We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 15 July 2011

Tuyên ngôn của Nông dân TQ về vấn đề đòi lại ruộng đất

Nguyên tác của Lưu Hiểu Ba

(trích trong sách “Triết lý Con Heo”, bản Pháp văn do nhà xuất bản Gallimard ấn hành năm 2011: La Philosophie du porc)


Vào cuối năm 2007, tại Trung quốc nông dân nhiều địa phương đã phát động thành một phong trào đòi lại quyền sở hữu ruộng đất. Điển hình là các trường hợp sau đây:

1 – Ngày 9 tháng Mười Hai, 40,000 nông dân ở Đông Nam Cương và ở 72 làng xã thuộc thị trấn Phúc Âm thuôc tỉnh Hắc Long Giang đã công bố cho tòan quốc biết rằng họ dành lại quyền sử dụng đất đai của mình. Sự việc diễn tiến như sau : Ngày 28 tháng Mười Một, hội nghị tòan thể dân làng đã quyết định đòi lại ruộng đất đã bị chiếm cứ – Ngày 29 họ đã ra đo đạc lại các cánh đồng – Ngày 30 họ chuẩn bị việc cấp phát đất cho nông dân – Và ngày 3 tháng Mười Hai, việc phân chia ruộng đất đã chính thức khởi sự.

2 – Ngày 12 tháng Mười Hai, một cuộc tập hợp của 70,000 nông dân bị dời chỗ, trong 72 ngôi làng thuộc các huyện Đại Lý và Đông Hòan và thị trấn Hoa Âm trong khu vực Tam Môn Hiệp ở tỉnh Thiểm Tây, cũng đã công bố rộng rãi trên tòan quốc rằng : “ Chúng tôi, 70,000 nông dân của hai huyện và một thị trấn, ngày hôm nay đã cùng nhau quyết định đòi lại quyền sở hữu trên ruộng đất mà tại đó chúng tôi đã canh tác từ nhiều thế hệ nay. Chúng tôi sẽ tổ chức để trao lại cho nông dân cái quyền chiếm dụng vĩnh viễn trên diện tích bình quân mà họ sử dụng, và chấm dứt các hành vi chiếm đất do những cán bộ các cấp gây ra.”

3 – Ngày 15 tháng Mười Hai, trong làng Thịnh Trang, thị trấn Nghi Hưng thuộc tỉnh Giang Tô, 250 gia đình nông dân đã thông báo cho tòan quốc về : “Quyền sở hữu vĩnh viễn trên các thửa đất” và sự áp dụng nguyên tắc “ Người cư ngụ sở hữu căn nhà của mình”. Làng Thịnh Trang đã có trên 5,000 năm lịch sử và từ nhiều triều đại, qua nhiều thế hệ, mỗi gia đình đều biết rõ ràng các thửa đất cày cấy được và các núi có tre bao phủ thì thuộc về ai. Các mảnh đất này xưa kia thuộc về cha ông chúng tôi, bây giờ phải được trả lại cho chúng tôi, và trong tương lai sẽ được trao lại cho con cháu chúng tôi : Tất cả mọi thửa đất của làng Thịnh Quang là tài sản vĩnh viễn của từng gia đình, những mảnh đất canh tác được và những núi có tre bao phủ, và cả những ngôi nhà do tổ tiên để lại thì phải trả lại tất cả cho người dân trong làng, để cho họ canh tác và phát triển.”

Trong mấy năm gần đây, tại Trung quốc đã có sự thảo luận sôi nổi về vấn đề ruộng đất ở nông thôn. Nhưng tiếng nói của chính giới nông dân thì lại không hề được chú ý đến. Và các trường hợp được ghi ra trên đây chứng tỏ rõ rệt là người nông dân đã cất cao tiếng nói của mình để cho tòan thể quốc gia nghe được tiếng kêu từ sâu thẳm lòng đất. Những tuyên ngôn này bắt nguồn từ truyền thống lịch sử, dựa trên thực tế và công lý đã mở ra một lỗ hổng nhằm phá bỏ cái hệ thống phi lý về quyền sở hữu ruộng đất bị áp đặt từ thời kỳ Mao Trạch Đông đến bây giờ. Rõ ràng là người nông dân đã bắt đầu ý thức mạnh bạo dứt khóat về quyền tự chủ của mình, khi họ tuyên bố: “ Ruộng đất dưới chân chúng tôi không phải là tài sản của nhà nước, cũng không phải là tài sản của tập thể, đó là mảnh vườn của tổ tiên chúng tôi là những người đã sống trên đó từ nhiều thế hệ, đó là tài sản thuộc về những người nông dân chúng tôi”. Và, để bảo vệ chủ quyền của mình, họ đã không chịu quỳ gối để mà xin xỏ một ân huệ nào. Mà lúc này, họ đứng thẳng lên để xác định cái quyền sở hữu của mình: “ Chúng tôi là chủ nhân ông duy nhất của thửa đất dưới chân chúng tôi, và chúng tôi muốn trọn quyền chọn lựa cách thức chúng tôi sử dụng các đất đai ấy theo đúng sở thích của riêng chúng tôi.”

A – Đảng cộng sản đã tước đọat tòan thể tài sản của nông dân.

Lịch sử Trung quốc có những chu kỳ thịnh suy kế tiếp nhau, khi đất nước yên hàn, người nông dân vẫn khổ cực; mà khi nước lọan, thì nông dân cũng vẫn lầm than. Nhưng dù dưới chế độ phong kiến quân chủ có tàn bạo và nhũng lạm đến mấy đi nữa, thì cũng không có sự bóc lột và áp bức tột cùng như dưới chế độ cộng sản. Với chính sách tập thể hóa và hợp tác hóa nông nghiệp, không một mảnh đất nào mà còn thuộc quyền sở hữu của nông dân nữa. Và chính quyền cộng sản đã trở thành sở hữu chủ duy nhất của đất đai, họ tòan quyền thao túng trên số tài sản đồ sộ này. Một khi người nông dân bị lấy mất hết ruộng đất, thì họ trở thành nông nô bị ép buộc phải sinh sống trong các công xã.

Họ bị biến thành cái máy chuyền máu sang cho công cuộc kỹ nghệ hóa điên rồ của chủ tịch Mao. Cái thảm họa của chiến dịch “Bước Nhảy Vọt” đã gây cho nông dân sự nghèo túng cùng cực đến nỗi hàng chục triệu người phải chết đói, và nhiều nơi đã xảy ra nạn ăn thịt người.

B – Nông dân vẫn là thành phần bị thiệt thòi nhất của đất nước.

Sau khi Mao Trạch Đông qua đời, thì có sự thay đổi với hệ thống “hợp đồng khóan đất với các hộ gia đình nông dân”, để cho nông dân nhận ruộng đất mà canh tác và họ được thụ hưởng những hoa lợi trên khu đất đó. So với thời trước, thì đây là điều tiến bộ, mà có người gọi đó là “ cuộc cách mạng giải phóng người nông nô”. Nhưng về thực chất, đây mới chỉ là một thứ “giải phóng nửa vời”, vì người dân vẫn chưa có quyền sở hữu trọn vẹn trên thửa đất do mình khai thác. Các cán bộ của nhà nước vẫn còn hành xử quyền quản lý trên các đất đai đó, và họ đã cấu kết với giới kinh doanh để thâu mọi lợi ích do sự lên giá của mọi bất động sản được sử dụng cho mục đích thương mại và đô thị hóa.

Và trong một chế độ không có tự do báo chí, không có nền tư pháp độc lập, thì người nông dân không có tiếng nói, không được quyền thành lập những hiệp hội nông dân, mà họ chỉ có một cách duy nhất là viết đơn “thỉnh nguyện” (pétition) gửi lên chính quyền mà thôi. Nhưng vì các cán bộ họ bênh đỡ, bao che lẫn nhau, nên mọi khiếu nại của nông dân đều không được giải quyết thỏa đáng. Rút cục, người dân chỉ còn có một cách duy nhất để tranh đấu bằng những “phản kháng tập thể” (incidents collectifs). Cán bộ lại ra tay đàn áp tàn bạo.

Điển hình như vào ngày 6 tháng Mười Hai năm 2005, tại làng Đông Châu trên vịnh Hồng hải, thị trấn Sán Vĩ, tỉnh Quảng Đông, nhân cuộc tranh chấp về đất đai, chính quyền đã điều động hàng ngàn cảnh sát đến ném lựu đạn cay và xả súng bắn vào số trên 1,000 người dân biểu tình, khiến cho ít nhất là 3 người thiệt mạng và nhiều người bị bắt giữ.

C – Bị dồn vào thế cùng, nông dân phải tìm cách tự giải thóat lấy.

Như đã trình bày ở trên về ba trường hợp tập thể nông dân đã tự phát đứng lên công bố xác định về quyền sở hữu ruộng đất của mình. Họ phải làm như vậy, vì không còn phương cách nào khác nữa để có thể giải quyết được tình trạng bế tắc đã kéo dài quá lâu ở địa phương. Xin ghi thêm chi tiết về các vụ phản kháng tập thể “ngòai luồng” này:

1 – Tuyên cáo của 250 gia đình nông dân tại làng Thịnh Trang, thị trấn Nghi Hưng, tỉnh Giang Tô nhấn mạnh như sau:

“ Dưới danh nghĩa phát triển những tiện nghi công ích và xây dựng thiết bị công cộng cho tập thể, những nhóm thế lực do sự cấu kết của giới kinh doanh và cán bộ địa phương đã dùng sức mạnh để chiếm đọat đất đai của nông dân và xây cất trên đó những khách sạn, nhà hàng, vũ trường và những khu phố thương mại, tất cả chỉ vì lợi ích thương mại mà thôi. Vì lý do đó mà người nông dân đòi hỏi phải có sự giải thích : “ Những chuyện này có liên quan gì đến công chúng? Có liên hệ gì đến quyền lợi của nông dân chúng tôi?”

“Hôm nay, chúng tôi muốn đặt câu hỏi là: Đất nước này thuộc về ai? “Lợi ích công cộng” thuộc về ai? Tập thể thuộc về ai? Mỗi khi đất đai bị chiếm cứ, dân làng phản đối, ký kiến nghị, thì chủ tịch xã và chi bộ đảng lại nhân danh “tập thể” mà “đại diện” cho tòan thể nông dân bằng vũ lực… Cán bộ, cảnh sát, bọn mafia “liên kết với nhau để thi hành pháp luật”, bằng cách đánh đập, phá phách, cướp đọat phương tiện sinh sống của chúng tôi. Và bọn mafia tuyên bố công khai rằng họ ”nhân danh chính quyền để giải tỏa đất đai, các người phải tuân lệnh vô điều kiện. Kẻ nào chống lại việc làm này của họ, tức là chống lại nhà nước.” Rõ ràng đây y hệt như là tác phong của phường lũ cướp bóc ngày xưa vậy…”

2 – Những nông dân tại thị trấn Phúc Âm đã hiểu rõ những gì núp đàng sau bức màn che của “nhà nước” và của “tập thể”, và trong tuyên cáo, họ đã ghi ra thật rõ ràng như sau: “ Bởi vì từ lâu nay cái gọi là sở hữu tập thể đã làm mất hết ý nghĩa của quyền “Làm chủ trên đất đai” của người nông dân, và những viên chức cán bộ các cấp cùng với kẻ độc tài địa phương thị trấn Phúc Âm đã không ngừng nhân danh tập thể để chiếm đọat ruộng đất của nông dân và đem chia chác cho nhau. Họ đã ngang nhiên trở thành chủ nhân ông và nông dân thì biến thành người đi thuê mướn lại các thửa đất ấy. Vì thế mà nay chúng tôi đã đồng lòng quyết định là phải thay đổi cái lề lối chiếm dụng đất đai này, và thực sự áp dụng và bảo đảm cái vị thế làm chủ đất đai của các hộ gia đình và của các cá thể nông dân.”

3 – Tuyên ngôn của 70,000 nông dân trong vùng Tam Môn Hiệp cũng nhấn mạnh: “ Chúng tôi biết rằng bất kể luật pháp và chính sách của nhà nước quy định ra sao, thì việc kiểm sóat đất đai cũng rất khó khăn. Một khi quyền làm chủ ruộng đất trở lại vào tay của nông dân, thì những thế lực ham hố lợi lộc sẽ không còn dám chiếm đọat, bởi lẽ các đất đó không phải là thứ đất đai tập thể nào đó nữa, mà là thuộc về những con người cụ thể rõ ràng. Và vì đất này là nguồn lợi sinh sống cho họ, nên người nông dân sẽ quyết tâm bảo vệ tài sản này mỗi khi bị uy hiếp. Một khi lực lượng nông dân được huy động, thì chính quyên trút được gánh nặng trong việc bảo vệ đất đai. Đó chính là cách thức giải quyết tận gốc rễ cho vấn đề tại nông thôn, và người nông dân có thể trở thành ngang hàng bình đẳng với người dân thành phố và thụ hưởng những thành quả của công cuộc hiện đại hóa nữa.”

D – Một cuộc cách mạng còn vĩ đại hơn nữa.

Nếu ta coi việc nông dân xã Hiểu Cương, huyện Phong Dương , tỉnh An Huy cùng tự phát ký tên vào hợp đồng khóan đất với các hộ gia đình như là cuộc cách mạng thứ nhất trong quá trình giải phóng nông dân, thì bản tuyên cáo về quyền sở hữu về đất đai của nông dân tại ba địa phương nói trên là cuộc cách mạng thứ hai nhắm vào việc “tự giải phóng” (autolibération) của giới nông dân Trung quốc. Cuộc cách mạng thứ hai này còn vĩ đại và đi xa hơn cuộc cách mạng thứ nhất rất nhiều.

Những nông dân đã đưa ra bản tuyên ngôn này, thì họ có ý thức rất rõ ràng. Tiếng nói của họ không phải chỉ là tuyên cáo về ruộng đất của nông dân, đây còn là một tuyên ngôn về các quyền của tập thể giới nông dân Trung quốc nữa vậy./

Costa Mesa, trung tuần Tháng Bảy 2011

© Bản dịch tóm lược của Đòan Thanh Liêm.

Kích thước văn hóa trong việc giảng dạy ngôn ngữ

Mới đây, tôi vào kiểm tra một lớp tiếng Việt tại một đại học ở Melbourne. Hầu hết các sinh viên đều là người Úc. Các em học tiếng Việt đã được một học kỳ (ba tháng). Tôi hỏi một nữ sinh:

- Em tên gì?

Em ấy đáp:
- Tôi tên Stephanie.
- Em bao nhiêu tuổi?
- Tôi là 19 tuổi.
Tôi hỏi một em khác:
- Ba em tên gì?
Em ấy đáp:
- Tên ông ta là John.
- Bây giờ ba em sống ở đâu?
- Ông ta chết rồi.
Tôi lại hỏi một em khác nữa:
- Sáng nay em làm gì?
- Sáng nay em đã học môn Tâm lý học.
Vân vân.

Xin nói ngay, dù học tiếng Việt mới được ba tháng, cách phát âm của các em, nói chung, tuy không hoàn hảo, nhưng khá chính xác, ít nhất cũng đủ để người nghe có thể hiểu được những điều các em muốn truyền đạt. Trừ câu “Tôi là 19 tuổi” với chữ “là” thừa thãi, tất cả các câu đáp của các em đều đúng về ngữ pháp. Tuy vậy, từ lỗ tai của người Việt Nam, chúng ta vẫn thấy hầu hết các câu ấy đều có vấn đề. Một sinh viên năm thứ nhất nói chuyện với một giáo sư đã đứng tuổi mà xưng "tôi" là có vấn đề. Gọi ba mình là "ông ta" cũng có vấn đề: Nó hờ hững đến độ lạnh lẽo. Chữ “chết” dùng để chỉ người thân lại càng có vấn đề: Nó dửng dưng đến độ vô cảm. Ngoài ra, cũng giống chữ “là” trong câu "Tôi là 19 tuổi", chữ "đã" trong câu "Sáng nay tôi đã học môn Tâm lý học" hoàn toàn thừa. Và vì thừa nên cũng thành một vấn đề.

Nhân nói đến những "bất ổn" trong việc học tiếng Việt của người ngoại quốc (hoặc trẻ em Việt Nam sinh ra và lớn lên ở hải ngoại), tôi sực nhớ đến một câu chuyện tiếu lâm mới nghe được trong chuyến đi Sydney vừa rồi. Xin nói ngay: Như phần lớn các truyện tiếu lâm của người Việt, chuyện này hơi tục. Biết vậy, nhưng tôi cũng xin phép được kể vì, thứ nhất, tôi tin chắc trong số độc giả blog của tôi, không có ai là vị thành niên; thứ hai, tôi thấy khó tìm ra một câu chuyện nào khác tiêu biểu hơn cho vấn đề chúng ta đang bàn.

Chuyện kể một người phụ nữ Tây phương lấy chồng Việt Nam và về Việt Nam sinh sống trong một khu lao động. Chị cố học tiếng Việt để giao tiếp với người Việt Nam, trước hết là với hàng xóm. Một hôm, bị bệnh, chị đến một phòng khám ở thành phố. Người thư ký hỏi chị muốn gặp bác sĩ nào. Chị đáp:

- Cho tôi gặp bác sĩ khám l.
Người thư ký giật mình, nhưng ý nhị, anh nhắc khéo:
- Bác sĩ phụ khoa.
Chị người Tây ghi nhận bài học mới:
- Vâng, cho tôi gặp bác sĩ phụ khoa.
Khám xong; nghe bác sĩ dặn dò xong, chị người Tây cẩn thận hỏi:
- Như vậy, trong mấy ngày tới, tôi có đ. được không?
Bác sĩ cười, nhắc:
- Chị nên dùng chữ "giao hợp".
Chị người Tây cám ơn:
- Vâng, giao hợp.

Từ phòng khám ra ngoài đường, chị gặp một tên lái xe đi ẩu suýt đâm vào người chị. Chị la toáng lên. Tên thanh niên không những không xin lỗi mà còn cười hô hố. Tức quá, chị định phun ra cái câu chửi tục chị thường nghe chồng chị và hàng xóm người Việt của chị sử dụng. Tuy nhiên, nhớ lại hai bài học về ngôn ngữ mới toanh ở phòng khám vừa rồi, chị ứng dụng ngay. Và đây là câu chửi chị phun vào mặt tên thanh niên khả ố nọ:

- Giao hợp cái thằng mặt phụ khoa!

Câu chuyện ở trên hài hước vì người phụ nữ Tây phương mới học tiếng Việt ấy mắc lỗi đến hai lần: lần đầu, thay vì dùng từ thanh nhã, chị là dùng những chữ bị xem là thô tục; lần sau, thay vì nên dùng chữ thô tục để chửi thì chị lại dùng những chữ quá thanh nhã.

Cái sai của chị, như vậy, không nằm ở ngữ âm, từ vựng hay ngữ pháp mà là ở phong cách: Các từ chị dùng, tuy hoàn toàn chính xác, lại không hợp với ngữ cảnh. Chúng thành sai. Hơn nữa, sai một cách hài hước.

Xin thêm một ví dụ nữa: Trong các đoạn văn được xem là sai lầm đến ngô nghê của học sinh ở Việt Nam, tôi bắt gặp mấy câu này:

"Nhà em có nuôi một ông nội. Năm nay ông 70 tuổi. Ông nội em ăn rất khoẻ, lại còn biết trông nhà."

Đứng về phương diện ngữ pháp, mấy câu trên không hề sai. Nếu thay thế câu đầu tiên bằng câu "Nhà em có nuôi một con chó" hay "Nhà em có nuôi một người giúp việc" thì sao? Thì hoàn toàn đúng. Nhưng nếu viết "nhà em có nuôi một ông nội" thì lại có vấn đề. Vấn đề ấy nằm ở hai điểm: "nuôi" và "một". Bởi mỗi người chỉ có thể có một ông nội (ruột) nên số từ "một" đứng trước "ông nội" là thừa. Đó là cái sai về logic (cũng giống như câu cuối: "Ông nội em ăn rất khỏe, lại còn biết trông nhà"). Còn cái sai trong động từ "nuôi" thì rõ ràng thuộc phạm trù văn hóa.

Qua ba câu chuyện vừa kể, chúng ta thấy chuyện sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp có cái gì phức tạp hơn là những điều chúng ta vẫn thường nghĩ.

Lâu nay, nói chung, nghĩ đến chuyện dạy ngôn ngữ, kể cả tiếng Việt cho người ngoại quốc hoặc cho trẻ em Việt Nam sinh ra và lớn lên ở ngoại quốc, chúng ta thường nghĩ đến việc rèn luyện cho các em bốn kỹ năng chính: nghe, nói, đọc và viết. Chúng ta thường chỉ bận tâm dạy các em cách phát âm, cách viết chính tả, ý nghĩa của các từ và cuối cùng, một số nguyên tắc đặt câu. Chúng ta cứ tưởng am hiểu tất cả các yếu tố ấy, các em sẽ có thể sử dụng thành thạo tiếng Việt.

Sự thật không phải vậy.

Không hiếm người Việt Nam học tiếng Anh ở mức độ tương đối khá nhưng lại không thể giao tiếp với người bản xứ được chỉ vì một tật: gặp ai cũng hỏi tuổi tác, nghề nghiệp, lương hướng; hứng nữa thì hỏi chuyện tôn giáo và đảng phái, vốn là những điều cấm kỵ trong nghi thức giao tế của người Tây phương.

Ngược lại, cũng không hiếm người Tây phương khi học tiếng Việt cũng than thở rất nhiều điều, chẳng hạn, người Việt rất ít chào hỏi nhưng lại hay hỏi chuyện tuổi tác và gia đình. Họ kể, cứ nghe những câu hỏi như vậy, họ lại khựng lại. Có cảm tưởng như sự riêng tư của mình bị vi phạm. Từ đó, có ấn tượng là người Việt Nam thiếu lịch sự. Câu chuyện, bởi vậy, bị ngắc ngứ ngay tức khắc.

Trong cả hai trường hợp, vấn đề đều không thuộc phạm trù kỹ năng ngôn ngữ (linguistic skills) mà là ở năng lực giao tiếp liên văn hóa (intercultural communicative competence): người Việt thì không biết văn hóa Tây phương trong khi người Tây phương học tiếng Việt thì lại không biết văn hóa Việt Nam.

Những khuyết điểm như vậy không phải chỉ xuất hiện ở những người Việt Nam học tiếng Tây phương hay người Tây phương học tiếng Việt Nam mà là ở hầu như tất cả mọi người học ngôn ngữ thứ hai. Tuy nhiên chỉ một vài hai thập niên gần đây giới nghiên cứu ngôn ngữ học mới nhận thức được điều ấy. Từ nhận thức ấy, người ta phát hiện trong cách dạy ngôn ngữ thứ hai trên khắp thế giới có rất nhiều điều bất cập. Một trong những bất cập ấy, nói theo Joseph Lo Bianco, một nhà hoạch định chính sách ngôn ngữ nổi tiếng của Úc, là, trong các lớp ngôn ngữ, chúng ta chỉ tập trung vào các yếu tố bên trong ngôn ngữ với từ vựng và các nguyên tắc ngữ pháp, mà quên đi những yếu tố bên ngoài của ngôn ngữ, như xã hội và văn hóa, nhất là văn hóa (1). Sự sao nhãng ấy là một sai lầm bởi, như nhiều nhà ngôn ngữ học, từ Elinor Ochs đến Bambi Schieffelin và Lessard-Clouston, đã phân tích: ngay từ đầu văn hóa và ngôn ngữ đã gắn bó đến mức không thể tách lìa được. Theo Claire Kramsch, trong cuốn Context and Culture in Language Education (1993), bất cứ sự giao tiếp nào với người nói một ngôn ngữ khác mình cũng đều là một thao tác văn hóa (culture act). Học ngôn ngữ, do đó, thực chất là học văn hóa. Nếu chúng ta chỉ dạy ngôn ngữ mà không dạy văn hóa, chúng ta đang dạy những ký hiệu hoặc là vô nghĩa hoặc mơ hồ đến độ học sinh sẽ hiểu hoàn toàn sai. (2)

Đó là lý do tại sao gần đây khái niệm “dạy ngôn ngữ” (language teaching) thường được gọi là “dạy ngôn ngữ liên văn hóa” (intercultural language teaching), ở đó, khái niệm “khả năng giao tiếp’ (communicative competence) được soi chiếu dưới lăng kính liên văn hóa (intercultural) hoặc xuyên văn hóa (cross-cutlural): Giao tiếp không còn là một hành động sử dụng ngôn ngữ thuần túy mà biến thành một nỗ lực tiếp cận với cái khác (otherness).


Nguyễn Hưng Quốc

Chú thích:

  1. 1. Joseph Lo Bianco & Chantal Crozet (2003), Teaching Invisible Culture, Classroom Practice and Theory, Melbourne: Language Australia Ltd., tr. 26.
  2. 2. Xem thêm Teaching Language as Culture in the Foreign Language Classroom, luận án tiến sĩ của Kathleen J, Taylor đệ trình tại The University of Texas năm 2010. Đọc trên http://repositories.lib.utexas.edu/bitstream/handle/2152/ETD-UT-2010-08-1630/TAYLOR-DISSERTATION.pdf?sequence=1

TƯƠNG QUAN GIỮA NGƯỜI TÍN HỮU GIÁO DÂN VÀ HÀNG GIÁO PHẨM ( LG, 37)

Trong một số bài viết trước, chúng ta đã có dịp tìm hiểu căn tính và phận vụ của người tín hữu giáo dân, với bài đang viết, chúng ta thử cùng nhau nói đến phương diện năng động của người tín hữu giáo dân, tức là vị tri năng động của họ trong nội bộ Giáo Hội.

1 - Phục vụ tương trợ nhau trong bác ái.

Giáo Hội không phải là một thực thể bất động ( statistique), không phải là một thực thể với những ngăn nắp, với khuôn viên đóng kín, không thông thương gì với nhau.
Giáo Hội là cơ thể sống động, trong đó những thành phần khác nhau nên không tạo ra chia cách, đổ vỡ, gián đoạn nhau, nhưng là những thành phần khác nhau nhằm hỗ trợ, bổ túc nhau, giúp cho cơ thể hoạt động trôi chảy và tăng trưởng lên.
Mọi người đều có bổn phận đối với động tác sinh động nầy trong nội tại của Giáo Hội ( ad intra ), cũng như đối với động tác mà Giáo Hội hành xử ra bên ngoài ( ad extra ).
Một phần cơ thể thay vì cai trị, đè bẹp trên các phần kia, mỗi thành phần phải " phục vụ " tạo lợi ích cho phần kia và tạo lợi ích cho cả cơ thể.
Hiểu như vậy, chúng ta nên hiểu mỗi phần và mỗi thành phần tín hữu giáo dân không tác động và không phản ứng như là những yếu tố bất động, mà là những chủ thể có trí khôn và tự do, họ hoạt động do sáng kiến tự do của con người nhằm đem lại công ích.
Các phát biểu song ngữ gắt gao như " quyền năng - thuộc hạ ", " ban lệnh - tuân hành ", được Hiến Chế Lumen Gentium là dịu bớt đi bằng quan niệm bác ái, thành thực dấn thân và tương kính nhau trong động tác chung thực hiện ơn cứu độ. Hiến Chế đề cập
- đến" chủ chăn ",
- đến " tình yêu thương phụ tử ",
- " các mối tương quan gia đình giữa người tín hữu giáo dân và mục tử ",
để nói lên đặc tính cá biệt của các mối tương quan giữa những thành phần khác nhau trong Giáo Hội.

Giáo Hội không phải là một tổ chức xã hội trung gian, như bất cứ một tổ chức nào khác, mà là một gia đình.

Điều đó có nghĩa là mặc dầu các mối tương giao được đặt trên nền tảng công bằng và trên việc xác nhận khác biệt có thể thức cá biệt thấm đầy tình yêu thương.
Dĩ nhiên, chúng ta không nên rơi vào tình trạng thái độ phụ hệ ( paternalisme), còn tệ hơn cả thể thức phân chia quyền lực, dựa trên mối phân chia quyền và bổn phận, bất dị nể.
Tình yêu thương , nếu một cách nào đó xoá bỏ đi thái độ xem ai không phải mình là " kẻ khác " ( alterité), nền tảng của công bình, nhưng vẫn không quên rằng mỗi con người là một thực thể với phẩm giá của những con người có trí khôn ngoan và tự do. Bởi đó tình yêu thương kính trọng và làm phát huy phẩm giá của con người đó và các sáng kiến thoát xuất từ trí khôn ngoan và phẩm giá đó.
Tình yêu thương không xoá bỏ đi con người, trái lại chuyên tâm để làm cho con người đó càng trở nên thành triển nở hoàn toàn bản thân họ .
Bên dưới nền tảng của tình yêu luôn luôn hiện hữu lòng tin tưởng và kính trọng người mình yêu.

Trong Giáo Hội cũng vậy. Mỗi thành phần đều liên kết với thành phần khác, nhưng vẫn nhân biết địa vị và thẩm quyền của mỗi người. Thái độ phải có trong Giáo Hội không phải là thái độ " đồng chí bình đẳng, ngang hàng ", " cá mè một lứa ", mà là tình yêu thương, đức bác ái đích thực trợ lực và xây dựng cho nhau.

Bởi đó Hiến Chế Lumen Gentium
- một đàng nhấn mạnh:
* " người tín hữu giáo dân như tất cả các tín hữu khác, với lòng vâng phục Ki Tô hữu, sẵn sàng đón nhận những gì các Chủ Chăn, những người đại diện Chúa Ki Tô, thiết định với tư cách là những vị thầy và là những vị lãnh đạo trong Giáo Hội " ( LG, 37),
- thì đàng khác cũng cho biết:
* " các Vị Chủ Chăn hãy nhận biết và phát huy phẩm giá và trách nhiêm của người tín hữu giáo dân trong Giáo Hội " ( id.).
Trong Giáo Hội không có thành phần " ấu trỉ ", " thụ động ".
Tất cả đều phải biết sống với trách nhiệm và lương tâm người tín hữu Chúa Ki Tô của mình, được Chúa ban cho quyền năng khiến cho mình năng động và có trách nhiệm trong Giáo Hội.

2 - Hình ảnh người tín hữu giáo dân.

Chủ đề về các mối tương quan giữa người tín hữu giáo dân và các Vị Chủ Chăn không thể chỉ được đề cập từ một phía đơn thuần.
Dĩ nhiên có một phương thức mới hàm chứa việc phải thay đổi sâu đậm về tâm trạng đối với nhiều Vị Chủ Chăn quá quyền uy và quá " quan toà phán xét ".
Nhưng đồng thời cũng cần có một sự thay đổi sâu đậm về phía người tín hữu giáo dân.
Hiến Chế viết:

- " Các Vị Chủ Chăn hãy nhận biết và phát huy phẩm giá và trách nhiệm của người tín hữu giáo dân trong Giáo Hội " ( LG, n. 37).

Câu trích dẫn vừa kể cho thấy " các Vị Chủ Chăn " không những phải nhận biết thực tại, mà còn " phát huy ", làm cho thăng tiến, triển nở hơn phâm giá và trách nhiệm cho con cái mình.
Bởi lẽ không ít người tín hữu giáo dân ngay cả ngày nay vẫn không ý thức được phẩm giá của mình. Bởi đó Hiến Chế cảm thấy cần phải thúc đẩy những ai đại diện Chúa Ki Tô, cần làm sống động lên ý thức về phẩm giá và trách nhiệm đó. Nếu không, người tín hữu giáo dân trong tình trạng chưa được huấn luyện trưởng thành hiểu biết mình có được những khả năng đó, thì đó là điều nguy hiểm cho công tác truyền bá công trình cứu rổi giữa thế gian.
Rất tiếc hiện nay, ngay cả sau trên 40 năm Công Đồng đã kết thúc, diện mạo người tín hữu giáo dân có " phẩm giá và trách nhiệm trong Giáo Hội " như đề cập, chưa có được một số người đáng kể nhận biết, so với số còn lại. Cần phải còn nhiều năm nữa để Hàng Giáo Phẩm huấn dạy họ và làm cho họ ý thức.
Công sức của các Vị Chủ Chăn trong các thế kỷ trước đây chỉ nhằm đào tạo Hàng Giáo Phẩm; ngày nay đó là nhu cầu phải hướng về phía giáo dân. Và trong công việc vừa kể cần phải dùng chính những người tín hữu giáo dân có khả năng hơn:
- " Cần làm cho tất cả các tín hữu giáo dân - nói như Đức Hồng Y Caggiano - ý thức được, không những quyền mà cả bổn phận tông đồ nữa; điều đó đòi hỏi phải có một cuộc chuẩn bị, giáo huấn nghiêm chỉnh, mà trách nhiệm Hàng Giáo Phẩm phải đảm nhận và cả đối với những tín hữu giáo dân nữa " ( cfr. P. Agostino Favale S.D.B, La Costituzione dogmatica sulla Chiesa, II ed., Elle Di Ci, Torino 1965, p. 812).

Người tín hữu giáo dân phải được đào tạo về giáo lý.

Chúng ta nên nhớ lại lời của Đức Thánh Cha Gioan XIII đề cập đến vấn đề thiếu sót về việc huấn dạy giáo lý cho người tín hữu giáo dân, ngài nói như sau:
- " Việc rạn nứt nơi các tín hữu giữa niềm tin tôn giáo và động tác có nội dung trần thế là hậu quả, phần lớn, nếu không phải là tất cả, của việc thiếu sót huấn dạy vững chắc Ki Tô giáo. Thật vậy, rất thường xảy ra trong nhiều hoàn cảnh, không có mức quân bình giữa nền giáo dục khoa học và giáo dục tôn giáo: nền giáo dục khoa học vẫn tiếp tục trải rộng ra cho đến khi đạt được các đẳng cấp cao độ, trong khi đó thì nền giáo dục tôn giáo vẫn còn ở cấp bực tiểu học " ( P. Agostino Favale S.D.B, id.).

Chỉ có khi nào người tín hữu giáo dân hợp nhứt được vào khả năng trần thế của mình một nền giáo dục đầy đủ về giáo lý Ki Tô giáo, lúc đó họ mới có thể trở thành một tác động viên hữu hiệu cho ơn cứu độ cùng với Hàng Giáo Phẩm, đối ngoại cũng như đối nội của Giáo Hội.


3 - Cộng tác của người tín hữu giáo dân vào động tác của Hàng Giáo Phẩm.

Trong đoạn bản văn đang bàn của Hiến Chế Lumen Gentium ( LG, 37), Hiến Chế nhấn mạnh đến một phương diện cá biệt của sự cộng tác các tín hữu giáo dân với Hàng Giáo Phẩm, tức là nhấn mạnh về vấn đề khả năng người tín hữu giáo dân giúp cho các vị Chủ Chăn làm cho động tác của các vị trở thành thức thời và tác động chính xác hiện thực, là những vị " Huấn Dạy và Hướng Dẫn trong Giáo Hội " và giữa trần thế ( P. Agostino Lavale, id., 813).
Người tín hữu giáo dân có thể đem nhân chứng kinh nghiệm cuộc sống trần thế vào lãnh vực Giáo Hội. Việc cộng tác đó, người tín hữu giáo dân có quyền thực hiện nhờ vào địa vị " trong Giáo Hội " và " giữa trần thế ".của họ ( in Ecclesia et in Civitate ).

Đức Thánh Cha Phaolồ VI nhắc lại điều đó một cách minh bạch bằng những từ ngữ: việc chứng nhân trần thế trong lãnh vực đời sống công giáo gồm

- "... ở một câu hỏi mà Giáo Hội đặt ra đối với người giáo dân công giáo mình để biết đuợc về những gì người tín hữu công giáo có thể nói được đối với bao nhiêu vấn đề của cuộc sống trần thế, mà người tín hữu giáo dân công giáo biết rõ hơn giáo sĩ. Đúng vậy, anh em có thể là những tín hiệu viên thức tỉnh hơn hết, những thông tín viên chăm chỉ hơn hết, những chứng nhân đáng giá hơn hết, những nhà tư vấn khôn ngoan hơn hết, những vị luật sư có khả năng hơn hết, những cộng sự viên quảng đại hơn hết về bao nhiêu nhu cầu của thế giới chúng ta, về bao nhiêu có thể để làm cho trở nên tốt đẹp hơn, về bao nhiêu vấn đề mà đời sống trần thế của anh em cho anh em có một kinh nghiệm trực tiếp và một thẩm quyền không ai có thể chối cải được.
Ngườì ta có thể nói rằng từ mọi lãnh vực nghề nghiệp của anh em, anh em có thể báo cho Quyền Huấn Dạy và các chức vụ của Giáo Hội các vấn đề mới, rất đáng lưu ý và rất rộng rãi, mà không ai có thể giải đáp được bằng lần mò kinh nghiệm, theo các sách thủ bản củ, nhưng là những vấn đề phải được nhìn dưới ánh sáng mới của một nền giáo dục có hệ thống và khoa học, mà người giáo dân công giáo có thể cung cấp cho " ( P. Agostino Favale, op. cit., p. 813).

Như vậy, người tín hữu giáo dân trở thành tác động viên của sự cứu rổi, không những chỉ bằng động tác ra bên ngoài ( ad extra ) nhằm vào trần thế, mà còn bằng cả động tác hướng về nội bộ của Giáo Hội ( ad intra ), chính vào nội bộ của Hàng Giáo Phẩm để để đem đến ánh sáng, lời khuyên, trợ giúp các vị thấy được rõ hơn và làm cho các vị nhạy cảm hơn đối với thế giới trong đó mình đang sống. Giúp đỡ các vị đón nhận được sức sống năng động của xã hội trần thế với những thiếu sót, những khiếm khuyết, nhu cầu và những lo âu của nó. Nhưng đồng thời cũng nói cho các Vị thấy được những giá trị và những phương diện tích cực của xã hội trần thế.

Như vậy người tín hữu giáo dân giúp đỡ,
- tránh cho các giáo sĩ khỏi phải phán đoán thế giới ngày nay bằng những quan niệm và ấn bản được in ấn trong các sách củ
- và từ đó các Vị có thể có những ngôn từ và các cách hành xử không thích hợp với thế giới ngày nay, thiết thực, mà là bằng những gì đối với một thế giới được vẽ vời lên trong sách báo củ và dựa trên những định chuẩn không chính đáng.

Người tín hữu giáo dân có thể và phải trợ lực cho giáo sĩ, giúp cho hành đông của ngài không trở thành trống rỗng , vô bổ, không đem đến kết quả già, bởi vì ngài

- không đang nhằm vào thế giới hiện đại, hiện thực,
- mà là vào một thế giới mà từ lâu đã không còn hiện hữu nữa, nếu không phải đó chỉ là những công thức và thực tại lịch sử hiện nay đã lỗi thời và không còn nữa:
- " Bằng những mối liên hệ gia đình giữa tín hữu giáo dân và các Vị Chủ Chăn, chúng ta có thể chờ đợi được nhiều lợi ích cho Giáo Hội: thật vậy, với phương thức đó người tín hữu giáo dân cảm nhận được tăng cường nơi mình ý nghĩa trách nhiệm của chính mình, khiến cho họ hăng hái lên và năng lực của họ được hiệp nhứt dễ dàng hơn với động tác của các Vị Chủ Chăn. Và các Vị, được kinh nghiệm của giáo dân trợ lực, có thể phán đoán một cách rõ ràng hơn và thích hợp hơn đối với những gì thuộc lãnh vực thiêng liêng cũng như trần thế. Và như vậy, cả Giáo Hội được trợ lực bởi mọi thành phần của mình, thực hiên hữu hiệu hơn sứ mạng của mình cho đời sống thế giới " ( LG, 37).

Như vậy,

- đức bác ái, đức công chính,
- sự cảm nhận được những giới hạn của mình và những hậu quả của những giới hạn đó đưa đến,
- lòng khôn ngoan,
- sức mạnh cương quyết
- và tính chất thành thực phải là nền tảng động tác của tất cả các tín hữu Chúa Ki Tô, mục tử cũng như đoàn chiên.
Và cũng từ đó
- một sáng kiến của người tín hữu giáo dân tách rời khỏi cội nguồn của động tác các Vị Chủ Chăn
- hay ngay cả chống đối lại các ngài,
cũng đều nguy hiểm như thái độ đóng kín nơi mình của Hàng Giáo Phẩm.

Cần phải có sự trưởng thành nhân tính và Ki Tô giáo của Hàng Giáo Phẩm cũng như của tín hữu giáo dân..

Nếu không, thì thật là một sự đổ vỡ, chống đối thay vì liên đới hỗ tương ( solidariéte ) và phụ túc bảo trợ ( subsidiaireté ) của các thành phần khác nhau trong Cộng Đồng Dân Chúa, hai nguyên tắc mà Huấn Dụ Xã Hội của Giáo Hội thường nhắc đến.

NGUYỄN HỌC TẬP

VGCS : Bí thư xã bị tố dùng bằng của người chết

Giới thiệu và chia xe
"Thượng bất chánh, hạ tắc loạn"- Từ tên tổng bí thư đảng, bí thư thành ủy, bí thư tỉnh ủy đều xài bẳng giả, bằng dỏm, bằng thuê, mượn. Cả chế độ, cả đảng, cả nước VGCS đều muốn tất cả đảng viên là trí thức XHCN, nên mới ra cớ sự. Họ không biết là Mao Trạch Đông đã khẳng định:" Trí thức-XHCN- không bằng cục phân." Thật không gì nhục, dơ bẩn xú uế bẳng bọn lãnh đạo trí thức giòi bọ, ruồi nhặng VGCS Hà nội.
DTK

Bí thư xã bị tố dùng bằng của người chết để thăng tiến

(VTC News) - Điu đáng nói anh Quang mt năm 2001, đến năm 2010 vn có đơn và ch ký gi S GD-ĐT xin cp li bng theo yêu cu… mt cách kỳ quái.

Những ngày qua, dư luận tại thôn Cổ Lão, xã Hương Toàn, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế xôn xao bàn luận thông tin ông Trương Vân Dưng - Bí thư xã đã sử dụng bằng tốt nghiệp THPT giả.

Sự thật được lãnh đạo huyện Hương Trà xác nhận, ông Dưng đã lén lút sửa tên, ngày sinh trong bằng tốt nghiệp của người khác để làm bằng của mình. Ông Dưng qua mặt được tất cả những khâu kiểm duyệt trong quá trình làm công tác. Từ khi có bằng THPT dỏm, ông Dưng tham gia học lớp Trung cấp chính trị, được dự lớp đào tại công an xã do ngành công an tổ chức, và hiện giữ chức vụ Bí thư xã Hương Toàn.

Chuyện lạ: Người đã chết đòi cấp lại bằng


Để tìm hiểu sự việc, chúng tôi đã gặp anh Phạm Hữu Thuận (SN 1984, trú tại Cổ Lão), bằng THPT của anh bỗng dưng bị ông Dưng “xài chùa” trái phép. Sự việc được phát giác vào đầu tháng 7/2011, khi huyện Hương Trà có văn bản đề nghị anh Thuận mang bản chính bằng tốt nghiệp lên đối chiếu.

Bí thư xã bị tố dùng bằng của người chết để thăng tiến

Anh Thuận cho biết rất bất ngờ khi bằng tốt nghiệp của mình bị người khác giả mạo

Tường trình vụ việc, anh Thuận cho hay, vào năm 2005, trong lúc làm hồ sơ xin việc, anh lên UBND xã công chứng giấy tờ, bằng tốt nghiệp và có thể ông Dưng lấy bằng của anh đi giả mạo tên, tuổi ngày tháng năm sinh từ đây. Về việc này, ông Dưng không trao đổi với anh Thuận.

Không chỉ một trường hợp của anh Thuận, ông Trương Vân Dưng cũng bị tố 'xài chùa' một bằng THPT của người chết. Cụ thể, khi anh Hồ Công Quang (trú tại thôn Giáp Kiềng) mất, ông Dưng liền liên lạc với người nhà anh Quang để "mượn" bằng của anh, nhưng Hồ Công Nam (ba anh Quang) không biết mục đích để làm gì.

Vụ việc được chị Hồ Thị Kim Chi tường thuật như sau: Trong lúc tìm giấy tờ chị phát hiện bằng tốt nghiệp của anh trai bị mất. Hỏi ra thì ông Nam nói rằng cho anh Hùng (cậu của Chi) mượn. Muốn lấy lại bằng của anh, chị Chi sang nhà ông Hùng đòi lại. Tại đây, ông Hùng nói với chị Chi rằng bằng của anh Quang đã bị mất.

Đang bất bình, gia đình chị Chi lại nhận được đơn xin cấp lại bằng tốt nghiệp THPT của anh Quang (người đã chết). Sự thể lạ kỳ, chị Chi trực tiếp lên Sở GD-ĐT Thừa Thiên Huế tìm hiểu thông tin.

Quá trình thẩm định, Sở GD-ĐT Thừa Thiên Huế cho biết, anh Hồ Công Quang có yêu cầu xin cấp lại bằng tốt nghiệp bản sao lần 2. Cán bộ Sở cũng cung cấp cho chị Chi hồ sơ toàn bộ những yêu cầu mà anh Quang xin cấp lại bằng. Điều đáng nói anh Quang mất năm 2001, đến năm 2010 vẫn có đơn và chữ ký xin cấp lại bằng theo yêu cầu một cách kỳ quái.

Ngày 4/7, Thanh tra Đảng ủy huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế đã chính thức về nhà ông Nam làm việc về thông tin ông Dưng sử dụng bằng cấp giả mạo. Tại nhà riêng, chị Chi đã cung cấp những thông tin cho phía cơ quan chức năng, sau đó có ký nhận vào tờ cam kết.

Mặc dù “theo kiện” đã lâu song gia đình chị Chi vẫn chưa nhận được bản gốc bằng tốt nghiệp THPT của anh Quang. Nói về việc này, chị Chi cho hay, việc lấy lại bằng tốt nghiệp của anh Quang mục đích để thờ tự.

Dùng bằng giả để học lớp Trung cấp Chính trị

Ông Lê Đức Dân, Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Đảng ủy huyện Hương Trà xác nhận thông tin ông Dưng sử dụng bằng giả là đúng. Ông Dân cho biết thêm, hiện cơ quan chức năng đang vào cuộc tích cực thẩm tra, xác minh làm rõ vụ việc.

Trước đó, trong các phiên họp, ông Dưng cũng đã thừa nhận hành vi dùng bằng người khác rồi sửa lại nhằm hợp thức hóa bằng cấp của mình để thăng tiến trong công việc.

Ông Dưng giải trình như sau, ông lấy bằng tốt nghiệp THPT của người khác. Sau đó, bằng thủ thuật vi tính, ông tiến hành thay tên đổi họ, dán ảnh vào thành bằng của mình. Ông Dưng thừa nhận, việc làm bằng giả được ông thực hiện năm 2005,tuy nhiên đến năm 2007 ông mới có cơ hội sử dụng bằng giả này.

Theo quy định, ông Dưng có bằng THPT mới đủ điều kiện tham dự học lớp Trung cấp Chính trị. Trong thời gian công tác tại xã, ông Dưng cũng từng tham gia lớp học quản lý trật tự xã hội do ngành công an tổ chức.

Vừa qua, sau khi sự việc dần vỡ lở, ông Dưng đã đăng ký thi THPT và đã tốt nghiệp sau khi có 2 bằng giả từ trước đó. Vụ việc hiện vẫn được cơ quan chức năng huyện Hương Trà điều tra, làm rõ.

Bảo Khánh - Duy Minh


http://vtc.vn/2-293431/xa-hoi/bi-thu-xa-bi-to-dung-bang-cua-nguoi-chet-de-thang-tien.htm

Bài Xem Nhiều