We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Saturday, 25 June 2011

Người Việt Nam ơi ! đứng lên đáp lời non sông


SƠ ĐỒ XUỐNG ĐƯỜNG TUẦN HÀNH PHẢN ĐỐI TÀU CỘNG
TẠI CÁC THÀNH PHỐ VÀO NGÀY 26-06-2011
BIỂU TÌNH LẦN THỨ 4, GIAI ĐOẠN 01 VÀO NGÀY 26-06-2011

hn12-360
Thời gian có thể tập trung từ 8 giờ 30 sáng Cn ngày 26-06-2011 bắt đầu,
( nhớ dậy sớm ăn sáng, cafe thuốc lá phì phèo cho đã trước giờ ra trận)



SAU KHI ĐÁNH MỘT VÒNG CHÚNG TA LẠI QUAY VỀ ĐIỂM XUẤT PHÁT VÀ ĐỨNG HAY NGỒI TẠI ĐÂY TỪ 15-30 phút ( KHÔNG DỪNG LẠI LÂU QÚA NHÉ..). TIẾP TỤC TUẦN HÀNH NHƯ VẬY CHO ĐẾN KHI NÀO AN NINH MỆT BỎ VỀ THÌ CHÚNG TA TRỒNG HOA LÀI…


CHÚC CÁC BẠN CHÂN CỨNG ĐÁ MỀM, ĐOÀN KẾT YÊU THƯƠNG NHAU, NĂM TAY XUỐNG ĐƯỜNG VUI VẺ LUÔN NỞ NỤ CƯỜI TRÊN MÔI, NHẤT LÀ CÁC EM GÁI CAN ĐẢM ĐI VÒNG NGOÀI CÙNG VÀ THA HỒ TÁN TỈNH MẤY ANH CÔNG AN, TUYỆT ĐỐI KHÔNG XÚC PHẠM HAY NÉM BẤT CỨ CÁI GÌ VÀO CÁC ANH CÔNG AN VÌ CÁC ANH SẼ ĐỨNG VỀ PHÍA CHÚNG TA….!

CHÚNG TA PHẢI THÔNG CẢM CHO CÁC ANH CÔNG AN HỌ CŨNG KHỔ TÂM LẮM, HỌ KHÔNG VUI SƯỚNG GÌ KHI CẦM SÚNG MÀ KHÔNG CHĨA SÚNG VÀO GIẶC BẢO VỆ TỔ QUỐC MÀ LẠI CHỈ ĐỂ BẢO VỆ CÁI BAO TỬ CỦA CHÍNH MÌNH,….
CHÚNG TA PHẢI HIỂU ĐIỀU ĐÓ, CÁC ANH CÔNG AN THẬT CAO THƯỢNG HƠN CHÚNG TA NGHĨ…CÁC ANH KHÔNG THA THIẾT GÌ KHI CẦM SÚNG DÀN ÁP CHÚNG TA ĐỂ NHẬN CƠM CHÁY TỪ BỘ CHÍNH TRỊ HÀNG THÁNG…..TÔI NÓI ÍT, KHÔNG SỐNG ĐỜI ĐỂ NÓI NHIỀU MONG CÁC BẠN HIỂU NHIỀU….CHÚC THÀNH CÔNG…!



LẦN NÀY CÁC VỊ TRÍ QUAN TRỌNG TRÊN CÁC SƠ ĐỒ ĐÃ CÓ LỰC LƯỢNG CHỜ SẴN ĐỂ QUAY PHIM CHỤP HÌNH,

CHÚNG TA TUYỆT ĐỐI ÔN HÒA, LỊCH SỰ THỰC THI QUYỀN BIỂU TÌNH YÊU NƯỚC CỦA CHÚNG TA.

THÀNH PHỐ SÀI GÒN (KHU VỰC SỐ 1)


THÀNH PHỐ SÀI GÒN (KHU VỰC SỐ 2)


THÀNH PHỐ SÀI GÒN (KHU VỰC SỐ 3)


THÀNH PHỐ CẦN THƠ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

THÀNH PHỐ VINH

THÀNH PHỐ HUẾ


THÀNH PHỐ NHA TRANG

TX-BÌNH THUẬN

THÀNH PHỐ KON TUM


THÀNH PHỐ BUÔN MÊ THUỘT


THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
---------------------


Kính thưa các trưởng bối,
Thưa các Anh, Chị,
Cùng các bạn,

Từ khi cuộc CM Hoa lài ở Tunisie bùng phát, lôi kéo một chuỗi sụp đỗ của nhiều chế độ độc tài, tôi liên tuởng ngay đến sự sụp đỗ của khối CS Đông Âu: cũng từ những cuộc phản kháng của dân chúng đã đưa đến sự cáo chung của hàng loạt đảng CS và mở một kỷ nguyên mới . Bức tường sắt của Đông Âu đã vén lên, mang lại ánh mặt trời cho người dân nơi ấy.
Trong suy nghĩ đó, tôi đã ươm cho mình một giấc mơ thật đẹp, và hẹn với thân quyến cùng bằng hữu sẽ tái ngộ giữa Sàigòn trong ngày hội của đất nước thóat khỏi gông cùm của bọn cai trị ngu xuẩn, hèn hạ hôm nay. (Tôi không muốn gọi đó là chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa hay chế độ Cộng Sản vì chính sách cai trị tại Việt Nam hôm nay không còn một hơi hám nào của Xã Hội Chủ nghĩa, ngay cả ở vào cái giai đọan gọi là "thời kỳ quá độ của chủ nghĩa Xã Hội " như bọn "dép râu cán búa" oang oang ngày nào..!!).
Tháng 6 này, tuổi trẻ tại VN đã tỏ thái độ. Cho tới hôm nay đã có 3 cuộc biểu tình lớn xảy ra tại Hà Nội và Saigòn. Ôi! Hà Nội, tại chính cái nôi của XHCN, hôm nay đã rợp trời khẩu hiệu chống Tàu Cộng ! Sự oán hận cho bao nhiêu bất công, nghịch lý rồi thì cũng phải tới lúc bộc phát.

Cho dù nhìn dưới một lăng kính nào đi nữa, chúng ta không thể và không nên dập chết trái tim yêu nước của người dân tại quê nhà. Họ đã dám đứng dậy ( xin hãy tạm quên những kẻ trà trộn với mục đích riêng tư) và nói những gì họ nghĩ. Đối với tôi , dù cho là trong đó chỉ có vài phần trăm bé nhỏ thực tâm, cũng là một việc thật mừng và cần khích lệ, tiếp lữa. Họ đã dám chống đối ngay trong lòng địch, còn hơn bao người sống giữa thế giới Tự Do nhưng im lặng đồng lõa cùng tội ác của đám chóp bu cai trị : trong mọi nơi và thuộc đủ mọi hạng tại VN. Niềm vui sẽ trọn vẹn biết bao khi họ có thể đăt thẳng vấn đề : bọn cầm quyền Hà Nội và chế độ vô nhân phi lý gian ác tàn bạo hiện nay phải cáo chung. Một chính phủ không quỳ lạy quan thầy Tàu Cộng mới có thể trực diện tranh đấu cho tổ quốc VN : Lịch sử VN đã chứng minh, Hội Nghị Diên Hồng 1284 đã chứng minh. Chế độ Việt cộng hiện nay tại Việt Nam phải thóai triệt , như thề chúng ta mới có cơ hội thành công trong việc chống lại dã tâm xâm lăng của Trung cộng.

Trân trọng mời xem và nghe lại bài hát cũ Hội Nghị Diên Hồng của Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, sáng tác trong khỏang thời gian 1940 đến 1944, khi ông tham gia phong trào chống Pháp dành tự do Độc Lập cho VN ( lúc đó ông chưa là đảng viên cs) qua một tiếng hát đang sống ngay tại VN : ca sĩ Nguyển Phi Hùng, kèm theo các hình ảnh minh họa thu thập từ Internet về từ các cuộc biểu tình chống Trung Cộng và Việt Cộng của người Việt Nam ở khắp mọi nơi.


Tôi dụng ý chọn ca sĩ Nguyễn Phi Hùng là một người ca sĩ trẻ, sanh ra , lớn lên và đang sống tại VN như lời nhắn nhủ: người Việt Quốc Gia chân chính tại Hải Ngọai luôn quan tâm và đòan kết với người tại quê nhà khi họ thật tâm muốn xóa bỏ chế độ vô nhân gian ác hiện nay để mưu cầu một quốc gia Việt Nam toàn vẹn lãnh thổ, cơm no áo ấm cho toàn dân.

Trân trọng,
LÊ NGỌC TÚY HƯƠNG

Tuyên bố chung nhân các cuộc biểu tình chống Trung Cộng của Đồng bào Việt Nam trong tháng 06-2011


(Khối Tự do Dân chủ 8406 và Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền)


Kính thưa toàn thể Đồng bào Việt Nam


Trong tháng 6 năm nay, nhà cầm quyền Trung Cộng đột nhiên gia tăng gây hấn với Việt Nam trên Biển Đông, cụ thể và đặc biệt là đã đi vào lãnh hải đất nước để cắt cáp ngầm tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam ngày 26-05 rồi 09-06-2011. Hành động ngang ngược này lập tức khơi dậy lòng ái quốc của nhân dân. Nhiều cuộc biểu tình đã diễn ra sôi nổi tại hai thành phố lớn là Hà Nội và Sài Gòn cũng như đã bị cấm cản tại Hải Phòng, Vinh và Đà Nẵng vào các Chủ nhật 05, 12 rồi 19-06-2011. Thế nhưng, y như trong các cuộc xuống đường năm 2007-2008, nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam, thay vì tỏ lòng biết ơn và tạo điều kiện thuận lợi cho các hành động của nhân dân chống hiểm họa ngoại bang xâm lược, tương tự tại bao quốc gia khác, lại dùng vô số thủ đoạn, thậm chí đểu cáng và hung bạo để trấn áp lòng ái quốc.
Trước tình thế đó, Khối 8406 và Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền nhận định:
Như cụ Nguyễn Trãi từng nói: “Mọi chuyện đều có nguyên nhân của nó, nhưng không phải việc của một ngày”, thái độ lạ lùng của nhà cầm quyền CSVN nói trên bắt nguồn từ lâu trong quá khứ, qua một tiến trình dài như sau:
1- Khi người Pháp sắp rút khỏi Đông Dương, với tinh thần Đại Hán tăng cường bởi tinh thần Cộng sản, Trung Hoa tiếp tục dòm ngó Việt Nam và họ đã tìm thấy một trợ thủ đắc lực. Đó là ông Hồ Chí Minh và đảng Lao động (tiền thân đảng Cộng sản), vốn rất sùng bái, hãi sợ và luôn học đòi Mao Trạch Đông. Trước hết, ông Hồ đã đê hèn chấp nhận sự buôn bán chính trị giữa Trung Cộng với các cường quốc (thông qua vai trò xấu xa của Chu Ân Lai) tại Hội nghị Genève (1954) trên lưng dân Việt. Điều này khiến cho đất nước bị phân đôi và cuộc chiến tranh Đông Dương lần 2 (1954–1975) nổ ra (trong khi các nước trong khu vực có cùng điều kiện địa chính trị như Đông Dương đã tránh được). Đây chính là tội ác lớn nhất đối với Dân tộc. Tiếp đến, dưới sự chỉ đạo của Mao, rập khuôn mẫu Trung Cộng và được các cố vấn Trung Cộng trợ giúp, Hồ Chí Minh đã tàn hại đạo đức phong hóa nông thôn, cơ cấu làng xã họ tộc truyền thống, tiềm lực nhân sĩ lãnh đạo qua vụ Cải cách Ruộng đất, đã tiêu diệt bao tài năng nhiệt huyết trí thức qua vụ Nhân văn Giai phẩm và vụ Chỉnh đốn Tổ chức. Đây là một sự xâm hại sinh khí và nền văn hóa Dân tộc rất nghiêm trọng.
2- Khi Mao Trạch Đông tiến hành kế hoạch mở rộng đế quốc Cộng sản và nhất là lãnh thổ Trung Hoa xuống Đông Nam Á qua việc giúp đỡ Việt Nam Dân chủ xâm chiếm Việt Nam Cộng hòa, Hồ Chí Minh đã dâng cho Trung Cộng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên danh nghĩa (qua công hàm bán nước do Phạm Văn Đồng ký năm 1958), đã để cho Trung Cộng chiếm cứ đồn biên phòng yếu huyệt ngàn năm là Nam Quan ải, đem quân xâm nhập sâu vào miền Bắc gọi là giữ giùm hậu phương, len lỏi vào tận hàng lãnh đạo của đảng CSVN để gọi là bảo đảm sự đoàn kết giữa hai chính đảng và chính thể. Đây là một sự xâm hại nền chính trị quốc gia hết sức nguy hiểm.
3- Khi cuộc thôn tính miền Nam kết thúc, do bị Trung Cộng đòi nợ chiến phí bằng đất đai Tổ quốc và quyền lợi kinh tế trên đất Việt, do mù quáng tin tưởng vào tình hữu nghị Trung-Việt (16 chữ vàng và 4 tốt) cũng như do yếu nhược phải cậy dựa vào đàn anh duy nhất hùng mạnh còn lại, đảng CSVN đã nhượng cho Trung Quốc gần cả ngàn km2 lãnh thổ (trong đó có nhiều điểm chiến lược) qua Hiệp định biên giới năm 1999, gần 10.000 km2 lãnh hải qua Hiệp định vịnh Bắc bộ năm 2000, cả vùng Tây Nguyên yếu huyệt qua Quyết định năm 2007 cho Trung Cộng khai thác bauxite; đã cho Trung Cộng thuê hơn 300.000 hecta rừng đầu nguồn và rừng phòng hộ, xây nhiều làng mạc và đô thị Trung Cộng từ Nam chí Bắc, đi vào đất Việt không cần thị thực nhập cảnh, trúng thầu phần lớn các công trình xây dựng, kinh tế lớn trong đất nước, tuôn tràn vào Việt Nam các sản phẩm văn hóa, kỹ thuật, ẩm thực (đa phần kém chất lượng hay độc hại)… Đây là một sự xâm hại nền kinh tế và quốc phòng đất nước rất đáng lo âu.
4- Khi Trung Cộng quyết định mở rộng chủ quyền trên Biển Đông những năm gần đây qua yêu sách “Đường lưỡi bò 9 đoạn”, Hà Nội tiếp tục theo đuổi chính sách ngoại giao ngây thơ (dựa trên bảng phân loại các nước thành bạn hay thù, chứ không phải trên quyền lợi quốc gia lẫn tương quan lợi quyền quốc tế) và thái độ ngày càng khiếp nhược trước Trung Cộng dưới mỹ từ “hiếu hòa hữu nghị”, do đó đã bị Trung Cộng ngày càng lấn lướt trên Biển đông: cấm cản, xua đuổi, bắt tù, cướp bóc, bắn giết ngư dân Việt; thúc giục, bảo vệ ngư dân Tàu vào đánh cá ngay trong thềm lục địa nước Việt; hăm dọa các công ty khai thác dầu hỏa ngoại quốc muốn làm ăn với Hà Nội; và mới nhất là xâm phạm lãnh hải Việt Nam để hăm dọa và phá hoại những tàu thăm dò khoáng sản của Việt Nam. Đây là một sự xâm hại chủ quyền quốc gia rất trắng trợn.
Thế mà nhà cầm quyền CSVN lại phản ứng bằng cách bỏ mặc ngư dân bơ vơ trước sói dữ, lấy cớ tàu quân sự không xen vào chuyện dân sự; bằng cách tiếp tục hợp tác toàn diện với lân bang luôn nuôi mộng Đại Hán xâm lược; bằng cách từ khước liên minh với lực lượng hùng mạnh của các quốc gia văn minh dân chủ; bằng cách giấu nhẹm thông tin về vụ việc trước quốc dân và không trình vụ việc lên tòa án quốc tế; bằng cách ngăn cản, sách nhiễu, hăm dọa hoặc bỏ tù những ai lên tiếng chống Trung Cộng xâm lược qua các bài viết hay các cuộc biểu tình. Những phản ứng gần đây như cho phát ngôn viên bộ Ngoại giao lên tiếng, như tới gặp đại sứ Trung Cộng trao công hàm đều chứng tỏ tinh thần yếu nhược; như mua thêm khí tài quân sự, như tập trận bắn đạn thật trên biển Đông chỉ là trò đánh lừa dư luận, hóa giải sự phẫn nộ của nhân dân, chẳng mảy may hiệu quả gì.
5- Những động thái trên cho thấy Trung Cộng ngày càng trở thành hiểm họa xâm lăng đối với Việt Nam, nguy cơ Bắc thuộc lần thứ 5 đang đến gần; cũng như cho thấy nhà cầm quyền Hà Nội ngày càng lộ rõ bộ mặt phản dân hại nước, đặt quyền lợi của đảng và phe phái trên quyền lợi của quốc gia và dân tộc, sẵn sàng bán đất biển, nhường quyền lợi để giúp Trung Cộng có điều kiện tiến lên địa vị siêu cường, bá chủ thế giới, hầu Việt cộng tiếp tục cai trị trên một Việt Nam sẽ trở thành Giao chỉ quận.
II- Trước nguy cơ ấy, Khối 8406 và Nhóm Lm Nguyễn Kim Điền tuyên bố:
1- Lên án thái độ đồng lõa với giặc - gian ác với dân, lụy phục ngoại thù - phản bội tổ quốc của đảng Cộng sản Việt Nam. Một thái độ không bao giờ thay đổi kể từ khi Hồ Chí Minh và đảng CS cầm quyền trên đất nước. Lên án thái độ dửng dưng của tân Quốc hội, vốn chẳng có thành viên nào tham gia các cuộc biểu tình bày tỏ tấm lòng yêu nước và ý chí chống giặc nói trên. Điều đó tiếp tục chứng tỏ Quốc hội chỉ là công cụ đê hèn trong tay Cộng đảng khiếp nhược.
2- Đòi hỏi đảng CSVN, nếu muốn có đường sống và chỗ đứng trên đất nước Việt Nam, hãy trở về với nhân dân bằng cách thả hết các tù nhân chính trị vốn đã bị giam giữ vì lòng ái quốc, chấm dứt chế độ chuyên chế độc tài, bãi bỏ quan niệm “chỉ đảng mới có quyền lo việc nước”, phủ nhận Công hàm bán nước 1958 và các Hiệp ước bất bình đẳng với Trung Cộng, kiện Trung Cộng trước tòa án Liên Hiệp quốc, quyết liệt truy đuổi tàu Trung Cộng xâm phạm lãnh hải (như gương Philippin, Hàn Quốc, Nhật Bản…), hủy bỏ các tô giới Trung Cộng trên đất liền, thôi trấn áp lòng yêu nước biểu lộ qua những cuộc biểu tình hay những lời lên tiếng chống quân xâm lược, trả lại mọi nhân quyền cho toàn dân để có thể thực hiện đại đoàn kết theo tinh thần Hội nghị Diên Hồng.
3- Hoan nghênh và ủng hộ các cuộc biểu tình bất bạo động mà Đồng bào khắp cả nước (đặc biệt các bạn trẻ sinh viên, các trí thức nhân sĩ và các bậc trưởng thượng vị vọng) đã, đang và sẽ còn tiến hành để bày tỏ tấm lòng ái quốc, sức mạnh dân tộc, tinh thần đoàn kết và thái độ sẵn sàng hỗ trợ cho một chính phủ biết đặt quyền lợi Tổ quốc lên hàng đầu. Yêu cầu lực lượng công an quân đội chớ để mình hay tự mình biến thành kẻ thù của nhân dân bằng cách đàn áp những tấm lòng yêu nước theo lệnh các lãnh đạo CS. Bằng không anh em sẽ đắc tội trước lịch sử và sẽ trực tiếp hứng chịu sự trừng phạt của nhân dân khi những kẻ sai khiến anh em bỏ chạy ra nước ngoài.
4- Kêu gọi giới lãnh đạo tinh thần (trí thức dân sự và chức sắc tôn giáo) thể hiện tinh thần sĩ phu yêu nước, đoàn kết nên một, đứng ra lãnh đạo toàn dân, điều hướng sức mạnh của mọi lực lượng quần chúng chống lại nội thù bán nước và ngoại thù cướp nước. Kêu gọi các tôn giáo liên tục tổ chức những buổi cầu nguyện cho Quê hương, cho các tù nhân lương tâm, cho các nạn nhân bị bóc lột, để khơi gợi ý thức và củng cố tinh thần cho tín đồ.
5- Thỉnh cầu Đồng bào hải ngoại tiếp tay với quốc nội bằng cách hỗ trợ các cuộc xuống đường biểu tình của quốc nội, bằng cách xiển dương chính nghĩa cuộc đấu tranh chống ngoại thù và nội thù của Dân tộc trước thế giới, bằng cách vận động quốc tế ủng hộ cuộc đấu tranh này qua việc giúp nhân dân Việt Nam giải thể cho được chế độ độc tài toàn trị Cộng sản…
Làm tại Việt Nam ngày 25 tháng 06 năm 2011
Ban Đại diện lâm thời Khối 8406 và Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền.
1. Linh mục Chân Tín, Dòng Chúa Cứu thế Sài Gòn, 38 Kỳ Đồng, Sài Gòn, Việt Nam
2. Kỹ sư Đỗ Nam Hải, 441 Nguyễn Kiệm, P. 9, Q. Phú Nhuận, Sài Gòn, Việt Nam.
3. Linh mục Nguyễn Hữu Giải, Giáo xứ An Bằng, Vinh An, Tổng Giáo phận Huế.
4. Linh mục Phan Văn Lợi, 16/46 Trần Phú, Thành phố Huế, Việt Nam.
5. Linh mục Nguyễn Văn Lý, bị quản thúc tại 69 Phan Đình Phùng, Tp Huế, Việt Nam.
6. Giáo sư Nguyễn Chính Kết - Đại diện Khối 8406 tại hải ngoại.
Trong sự hiệp thông với cựu quân nhân Trần Anh Kim, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa và nhiều tù nhân chính trị, tôn giáo khác đang ở trong lao tù Cộng sản.

Protest details: China's President in UK


China's President in UK on 26 & 27 June 2011
Sunday 26 June: 3-6pm opposite the Mandarin Hotel, London
Monday 27 June: 11am-1pm: opposite Downing Street, London










Free Tibet and other Tibet groups are planning protests during the UK visit of China's President Wen Jiabao on 26 & 27 June. Wen is the UK for the UK-China Strategic Summit which focuses largely on trade relations between the two countries.

It is important that you join us and shine light on the deteriorating human rights situation in Tibet and hold Wen Jiabao accountable
. We are also urging the British government to put human rights before trade in their increasing engagement with China.

Sunday 26 June
On Sunday 26 between 3pm and 6pm we will be protesting outside Wen Jiabao's hotel The Mandarin where he will be holding meetings. The hotel is opposite Harvey Nichols and the nearest tube station is Knightsbridge on the Piccadilly Line. Exit: Sloane Street
Monday 27 June
We are protesting from 11am to 1pm opposite Downing Street at Richmond Terrace during Wen Jiabao's meeting with Prime Minister David Cameron.
Closes tube: Westminster
You can also join our Facebook or Twitter pages which will be updated with the latest information on the protests.

Don't forget to bring your Tibet flags and wear your free Tibet T-shirt!







Protest photos from Wen Jiabao's 2009 visit to London

www.freetibet.org

Hào khí yêu nước của tuổi trẻ: Phong trào THANH NIÊN TIỀN PHONG tại Nam Kỳ năm 1945.


Người đời có câu “Tuổi trẻ hướng về tương lai, người già nhìn về quá khứ”. Đó là tâm lý chung vì tuổi trẻ là rường cột nước nhà, họ luôn tìm hướng tiến lên vì đất nước ngày mai. Còn người già không còn hào khí như tuổi trẻ, vã lại họ đã góp ít nhiều công sức cho quốc gia và hãnh diện về những việc làm ngày trước. Cá nhân tôi vào tuổi thanh niên, đầu thập niên 1960 tôi thường nghe các vị lớn tuổi hàng chú bác nhắc đến Thanh Niên Tiền Phong, nào là “hồi TNTP…” hoặc “thời TNTP…” một cách hào hứng, sôi nổi. Lúc đó (1945) người ta thường nghe nói hội này hội nọ, đoàn thể này đoàn thể kia như Hội Truyền bá Quốc ngữ, Hội Khuyến học Nam kỳ, Hội Hướng đạo hoặc Thanh niên Ái quốc Đoàn, Thanh niên bảo an Đoàn v.v…Qua đó có thể hiểu được tôn chỉ của họ. Còn Thanh Niên Tiền Phong không kèm theo chữ hội hay đoàn gì cả, nghe hơi lạ tai, mà khắp Nam Kỳ Lục tỉnh, khắp Nam Bộ từ Sàigòn đến các tỉnh, quận, xã xa xôi, nơi đâu người ta cũng nói đến TNTP. Đó là những chàng trai trẻ với đồng phục áo sơ-mi trắng, quần soọc xanh. Vũ khí của họ là tầm vong vạc nhọn, nhưng ai nấy đều lộ vẻ hăng hái cương quyết. Họ đồng ca bài Tiếng gọi sinh viên của Lưu Hữu Phước với lời mở đầu: “Này sinh viên ơi! Đứng lên đáp lời sông núi”. Bài hát nói lên lòng khao khát ấp ủ từ lâu của tuổi trẻ lúc bấy giờ. Chỉ vài tháng, giới trẻ Nam Kỳ đã lôi cuốn đông đảo đồng bào thuộc mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp trong xã hội tham gia, trở thành một phong trào có thực lực, có sinh khí mang tên TNTP trước khi xảy ra cuộc Cách mạng tháng Tám 1945.





Có thể nói TNTP là một phong trào “tự phát” trong giới Thanh niên yêu nước khi họ ý thức được sứ mạng của mình, phải đi trước trong cuộc đấu tranh giành độc lập khi lịch sử bước vào một khúc quanh quan trọng: Thế chiến thứ II sắp chấm dứt, quân đội Anh sẽ vào Nam vĩ tuyến 16 giải giới Nhựt. Sau khi Nhựt đầu hàng, TNTP là lực lượng đông đảo nhất trong số các đoàn thể đảng phái quốc gia (Mặt trận Quốc gia Thống Nhất) tham gia cuộc biểu tình ủng hộ Chính phủ Trần Trọng Kim, bảo vệ nền độc lập tự do ngày 21/8/1945 với trên 20 vạn người tham dự. Mấy hôm sau Mặt trận Việt Minh do CS lãnh đạo lôi kéo TNTP đứng về phía họ, tham dự cuộc biểu tình ngày 25/8/1945. Trong cuộc biểu tình này, biểu ngữ Chánh quyền về tay Việt Minh” tràn ngập thành phố. Mặt trận VM cho ra mắt Ủy ban Hành Chánh Lâm thời Nam Bộ do Trần Văn Giàu Bí thư Xứ ủy (CS) Nam Kỳ làm chủ tịch. VM mà lực lượng chính là TNTP đã giành được chánh quyền không đổ một giọt máu trong cuộc Cách mạng tháng Tám 1945.





Với tầm vong vạt nhọn, TNTP đã cùng các đoàn thể yêu nước giành được thắng lợi cho dân tộc một cách mau chóng khiến người ta nhớ đến huyền thoại Thánh Gióng -cậu bé làng Phù Đổng với thanh tre trong tay vương vai lên thành một thanh niên hùng dũng phá tan giặc Ân thời Hùng Vương thứ 6. Sau đó cậu bé biến mất, được dân tôn thờ là Phù Đổng Thiên Vương. Còn TNTP sau Cách mạng Tháng Tám 1945 cũng đi vào quên lãng, không được sách sử nhắc đến. Vì thế sau này các vị lớn tuổi thường nói “thời TNTP” hoặc “hồi TNTP” với hàm ý đó là thời kỳ lịch sử đáng tự hào của giới trẻ yêu nước trước ngưỡng cửa Độc lập Tự do hồi năm 1945.





Tài liệu chính thức của Đảng CSVN không có một dòng chữ nào nói về vai trò của TNTP. Họ viết “Cách mạng tháng Tám Việt Nam là mẫu mực của cách mạng giải phóng dân tộc do giai cấp công nhân lãnh đạo đã thắng lợi ở một nước thuộc địa và nửa phong kiến bằng một cuộc tổng khởi nghĩa vũ trang của quần chúng, bằng sự kết hợp tài tình những cuộc chiến đấu quân sự với những hình thức đấu tranh chính trị của quân chúng để giành chính quyền Nhà nước, thiết lập chính quyền nhân dân” (1)


Một số cán bộ CS nổi tiếng cũng đã cố gắng viết hồi ký nhằm giúp soi sáng lịch sử về Cách mạng tháng Tám 1945 tại Nam Bộ như Trần Bạch Đằng (1923-2005) hoặc Trần Văn Giàu (1911-2010)…đều không được phép xuất bản. Ông Lê Tùng Minh, một người biết khá rõ về cuộc đời hoạt động của ông Đằng đã có bài viết tựa đề “Trần Bạch Đằng: người cộng sản đa tài, nhưng bất đắc chí cho đến khi nhắm mắt lìa đời” được phổ biến rộng rãi sau khi ông TBĐ qua đời hồi giữa tháng Tư năm 2007. Ông LTM viết “Trong khi nhắm mắt lìa đời, chắc chắn ông Trần Bạch Đằng còn mang theo nhiều niềm ân nỗi oán, suốt trong cuộc đời đi theo Cộng Sản. Chẳng cần nói đến cao vọng làm Lãnh Tụ Cộng Sản Cấp Tiến của Trần Bạch Đằng. Chỉ cần nói đến ý muốn xuất bản một cuốn sách do ông nghiền ngẫm từ trong kháng chiến, mà cũng không đạt. Đó là cuốn “Vai trò của Thanh Niên Tiền Phong trong cuộc Cách Mạng Tháng Tám 1945”. Chính Trần Bạch Đằng là một nhân chứng lịch sử, đồng thời là một cán bộ lãnh đạo Thanh Niên Tiền Phong trong những ngày “làm nên lịch sử” đó! Ông đã viết xong tác phẩm lịch sử này từ năm 1980, Nhưng khi đưa cho Ban Tuyên Huấn duyệt để xuất bản. Nhưng đã bị Tố Hữu cho vào kho “Lưu Trữ Bản Thảo có Vấn đề về Chính Trị”; bởi vì theo quan điểm lịch sử của Đảng CSVN, Thanh Niên Tiền Phong là đoàn thể do đế quốc Nhật dựng lên. Ân hận thay! Biết rõ ràng là đồng chí ủy viên Bộ Chính trị kiêm Trưởng Ban Tuyên Huấn – ông Tố Hữu đã bóp méo lịch sử mà Trần Bạch Đằng vẫn phải im hơi lặng tiếng, để cho đứa “con tinh thần” bị chết oan uổng”.




Nhân vật thứ hai là Trần Văn Giàu được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều danh hiệu, phần thưởng cao quý như: Nhà giáo nhân dân, Anh hùng lao động, Huân chương HCM, giải thưởng HCM. Năm 2006, Nhà Xuất bản Quân đội Nhân dân xuất bản quyển Trần Văn Giàu Tổng Tập đồ sộ, dày gần 2000 trang giấy khổ lớn 19/26 cm, gồm hai phần. Phần thứ nhất: Chống Xâm Lăng gồm ba quyển trình bày về cuộc kháng chiến chống Pháp lần thứ nhất từ giữa đến cuối thế kỷ XIX. Phần thứ hai: Miền Nam Giữ Vững Thành Đồng gồm 4 quyển trong giai đoạn 1954-1975. Nxb Quân đội Nhân dân đề cao “Trong làng Sử học Việt Nam, Giáo sư Trần Văn Giàu, Nhà giáo Nhân dân, Anh hùng Lao động, là một cây đại thụ”. Và TVG Tổng Tập là “công trình lịch sử đồ sộ, tái hiện lịch sử chống xâm lăng của dân tộc từ đầu thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ XX được Giáo sư Trần Văn Giàu nghiên cứu, biên soạn đã trở thành tài sản vô giá trong kho tàng tri thức Việt Nam”.





Nhưng trong quyển Tổng Tập đồ sộ của ông TVG, người ta không tìm thấy giai đoạn lịch sử 1940-1945. Lúc đó tác giả là Bí thư Xứ ủy (CS) Nam Kỳ, đã giành được chánh quyền tại Sàigòn và là Chủ tịch Ủy ban Hành Chánh Lâm thời Nam Bộ hồi cuối tháng Tám 1945. Sau khi ông qua đời (16/12/2010), những người thân cận mới tiết lộ ông Giàu có viết quyển “Hồi Ký 1940-1945” từ cuối những năm 1970 mà trong Lời nói đầu viết năm 1995 ông cho “đó là thời gian tôi sống có chất lượng hơn hết trong cuộc đời dài quá 80 năm, xấp xỉ 90 năm”. Ban Biên tập Viet- Studies quyết định cho phổ biến “Hồi ký 1940-1945 Trần Văn Giàu” trên mạng với Đôi lời giới thiệu của ông Nguyễn Ngọc Giao ngày 19/12/2010: “Ở nước ta, từ 20, 30 năm nay, có hai cuốn hồi ký mà người ta tin rằng tác giả đã viết xong, nhưng chưa biết bao giờ mới được công bố. Người dân thường và các nhà sử học thì mong mỏi sớm được đọc toàn văn hai chứng từ lịch sử. Nhà cầm quyền, hay đúng hơn, công cụ chuyên chính của chính quyền, ra sức theo dõi việc biên soạn, lùng tìm những người đánh máy, tàng trữ, với hi vọng thu hồi được bản thảo, để hoặc thủ tiêu, cấm đoán xuất bản, hoặc cắt xén, thay đổi nội dung trước khi cho xuất bản…” Hai hồi ký trên của hai người “đã từng dạy sử. Một người dạy sử trước khi làm nên lịch sử, một người ngược lại. Hai nhân vật ấy, không nói, nhiều người cũng đoán ra: Võ Nguyên Giáp và Trần Văn Giàu”.





Về phần những trí thức Quốc gia, từng là TNTP hoặc thủ lãnh TNTP cũng ít khi lên tiếng về giai đoạn lịch sử này. Điều này có thể giải thích là vì TNTP đã tham gia Mặt trận Quốc gia Thống nhất ủng hộ Chính phủ Trần Trọng Kim, bảo vệ nền độc lập quốc gia (được Nhựt trao trả sau cuộc đảo chánh Pháp ngày 9/3/1945). Nhưng sau đó, TNTP gia nhập Mặt trận VM phủ nhận chính quyền TTK, lợi dụng thời cơ Nhựt đầu hàng để giành chính quyền. Khi thực dân Pháp trở lại, VM phát động cuộc kháng chiến chống Pháp, TNTP cũng là lực lượng vận động quần chúng tham gia cuộc kháng chiến này. Qua cuộc kháng chiến chống Pháp, một số TNTP đã thấy được dã tâm của những người CS, một mặt tiêu diệt những người quốc gia yêu nước không có xu hướng CS. Mặt khác cuộc kháng chiến của ông HCM là nhằm thi hành chủ trương của Quốc tế CS, của Stalin là phát động chiến tranh chống thực dân đế quốc qua phong trào giải phóng các nước thuộc địa sau Thế chiến II.





Con đường của ông HCM là chấp nhận chiến tranh để đưa dân tộc lệ thuộc vào QTCS. Do đó một số trí thức yêu nước từng lãnh đạo TNTP và tham gia Mặt trận VM kháng chiến chống Pháp như các ông Trần Văn Hương nguyên Chủ tịch Mặt trận Hành chánh Kháng chiến tỉnh Tây Ninh, ông Trần Văn Văn, ủy viên Kinh tài Ủy ban kháng chiến Nam bộ, Kỹ sư Nguyễn Ngọc Bích, Khu phó Khu 9 Kháng chiến Nam bộ (con Đức Giáo tông Cao Đài Bến Tre Nguyễn Ngọc Tương)… đã rời bỏ kháng chiến trở về thành nhưng vẫn không hợp tác với chánh quyền Quốc gia. Họ cho rằng những người trong chánh quyền này không chống Pháp mà còn hợp tác với Pháp, ủng hộ Cựu hoàng Bảo Đại, thương lượng hòa bình với Pháp để giành độc lập và thống nhất đất nước.





Đến thời Đệ nhất Cộng Hòa, TT Ngô Đình Diệm không phân biệt giữa người CS và người Quốc gia đã tham gia VM vì sự “mập mờ” của ông HCM. Mặt trận VM là tổ chức do CS lập ra, nhưng họ khôn khéo chủ trương kết hợp mọi tầng lớp nhân dân mọi đảng phái quốc gia để chống Pháp. Do đó những người yêu nước chân chính, ngây thơ đều lọt vào bẩy CS. Và nay TT Diệm coi họ là CS. Vì thế, một số đông trí thức tham gia mặt trận VM luôn tự hào về những việc do lòng yêu nước thúc đẩy, không có cơ hội để trình bày giai đoạn lịch sử quan trọng này. Họ cũng không tham gia vào việc xây dựng miền Nam độ tự do để đấu tranh chính trị với những người CS khi có các cuộc tổng tuyển cử dân chủ tự do để thống nhất đất nước. Điều tệ hại hơn nữa là một số trí thức yêu nước lại bị CS dụ dỗ qua chiêu bài Giải phóng Miền Nam, tạo ra cuộc chiến Đông Dương lần thứ hai tức chiến tranh VN 1960-1975.





Mãi đến những năm 2000, Bác sĩ Trần Nguơn Phiêu, cựu Bộ trưởng Xã Hội thời Đệ II VNCH, xuất bản quyển Phan Văn Hùm: Thân thế & Sự nghiệp (năm 2003) có đề cập đến thời TNTP. Tác giả được biết nhà cách mạng Phan Văn Hùm nhờ học cùng trường Pétrus Ký với Phan Phục Hổ là trưởng nam ông Hùm. Và nhờ đó, tác giả được biết thêm các nhà cách mạng tên tuổi như Tạ Thu Thâu, Trần Văn Thạch, Hồ Văn Ngà, Huỳnh Văn Phương…Ông Phiêu cho biết vào tháng 9/1945 “giống như phần đông các thanh niên thời bấy giờ, tôi đã náo nức tham dự Phong trào Thanh niên Tiền Phong. Tuổi trẻ vốn thích súng đạn nên về sau tôi gia nhập Dân Quốc Quân của tướng Nguyễn Hòa Hiệp và di tản ra khỏi thành phố. Từ đấy tôi mất liên lạc với Hổ…Trong kháng chiến, tình cờ tôi được biết vài chi tiết liên hệ đến việc ông Phan Văn Hùm bị các lãnh tụ Cộng sản Đệ tam mưu sát. Tôi hi vọng được gặp lại Phan Phục Hổ để báo tin này nhưng tiếc thay anh đã chết trong thời gian tham gia kháng chiến”.





Năm 2005, Bs Trần Nguơn Phiêu xuất bản bút ký Những Ngày Qua, ghi lại nhiều chứng tích lịch sử từ 1945 như Nhìn lại cuộc Cách mạng tháng Tám, Việt Minh và các lãnh tụ Quốc gia. Và những giai đoạn tiếp theo nói về Mặt trận Giải Phóng Miền Nam, về Nổi lòng Huỳnh Tấn Phát v.v. Ước mong của tác giả là “mong sao trong tương lai sẽ có nhiều biên khảo lịch sử khoa học và vô tư, khác với lịch sử được viết hiện nay của những ‘đỉnh cao trí tuệ’, những người đắc thắng kiêu hãnh, đang vo tròn bóp méo các sự việc theo ý muốn của họ”. Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích nhận xét “Đây là quyển sách viết sống động và chắc nịch vì có những tài liệu làm chứng cớ thật vững vàng…Tác giả đã trả lại được sự thật, và do đó là sự công bằng, cho lịch sử nước nhà”. Tiến sĩ Nguyễn Thanh Liêm, cựu Thứ trưởng Bộ Giáo Dục VNCH nhận định “Công của ông rất lớn đối với lịch sử và đối với các thế hệ sau này. Ông đã đem lại công bằng cho các nhà trí thức cách mạng miền Nam, trả lại đúng giá trị của lịch sử với những soi sáng vào các bí ẩn u tối mà kẻ bạo tàn đã cố tình che dấu”.





Cùng chung ý nghĩ đó, từ 1985 sau khi định cư ở Sydney tôi bắt đầu viết về chiến tranh VN. Cuối năm 1993 quyển Việt Nam Thắng và Bại được xuất bản, tổi gởi tặng người bạn thân là Hứa Hoành, anh rất say mê khảo cứu lịch sử Nam bộ. Và nhận được thư hồi âm của anh đề ngày 6/5/1994 từ San Antonio, TX 78218: “Tôi vừa nhận được quyển sách giá trị của anh “Việt Nam Thắng và Bại”, vội đọc qua phần đầu và chương “từ Cách mạng tháng 8…”. Tôi thức suốt đêm để đọc những chương mà tôi chọn lọc ra. Quả thật cuốn sách của anh về hình thức trình bày công phu như sách ngoại quốc, nội dung súc tích, lý luận xác đáng, chứng tỏ khả năng thấu suốt vấn đề và bản lĩnh của một người có kinh nghiệm lẫn tâm huyết và cũng tận tụy hy sinh cho hoài bão. Tôi thành thật khâm phục anh. Quyển sách quả đồ sộ từ nội dung đến hình thức, đúng là tài liệu mà giới trí thức mong đợi. Quan niệm viết về lịch sử của anh cũng rất mới “viết hay nói lại những sự kiện y như chúng đã xảy ra, dù tốt hay xấu”. Đó là quan niệm của sử gia Hoa-kỳ mà tôi đã học được từ thời còn học lịch sử ở Đại học. Có một số người chưa quen phương pháp đó, có thể không đồng ý với chúng ta nhiều chỗ, nhưng điều đó không quan trọng. Nói về cuộc Cách mạng tháng 8 hay VM cướp chính quyền trong tay người quốc gia Nam bộ ra sao, tôi có viết thành 3 bài dài tổng cộng chừng 60 trang đánh máy, gồm hầu hết những tài liệu mới mẽ (phỏng vấn, trao đổi tin tức…những tài liệu từ trước đến nay chưa ai biết). Tôi viết làm 3 kỳ: Cách mạng tháng 8 hay VM cướp chính quyền ở Nam kỳ về chính trị. Cách mạng tháng 8, hay VM cướp chính quyềnở Nam kỳ về quân sự. Mặt trái của cuộc kháng chiến miền tây Nam bộ.


Tôi sẽ lục lại bản sao để gởi cho anh, đồng thời để biết thêm nhiều thủ đoạn của VM/CS mà không bao giờ chúng dám viết ra trên sách báo của chúng. Tôi nghĩ đây cũng là một khía cạnh mới, vạch trần âm mưu và tội ác của CS với quốc dân. Tôi được các cụ Trần Văn Ân, An khê Nguyễn bính Thinh, cựu chánh án Đặng hữu Thu bên Pháp cho nhiều tài liệu, kể những việc nghe thấy, cùng nhà văn bạn thân Xuân Vũ, Dương đình Lôi “ở trong ruột của hàng ngũ kháng chiến miền Nam” kể lại tỉ mỉ…Trong những bài ấy tôi kể lại tiểu sử từng người có liên quan tới biến cố như các ông Dương văn Giáo, Hồ văn Ngà, Nguyễn văn Sâm, Trần văn Giàu, Nguyễn văn Trấn, Dương bạch Mai, Mười Trí, Nguyễn Bình, Nguyễn thanh Sơn tức Nguyễn văn Tây cùng nhiều đầu xỏ tay to mặt lớn CS lúc còn lén lút ẩn núp ở miền Nam. Các tài liệu ấy được những người lớn tuổi hoan nghinh lắm…




Tôi trích bức thư trên để tưởng nhớ người bạn đã quá cố hiền lành, đôn hậu. Anh Hứa Hoành (1940-2003) rời bỏ quê hương Vĩnh Long cùng thời điểm với tôi, trở thành người tị nạn đầy trách nhiệm với gia đình và đất nước. Anh tâm sự về hoàn cảnh gia đình “Tôi thất nghiệp 5 tháng nhưng nay đã đi làm lại hơn 3 tháng. Công việc rất mệt, lại làm về đêm gần 9 năm qua, nhưng cũng phải ráng. Tôi đã lớn tuổi (55) mà còn cực khổ vì thương gia đình và các con. Con gái út (24) sắp ra bác sĩ Nha khoa tháng 5/95, còn con gái thứ đang học M.A. cũng sẽ trở thành nhà giáo, chỉ còn đứa con trai 28 tuổi sẽ buôn bán trong vài ba năm tới. Tôi đã viết xong 9 cuốn sách, hiện đã in 3 cuốn và hiện còn hai cuốn đang đánh máy. Tôi cũng đang soạn “Từ điển các nhơn vật lịch sử, văn hóa miền Nam” có lẽ phải mất vài năm vì đi làm mỗi tuần 7 ngày, lâu lâu mới có 1 tuần 6 ngày, nên mệt mỏi quá. Cũng như anh, tôi rất cô đơn, chỉ chơi với anh Xuân Vũ mà thôi… Cuối thư anh viết “Mọi người, anh, tôi rồi cũng già và chết. Chỉ có những công trình văn hóa còn tồn tại với thời gian. Không phải mình hãnh diện, nhưng mình làm được việc phải làm để cho thế hệ sau hiểu lịch sử”.





Đọc lại bức thư cũ của anh Hứa Hoành, tôi liên tưởng những lời phát biểu trước đây 6 tháng của Giáo sư Vũ Quốc Thúc khi cho ra mắt quyển Hồi ký Thời Đại Của Tôi: “Trong trường hợp bản thân tôi, tôi muốn giải bày cùng cháu chắt nỗi cay đắng và sự khổ tâm khi phải bỏ nước ra đi vào cái tuổi 58, phải hy sinh tất cả những gì mình đã xây dựng được với bao nhiêu năm cố gắng, đau đớn nhất là phải vĩnh biệt song thân đã gần cửu tuần. Nhưng tôi tự an ủi là bằng hành động này tôi đã bảo vệ được tương lai của các con cháu. Tôi tin đó là nổi lòng của mấy chục vạn bố mẹ khác đã phải ra đi vì hoàn cảnh đất nước. Không phải những người đó chỉ muốn cầu an, muốn tìm tự do, muốn làm giàu…cho bản thân mình ở nơi đất khách mà chỉ vì muốn cho con cái có một cuộc sống đáng sống: bảo vệ triển vọng của giới trẻ, chính là bảo vệ tương lai của dân tộc…Tôi luôn luôn coi vận mạng cùng quyền lợi dân tộc tối thượng của dân tộc Việt là “sợi chỉ đỏ” giúp tôi tìm thấy chiều hướng tiến hóa trong rừng rậm lịch sử đầy rẩy những biến cố đã xảy ra trên đất VN. Trong công cuộc tìm hiểu này tôi đã nhận thấy là sự thật lịch sử nhiều khi bị -vô tình hay cố ý- cắt xén, tô điểm, thậm chí uốn nắn, bịa đặt chỉ vì kẻ tường thuật thiếu khách quan”.





TNTP ra đời trong bối cảnh nào?


Dân tộc ta từ ngàn xưa đã có truyền thống bất khuất. Để bảo vệ nền độc lập tự chủ, họ đã nhiều lần bẻ gãy mưu đồ thôn tính hoặc vùng lên lật đổ ách thống trị của kẻ thù xâm lược từ phương Bắc. Tính đến cuối thế kỷ 18, chúng đã thực hiện trên 15 cuộc xâm chiếm trong gần 2000 năm liên tục. Đến giữa thế kỷ 19 khi thực dân Pháp vừa đặt chân lên ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, phong trào kháng Pháp đã vùng dậy khắp miền Nam: Trương Công Định, Thủ khoa Huân, Nguyễn Trung Trực…Quyết tâm chống Pháp của người dân NK thể hiện qua lời trăn trối của Kinh Lược Sứ Phan Thanh Giản với thuộc cấp trước khi cụ uống thuốc độc tự sát: “Những lá cờ tam sắc không thể phất phới bay trên thành lũy mà nơi ấy Phan Thanh Giản còn sống” (2)

Nhưng tất cả các cuộc khởi nghĩa chống Tây xâm đều bị thất bại trước đội quân xâm lược nhà nghề được trang bị vũ khí hiện đại của một cường quốc có tiềm lực kinh tế mạnh. Trước thất bại của các phong trào Cần Vương và Văn Thân, giới sĩ phu ý thức rằng muốn chiến thắng kẻ thù cần phải hướng ra nước ngoài, tìm một đường lối đấu tranh khác để giải phóng dân tộc.




Trong số sĩ phu đó có cụ Phó bảng Phan Chu Trinh (1872-1926). Sau vụ kháng thuế tại miền Trung năm 1908, cụ và một số những nhà cách mạng yêu nước bị Pháp bắt đày ra Côn đảo. Năm 1911 nhờ Hội Nhân quyền Pháp can thiệp, cụ được phóng thích. Sau đó cụ lên đường sang Paris, tranh đấu hợp pháp bằng con đường bất bạo động, vận động chính trị với giới lãnh đạo Pháp ngay tại thủ đô của họ. Từ khởi điểm này cuộc vận động cứu nước lãnh đạo bởi giới sĩ phu chuyển sang giới trí thức Tây học, dùng báo chí làm công cụ đấu tranh. Tại Pháp, cụ Phan qui tụ các thanh niên Tây học yêu nước, trong đó có Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh, và Nguyễn Tất Thành. Đó là nhóm Ngũ Long, họ viết báo và diễn thuyết để khơi động lòng yêu nước của kiều bào ở Pháp. Tuần báo Việt Nam Hồn là cơ quan ngôn luận của nhóm cụ Phan, tranh đấu đòi Pháp thực hiện dân chủ dân quyền ở VN. Đề ra khẩu hiệu “Pháp Việt đề huề”, cụ Phan Chu Trinh chủ trương cộng tác với Pháp để vận động họ nới rộng các quyền tự do dân chủ cho nhân dân VN trong giai đoạn mà những nguyên tắc của TT Hoa Kỳ Woodraw Wilson về việc giải trừ chế độ thuộc địa và quyền tự quyết của các dân tộc được thế giới ủng hộ mạnh mẽ. Năm 1919, TT Wilson đến Paris cùng các nước đồng minh tham dự hội nghị Versaille để thành lập Hội Quốc Liên, nhân dịp này Nguyễn Tất Thành nhân danh những người VN yêu nước ký tên Nguyễn Ái Quốc gởi bản yêu sách 8 điểm do nhóm Ngũ Long soạn thảo. Nội dung thỉnh nguyện Hội Quốc Liên can thiệp buộc Pháp sửa đổi chính sách thuộc địa ở VN. Từ đó tên tuổi NÁQ nổi bật nhất trong số kiều bào VN ở Pháp..





Năm 1922, sau khi đậu Cử nhân Luật, Nguyễn An Ninh về Sàigòn, tiếp theo là Luật sư Phan Văn Trường và Kỹ sư Hóa học Nguyễn Thế Truyền, sau đó ông Truyền về Hà Nội. Riêng Nguyễn Ái Quốc được Đảng CS Pháp cử đi Mạc Tư Khoa huấn luyện để trở thành người Cộng sản (quốc tế) chuyên nghiệp. Ông Nguyễn An Ninh xuất hiện đầu tiên tại hội trường Hội Khuyến học, Đức trí & Thể dục Nam kỳ (SAMIPIC) ngày 15/10/1923 với bài diễn thuyết “Cao Vọng Thanh Niên” kêu gọi thanh niên, trí thức ý thức thân phận mất nước và nô lệ của mình, phải dấn thân cứu nước. Ông xuất bản tờ La Cloche Fêlée để tuyên truyền tư tưởng tự do dân chủ của Pháp. Tiếng Chuông Rè mở đầu cho phong trào chống đối công khai và hợp pháp ở Nam Kỳ. Sau đó ông lấy cớ trở lại Pháp để lấy bằng tiến sĩ, thực sự để vấn kế cụ Phan Châu Trinh. Đến tháng 5/1925 cả hai trở về Sàigòn. Lúc bấy giờ cụ Phan Bội Châu bị Pháp bắt ở Thượng Hải. Trong quyển “Từ thực dân đến Cộng sản”, tác giả Hoàng Văn Chí tiết lộ ông HCM đã lập mưu lừa cụ Phan Bội Châu vào tô giới Pháp ở Thượng Hải để bán cho Pháp lấy 10 vạn đồng. Sau vụ này, một đệ tử của ông HCM cho biết được ông thầy giải thích như sau: “Cụ Phan đã già lẫn, không còn ích lợi cho cách mạng, việc Pháp bắt cụ và xử án tất nhiên sẽ gây phong trào phản đối trong quốc nội và rất có lợi cho tinh thần cách mạng, sau hết tiền nhận được của Pháp sẽ dùng để đưa thêm thanh niên trong nước xuất ngoại”.





Từ 1925 trong trào đấu tranh chống Pháp bộc phát mạnh trong các tầng lớp thanh niên Tây học sau khi cụ PBC bị Pháp bắt và kết án tử hình. Sinh viên học sinh hô hào bãi khóa đòi Pháp trả tự do cho cụ. Năm sau cụ Phan Châu Trinh từ trần ở Sàigòn, tinh thần ái quốc lại trổi dậy trong các tầng lớp thanh niên trí thức, họ tổ chức để tang cụ thật trọng thể. Trước cao trào đấu tranh của thanh niên, Pháp liền đàn áp. Rất nhiều sinh viên, học sinh bị đuổi học, thành phần lãnh đạo bị truy nã gắt gao, phải trốn sang Trung Quốc, trong đó có Phạm Văn Đồng, con một đại thần dưới trào vua Duy Tân. Lúc đó, ông HCM đổi tên là Lý Thụy làm thông ngôn và thư ký cho Borodine, Trưởng phái bộ CS Nga tại Quảng Châu -thủ phủ chính trị và hành chánh của Trung Hoa Quốc Dân Đảng. Nơi đây, ông HCM thành lập tổ chức CS bí mật đầu tiên dưới danh xưng Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí hội và truyền bá học thuyết Mác-Lê cho những thanh niên VN ở Trung Hoa, một số đang theo học tại Học Viện Quân Chính Hoàng Phố. Lớp học trò đầu tiên của ông đa số là những thanh niên tân học giàu lòng nhiệt huyết. Họ thuộc các gia đình khoa bảng, quan lại hoặc điền chủ đã hưởng ứng phong trào Đông Du của cụ PBC, nay bị mất chỗ dựa sau khi cụ bị Pháp bắt và quản thúc ở Huế.





Trong bối cảnh đó, năm 1927 Việt Nam Quốc Đảng ra đời với Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc Nhu và thành phần sinh viên học sinh có tinh thần dũng cảm hy sinh. Tâm nguyện của giới trẻ này là “không thành công thì thành nhân” khiến họ liều lĩnh thực hiện bạo động vũ trang để lật đổ ách thống trị của bọn thực dân Pháp. Cuộc khởi nghĩa ở Yên Bái năm 1930 thất bại, Nguyễn Thái Học và 12 đồng chí lãnh đạo VN/QDĐ bị Pháp tuyên án tử hình. Sinh viên VN tại Pháp tổ chức rầm rộ phong trào yêu cầu Pháp giảm án tử hình cho 13 liệt sĩ Yên Bái. Tạ Thu Thâu và các bạn như Hồ Văn Ngà, Lê Bá Cang, Hình Thái Thông…mời họ đến họp ở Tổng hội Sinh viên Đông Dương, trổ tài hùng biện rồi lôi kéo họ đến nơi biểu tình. Cuộc biểu tình bị chính quyền Pháp giải tán, 19 sinh viên VN bị trục xuất về Sàigòn tại cảng Marseille ngày 24/6/1930 trên chiếc tàu Athos II, trong đó có Tạ Thu Thâu, Trần Văn Giàu, Phan Văn Chánh, Huỳnh Văn Phương, Hồ Văn Ngà, Lê Bá Cang, Nguyễn Văn Tạo…Trong số này có một số tham gia Quốc tế CS thuộc hai hệ phái Đệ Tam (Giàu, Tạo…) hoặc Đệ Tứ (Thâu, Chánh, Ngà…)





Giáo sư Raymond Arond, nhà nghiên cứu chính trị nổi tiếng của Pháp đã nhận định: “Trong giai đoạn bắt đầu phát triển, học thuyết Mác Lê được đưa ra như liều thuốc phiên của người trí thức”. Nghiên cứu học thuyết Mác Lê được coi như là thời trang của giới trí thức Pháp bấy giờ. Nó lôi kéo cả những sinh viên nước ngoài đến Pháp học như Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình, Tito, Trần Văn Giàu, Tạ Thu Thâu, Nguyễn Văn Tạo…Riêng thanh niên VN du học ở Pháp vào thời điểm này đa số đều say mê chìm đắm trong chủ thuyết mê hoặc này. Khi Mặt trận cánh tả lên cầm quyền ở Pháp hồi giữa thập niên 1930, họ liền về nước hoạt động, phần lớn về Nam Kỳ vì là đất thuộc địa nên họ dễ tuyên truyền và sách động. Họ tin tưởng học thuyết Mác-Lê có thể giúp họ tìm được con đường giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân Pháp. Tuy nhiên có một số sớm ý thức việc Quốc tế III ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc chỉ là chiêu bài để Liên Xô thực hiện một hình thức đế quốc khác mà thôi. Tiêu biểu của nhóm này là Tạ Thu Thâu, ông đi theo Quốc tế IV của Trotsky -một lý thuyết gia Marxít kỳ cựu cùng thời với Lenin. Trotsky chống lại đường lối độc tài khát máu của Stalin và bị Stalin trục xuất khỏi Đảng CSLX. Trotsky tự nhận là người thông hiểu học thuyết Marx vì Marx cho rằng cuộc Cách mạng xã hội chỉ thực hiện ở các nước tư bản mới tiến đến chế độ CS được, chớ không phải tại các nước nông nghiệp lạc hậu.





Hai nhóm CS Đệ tam (Stalin) và Đệ tứ (Trotsky) tuy chống đối nhau, song họ hợp tác trong cuộc đấu tranh chống Pháp. Báo La Lutte (Ấn bản Việt là Tranh Đấu) từ 1933 đến tháng 5/1937 là tờ báo chung của phái tả, do Nguyễn An Ninh khởi xướng, tập hợp cả Đệ tam (Nguyễn Văn Tạo, Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Nguyễn) lẫn Đệ tứ (Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Huỳnh Văn Phương, Trần Văn Thạch, Hồ Hữu Tường). Năm 1937, Nguyễn Văn Tạo và Trần Văn Thạch cùng đứng chung liên danh (lúc bấy giờ gọi là sổ) Lao Động và đắc cử vào Hội đồng Thành phố Sàigòn. Vài tháng sau nhà cầm quyền Pháp ra lịnh hủy bỏ chức vụ hội đồng và bắt ông Thạch bỏ tù vì mấy bài báo công kích bọn thực dân Pháp. Tháng 6/1937, Nguyễn Văn Tạo và những người theo xu hướng Stalin Đệ tam, chấp hành chỉ thị của Mạc Tư Khoa, chấm dứt hợp tác với Đệ tứ, rút lui khỏi báo La Lutte. Báo này trở thành cơ quan ngôn luận riêng của nhóm Đệ tứ. Còn phái Đệ tam phát hành báo Le Peuple (Dân chúng). Chỉ vì phục tùng MTK mà những người CS từng hợp tác vì mục tiêu chống thực dân Pháp, sau đó thù nghịch và chém giết nhau không chút nương tay. Còn những người không CS, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, sẽ bị CS đối xử như thế nào?





Trong Hồi Ký 1940-1945, Trần Văn Giàu nhìn nhận “Nhược điểm chính của những người tờ-rốt-kýt là coi nhẹ yếu tố dân tộc. Đây cũng là nhược điểm của phái “đệ tam” nhất là trong thời kì đi theo chủ trương “giai cấp đối đầu với giai cấp” của Stalin. Phải từng bước, Đảng CSVN mới thoát ra khỏi quan niệm tả khuynh giáo điều này. Nhưng đối với những người đã được đào tạo trong tinh thần ấy, tiếp thu quan niệm Mặt trận đoàn kết dân tộc như Việt Minh của Nguyễn Ái Quốc không phải dễ dàng. Sự mâu thuẫn giữa hai nhóm “xứ ủy Tiền Phong” và xứ ủy Giải phóng” còn phức tạp hơn. Ngoài yếu tố cá nhân, còn có một nghịch lý: tuy chưa biết và chưa thấm chủ trương Việt Minh, nhưng quan điểm của Trần Văn Giàu đã đặt nặng vấn đề dân tộc, trong khi các đồng chí đối nghịch với ông, tuy đứng trên danh nghĩa Việt Minh, tổ chức Thanh niên cứu quốc, nhưng quan niệm chưa chắc đã gột rửa bệnh tả khuynh của thập niên 1930”.





Phần tiết lộ trên của TVG rất quan trọng cho những ai muốn tìm hiểu lịch sử trong giai đoạn 1940-45 tại Nam bộ. Đảng CSVN đã tìm mọi cách không để ông Giàu tiết lộ bí mật này dù ông được đề cao là cây đại thụ về sử học (Mác-xít). TVG thừa nhận những người CS theo Đệ tam quốc tế đã “coi nhẹ yếu tố dân tộc” chỉ theo chủ trương giai cấp đấu tranh của Stalin. Đến tháng 5/1941, Hội nghị Trung ương Đảng CS Đông Dương ở Pác Pó, ông HCM thành lập Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh hội gọi tắt là Việt Minh. Ông kêu gọi: “Giải phóng dân tộc cố nhiên không phải là công việc riêng của giai cấp công nhân, nông dân mà là công việc chung của toàn thể nhân dân, toàn thể dân tộc. Lúc này quyền lợi dân tộc cao hơn hết thảy, quyền lợi của một bộ phận phải phục tùng quyền lợi của toàn thể dân tộc, quyền lợi của một giai cấp phải đứng sau quyền lợi của nhân dân. Mặt trận Việt Minh chủ trương đoàn kết toàn thể dân tộc hoàn thành nhiệm vụ giải phóng trước, những gì đề ra có hại cho việc đại đoàn kết dân tộc thì phải gác lại hoặc bỏ đi”.




TVG cho biết sau này Đảng CSVN lên án ông “làm sai đường lối trung ương. Nhưng mà tôi có biết đường lối của Trung ương là thế nào đâu? Trung ương có gửi ai vào trực tiếp cho tôi đâu”. Do đó tại Nam kỳ trước 1945 có hai “xứ ủy”. Một là “xứ ủy Tiền Phong” hay “xứ ủy CS Nam kỳ” của Trần Văn Giàu, lấy cờ vàng sao đỏ làm cờ hiệu. Hai là “xứ ủy Giải Phóng” (còn gọi là Xứ ủy Việt Minh) lấy cờ đỏ sao vàng làm kỳ hiệu. Xứ ủy Giải Phóng cũng như HCM lúc bấy giờ ít người biết đến. Nguyễn Văn Trấn, đàn em của Giàu, đã nói một câu làm bật ngửa những người tham dự Đại hội II của Đảng CSVN tháng 2/1951 tại Tuyên Quang “Mấy má miền Nam…hỏi Hồ Chí Minh là “ừng cha” nào” (Ừng cha tức “thằng cha” khi nói nhanh theo lối Nam bộ) (3) Giàu tiết lộ sau Cách mạng tháng 8 (VM cướp chính quyền ở Hà Nội ngày 19/8/1945), ông “mới hay rằng nghị quyết của hội nghị trung ương năm 1941 chỉ thị phải đưa mặt trận VM ra hàng đầu để cho sự tuyên truyền cổ động về chủ nghĩa yêu nước được triển khai dễ dàng, Đảng CS đứng bên trong mà lãnh đạo một cách khéo léo, chớ tuyệt nhiên không phải lấy VM thay đảng CS.”. Trước 1945 Giàu “chưa biết và chưa thấm chủ trương VM” của HCM nhưng Giàu cũng đã có quan điểm tương tự HCM: “Đành rằng người CS không được một phút xem nhẹ quyền lợi thiết thực của giai cấp, nhưng trước mắt và lâu dài, nếu muốn huy động hết sức đông đảo quần chúng thuộc tất cả các tầng lớp xã hội thì phải giương cao ngọn cờ dân tộc, phải không rời chủ nghĩa yêu nước chân chính”.





Những điểm trên cho thấy những người CS Đệ tam, từ ông HCM (đến Mạc Tư Khoa hồi đầu thập niên 1920) hay TVG (đến MTK trong thập niên sau) đều chấp hành đường lối của Stalin đặt “giai cấp đối đầu giai cấp” lên trên (lợi ích) dân tộc. Để thực hiện mục tiêu này, cả hai dù CS Nam kỳ của TVG (trước 1945) hoặc VM/CS của HCM (sau 1945) đều chủ trương giương cao ngọn cờ dân tộc và yêu nước để lôi cuốn toàn dân đi vào con đường của họ. Phải hiểu được điều này mới có thể thấy được mưu đồ của CS lợi dụng lòng yêu nước của TNTP.





Thanh Niên Tiền Phong ra đời


Đầu thập niên 1940, Pháp đã đầu hàng Đức còn quân Nhựt bắt đầu đổ bộ vào Đông Dương, Toàn quyền ĐD Decoux đương nhiên phải hòa hoãn với Nhựt cũng như thái độ của chính quyền Vichy (Pháp) của Thống chế Pétain đối với Đức. Trong tình thế đó, Decoux có thái độ cổi mở đối với giới thanh niên trí thức bản xứ để tranh thủ ảnh hưởng với Nhựt. Decoux thiết lập một ngạch hành chánh cao cấp dành cho người bản xứ được tham gia vào bộ máy hành chánh ở cấp liên bang. Từ trước đến nay, mọi chức vụ trong bộ máy hành chánh trực thuộc Phủ Toàn quyền đều dành cho người Pháp. Decoux còn bổ nhiệm Đại tá Hải quân Ducoroy làm Tổng ủy Thanh niên phát động phong trào thể dục thể thao khắp ĐD như tổ chức các cuộc đua xe đạp vòng quanh ĐD, thiết lập lớp huấn luyện Thể dục ở Phan Thiết, tổ chức các giải quán quân về bóng tròn, quần vợt...




Pháp thành lập Câu lạc bộ học sinh dựa theo tôn chỉ của hội SAMIPIC (Nam kỳ khuyến học, đức trí, thể dục) để hướng giới trẻ tham gia các hoạt động như diễn thuyết, dạ hội, du lịch, điền kinh, thể thao…Theo TVG, đó là âm mưu của Pháp muốn kéo CLB học sinh đi truyền bá học thuyết “cách mạng quốc gia” của Pétain và chủ trương “Pháp Việt phục hưng” Decoux. Năm 1942, Decoux tổ chức Hội chợ Triển lãm ĐD ở Sàigòn, nhân dịp hè, một số sinh viên Nam kỳ ở Hà Nội về Sàigòn tham dự. Họ cùng hàng trăm nam nữ học sinh trường Petrus Ký và Nữ học đường (Gia Long) mở một đợt hoạt động của giới trẻ, diễn thuyếtt về văn hóa & chính trị và giới thiệu nhiều bài hát yêu nước của Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiểng. Sinh hoạt của sinh viên học sinh bắt đầu bằng một dạ hội ở “Nhà hát lớn”, khán giả đông nứt rạp nghe sinh viên Nguyễn Ngọc Minh và Trần Văn Khê diễn thuyết đề tài “Trần Hưng Đạo phá Nguyên”. Khi bài nói chấm dứt, thính giả “vỗ tay dài như không bao giờ dứt”. Tại trụ sở Nam kỳ Đức trí & Thể dục, Sinh viên Mai Văn Bộ diễn thuyết về “Con đường cách mạng quốc gia”, hô hào tuổi trẻ VN “hãy làm một cuộc cách mạng trong tâm hồnvà trong tư tưởng mình trước tình hình biến động hiện nay và hãy trở về với chân giá trị dân tộc”.





Hè năm 1943, sinh viên Nam kỳ học ở Hà Nội lại trở về Sàigòn, họp tác với học sinh Sàigòn trình diễn liên tiếp ba vở kịch của Huỳnh Văn Tiểng: “Đêm Lam Sơn”, “Nợ Mê Linh” và “Hội nghị Diên Hồng”. Trần Văn Giàu nhận xét không có vở kịch nào cấu kết hay, diễn xuất không có gì xuất sắc, nhưng công chúng Sàigòn hoan nghênh “Đêm Lam Sơn” dữ lắm. Vở kịch gây xúc động lớn. Tới màn chót, khi Lê Lợi tuốt gươm thề quyết tâm tiêu diệt giặc Minh, thì cả rạp hát, không ai bảo ai, đều đứng dậy, vỗ tay, hò reo, nhịp tay nhịp chân đồng hát và hát đi hát lại bài Tiếng gọi Sinh viên, từ nay đổi tên là “Tiếng gọi Thanh niên”: Này thanh niên ơi! Đứng lên đáp lời sông núi! Cũng trong mùa Hè 1943, sinh viên học sinh tổ chức cắm trại ờ bờ suối Lồ Ồ gần Thủ Đức. Trại trưởng là Đặng Văn Chung sinh viên nội trú năm cuối cùng của Đại học Y khoa.Trại viên tự rèn luyện tinh thần đoàn kết, kỷ luật, tự quản; trại viên là sinh viên y khoa thì khám bịnh, chữa bịnh, truyền bá vệ sinh; trại viên khác thì dạy chữ, dạy hát, tổ chức diễn kịch cho đồng bào xem. Trại Lồ Ồ chỉ có một tháng nhưng tạo ảnh hưởng lớn sau đó. Học sinh Sàigòn, dẫn đầu là học sinh Pétrus Ký tổ chức đoàn SET (Section d’Excursion et de Tourisme: đoàn du ngoạn và cấm trại). SET lấy huy hiệu “con đường” màu đỏ hồng trên nền xanh tươi. Thanh niên đoàn viên hát: “Trời mây lồng lộng, đồng ruộng mênh mông, Chân trời xa xa, Con đường màu hồng, Cùng nhau thẳng tiến”. Đoàn SET có thể được xem là dọn đường cho TNTP sau này. Đoàn viên hợp thành đội ngũ, mặc đồng phục, quần soọc màu, sơ-mi trắng, ngực đeo huy hiêu “con đường”. Khẩu hiệu tiến bước hay ngừng nghỉ, hoàn toàn bằng tiếng Việt. Khi đi cấm trại, đoàn viên vừa đi vừa hát bài “Tiếng gọi Thanh niên”. SET cũng tổ chức dạ hội, tháng 12/1944 trình diễn vở kịch “Nguyễn Huệ phá Thanh”. Mùa Đông 1944, Đồng minh bắt đầu oanh tạc các căn cứ Nhựt để chuẩn bị đổ bộ vào ĐD. Nhiều sinh viên Nam kỳ học ở Hànội nhận định tình thế đã chín muồi nên khởi xướng phong trào “xếp bút nghiêng lên đường tranh đấu”. Họ lên đường về miền Nam bằng xe đạp để đánh thức lòng yêu nước của dân chúng miền Nam. Lúc bấy giờ phần đông sinh viên kể cả Huỳnh Tấn Phát đều thuộc đảng Dân chủ, ở trong Nam gọi là Tân Dân chủ Đoàn.





Đầu năm 1945, Nhựt sợ quân đồng minh đổ bộ vào ĐD, Pháp sẽ làm nội ứng để khôi phục quyền thống trị ở đây, nên làm cuộc đảo chính Pháp ngày 9/3/1945. Hôm sau Đại sứ Nhựt đến Huế yết kiến vua Bảo Đại, và thông báo việc trao trả độc lập cho VN. Cụ Trần Trọng Kim là một học giả và sử gia được vua Bảo Đại ủy nhiệm thành lập nội các có 11 bộ trưởng đều là những trí thức tên tuổi. Trong Tuyên cáo gởi quốc dân, cụ TTK chủ trương cải thiện phương pháp giáo dục, chấn hưng thanh niên và “họp nhất tất cả các phần tử quốc dân để củng cố độc lập quốc gia và gây mạnh cái tinh thần yêu nước trong mọi tầng lớp xã hội”. (4) Sau 80 năm mất chủ quyền, nay nước nhà được độc lập nhờ sự giúp đỡ của Nhựt, Chính phủ TTK cố gắng gầy dựng lại nền tự chủ của đất nước với sự hăng hái tham gia của đông đảo các tầng lớp thanh niên vào việc kiến quốc, Lúc bấy giờ chiến tranh giữa Nhựt và Đồng minh vẫn còn tiếp diễn, cụ TTK sợ Nhựt có thể bắt buộc người VN tham gia chiến đấu với họ, nên trong Nội các của cụ không có Bộ Quốc phòng. Cụ đặt niềm tin vào giới trẻ và thành lập bộ Thanh niên, cử Luật sư Phan Anh làm bộ trưởng khích động lòng yêu nước của thanh niên nhằm tổ chức và huấn luyện họ để làm nồng cốt bảo vệ nền độc lập quốc gia.





Thống đốc Nhựt ở Nam kỳ là Minoda và Tổng uỷ viên Thể thao và Thanh niên Ida vận động Giáo sư Hồ Văn Ngà và Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, Chủ tịch và Tổng thư ký Đảng Việt Nam Quốc gia Độc lập tổ chức phong trào “Thanh niên Khỏe” như Ducoroy đã làm với chủ tâm có thể điều động thanh niên VN làm hậu thuẫn cho Nhựt. Ông Hồ Văn Ngà giao việc tổ chức thanh niên cho B/s P. N. Thạch. Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát và Sinh viên Y khoa Huỳnh Văn Tiểng đã tích cực tham gia và góp công xây dựng phong trào thanh niên này. Đó là Thanh niên Tiền Phong. Vì được Nhựt cho phép và đỡ đầu hoạt động công khai hợp pháp nên TNTP phát triển nhanh và mạnh không những ở Sàigòn và lan khắp các tỉnh Nam kỳ. TNTP qui tụ nhiều trí thức trẻ đầy thiên chí nắm vai trò thủ lãnh như bác sĩ P.N. Thạch, bác sĩ Nguyễn Thị Sương, Nha sĩ Nguyễn Văn Thủ, Kỹ sư Kha Vạn Cân, các Luật sư Thái Văn Lung, Nguyễn Vĩnh Thạnh… Ngoài TNTP còn có Phụ nữ TP, Phụ lão TP, Thiếu niên TP. Bí thư Xứ ủy CS Nam kỳ TVG nhận định “TNTP là một phong trào tự phát của thanh niên ỏ một dân tộc yêu độc lập tự do. Có thể ghi nhận, từ 1930 (khi CSVN ra đời) chưa hề có ở Nam kỳ một tổ chức, một cao trào thanh niên nào rộng lớn như năm 1945. Sau đó Đảng mới chú ý và ra sức hướng dẫn, phát triển”. Giàu liền tìm cách liên lạc với Huỳnh Tấn Phát và Huỳnh Văn Tiểng đang điều khiển tờ báo Thanh Niên, để nắm lấy TNTP. Trước đó TVG cũng đã móc nối với Bác sĩ Phạm Ngọc Thạch, du học ở Pháp về có vợ đầm. Thạch mở phòng mạch ở Sàigòn, có người bạn thân là Komasu, Giám đốc thông tin Nhựt ở Nam kỳ. Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn Văn Trấn thường hội họp tại nhà Thạch ở đường Chasseloup Laubat. Khi Nhựt gợi ý thành lập một lực lượng bán quân sự thì Thạch với tư cách thủ lãnh TNTP, đem sát nhập vào lực lượng Nhựt, dưới quyền chỉ huy của Iida.





Cách mạng tháng 8, Việt Minh cướp chính quyền


Ngày 15/8/1945 Nhựt hoàng tuyên bố đầu hàng, tình hình VN buớc vào một rẽ quan trọng. Theo quyết định của Đồng minh, quân Hoàng gia Anh và Trung hoa Quốc Dân Đảng (Tưởng Giới Thạch) sẽ đổ bộ vào Đông Dương giải giới Nhựt và tổ chức công việc chính trị cho các nước ĐD. Để củng cố sức mạnh nói chuyên với Đồng minh, Thủ tướng TTK kêu gọi các viên chức Nhà nước, các đảng phái quốc gia “Thống nhất lực lượng sau lưng chính phủ để bảo vệ nền độc lập, đừng để bị tròng ách nô lệ một lần nữa”. Cụ công bố đạo dụ qui hoàn Nam kỳ vào VN, hủy bỏ hoàn toàn những hiệp ước bất bình đẳng ký với Pháp năm 1862 và 1974, cử Nguyễn Văn Sâm làm Khâm sai Nam Bộ. (5) Tại Sàigòn, vừa được tin Nhựt đầu hàng, Giáo sư Hồ Văn Ngà, Thủ lãnh Đảng Việt Nam Quốc gia Độc lập liền thành lập ngay Mặt trận Quốc gia Thống nhất, kêu gọi các đảng phái chánh trị và tôn giáo hãy đoàn kết lại. Ông cho rằng “khi Nhựt đầu hàng, Đồng minh sẽ đến tước khí giới, thế nào Pháp cũng đòi Nhựt trả lại chủ quyền Nam bộ cho họ, nên đoàn kết là là một phương pháp đấu tranh, một vấn đề sinh tử của dân tộc, đoàn kết đấu tranh chống thực dân Pháp bảo vệ nền độc lập tự do”. Ông kêu gọi: “Người Việt Nam nào đảm đang đưọc và có hi vọng thành công, chúng tôi sẳn sàng tán trợ, nghĩa là lúc nào chúng tôi cũng đặt nền độc lập quốc gia lên trên vấn đề quyền tước”. (6) Mặt trận Quốc Gia Thống nhất bao gồm Đảng VN Quốc gia Độc lập và 6 tổ chức khác là Thanh niên Tiền Phong, Nhóm trí thức, Liên đoàn công chức, Tịnh độ cư sĩ, Phật Giáo Hòa Hảo và Cao Đài. Các giới đồng bào vốn có cảm tình với các đảng phái chính trị nên nhiệt liệt hoan nghênh Mặt trận và tham gia cuộc biểu tình tuần hành để biểu dương lực lượng tại Sàigòn ngày 21/8/1945 với trên 20 vạn người tham dự.




MTQGTN của người Quốc gia có một điểm yếu là không ai dám tự nhận đứng ra lãnh đạo, chỉ hô hào đoàn kết mà không chịu vạch ra đoàn kết như thế nào…Trái lại VM/CS có thủ đoạn và chương trình hành động hẳn hoi. Trần Văn Giàu chủ trương “Khi Đồng minh vào mà đã có chính quyền độc lập của dân tộc Việt Nam thống nhất an bài rồi lại được toàn dân hết lòng ủng hộ, thì họ phải thương lượng với chính quyền cách mạng đó. Nếu ta không giành được chính quyền thì họ sẽ không đếm xỉa đến cuộc kháng Nhật của ta đâu. Thương lượng với họ, ta sẽ có hai thế mạnh: Một là ta đã chống Nhật, đã ủng hộ Đồng minh. Hai là ta đang nắm chính quyền và được đồng bào tín nhiệm. Ta sẽ hết sức lợi dụng mâu thuẫn giữa Anh, Pháp, Mỹ, Tàu. Tiếng nói của Liên Xô chắc chắn có trọng lượng mặc dù LX ở rất xa Đông Dương”. Sau khi được tin ông HCM và Mặt trận Việt Minh đã giành được chính quyền ở Hà Nội ngày 19/8, Giàu thuyết phục Bs Phạm Ngọc Thạch tuyên bố TNTP gia nhập Mặt trận VM và tham gia cuộc biểu tình qui mô ngày 25/8/1945 tại Sàigòn. Trong cuộc biểu tình này, biểu ngữ “Chính quyền về tay Việt Minh” tràn ngập thành phố. VM cho ra mắt Ủy ban Hành chánh Lâm thời Nam bộ gọi tắt là Lâm ủy Hành chánh gồm 9 người trong số có 7 đảng viên CS do Trần Văn Giàu làm chủ tịch. Giáo sư Hồ Văn Ngà tin tưởng VM có lực lượng hùng hậu nên buông hết cho VM thao túng. Mấy tháng sau ông bị VM bắt giam ở Đá Bạc Rạch Giá và bị đập chết bằng củi đòn rồi liệng xác xuống sông.





Ngày 30/8/1945 Lâm ủy Hành chánh Nam bộ mở khoáng đại hội nghị có sự tham gia của đông đảo các đảng phái chính trị. Trong hội nghị này, Giáo chủ Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ, thủ lãnh Việt Nam Độc lập Vận động Hội và Trần Văn Thạch thuộc nhóm Đệ tứ tranh đấu đã chất vấn Trần Văn Giàu: “Ai cử ra Lâm ủy hành chánh Nam bộ?” Hội nghị vô cùng ngột ngạt khi thấy Giàu mân mê khẩu súng lục đeo bên hông để áp đảo tinh thần các nhóm đảng phái quốc gia (7) Trước thái độ bất mãn và không có thiện cảm của các đảng phái chính trị miền Nam đối với TVG, Tổng bộ VM vội cử Cao Hồng Lãnh và Hoàng Quốc Việt Ủy viên Trung ương Đảng CS vào Nam cải tổ Lâm ủy hành chánh Nam Bộ. Luật sư Phạm Văn Bạch thay thế Trần Văn Giàu, Lâm ủy Hành chánh Nam bộ được cải tổ có 12 ủy viên gồm 4 CS, 3 không đảng phái, 2 Quốc gia, 1 Hòa Hảo, 1 Cao Đài và 1 thuộc nhóm Đệ tứ.





Nam bộ Kháng chiến


Trong khi Cách mạng tháng 8 xảy ra, tướng De Gaulle, Thủ tướng chính phủ Lâm thời Pháp bổ nhiệm Cédile làm Ủy viên Cộng hòa Pháp ở Nam kỳ. Y được phi cơ Anh thả dù xuống Tây Ninh ngày 22/8/1945. Năm ngày sau, y đã có mặt ở Sàigòn và tiếp xúc sơ khởi với Trần Văn Giàu, Phạm Ngọc Thạch và Nguyễn Văn Tạo thuộc Lâm ủy Hành chánh Nam Bộ. Ngày 6/9/1945 lực lượng Hoàng gia Anh do tướng Douglas D. Gracey cầm đầu đến Sàigòn giải giới Nhựt. Đến nơi, Gracey thảo luận ngay vấn đề Nam Bộ với Phạm Ngọc Thạch và Cédile. Ông yêu cầu VM giải giới lực lượng dân quân cách mạng, giao cho Nhựt trách nhiệm ổn định trật tự, duy trì an ninh để hai bên Việt Pháp đàm phán. Lúc đó Lâm ủy Hành chánh Nam bộ được cải tổ như đã kể trên. Các đảng phái Quốc gia phản đối VM thông đồng với giặc Pháp phản bội quyền lợi dân tộc. Cuộc đàm phán Pháp và VM bất thành vì lập trường đôi bên trái nghịch nhau. Phía VM đòi Pháp nhìn nhận độc lập, còn Pháp thì chủ trương tái lập trật tự, lưu lại chủ quyền của Pháp, sau đó sẽ cho Nam kỳ được tự trị như Tuyên ngôn 24/3/1945 của De Gaulle. Pháp sẽ mở cuộc trưng cầu dân ý để người dân quyết định chủ quyền Nam bộ: thống nhất vào VN hay phân ly.




Ngày 21/9/1945 tiếp theo các cuộc xung đột giữa Dân quân cách mạng VN và quân Pháp, Cédile ra lịnh tấn công tái chiếm các công sở và khám lớn Sàigòn. Tướng Gracey nhân danh Ủy ban kiểm soát Đồng minh đứng ra đảm trách việc ổn định trật tự, tuyên bố lịnh thiết quân luật và kiểm soát các công sở. Ngay trong đêm 22 rạng 23/9/1945 Lâm ủy Hành chánh rút khỏi Sàigòn, Cuộc chiến tranh Pháp Việt đã thực sự bùng nổ tại Nam Bộ. VM ra lịnh tản cư với lời đe dọa “ai còn ở lại Sàigòn là Việt gian sẽ bị bắt và trừng trị”. Trên đường dân chúng tản cư về miền Đông và miền Tây, Trần Văn Giàu và Nguyễn Văn Trấn sát hại khá nhiều những phần tử đối lập như Huỳnh Văn Phương, Bùi Quang Chiêu, Dương Văn Giáo, nhà báo Diệp Văn Kỳ, Luật sư Hồ Vĩnh Ký và vợ là bác sĩ Nguyễn Thị Sương, vây bắt Hồ Văn Ngà, Trần Quang Vinh…Riêng Huỳnh Văn Phương chú ruột của Huỳnh Tấn Phát là người đã cung cấp khí giới và phương tiện cho tổ chức của TVG lại là người bị Giàu thủ tiêu trước nhất. Các nhân vật thuộc Đệ tứ hoặc có cảm tình với Đệ tứ đều bị giết như Luật sư Hình Thái Thông ở Mỹ Tho, các ông Trần Văn Thạch, Phan Văn Chánh, Nguyễn Văn Số, Phan Văn Hùm... Ở vùng Hậu Giang, các nhân vật và tín đồ Hòa Hảo đã bị thủ tiêu, chôn tại các hầm hố tập thể ở Tân Thành, Cái Cái (Hồng Ngự). CS kết tội Cao Đài hợp tác với QDĐ và Nhựt là “Việt gian phản quốc” và bị tàn sát dã man. Có thể nói Trần Văn Giàu và CS Đệ tam đã nhẫn tâm tàn sát hầu hết một thế hệ những nhà ái quốc ở Nam bộ.


Sau khi rút khỏi Sàigòn trong đêm 23/9/1945, các đoàn thể Quốc gia thuộc MTQGTN liền nghĩ đến một mặt trận đoàn kết khác và thành lập Mặt trận Quốc gia Liên hiệp kháng chiến ở 18 thôn vườn trầu Vĩnh Lộc/Hốc Môn. Lực lượng vũ trang kháng chiến chống Pháp gồm có lực lượng Bình Xuyên làm nồng cốt với nhiều chi đội (cấp trung đoàn) được Luật sư Hồ Vĩnh Ký và Lâm Ngọc Đường, Giám đốc và phó Giám đốc Công an thời Nhựt đảo chánh, cung cấp rất nhiều vũ khí. Liên minh với BX có Đệ nhị sư đoàn gồm các lực lượng bán vũ trang của Cao Đài (Phong trào Thanh niên Ái quốc Đoàn). Đệ tam sư đoàn Quốc Dân Đảng của Nguyễn Hòa Hiệp gồm nhiều quân nhân trong Nghĩa dũng quân do Nhựt tuyển mộ nay đã giải ngũ và Bộ đội An Điền của Đại Việt Quốc Dân Đảng. Cả hai lực lượng này cũng được Nhựt trang bị nhiều vũ khí. Ngoài ra lực lượng kháng chiến còn có Đệ tứ sư đoàn gồm các nông dân trong lực lượng Bảo An của giáo phái Hòa Hảo và Đệ ngũ sư đoàn của Nguyễn Thành Long thuộc nhóm Đệ tứ.




Về phần VM, Tổng bộ VM cử các cán bộ CS như Giáo sư Phạm Thiều, Ung Văn Khiêm, Trần Bửu Kiếm…vào chỉ đạo kháng chiến. Đồng thời chỉ định Nguyễn Bình vào thành lập khu 7 kháng chiến miền Đông kiêm Ủy viên quân sự trực thuộc Ủy ban Hành chánh Kháng chiến Nam bộ. Lúc bấy giờ cơ quan này đặt căn cứ ở miền Tây do Lê Duẩn bí thư chi cục Hội Nghiên cứu chủ nghĩa Mác- Lê ở MN vừa từ Côn Đảo về, phụ trách tổng quát. Nguyễn Bình bí danh của Nguyễn Phương Thảo nguyên Chỉ huy trưởng Chiến khu Đông Triều của VNQDĐ sau Cách mạng tháng 8 về hợp tác với VM. Vào Nam bộ, dựa vào lực lượng Đệ tam sư đoàn, Nguyễn Bình mở hàng loạt cuộc phục kích và tập kích vào đội quân xâm lược Pháp. Tiếng tăm lừng lẩy của NB khiến Huỳnh Văn Trí (Mười Trí) một chi đội trưởng của lực lượng BX cảm phục nên mang quân về hợp tác. Mười Trí còn đứng ra vận động các lực lượng kháng chiến suy cử NB làm tư lịnh Quân khu 7. Với uy tín cá nhân, NB thuyết phục các đảng phái Quốc gia hợp tác với VM. Ngày 20/5/1946 tại bản doanh của Mười Trí ở Bà Quẹo, đại diện các đảng phái chính trị, tôn giáo, các cơ quan quân sự tuyên bố thành lập Mặt Trận Liên Hiệp Kháng chiến để tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp.





Mục đích của Mặt trận là gom góp các lực lượng kháng chiến rời rạc tiếp tục tranh đấu cho đến khi thực hiện được “Nguyện vọng chính đáng của dân tộc VN đúng theo tinh thần và nguyên tắc của bản Hiến chương Đại Tây Dương là quyền tự quyết dân tộc”. Ban Lãnh đạo Mặt trận Quốc gia Liên hiệp gồm có Giáo sư Phạm Thiều làm Chủ tịch, Giáo chủ Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ, Trần Văn Lâm (VNQDĐ) Lê Văn Tỵ (Cao Đài), Phạm Ngọc Châu (Đảng Thanh niên trí thức), Lâm Văn Hậu (Tịnh Độ cư sĩ), Mai Thọ Trấn thay mặt Hà Huy Giáp (Tổng công đoàn và Kỳ bộ VM), Phạm Đình Công (thay mặt Nguyễn Bình), Mười Trí, Phạm Hữu Đức (Chỉ huy trưởng Chi đội 5 Vệ quốc đoàn), Nguyễn Văn Sâm và Nguyễn Văn Nhân (Huỳnh Long Đảng), Linh mục Nguyễn Bá Sang (Công giáo) (8) Nhưng sau đó nhóm CS Đệ tam ra lịnh Phạm Thiều và Nguyễn Bình rút khỏi Mặt trận Quốc gia Liên hiệp kháng chiến, Huỳnh Giáo chủ thay Phạm Thiều làm chủ tịch. Cuối cùng, cũng như số phận của Chính phủ Liên hiệp Quốc Cộng ở Miền Bắc, tại Nam Bộ cán bộ CS lãnh đạo Mặt trận VM loại dần những người Quốc gia để giành độc quyền kháng chiến tại MN. Mặt trận Quốc gia Liên hiệp tan rả.








Lời kết


Hồi ký 1940-1945 của Trần Văn Giàu có đề cập đến lời thú nhận của ông về nhược điểm của phái CS Đệ tam là theo chủ trương “giai cấp đối đầu giai cấp” của Stalin và “coi nhẹ yếu tố dân tộc”. Ông đã lợi dụng lòng yêu nước của TNTP để cướp chính quyền và thẳng tay tàn sát các thành phần chống đối ở Nam bộ. Trung ương Đảng CS ở Hà Nội trách cứ TVG đã hành động sai đường lối của Đảng. VM chủ trương đuổi Nhựt đánh Pháp, trong khi Giàu dựa vào TNTP do Nhựt khởi xướng để nắm lấy chính quyền. Sau Cách mạng tháng 8, Giàu được chỉ thị phải giải tán TNTP để thành lập ngay Thanh niên cứu quốc, giống các tổ chức khác của Đảng như Nông dân cứu quốc…Việc giành độc quyền lãnh đạo cho đảng CS và tàn sát các phần tử đối lập của Giàu cũng đi ngược lại chủ trương của VM là “đoàn kết toàn thể dân tộc hoàn thành nhiệm vụ giải phóng trước, những gì đề ra có hại cho việc đại đoàn kết dân tộc thì phải gác lại hoặc bỏ đi”. TVG đã không “gác đi hoặc bỏ đi” mà còn cho tiến hành quá sớm khi vừa giành được chính quyền, đã làm lộ tẩy chiến lược của Đảng. Vì thế, TƯ Đảng CS chấm dứt vai trò của Trần Văn Giàu, Dương Bạch Mai, Nguyễn Văn Tạo, Nguyễn Văn Trấn …ở Nam bộ. Giàu coi việc tàn sát giới trí thức đối lập hồi năm 1945, là nhiệm vụ của người CS Đệ tam, nên trong “Hồi ký 1940-1945” của Giàu cũng như hồi ký “Viết cho Mẹ và Quốc hội” của Nguyễn Văn Trấn, không có lời lẽ nào để bày tỏ sự hối hận của mình. Sau đó Lê Duẩn áp dụng chủ trương “đại đoàn kết dân tộc” để lôi kéo các tầng lớp nhân dân, thanh niên và trí thức yêu nước Nam bộ tham gia kháng chiến chống Pháp và sau đó chống Mỹ.




Milovan Djilas (1911-1995) lãnh tụ cao cấp Đảng Đảng CS Nam Tư và là Phó Tổng thống Liên Bang Nam Tư dưới trào Joseph Tito đã có một nhận xét hết sức tinh tế “Hai mươi tuổi không theo Cộng sản, là không có trái tim. Bốn mươi tuổi mà không từ bỏ Cộng sản là không có khối óc”. Vận dụng vào VN, thanh niên ở lứa tuổi 20 lại được CS tuyên truyền bằng những lời lẽ ngọt ngào “chiến đấu chống thực dân Pháp giành độc lập cho dân tộc”. Nếu họ không theo CS, người ta có thể cho đó là những người không có lòng yêu nước, không có trái tim. Rồi hai mươi sau, già dặn và trưởng thành phải thấy lòng ái quốc và sự cống hiến của mình đã mang lại lợi ích gì cho dân tộc? Nếu vẫn chưa nhận thức được là bởi vì nhiệm vụ “giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước” chưa hoàn thành. Một số trí thức và thanh niên yêu nước của miền Nam, thế hệ thứ hai của TNTP được Trần Bạch Đằng, đệ tử của Trần Văn Giàu nay phụ trách công tác trí vận ở Sàigòn, tuyên truyền đi vào con đường kháng chiến “chống Mỹ cứu nước”.





Sau 1975, những gì ông Lê Duẩn thực hiện ở miền Nam cũng là “giai cấp đối đầu giai cấp”, là coi nhẹ quyền lợi dân tộc. Ông Lê Duẩn đã lập lại công việc mà TVG đã thực hiện 30 năm về trước. Ông không giết vài trăm người như Giàu, mà tù đày biệt xứ hàng trăm ngàn người; đánh tư sản, đuổi họ đi các vùng kinh tế mới, khiến cả triệu người phải bỏ nước ra đi. Số người chết trong các trại cải tạo và trên đường vượt biên lên đến cả trăm ngàn người. Ông Duẩn còn đổi tên nước thành Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa, VN đi theo đúng khuôn mẫu Liên Xô. Hành động này khiến Trung Cộng thù nghịch với VN, tạo biết bao hệ lụy cho đất nước sau này. Tất cả chỉ vì những người CS đệ tam “coi nhẹ yếu tố dân tộc”. Dĩ nhiên ông Duẩn và các đồng chí của ông cũng không có gì hối tiếc ân hận. Chỉ có nhân dân Sàigòn, một thời được coi là Hòn ngọc Viễn Đông, nay phải ăn bo bo để sống còn. Lúc đó những thanh niên yêu nước tham gia kháng chiến chống Mỹ đã ở lứa tuổi 40, còn đàn anh của họ đã hơn 60 tuổi mà chưa từ bỏ CS, thì theo quan niệm của Milovan Djilas, đó là những kẻ không có đầu óc, và không còn lương tri nữa. Đất nước tụt hậu, xã hội suy đồi là lẽ đương nhiên. Milovan Djilas còn có một nhận định nữa để nhắn nhỡ các đồng chí của ông: “Cộng sản là một thế lực suy tàn. Có người còn nói nó là một xác chết, nhưng xác chết đó có thể lôi ta xuống mồ với nó”.





Lê Quế Lâm



Chú thích:
1- Ban Nghiên Cứu Lịch sử Đảng Trung Ương, Bốn Mươi Lăm Năm Hoạt động của Đảng Lao Động Việt Nam (in lần thứ ba) Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1975, Tr.40)
2- Georges Taboulet, La geste Francaise en Indochine: Tome Deuxième, Adrien Maisonneuve, Paris, 1956, P. 519.
3- Nguyễn Văn Trấn, Viết cho Mẹ và Quốc Hội, Nxb Văn Nghệ, HK, 1995, Tr. 162
4- Trần Trọng Kim, Một Cơn Gió Bụi, Nxb Vinh Sơn, Sàigòn, 1969, Tr. 192/94
5- Nam Đình (Kỳ Nam Nguyễn Thế Phương), Hồi ký lịch sử: 1923 đến 1964, Nhật báo Thần Chung, Saigòn, 1965.
6, 7 & 8- Nam Đình, Tài liệu đã dẫn trên.

Tài liệu tham khảo:

Phan văn Hùm: Thân thế & Sự nghiệp của Bác sĩ Trần Nguơn Phiêu, Hải Mã xuất bản, Texas (HK), 2003.
Những Ngày Qua của Bác sĩ Trần Nguơn Phiêu, Hải Mã xuất bản, Texas (HK), 2005
Cách mạng tháng 8 hay VM cướp chính quyền ở Nam kỳ về chính trị và quân sự của Hứa Hoành.
Mặt trái của cuộc kháng chiến miền tây Nam bộ của Hứa Hoành.
Hồi ký 1940-1945 của Trần Văn Giàu phổ biến trên mạng Viet-Studies (mục Kinh tế)
Việt Nam Thắng Và Bại của Lê Quế Lâm, Ngọc Thu xuất bản, Sydney, 1993.

Bán Chánh thức

Vài hàng cho biểu tình Chúa Nhựt 25 tháng 6:


Bán Chánh thức! Từ ngữ rất thông dụng của những năm ‘80 của Việt Nam Xã hội chủ nghĩa hiện nay tưởng chừng đã đi vào quá khứ và hầu như đã không còn được sử dụng! Từ ngữ nầy chỉ được xài cho phong trào Vượt Biên, lúc bấy giờ…Chúng ta lầm to! Từ ngữ nầy, tuy không còn sử dụng nữa, nhưng nguyên tắc “bán chánh thức” nầy vẫn được áp dụng dài dài. Đó là một nghịch lý nữa của Việt Nam, một thế giới đầy nghịch lý!.

Sau ngày Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử, dân chúng Miền Nam, tuy có vài kẻ “hồ hởi, tay mang băng đỏ, cẳng xỏ dép râu,....” lùng xét, vơ vét, hò hét, nạt nộ xóm làng, nhưng số đông dân chúng Miền Nam Việt Nam, thuộc kẻ bại trận - mặc dù sự thật là chỉ có chế độ Việt Nam Cộng Hòa mới bại trận thôi! - thế nhưng chẳng những tất cả nhơn viên chế độ bại trận quân cán chánh đã đành, mà cả thường dân, dân sự, vợ con, bà con liên hệ, quen biết, tam tộc, tứ đời, cũng phải cuối đầu, ngậm miệng, im lặng, nín thở, xếp hàng,… và hình phạt loại bỏ, đi đày, đuổi nhà, sung công, đuổi khỏi thành phố …đang treo lơ lững và sẳn sàng đổ sụp lên đầu của toàn thể dân chúng Miền Nam.

Và cả dân Miền Nam cùng nhau, đua nhau, chạy: và từ ngữ “chạy” cũng ra đời từ đấy: thoạt đầu chạy gạo, sau đó chạy đủ thứ:…chạy…kiếm cơm, chạy bán chợ trời, chạy săn tin, chạy mua giấy phép, chạy “đăng ký”, và cuối cùng chạy … tìm đường Zọt.

Vượt biên, hay đúng hơn vượt biển, vì Việt Nam có một bờ biển rất dài. Bờ biển là mạng sống của con người Việt Nam. Biển cho ta cá, cho ta mắm, và cho ta nước mắm! Các nhà bác học nói dân tộc Việt Nam là dân tộc lúa nước, vì dân Việt Nam ăn cơm ăn gạo, văn minh Việt Nam là Văn Minh Lúa nước, tôi đây xin bổ túc là dân tộc Việt Nam là dân tộc Nước Mắm. Tôi đây không có Nước Mắm là tôi khổ lắm! tôi sẽ chết, mặc dù gia đình tui đây là gia đình tây, vợ tui tuy là đầm, con tui tuy là tây, nhưng tụi nó hổng có nước mắm là tụi nó cũng rầu lắm…. Trong nhà có thể hết gạo, hết thịt cá, chịu được, hổng sao, chỉ cần luộc spaghetti, thêm tý beurre và vài giọt Nước mắm, là cả nhà xong bữa cơm! Chứ có cơm có cá có thịt mà ăn với muối nó lạt lẽo làm sao đó!

Việt Nam ăn cơm thường trực, sáng trưa chiều tối, “ăn cơm” biến thành từ chung của dân Á đông, Quảng đông nói “xực phàn”, Quan thoại nói “Xứ phán”, Thái lan nói “Kinh khẩu”…tóm lại “ăn cơm” là từ chung để diễn tả chữ “Ăn”. Âu châu họ chỉ dùng động từ “Ăn” đơn thuần thôi! Pháp: Manger ”On va manger”, ”Allons manger” Anh Mỹ ”To Eat”, “Is time to Eat”.

Và nhờ Biển, ta Vượt Biển đi tìm Tự Do! Ôi nhớ mãi những năm tháng đổi đời ấy! Trong bạn bè hàng xóm, đi đâu cũng nghe bàn tán Vượt Biên. Mỗi ngày được nghe đây anh bạn, nọ người bà con… Dzọt, phong trào Dzọt, không khí dzọt.. “cái cột đèn, đi được, cũng đi!”. Và cũng trong những năm tháng ấy đẻ thêm cái từ ngữ “Vượt Biển Bán chánh thức”. Sau nầy, khi tôi bị trục xuất sang Pháp tỵ nạn, tôi thường rất mắc công cắt nghĩa cho các ông bạn tây về cái “mất dạy của chế độ Vượt Biển Bán chánh thức”. Cắt nghĩa hoài, cắt nghĩa hoải tây vẫn hổng hiểu. Vượt Biển có tội hay không có tội? Tây nó cartésien, thực tế, trắng hay đen, hổng thể bán trắng, bán đen. Cái thứ demi, panaché, nửa lade, nửa nước ngọt chỉ có thức uống thôi. Thế mà Việt Nam Cộng sản đẻ ra cái Vượt Biên Bán Chánh Thức. Nghĩa là vừa có cho phép vừa có bắt tội.



Bán Chánh thức:


Chế độ Bán chánh thức được Nhà nước Cộng sản Việt Nam nêu cao, sử dụng triệt để, và nhơn dân Việt Nam được hưởng cũng triệt để. Sau mấy năm lầm than, do Đảng Cộng sản sai lầm, nên nhơn dân Việt Nam than! Đảng Cộng sản đẻ ra một chánh sách kinh tế mới gọi là “Đổi mới”. Đổi mới cũng Bán Chánh thức! Nầy nhé cái tên gọi nền Kinh tế của Việt Nam ngày nay: Việt Nam theo nền “Kinh tế Thị trường” (nghĩa là Tư bản) thế nhưng “theo định hướng Xã hội chủ nghĩa” (Bán chánh thức vì do Xã hội chủ nghĩa - nghĩa là Nhà nước Cộng sản định hướng – nghĩa là kiểm soát). Vậy thì không Bán Chánh Thức là gì? Bán Chánh thức là Tự do – buôn bán, vượt biên, làm ăn, thậm chí buôn lậu, tham nhũng Có (nhiều khi không Có) Giấy PHÉP – nghĩa là có kiểm soát - có giấy phép – có khai báo. Cái thời của Vượt biên, là Chạy, là móc nối với Công An để mua Tàu, đóng tàu, mua máy, mua dầu, tổ chức thâu tiền hành khách vượt biên, chung tiền cho Công An, mua bãi vân vân … nhưng ra biển vẫn bị bắt (vì bán chánh thức - nửa Công An cho phép, nửa Công An kia cấm, vì vượt biên vẫn có tội là phản quốc). Sau nầy tất cả từ chánh trị đến kinh tế đều là chánh sách nửa vời cả. Bán chánh thức.

Có Quốc hội nhưng khi bầu bán thì đều phải bầu những người do Đảng Cộng sản đề cử. Chánh thức thì Đảng độc tài đề cử người, nhưng dân chủ vì phải do dân bầu cử, vậy là bán chánh thức! Hay nói ngược lại vì Dân bầu, nên đấy là nền dân chủ chánh thức nhưng phải bầu những người do Đảng độc tài chỉ định! Bán chánh thức! vì nửa độc tài nửa dân chủ!

Tự do ngôn luận: Việt Nam có cả trăm tờ báo, tỉnh nào cũng có báo, cơ quan nào cũng có báo, chánh thức tự do ngôn luận, nhưng báo phải đi “lề phải của Đảng chỉ đạo”. Tất cả đều bán chánh thức!

Các cô gái muốn đi lấy chồng ngoại, Đại hàn, Đài loan, Tàu Cộng đều phải qua những con buôn, theo nguyên tắc thì cấm nhưng, vẫn được tổ chức, vẫn đi được. Các nhơn công muốn đi xuất ngoại lao động phải qua cơ quan Nhà nước, vay Ngân hàng Nhà nước, nhưng đi qua Mạc Tư Khoa bắt đầu xài giấy thông hành giả do các Sứ quán Việt Nam Cộng sản cấp, và đi lậu qua các biên giới… Giả mà thiệt! Thiệt mà giả! Bán chánh thức!

Và như vậy, các độc giả cứ tiếp tục tìm những thí dụ, từ Y tế nhà thương, miễn phí nhưng phải mua thuốc và đóng tiền bác sĩ. Giáo dục, theo nguyên tắc miễn phí nhưng phải đóng tiền cho.. thầy cô, sách vỡ, … Tự do đi lại, nhưng phải trình diện công an phường xóm, xin giấy phép di chuyển, tự do xin chiếu khán nhưng phải khai báo lý lịch, tên tuổi cha mẹ…vân vân…



2/ Biểu tình Bán chánh thức:


Từ ba tuần nay, mỗi Chúa nhựt nhơn dân trong nước đều tổ chức xuống đường biểu tình phản đối Tàu Cộng xâm phạm đất nước chủ quyền trên đất, trên biển Việt Nam. Những khẩu hiệu được hô vang, “Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam” “Đả đảo Trung Cộng đã xâm phạm lãnh thổ Việt Nam” …và nhiều hơn nữa, nhưng quanh quẩn cũng chỉ tố cáo Tàu Cộng xâm phạm chủ quyền Việt Nam, trên biển thì ngang ngược chiếm Hoàng Sa, Trường Sa.. ngang ngược cấm ngư dân Việt Nam ra khơi đánh cá, ngang ngược cắt cáp hai chiếc tàu đang làm việc khảo sát khoa học của Việt nam… Đã được ba Chúa nhựt, 05,12,19 rồi, và sửa soạn sẽ lần nữa vào Chúa nhựt tới. Bên cạnh những bức hình tuần hành biểu tình có trật tự, với những trẻ em, cụ già để nói lên khí thế của toàn thể người dân chống Trung Cộng, có những bức hình Công An chìm bắt người, lôi người đi nhốt. Biểu tình cho phép hay tự phát? nếu cho phép sao bắt người? nếu tự phát sao có hàng rao ngăn và công an cảnh sát đứng nghe người dân ca bài “con cá sống vì nước”? Nghịch lý? mâu thuẫn? Không, Bán Chánh thức đó!

Nhưng, nếu người dân thực sự yêu nước, thực sự muốn thay đổi, thực sự muốn làm một cuộc cách mạng, phải thêm những khẩu hiệu hỏi giấy trách nhiệm cuộc khủng hoảng nầy. Tại sao Tàu không dám ăn hiếp Phi Luật Tân, là một nước nhỏ cũng như Việt Nam? Tại sao Tàu không ăn hiếp Mãlai, Indônêsia, hay cả Singapore mà chỉ Việt Nam? Ai là kẻ mở đường cho Tàu vào Việt Nam. Thuở tình yêu như cá với nước, núi liền núi sông liền sông, Hànội Bắckinh MạcTưKhoa, Tàu chiếm Hoàng Sa (1974) dĩ nhiên đánh nhau với Sàigòn nhưng có giao lại cho Hànội quản trị đâu? Thuở bất bình, giận nhau, vì Hà nội chơi với Nga, Tàu đánh chiếm Trường Sa (1988) – nghĩa là thời bạn như thời không bạn Tàu vẫn ăn hiếp Hànội dài dài. Tội ấy là do cái thơ của Phạm Văn Đồng đồng ý và ủng hộ cái tuyên bố quan điểm hải phận của anh Ba Tàu.

Vì vậy, không thể tín nhiệm ở cái đường lối chánh sách quản trị kinh tế - chánh trị bán chánh thức nói chung, và đường lối chánh sách ngoại giao nửa vời bán chánh thức đặc biệt đối với Trung Cộng của Đảng Cộng sản Việt Nam, nói riêng, vừa cho phép dân chúng xuống đường đả đảo Tàu vừa cùng cho Hải quân Việt Nam đi tuần chung với Hải quân Tàu (tin Việt Tấn Xã ngày hôm kia). Cái loại vừa chưởi nhau vừa nghéo tay? cái cảnh tréo cẳng ngổng nầy phải được tố cáo ra dư luận quốc tế.

Toàn thể người dân Việt Nam, đặc biệt nhơn dân trong nước khi đi tuần hành biểu tình phải hô to “Đả đảo đòi Đảng Cộng sản Việt Nam phải tức khắc từ chức trao quyền ngay cho Nhơn dân.”

Phải biết sử dụng cái chánh sách Bán chánh thức để chuyển mình và làm Cách mạng. Thừa lúc biểu tình Bán chánh thức chống Tàu, chuyển sang biểu tình lật đổ chánh thể Cộng sản, thành lập ngay một chánh phủ Dân chủ để không còn vướng víu nợ nần 16 chữ vàng giữa hai Đảng, không còn vướng víu nợ nần với lá thơ của Phạm Văn Đồng.

“Đảng Cộng sản Việt Nam Hãy Cút đi!”

Hãy biến cuộc Biểu tình Bán chánh thức thành cuộc biểu tình Chánh thức.

Để sửa soạn cuộc biểu tình lần thứ tư

22 - 6 - 2011

Phan Văn Song

KỶ NIỆM 51 NĂM THÀNH LẬP BINH CHỦNG BIỆT ĐỘNG QUÂN

(Theo lời kể của Tư Tưởng Ủng Hộ Đen Đỏ)

Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân.

Vào khoảng năm 65, mỗi khi đọc báo, tôi thường được đọc tin chiến thắng diệt Cộng của những đơn vị Biệt Động Quân, như Tiểu Đoàn 42 Biệt Động biệt danh là Cọp Ba Đầu Rằn, với người hùng Thiếu Tá Lưu Trọng Kiệt vàTiểu Đoàn 44 Cọp Ba Móng do Thiếu Tá Lê Văn Dần làm Tiểu Đoàn Trưởng . . . Những hình ảnh oai hùng của các chiến sĩ Biệt Động Quân với huy hiệu con Beo đen với 13 cái răng nhọn hoắt, làm tôi vừa cảm thấy sợ, lại vừa cảm thấy, thích thú, hãnh diện lây với những người lính Mũ Nâu này.

Trận chiến Mậu Thân 1968 bùng nổ, nghe nói có những đơn vị Biệt Động Quân đang giao tranh với Việt cộng ở Ngà Ba Hàng Xanh, tôi đã làm gan đi xe đạp tới tận nơi để xem tận mắt nhũng người hùng của tôi đánh trận ra sao?

Dân với lính đứng chen lẫn vào nhau, mỗi khi có tiếng súng nổ, dân chạy dạt về phía đằng sau, đến khi ngưng tiếng súng, dân chúng lại túa ra xem tiếp. Tôi kiếm một chỗ tạm gọi là an toàn, đưa mắt quan sát trận chiến.

Linh Cộng Hòa đóng dọc theo xa lộ Biên Hòa, phía Thị Nghè, đang tiến về phía Cầu Sơn là nơi bọn Việt cộng đang tử thủ. Bọn này đóng chốt trên một tòa nhà hai tầng đang bắn xối xả về phía Biệt Động Quân. Từ một địa điểm nào đó ở phía Thị Nghe, tôi tiếng đạn đại liên nổ ròn thật lớn, áp đảo hẳn tiếng súng của bọn Việt cộng, rồi thình lình hai chiến sĩ Biệt Động Quân còn rất trẻ, trẻ lắm (khoảng chừng mười bẩy mười tám gì đó thôi) từ lề đường chạy ào qua phía Cầu Sơn. Khi hai người lính chạy tới giữa đường rồi, bọn Việt cộng mới thấy họ, nên đã chĩa súng nhắm vào hai người lính này mà bắn thật rát. Đạn nổ cầy xuống mặt đường nhựa, vang lên những tiếng “Chéo . . . Chéo”

Thật ghê rợn.

Hai người lính nhanh như cắt nằm lăn xuống núp theo lề của trụ đèn ở giữa đường đưa súng M16 hướng về phía có tiếng nổ mà bắn. Độ cao của lề đường quá thấp, không thể là chỗ nấp an toàn được, những người dân . . . đi xem lính đánh trận như tôi, ai cũng lo cho mạng sống của hai người lính trẻ, đồng thanh la lên:

“Mấy anh coi chừng đó. Tụi nó bắn từ phía cửa sổ đó . . . Bắn lên đi, ngay cửa sổ đó . . . Trúng rồi đó . . . Bắn nữa đi mấy anh ơi . . . “

Bỗng tôi nghe một tiếng la thật lớn ở phía ngã tư Hàng Xanh:

“Xung Phong!”

Tức thì, một loạt những tiếng hô tiếp theo:

“Biệt Động Sát . . . Sát . . . “

Xung Phong . . . Biệt Động Quân . . . Sát.

Ba người lính Biệt Động Quân nữa ào lên, miệng hô “SÁT . . SÁT” vừa bắn vể phía bọn Việt cộng ở cửa sổ trên lầu vừa chạy tới thật nhanh.

Ba chiếc nón sắt nữa vọt chạy tiếp theo. Bọn Việt cộng vội chuyển hướng bắn về phía đám lính đang xung phong. Hai người lính đầu tiên được ra ngoài vòng tác xạ, vội vàng đứng dậy thật nhanh mà phóng về phía trước, mỗi người núp vào một cái cột đèn tiếp tục bắn che cho đồng đội.

Từ phía đám linh xung phong, có tiếng nổ nhỏ

”Phụp”

Tiếp theo một tiếng nổ lớn:

“Bùng . . . “

Ngay căn nhà lầu nơi bọn Việt cộng đang ẩn nấp mà bắn ra.

Những người chung quanh tôi reo mừng hớn hở:

“Biệt Động Quân bắn M79 đó . . . Trúng rồi . . . Trúng căn nhà lầu rồi . . . Đám Việt cộng chết hết ráo cả đám rồi . . . Hay quá . . . Biệt Động Quân đánh hay quá. . . “

Lính Biệt Động từ phía Thị Nghè ào ạt tấn công về phía Cầu Sơn, tiếng súng lớn nhỏ vang lên tứ phía, chỗ nấp của tôi không còn an toàn nữa. Có tiếng của một người lính vang lên:

“Đồng bào về nhà hết đi, nguy hiểm lắm. Lính mình bắt đầu tấn công rồi. Tụi Việt cộng bắn trả dữ lắm đó, đồng bào nên đi về đi, coi chừng bị trúng đạn Việt cộng đó . . .

Về đi.“

Tôi không dám ở lại nữa, lấy xe đạp chạy về, trong lòng rất vui vì đã được nhìn thấy tận mắt những người lính Biệt Động Quân đánh trận, và họ đánh thật oai hùng, dũng mãnh, hay hơn cả những trận đánh trong phim Đại chiến Thứ Hai của Mỹ mà tôi đã được xem trước đây. Vừa đạp xe tôi vừa thầm nghĩ:

“Mai mốt đi lính, mình cũng . . . Đăng Lính Biệt Động, đánh Việt cộng cho thật hùng, giống như những người lính Biệt Động Quân đánh trận ở Hàng Xanh vậy! ”

Sau khi tốt nghiệp Đại Học, tôi nhập trường Thủ Đức để học khóa 1/72.

Khi chọn đơn vị, tôi đã . . . Đăng Biệt Động thật!

Biệt Động Quân vào năm 72, dươi quyền chỉ huy cuả Chuẩn Tướng Đỗ Kế Giai. Tướng Giai gốc lính Nhẩy Dù, nên đã áp dụng chiến thuật huấn luyện Sĩ Quan mà lính Mũ Đỏ đã và đang áp dụng: Sĩ Quan mới ra trường phải được gởi đi thực tập chỉ huy tại chiến trường, với những đơn vị đang hành quân, trước khi chính thức nhận đơn vị.

Đơn vị đàu tiên mà tôi được gởi tới thực tập là Tiểu đoàn 42 BĐQ “Cọp Ba Đầu Rằn”, lúc đó đang hành quân tại vùng Takeo, Campuchia. Đây là một trong những tiểu Đoàn nổi tiếng cuả binh chủng Biệt Động Quân vùng IV.

Vì Tiểu đoàn đang di chuyển, nên khi vừa được trực thăng đổ xuống điểm hẹn là đám tân binh chúng tôi được đưa ngay tới những trung đội đã định sẵn để tiếp tục cuộc hành quân.

Nhiệm vụ chính cuả tôi chỉ là đi theo người Trung đội trưởng thực sự, nghe anh ta liên lạc truyền tin với cấp trên và cách thức anh điều động lính khi di chuyển, khi giao tranh với địch . . . và quan trọng nhất là đợi khi nào anh ta rảnh, sẽ nhờ anh truyền cho một vài ngón nghề Biệt Động. Học hành quân trên lý thuyết thì đã học xong rồi, nhưng khi ra trận tuyến thì mọi việc sẽ khác hẳn: Thực tế sẽ khác xa với lý thuyết nhiều lắm, và thực tế này chỉ học được ở ngay trên chiến trận mà thôi. Nhờ cách thức thực tập này mà người Sĩ Quan sau này khi nhận đơn vị, ra trận lần đàu tiên sẽ không có cảm giác bỡ ngỡ hoặc nói thẳng ra là sợ sệt.

Nam, người Trung đội trưởng mà tôi được hân hạnh thực tập với, có dáng người cao ráo, tướng thư sinh, chứ không dữ dằn như những ông Biệt Động mà tôi đã gặp. Nam nói ngắn gọn, cho tôi biết quân số của trung đội, điểm đứng hiện tại và nhiệm vụ cuả trung đội.

Trong khi nói, anh ta luôn luôn di chuyển chứ không đứng một chỗ quá lâu (sau đó, anh bật mí cho tôi biết: Đứng lâu một chỗ, địch sẽ nhắm bắn sẻ, chết lãnh nhách). Người lính mang máy truyền tin lúc nào ở bên cạnh Nam nhưng lúc thì khuất mình sau một cây cao, lúc thì ngồi sau một bờ bụi để che dấu cái cần ăng ten cuả máy truyền tin.

Sau bữa cơm, trời xụp tối rất mau. Ai lo phận nấy làm hầm hố, lớp ngủ lớp canh gác. Tôi xin được gác đêm để hoà mình với anh em.

Hai giờ sáng mới tới phiên gác, tôi cuốn poncho trằn trọc nằm lăn qua lăn lại không ngủ được. Phần vì đường xa mới tới, phần vì đây là lần đàu tiên ra trận, nên bị căng thẳng thần kinh, không biết tình hình ra sao? Lỡ ngủ quên, anh em di chuyển đi nơi khác, không nhớ tới mình, thì biết đường đâu mà về với mẹ?

Vừa chợp mắt được một lúc đã có ai bấm mạnh vào đùi tôi mà kêu dậy đi gác, tôi vùng ngồi dậy, một tay quơ cái nón sắt đội lên đầu, tay kia xách khẩu M16 lặng lẽ theo người trưởng ca gác đi ra chòi canh.

Chòi gác vòng ngoài thì ở trên cao, nhưng chòi gác vòng trong thì sát mặt đất để nghe tiếng động chung quanh và dễ quan sát. Trên đường đi, người trưởng ca gác ra dấu bằng đèn pin mầu đỏ (cho ban đêm) mỗi khi đi ngang qua một trạm gác mà tôi nhìn kỹ cũng chẳng thấy người lính gác đứng ở chỗ nào? Đi một khúc nữa, tôi đã được đưa đến nơi gác, đó là một cái hố mới đào, gần cây chà là (chỗ nào cũng có). Người lính gác từ dưới hố nhẩy lên thật gọn gàng, dúi vào tay tôi cái đèn pin rồi cùng với người trưởng ca gác biến vào bóng đên thật lẹ làng. Tôi một mình chới với dưới hố sâu qua khỏi đầu gối, rang cúi thấp người, chăm chú nhìn chung quanh, tập trung tinh thần, để vừa nghe, vừa nhìn vào bất cứ những thứ gì có vẻ khả nghi.

Nhưng với thế ngồi không ra ngồi, đứng không ra đứng thật là mỏi mệt, lại không được cử động, nên cơn buồn ngủ kéo đến thật mau. Tôi cố sức quay người qua lại để tránh cơn buồn ngủ và cũng để quan sát tứ phía. Trời Campuchia tối om tối thít, lâu lâu lại có những tiếng động dị kỳ, nhất là tiếng chim ăn đêm chợt bay qua kên lên eng éc như tiếng người gọi nhau, teo lắm.

Đang chăm chú quan sát, bỗng nhiên Tôi nghe một cái

“SẠT!”

Ở ngay phía bên trái.

Tim tôi coi như nhẩy ra khỏi lồng ngực chạy đi đâu mất tiêu!

Tôi ráng dằn cơn lạng quạng, đứng thẳng người lên, quay súng về hướng phát ra tiếng động sưả soạn bắn. Nhưng chưa kịp bắn thì tôi đã bị húc văng ra khỏi hố, nằm bò càng trên mặt đất. Hồn vía tôi thật sự bay lên mây rồi. Tôi thoáng thấy một bóng đen phóng nhanh vào bụi rậm kế bên, tôi kê súng bắn một phát về phía bóng đen rồi lồm cồm ngồi dậy lấy đèn pin chớp ba cái thật nhanh để báo động, rồi thủ thế tính bắn tiếp. Ngay lúc đó có nhiều tiếng chân chạy huỳnh huỵch và một tiếng la thật nhỏ:

“Bắt được rồi, bắt được rồi, đừng bắn nữa”.

Trong đầu óc tôi nghĩ ngay rằng, chắc đã có một tên tiền đạo nào đó cuả Việt Cộng đi dò đường, nhưng xui xẻo cho nó là nhằm ngay ổ kiến lửa mà mò tới nên đã bị tôi bắn và bị bắt ngay tại chỗ. Liền ngay sau đó, Nam cùng mấy người lính đã chạy lại chỗ tôi gác, hỏi chuyện gì đã xấy ra? Tôi chỉ về hướng có tiếng động, giải thích:

“Tôi đang gác, đã bị húc văng ra khỏi hố và thấy có bóng nguời hay cái gì đó chạy vọt vào hướng đó, nên đã báo hiệu và bắn theo.”

Vừa lúc mấy người lính đã chạy tới, trình diện tên . . . “Dọ thám”.

Hóa ra đó là một chú heo rừng với 4 chân bị trói ké và mõm cũng bị cột chặt lại. Một người lính giải thích với Nam:

Trình Thiếu úy, hổng có thằng Việt cộng nào đi thám sát gì hết á, chỉ có con heo này thôi hà. Hồi chiều, khi dừng quân, tụi tui thấy nó chạy về phía này, nhunng nó lủi còn hơn Việt Cộng nữa, tụi tui kiếm hổng ra. Tới lúc từ trong bụi phóng ra, đụng ông Thiếu Úy này té nhào, bị ổng để cho một viên ngay giò té bò càng, nên tụi tui mới bắt được nó đó. Ngày mai mình có màn lai rai rồi đó, Thiếu úy ơi!

Nam thở phào, nhìn tôi cười rồi ra lệnh cho mấy người lính trở về chỗ , để tôi tiếp tục gác. Tôi hồn viá lên mây, thiếu điều xón ra quần.

Hết phiên gác, Tôi trở về hầm lộ thiên nhưng thao thức không ngủ được. Vừa chợp mắt là Nam đã đánh thức chàng dậy để sưả soạn cho màn tấn công rạng đông. Anh ta chia với tôi một ít cơm gạo xấy đã nấu bữa qua cùng một con khô nướng. Vừa ăn anh ta vừa cho biết:

“Trung đội mình sẽ đi đầu, ra đến tuyến xuất phát thì cả Đại đội sẽ dàn hàng ngang tiến tới. Đích là một ngôi chùa Miên mà theo tin cuả Thám Báo thì tụi nó có cả súng cối nữa, đang cố thủ ở trong đó”.

Ngay lúc đó, từ máy truyền tin tôi nghe rõ:

“Tâm Đan . . . Tâm Đan, đây Hiền Hòa gọi, nghe rõ trả lời?”

Người lính truyền tin đưa ông nghe cho Nam, anh trả lời ngay:

“Tâm Đan nghe rõ 4 trên 5, đã sửa soạn xong, chờ lệnh”

Lắng nghe một lúc, Nam đưa ống nghe lại cho người lính và nói với tôi:

“Đại úy Đại Đội Trưởng ra lệnh xuất phát”.

Tôi sửa lại bao đạn, bình nước, bước theo Tâm Đan.

Campuchia là xứ đòng bằng, lại thêm đoàn quân đang ở khu ruộng lúa nên tầm nhìn không bị giới hạn gì cả. Trời tuy chưa rạng đông nhưng cũng cho thấy mờ mờ bóng những người lính chạy lúp xúp. Lính di chuyển từng nhóm 3 người theo thế chân vạc: Một người chạy trước, hai người còn lại chĩa súng ra hai bên canh chừng. Người số 1 chạy đến chỗ an toàn thì ngồi xuống canh chừng để người thứ hai chạy tới phía trước, làm y hệt như người thứ nhất và cuối cùng là ngườI thứ 3. Cả Trung Đội cứ như thế mà tiến tới rất nhanh. Tới tuyến xuất phát là bờ của một cái đầm sen, tôi thấy có 3 con cua nước (Thiết vận xa M113 chạy trên mặt nước được) đã đậu sẵn. Lần đầu tiên xung trận, miệng tôi khô cong, hai bàn tay ướt đẫm mồ hôi. Một tín hiệu nào đó trong máy truyền tin cho Tâm Đan, thế là tất cả Đại Đội dàn hàng ngang tiến tới mục tiêu là một ngôi chùa ở giữa đầm sen. Mấy con cua nước rú ga chạy trước, tiếng máy nổ rất lớn để lên tinh thần lính nhà và áp đảo tinh thần lính nón cối. Nước ngập tới bụng lạnh thấu xương, Tôi lết hai chân trên lớp bùn lầy , hai tay đưa cao khẩu súng khỏi mặt nước, mắt nhìn tứ phía. Những người lính di chuyển nhanh quá, tôi thiếu điều muốn chạy mà vẫn không đi kịp, đầu óc tôi đặc kẹo, không suy nghĩ được bất cứ điều gì. Khoảng cách từ bờ hồ tới chùa khoảng chừng 500m thôi, thế mà đi mãi vẫn chưa được một phần đường.

Bất chợt có tiếng súng từ trong chùa bắn ra, Tâm Đan phất tay ra hiệu cho con cái tiến nhanh hơn nữa. Tiếng súng từ trong bắt đàu ròn rã, bắn xuống mặt nước vang lên những tiếng

“Chéo . . . Chéo . . . Bụp . . . Bụp”

Thật là dễ sợ.

Nhưng những người lính BĐQ vẫn lầm lì tiến tơí mà không bắn trả gì cả. Gần tới chùa, ba chiếc Thiết Văn Xa trước mặt đồng loạt khai hỏa những khầu đại liên 60. Người Trung đội trưởng đi cạnh tôi lầm lì rút khẩu súng Colt vung lên cao, đưa mắt nhìn toàn thể trung đội đễ gây sự chú ý. Khi tất cả đã sẵn sàng, anh vùng chạy lên trước, mịêng hô lớn:

“Xung Phong!”

Tất cả cùng đáp lời:

“Xung Phong . . . Biệt Động Quân Sát . . . Sát”

Vừa chạy tới phía trước vừa bắn xối xả vào ngôi chùa.

Có tiếng gío rít lên rồi

BÙNG

Một viên đạn 80 của đch bắn ra, cách chiếc Thiết vận xa khoảng chừng ba sải tay. Sức công phá cuả đu đạn làm cho con cua nước chao đảo muốn lật và những ngừoi lính chung quanh té chum nhụm vào nhau, có người không đứng lên được, người bên cạnh kéo anh ta theo. Chiếc thiết xa lấy lại thăng bằng, mở nắp ra dùng súng cối 60 ly bắn ngay vào vị trí của khẩu súng 80 vừa nhận diện. Tiếng súng trong chùa bắn ra thưa dần, lính Biệt Động Quân đã làm chủ tình hình, tràn vào ngôi chùa lục xoát.

Trung đội của Nam được lệnh tiếp tục tiến về phỉa trước. Đây chỉ là một cái chốt của bọn Việt cộng mà thôi, còn rất nhiều chốt khác phải nhổ.

Đi qua những cánh đồng lúa chin vàng không có người gặt, mùi lúa chin quyện theo gió thật là thơm. Phải chi đừng có chiến tranh, những hạt lúa này nuôi sống biết bao nhiêu nguời.

Tới vùng đất hoang, hoa cỏ vàng rực cả một cánh đồng, đẹp thật là đẹp. Nhìn những cánh hoa nở giữa mùa chinh chiến, tâm hồn người lính Biệt Động cũng chùng xuống mà quên cảnh chiến tranh để ngắm những cụm hoa vàng rực rỡ. Tôi cầm ngang khẩu súng đứng yên lặng ngắm hoa, chạnh nhớ tới một bài hát:

“Ngày xưa, có gã từ quan,

Lên non tìm động hoa vàng ngủ yên . . .”

Gã nào từ quan mà tìm lên động hoa vàng này, thì . . . được ngủ yên là cái chắc.

Một ngày nào thanh bình, tôi sẽ trở lại đây để ngắm cái Động Hoa Vàng này cho đã mắt.

Tíếng thiết vận xa rú lên, xích sắt chạy cán lên những đóa hoa vàng đưa tôi trở lại thực tế. Tôi và đám lính cùng nhẩy lên nóc chiếc thiết xa để di chuyển cho nhanh . . .

Đêm tối, cả bọn lại đóng quân giữa một vùng đất bao la. Ăn uống xong, lại một màn gác đêm nữa.

Nửa đêm, chợt có những tiếng chim rời tổ kêu lên thật thảm thiết, ghê rợn. Nam nhìn tôi, nói nhỏ:

“Chim ban đêm thường là ngủ, chắc là có ai đó tới làm rộn, tụi nó mới bỏ tổ mà bay như vậy.”

Nam ra dấu cho tôi cùng chạy lại vị trí của tiểu đội gác tuyến đầu. Người Tiểu đội trưởng chỉ tay về phía trước báo cáo:

“Có gì lạ phía Tây, gần cây chà là đó, em cho người tới . . . coi, đuợc không Thiếu úy?”

Nam chưa kịp trả lời thì có một giọng nói chợt phát ra kế bên:

“Em xung phong đi thám thính, Thiếu úy.”

Trong bóng đêm, tôi chỉ nhì thấy một người lính thám sát với ánh mắt sáng ngời và cử chỉ thật lanh lẹn, đang nhỏen miệng cười, khoe hàm răng trắng bóc.

Tôi cũng nổi máu giang hồ, nói với Nam:

“Cho tôi đi thám sát với.”

Nam trợn mắt nhìn tôi, kê miệng vào tai tôi nói thật nhỏ cho một mình tôi nghe:

“Ông theo tôi học cách chỉ huy, chứ đâu có học thám sát đâu. Lỡ ông . . . tiêu táng thoòng, tôi làm sao ăn nói với Tiểu đoàn? Bỏ đi Tám!”

Tôi cũng kê vào tai anh, nói nhỏ:

“Nếu số tôi chết, ở chỗ nào cũng chết. Tôi làm được mà.”

Nam nhìn người Tiểu đội trưởng, nhìn người lính thám sát, rồi quay lại nhìn tôi:

“Muốn đi . . . coi cho biết, thì cứ thử thời vận đi.

Nhớ . . . rửa cằng cho sạch trước khi đi. Lỡ có . . . lên bàn thờ, tôi không cần tắm lại cho ông.

Tụi nói có hai đứa, ông là ba đó, đi đi.”

Tôi nhìn quanh, chỉ có tôi và người lính thám sát, đâu có ai nữa mà Nam nói là “Ba”?

Nữ Biệt Động Quân.

Người lính chạy trước, tìm đỉểm núp, quỳ gối nhắm về phía cây chà là. Tôi lom khom chạy qua mặt anh ta, dừng lại, cũng tìm vị trí để nhắm về phía trước. nhưng không thấy người lính chạy lên. Tôi ngạc nhiên, chưa kịp quay về phía sau tìm hiểu thì chợt thấy một bóng đen ngay sau lưng tôi tự bao giờ mà tôi không hề biết, phóng tới phía trước thật gọn gàng. Bóng đen này nhỏ nhắn, không cầm súng, chỉ chạy tới mà thôi. Người lính từ phía sau tôi phóng tới cùng một lượt với bóng đen tôi vừa thấy, rồi cùng nhau nằm rạt xuống đất, chong súng về phỉa trước, giữ an toàn cho tôi phóng lên.

Thì ra chúng tôi có ba người thật.

Kỳ sau tiếp.

Video BIỆT ĐỘNG QUÂN QLVNCH

NGUYỄN KHẮP NƠI

Bài Xem Nhiều