We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 6 July 2011

Cộng Đồng Paris Lời Kêu Gọi Xuống Đường


QuocKyVNCH

CHONGTAU_DIETCONG

Cộng Đồng: Lời Kêu Gọi Xuống Đường

Khẩn thiết kêu gọi và kính mời Quý Vị Lãnh Đạo Tinh Thần các Tôn Giáo, Đảng Phái, Tổ Chức, Hội Đoàn, Người Việt Quốc Gia tại Paris và vùng phụ cận vui lòng đến tham dự buổi xuống đường biểu tình dưới 2 hình thức :

Biểu tình tại chổ

CHÚ NHỰT 10-07-2011 vào lúc 15giờ30 đến 18giờ30

trước la Flamme de la Liberté

Place de l'Alma

75008 Paris - Métro : Alma Marceau hay Pont de l'Alma (RER C)

Biểu tình di động : tuần hành xe đạp đi qua những thắng cảnh Paris

CHÚ NHỰT 10-07-2011 vào lúc 13g30

Place Maubert Mutualité (Métro Maubert Mutualité)

đạp xe tới Place de l'Alma lúc 17g00 phối hợp với anh chị em đứng biểu tình

Chúng ta cùng nhau lên án hành động bán nước hại dân của bè lũ việt gian CSVN đã dâng hiến lãnh thổ và lãnh hải của tổ tiên cho giặc Tàu cộng.

- Xin kính mời Quý vị mỗi ngưòi mang theo lá cờ vàng thân yêu.

- Xin vận động và phổ biến rộng rãi đến gia đình, bạn bè cùng tham dự.

Ban Tổ Chức xin chân thành cám ơn Quý vị


http://www.lytuongnguoiviet.com

VÔ KẾ KHẢ THI !


(Bài số 1)

Tình trạng hiện nay Việt Nam suy đồi về đạo đức, về văn hóa và đang đối diện với nguy cơ mất nước vào tay Trung Cộng là hậu quả tất yếu do Đảng Cộng Sản Việt Nam gây nên. Cộng Sản độc quyền cai trị một nửa Đất Nước dưới cái tên Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa từ năm 1954 và toàn cõi Đất Nước dưới cái tên Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam từ năm 1975 cho đến nay. Trách nhiệm này không thuộc về Đảng Cộng Sản thì thuộc về tay ai?
Ai là nhà lãnh đạo du nhập chủ nghĩa cộng sản vào Đất Nước? Ai là người tạo ra bộ máy độc tài toàn trị bằng khủng bố, bằng hạ thấp phẩm giá con người? Ai là người cha đẻ tập đoàn cầm quyền hiện nay? Nhất định người đó là ông Hồ Chí Minh, đúng không?
Tài liệu lịch sử đã chứng minh quá rõ ràng ông Hồ Chí Minh không phải là người thực tâm tranh đấu cho nền độc lập, tự do, hạnh phúc của dân tộc Việt Nam giống như những nhà cách mạng khác. Ông Hồ chỉ là người tha phương cầu thực kiếm sống bằng nghề làm bồi tàu thủy của Thực dân Pháp, rồi làm đơn xin vào học Trường Thuộc địa của Thực dân với mục đích phục vụ quân xâm lược. Không đủ khả năng tự nuôi thân, ông Hồ gia nhập Quốc tế Cộng sản vừa được trả lương hàng tháng, vừa được tiếng tăm nhờ mang danh nghĩa nhà “giải phóng dân tộc” do Liên Xô chỉ đạo. Khi đưa tay tuyên thệ gia nhập Quốc tế Cộng Sản, ông Hồ phải thề tuyệt đối trung thành với Đảng Cộng Sản do Nga lãnh đạo, tức là ông phải yêu nước Nga. Dù thâm tâm ông Hồ có muốn yêu nước Việt Nam đi nữa thì cái chủ nghĩa quốc tế cũng không cho phép ông ta thực hiện. Thế thì tại sao cứ bảo ông Hồ là người yêu nước Việt Nam? Có quá nhiều bằng chứng để khẳng định ông Hồ không phải là người yêu nước Việt Nam, yêu dân tộc Việt Nam.
1/ Nếu là người yêu nước thật sự, không ai nỡ giết người quốc gia vùng lên chống Pháp. Hồ Chí Minh đã ra lệnh cho đàn em thủ tiêu lãnh tụ Trương Tử Anh của Đại Việt, Lý Đông Á của Duy Dân và vô số đảng viên, tín đồ của các tổ chức cách mạng, tôn giáo chống Pháp. Lãnh tụ Nguyễn Thái Học của Quốc Dân Đảng bị Thực dân đưa lên đoạn đầu đài vào ngày 16 tháng 6 năm 1930 ở Yên Bái, nên đảng viên Quốc Dân Đảng còn biết ngày thọ tử của đảng trưởng mình để tưởng niệm. Nếu ông Nguyễn Thái Học không bị giết bởi bàn tay Thực dân Pháp thì sau này cũng sẽ bị ông Hồ thủ tiêu mà đảng viên không thể biết đảng trưởng của mình chính xác bị giết ngày nào để làm lễ tưởng niệm. Nhà cách mạng Phan Bội Châu được nhân dân Việt Nam kính yêu cũng bị ông Hồ đem bán cho Thực dân Pháp!
2/ Nhà cách mạng Phan Chu Trinh chủ trương “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” là một quốc sách mà bất cứ nhà lãnh đạo nào muốn cho xứ sở mình tiến bộ, văn minh, thịnh vượng đều phải thực hiện. Ông Hồ thi hành chính sách ngu dân để dễ bề cai trị dân bằng biện pháp đào tận gốc trốc tận rễ các thành phần xã hội gồm “trí, phú, địa, hào” mà trí thức được đặt lên hàng đầu phải diệt. Trí tuệ là tinh hoa, là tài nguyên quý báu của dân tộc, còn giá trị hơn cả các loại khoáng sản như vàng, bạc, kim cương, dầu hỏa... Bọn đi cướp nước người luôn luôn đặt trọng tâm vào việc tiêu diệt trí tuệ dân tộc bị trị. Vậy ông Hồ có phải là người Việt Nam chủ tâm xây dựng tương lai Việt Nam?
3/ Việt Nam là một nước bé nhỏ nằm cạnh anh khổng lồ Phương Bắc luôn luôn nuôi dã tâm đồng hóa lân bang, nhưng Việt Nam tồn tại được là nhờ cái khí phách bất khuất “thà làm quỷ nước Nam, còn hơn làm vương đất Bắc” của các bậc anh hùng. Bần cùng sinh đạo tặc, đói ắt đầu gối phải bò. Bị bỏ đói, con người mất nhân phẩm thì khí phách cũng không còn. Ông Hồ Chí Minh thi hành chính sách hộ khẩu, dùng miếng ăn để hành hạ con người là một hình thức tiêu diệt khí phách của dân tộc Việt Nam.
4/ Người làm chính trị phải biết rằng không một quốc gia nào yêu thương dân tộc khác mà tự nguyện giúp đỡ vô điều kiện một cách rộng rãi. Ông Hồ đi xin thực phẩm, khí giới của Nga Tầu để có phương tiện giết hại dân mình là mầm nô lệ ngoại bang đã bắt đầu. Huống chi nước Tầu là nước luôn luôn nuôi dã tâm đồng hóa dân ta? Trong hiệp định Gèneve năm 1954, Thủ tướng Trung Cộng Chu Ân Lai áp lực Hà Nội phải chấp nhận vỹ tuyến 17 thay vì vỹ tuyến 13 làm ranh giới chia đôi đất nước là đủ để thấy “cái đểu” của Tầu. Liên Xô và Trung Cộng dàn quân hai bên bờ Hắc Long Giang để thanh toán lẫn nhau, cả thế giới đều biết. Ông Hồ vẫn mù quáng tin tưởng mãnh liệt vào tình nghĩa giữa các nước xã hội anh em. Nếu ông Hồ là người thực tâm yêu nước mình thì ông phải bắt tay với người anh em cùng huyết thống ở Miền Nam để cùng kiến tạo xứ sở; chứ không đòi đốt cháy cả dẫy Trường Sơn.
5/ Ông Hồ bản chất quỷ quyệt, nham hiểm, độc ác, đạo đức giả, được Đệ tam Quốc tế đào tạo thành cán bộ tình báo với nhiệm vụ bành trướng Đế quốc Đỏ. Khát khao của ông là làm cha già dân tộc, nhưng ngu xuẩn vì thiếu gì kẻ tình nguyện đứng tên mà phải giả danh Trần Dân Tiên viết sách ca tụng mình? Các nhà viết sử sẽ đi tìm tung tích Trần Dân Tiên, cái âm mưu của ông Hồ tất nhiên sẽ bị bại lộ. Khi cướp được chính quyền trong tay, ông Hồ xây dựng một bộ máy cai trị chỉ có thể đẻ ra những thuộc cấp xu nịnh, ngoan ngoãn vâng lời, vì nếu có kẻ nào trái ý ông là bị quy tội phản động ngay. Phạm tội ác tầy trời trong cải cách ruộng đất, ông vờ diễn tuồng khóc lóc tỏ dấu hối hận, nhưng tiếp theo sau đó lại phạm vào những tội ác diệt phong trào nhân văn, chỉnh phong, xét lại chống đảng. Ông bảo: “Người dân có quyền đuổi chính phủ”, nhưng không bao giờ ông cho phép người dân dùng lá phiếu tự do lựa chọn người lãnh đạo. Đó là sự xảo quyệt của ông Hồ.
Nói tóm lại, trong cuộc sống riêng cũng như công, ông Hồ có những hành động mờ ám, khuất tất, nói một đường làm một nẻo, nên cuối đời ông bị bọn Lê Duẩn, Lê Đức Thọ khống chế là đương nhiên, vì gieo gì thì gặt nấy. Lớp lãnh đạo kế thừa đều mang đầy đủ tính xảo quyệt, độc ác như ông Hồ. Họ tiếp tục dùng bộ máy đàn áp, khủng bố do ông Hồ lập lên để cai trị, bất chấp sự tiến bộ của nhân loại và khát vọng tự do dân chủ của nhân dân. Chỉ khác một điều là ông Hồ mơ làm “cha già dân tộc”; còn các lãnh đạo mới này thì tham tích lũy tiền bạc bằng hành vi ăn cắp, ăn cướp, tham nhũng.
Theo nhà sử học Dương Trung Quố và nhà lý luận chính trị Hà Sĩ Phu thì Việt Nam ngày nay mất văn hóa hoàn toàn. Một dân tộc bị mất văn hóa được coi như mất nước. Tệ hơn nữa là coi như bị diệt chủng, vì bản sắc dân tộc không còn. Đó là thành tích “đào tận gốc, trốc tận rễ” các thành phần xã hội “trí, phú, địa, hào” do ông Hồ Chí Minh thực hiện. Năm 1958 ông Hồ ra lệnh cho Thủ tướng Phạm văn Đồng viết thư gửi cho Chu Ân Lai thừa nhận vùng biển mà Trung Cộng bảo rằng thuộc về Tầu là bằng cớ rõ ràng ông Hồ là kẻ bán nước. Nếu không có lệnh của ông Hồ, chắc chắn Phạm văn Đồng không thể tự động viết cái thư đó.
Mặc dầu Việt Nam bị Trung Cộng dạy cho bài học vào năm 1979, năm 1988; mặc dầu được Hoa Kỳ chìa tay ra bắt nhiều lần, Cộng Sản Việt Nam vẫn kiên trì đi theo con đường cộng sản. Cái lập luận “Di với Hoa Kỳ thì giữ được nước, nhưng mất đảng; còn đi với Trung Cộng thì mất nước, nhưng giữ được đảng” là một lập luận hết sức ngu xuẩn, bởi vì một khi nước đã mất thì làm sao còn đảng?
Thắng được Việt Nam Cộng Hòa, Cộng sản tưởng mình vô địch, đế quốc nào cũng phải khiếp sợ (lời Lê Duẩn). Trong hồi ký Võ Nguyên Giáp thắc mắc tại sao Hoa Kỳ đang oanh tạc dữ dội, Hà Nội sắp sửa đầu hàng thì cuộc dội bom lại ngưng. Đây là lý do để giải tỏa thắc mắc của ông Giáp: Hoa Kỳ không muốn đánh gục Miền Bắc. Bởi vì Hoa Kỳ nhận thấy chủ thuyết “domino” không còn cần thiết nữa, cộng sản không còn là mối đe dọa cho vùng Đông Nam Á và bởi vì Hoa Kỳ muốn sau này sẽ sử dụng cả nước Việt Nam để ngăn chặn sự bành trướng của Trung Cộng. Không phải Hoa Kỳ có tài tiên tri, nhưng Hoa Kỳ đã nghiên cứu lịch sử Tầu. Họ đã biết dã tâm của Đại Hán luôn luôn bành trướng. Thế nào Việt Nam cũng phải cần đến sức mạnh của Hoa Kỳ để bảo vệ Tổ Quốc. (trong một bài tới người viết sẽ chứng minh Hoa Kỳ không phản bội VNCH như một số tác giả Việt Nam lên án).
Thêm một chứng minh nữa để nói rằng Hà Nội không phải vì tài giỏi mà chiến thắng Miền Nam. Cao Mên nhỏ và yếu hơn Miền Nam mà Hà Nội đánh không thể thắng, cuối cùng đành phải rút quân về vì Trung Cộng không ủng hộ. Sự kiện đó cho thấy Hà Nội thắng khi được Trung Cộng giúp và thua khi bị Trung Cộng chống. Đưa ra sự kiện này để cộng sản hiểu rằng họ chỉ là con cờ, là tay sai dùng máu xương của dân mình để thực hiện ý đồ của ngoại bang mà thôi, chứ không phải Cộng Sản Việt Nam vô địch. Khẩu hiệu “Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc” là chiêu bài để thu hút lòng yêu nước, yêu tự do; chứ không phải là mục tiêu để Cộng Sản Việt Nam tiến tới. Bởi vì một khi bị nô lệ tư tưởng, tự đặt mình trong hệ thống quốc tế thì sự độc lập hay quyền dân tộc tự quyết sẽ không còn.
Xưa kia cha ông chúng ta chẳng được nước nào giúp sức, nhưng từng đánh bại anh khổng lồ phương Bắc là nhờ sự đoàn kết. Cộng sản bắt chước Thực dân, dùng chính sách chia rẽ dân tộc để mãi mãi ngồi trên chiếc ghế thống trị, thì nay phải nuốt nhục quỵ lụy kẻ thù để tiếp tục vơ vét tài sản dân chúng và tài nguyên quốc gia. Cục diện thế giới ngày nay đã khác. Chẳng có cường quốc nào dám ngang nhiên xâm lăng kẻ khác, bởi vì tính liên lập giữa các quốc gia và liên đới về quyền lợi hổ tương. Trung Cộng dù mạnh, dù hung ác cũng chẳng thể nào đơn phương khoanh vùng biển ngăn cấm tầu thuyền các nước khác giao thông. Vậy thì Trung Cộng có gì đáng sợ nếu người cầm quyền biết làm bạn một cách chân thành với thế giới. Muốn được xem như người bạn chân thành là khi đặt bút ký tuân thủ các quy ước quốc tế thì phải nghiêm chỉnh thi hành; chứ không phải dùng xảo ngôn, trí trá để nói quanh.
Lâu nay bộ máy tuyên truyền của cộng sản cứ phịa ra những thành tích chống Pháp, đánh Mỹ để tự cho minh có vị thế chính thống (legetimacy) trong việc cai tri. Họ không cho người dân được phép bày tỏ quan điểm, chính kiến, ngay cả bày tỏ lòng yêu nước. Lấy lời dạy của Trường Chinh Đặng Xuân Khu rằng đảng cộng sản cướp chính quyền bằng bạo lực thì đảng cộng sản sẽ dùng bào lực để giữ chính quyền là không còn thích hợp nữa. Bởi vì bạo lực chỉ dùng được khi mà trong nội bộ đảng còn có sự đoàn kết nhất trí, còn niềm tin vào lý tưởng cộng sản. Người nhận lệnh thi hành bạo lực mất niềm tin vào sự bền vững của chế độ thì không thể nào dám mạnh tay vì sợ sau này bị nhân dân trả thù.
Hiện nay, dù không ở trong chăn, người Việt cũng biết trong cái chăn cộng sản đầy rận. Trương Tấn Sang cũng bảo nồi canh cộng sản đầy sâu. Người cộng sản 95 tuổi, từng làm Đại sứ Việt Nam tại Trung Cộng nhiều năm như Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh cũng đã sáng mắt nhìn thấy cái dã tâm của Trung Cộng. Cộng Sản Việt Nam đang cùng một lúc đối diện với con ác thú khát mồi phương Bắc, đối diện với 80 triệu người dân nghèo khổ muốn vùng lên đòi quyền sống và đối diện với sự phân hóa nội bộ giữa phe muốn đi với Hoa Kỳ để cứu nước và phe ôm chân Trung Cộng để cứu đảng. Ngoài ra, do sự làm ăn mờ ám để ăn cắp chắc chắn sẽ đưa đến khủng hoảng kinh tế. Do đó mầm loạn sẽ xảy ra.
Cách đây một thập niên, nguy cơ mất Tổ Quốc giống như nước đã tới chân mà lãnh đạo cộng sản không chịu nhảy, dù được nhiều nhà ái quốc cảnh báo. Bây giờ nước đã ngập tới cổ, họ vẫn khư khư ôm cái độc quyền thống trị thì cái chết của Đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ còn là vấn đề thời gian. Họ nằm chờ chết, bởi vì bộ máy điều hành việc nước do ông Hồ lập ra chỉ có những kẻ mánh mung, khôn khéo uốn mình chờ dịp ngôi lên địa vị lãnh đạo; chứ không thể sản sinh ra người lãnh đạo có bản lĩnh, có tầm nhìn để cứu nước. Hơn nữa, những người gọi là “cách mạng lão thành” như các ông Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Trọng Vĩnh, Đặng văn Việt… và các trí thức phản kháng vẫn còn quyến luyến, thương tiếc Hồ Chí Minh lại càng khó lòng làm cho Việt Nam thoát ra khỏi vũng lầy hiện nay.
Ai ai cũng thấy rõ tình trạng bế tắc của Việt Nam hiện nay là hậu qua tất yếu do ông Hồ Chí Minh mang lại. Nếu người cầm quyền đến người phản kháng còn mang cái não trạng “tín ngưỡng” Hồ Chí Minh thì không ai (kể cả người Mỹ) có kế nào để hiến cho Việt Nam tìm đường ra. Bao lâu xác ông Hồ còn nằm ở quảng trường Ba Đình, tượng ông Hồ còn đặt ở vị trí tôn nghiêm, Việt Nam còn nằm trong bàn tay Trung Cộng.
Ngoại trừ tổ tiên ta linh thiêng nhiều quyền phép, hóa độ cho một nhân vật vô danh nào đó bỗng dưng trở thành Phù Đổng hoặc trở thành Tề Thiên Đại Thánh có khả năng tận diệt loài yêu tinh, Việt Nam mới có cơ may tồn tại. Nhược bằng tổ tiên cũng đành bó tay, Việt Nam sẽ một lần nữa biến thành Giao Chỉ Quận, bởi vì … vô kế khả thi.



Bằng Phong Đặng văn Âu
Orange County, California, ngày lễ kỷ niệm Độc Lập Hoa Kỳ 4 tháng 7 năm 2011.

Cuộc Biểu Tình Chống Ngoại Xâm Đầy Nhiệt Khí Của Người Việt Vùng Đông Bắc Hoa Kỳ

Hoa Thịnh Đốn (Tin Cộng Đồng).- Cơn nóng 93 độ tại vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn chẳng những không gây khó khăn mà chỉ làm tăng thêm nhiệt khí trong hơn 200 người Việt từ khắp miền đông bắc Hoa Kỳ về tham dự cuộc biểu tình “Đoàn Kết Đấu Tranh Cho Quê Hương” do Cộng Đồng Việt Nam Vùng Washington, DC, Maryland và Virginia tổ chức vào lúc 11 giờ trưa ngày 2 tháng 7 năm 2011 trước Tòa Đại Sứ Trung Cộng và lúc 1 giờ 30 trưa cùng ngày trước văn phòng hành chánh của Tòa Đại Sứ CSVN.

Thành phần hiện diện trong cuộc biểu tình chống Trung Cộng xâm lược và phản đối chế độ CSVN ươn hèn khiếp nhược trước ngoại xâm, gồm có các phái đoàn người Việt về từ Massachusetts, Connecticut, New York, New Jersey, Pennsylvania hợp cùng đông đảo đồng hương và các đại diện hội đoàn vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Đặc biệt, còn có sự xuất hiện bất ngờ của nữ ca nhạc sĩ đấu tranh Nguyệt Ánh.

Dưới ánh nắng gay gắt của buổi trưa hè, đoàn người yêu nước đã tập trung trước Tòa Đại Sứ Trung Cộng để bắt đầu cuộc biểu tình chống xâm lăng bằng nghi thức chào cờ Mỹ-Việt và phút mặc niệm để tưởng nhớ đến các chiến sĩ Hải Quân VNCH đã hy sinh để bảo vệ Hoàng Sa vào năm 1974, các ngư dân Việt Nam vô tội đã bị Trung Cộng bắn giết và tất cả những người đã tranh đấu để gìn giữ non sông.

Trong phần chào mừng các phái đoàn, ông Đỗ Hồng Anh, Chủ Tịch Cộng Đồng Việt Nam Vùng Washington, DC, MD và VA, đã nêu lên những mục tiêu chính của cuộc biểu tình trước Tòa Đại Sứ Trung Cộng gồm có: cực lực phản đối chủ nghĩa bành trướng bá quyền của Trung Cộng, tố cáo trước cộng đồng quốc tế hành vi xâm lược của bọn chúng và đòi hỏi bọn chúng phải rút ra khỏi VN, khỏi Hoàng Sa và Trường Sa, cùng tôn trọng chủ quyền của VN.

Sau đó, thay mặt Ban Tổ Chức, ông Lý Văn Phước (Cố Vấn Cộng Đồng VN Hoa Thịnh Đốn) đã kêu gọi tẩy chay hàng hóa Trung Cộng như là một hình thức phản đối sự xâm lăng của bọn chúng.

Lần lượt tiếp theo là phần phát biểu nẩy lửa bằng tiếng Anh lẫn tiếng Việt của ông Đoàn Hữu Định (Chủ Tịch Liên Hội Cựu chiến Sĩ VNCH Vùng Hoa Thịnh Đốn và Phụ Cận), Dược Sĩ Trần Quang Tuấn (đại diện cho phái đoàn Massachusetts), ông Trần Văn Giỏi (Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Connecticut), ông Nguyễn Văn Tánh (Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Hoa Kỳ), ông Nguyễn Trung Châu (Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia New York), ông Trần Quán Niệm (Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Nam New Jersey), ông Nguyễn Đình Toàn (Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Philadelphia, thuộc tiểu bang Pennsylvania), ông Trần văn Cẩn (đại diện cho Liên Minh Dân Chủ Việt Nam Thuần Túy), ông Thomas Phạm (đại diện cho Việt Nam Quốc Dân Đảng), và nhà tranh đấu Lê Quyền.

Tất cả những lời phát biểu đanh thép của họ hợp với những biểu ngữ có nội dung mạnh mẽ bằng tiếng Anh và tiếng Tàu đã nói lên sự phản đối mãnh liệt của người Việt hải ngoại trước hành vi xâm lược của Trung Cộng và đã lên tiếng thay cho 85 triệu đồng bào quốc nội về tinh thần yêu nước chống ngoại xâm thực sự của họ thay vì chỉ là phản ứng lấy lệ được dàn dựng bởi nhà cầm quyền CSVN trong những ngày gần đây.

Khí thế chống ngoại xâm của đoàn biểu tình được khích động lên cao khi mọi người hô to những khẩu hiệu bằng tiếng Anh đòi Trung Cộng phải tôn trọng chủ quyền, rút lui khỏi VN cùng các đảo Trường Sa và Hoàng Sa, và khi đặc biệt có sự xuất hiện bất ngờ của nữ ca nhạc sĩ Nguyệt Ánh trong bài ca tranh đấu “Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ” của cố nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang và “Bài Hát Chống Xâm Lăng” do chính Nguyệt Ánh sáng tác còn chưa ráo mực.

Trước khi rời khỏi khu vực Tòa Đại Sứ Trung Cộng, đoàn biểu tình đã nức lòng, xúc động khi nghe phần phát biểu đặc biệt của 2 người đại diện giới trẻ hải ngoại, trong đó có một thiếu nữ đã phản đối hành vi xâm lược của Trung Cộng và kêu gọi giới trẻ cũng như đồng bào trong nước hãy vùng lên, xuống đường chống Trung Cộng nhưng đừng mang theo cờ máu và hình Hồ Chí Minh vì đó chính là những biểu tượng của sự ươn hèn khiếp nhược và của hành vi dâng đất nhượng biển của cha ông cho ngoại bang.

Với khí thế mãnh liệt đó, đoàn biểu tình đã được xe bus và nhiều xe riêng đưa tới văn phòng hành chánh thuộc Tòa Đại Sứ CSVN trên đường 20 để tiếp tục cuộc tranh đấu.

Tại đây, nghi thức chào cờ và mặc niệm lại diễn ra trước hàng trăm người đứng dàn hàng ngang ngay trước trụ sở văn phòng hành chánh của CSVN.

Một lần nữa, đại diện ban tổ chức và các vị đại biểu đã lên tiếng tố cáo thái độ ươn hèn trước ngoại xâm, hành vi bán nước, và chính sách đàn áp các phong trào đấu tranh cho tự do dân chủ trong nước của nhà cầm quyền CSVN. Lần này, có thêm phần phát biểu của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích (đại diện Nghị Hội Toàn Quốc Người Việt Tại Hoa Kỳ) và dược sĩ Nguyễn Đức Nhiệm (Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Pennsylvania) và ông Trần Văn Mết (đại diện Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo vùng Hoa Thịnh Đốn).

Đoàn biểu tình đã đi tuần hành nhiều vòng trên vỉa hè trước Văn Phòng Hành Chánh của CSVN với một rừng cờ vàng chính nghĩa và các biểu ngữ rợp trời đòi CSVN phải giải thể, và đòi tự do, dân chủ cho quê hương.

Mọi người đều nhận thấy một phần của động cơ thúc đẩy chủ nghĩa bành trướng của Trung Cộng ở biển đông cũng như tại quê hương thân yêu chính là thái độ hèn nhát và tinh thần phản quốc của bọn CSVN.

Vì thế, cho nên cuộc tranh đấu chống ngoại xâm từ phương bắc này cần phải được tiến hành song song với cuộc tranh đấu chống CSVN. Và cuộc tranh đấu này chỉ chấm dứt khi nào bọn xâm lăng Trung Cộng bị đánh đuổi ra khỏi bờ cõi Việt Nam và chế độ phản quốc hại dân của Việt Cộng bị giải thể hoàn toàn để trả lại non sông gấm vóc của cha ông cho toàn dân và trả lại những quyền tự do căn bản cho 85 triệu đồng bào trong nước.

https://picasaweb.google.com/118244542887071843924/BieuTinhChongTrungCongVietCongTaiDC?authkey=Gv1sRgCP_318qs7q-9Hw&feat=email#

Hình ảnh: Mr. Nguyen Van Dang.

https://picasaweb.google.com/118244542887071843924/BieuTinhChongTrungCongVietCongTaiDC?authkey=Gv1sRgCP_318qs7q-9Hw&feat=email#





Ra Đi Tìm Đường Cứu Nhà

bennharong

Ngày 31-5-2011, tại Sài Gòn mà nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam (CSVN) đổi tên là Thành phố Hồ Chí Minh, diễn ra cuộc Hội thảo với chủ đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh – Hành trình tìm đường cứu nước”. Cuộc hội thảo do các cơ quan sau đây đứng ra tổ chức: Thành ủy đảng CSVN TpHCM, Ban Tuyên giáo Trung ương, Học viện Chính trị Hành chánh Quốc gia Hồ Chí Minh, Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch. Những cơ quan trong ban tổ chức cuộc hội thảo đều tầm cỡ khá cao trong nước, nên cuộc hội thảo quy tụ nhiều nhân vật quan trọng của CSVN, kể cả cựu tổng bí thư Lê Khả Phiêu, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Phải nói ngay rằng đề tài nầy quá cũ, nhưng được CSVN cố tình đem ra hâm nóng trở lại, may ra để vớt vát lại uy tín cho đảng CSVN đang càng ngày càng tuột dốc. Cứ mỗi lần gặp khó khăn về chính trị, CSVN kiếm cách cầu cứu Hồ Chí Minh để lòe thiên hạ, nhất là giới trẻ tuổi mới lớn lên. Vì vậy, từ ngày 26-5, họp báo giới thiệu cuộc hội thảo, cho đến 139 bài tham luận đưa ra trong cuộc hội thảo, đều là một bản đồng ca ồn ào chói tai giống như ếch nhái đồng ruộng kêu ồm oàm sau một trận mưa lớn (Sài Gòn hiện đang vào mùa mưa), đều đặn đúng như những tài liệu cổ điển của CSVN. Tốt nhất, chúng ta trở lại với những tài liệu nầy.

Đầu tiên là nguyên văn lời trong sách Lịch sử Việt Nam của các tác giả cộng sản viết về sự kiện thanh niên Nguyễn Tất Thành xuống tàu Amiral Latouche-Tréville ngày 5-6-1911 để ra đi:

Sự thất bại của các phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục của cuộc vận động Duy Tân và phong trào chống thuế ở các tỉnh Trung Kỳ mà Người [Hồ Chí Minh] từng tham gia khi đang học ở trường Quốc Học Huế, đã thôi thúc Người [HCM] hướng về các nước Tây Âu, mong muốn được đến “tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những Tự do, Bình đẳng, Bác ái”. Sau khi rời Huế vào Phan Thiết … …Được ít lâu, lấy tên là Văn Ba, Người [HCM] xin làm phụ bếp trên chiếc tàu thủy Đô đốc La Tusơ Tơrêvin (La Touche Tréville)[Latouche-Tréville], thuộc hãng vận tải hợp nhất của Pháp, để đi ra nước ngoài “xem nước Pháp và các nước khác làm như thế nào rồi sẽ trở về giúp đồng bào…”( Nguyễn Khánh Toàn và một nhóm tác giả, Lịch sử Việt Nam, tập 2, Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội, 1985, tr. 145.)

Sách Chủ Tịch Hồ Chí Minh, tiểu sử và sự nghiệp của nhà xuất bản Sự Thật giải thích sự ra đi của Hồ Chí Minh cũng gần giống như thế: “… Ít lâu sau, Hồ Chủ tịch vào Sài Gòn. Nam Kỳ dưới chế độ thuộc địa cũng chẳng khác gì Trung Kỳ dưới chế độ bảo hộ và Bắc kỳ dưới chế độ nửa thuộc địa, nửa bảo hộ. Ở đâu nhân dân cũng bị áp bức, bóc lột, đồng bào cũng bị đọa đày, khổ nhục. Điều đó càng thôi thúc Hồ Chủ tịch đi sang các nước Âu tây để xem nhân dân các nước ấy làm như thế nào mà trở nên độc lập, hùng cường, rồi sẽ trở về “giúp đỡ đồng bào” đánh đuổi thực dân Pháp. Ý định ấy của Người [HCM] đã dẫn Người từng bước đi tới tìm một phương hướng mới cho sự nghiệp cứu nước của nhân dân ta.” (Ban Nghiên cứu Lịch sử đảng trung ương, Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiểu sử và sự nghiệp, in lần thứ tư (có xem lại và bổ sung), Hà Nội: Nxb. Sự Thật, 1975, tr. 15.)

Trong sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, cũng do nhà xuất bản Sự Thật ấn hành, trả lời phỏng vấn của tác giả Trần Dân Tiên, Hồ Chí Minh nói về lý do ra đi như sau: “…Tôi muốn đi ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta…” (Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Hà Nội: Nxb. Sự Thật, 1976, tr. 13.)

Trần Dân Tiên chính lại là Hồ Chí Minh. Ông dùng một tên khác viết sách tự ca tụng mình. Tại Việt Nam cũng như trên thế giới, có nhiều người viết sách về hoạt động của mình, đôi khi để tự khen mình, hoặc để biện hộ cho những việc làm của mình, nhưng họ đều đề tên thật, chịu trách nhiệm về những điều họ viết. Hồ Chí Minh dùng một tên khác tự ca tụng mình là một sáng kiến kỳ lạ chưa một người tự trọng nào dám nghĩ đến một hành động thật quá trơ trẽn.

Như thế, qua các sách của nhà cầm quyền cộng sản và qua chính những lời viết của Hồ Chí Minh, ông ta đi ra nước ngoài nhắm mục đích tìm đường cứu nước. Tuy nhiên nhiều tài liệu cụ thể cho thấy rằng Hồ Chí Minh ra đi không phải để tìm đường cứu nước, mà chỉ vì lý do kinh tế gia đình, ra đi để tìm đường cứu nhà.

Trong bài “Từ mộng làm quan đến đường cách mạng Hồ Chí Minh và Trường Thuộc Địa”, hai tác giả Nguyễn Thế Anh và Vũ Ngự Chiêu đã phổ biến ảnh sao (photocopy) hai lá thư của Nguyễn Tất Thành đề ngày 15-9-1911 gởi cho tổng thống Pháp và bộ trưởng bộ Thuộc Địa Pháp, xin hai nhà lãnh đạo Pháp ban ân huệ cho Thành được đặc cách vào học Trường Thuộc Địa Paris, nơi đào tạo quan lại cho các thuộc địa Pháp trong đó có Đông Dương. Phần chính trong nội dung của hai lá thư nầy hoàn toàn giống nhau. Đó là:

Tôi xin trân trọng thỉnh nguyện lòng hảo tâm của ông ban cho tôi đặc ân được nhận vào học nội trú Trường Thuộc Địa. Tôi hiện đang làm công trong công ty Chargeurs Réunis để sinh sống (trên tàu Amiral Latouche-Tréville). Tôi hoàn toàn không có chút tài sản nào, nhưng rất khao khát học hỏi. Tôi ước mong trở nên hữu ích cho nước Pháp đối với đồng bào tôi, đồng thời làm thế nào cho họ hưởng được ích lợi của nền học vấn…” (Đặc san Đường Mới, số 1, Paris, tt. 8-25)

(Trích Daniel Hemery, sđd. tr. 40.)

Hai lá đơn trên đều bị bác, Nguyễn Tất Thành tiếp tục hành nghề trên các tàu biển. Ngày 15-12-1912, từ New York, Hoa Kỳ, Nguyễn Tất Thành gởi đến viên khâm sứ Pháp tại Huế một lá thư rất thống thiết xin một đặc ân là ban cho cha Nguyễn Tất Thành là Nguyễn Sinh Sắc, một chức việc nhỏ như giáo thụ hay huấn đạo, để ông nầy có điều kiện sinh sống.

Nguyên phụ thân của Nguyễn Tất Thành (Hồ Chí Minh) là Nguyễn Sinh Sắc (còn có tên là Huy) đỗ phó bảng trong kỳ thi Hội và thi Đình năm 1901 tại Thừa Thiên, và được triều đình Huế bổ làm thừa biện bộ Lễ (tại Huế) từ 1902 đến 1909, rồi đi tri huyện Bình Khê (thuộc tỉnh Bình Định) tháng 5 năm đó. Từ thừa biện lên tri huyện là thăng quan chứ không phải xuống chức.

Nguyễn Sinh Sắc vốn nghiện rượu. Trong một cơn say rượu, tri huyện Nguyễn Sinh Sắc cho thuộc hạ dùng roi mây trừng phạt và đánh chết một người tù vào tháng 1-1910. Gia đình người nầy kiện lên cấp trên. Dù tri huyện Nguyễn Sinh Sắc đã chối cãi rằng không phải vì trận đòn của ông mà người kia chết, ông vẫn bị triều đình ra sắc chỉ ngày 17-9-1910 phạt đánh 100 trượng. Hình phạt nầy được chuyển đổi qua hạ bốn cấp quan lại và sa thải. (Daniel Hémery, Ho Chi Minh, de l ‘Indochine au Vietnam [Hồ Chí Minh, từ Đông Dương đến Việt Nam], Paris: Nxb. Gallimard, 1990, tr. 133. ) Lý do chuyển đổi hình phạt để Nguyễn Sinh Sắc khỏi bị đánh đòn có thể nhắm giữ thể diện của một quan chức triều đình, và nhất là vị nầy lại là người có học vị cao.

Ngày 26-2-1911, Nguyễn Sinh Sắc xuống tàu từ Đà Nẵng vào Sài Gòn. Ông ở lại Sài Gòn một thời gian, rồi đi Lộc Ninh làm giám thị đồn điền. Từ đó, ông không bao giờ trở ra Nghệ An. Ông sống lang thang ở miền Nam bằng nghề đông y, và nghề viết liễn đối cho dân chúng. Gần cuối đời, ông đến định cư tại làng Hội Hòa An, Sa Đec, và từ trần ngày 29-11-1929.

Trước cảnh nghèo túng của cha, Nguyễn Tất Thành viết thư từ New York cho khâm sứ Pháp tại Huế ngày 15-12-1912, có những đoạn như “… cầu mong Ngài [chỉ khâm sứ Pháp] vui lòng cho cha tôi [cha của Thành tức Nguyễn Sinh Sắc] được nhận một công việc như thừa biện ở các bộ, hoặc huấn đạo, hay giáo thụ để cha tôi sinh sống dưới sự quan tâm cao quý của Ngài…” ( Thành Tín [tức Bùi Tín], Mặt thật, California: Nxb. Saigon Press, 1993, tt. 95-96.)

Đây là một việc làm hiếu đễ đáng khen của thanh niên Nguyễn Tất Thành, nhưng rất tiếc khi gia nhập đảng Cộng Sản, thì Nguyễn Tất Thành từ bỏ luân lý truyền thống dân tộc, chuyển lòng trung hiếu thành lý tưởng phục vụ đảng và chủ nghĩa cộng sản, đến nỗi sau đó chính Nguyễn Sinh Sắc, phụ thân Nguyễn Tất Thành, rất bực mình “không muốn nghe nói đến “đứa con hư” của mình [...] mà các chủ thuyết chẳng những đả phá uy quyền của nhà vua, mà còn đả phá luôn cả uy quyền của người gia trưởng.” (Daniel Hémery, sđd. tr. 134.)

Hai lá đơn trên cùng với lá thư gởi năn nỉ viên khâm sứ Pháp tại Huế cho thấy lúc mới ra đi, Nguyễn Tất Thành chỉ nhắm mục đích sinh nhai. Vì sinh kế gia đình, lúc đó Nguyễn Tất Thành sẵn sàng thỏa hiệp với người Pháp để kiếm một chức quan cho cá nhân ông (bằng cách xin vào học Trường Thuộc Địa), hoặc cho phụ thân ông, chứ Nguyễn Tất Thành không chống lại nhà cầm quyền thực dân Pháp.

Giải quyết sinh kế cho gia đình là chuyện bình thường của đời sống con người. Lớn lên, ai ai cũng phải kiếm cách mưu sinh để tự nuôi sống mình và nuôi sống gia đình. Ngày 5-6-1911 Nguyễn Tất Thành xuống tàu Amiral Latouche-Tréville ra đi không phải để tìm đường cứu nước mà để TÌM ĐƯỜNG CỨU NHÀ. Đơn giản chỉ có thế.

Việc ra đi tìm đường cứu nước chỉ là sản phẩm tưởng tượng sau nầy của Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản, nhắm “anh hùng hóa” và làm đẹp cho việc ra đi của họ Hồ để lôi cuốn quần chúng trên đường hoạt động chính trị. Cuộc hội thảo ngày 31-5-2011 vừa qua tại Sài Gòn cũng không ngoài mục đích đó.

TRẦN GIA PHỤNG

(Toronto, 2-6-2011)

http://nguoivietboston.com/?p=37427

Người Trung Quốc bất mãn


Hai hiện tượng đang diễn ra ở Trung Quốc, mà cảnh tượng cũng không khác gì ở Việt Nam: Người nghèo thì bất mãn vì xã hội bất công, còn người kiếm ra tiền, thật nhiều tiền, thì tìm đường ra sống ở các nước Tây phương.

Nhà báo Gordon Chang đã mô tả cảnh tượng công nhân nổi loạn trên Asia Times. Bốn ngàn công nhân Trung Quốc đình công và biểu tình vào giữa tháng 6 năm 2011 ở một nhà máy của người Ðại Hàn tại thành phố Phiên Ngu (Panyu), gần thành phố Quảng Châu. Nhà máy thuộc công ty Simone Ltd chuyên sản xuất túi xách tay bằng da cho những nhãn hiệu danh tiếng như Coach, DKNY, Burberry, vân vân. Hơn 6 công nhân bị đánh đập và bắt giam, trong đó có một cô 20 tuổi, “di dân” từ một tỉnh khác tới làm việc tại đây. Người bạn cô hỏi phóng viên nhật báo South China Morning Post: “Một con bé yếu như nó làm sao chịu được bao nhiêu người đàn ông đánh đập như vậy?”

Một công nhân khác nói với nhà báo: “Ban giám đốc coi chúng tôi như không phải là con người!” Công ty Simone trừ tiền cơm trong lương bổng của thợ nhưng chỉ cho họ ăn gạo hẩm đen. Các quản đốc người Nam Hàn tự tiện vào phòng vệ sinh phụ nữ bất cứ lúc nào. Công nhân phải làm việc 12 giờ mỗi ngày, chỉ được đi vệ sinh 2 lần, và trong lúc làm việc không được phép uống nước! Giữa tháng 6, 2000 công nhân làm cho nhà máy sản xuất đồng hồ Citizen Watch của Nhật Bản tại Ðồng Quan, cùng trong tỉnh Quảng Ðông, cũng đình công.

Những nhà máy như trên tạo nên “Sức mạnh kinh tế” của Trung Quốc trong ba chục năm qua: Bóc lột người lao động, để làm hàng xuất cảng cho các công ty tư bản ngoại quốc, bị bạc đãi nhất là những nông dân thiếu việc làm, tìm việc ở các thành phố. Tại thành phố Triều Châu, hàng trăm “lao động di dân” đánh nhau với cảnh sát. Tại Tăng Thành, thủ đô Quần Bò (Blue Jeans) thế giới, hàng ngàn công nhân từ các tỉnh khác tới làm việc đã gây bạo động sau khi bọn cô đồ do công an thuê mướn đã đánh ngã một công nhân phụ nữ đang mang thai; họ đốt các trụ sở chính quyền và lật đổ xe của công an.

Theo nhà báo Gordon Chang, trong năm 2010 có 280,000 vụ biểu tình phản đối chính quyền cộng sản Trung Hoa, từ lớn đến nhỏ. Con số đó đã tăng lên nhanh chóng, vì trước đây dăm mười năm trung bình mỗi năm chỉ có từ 80 đến 90 ngàn vụ dân biểu tình chống nhà nước. Lòng dân bất mãn được kích thích lên cao vì chính sách của đảng Cộng sản Trung Quốc đưa tới khoảng cách lợi tức bất công trầm trọng, nông dân và công nhân vẫn không được một guồng máy tư pháp độc lập bảo vệ, và đảng cộng sản thả lỏng cho cán bộ tìm đủ cách tham nhũng. Một nguyên do thực tế khác là các tỉnh ở miền ven biển bắt đầu thiếu lao động, người thợ không sợ bị đói nếu bị đuổi nữa.

Nhưng những người khá giả không phải dân lao động bần cùng có thỏa mãn với cuộc sống trong nước Trung Hoa hay không? Một bài đăng trên Hoàn Cầu Thời Báo (Global Times) ngày 29 tháng 4 năm 2011 cho thấy hiện tượng nhiều người Trung Quốc có tiền đang tìm đường ra nước ngoài sống. Tờ báo trên thuật lại kết quả một cuộc nghiên cứu của Ngân Hàng Thương Mại Trung Quốc (China Merchants Bank) báo tin mừng là trong năm 2010 số người Ðại Gia đã tăng gần một phần năm so với năm 2009, lên tới 500,000 người. Những người được coi là Ðại Gia thì phải có tài sản trên 10 triệu đồng nguyên, khoảng hơn một triệu rưỡi đô la Mỹ, không kể giá trị ngôi nhà họ đang cư ngụ. Ngân hàng trên tiên đoán năm nay cả nước Trung Hoa sẽ có 585,000 Ðại Gia.

Trong số những người Ðại Gia này, cuộc nghiên cứu cho biết có khoảng 60% đã hoặc đang làm thủ tục xin nhập cư một nước khác bằng cách đem vốn tới đầu tư. Tỷ lệ đó tăng cao hơn trong lớp người có tài sản cao nhất, từ 100 triệu nguyên trở lên. Trong đám Thượng Ðại Gia này, 47% đang tìm cách làm di dân, và 27% đã được một quốc gia khác công nhận làm di dân hợp pháp rồi. Bài phúc trình kết luận rằng đám người Ðại Gia ở Trung Quốc đang có phong trào “di dân qua ngả đầu tư” với tỷ lệ gia tăng 73% trong năm năm qua. Cuộc nghiên cứu thực hiện qua việc phỏng vấn hơn 2,600 người thuộc loại giầu có, và sử dụng các dữ liệu khác nữa. Bài báo dẫn lời nhà kinh tế Trọng Ðại Quân, (Zhong Dajun), đứng đầu một viện nghiên cứu ở Bắc Kinh, nhận xét rằng: “Chúng ta đã nỗ lực phát triển trong 30 năm qua, bây giờ bao nhiêu người kiếm được nhiều tiền nhất lại đem phần lớn tài sản của họ ra nước ngoài; số tiền mà họ đem đi còn lớn hơn số đầu tư ngoại quốc vào trong nước.” Ông ví hiện tượng đó cũng giống như một nhà nông trồng cây, nhưng đến mùa hái quả thì trái cây lại rơi xuống sọt nhà người khác!

Thời Báo Hoàn Cầu là một cơ quan ngôn luận của đảng Cộng Sản Trung Quốc, thuật lại một bài trên báo Thanh Niên, cũng của đảng, cho biết lý do khiến những người giầu có trên tìm cơ hội di dân là vì họ không cảm thấy an toàn khi sống ở quê hương. Mặc dù giầu nhất nước, nhưng họ làm giầu là nhờ có “quan hệ” với các quan chức trong đảng, và vì dựa vào một chế độ độc quyền cai trị nên họ sẽ khó làm ăn trong thị trường đích thực. Ðồng thời, họ cũng bất mãn vì cứ phải hối lộ quan trên mà vẫn bị công chúng phỉ nhổ. Một nhà buôn kim hoàn từ tỉnh Triết Giang, nay đã di cư sang Hồng Kông và xin giấu tên, nói với báo Thời Báo Hoàn Cầu rằng một nguyên nhân khiến ông di cư là mối lo lạm phát và giá nhà cửa tăng lên như quả bóng sẽ có ngày bùng nổ.

Phong trào “chạy của ra nước ngoài” này lên cao nhất vào năm 2008, là năm Bắc Kinh tung ra 600 tỷ Mỹ kim để “kích thích kinh tế,” đối phó với tình trạng hàng xuất cảng bị ế vì thế giới bên ngoài đang khủng hoảng. Số tiền đó được đưa cho các doanh nghiệp nhà nuớc đầu tư, xây dựng đường sá và cao ốc khắp nơi giúp cho công nhân bớt mất việc, có xí nghiệp nhà nước còn dùng tiền để đầu tư vào chứng khoán và địa ốc. Chính cơn sốt địa ốc trong hai năm qua đã khiến nhiều cá nhân trở thành đại gia vì trúng mối; trong đó có nhiều người đang tìm đường chạy! Trong 2 năm nữa, nhóm “Vương tôn Công tử,” như ông Tập Cận Bình, là con cái của các người lãnh đạo cũ, lên cầm đầu ở Trung Nam Hải. Họ tự nhiên có khuynh hướng bảo vệ các vương tôn công tử khác, do đó, nhiều nhà kinh doanh tư sẽ cảm thấy cần phải tìm cơ hội di cư hơn.

Một cuốn sách biểu lộ nỗi bất mãn của người Trung Hoa, nhưng lại nhắm thúc đẩy tinh thần đề cao chủng tộc được xuất bản năm 2009, nhan đề là “Trung Quốc Không Vui” (Trung Quốc Bất Cao Hứng), của một số tác giả đã vào năm 1996 từng in cuốn “Trung Quốc Dám Nói Không” (Trung Quốc Năng Cấu Thuyết Bất). Họ bày tỏ nỗi uất ức về địa vị của nước họ trên trường quốc tế, tuy không dám chỉ trích chính quyền nhưng đã viết thẳng rằng các nhà chính trị trong nước cũng toàn nói những lời rỗng tuếch không khác gì các chính trị gia ở Tây Phương. Cuốn sách mới này gây nhiều phản ứng bất đồng vì luận điệu đề cao văn minh Hán tộc và đổ tội cho người nước ngoài, khiến có độc giả đã phản ứng trên mạng, gọi nó là “xấp giấy vệ sinh quá đắt tiền!

Một cảnh bất công và cũng là một chướng ngại cho việc phát triển kinh tế ở Trung Quốc là do chế độ hộ khẩu gây ra. Mỗi người dân Trung Hoa trên nguyên tắc chỉ được cư ngụ ở nơi họ có hộ khẩu. Các nông dân lên thành phố tìm việc làm không được hưởng các chế độ xã hội, con cái không có quyền đi học, bệnh không được nhận vào nhà thương; họ trở thành những công dân hạng nhì so với dân thành phố. Tuần báo Người Kinh Tế (The Economist) mới thuật chuyện ở một thị xã Diêm Ðiền (Yan Tian) gần thành phố Ðồng Quan, có 100,000 dân nhưng chỉ một số nhỏ có hộ khẩu. Cũng như nhiều làng xã cổ ở Trung Quốc, đa số dân thuộc gia đình họ Ðặng với 3,000 người. Trong khi đó rất nhiều dân cư trong thị xã là người từ các nơi khác đến, có người di cư từ làng khác trong vùng tới, tất cả đều không được chấp nhận hộ khẩu. Người họ Ðặng lập ra luật lệ buộc quản lý các xí nghiệp hoạt động ở đây phải là “dân làng” tức là có hộ khẩu chính thức. Hậu quả là tất cả những người họ Ðặng không cần làm gì cũng sống khá giả! Họ chiếm đa số trong các cuộc bỏ phiếu bầu trong làng, và họ không chịu thay đổi những luật lệ này!

Chế độ hộ khẩu cản trở việc phát triển kinh tế vì làm cho thị trường nhân dụng cứng nhắc, không lưu hoạt, tạo cảnh bất công ưu đãi những người dân thành phố, nông dân bị thiệt thòi. Các thành phố lớn như Trùng Khánh, Thành Ðô đã thí nghiệm việc cải tổ chế độ này, nhưng không thành công, mà trái lại chỉ tạo thêm cơ hội tham nhũng cho các quan chức! Trên các báo cáo lý thuyết hiện nay một nửa dân số Trung Hoa lục địa sống ở các thành phố; nhưng tổng số người có hộ khẩu ở các thành phố chỉ là 35% dân số. Tức là có 15% dân số 1,300 triệu người sống trong cảnh không hộ khẩu. Một số thành phố Trung Cộng đã làm luật cấm di dân không hộ khẩu không được mua nhà (để không cho giá nhà tăng), và không được mua xe hơi (để tránh nạn kẹt xe), tất cả đều làm cho cảnh bất công trầm trọng hơn.

Vào đầu năm 2011, Vụ Thông Tin của chính phủ Bắc Kinh đã ra lệnh tất cả các mạng lưới không được phép đăng hoặc bình luận về một bản tin, nói “94% dân Trung Hoa không cao hứng vì tài sản được tập trung vào nhóm người ngồi ở trên cùng của xã hội.” Bản tin trên là do một cuộc nghiên cứu dư luận của Gallup, cho biết 82% dân Ðan Mạch nói họ thấy hạnh phúc, đứng hàng đầu, trong khi chỉ có 6% dân Trung Hoa nghĩ như vậy khiến Trung Quốc đứng hàng thứ 125.

Một quốc gia mà lòng dân đầy bất mãn như vậy khó gọi là một nước mạnh. Những hành động phô trương (sắp có hàng không mẫu hạm) hay đe dọa các nước láng giềng chỉ có tác dụng kích thích tự ái dân tộc để người dân Trung Hoa quên bớt những nỗi bất mãn. Nhưng còn những người giầu có tìm đường bỏ nước ra đi thì sao?

Gordon Chang cho biết rằng cơ quan thuộc Bộ Tài Chánh Mỹ phụ tách theo dõi các vụ chuyển ngân lậu cho biết trong một năm 2010 số tiền chuyển ngân bất hợp pháp từ Trung Quốc ra ngoài đã tăng vọt, mặc dù đã vi phạm luật kiểm soát ngoại tệ của nhà nước. Tổ chức tư nhân Financial Integrity ước đoán từ năm 2000 đến 2008, số tiền chạy ra khỏi nước Trung Hoa lên tới 2,180 tỷ đô la Mỹ. Tức là bằng 2 phần 3 tổng số dự trữ ngoại tệ của Ngân Hàng Nhân Dân Trung Quốc!

Ngô Nhân Dụng

HẾT BIỂN TỚI ĐẤT LIỀN: THẢM HỌA DIỆT VONG!

leftChưa bao giờ mà người ta thấy Trung Cộng (TC) “quậy” đàn em Việt Cộng (VC) như mấy tuần qua.

Theo tin báo chí thì: “Dường như TQ nhứt quyết không để cho Việt Nam (VN) được yên thân.

Sau nhiểu tuần quậy tưng bừng trên Biển Đông, giờ đây, TQ cho người sang VN quậy tan nát trên bộ bằng những chiến thuật khác.

Thứ Năm 30-6 nhiều tờ báo ở VN có nói về hiện tượng từng đoàn doanh nhân TQ sang VN vơ vét mua hàng nông sản. Hiện tượng này có vài năm nay, nhưng thời gian gần đây, số lượng bị “vét” lên quá cao.

Chẳng những cao mà còn đều đặn và hiện nay không có dấu hiệu nào cho thấy “cơn dịch vét hàng VN” sắp chấm dứt. Hiện tượng này khiến vật giá leo thang tại VN vì thiếu hàng để bán và người dân trong nước lãnh đủ.

Bà Nguyễn Thị Thu Sắc, Phó Chủ tịch Hiệp Hội Hàng Xuất cảng Thủy Sản VN (VASEP) nói rằng những năm trước doanh nhân Tàu sang thu mua tôm trực tiếp từ các trại nuôi tôm của VN.

Giờ đây, các “chú Ba” này ra tận “đầu hẽm”, đón các tàu đánh cá VN từ ngoài khơi vào, tung tiền mua sạch luôn các hải sản khác. Các công ty VN thiếu hàng xuất khẩu, đẩy gaí lên cạnh tranh mà vẫn thua các “chú Ba” . Miền Trung VN bị dịch thu mua từ “các xì thẩu” này hết. Hậu quả là giá tôm tăng vọt lên 90.000 đồng/kí lô, trong lúc năm ngoái giá mua chỉ 57.000 đ/kí lô.

Bà Sắc báo động tình trạng này sẽ “giết” các công ty xuất cảng thủy sản của VN. Từ đầu năm 2011 đến nay đã có 147 công ty VN loại này đã đóng cửa vì không mua đuợc hàng.

Bà Sắc cho là đã đến lúc chính phủ VN nên bắt chước Indonesia vì quốc gia này cấm xuất cảng nguyên liệu thủy sản loại đó. Bà Sắc nói: “VN cần phải bảo vệ thị trường nội địa”.

Các “Chú Ba” còn nhắm vào hồ tiêu, theo lời ông Dĩ Hà Nam, Chủ tịch các Hiệp Hội Tiêu VN (VPN) cho hay. Đã có tới 20% toàn bộ sản lượng tiêu VN bị thương buôn TQ thu vét. Cao su cũng thế, có đến 70% cao su làm ra trực chỉ thị trường TQ.

Ngoài ra, còn đuờng cát, heo, vịt trứng gà cũng bị vơ vét từng đống lớn. Đặc biệt vịt là sản phẩm bị chiếu cố thật mặn mà, khiến giá mỗi con tăng từ 60.000 đồng lên 120.000 đồng, tức tăng gấp đôi, ngay cả vịt đang đẻ cũng bị lôi đầu ra bán cho các chàng luôn miệng nói “hảo, hảo lớ!”

Sau “Biển Đông dậy sóng” giờ đến “Đất bằng dậy sóng”, anh em đồng chí ta định chơi trò bóp bao tử dân VN, sau khi định giựt đảo ngoài khơi không xong”.

(Theo Trường Giang, nhật báo Calitoday).

*

Trong bài “Từ tượng Lê-nin đến phố Tàu”, tôi đã báo động về tình trạng “tiềm thực” của những “Phố Tàu” giữa những tỉnh thành của VN.

Vào thập niên 50, khi cưỡng chiếm Tây Tạng, nhà cầm quyền TC đã tung tiền mua lại tất cả những khu phố mặt tiền và đẩy dân Tây Tạng vào bên trong. Cùng với việc tiêu diệt các chùa chiền bằng cách biến thành những kho chứa hàng, đốt kinh Phật. TC còn bắt dân Tây Tạng phải mang theo người một quyển “Sách Hồng” của Mao Trạch Đông và phải trả lời nội dung trong sách khi được Công An TC xét hỏi. TC còn thâm độc là đồng hóa dân Tây Tạng bằng cách bắt tất cả phải lấy ba chữ Mao Trạch Đông để làm họ của mình như tên Chomba thì phải đổi thành Mao Chomba, Tenzi thì phải đổi thành Đông Tenzi…

Hiện nay, ở VN ngoài “độc kế” bóp bao tử dân VN qua kế hoạch tung tiền (in giả) ra thua mua với giá cao, TC còn dùng chính bọn tay sai người Việt xây cất NHỮNG PHỐ TÀU giữa lòng TỈNH VIỆT NAM như Đông Đô Đại Phố ở Bình Dương mà báo chí trong nuớc đã lên tiếng tố cáo trong thời gian vừa qua.

Vì ham lợi trước mắt, một số người Việt đã xây cất những hàng quán, dịch vụ phục vụ cho nhân công TC tại Ninh Bình, Củ Chi. Những nơi đây chắc chắn sẽ trở thành “những con ngựa thành Troie” khi chiến tranh xảy ra giữa VN và TC.

*

Như mọi người đều biết qua lịch sử và truyền thuyết thì lúc nào bọn giặc bành trướng phương Bắc cũng dòm ngó nước ta.

Theo một bài báo ở trong nước thì “Một lần tôi về thăm đền thơ vua Đinh, vua Lê ở (Ninh Bình) gặp một cụ già người địa phương. Cụ già nói ở đền thờ Vua có một bức hoành phi có ghi 4 chữ “Bắc môn tỏa thược”. Theo cụ già giải thích. Đức Vua dạy con cháu đời sau rằng: “Các cửa phía Bắc phải rào dậu cho cẩn thận”.

Cũng theo bài báo, nhà báo có đưa ra nhận xét của của một học giả: “Người VN ta dễ thích nghi với hoàn cảnh như con kỳ nhông dễ đổi màu”.

Bài báo cũng kể lại theo truyền thuyết thì “giữa trung tâm thành phố Ninh Bình có một dãy núi đá tên là núi Cánh Diều. Tương truyền rằng Cao Biền vì thấy đất Giao Chỉ có rất nhiều linh huyệt là nơi phát tiết nhân tài nên đã cưỡi diều bay sang. Từ trên lưng diều thấy chỗ nào có linh khí bốc lên là Cao Biền yểm huyệt đó nhằm làm cho nước Nam hết nhân tài.

Đến Ninh Bình linh khí núi sông tụ lại như một đạo kiếm khí chém gãy cánh diều khiến cho con diều rơi xuống thành ngọn núi mà ngày nay dân ta gọi là núi Cánh Diều”.

*

“Không khéo VN chúng ta đang là nhà của hàng trăm Trọng Thủy. Một Trọng Thuỷ mà An Dương Vương mất nước, một trăm Trọng Thủy thì chắc có ngày chúng ta không có mảnh đất để gọi Việt Nam”.

Kết luận bài viết “Trọng Thủy và thiếu minh bạch” của tác giả Bs Ngọc chắc chắn sẽ làm ray rứt những ai còn có trái tim VN.

Tiếc thay, lời báo động về thảm họa diệt vong này lại không làm thủng được 14 cái lỗ tai cây ở Bắc Bộ phủ!

Đau đớn thay cho dân tộc VN!



LÃO MÓC

MỘT BỊP! MỘT BỊP! LẠI MỘT BỊP!



Nếu bây giờ còn có ai nói về sự thể gọi là “nguy cơ mất nước” thì nhất định là sai. Tình trạng gọi là nguy cơ đã biến thành hiện thực có chứng minh rồi. Đất nước ta đã thực sự mất vào tay Tầu cộng. Đó là một sự thực hiển nhiên. Tuy rằng trên bình diện công pháp và đối với thế giới, VN vẫn là một quốc gia độc lập có chủ quyền, nhưng nhìn vào thực tại của tình hình đất nước, rõ ràng người VN đã mất nước vào tay người Tầu từ lâu.
Những thực tế chứng minh
1. Những đô thị Tầu mà người Việt gọi là khu phố Tầu mọc lên nhan nhản khắp nơi từ Bắc chí Nam. Theo một người biết rành chuyện trong nước nói ra, phố Tầu do người Tầu làm chủ, do quan chức Tầu cai trị. VGCS không có quyền sớ rớ tới. Họ trưng bảng hiệu Tầu, sống phong tục Tầu, nói tiếng Tầu, lập trường Tầu cho con em học, bán buôn đồ Tầu, chịu luật lệ Tầu chi phối. Nó khác với China Town ở San Francisco, vì China Town do chính quyền thành phố quản trị. Tóm lại, các khu phố Tầu thực sự là những nước Tầu thu gọn nằm trong lãnh thổ VN.
2. Những khu mỏ quặng, Những khu rừng thượng nguồn, những đồn điền cây công nghệ người Tầu sang chiếm cứ và khai thác. Công nhân là bộ đội Tầu cải trang. Khu vực khai thác, tuyệt đối người VN, kể cả bọn cầm quyền và công an không được héo lánh tới. Đây thực tế là những khu vực đóng quân của Tầu, quân số có nơi vượt cấp quân đoàn. Sách lược xâm thực này nhắm hai lợi ích vừa kinh tế, vừa quân sự. Phải kể đến nữa là 80% các công trình xây dựng trong nước do người Tầu trúng thầu với giá rẻ mạt. Hãng Tầu sử dụng công nhân Tầu. Từ kiến trúc sư vẽ đồ án cho đến người lau nhà, nấu bếp đều là Tầu, trong khi trí thức và công nhân VN thất nghiệp đầy đường.
3. Người Tầu ra vào VN tự do như đi trên đất Tầu không cần passort, không cần visa, công an phải chừa mặt không giám xét giấy tờ. Chúng muốn ở đâu và ở bao lâu, nhà nước VGCS không dám kiểm soát. Dân Tầu phạm pháp trên đất nước VN, luật pháp VN không được quyền xét xử. Thường dân Tầu say xỉn phá phách ngoài đường, chọc gái giữa đám đông, người dân địa phương khôn hồn thì đi trốn để tránh vạ lây. Nếu thưa kiện, công an sẽ đứng về phía bọn Tầu làm bậy.
4. Cách Tầu xâm lăng VN hữu hiệu nhất là tiêu diệt nền kinh tế VN. Hàng hóa Tầu đổ vào VN qua cửa khẩu không phải đóng thuế. Xài hàng Tầu rẻ hơn hàng sản xuất tại quốc nội rất nhiều. Các hãng xưởng VN đang chết dần chết mòn, hoặc sống thoi thóp và chật vật. Dân VN ngày nay xài hàng hóa Tầu, xem phim Tầu, tập tễnh phong hóa Tầu nên trở thành Tầu lúc nào mà không biết.
5. Các đường lối chính sách quốc gia đều học theo Tầu. Tầu làm trước, VN bắt chước làm theo sau. Mỗi khi có chuyện lớn, bọn lãnh đạo VGCS đều phải sang lãnh chỉ thị từ Bắc Kinh. Tổng bí thư đảng CSVN không hơn không kém là tên thái thú địa phương được thiên triều đặt lên để cai trị dân Việt.
Vân vân và vân vân. Như vậy thì chủ quyền quốc gia ở đâu mà không bảo là mất nước. Tình trạng Tầu hóa này trải qua chừng vài thế hệ nữa thì VN sẽ trở thành quận huyện của Tầu là chắc chắn. Hiện còn lại chuyện đôi khi xẩy ra như việc hải quân Tầu bắn giết ngư phủ VN, cắt cáp tầu thăm dò của VGCS v.v. bất quá chỉ đáng ví như những roi đòn quất vào mông đứa trẻ ngỗ nghịch không nghe lời dậy bảo. Hoặc, những tiếng nói đe dọa chiến tranh từ cửa miệng các quan chức Tầu coi như tiếng ông chủ rầy la đứa đầy tớ chểnh mảng công việc cho nó đi vào khuôn phép. Thế thôi. Theo ngu ý thì vào lúc này, không thể có chuyện nước Tầu xua quân xâm chiếm VN như hồi năm 1979 chúng dậy cho VN một bài học. Xét về các mặt lợi ích chính trị, quân sự, cũng như kinh tế, nước Tầu chẳng dại gì mà làm như vậy. Trước sau bề nào VN cũng phải nằm gọn trong tay rồi thì tội tình gì Tầu cộng phải nhọc công mà gây chiến tranh. Cách thôn tính hòa bình bằng sách lược chiến tranh không tiếng súng đã tỏ ra hữu hiệu không phải là thượng sách sao? Cho nên, điều mà nhiều người quan tâm vào lúc này, gọi nó là Biển Đông Dậy Sóng, chỉ là màn khói của bọn xâm lược lẫn lũ bán nước tung ra cho những nhu cầu chiến lược riêng của chúng mà thôi. Tầu muốn bành trướng chủ nghĩa Đại Hán, hơn nữa cần có cơm để nuôi một tỷ rưỡi dân, và cũng cần có đất để di dân. Hoa Kỳ cần con đường tự do đi lại trên biển và đầu tư. VGCS bán nước cần thu gom người dân về một mối cho dễ bề cai trị. Chúng muốn chạy tội bán nước trước nhân dân và lịch sử, và rất sợ bị trả thù nên cần phải dẹp tan sức chống đối của mọi thành phần mà chúng gọi là thế lực thù địch cả trong lẫn ngoài nước.
VGCS là một lũ Việt gian bán nước rành rành ra như thế, nhắm mắt cũng còn thấy, thế mà chúng lại luôn luôn thành công trong việc sử dụng sách lược khơi dậy lòng yêu nước của đồng bào để chống ngoại xâm bịp. Sách lược này mục đích là tiêu diệt những người yêu nước để chiếm độc quyền cai trị. Nói một cách chính chị chính em thì đây là ĐIỂM. Chống ngoại xâm chỉ là chiêu bài, hay là DIỆN. Sự thật trớ trêu nhưng rất hiển nhiên này cứ diễn đi diễn lại hoài mà hầu như đồng bào ta, kể cả những bậc đại trí thức cũng vẫn dễ dàng để cho VGCS lừa bịp.
Hồ Chí Minh gây chiến để tiêu diệt người yêu nước
Trong quá khứ sách lược gây chiến tranh chống xâm lược bịp của VGCS để tiêu diệt những đảng phái quốc gia và người yêu nước đã đem lại kết quả cho chúng ít nữa là hai lần.
Lần thứ nhất - Sau Đệ Nhị Thế Chíến, phong trào Dân Tộc Tự Quyết dâng lên cao tại hai lục địa Á Phi. Tất cả các nước thuộc địa lúc đó đều chọn giải pháp dành độc lập bằng cách tạm thời liên kết với “mẫu quốc” với một nền độc lập chưa hoàn chỉnh để tránh chiến tranh, xây dựng đất nước, và có thời gian kiện toàn thể chế ngõ hầu tiến tới một nền độc lập hoàn chỉnh về sau. Lấy thí dụ hai quốc gia gần gũi với VN là Philippines và Ấn Độ. Philippines được Mỹ trao trả độc lập ngày 4-7-1946, và Ấn Độ thoát ách thực dân Anh và tuyên bố độc lập ngày 15-8-1947. Những nước này không cần chủ nghĩa CS, cũng không cần chiến tranh, nhưng đã dành được độc lập một cách tương đối êm thắm, chẳng mấy tốn hao. Lý do là vì, một đàng chính các nước thực dân ý thức rằng chế độ thực dân đã đến lúc phải cáo chung rồi, ôm giữ mãi thuộc địa chỉ là ảo tưởng. Đàng khác, các dân tộc bị trị cũng nhận ra rằng đấu tranh dành độc lập bằng con đường thương nghị là tiết kiệm nhất và cũng hữu hiệu nhất.
Chỉ trừ có VN dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh thì không thế. Trong khi nạn đói năm 1945 tại miền Bắc chưa được khắc phục, thì Việt Minh phát động Tuần Lễ Vàng để vơ vét vàng trong dân chúng. Hồ dùng số vàng này dút lót cho bọn tướng của Tưởng Giới Thạch sang VN giải giới quân đội Nhật hầu ly gián Quốc Dân Đảng Trung Hoa với các đảng phái quốc gia VN. Đồng thời, Hồ mua chuộc tướng Tầu Tiêu Văn giúp thực hiện kế sách Chính Phủ Liên Hiệp (CPLH) của hắn. CPLH là một âm mưu rất thâm độc của Hồ Chí Minh. Sau khi chính phủ này ký Hiệp Ước Sơ Bộ ngày 6-3-1946 với Pháp. Hồ được rảnh tay đối phó với quân Tưởng và với Pháp, hắn lập tức ra lệnh cho Việt Minh truy quyét và tiêu diệt các đảng phái quốc gia và những thành phân bất phục tùng chúng. Các lãnh tụ VN Quốc Dân Đảng và Đại Việt như cụ Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam v.v. phải chạy sang Tầu để thoát thân. Hiệp Ước Sơ Bộ có điều khoản quan trọng là Pháp thừa nhận nền độc lập của VN trong Khối Liên Hiệp Pháp với một số hạn chế về nội trị và ngoại giao. Hiệp Ước này có chữ ký của Hồ Chí Minh, nhưng đến tháng 12 năm đó, Hồ xé bỏ bản Hiệp Ước, phản bội lại những điều đã ký kết với Sainteny và cụ Vũ Hồng Khanh, và quay ra chống Pháp.
Do tinh thần yêu nước của nhân dân ta rất cao, lại phải chịu đựng sự tủi nhục dưới ách thực dân Pháp trong gần một thế kỷ, chiêu bài chống Pháp Hồ Chí Minh tung ra hợp thời và rất tâm lý, đã dễ dàng lôi kéo được đa số quần chúng theo hắn, kể cả trí thức và thành phần tiểu tư sản thành thị. Chống Pháp 8 năm (1946-1954), với Hiệp Định Genève 1954, Hồ dành được một nửa phần giang sơn gấm vóc của Tổ Tiên và tròng lên đó một thứ gông cùm hà khắc và tàn ác hơn cùm gông của thực dân Pháp trước đó gấp trăm lần. Lịch sử ghi nhận, Tinh thần yêu nước chống ngoại xâm của nhân dân VN bị Hồ Chí Minh và đồng đảng của hắn lừa bịp và ăn cướp thành công lần thứ nhất.
Lần thứ hai - Ngay sau khi Hiệp Định Genève vừa ký kết, Hồ Chí Minh đã lập ngay kế hoạch cướp miền Nam bằng võ lực cũng lại với chiêu bài chống đế quốc xâm lược. Kẻ xâm lược lần này là Mỹ.
Bất cứ nhà viết sử vô tư và có lương tâm nào cũng phải nhìn nhận rằng trong giai đoạn nước VN bị phân chia thành hai miền Nam Bắc thì miền Nam có độc lập, tự do, dân chủ, xã hội trù phú, đời sống ấm no và thanh bình hơn miền Bắc gấp bội. Hồ và đồng đảng dù rất thèm muốn miền Nam nhưng không dám vô cớ ngang nhiên xua quân xâm chiếm vì sợ dư luận của thế gìới. Ngay cả Pháp (lúc đó rất hận Mỹ vì trận Điện Biên Phủ), Liên Sô và Trung cộng cũng không dám ngoảnh mặt đi cho Hồ làm chuyện đó, bởi vì những nước này đã ký tên trên tờ Hiệp Định Genève. Do đó Hồ buộc phải tạo ra lý do để hành động. Hồ biết Mỹ muốn đem quân đội vào miền Nam, nên vấn đề là làm sao tạo cơ hội cho Mỹ đạt được ý nguyện. Chỉ có khi nào Mỹ đem quân vào VN thì Hồ mới có lý do trương chiêu bài chống xâm lược để gây chiến với phe Quốc Gia mà thâu tóm miền Nam. Sự cản trở cho kế hoạch của Hồ là người lãnh đạo của miền Nam lúc đó là TT Ngô Đình Diệm tuyệt đối không chịu để cho Mỹ đổ quân. Để trừ đi được cái trở lực này, Hồ lôi kéo bọn trí thức bất tài nhưng ham quyền và dùng cán bộ nằm vùng là những nhà sư của nhóm Phật Giáo Ấn Quang giàn dựng ra cái gọi là chính quyền “đàn áp Phật Giáo” để giết TT Diệm. Mỹ hẳn biết nhiều nhà sư là đảng viên CS, nhưng vì là “đúng tủ” của Mỹ, nên rất hoan hỉ tích cực tham gia vào việc sát nhân này.
TT Diệm chết, Mỹ tự do đổ quân vào VN như chỗ không người vì bọn tướng lãnh lãnh đạo bất tài của miền Nam lúc đó. Mỹ đem quân vào VN có nghĩa là ban cho CS miền Bắc cái lý do để xua quân xâm chiếm miền Nam. Lại một cuộc chiến nữa bắt đầu do Hồ Chí Minh và đồng đảng gây ra. Ngày 22-10-1957, lần đầu tiên toán cố vấn viện trợ quân sự MAAG (Military Assistance Advisory Group) tại Saigon bị đặc công CS đánh bom làm bị thương 13 nhân viên. Nếu lấy thời điểm này làm khởi đầu cho cái gọi là cuộc chiến chống Mỹ cứu nước của Hồ Chí Minh và kết thúc vào ngày 30-4-1975, thì chiến tranh kéo dài suýt soát 17 năm. Cuộc chiến đã cướp đi khoảng 4 triệu sinh mạng người VN, gần 60 ngàn người ngoại quốc kể cả 58.220 quân nhân Hoa Kỳ. Mất mát về vật chất và tinh thần thì vô kể.
Tuy VGCS trương tấm bảng chống Mỹ, nhưng chúng thừa hiểu rằng nước Mỹ không phải là một đế quốc có tham vọng đất đai. Do đó, chống Mỹ chỉ là một chiêu bài bịp để vận động quần chúng. Mục tiêu của cuộc chiến là chiếm miền Nam và tiêu diệt những người VN yêu nước để CS độc quyền cai trị. Với chiêu bài chống Mỹ cứu nước, Hồ và đồng đảng lại lôi kéo thành công được nhân dân VN vào cái âm mưu lừa bịp một lần nữa. Tinh thần yêu nước ngây thơ của người dân VN lại bị cướp trắng. Nhân dân miền Bắc không hiểu và không biết phân biệt bị bịp đã đành, trí thức miền Nam, nhiều chính khách nữa, cũng sẵn sàng tự để cho mình bị lừa bịp mới là chuyện lạ không hiểu nổi.
Lịch sử đang tái diễn
Hiện nay, VGCS lại đang dở trò lừa bịp để ăn cướp lòng yêu nước của nhân dân VN một lần nữa qua chiêu bài chống xâm lược với những cuộc biểu tình phô trương lá cờ đỏ sao vàng. Quân xâm lược bây giờ là người anh em 16 chữ vàng ròng Trung cộng.
Luật pháp của VGCS cấm tụ họp không có phép từ 5 người trở lên. Vậy tại sao lại có những cuộc biểu tình hàng ngàn người chống Trung cộng tại nhiều nơi trong nước trong mấy tuần lễ vừa qua? Có phép hay không có phép? Thứ trưởng ngoại giao VGCS Hồ Xuân Sơn đi Tầu hội họp, tuyên bố rằng liên hệ giữa Trung Hoa và VN vẫn dựa trên phương châm 16 chữ vàng và tinh thần 4 tốt, tình hình vẫn tốt đẹp và ổn định, đảng và nhà nước VGCS vẫn giao hảo bình thường với Tầu. Thế mà tại sao dân VN xuống đường biểu tình chống Tầu lại được VGCS để yên? Có phải là vô lý không? Nhưng xin thưa cái đuôi chồn lòi ra rồi. Các cuộc biểu tình nhất định phải có phép mới có thể xẩy ra được. Chắc chắn như vậy bởi vì đây là VN xã hội chủ nghĩa chứ không phải Pháp, Mỹ, Maroc, hay nước nào khác. Câu hỏi đặt ra là VGCS để cho dân chúng biểu tình như vậy thì chúng có thật tâm chống Trung cộng không? Thú thật người viết hỏi chơi vậy thôi, chứ tin rằng ai nấy đã có câu trả lời chính xác rồi.
Ải Nam Quan đã mất vào tay Tầu. Thác Bản Dốc đã mất vào tay Tầu. Nhiều đất đai biên giới phía Bắc đã mất vào tay Tầu. Biển đã mất vào tay Tầu. Hoàng Sa, Trường Sa đã mất vào tay Tầu. Lại nữa, những chứng cớ xâm lược của Tầu trên lãnh thổ VN mà chúng tôi liệt kê ở trên, tất cả chứng minh rằng giang sơn gấm vóc của Tổ Tiên đã bị Tầu cướp đoạt, ít ra là từng phần và là những phần quan trọng. Còn nữa, khi hải quân Tầu bắn chìm tầu đánh cá của dân Việt trong hải phận VN, và giết ngư phủ VN, cắt giây cáp của tầu thăm dò của VN, VGCS cũng vẫn im thin thít, coi như chúng thừa nhận các hành động côn đồ của Trung cộng là chính đáng. Trước tình trạng Trung cộng xâm chiếm VN như thế, người ta không hề thấy đảng và nhà nước VGCS có phản ứng nào để chống trả. Trái lại chúng vẫn duy trì tình anh em môi hở răng lạnh với Tầu trên cơ sở phương châm 16 chữ vàng và tinh thần 4 tốt. Như vậy thì VGCS chống Trung cộng xâm lược ở chỗ nào? Theo tuyên bố của tên thứ trưởng ngoại giao Hồ Xuân Sơn sau các cuộc biểu tình mà chúng tôi vừa tường trình thì VGCS chống Tầu xâm lược ở chỗ nào?
Hơn nữa theo binh pháp thì chống ngoại xâm là phải chận đánh giặc ngay khi chúng còn ngoài cửa ngõ đất nước. Để cho giặc vô ở hẳn trong nước rồi mới biểu tình đuổi giặc mà gọi là chống xâm lược sao? Vài ngàn người biểu tình có đuổi được giặc không? Vậy nên phải kết luận là những cuộc biểu tình được VGCS cho phép chỉ là những màn trình diễn nhắm những mục tiêu khác chứ không phải là chống Trung cộng. Những cuộc biểu tình tuy do VGCS ngầm tổ chức, nhưng không thiếu sự có mặt của tuổi trẻ VN yêu nước. Đó là lý do chúng tôi nói tinh thần yêu nước của nhân dân VN đã bị VGCS ăn cướp. Xin rành mạch ở chỗ đó.
Vẫn như hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ trước đây, chống Trung cộng xâm lược hiện nay chỉ là diện, tiêu diệt những người VN yêu nước mới là điểm. Những sự kiện nhìn thấy bằng con mắt trong các cuộc biểu tình nói lên điều đó. Ở trong nước, chỉ có những người biểu tình tuần hành theo lá cờ máu, hô các khẩu hiệu của cán bộ trà trộn đi kèm, hát những bài ca ca tụng CS. Ai có biểu hiện khác tức thì bị khóa tay, bóp họng, trấn áp, đẩy lên xe cây. Những người này mới thực sụ tham gia biểu tình vì tinh thần chống xâm lược. Biểu tình rõ ràng đã trở thành cái bẫy để thu hút những người chống cộng xuất hiện. Tại hải ngoại, lá cờ máu xuất hiện tràn ngập trong các cuộc biểu tình ngụ ý là chế độ VGCS cũng quyết tâm chống Tầu, nhưng thực chất là để lấn át hầu đi đến việc xóa bỏ lá cờ Vàng 3 Sọc Đỏ của đồng bào tỵ nạn. Đó mới là mục đích chính và tối hậu của VGCS. Trò chơi này là sách lược lấn đất dành dân của VGCS. Nguyên tắc của trò chơi là lá cờ máu cắm ở nơi nào có người Việt cư ngụ, người Việt nơi đó là thần dân của chế độ. Cuộc chiến tranh hiện nay giữa hai phe người Việt không phải bằng súng đạn như xưa, mà là bằng lá cờ, nên có thể gọi là cuộc chiến của những lá cờ. Cắm được lá cờ máu trên các cộng đồng tỵ nạn là coi như kết thúc được công cuộc bình định từ sau ngày 30-4-1975. Nếu việc thành, người Việt Nam tỵ nạn sẽ được goị là Việt kiều. Mọi tầng lớp theo nghề nghiệp hoặc tuổi tác sẽ được đoàn ngũ hoá thành hội, thành đoàn để sinh hoạt. Các chi bộ và tổ đảng sẽ được thành lập để chỉ đạo các cộng đồng. Những người còn mang tư tưởng chống cộng sẽ phải rút vào cuộc sống của loài sò, ốc quanh quẩn trong các khe, hốc đá. Lúc đó VGCS kể như là đã toàn thắng. Chúng tha hồ ăn ngon, ngủ yên.
Từ trước tới nay, chưa bao giờ VGCS cắm được lá cờ máu lên giữa cộng đồng tỵ nạn. Nhưng sau cuộc biểu tình ở trong nước ngày 5-6 đến nay, việc này xem ra chúng đã khá thành công. Lá cờ máu bay thoải mái trên nhiều Website của người tỵ nạn, xuất hiện trong nhiều cuộc xuống đường trên đường phố nơi người tỵ nạn cư ngụ. Nếu truy nguyên nhân, thì lý do một phần là vì tinh thần chống cộng của người tỵ nạn đã hầu như cạn kiệt mất rồi. Một phần khác là do bọn trở cờ, bọn tay sai, và bè lũ hòa hợp hòa giải hỗ trợ. Không phải chúng hành động vô ý thức, mà có chủ ý. Chúng tự nguyện đứng vào hàng ngũ với VGCS để chống Trung cộng vì cho rằng VGCS diễn vở tuồng chống Trung cộng thật hay. Chủ trương của chúng, miễn là chống Trung cộng thì lá cờ nào cũng OK, dù là lá cờ máu, và lá cờ này đứng ra lãnh đạo công cuộc cũng tốt thôi. Chúng làm chính trị nên đã biết và biết rất rõ ràng, nhưng chúng không ke (care), lá cờ máu biểu tượng cho một chế độ từ bản chất là tay sai ngoại bang và bán nước. Vì thế lá cờ máu chính là biểu tượng của tinh thần bán nước. Một biểu tượng bán nước không thể đồng thời là yêu nước được. Bây giờ chúng suy tôn lá cờ bán nước lên làm minh chủ cho công cuộc chống xâm lược thì thật là thậm khôi hài và vô lý. Nhưng chúng không ke. Trong khi chúng biết rõ lá cờ Vàng là biểu tượng của tự do và những giá trị cao quí. Nó đã có thành tích hơn nửa thế kỷ chống CS miền Bắc xâm lược, và đã lập thành tích chống Tầu cộng chiếm đảo Hoàng Sa năm 1974. Những kẻ đó đã một thời nương thân dưới lá cờ này, nhưng chúng không quan tâm và cố tình quên. Công cuộc chống Đại Hán xâm lược của Dân Tộc VN đang là một thảm kịch và còn là một thảm họa.
Tóm tắt dòng suy nghĩ
Người viết tự nhận rằng cái tiêu đề của bài có vẻ tào lao nên có lẽ làm bạn đọc ngứa mắt. Vì thế nên sẽ không có kết luận nào cho cái sự tào lao của mình. Thay vào đó người viết xin có vài câu thơ con cóc để kết thúc. Thơ trái vần, chẳng niêm, cũng chẳng vận, xin quí bạn đọc đừng cười chê:
Một bịp! Một bịp! Lại một bịp!
Nhắn này lũ chó chuyên ăn kít.
Theo voi dễ còn bã mía ăn
Bám Hồ chỉ có mà hửi địt.
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

Bài Xem Nhiều