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam vẫn hoàn toàn im lặng không dám đặt câu hỏi hay phản đối, cho thấy sự khiếp nhược của chế độ độc tài hiện nay tại Việt Nam chỉ biết đàn áp dân mà hèn nhát với quan thày Trung cộng.(SBTN)”

Đảng CSVN đã giấu việc bán Biển của Hồ Chí Minh/ Phạm Văn Đồng như mèo dấu cứt. Nay Trung Cộng, người anh em hữu nghị với 16 chữ vàng đã khơi đống cứt đó ra.

Những cuộc Biểu tình của Giới Trẻ, Trí thức, Tư doanh gần đây chỉ nhấn mạnh đến chống Trung quốc xâm lăng. Họ chưa nắm vững rằng ngoài tính xâm lăng của Trung quốc, còn cái tội BÁN BIỂN của Hồ Chí Minh/Phạm Văn Đồng.

Vấn đề Biển Đông không phải chỉ là tranh chấp biển cả suông, mà chính là việc tranh chấp QUYỀN LỢI, nhất là dầu khí nằm dưới Biển Đông. Khi nói đến tranh chấp QUYỀN LỢI tài nguyên, nhất là dầu khí, thì Trung quốc khó nhả ra và tất nhiên Việt Nam khó đòi lại. Khi CSVN không đòi lại được QUYỀN LỢI (đây là việc hầu như bất lực!), thì Giới trẻ7Trí thức/Tư doanh VN, từ sự bất lực đòi lại QUYỀN LỢI dầu khí cho Việt Nam, sẽ đẩy việc NỔI DẬY từ chống xâm lăng Trung quốc sang hạch tội BÁN NUỚC của đảng CSVN. Cái tội này Trới không tha Đất không dung, nghĩa là phải dứt điểm tiêu diệt đảng CSVN bán nước.

Kinh tế đang là cái HỌA THƯ NHẤT. Tội BÁN NƯỚC sẽ là cái HỌA THỨ HAI cho CSVN. Họa vô đơn chí là ở chỗ đó vậy.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

Geneva, 16.06.2011

Web: http://VietTUDAN.net

ANH VĂN CHỦ TỊT

ANH VĂN CHỦ TỊT

Ngài Chủ Tịt Việt Lam Cộng Sản
Qua viếng thăm Tư Bản Huê Kỳ.
Vốn tiếng Anh ngài chỉ một ly
Nên được bọn nô tỳ huấn luyện
Trước chuyến đi để lấy sĩ diện.
Buổi huấn luyện khởi diễn như vầy:
"Gặp ông Bush, Ngài nhớ nói ngay:
"How are you?", đua tay ra bắt.
Khi đó chắc chắn là ông Bush
Sẽ trả lời: "Good! Good! I'm fine"
Rồi ổng hỏi: "And you?" tiếp ngay.
"Me too, Thanh you!" Ngài đáp lại.
Vậy là xong! Những chuyện sắp tới
Chúng tôi lo, Ngài khỏi bận tâm!"
Ngài Chủ Tịt, cả tháng lầm bầm
Mấy câu tủ để làm vốn liếng.
Hôm gặp Bush, ngài vội lên tiếng:
"Who are you?" ---- Bush điếng cả người
Nhưng lịch sự nên chỉ cười cười:
"Laura's husband", rồi nhướng mắt
Nhìn ngài Chủ Tịt nhà ta lắp bắp:
"Me too!" đang ngoang ngoác cười theo!
CHẨM TÁ NHÂN
06/23/2011
Câu chuyn chuyến thăm Hoa Kỳ ca Ngài Ch Tch Nguyn Minh Triết

Vì " Yếu English " nên trước khi có cuộc gặp với Tổng Thống Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ , người nhân viên phiên dịch tùy tùng nói với Ngài chủ tịch nước Việt Nam là khi Ngài bắt tay Ông George W. Bush hãy nói : " How are you ? ", và Bush sẽ nói : " I am fine, and you ? " , Khi đó ngài chỉ cần nói : " Me too " , rồi sau đó thì sẽ là phần việc còn lại của phiên dịch viên chúng tôi , " No problem " Ngài Chủ Tịch trấn an nhân viên mình bằng câu English ngắn gọn .

Có thể vì hơi khớp và hơi quá tự tin không chịu dợt nên Khi bắt tay Ông Bush thì đã nhầm thành : " Who are you ? " , mặc dù bị shock nhưng cũng là người vui tính nên Bush đã nhanh nhẹn nói : " Well , I am Laura 's husband , hahahaha ". và Ngài Chủ Tịch Triết cũng nhanh chóng trả bài ngay một cách rất tự hào dân tộc : " Me too, hahahaha ".

Lời Tỏ Tình


***

Sau khi chiếm được nam Việt Nam , năm 1975, Cộng Sản miền Bắc lùa số lớn công chức, quân nhân, đảng viên các đảng phái quốc gia, các nhà tu hành của các tôn giáo miền Nam , ra Bắc “khổ sai biệt xứ”. Liên Xô có Xi-bê-ri thì Việt Nam có vùng núi non Tây Bắc khắc nghiệt, tuy không lạnh bằng Xi-bê-ri nhưng cũng đủ cho tù chết dần. Chết vì lạnh, vì đói, vì lao động kiệt sức và vì bịnh mà không có thuốc chữa.

Thông thường, tù phải tự đốn cây, cắt tranh làm lán cho mình ở, phải phá rừng, làm rẫy trồng trọt khoai củ nuôi thân. Nhà nước Cộng Sản không phải tốn phí nuôi tù cải tạo. Ban ngày tù vào rừng lao động, chiều về, vào lán, cán bộ coi tù khóa cửa lại, sáng hôm sau, mở cửa cho tù đi lao động tiếp.

Mấy năm đầu, tù chết quá nhiều nên chính quyền Cộng Sản Việt Nam cho thân nhân tù được gửi thuốc, áo quần (giới hạn) bằng đường bưu điện, về sau được thăm nuôi, nghĩa là được gặp mặt tù và tiếp tế lương thực, mùng mền, thuốc men…giúp tù chịu đựng, tiếp tục khai phá núi rừng và chết chậm hơn.

Trong chuyện nầy, tôi không kể về những sinh hoạt trong nhà tù mà kể về một anh bạn tù nằm cạnh tôi.

Anh Hùng, (nằm cạnh tôi) là người ít nói nhưng thường quan tâm đến người khác. Buổi tối, vào lán, thấy ai có vẻ trầm tư, suy nghĩ, là anh sà đến, nói huyên thiên những chuyện trên trời dưới đất, chuyện nào cũng khiến người nghe bật cười. Thế là người bạn đó bớt buồn. Khi quay về, anh bảo tôi
- Khá rồi! Lo buồn làm mình suy sụp nhanh nhất. Nhanh hơn cả bịnh hoạn. Chỉ cần mất ngủ vài ba đêm là không đủ sức gượng dậy.

Ai cũng biết điều đó, nhưng rất khó vượt qua, nhất là những người không được thăm nuôi, thậm chí không nhận được thư của thân nhân gửi vào. Họ được gọi là “con bà xơ” (nữ tu), ý nói là con hoang trong trại mồ côi do các bà xơ (soeurs) nuôi dưỡng. Các tù nhân con bà xơ nầy, mỗi khi thấy người nào ra thăm thân nhân, đem đồ tiếp tế vào là họ tránh chỗ khác, tìm những người cùng hoàn cảnh (không có thăm nuôi) mà chuyện trò, ăn mấy củ khoai, củ sắn với nhau. Được tặng thức ăn (thăm nuôi) họ có thể nhận một lần, lần sau thì từ chối.
- Xin cám ơn anh, tôi nhận thì không có gì tặng lại. Anh thông cảm cho tôi. Xin giữ lấy.

Trong tù, chỉ nghĩ đến miếng thịt, cây kẹo cũng đủ chảy nước miếng, vì cơ thể quá cần, nhưng nhận chút thực phẩm của bạn cho, lấy gì trả lại?

Tôi với anh Hùng, may mắn, được vợ thăm nuôi, dù cả năm chỉ được một lần và chỉ được một xách nhỏ. Một gói đường tán đen, gói cá khô, ít đậu và gạo, ít thuốc men, chỉ vậy thôi, vì tiền xe cộ đi hàng nghìn cây số (từ miền Nam ra núi rừng tây bắc), ăn uống dọc đường…hết cả! Chúng tôi nghèo quá, nhưng vợ chồng gặp mặt nhau là may rồi. Tôi mừng, nhưng anh Hùng lại mừng hơn. Lần thăm nuôi nào anh cũng bảo.
- Đây là lần chót!

Thế nên, mỗi khi được gọi tên ra gặp thân nhân thì anh ngạc nhiên.
- Ai thăm tôi? Bà cụ thì quá yếu, không đi nổi!

Tôi cười bảo.
- Không phải vợ thì ai vào đây?

Theo vợ tôi kể, trong một lá thư gửi cho tôi, chỉ một lần vợ tôi cùng đi thăm nuôi với vợ anh Hùng mà hai người thành bạn thân. Cả hai đều ở trong một con hẻm vùng Đa Kao lại có chồng là bạn nằm cạnh nhau trong tù, cùng hoàn cảnh nên hai người đàn bà thương nhau, thường giúp đỡ nhau trong việc buôn bán mưu sinh.
Vì thấy anh vui hơi quá đáng mỗi khi được thăm nuôi nên tôi tò mò, cố tìm hiểu vì sao? Đúng ra, trong tù không nên biết chuyện gia đình người khác, nếu người đó không tự ý kể ra. Tôi không nhớ mình đã gợi ý cách nào khiến cho anh Hùng kể chuyện vợ con của anh.
Sau đây là câu chuyện theo lời Anh kể.

. . .

- Tôi là con trai độc nhất của bà cụ tôi. Đúng hơn, tôi là độc đinh của cả giòng họ nhà tôi. Nếu mẹ tôi không sinh ra tôi thì coi như họ Hoàng Đắc của tôi tuyệt tự. Mẹ tôi săn sóc, chăm lo cho tôi, vì tình thương mà cũng vì trách nhiệm bên nhà chồng giao phó, là phải có người thừa tự, lo nhang khói, cúng giỗ để vong linh ông bà, tổ tiên khỏi bơ vơ, thành ma đói, ma khát, vất vưỡng trong cõi u minh. Thế nên, khi tôi vừa xong tú tài là mẹ tôi lo tìm vợ cho tôi, vì bà sợ tôi vào quân đội, không biết chết lúc nào, sẽ không kịp có con trai để nối dõi tông đường. Tôi thì không để ý đến chuyện đó. Ngay trong thời đi học, bạn bè yêu cô nầy, cô kia, tôi chỉ biết bài vở và các môn thể thao như đá banh, học võ…

Đến khi thi xong tú tài một, tôi tình nguyện đi sĩ quan Thủ Đức. Mẹ tôi, thời trẻ là đảng viên một đảng phái Quốc Gia, thông hiểu tình hình đất nước, bà cụ bảo tôi “Khi tổ quốc lâm nguy, làm con dân phải có bổn phận cùng với mọi người bảo vệ đất nước, bảo vệ đồng bào. Những tên trốn lính, sống chui, sống nhủi chỉ thêm nhục. Nhưng con phải lấy vợ, sinh con trai để sau nầy lo nhang khói cho ông bà, tổ tiên”. Mẹ tôi hỏi tôi có để ý cô nào chưa? Tôi thưa rằng “Mẹ xem cô nào vừa ý mẹ thì cưới cho con chứ con không có người yêu”. Mẹ tôi đến nhà các bà bạn, ngắm nghía cô nầy, dọ hỏi cô kia, cuối cùng bà chọn được một cô. Mẹ tôi nhờ người mai mối, gia đình cô ta đồng ý ngay. Để tôi được gặp cô gái, mẹ tôi mua một ít trái cây, sai tôi đem đến biếu gia đình cô ta. Hình như cô gái không biết có sự xếp đặt giữa hai gia đình nên cô ta tiếp tôi rất hồn nhiên, vô tư như với bạn bè. Tôi thấy cô cũng xinh, hiền lành, vui vẻ nên về thưa với mẹ tôi rằng “Mẹ thấy vừa ý thì con xin vâng lời”. Quả thật, cô gái hoàn toàn không biết gì về việc cô sẽ là vợ tôi. Trước ngày tôi vào quân trường, hai gia đình muốn tổ chức lễ hỏi, cưới luôn một lần. Lúc đó, cô gái mới được thông báo. Cô ta phản đối quyết liệt. Hóa ra cô đã có người yêu.

Sau nầy tôi mới biết, người cô yêu là một nhà thơ. Anh chàng có dị tật ở chân nên anh ta khỏi phải đi lính. Nhờ thế anh ta yên tâm vui chơi và ăn bám gia đình. Hết làm thơ đăng báo tán tỉnh cô nầy, cô kia thì la cà các quán cà phê, quán nhậu. Con gái mới lớn, cô nào cũng mơ mộng. Anh chàng thi sĩ nầy làm thơ ca tụng, tỏ tình với cô vợ tương lai của tôi thì chẳng khác gì bỏ bùa cô ta. Cô ta yêu mê mệt chàng thi sĩ, quyết cùng chàng “Một túp lều tranh hai quả tim vàng”. Bất ngờ cô bị ép phải lấy tôi làm chồng. Cô tuyên bố thẳng thừng với cha mẹ rằng cô ta sẽ trốn đi với chàng thi sĩ, nếu không trốn được mà bị ép duyên, cô ta sẽ uống thuốc rầy tự tử. Gia đình cô ta hình như có xích mích gì đó với gia đình “nhà thơ” nên không muốn làm sui gia với họ. Thế nên bà mẹ mới bảo với con gái rằng “Mầy muốn trốn theo trai thì cứ trốn đi, nhưng không được theo thằng chó chết của nhà đó. Nếu mầy theo nó, thì nhớ ba ngày sau quay về dự đám ma tao. Còn mầy muốn tự tử thì tao mua cho mầy chai thuốc rầy, nhưng uống nửa chai thôi, để một nửa cho tao. Nuôi mầy khôn lớn để mầy làm nhục cha mẹ…” Lời tuyên bố đó khiến cô gái không còn lựa chọn nào khác. Thế nên, trước ngày cưới, cô ta hẹn tôi ra một quán nước.

Sáng đó, chúng tôi gặp nhau. Tôi ngồi đối diện. Quán vắng người nên cô ta chẳng cần giữ lời, tấn công tôi ngay “Tôi và anh không hề quen biết nhau, không thù oán nhau, tại sao anh cố tình phá vỡ tình yêu của chúng tôi? Anh có biết, vợ chồng không có tình yêu mà sống với nhau là sống trong địa ngục không?”

Tôi trả lời “Đây là chuyện hai gia đình với nhau. Cô không bằng lòng lấy tôi thì cứ nói thẳng với ba mẹ cô hoặc nói với mẹ tôi. Tôi không có ý kiến. Tôi không cần vợ, nhưng mẹ tôi cần có cháu nội trai để nối dõi tông đường. Tôi sẽ vào quân đội. Chiến tranh rất ác liệt. Đời lính chiến, hành quân liên miên, cưới cô về, được bao nhiêu lần chúng ta gặp nhau? Để có con, còn khó hơn. Và có thể một ngày, một tuần, một tháng sau đó, tôi tử trận. Cô sẽ thành quả phụ. Nhanh lắm. Tôi nói sự thật để cô đủ lý do từ chối việc cầu hôn của tôi” Cô yên lặng lắng nghe. Tôi cũng suy nghĩ, lựa lời một lúc mới nói tiếp “Nếu bị ép duyên, và nếu không còn con đường nào khác để làm vui lòng cha mẹ cô, cô nên lấy tôi. Vì sau khi ra trường sĩ quan, tôi sẽ chọn binh chủng tác chiến, tôi sẽ leo lên bàn thờ nhanh lắm. Khi tôi chết rồi, gia đình cô không còn quyền cấm cô về sống với người cô yêu. Mà dù tôi chưa tử trận, khó khăn của tôi vẫn là phải có con trai cho mẹ tôi an tâm. Tôi đề nghị thế nầy. Sau khi là vợ tôi, dĩ nhiên là tôi đi hành quân, đâu có về nhà thường xuyên được… Cô cứ hẹn hò với người yêu, miễn sao đừng cho thiên hạ biết, khi nào có bầu, cô ra đơn vị tìm tôi rồi quay về nhà. Mục đích để hợp thức hóa đứa bé trong bụng cô. Tôi sẽ không ghen tương gì mà mẹ tôi lại mừng vì đã làm tròn bổn phận đối với gia tộc tôi…” Chưa nghe hết câu, cô chồm qua bàn, thẳng tay tát tôi một tát tai, nảy đom đóm mắt “Tôi cấm anh không được nhục mạ tôi theo lối nói vô học đó. Anh xem tôi là hạng người gì?..” Rồi cô ôm mặt, gục xuống bàn khóc nức nở. Cô khóc to, như rống lên rồi lấy khăn bịt miệng mình lại để tự kềm chế. Tôi kinh hoàng, vội qua ngồi cạnh cô, lắp bắp “Tôi xin lỗi! Tôi xin lỗi! Cô tha thứ cho tôi” Tôi định choàng tay qua vai cô để vỗ về thì cô xô mạnh tôi ra, khiến tôi suýt ngã ngữa. Cô cứ cúi đầu thút thít mãi. Tôi chán nản, nghĩ rằng, tốt nhất về thưa với mẹ tôi rút lui vụ cưới hỏi nầy để khỏi rắc rối, có khi gây oán thù với cô ta và cả người tình của cô nữa.

Tôi đứng lên, đến quày trả tiền. Cô chủ quán hỏi tôi “Có chuyện gì vậy?” Tôi lắc đầu, quay lại bàn nước, ngồi cạnh cô để tránh tia mắt cô đang nhìn đăm đăm phía trước như người xuất hồn. Tôi nói “Tôi đã hiểu cô, đã biết mối tình của cô. Xin cô yên tâm. Tôi sẽ báo cho mẹ tôi hủy bỏ vụ nầy. Cô được tự do”. Tôi định đứng lên thì cô ra dấu tôi ngồi xuống. Cô nói mà không nhìn tôi “Anh chẳng có lỗi gì trong chuyện nầy. Gia đình tôi nhất quyết gả tôi cho người khác. Ai cũng được, ngoại trừ người tôi yêu” Rồi cô quay nhìn tôi, mắt long lên, môi mím lại “Tôi đồng ý lấy anh. Nhưng tôi cho anh biết. Anh chiếm đoạt được trinh tiết của tôi, chiếm đoạt được thân xác tôi nhưng không thể chiếm đoạt được trái tim tôi. Đừng hi vọng tôi sẽ thương yêu anh. Tôi không thù anh, nhưng tôi không thể yêu thương ai ngoài người tôi yêu. Tôi cũng cho anh biết trước rằng, về làm vợ anh, dù đến mãn đời, tôi thề sẽ không bao giờ nói tiếng yêu thương với anh, không bao giờ hôn anh. Mong anh cũng làm như thế” Tôi giận sôi gan, nhưng cố bình tĩnh “Tôi sẽ giữ lời. Tôi thề sẽ không nói thương yêu với cô, không hôn cô, vì tôi biết chúng ta chẳng hề yêu thương nhau. Tôi cũng yêu cầu cô nhớ lời thề đó. Sau nầy, nếu tôi tử trận, xin cô đừng giả vờ khóc, vì tôi biết đó là ngày vui của cô, ngày cô được giải thoát để về với người cô yêu. Không cưới cô thì mẹ tôi cũng tìm một cô khác cho tôi. Từ hôm nay cho đến tuần sau, cô có thể báo cho mẹ tôi biết quyết định của cô. Mà dù đã là vợ tôi, cô vẫn tự do. Cô có thể gặp người yêu của cô bất cứ lúc nào, chỉ mong cô cố gắng cho mẹ tôi một đứa cháu trai. Xin cô giúp tôi”

Kể đến đấy anh Hùng hỏi tôi “Nếu vào trường hợp tôi, anh sẽ nghĩ sao? Chúng tôi có ba mặt con với nhau, nhưng không bao giờ tôi nghĩ rằng cô ta còn lưu lại trong gia đình tôi cho đến ngày tôi vô tù như hôm nay” Anh quay ra sau, lục trong xách nhỏ, lấy ra mấy tấm hình, trao cho tôi “Anh nhìn xem, mấy đứa nhỏ nầy giống ai?” Tôi nhìn và nói ngay “Giống anh chứ giống ai? Con anh phải không? Hai thằng nhỏ nầy là anh em sinh đôi?” Anh trầm tư “Để tôi dài dòng một chút. Trước khi vào quân trường, tôi cưới vợ. Khi còn đang thụ huấn trong Thủ Đức, được tin vợ sinh, tôi về phép, vào nhà bảo sanh. Vợ tôi sinh con gái. Tôi ôm đứa bé vào lòng. Lúc đó, tôi không thắc mắc, ai là tác giả của sinh vật bé bỏng đó, nhưng không hiểu sao, tôi thương nó quá. Tôi ngắm nghía nó, hôn nó, thì thầm với nó mà quên cả chung quanh. Lúc đặt con xuống bên cạnh vợ, cô ta nắm lấy bàn tay tôi, nhìn tôi, nước mắt ứa ra. Cô ta khóc. Tôi hiểu ý nên nói “Xin lỗi! Nhưng tôi thương nó. Lần sau, cố giúp tôi một thằng con trai…”

Tôi ngắt lời anh “Bộ hai người xưng tôi chứ không anh em gì cả sao?” “Cô thì xưng em với tôi, còn tôi, khi chán nản hoặc chỉ có hai người, tôi xưng “tôi” và nói trống không. Khi có người thứ ba thì tôi “anh, em” như vợ chồng bình thường… Sau đó, cô sinh đôi, hai thằng con trai. Khi tôi đi tù thì hai thằng con được gần hai tuổi.
- Hai anh chị thề thốt với nhau rằng sẽ không hôn, không nói tiếng yêu thương với nhau, rồi có giữ lời không?
- Tôi có vợ mà tâm lý không giống những ông khác. Tôi chỉ làm bổn phận. Tôi đâu cần tình yêu mới làm chuyện vợ chồng được. Khi cô ta vừa sinh hai thằng con trai, tôi dự định, hễ hai đứa nhỏ cứng cáp thì tôi sẽ nói với cô rằng muốn li dị thì tôi ký tên ngay để cô được tự do, nhưng tôi chưa kịp nói thì đi tù. Thế nên, mỗi khi tôi được gọi ra thăm nuôi, anh thường nghe tôi tự hỏi “Ai thăm nuôi mình?” vì tôi cứ đinh ninh là cô ta đã bỏ tôi để về với người tình, để khỏi nuôi mấy đứa nhỏ, khỏi nuôi mẹ tôi, khỏi thăm nuôi tôi.
- Anh có thể nói thật tình cảm của anh đối với vợ anh cho tôi nghe được không? Anh có thương vợ không?

Anh trầm ngâm.
- Chỉ sau nầy, khi tôi vào tù, cô ta không bỏ chúng tôi, lại phải vất vả, bương chải để nuôi sống bao nhiêu người trong gia đình tôi, tôi mới nghĩ rằng cô là vợ tôi. Nếu chúng tôi có yêu nhau trước đó thì sự hi sinh của cô ta còn có chút ý nghĩa. Đằng nầy…

Không ai có thể bắt cô phải cưu mang chúng tôi. Đó là sự bất công. Trước kia, tôi không màng đến ý nghĩ, tình cảm của vợ tôi. Chúng tôi ít nói chuyện với nhau. Đúng ra là không có dịp. Tôi hành quân liên miên, vài ba tháng về phép một lần. Hai mươi bốn giờ phép mà gần tối mới về đến nhà, sáng sớm lại phải ra đơn vị. Vả lại, tôi thương các con tôi lắm. Vừa bước vô nhà, chào mẹ tôi xong là tôi quấn quít với con, hôn hít đứa nầy, bồng ẵm đứa kia, đưa chúng ra đường mua quà, kẹo bánh. Lần nào về phép tôi cũng ôm con mà cứ nghĩ rằng, đây là lần cuối mình được gần các con. Ra trận, đạn như vãi trấu, bạn bè, đồng đội tôi ngã xuống ngay bên cạnh. Trước sau gì cũng đến lượt mình. Còn vợ tôi, tôi cảm tưởng như giữa hai đứa có một bức tường vô hình ngăn cách, và cô ta, sinh con xong, bồng nó, đưa qua bức tường vô hình đó, trao cho tôi. Chúng là con tôi. Vì ám ảnh đó mà mọi sự săn sóc, lo lắng của cô dành cho tôi, tôi tưởng như của một cô bạn gái cùng lớp giúp bạn trong một buổi đi chơi chung ngoài trời, vậy thôi. Mỗi khi tôi về phép, thấy tôi bước vào nhà là cô vội lo nước nôi, khăn tắm, áo quần để sẵn đó rồi chạy ra chợ mua thức ăn, chạy về, chui vào bếp, nấu nướng, dọn lên. Ăn xong, lại dọn rửa, rồi giặt giũ áo quần cho tôi, phơi phóng, sắp xếp, chuẩn bị mọi thứ trong xách để sáng sớm là tôi chỉ việc đeo lên vai, về đơn vị. Cô xoay tròn như chong chóng. Tôi thì tắm con, đút cơm cho chúng, rồi chơi đùa, kể chuyện cho chúng nghe, ru chúng ngủ, không màng đến vợ, không nhìn đến mẹ. Người ngoài nhìn vô, đó là một gia đình bình thường. Mẹ tôi thì vui lắm, cứ khen con dâu ngoan hiền. Bà cụ không biết dĩ vãng của cô, cũng không thấy những đợt sóng ngầm đang kiên trì, thì thầm gọi cô thoát ly.

Bây giờ, ở tù kiểu nầy thì chỉ có chết hoặc mục xương trong tù vì chẳng ai biết ngày về. Cái chết đối với thằng lính chiến như tôi thì sá gì, nhưng tôi thương các con quá, chỉ mong được về để lo cho chúng và săn sóc vợ tôi để đền đáp bao khổ nhọc mà cô ta đã phải chịu đựng.

Từ khi nghe anh Hùng kể chuyện gia đình, tôi cũng đâm ra hồi hộp mỗi khi nghe tên anh ta được gọi ra thăm nuôi. Tôi tưởng tượng mẹ anh Hùng hoặc bà cụ nhờ một người nào đó gặp anh và báo tin rằng vợ anh đã bỏ đi lấy chồng rồi. Nhưng lần nào cũng là chị ta. Lần đầu được giới thiệu là vợ anh Hùng, tôi thấy chị ta, tuy đen và ốm, xác xơ vì sinh kế nhưng còn phảng phất những nét thanh tú và quí phái. Chị ta, thời trẻ, ắt đã làm bao trái tim bọn con trai xao xuyến.

Mỗi lần ra thăm nuôi, anh Hùng, tôi và vài người tù ngồi một bên chiếc bàn dài, đối diện (bên kia bàn) là thân nhân của tù. Đầu bàn có một công an ngồi theo dõi, lắng nghe tù và thân nhân chuyện trò. Tù chỉ có mười lăm phút gặp người thân nên ai cũng cố nói thật nhiều, hỏi thật nhiều những điều cần thiết. Tôi cũng gấp rút chuyện trò với vợ nhưng cũng để ý xem vợ chồng anh Hùng có gì khác thường không?

Hình như anh Hùng không nhìn vợ mà hơi cúi xuống vẻ đắn đo, suy nghĩ. Trái lại chị vợ ngồi nhìn chồng đăm đăm như thôi miên anh ta.
Thông thường, trong lúc gặp gỡ, người vợ để bàn tay bên hông của giỏ quà thăm nuôi, phía khuất tia nhìn của công an, người chồng biết ý sẽ để bàn tay mình lên bàn tay vợ, bóp nhẹ. Bao nhiêu năm xa cách, chỉ cần chạm nhẹ hai bàn tay với nhau cũng đủ cho vợ chồng ngây ngất, rung động cả thể xác và tâm hồn. Giây phút đó quí giá hơn bao nhiêu lần ôm ấp nhau mà vợ chồng đã trải qua.

Vợ anh Hùng cũng để tay bên giỏ thăm nuôi. Anh Hùng chỉ đụng rất nhẹ vào tay vợ, như vô tình rồi rút tay về. Chị ta vẫn để yên bàn tay và chờ đợi. Anh Hùng lại đụng nhẹ tay vợ lần nữa, rồi lại rút về. Cả hai yên lặng. Rồi hình như anh nói nho nhỏ gì đó với vợ.

Thời gian thăm gặp qua rất nhanh. Lúc chia tay, anh Hùng xách gói quà thăm nuôi đi thẳng mà không ngoái nhìn người thân như các tù nhân khác.

Chúng tôi ở tù trên mười năm nhưng chỉ ở chung lán trại hơn ba năm, sau đó bị phân tán đi các trại tù khác. Dù vậy, tình bạn giữa chúng tôi đã như ruột thịt. Bảy năm sau, chúng tôi mới gặp lại nhau ở trại tù Z 30, Xuân Lộc. Sau đó, chúng tôi cùng ra tù một lần, vào năm 1986.

Chúng tôi, hai thằng tù trung niên mà trông đã hom hem. Tóc đã có sợi bạc, chân tay như những khúc xương khô. Vợ tôi và vợ anh Hùng, sau mười năm vất vả, cũng đã là hai chị nạ dòng đen thui, đầu tóc, áo quần tả tơi vì suốt ngày lê lết đầu đường xó chợ. Hai người mua đi bán lại từng đôi giày cũ, áo quần cũ, răng vàng bạc vụn, đồng hồ hư, radio hư…Nghĩa là ai bán gì cũng mua, ai mua gì cũng có.

Thời bấy giờ, tù về xã hội chỉ làm được các nghề chân tay như đạp xích lô, bán vé số, vá xe đạp…Tôi và anh Hùng, mỗi người một chiếc bàn con, mỗi cạnh hai gang tay, đặt bên lề đường, ngồi bán vé số, kiếm tiền phụ với vợ mua gạo. Lúc đó vợ tôi và vợ anh Hùng mới lấy lại chút bình tĩnh, không còn lo thất sắc mỗi ngày vì lũ con đói.

Đầu thập niên 1990, có chương trình tù cải tạo được đi Mỹ. Gia đình tôi và gia đình anh Hùng đến cùng tiểu bang Virginia nhưng khác thành phố, cách nhau hơn hai giờ lái xe. Bước chân đến xứ người với hai bàn tay trắng, chúng tôi phải làm gấp đôi người khác, vì lao động chân tay, lương hướng chẳng bao nhiêu. Sáng sớm đã ra khỏi nhà, khuya mới về. Chúng tôi chỉ gọi điện thoại trò chuyện, hỏi han nhau mà thôi. Tôi không còn để ý đến chuyện xưa của vợ chồng anh Hùng, cũng không bao giờ kể cho vợ tôi nghe. Đàn bà bép xép, một chuyện kỳ lạ như thế thì không bà nào để yên trong bụng được.

Hơn bảy năm ở xứ Mỹ, vài đứa con của gia đình tôi và gia đình anh Hùng đã tốt nghiệp đại học, có việc làm, phụ với cha mẹ lo cho các em nên chúng tôi đã bớt giờ làm việc, có dịp thăm viếng nhau. Bao nhiêu năm mới gặp lại, thấy anh Hùng khỏe mạnh, hồng hào hơn trước, chị vợ cũng mập tròn, mặt mũi tươi rói, gặp lại vợ tôi như gặp cố nhân, hai người tíu tít hỏi han, chuyện trò vui vẻ. Nơi xứ người bơ vơ nên chúng tôi coi nhau như anh em một nhà.

Đột nhiên, một buổi tối, khoảng mười giờ, điện thoại reo, vợ tôi bắt máy rồi la lên.
- Sao? Chị nói sao? Anh Hùng bị gì mà đưa vô bịnh viện cấp cứu? Chị nói chuyện với ông xã em. Em run quá!

Vợ tôi đưa điện thoại cho tôi.
- A lô! Anh Hùng bị gì vậy chị?
Bên kia đầu giây, giọng vợ anh Hùng hốt hoảng.
- Không hiểu sao. Ăn tối xong ảnh ngồi xem TV. Thình lình, ảnh kêu “Đau đầu quá!” rồi gục xuống bất tỉnh. Em gọi xe cứu thương đến đưa vô bịnh viện. Hiện em đang ở phòng cấp cứu. Ảnh chưa tỉnh. Em rối trí quá! Không biết mình phải làm gì đây?
- Chị báo cho sắp nhỏ biết chưa?
- Dạ rồi. Nhưng đứa gần nhất cũng phải năm giờ lái xe, đứa ở xa, sáng mai mới đi máy bay về.
- Ảnh không sao đâu. Chị bình tỉnh. Đưa vô bịnh viện là yên tâm.Tụi tôi sẽ đến ngay bây giờ. Lên xe, chúng tôi sẽ nói chuyện sau. Nhớ là phải bình tỉnh. Hai giờ nữa chúng tôi sẽ đến bịnh viện.

Ban đêm, xa lộ 95 không đến nỗi kẹt xe. Từ Richmond hướng về thành phố Falls Church , phía bắc tiểu bang, gần hai giờ, chúng tôi đã có mặt tại bịnh viện. Bịnh viện về đêm thật yên tĩnh. Theo sự hướng dẫn của nhân viên trực, chúng tôi đi rất nhẹ dọc hành lang để tìm phòng hồi sức.

Anh Hùng nằm trên giường với đủ thứ dây nhợ, ống trợ thở nối với dàn máy sát tường. Một cái máy điện tâm đồ với lằn sóng xanh chạy đều đều, yếu ớt. Chị Hùng quì bên cạnh, nắm tay chồng, thì thầm.
- Anh cố gắng nghe em nói. Em chỉ nói một câu thôi. Em không nói được cho anh nghe thì em đau khổ suốt đời, ân hận suốt đời. Anh có thương em không? Thương em thì nghe em nói. Nghe anh! Tội nghiệp em mà anh…

Chúng tôi đứng bên cạnh mà chị vẫn không hay biết. Vợ tôi cúi xuống vỗ nhẹ vai chị, chị quay lại, đứng lên, ôm vợ tôi, nước mắt trào ra.
- Ảnh không nghe em nói! Ảnh không biết gì nữa. Sao em ngu quá? Không nói khi ảnh còn khỏe mạnh. Mà thình lình, ảnh bị như vầy…

Chị nói lảm nhảm như người mất trí. Vợ tôi không hiểu gì cả nhưng vẫn vỗ về, nhỏ nhẹ.
- Ảnh không sao đâu. Em biết, nhiều người bị như vậy, sẽ tỉnh lại. Chị đừng lo. Bác sĩ nói sao?
- Bác sĩ nói ảnh bị xuất huyết não, đang chuẩn bị, sẽ mổ ngay. Em sợ, người ta mổ rồi ảnh đi luôn. Em mà không nói được cho ảnh nghe, chắc em chết theo để linh hồn em được gặp ảnh, nói mấy lời…

Vợ tôi lại nhìn tôi, không hiểu chuyện gì quan trọng, khẩn cấp đến độ phải nói ra cho người sắp chết nghe. Đáng ra, chính người bịnh mới cần trăn trối trước khi từ giả cõi đời. Vợ tôi, biết rằng chuyện gia đình người ta, không nên tò mò, chỉ trấn an.
- Sáng mai, mổ xong là ảnh tỉnh dậy, sẽ nghe chị nói. Chị yên tâm. Bình tỉnh mà chuẩn bị tin h thần, cầu xin Trời Phật phù hộ ảnh tai qua nạn khỏi.

Nhưng chị ta như không nghe, cứ lảm nhảm.
- Bao yêu thương, săn sóc ảnh giành cho em, em hiểu, em đón nhận, nhưng sao em ngu quá, không nói cho ảnh biết em yêu thương ảnh…

Vợ tôi ngớ ra, tưởng chị điên thật rồi. Vợ chồng yêu thương nhau, đâu cần phải nói ra mới hiểu? Chỉ mình tôi biết điều đó. Tôi nói với chị ta.
- Xin chị bình tỉnh. Tôi sẽ cố giúp chị xem sao. Tôi với anh Hùng thân thiết còn hơn ruột thịt. Hi vọng, tôi nói ảnh sẽ nghe.

Nhìn điện tâm đồ, thấy những gợn sóng rất yếu ớt, tôi biết, có mổ cũng rất ít hi vọng, nhưng tôi tin , sự sống trong anh ta vẫn còn. Tôi ra dấu cho chị Hùng đến bên cạnh rồi cúi sát tai anh, nói chậm rãi.
- Tôi là Nguyễn văn Chánh, bạn anh đây. Chúng ta ở tù chung, khi còn ở bên Việt Nam , anh còn nhớ không? Anh cố gắng nghe tôi nói, một điều rất quan trọng, sẽ giúp anh yên tâm… Nếu anh nghe được, anh chấp nhận, xin anh chuyển động mi mắt hoặc con ngươi của mắt anh. Vợ anh đang đứng bên anh đây. Vợ anh nói rằng, chị chỉ yêu thương một người duy nhất trong đời là anh mà thôi. Anh có nghe không, có chấp nhận không?

Mọi người im lặng, chăm chú nhìn đôi mắt đang nhắm nghiền của anh Hùng. Đột nhiên, đôi mi của anh Hùng chuyển động như muốn mở ra rồi nhắm lại. Tuy rất nhẹ nhưng mọi người đều thấy rõ. Chị Hùng ôm chồng khóc òa lên. Tin rằng anh Hùng có nghe tiếng khóc của vợ nên một lúc sau tôi mới ra dấu cho chị yên lặng, rồi nói vào tai anh Hùng.
- Bây giờ, vợ anh, chị Hùng sẽ nói cho anh nghe. Chị yêu thương anh từ lúc nào. Anh cố gắng nghe vợ anh nói.
Tôi bước lùi cho chị Hùng quì xuống, cúi sát tai chồng và nói, từng tiếng một.
- Anh Hùng. Anh là chồng em. Em yêu thương chỉ một mình anh. Em yêu thương anh suốt đời. Em yêu thương anh từ ngày đầu, từ đêm đầu, từ giây phút đầu em trở thành vợ anh… Em lạy anh. Đừng giận em nghe anh! Xin anh thương em. Em là vợ anh. Tội nghiệp em. Nghe anh!

Nói đến đó thì nghẹn lời, chị đứng lên lùi lại, hai tay để lên ngực, như sợ chồng điều gì nhưng mắt vẫn không rời đôi mắt chồng. Mọi người nín thở chờ đợi. Rồi đôi con ngươi dưới hai mi mắt nhắm nghiền của anh Hùng chuyển động nhẹ, hướng về phía chị Hùng và dừng lại. Tôi nói với chị.
- Anh Hùng đã hiểu chị, đã chấp nhận lời yêu thương của chị.

Bỗng chị Hùng lảo đảo, níu tay vợ tôi rồi ngã quị xuống, bất tỉnh. Vợ tôi đỡ lấy chị, ngồi bệt xuống sàn, ôm chị vào lòng. Tôi bảo vợ.
-Không sao đâu. Bị xúc động mạnh. Để anh đi gọi y tá…
Thật ra, là chị ấy đã trăn trối với chồng.

Phạm Thành Châu

Bài Xem Nhiều