We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 21 July 2011

Thư gửi những Người Việt Nam Yêu Nước


Thưa các Bác, các anh chị, các bạn.

Tôi theo dõi những cuộc xuống đường bày tỏ lòng yêu nước từ ngày 5/6 đến nay với nỗi lòng hồi hộp, lo âu và kính trọng. Hồi hộp khi đọc các lời kêu gọi của các bạn trẻ: sẽ có bao nhiêu người tham gia? Hà Nội, Sài Gòn? Còn Đà Nẵng, Hải Phòng, Vinh và các thành phố khác ra sao?

Lo âu: vì các lực lượng an ninh “chỉ biết còn đảng, còn mình” đã bị lưu manh hóa, côn đồ hóa, chắc chắn sẽ đàn áp. Bao nhiêu người sẽ bị bắt, bị đánh đập, bị tù đày?

Kính trọng: Những con người đã vượt qua nỗi sợ, dũng cảm xuống đường để chặn bàn tay của bọn cướp nước và bán nước. Kính trọng các bậc trưởng lão, các bậc đàn anh trí thức thực thụ như bác Hoàng Tụy, bác Nguyễn Trọng Vĩnh, bác Nguyễn Quang A, bác Phạm Toàn, bác Huệ Chi, bác Phạm Duy Hiển,v.v... Kính trọng các anh chị văn nghệ sỹ; Kính trọng các bác xích lô, xe ôm; kính trọng các bạn thanh niên, sinh viên, kính trọng các cháu nhỏ năm bảy tuổi, mồ hôi nhễ nhại vẫn theo mẹ, theo cha hiên ngang cầm biểu ngữ trên đường phố. Tuy nhỏ tuổi, nhưng các cháu được kính trọng hơn nhiều, hơn nhiều so với những người tuy tuổi tác đáng bậc ông nội, ông ngoại các cháu, bằng cấp cũng đầy mình, nào là giáo sư, tiến sỹ, nào là đại tướng, trung tướng, mũ cao áo dài, chức này tước nọ đã cam tâm quỳ gối trước kẻ thù, dâng đất, dâng biển cho giặc, nhưng lại ác độc với người dân, cướp bóc, đàn áp dân lành.

Chủ nhật nọ nối tiếp theo chủ nhật kia, càng ngày càng thêm nhiều Nguyễn Tiến Nam, Phan Nguyên, Nguyễn Văn Phương,v.v. Khi có người bị bắt, những người biểu tình đã bao vây đồn công an, buộc họ phải thả người; Khi bị lôi lên xe buýt, chở đến nơi xa để khủng bố tinh thần, đã yêu cầu công an phải chở mình về địa điểm bị bắt giữ, lợi dụng quãng đường đi bộ tiếp tục biểu tình.

Hai năm trước, Phạm Thanh Nghiên trưng biểu ngữ "Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam" ngay trong sân nhà mình, bị nhà cầm quyền tuyên án 4 năm tù. Đầu năm ngoái, giữa những đêm trước tết, Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Đoàn Huy Chương cùng những anh chị em rải truyền đơn kêu gọi lòng yêu nước, bảo vệ vẹn toàn lãnh thổ, bị nhà cầm quyền truy bắt, đánh đập tàn nhẫn và tuyên án Đỗ thị Minh Hạnh, Đoàn Huy Chương 7 năm tù, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng 9 năm tù. Cách đây không lâu, các bạn trẻ khắp cả nước cũng chỉ dám lén lút trong đêm, dán và rải biểu ngữ "HS-TS-VN".

Nhưng, những chủ nhật vừa qua, giữa "thanh thiên, bạch nhật", tại hai thành phố Hà Nội và Sài Gòn đã có hàng ngàn lượt người xuống đường, với nhiều loại biểu ngữ được dương lên, dù trời nắng nóng, dù dùi cui, nhà tù hăm dọa, từng đoàn người vẫn đi, vẫn hiên ngang với tiếng hô "đả đảo…", tiếng kèn, tiếng hát hào hùng vẫn rền vang giữa phố phường. Cuộc tranh đấu bảo vệ lãnh thổ, vì tự do đã tiến được một bước dài. Dân tộc Việt Nam chắc chắn sẽ trường tồn.

Tuy nhiên, những cuộc xuống đường về sau, số lượng người tham gia không nhiều như chúng ta mong đợi. Trừ các Bác, các anh chị, các bạn kiên cường, tham gia từ đầu đến cuối, phần đông vẫn đang chờ thời.

Chờ thời, phần lớn là những bạn sinh viên hoặc bị các "ông thầy xã hội chủ nghĩa" khống chế bằng những lời đe dọa đuổi học hoặc đang mơ ước sau khi ra trường sẽ tìm được việc làm ổn định, "dính vào chính trị" thì sẽ gặp khó khăn;

Chờ thời, phần lớn là những trí thức, những công chức nhà nước đang ăn theo chế độ, dù lương bổng của họ chỉ là một phần bố thí nhỏ nhoi trong gia tài của đất nước, từ tiền thuế của dân, tiền ăn cướp của dân, tiền khai thác tài nguyên do bọn quan tham chiếm dụng. Họ thừa biết, nếu đất nước vào tay giặc, thì chỗ dung thân còn khó huống gì việc làm hay bổng lộc. Họ biết, nhưng họ muốn người khác đấu tranh thay họ, vào tù thay họ, hy sinh thay họ. Họ chỉ xuống đường khi thắng lợi đã cận kề và họ sẽ là những người đả đảo cộng sản hăng nhất, đòi treo cổ cộng sản hăng nhất, lớn tiếng nhất ca ngợi chế độ dân chủ và nhanh nhất trong việc lập các đảng chính trị với những cái tên và cương lĩnh rất mỹ miều nhằm tranh cử.

Để lực lượng xuống đường đông đảo, các anh chị, các bạn cần chú ý đến một lực lượng hùng hậu là gần 10 triệu công nhân đang bị bóc lột tệ hại và đối xử bất công trong các nhà máy, xí nghiệp đặc biệt là các công ty tư nhân với chủ là người nước ngoài. Họ bị một cổ nhiều tròng: bị chủ bóc lột, tìm mọi cách quỵt lương, ăn ở và sinh hoạt trong những khu nhà ổ chuột, bẩn thỉu; bị nhà nước ăn cướp vô hình bằng lạm phát,bằng tăng giá thực phẩm, cúp điện, cúp nước vô tội vạ; bị công an và chính quyền địa phương đồng lõa với giới chủ đàn áp,đe dọa, bắt bớ khi họ phản đối giới chủ, đòi hỏi quyền lợi chính đáng.

Nhưng, khi đã bị dồn đến bước đường cùng, họ buộc phải tự vệ để dành quyền sống.

Đình công là phương tiện tranh đấu bất khả xâm phạm của công nhân.

Từ năm 1995 đến nay, trên khắp cả nước Việt Nam đã có gần 3000 cuộc đình công của công nhân, năm 2005: 356 vụ; 2006: 387 vụ; 2007:541 vụ; 2008: 762 vụ; 2009:216 vụ; 2010:385 vụ; 6 tháng đầu năm 2011 đã có 336 vụ. Tất cả các cuộc đình công đều do công nhân tự tổ chức, nhiều cuộc đình công có trên 10 ngàn người tham gia, đặc biệt là cuộc đình công ngày 5 tháng 3 năm 2010 tại công ty Pouchen tại xã Hóa An, TP Biên Hòa, Đồng Nai. Trên 10 ngàn công nhân đã đồng loạt xuống đường, yêu cầu giới chủ tăng lương, cải thiện điều kiện làm việc, không quỵt lương công nhân. Chính quyền địa phương và lực lượng cảnh sát thay vì ủng hộ những đòi hỏi chính đáng của công nhân thì lại đàn áp đe dọa cuộc đình công. Khi cảnh sát bắt đi một công nhân mà họ cho là người tổ chức, hàng ngàn người đã bao vây cảnh sát, bắt buộc phải thả người bị bắt, (tình huống giống như công an Tràng Tiền bắt bạn Nguyễn Tiến Nam), trước áp lực của đám đông, anh công nhân được thả và lập tức băng rôn "Công nhân đại đoàn kết” được dương lên. Đã có nhiều cuộc đình công diễn ra như vậy. Phần lớn yêu sách của họ được đáp ứng, hay ít nhất giới chủ phải gặp gỡ "Ban đại diện công nhân” để bàn bạc và thỏa hiệp.

Mới đây thôi, từ 21 đến 28 tháng 6 năm 2011, tại nhà máy Pou Yuen của Đài Loan ở Sàigòn đã có một cuộc đình công lớn, lúc cao điểm lên tới toàn bộ 90 ngàn công nhân, để đòi tăng lương. Theo báo chí ở Đài Loan, có 20 công nhân lãnh đạo đình công bị bắt.

Giai cấp công nhân đã vượt qua nỗi sợ, khi cuộc sống của họ bị đe dọa.

Đừng tưởng rằng những cuộc đình công đó do Công đoàn tổ chức. Không, hoàn toàn không. Công đoàn là cánh tay nối dài, là công cụ của đảng cộng sản, được thành lập nhằm thực hiện đường lối, chủ trương của đảng CS chứ không phải nhằm bảo vệ quyền lợi của công nhân. Chủ tịch Tổng Liên Đoàn Lao Động VN, ông Đăng Ngọc Tùng là ủy viên trung ương đảng CS, lãnh đạo công đoàn các cấp cũng là cán bộ đảng CS. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ban hành Nghị định cấm đình công, chắc chắn ông Đặng Ngọc Tùng không dám trái lệnh. Những cuộc đình công đó do công nhân tự tổ chức và hàng ngàn người, hàng chục ngàn người đã đồng lòng vì quyền lợi chung, nghe theo Ban đại diện, đình công trong trật tự và không bạo động. Nếu không có khả năng tổ chức, nếu không có sức thuyết phục trong lời nói và việc làm thì không thể quy tụ được hàng chục ngàn người tham gia. Nhiều cuộc đình công đã bị đàn áp, máu của công nhân cũng đã đổ, nhưng tinh thần đoàn kết của công nhân đã được nhân lên.

Đáng tiếc rằng, anh chị em công nhân đã tranh đấu đơn độc, không được sự chú ý quan tâm của các thành phần xã hội khác.

Giờ đây, nguy cơ mất nước đã cận kề, mai đây nếu giang sơn rơi vào tay giặc, họ lại bị thêm một tầng áp bức, chắc chắn tệ hại hơn nhiều so với những gì họ phải chịu đựng hiện nay.

Họ cũng là công dân Việt Nam, họ cũng có quyền biết về tình hình đất nước, họ cũng có quyền yêu nước và quyền xuống đường cùng những công dân khác biểu hiện lòng yêu nước. Nhưng, những thông tin về nguy cơ mất nước không đến được với họ, vì họ phải làm việc cật lực trong nhà máy với 10 đến 15 tiếng một ngày, họ không có điều kiện tiếp cận Internet để biết được thông tin.Trên 700 tờ báo nhà nước, đài truyền hình nhà nước đã đánh lừa họ về mọi mặt, cả về sự an toàn và tương lai nước Việt.

Chúng ta, những người Việt yêu nước cần chú ý đến họ hơn, mang đến họ những tin tức về nguy cơ mất nước, động viên, giúp đỡ họ khi miếng cơm của họ bị giới chủ cướp đi. Họ sẽ được khích lệ rất nhiều, nếu những cuộc đình công của họ được cả xã hội chú ý. Họ sẽ rất sung sướng nếu khi đình công tranh đấu vì quyền lợi chính đáng, họ nhận được sự đồng tình, một chai nước khoáng, một lời động viên và chắc chắn họ sẽ kiên trì đến cùng, giới chủ bắt buộc phải trả lại sự công bằng cho họ.

Khắp đất nước ta, chỗ nào điều kiện sống và làm việc của công nhân cũng khốn khổ như nhau: Vĩnh Phú, Hải Phòng, Hà Nội, Nghệ An, Đà Nẵng, Cần Thơ, Bình Dương, Sài Gòn… và tinh thần tranh đấu của họ cũng đã được thử thách qua các cuộc đình công.

Hãy đến với công nhân bằng những tờ truyền đơn ngắn gọn, dễ hiểu. Công nhân làm việc tập trung, ăn ở tập trung, tiếp xúc với họ không khó. Khi họ đã hiểu được nguy cơ mất nước, chắc chắn tình yêu Tổ quốc của họ cũng không kém chúng ta. Ngày chủ nhật, chỉ cần công nhân một vài nhà máy xuống đường, lực lượng người yêu nước đã có cả chục ngàn người. Dòng thác đó tràn xuống sẽ cuốn phăng mọi cản trở.

Người Việt yêu nước khắp thế giới, đêm ngày hướng về Tổ quốc, Cảm phục những người con của Mẹ Việt Nam đã vượt qua nỗi sợ, hiên ngang trước bạo quyền, quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh. Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết sẽ mang lại tự do.

Warszawa, 19/07/2011

Trần Ngoc Thành

Nguồn : Dân Làm Báo

AI LÀ MẸ CỦA NÔNG ĐỨC MẠNH ?






Khi Nông Đức Mạnh(NĐM) được chọn làm Tổng Bí Thư Ban Chấp hành Trung Ương Đảng CSVN, nhiều lời bàn tán nổi lên nhưng chỉ qui vào thân thế hơn là sự nghiệp của ông ta. Theo đài Á Châu Tự Do (RFA) thì tại một nước mà tự do báo chí không có để tìm kiếm sự thật thì những lời xì xầm đồn đại lan truyền trong dân chúng lâu dần sẽ đương nhiên trở thành được coi như có giá trị. Do đó khi viết về đại hội đại biểu toàn quốc 4/2001 báo chí ngoại quốc đều nhắc đến những lời đồn đãi rằng NĐM là con rơi của Hồ Chí Minh (HCM) cha đẻ của cuộc cách mạng vô sản ở VN. Đại Sứ Australia là bà Sue Boyd - người nổi tiếng là bộc trực- đã hỏi thẳng NĐM có phải là con của Hồ Chí Minh không? NĐM trả lời "Ở Việt Nam ai cũng đều là con của Bác". Câu trả lời vô thưởng vô phạt này có chủ đích lập lờ để không phải xác nhận sự thật mà cũng không bị mang tiếng là chối bỏ một sự thật.


Sau đó cũng gần một năm trên tạp chí Time, ấn bản vùng Á Châu phát hành ngày 23-1-2002 tại Hồng Kông- qua cuộc phỏng vấn của ký giả Kay Johnson- Tổng Bí Thư (TBT) Đảng CSVN lại một lần nữa lên tiếng về thân thế mình, bác bỏ tin đồn trước đây cho rằng ông ta là con rơi của HCM và một phụ nữ sắc tộc là Nông Thị Xuân. Ngày được nâng lên giữ chức TBT, vì quá bất ngờ với câu hỏi của bà Sue Boyd nên câu trả lời của NDM tuy khôn ngoan nhưng ai cũng hiểu đó là một sự tránh né. Có lẽ nhận thấy im lặng quá lâu là mặc nhiên xác nhận tin đồn không tốt cho sự nghiệp chính trị của mình, là "con Vua thì được làm Vua", lần này vì có chuẩn bị trước nên NĐM đã bác bỏ tin đồn một cách mạnh mẽ "Tôi phải lập lại và xác nhận rằng điều đó không đúng sự thật. Tôi có thể nói tên của cha mẹ tôi nhưng họ đã chết" Và NDM cho biết cha mình là Nông Văn Lai và mẹ là Hoàng Thị Nhị. Tổng Bí Thư Dảng CSVN tiếp theo cười cười :

"Nếu có ai nói tôi giống HCM, tôi nghĩ có nhiều người trông giống người "

Người phỏng vấn hình như vẫn chưa hài lòng với câu trả lời nên lại hỏi : "Nên ông không liên hệ gì với HCM ?"

NĐM lập lại : "Tất cả mọi người VN là con của Bác Hồ. Tôi nghĩ toàn thể dân Việt xem HCM là cha tinh thần của họ và tôi cũng thế ".

Nghe đến đây phóng viên tờ Time nhấn mạnh một lần nữa : "Nhưng không phải là cha đẻ của ông?."

NĐM quả quyết : "Chắc chắn là không ".

Viết về HCM thì không thể nào không nhắc đến những huyền thoại không những do đảng CSVN tô son điểm phấn cho ông mà ngay chính bản thân ông cũng tự hào về những dối trá đó. Hình như những suy tôn mà Đảng CS đã dành cho ông vẫn chưa đủ nên chính ông lại tự ca ngợi mình. Quả thật không ai ca ngợi HCM bằng chính ông ta. Trong các tài liệu về HCM cho biết "Bác" Hồ đã có tất cả vừa tên, vừa bí danh và bút danh từ A đến Z sơ khởi là 54 cái tên (VN Đẹp Nhất Có Tên Bác Hồ- trang 114- 122) nhưng lại bỏ sót mất 2 cái tên là Trần Dân Tiên và T. Lan là tác giả của 2 cuốn sách nâng HCM lên như một ông "Thánh sống" đến độ trơ trẽn vì từ trước đến nay có lẽ chỉ mình Bác là kẻ duy nhất tự viết sách để ca tụng mình qua vai trò Trần Dân Tiên và T.Lan, tự khen mình là khiêm tốn, không bao giờ nghĩ đến mình mà chỉ nghĩ đến nhân dân, phong cho mình là "cha già dân tộc", ngạo mạn với các bậc tiền bối, xưng hô là "Bác" với mọi ngườì kể cả các cụ già. Một con người mà có thể hạ bút viết lên những điều như thế thì tất cả những huyền thoại về HCM đều là do ý muốn của ông ta.

Trong những lần dạy dỗ cán bộ đảng viên, HCM thường nhắc đến hai chữ "hủ hoá", nhưng kỳ thực ông ta lại là người lăng nhăng tình cảm với nhiều phụ nữ hơn ai hết. Những tham khảo của các sử gia ngoại quốc cũng như tài liệu từ các quốc gia Pháp Nga cho thấy rõ điều này. Bùi Tín (BT) cho rằng "HCM cũng rất "người" ở chỗ không thể nào sống như một ông Thánh." ( Hoa Xuyên Tuyết trang 112) Với Bùi Tín thì những chuyện "lăng nhăng" với phụ nữ "là chuyện riêng tư của cá nhân, không mấy quan trọng mà nó còn thấy HCM cũng là con người như mọi người".

Đồng ý, con người sinh ra đều có tình cảm: yêu thương, giận hờn, ghen ghét trong đó tình yêu vợ chồng là tình cảm thiêng liêng không thể thiếu được. Thế nhưng HCM đã dấu hết tình cảm đó, cho mình là một "ông Thánh" hy sinh cả cuộc đời , sống cô độc lo cho dân cho nước. Thậm chí ăn ở với người ta có con, rồi ra lệnh giết người mẹ chỉ vì không muốn nhìn nhận vợ con. Nếu không có lệnh của HCM thì ai dám nhúng tay vào tội ác?. Thế mà HCM lúc nào cũng hãnh diện nhắc nhở cho thanh thiếu niên là "Học gì thì học chứ đừng học tánh hút thuốc và không lấy vợ của Bác nhé!". Do đó nói lên sự thật không có nghĩa là moi móc đời tư mà là đánh đổ huyền thoại của một con người hai mặt nói thì tốt nhưng hành động thì xấu xa. Mồm thì hô hào là "đầy tớ " của nhân dân nhưng lại mơ thấy mình làm vua là "cha" của thiên hạ :

Trong tù khoan khoái giấc ban trưa

Một giấc miên man liền mấy giờ

Mơ thấy cưỡi rồng trên thượng giới

Tỉnh ra trong ngục vẫn nằm trơ (Nhật Ký Trong Tù-1943)

Danh sách những phụ nữ có dính dáng đến cuộc đời của HCM thì nhiều, Pháp Nga Tàu Việt không thiếu. Quả thật "Bác là con người của nhân loại" " trong lãnh vực "giao du tình cảm" cũng như trong lãnh vực "thuổng văn" mà Chế Lan Viên đã hết lòng biện hộ cho "Bác" về chuyện sao y câu của bản tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ. Nhân ngày sinh nhật thứ 114 của HCM chúng ta hãy hỏi tội "hủ hoá" của "Bác" với câu hỏi đặt ra là: - AI LÀ MẸ CỦA NÔNG ĐỨC MẠNH ?

Tiếng Việt của chúng ta thật là phong phú, đa dạng. Khi viết "Mẹ của NĐM là ai?" thì câu hỏi này không có gì đặc biệt - và câu trả lời là mẹ ông ta có thể là bà A, bà B, bà Mít , bà Xoài v. v... Nhưng khi chúng ta đặt chữ Ai ở đầu câu Ai là Mẹ của NĐM ? thì câu hỏi xem ra có phần mạnh mẽ hơn, hậu ý như là giữa những bà có tên là Marie Biere (Pháp), Tăng Tuyết Minh (Tàu), Vera Vasiliéva (Nga), Nguyễn Thị Minh Khai, Đỗ Thị Lạc, Nông Thị Xuân . . ai trong số đó là Mẹ của NĐM?

Dư luận cho rằng người đó là Nông Thị Xuân có lẽ vì bà Xuân cùng là họ Nông và lại cũng sinh cho HCM một đứa con trai. Tuy nhiên nếu xét về thời gian thì giả thuyết này không chấp nhận được. Câu chuyện Nông Thị Xuân đã được ông Nguyễn Minh Cần - đảng viên CS ly khai viết rất rõ ràng. Sau hiệp định Geneve 1954 HCM về Hà Nội làm Chủ Tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Năm 1955 Nông Thị Xuân 22 tuổi người Cao Bằng được đưa về Hà Nội để "phục vụ" HCM. Lúc đó "Bác" đã 65 tuổi rồi. Một năm sau, hạ sanh một con trai đặt tên là Nguyễn Tất Trung, cô Xuân ngỏ ý với "Bác" xin được hợp thức hoá hôn nhân để dọn về ở chung. "Bác" gật gù khen "ý kiến hợp tình hợp lý nhưng phải bàn với Bộ Chính Trị" đã. Sau đó cô Xuân bị giết, cả hai người em là cô Vàng và cô Nguyệt đến ở chung để trông cháu cho cô Xuân rảnh rang đi "phục vụ" "Bác", cùng với bạn của cô Vàng là những người biết chuyện, đều lần lượt bị giết lây. Có tin sau khi câu chuyện này được tung ra hải ngoại thì mộ cô Xuân đã bị san bằng không còn dấu tích.

Nông Đức Mạnh, theo tài liệu của Đảng, thì sinh năm 1940, còn Nguyễn Tất Trung con cô Nông Thị Xuân thì sinh năm 1956, sự sai biệt quá cao dù rằng tên tuổi của người CS đôi khi không mấy đúng với lý lịch thật. Do đó nếu Nông Đức Mạnh là con HCM thì mẹ ông ta phải là người liên hệ với HCM vào khoảng thời gian HCM về nước ở Cao Bằng.

Theo tài liệu CS, thì HCM về nước vào ngày 8-2-1941 qua cột mốc 108 biên giới Việt Trung, đến ở tại hang Pắc Bó tỉnh Cao Bằng.Chung quanh hang có một con suối và một ngọn núi. Vừa đặt chân đến nơi HCM nghĩ ngay đến việc đặt tên là núi Karl Marx và suối Lenin. Trong hang, kế vách là một tháp đá thiên nhiên cao hơn đầu người đã được HCM vài ngày sau đó tạc thành tượng Karl Marx. Cũng tại nơi đây HCM đã dịch "Lịch Sử Đảng CS Liên Sô” ra tiếng Việt. Coi các lãnh tụ Liên sô là trên hết, HCM đã khóc lóc thảm thiết khi nghe tin Stalin chết. Cho nên bảo rằng HCM bị Stalin áp dụng kỷ luật vì "không biểu lộ tinh thần giai cấp và đặc tính thích đáng của tầng lớp vô sản quốc tế " mà Bùi Tín đã trích dẫn từ tài liệu của Mạc Tư Khoa qua bài viết đăng trên tờ Time cuối tháng 8-1999 (Hà Nhân VN Nhật Báo 28-8-1999) thì quả thật là oan cho "Bác" quá đi mất thôi!

Địa thế hang Pắc Bó lại thông ra một con đường kín đáo dẫn sang bên kia biên giới..Cũng tại nơi đây HCM lại có một mối tình mà ít ai để ý đến và ngay những taì liệu trước đây cũng không hề nhắc đến. Nhân chuyện CSVN dâng đất nhường biển cho Trung cộng, các anh chị em trong nhóm "Câu Lạc Bộ Sinh Viên Việt Nam" ngày 24-2-2002 đã viết một bài có tựa đề "Cột Mốc 108 và Một Câu Chuyện Tình" ( Trong Bạch Thư tố cáo Việt cộng hiến đất dâng biển cho Trung Cộng trang 348,349). Mục đích của bài viết muốn nhấn mạnh cột mốc 108 biên giớI Việt Trung để chúng ta có dịp do sánh địa điểm này giữa hai thời điểm 1941 và 1999. Thế nhưng, Cột mốc biên giới đánh số 108 này cũng đã ghi lại dấu vết đầu tiên của HCM khi trở về nước và đã có một cuộc tình với cô gái Nùng họ Nông .

"Vào năm 1941 Nông Thị Ngát - còn có biệt danh là Nông Thị Trưng (tên do "Bác" Hồ đặt cho) là một cô gái tuổi đôi mươi người Tày rất đẹp có duyên nhưng lại mù chữ. Vốn trực thuộc cơ quan chi bộ phái của Trung Hoa Cộng sản Đảng tuyển chọn và huấn luyện để làm giao liên cho HCM, Nông Thị Trưng liên tục được HCM huấn luyện, bồi dưỡng, xoá dần mù chữ và một chuyện tình có thể xảy ra vào những năm tháng này"

Trên tờ Xuân Phụ Nữ năm Đinh Sửu 1997 xuất bản trong nước một bài viết có tựa đề "Cô Học Trò Nhỏ Của Bác Hồ" được tác giả Thiên Lý viết theo lời kể của chính đương sự Nông Thị Trưng đã cho thấy có sự gắn bó rất thắm thiết giữa người con gái Nùng tuổi đôi mươi với người đàn ông 51 tuổi trong cái hang Pác Bó gần cột mốc 108 này. Sau đây là nguyên văn bài viết:

"Tháng 7 năm 1941, được tin Châu Hà Quảng đưa lính cơ tới bắt, ngay đêm ấy tôi trốn ra rừng, rồi được Châu Ủy đem qua Bình Mãng (Trung Quốc) lánh nạn tại nhà một đảng viên đảng Cộng sản Trung Quốc. Một hôm đồng chí Lê Quảng Ba và Vũ Anh đến đón tôi từ Trung Quốc về Pắc Bó gặp Bác.. Về Pắc Bó đã nửa đêm, anh Đại Lâm người giữ trạm đầu nguồn đưa ngay chúng tôi đi gặp "ông Ké".

Lội ngược suối càng đi nước càng sâu, khi đến thác thứ ba, anh Đại Lâm thổi sáo, từ trên thác có thang tre thả xuống. Trèo thang lên, thấy một cái lán dựng ngay trên bờ suối. Trong lán có ông cụ ngồi đọc sách. Tôi chắp tay "Cháu chào cụ ạ" ông cụ nhìn lên hai mắt rất sáng, ân cần bảo: "Cháu đến rồi à, cháu ngồi xuống đây nói chuyện." Tôi nhìn xuống sàn, thấy toàn cây to bằng bắp chân. Cụ bảo hai lần tôi mới dám ngồi. Cụ tỉ mỉ hỏi gia cảnh, rồi khuyên tôi: "Từ nay cháu đã có một gia đình lớn là gia đình cách mạng, đừng luyến tiếc gia đình nhỏ nữa. Cháu cặm cụi làm ăn cũng không đủ để nộp sưu thuế đâu. Mình lấy lại được nước rồi từng gia đình sẽ được đàng hoàng. Từ nay ai hỏi thì cháu nói mình là cháu chú Thu, tên Trưng". Bác đặt tên ấy là muốn tôi noi theo gương bà Trưng..

Từ đấy tôi ở lại lán anh Đại Lâm, mỗi ngày vào lán của Bác một giờ để học tập. Bác dạy cho tôi từ chuyện thế giới, chuyện cộng sản chủ nghĩa đến cả những cách ứng xử thường ngày như "Đừng làm một việc gì có thể khiến dân mất lòng tin. Mượn một cái kim, một con dao, một buổi là phải đem trả. Trong ba lô nếu có màn, phải để ở ngoài cửa, hỏi xem chủ nhà có bằng lòng mới đem vào. Cháu là nữ, trước bàn thờ có cái giường để các cụ ngồi ăn cỗ, cháu không được ngồi". Tám tháng được Bác chỉ dạy tôi học được hơn cả mấy chục năm học lý luận tập trung sau này. Bà Nông Thị Trưng ngừng kể để uống nước. Tôi để ý thấy ngôi nhà yên vắng lạ, không có dấu hiệu một người thứ hai ngoài chủ nhân sống ở đây. Đồ vật trong nhà chỉ có chiếc giường, bộ bàn ghế gỗ thường, chiếc xe đạp nam và cái ti vi đen trắng cũ kỹ.

Nhân đang vui chuyện, tôi hỏi về gia đình bà, chồng bà là một cán bộ Việt Minh cùng hoạt động những năm ba mươi, đã mất năm 1986. Được bốn con trai một gái, nay đều ở riêng. Bà sống đơn chiếc, tự "phục vụ" hoàn toàn . Người phụ nữ giàu nghị lực ấy đã trải qua nhiều thời kỳ gian khổ trong kháng chiến, vừa hoạt động, vừa nuôi con. Thậm chí, có lúc quá khó khăn đã phải ngưng công tác. Và cũng chính bác Hồ đưa người nữ cán bộ miền núi ấy trở lại với công tác.

Trong dịp Quốc Hội đầu tiên, sau hoà bình, Bác mời các đại biểu Cao Bằng tới ăn cơm, thăm hỏi mọi cán bộ cơ sở cũ, và không quên cô học trò nhỏ ở Pắc Bó. "Trưng bây giờ làm gì ở đâu?". Khi nghe trả lời: "Thưa Bác, chị Trưng nghỉ ở nhà", Bác đổi sắc mặt, trách "Tại sao trước cách mạng khó khăn thế, nó vẫn hoạt động mà bây giờ lại nghỉ, các chú phải tìm hiểu rõ chứ". Về sau, mỗi khi có dịp, Bác đều cử người gặp trực tiếp bà Trưng hỏi xem bà có gặp khó khăn gì để giúp đỡ.

Bác còn có cả một bài thơ tặng người học trò nhỏ của mình. Bà Trưng kể: "Hồi ấy giữa năm 1943 Bác mới ra khỏi nhà tù Trưởng Giới Thạch, trở về Lũng Cát ở trong một cái lán dưới chân núi. Một hôm Bác cho gọi tôi đến đưa cho một quyển vở và bảo rằng "Bác vừa dịch xong quyển Binh Pháp Tôn Tử, Bác cho cháu". Tôi giở ra, thấy ở bìa trong có bốn câu thơ viết bằng mực tàu:

"Vở này ta tặng cháu yêu ta

Tỏ chút lòng yêu cháu gọi là

Mong cháu ra công mà học tập

Mai sau cháu giúp nước non nhà."

Tiếc thay , trong những năm kháng chiến, không có điều kiện bảo quản, quyển vở quí ấy đã bị mối xông mất .”

-------------

Bài viết chấm dứt nơi đây.

Vừa gặp nhau lần đầu , người con gái Nùng chấp tay "Cháu chào cụ ạ". Có lẽ tiếng "cụ" nghe không "êm ái" nên HCM dặn dò "Từ nay ai hỏi, thì cháu nói mình là cháu chú Thu, tên Trưng". Và bí danh "Già Thu" và "Nông Thị Trưng " được khai sinh ra từ đó. Từ trước đến nay ông Hồ vẫn xưng mình là Bác với tất cả mọi người, riêng đặc biệt chỉ có mỗi một mình Nông thị Ngát là được làm "cháu" của "Chú Thu" mà thôi

Qua lời kể trên đây thì tình cảm của "Chú Thu" dành cho "cháu Trưng" rất đậm đà thắm thiết "Mỗi ngày một giờ liên tục như thế gần một năm trời từ tháng 9-1941 cho đến 13-8-1942 thì lớp dạy kèm chấm dứt, "Chú Thu" qua Trung Quốc, bị bắt ., ra tù trở về lại Cao Bằng, tìm lại cô học trò xưa tặng nàng một bài thơ viết vài giòng trên quyển "binh thư" và kể từ đó tuy xa nhau nhưng "Chú Thu" vẫn theo dõi tận tình giúp đỡ cho "cô học trò nhỏ" của mình.

Tin từ nhóm "Câu Lạc Bộ Sinh Viên" cho biết thì "Kể từ đó Nông Thị Ngát đã vắng mặt khá lâu tại vùng biên giới này, mười năm sau Nông Thị Ngát bỗng nhiên được ưu đãi đặc biệt trở thành chánh án toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng. Người ta đặt câu hỏi việc gì đã xảy ra trong những năm tháng đó, Nông đã đóng góp gì mà chỉ sau mười năm trở thành tỉnh uỷ viên, uỷ viên ban chấp hành trung ương và là người đứng đầu ngành hành pháp tại một tỉnh xung yếu phía Bắc?

Như đã biết, tại Viêt Nam không có tự do báo chí, tất cả nằm trong tay Đảng. Nhà baó Kim Hạnh tổng biên tập của báo Tuổi Trẻ đã bị mất chức chỉ vì đăng tin HCM khi còn trẻ đã có một người vợ kèm theo đăng lá thư HCM gửi cho người vợ này. Vì sự thật đã không được phơi bày cho nên người dân chỉ còn biết đặt nghi vấn, tại sao Nông Thị Trưng lại được ưu đãi như thế? Tại sao tiểu sử Nông Đức Mạnh chỉ ghi: "Con một nhà cách mạng lão thành?” còn cô học trò nhỏ của ''Bác" thì chỉ hé mở chồng mình là "một cán bộ Việt minh cùng hoạt động những năm ba mươi" ?. Tại sao lại phải dấu tên tuổi như vậy?.

Gần đây hơn, đáng tin cậy nhất là William Duiker đã tường thuật lại, trong cuốn sách viết về Hồ Chí Minh (tái bản lần thứ hai) chuyện Nông Đức Mạnh đã tiết lộ với tác giả rằng " MẸ TÔI, THÀNH VIÊN CỦA DÂN TỘC THIỂU SỐ, ĐÃ PHỤC DỊCH CHO ÔNG HỒ VÀO NHỮNG NĂM ĐẦU TIÊN CỦA THẬP NIÊN 40…"

Một con người vốn bản tính lăng nhăng, thời gian ở ngoại quốc đã có tiếng là "anh thanh niên Quốc ăn mặc rất chải chuốt, luôn mang cà vạt màu, rất diện, xức cả nước hoa cực thơm.."(Hồ Chí Minh có mấy vợ- Trần Gia Phụng) mà nay lại đứng trước cảnh tượng "nửa đêm, giờ tý, canh ba" trong một nhà sàn thanh vắng ông "ké" nhìn lên, hai mắt sáng, ân cần bảo: "Cháu đến rồi à, cháu ngồi xuống đây nói chuyện" thì liệu "ông Ké” có làm ngơ được không nhất là khi nhan sắc của "cháu" Nông Thị Ngát lại mặn mà duyên dáng dễ làm say đắm lòng người !

Xem như thế thì câu chuyện Nông Thị Ngát là một nghi vấn có nhiều khả năng xác thật để trả lời cho câu hỏi : AI LÀ MẸ CỦA NÔNG ĐỨC MẠNH vậy.

Công an mà tốt





Anh Nguyễn Văn Thanh là nghệ sĩ nghiệp ảnh có tiếng ở Huế. Vì cùng hoạt động văn nghệ, tôi quen biết anh hơn chục năm nay, lại sáng nào đi bộ thể dục cũng gặp nhau, nhưng không hề biết anh là công an. Một hôm chúng tôi cùng ăn sáng tại quán cháo gạo lức – cá bống ở chợ Bến Ngự, anh Thanh ăn ít, cáo về nhà trước. Khi anh đi xa rồi, bà Thi bán cháo mới bảo tôi: “Ông nớ là ông Thánh đó!”. Tôi ngạc nhiên hỏi: “Sao lại gọi ông Thanh là ông Thánh?”. Bà con cùng ăn cháo bảo rằng: “Ông ấy là công an mà tốt”. Từ đó tôi mới biết anh Thanh trước đây là Thượng tá công an, Trưởng phòng cảnh sát giao thông tỉnh, về hưu. “Thế công an là xấu sao?” – Tôi hỏi lại. Bà con tranh nhau kể: “Thời ông Thanh làm công an, bà con buôn bán lô tạm lấn ra đường, bày hàng lên lề cầu Bến Ngự, ông bao giờ cũng kiên trì thuyết phục. Khi có đoàn “ông cốp” Trung ương về, xe còi hụ trước hụ sau, anh Thanh thông báo sớm cho bà con dọn hàng vi phạm lề đường, anh còn giúp bà con dọn hàng. Anh không bao giờ bưng cả rổ rau, rổ trứng, cá… của bà con ném bừa lên xe công an như mấy anh cảnh sát sau này, làm cho rau bị nát, trứng bị vỡ không bán được. Có người vì sợ hư hàng hóa, giành lại mớ cá, rổ rau từ tay công an, thế là bị bắt vì “chống người thi hành công vụ”. Bà con phố thị nghèo, buôn thúng bán mẹt kiến ăn hàng ngày, mà bị “trấn áp” như thế là sạch vốn, gia đình phải nhịn đói – thế không xấu, không ác thì gọi là gì hở bác?”.

Từ câu chuyện “Công an mà tốt” ở quán cháo bà Thị ở chợ Bến Ngự, tôi cứ băn khoăn hoài. Công an mà tốt – nghĩa là người tốt (được lòng nhân dân) trong ngành công an đang ít hơn người không được lòng dân.

Công an có xấu thật không? Tôi có nhiều anh em bạn bè làm công an, có người làm đến chức trung tá, đại tá; anh em nội thân nhà tôi cũng có nhiều người làm công an, tôi không thấy ai xấu cả. Tôi biết nhiều cán bộ chiến sĩ công an đang hàng ngày làm những công việc lặng thầm như tình báo, phản gián, hay những người làm những công việc không tiếp xúc với dân như dạy Đại học, Trung cấp công an, quản lý hồ sơ, v.v. Những người đó không xấu. Nhiều năm qua, các chiến sĩ công an đã trấn áp thành công các băng xã hội đen khét tiếng như vụ Nam Cam. Điều đó không thể phủ nhận. Nhưng tại sao ngành công an lại là ngành người dân luôn nghĩ là “xấu “? Ở đây rõ ràng là con sâu làm rầu nồi canh. Nhưng nói như ông Trương Tấn Sang trong đợt vận động bầu cử Quốc hội ở thành phố Hồ Chí Minh vừa qua, thì “một con sâu đã nguy hiểm rồi. Thế mà ở đây nhiều con sâu quá...”. Những hình ảnh công an “trấn lột” lái xe dọc đường quốc lộ, trấn lột doanh nghiệp, công an đi bắn tốc độ nấp bụi bờ trên tuyến đường Bắc – Nam gọi là “đi đánh bắt xa bờ” thu nhập rất cao; công an giao thông, công an kinh tế, công an hình sự đa phần đều giàu có, xe hơi, nhà lầu, v.v. Dù không có chứng cớ để kết tội, nhưng trong con mắt nhân dân, họ đều là người tham nhũng, là người không tốt. Nguy hiểm hơn là những vụ công an đánh người, giết người một cách vô lý là nguyên nhân chính làm cho hình ảnh công an trở nên “rất xấu” trong con mắt nhân dân. Đó là một thực tế đau lòng.

Xin kể vài vụ: Vụ Công an đánh cháu bé 11 tuổi đến chấn thương bầm tím thân thể tại công an phường ở Huế ngày 15/6/2011; vụ anh Trần Thanh Chương ở Biên Hòa bị CA Nguyễn Hoài Tân bắn trọng thương ngày 12/4/2011; vụ chị Dương Thị Mỹ Ngọc (SN 1977, ngụ đường 120, KP2, phường Tân Phú, quận 9, Sài Gòn), ngày 5/4/2011, bị ông N.T.H – Công an phường Tân Phú, quận 9 đánh đến mức phải nhập viện. Vụ ông Trịnh Xuân Tùng bị Trung tá công an Nguyễn Văn Ninh, thuộc công an phường Thịnh Liệt, Hà Nội, còng tay đánh đập dã man và chết vì bị đánh gãy xương cổ. Vụ ông Nguyễn Lập Phương bị đánh và chết vào chiều 6-3-2011 sau khi bị nhốt qua đêm tại đồn công an xã Thiên Hương, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng. Vụ ông Đặng Ngọc Trung sau một đêm bị tạm giữ đã bị đánh chết tại trụ sở công an xã Tiến Hưng, thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Vụ ông Trần Văn Dữ bị công an đánh chết tại trụ sở công an thị trấn Ngã Năm, Sóc Trăng. Điển hình là vụ Thiếu úy công an Nguyễn Thế Nghiệp gây nên cái chết đầy oan khuất cho anh Nguyễn Văn Khương ở Bắc Giang ngày 24/7/2010, làm nhân dân phẫn nộ. Vân vân… và vân vân. Có những vụ công an đánh dân chỉ vì một lý do kỳ quái: công an đánh người vì không được massage; công an giữ chồng tại đồn, rồi trắng trợn ép tình vợ; hay thiếu tá CSGT đánh tài xế taxi vì… đòi vượt đèn đỏ mà tài xế không chịu, ngày 22/3/2011; công an truy đuổi người không đội mũ bảo hiểm đến mức họ phải lao xuống sông; công an buôn ma túy vào trại giam… Hàng ngày mở các báo “lề phải” như Thanh niên, Tuổi trẻ, Tiền Phòng, Dân Trí, Đất Việt, v.v. có đăng rất nhiều vụ công an phạm pháp, công an đánh dân. Thật bức xúc.

Đứng trước tình trạng công an lộng hành, không ứng xử trước dân một cách lễ độ, cung kính, một số người dân đã không nén được sự căm giận, nên chống trả. Chống trả công an, dù lý do chính đáng, vẫn bị bắt giam với tội “chống người thi hành công vụ”. Nhưng số vụ người dân chống lại công an làm cho các chiến sĩ công an bị thương vong ngày càng tăng. Tại sao vậy? Nhà báo Minh Quang trên báo Tuổi Trẻ cho biết: Theo Bộ Công an, trung bình mỗi năm có hàng trăm vụ chống người thi hành công vụ trên cả nước. Tình hình chống lại lực lượng thi hành công vụ diễn biến ngày càng phức tạp, trong đó nổi cộm nhất là lĩnh vực bảo đảm trật tự, an toàn giao thông. Nhẹ thì lăng mạ, chửi bới, nhổ nước bọt vào mặt, nặng thì đâm thẳng ôtô vào người, thậm chí lái xe bỏ chạy nhiều cây số khi CSGT vẫn còn bám trên nắp capô. Gần đây nhất là vụ côn đồ tấn công lực lượng cảnh sát hình sự, lái ôtô đâm thẳng vào cán bộ khám nghiệm hiện trường, dùng hung khí chém cảnh sát ngay trên phố Hồng Mai (Hà Nội) vào rạng sáng 10-7. Vụ tấn công này đã làm ba cán bộ cảnh sát hình sự bị trọng thương, hiện đang điều trị tại bệnh viện. Theo thống kê, tính từ năm 2007 đến tháng 6-2011, chỉ riêng Hà Nội đã có 254 vụ tấn công người thi hành công vụ, làm bị thương 59 cán bộ chiến sĩ. Cơ quan công an đã khởi tố điều tra 190 vụ với 309 bị can. Đáng chú ý là các đối tượng phạm tội bị xử lý chủ yếu là nam giới, có độ tuổi 18-35 và 50% số này có nghề nghiệp ổn định. Có nghề nghiệp, công ăn việc làm ổn định mà chống lại công an tức là do bức xúc lắm, không nén nổi. Trong số các vụ chống lại lực lượng công an có tới 125 vụ xuất phát từ hành vi vi phạm giao thông, 69 vụ từ vi phạm trật tự công cộng, 21 vụ từ việc giải quyết các vụ gây rối, 25 vụ xảy ra trong khi bắt giữ các đối tượng phạm tội. Ở Thanh Hóa, Bà Rịa – Vũng Tàu, các đối tượng còn ngang nhiên hành hung lực lượng chức năng để giải cứu đồng bọn. Tính từ năm 1998 đến nay đã có gần 90 cán bộ cảnh sát hi sinh, trên 1.000 cán bộ chiến sĩ bị thương và phơi nhiễm HIV do tội phạm tấn công. Ở Hà Tĩnh, tình hình dân chống trả công an cũng rất quyết liệt. Thời gian gần đây, chỉ tính riêng huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh, trên 30 công an bị đánh tàn phế, 3 người bị chết. Công an trưởng các xã Kỳ Xuân (Kỳ Anh), xã Đậu Liêu, thị xã Hồng Lĩnh… bị ném mìn vào nhà, bị đâm, chém bằng dao đến tử thương.

Có câu hỏi nóng hổi báo chí đặt ra: VÌ SAO CÔNG AN BỊ HÀNH HUNG?

Ngành công an thì cho rằng, vì người dân chấp hành pháp luật không nghiêm; nguyên nhân hàng đầu là do đối với tội phạm, lưu manh chuyên nghiệp, bản chất liều lĩnh nên rất manh động, coi thường pháp luật, sẵn sàng chống lại các lực lượng thực thi pháp luật nhằm trốn tránh pháp luật. Một số ít người dân sống buông thả, tự do quá trớn, coi thường pháp luật, thiếu tôn trọng kỷ cương phép nước, sẵn sàng chống lại bất cứ ai làm ảnh hưởng tới quyền lợi ích kỷ của họ. Một số ít hiểu biết về pháp luật, có tâm lý bất hợp tác với công an, bị xúi giục từ các phần tử xấu, đây cũng là nguyên nhân dẫn đến những hành vi chống đối.

Nhưng có những nguyên nhân cốt lõi mà hình như các cơ quan quản lý, giáo dục trong ngành công an chưa chú ý, đó là:

Thứ nhất, là Công an nhân dân, nhưng lại ít được đào tạo sâu về nhân văn, tình yêu thương nhân dân, mà chỉ giáo dục tư tưởng về đấu tranh giai cấp, nên tác phong ứng xử, làm việc với nhân dân thường theo lối hách dịch, kiêu binh. Coi tất cả mọi người phạm tội, kể cả em bé vì đói mà ăn cắp, đều là kẻ thù. Nên một số không ít chiến sĩ công an sử dụng vũ khí (súng), vũ thuật, trang bị như roi điện, dùi cui một cách bạt mạng. Cách ứng xử đó không chỉ làm cho nhân dân bất bình mà cao hơn là đẩy tới căm thù, chống trả.

Thứ hai, Công an phạm tội không được xử lý công khai, nghiêm túc mà thường được Công an cơ sở bao che bằng cách lập biên bản giả, ép cung… để giảm nhẹ tội cho đồng đội. Với bản án 7 năm tù cho kẻ giết người vô tội còn những người dân tay không bị cảnh sát tấn công bằng hơi cay, bằng lực lượng hùng hậu thì bị án từ 20-40 năm tù cho cả 10 người. Ví dụ cái chết của anh thanh niên Nguyễn Văn Khương ở Bắc Giang do công an Nguyễn Thế Nghiệp gây ra, kẻ giết người chỉ bị xử 7 năm tù, rất nhẹ nhàng, còn những người dân do bức xúc vì cái chết oan ức đó mà tổ chức đưa quan tài anh Khương lên UBND tỉnh phản đối thì bị quy là “Kích động lật đổ, chống đối người thi hành công cụ” và 10 người bị bắt bị xử tổng cộng 40 năm tù, trong đó người cao nhất là 4 năm tù giam. Như thế tội đánh chết người của công an Nghiệp đáng lý phải đền mạng để giáo dục các chiến sĩ công an khác, lại bị xóa mờ, giảm nhẹ đi. Cách xử án không công bằng như thế làm cho sự bất bình trong dân càng âm ỉ. Chính thái độ và cách ứng xử của ngành công an đang nuôi môi trường phản kháng âm thần trong dân.

Thứ ba, trong bất cứ chế độ chính trị nào công an đều là lực lượng giữ gìn an ninh trật tự xã hội, bảo vệ đất nước và bảo vệ người dân “thấp cổ bé họng”. Công an không được đứng trên dân mà phải ở trong lòng nhân dân. Theo dõi các cuộc gọi là “biểu tình phản đối chính quyền Trung Quốc xâm phạm chủ quyển biển đảo Việt nam” vừa qua, tôi thấy dường như nhân dân và công an đang là hai lực lượng không phải của nhau. Nhân dân vì lòng yêu nước mà đi biểu tỉnh phản đối kẻ thù bành trướng, còn công an thì ngăn chặn, thậm chí bắt bớ đánh đập người dân? Chỉ một hành vi đó thôi, công an và người dân đã không cùng chí hướng rồi, nói gì đến bảo vệ nhân dân. Không hiểu khi kẻ thù truyền kiếp của dân tộc ta là bọn Đại Hán bành trướng lại mở cuộc xâm lăng mới, thì những người ngăn chặn nhân dân yêu nước biểu tình ấy sẽ đứng ở đâu trong cuộc chiến tranh vệ quốc?

Phải làm sao để bà con dân phố mỗi khi nghĩ về các chiến sĩ công an như là nghĩ về “ông Thánh” cựu Thượng tá công an Nguyễn Văn Thanh bạn tôi? Để trước một một hành vi xấu của chiến sĩ công an nào đó, bà con phải thốt lên: “Công an mà xấu” – tức là công an chỉ có tốt chứ không có thứ công an xấu! Tôi nghĩ đã là công an nhân dân thì phải tốt. Mà tốt trước hết là tốt với nhân dân, cái danh từ mà nó mang tên. Phải chấn chỉnh gấp thái độ, cách giao thiệp, ứng xử đang rất tệ hại của chiến sĩ công an trước dân hiện nay. Phải xử lý thật nghiêm và công khai, công bằng các hành vi công an đàn áp, đánh đập, bắt giết nhân dân. Mong lãnh đạo ngành Công an khi đọc bài này hiểu những mong mỏi của tấm lòng người viết mà làm cho ngành mình tốt hơn lên.

N.M.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

Mấy Đoạn Đường Đời

Bài viết sau đây là tự truyện về gia đình người chỉ huy phó Quân Y Viện Đoàn Mạnh Hoạch tại Phan Thiết sau biến cố 30 Tháng Tư. Tác giả bài viết là một cô giáo, người vợ tù, một mình nuôi con. Sau nhiều năm cơ cực, gia đình định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O. và đây là bài viết về nước Mỹ đầu tiên của bà.

***

Bây giờ ở Mỹ đang mùa Xuân. Đi đâu tôi cũng gặp hoa muôn màu muôn sắc rực rỡ, chim chóc hót líu lo, gió mát nhẹ nhàng thổi.
Hôm nay tháng tư lại về. Tôi thấy lòng mình chùng xuống khi nhớ lại những ngày sau 30-4-75. Hồi đó, khi còn ở Việt Nam, tôi đã khóc biết bao mỗi khi tháng tư về. Bây giờ hình như không còn nước mắt để khóc nữa, nhưng vết thương lòng qua bao nhiêu năm tháng vẫn chưa lành.
Tôi nhớ sư bà Huyền Không ở Phan Thiết đã từng nói với tôi: "Bao nhiêu đau khổ vây quyện đời con, nhưng dù hòan cảnh nào, con vẫn là một người vợ hiền, một người mẹ tốt nghe con."
Đời tôi, nhờ niềm tin tôn giáo, nhờ Ơn Trên che chở mà tồn tại đến ngày hôm nay. Thuở nhỏ tôi là con bé yếu đuối, đau ốm liên miên, mấy lần suýt chết đuối trên sông Hương, mấy ai ngờ có ngày oằn vai "gánh" cả một gia đình sáu người, rồi cuối cùng vượt đại dương đến Mỹ để sống những ngày cuối đời nơi đất khách quê người nhưng lại đậm tình đậm nghĩa.
1. Những ngày trước 30-4-75
Lúc đó, gia đình chúng tôi ở Phan Thiết, trong khu trại gia binh. Tình hình chiến tranh sôi sục, nhất là những ngày đầu tháng tư. Mỗi ngày tôi hồi hộp theo dõi tin tức thời sự qua đài BBC, hãi hùng với tiếng súng ầm ầm từ những cuộc giao tranh. Ông Chỉ Huy Trưởng Quân Y Viện đã lặng lẽ bỏ đi, để lại cho ông xã tôi, Chỉ Huy Phó, một mình vừa cứu thương, vừa điều khiển Quân Y Viện. Tôi hoang mang, lo sợ.
Để rảnh tay lo việc công, anh ấy cho năm mẹ con tôi di chuyển vào Sài Gòn trước ở tạm nhà người bà con. Tôi hồi hộp trông tin anh từng ngày, từng giờ mà không biết hỏi ai, chỉ biết cầu nguyện Phật Trời che chở. Tôi cứ băn khoăn lo lắng không biết rồi vợ chồng còn gặp nhau không. Thôi thì phó mặt cho số phận đẩy đưa.
Ông xã tôi là người lúc nào cũng hết lòng về công vụ. Hồi mới ra trường, anh đổi ra làm việc ở Quảng Trị. Gặp trận Hạ Lào, anh ấy mỗi ngày phải thường trực giải phẫu 24/24 để cứu thương bệnh binh. Lúc đổi về Quân Y Viện Đoàn Mạnh Hoạch, Phan Thiết, anh vẫn một lòng tận tụy với nhiệm vụ. Anh không mở phòng mạch tư kiếm thêm tiền, không lươn lẹo ăn bớt thuốc men trong Quân Y Viện. Do đó anh rất được quân nhân các cấp trong QYV thương yêu quý mến.
Sau khi tôi và các con đi rồi, biết tỉnh Bình Thuận sắp thất thủ, anh ấy lo di tản các thương binh còn nằm ở Quân Y Viện vào Vũng Tàu. Vì mặt sau của Quân Y Viện là biển, và lúc bấy giờ các tàu Hải Quân VNCH còn khá nhiều, nên việc di tản được suông sẻ. Đến lúc tỉnh Bình Thuận bị lọt vào tay Cộng quân (19-4-75) thì ông xã tôi mới theo tàu Hải Quân vào Sài Gòn.
Chúng tôi gặp lại nhau. Chỗ ở trọ không tiện chút nào. Người bà con có nuôi hai con chó. Đêm nào chúng cũng leo lên chỗ chúng tôi nằm (vì giành giường của tụi nó) gây tiếng động ầm ĩ, chẳng ai ngủ được. Chúng tôi lại đi xin ở nhờ một người bà con khác. Nhà này có ba tầng. Lúc dọn đến chúng tôi được cho ở tầng ba, còn hai tầng kia Mỹ mướn. Ngày hôm sau, chúng tôi được biết có một tàu Mỹ sắp đi Thái Lan. Nếu chúng tôi lanh trí, ngõ lời xin "quá giang" thì chắc được chấp thuận rồi. Một phần vì lòng yêu quê hương, không muốn rời bỏ quê cha đất tổ, một phần vì chưa sống với Việt Cộng và cũng chủ quan anh ấy thuộc ngành y đâu có tội lỗi gì nên ở lại. Đời mấy ai học được chữ ngờ! Cũng vì không biết chớp lấy thời cơ đó mà cuộc đời xô đẩy gia đình tôi vào hoàn cảnh oan nghiệt.
2. Thời làm vợ tù
Sau lệnh đầu hàng của vị “Tổng Thống ba ngày”, chúng tôi trở lại Phan Thiết và rồi tôi trở thành vợ tù.
Tôi bị rơi vào hoàn cảnh một thân một mình nuôi chồng và bốn con còn nhỏ dại, chưa được chuẩn bị để thích ứng với tình huống này! Thời trước 1975, cả hai vợ chồng sống bằng đồng lương ít ỏi của nhà nước. Lương nhà giáo quá khiêm tốn, ai cũng biết rồi. Còn anh ấy là một bác sĩ quân y thanh liêm, tận tâm với trách nhiệm, không mở phòng mạch tư kiếm thêm tiền mà dành hết thời giờ cho công vụ. Do đó, tôi đã phải tiện tặn hết mức để không mang công mắc nợ. Khi anh đi tù tôi không còn chút tiền dư bạc để. Do đó tôi rơi vào hoàn cảnh đôi vai gầy guộc, ốm yếu của tôi gánh hai gánh nặng thân tình, ngang ngữa nhau, không thể bỏ gánh nào được cả.
Từ khi Việt Cộng chiếm miền Nam, gia đình chúng tôi không còn được ở trong khu gia binh QYV Đoàn Mạnh Hoạch nữa. Tôi phải xin tá túc nhà ông TTP, cũng là sĩ quan của Quân Y Viện. Khi ông xã tôi vào tù, tôi thấy không thể ở nhà người ta mãi nên tìm cách ra ở riêng. Dốc hết tư trang ngày cưới, tôi mua một miếng đất trên động cát thuộc phường Phú Thủy, Phan Thiết. Nơi đó có sẵn một căn nhà lá lợp tôn, để ngoài giờ đi dạy ở trường cấp 2B (tôi được lưu dụng với đồng lương đủ cho chục ngày chơ!), tôi "lao động sản xuất thêm để tự cứu mình và cứu gia đình.
Các con tôi bị xô vào hoàn cảnh nghèo khó. Nhờ vậy chúng trở nên khôn trước tuổi. Con chị mới 9 tuổi đã biết đi chợ nấu ăn, giặt đồ, dỗ em. Khi nào em khóc (thằng út mới 3 tuổi) thì con chị ra chặt mía, róc, chẻ nhỏ rồi đút cho em ăn. Thằng em trai kế nó, mới 8 tuổi cũng đã biết cùng với mẹ đi xin phân heo, cuốc đất, tưới nước để trồng khoai lang, khoai mì, biết xắt lát củ khoai phơi khô để dành thăm nuôi cha nó, biết cất lại một phần khoai để ăn độn với gaọ cho đỡ đói, vì gạo tiêu chuẩn có bao giờ ăn đủ cho 5 người! Hình ảnh đáng thương nhất là con bé H. L. 5 tuổi ngồi đưa võng cho thằng em 3 tuổi, vừa đưa vừa hát à... ơi nghe đau lòng đứt ruột! Khi trái chùm ruột chín, con bé tự ý giã muối ớt, đựng chùm ruột trong chiếc rỗ nhỏ, rồi đem ra đầu hẻm nhà mình mời các bạn nhỏ trong xóm mua.
Tội nghiệp các con tôi! Các con tôi cũng đói lắm, cũng thèm nhâm nhi chùm ruột với muối ớt lắm, vậy mà... Có người mẹ nào tim không quặn thắt, ruột không đứt từng khúc từng đoạn trước những tình cảnh này!
Cuộc sống của 5 mẹ con tôi trong căn nhà lá ấy, không sao kể xiết nỗi thống khổ, vất vả và đói khát. Tôi nhớ một câu văn của Thạch Lam: "Đói như cào ruột, đói như chưa từng thấy bao giờ." Bây giờ thì tôi đã có kinh nghiệm xương máu cái nghèo, cái đói đây! Nghèo đến nỗi khi đổi tiền, tôi không đủ tiền để đổi nữa. Học trò hàng xóm tốt bụng đưa tiền nhờ đổi giùm, sau đó tặng cho chút đỉnh gọi là "để cô mua bánh cho mấy em."
Ông xã vào tù rồi, phải mất mấy tháng sau, tôi mới được giấy cho đi thăm nuôi. Đây là lần thăm nuôi đầu tiên. Thời gian thật ngắn, vui thì ít mà xót xa lại nhiều. Tôi cảm xúc viết vài dòng thơ nói lên nỗi bi ai của tôi sau khi về nhà:

Khóc hết nước mắt đêm thâu

Sáng nay tươi tỉnh em vào thăm anh.
Chân em thoăn thoắt, nhanh nhanh,
Quản chi xách nặng, thênh thênh đường dài.
Ra đi định nói bao lời,
Đến khi gặp mặt hỡi ơi nghẹn rồi!
Bàn ngăn hai đứa ai ngồi
Lù lù một đống, muốn sôi gan mình.
Nói qua quýt, chuyện loanh quanh....
"Mấy con sức khỏe?" Băn khoăn hai người...
Còi huýt: "Năm phút rồi thôi!"
Bây giờ đôi ngã, đôi nơi chia lià!

Có dạo đi thăm nuôi ông xã, tôi gởi cho anh ấy mấy đồng để mua đồ ăn thêm. Nhiều tháng sau, lúc ra thăm trở lại, hỏi anh tiền hôm đó có mua được gì không. Anh nói vẫn còn nguyên. Tội nghiệp cho cả gia đình tôi ! Ở ngoài vợ con nhịn đói để nuôi tù, ở trong nhịn đói vì không nở "nuốt cái đói khát" của vợ con! Còn nỗi chua xót, đau đớn nào cho tôi hơn nữa!!!

Ở tù được hai năm rưỡi thì anh ấy được thả về. Thôi thì hết làm thợ mộc, thợ nề, lại đi bốc, đi vác... khi áo blouse xưa không đươc dùng đến nữa. Được hơn ba tháng thì Ủy Ban Nhân Dân Phường gọi anh ấy đến để "động viên" nhắc nhở "đăng ký" đi kinh tế mới". Anh ấy không chịu, lấy lý do: trong trại cải tạo, anh đã được học tập về đường lối, chính sách của nhà nước là sẽ lưu dụng những thành phần chuyên môn, và anh đang chờ đợi. Không ngờ đó lại là cái cớ để họ bắt anh vào tù lần thứ hai, bị ghép vào tội chống nhà nước. Lần sau này anh bị đưa vào trại biệt giam. Mấy tháng sau họ mới cho thăm nuôi. Khi gặp mặt, tôi thấy anh xanh xao, u buồn. Anh dặn dò: "Lần sau nhớ mua cho anh cây lược dày để chải chí và thuốc Dep để trị ghẻ." Điều kỳ cục là trại này không cho người tù nhận những món như bánh tráng, gạo..., chỉ cho nhận những thứ ăn chơi như: kẹo, bánh, đường, đậu... Lỡ mang đi, bị buộc mang về. Ra về lòng tôi vừa xót xa...
Lão trưởng khóm nơi tôi ở nói với tôi: "Chồng cô sẽ ở tù suốt đời vì tội phản động." Tôi nghe mà bủn rủn tay chân. Thôi chết rồi, biết làm sao đây! Tiếp theo phường lại "động viên" tôi, biểu tôi đi kinh tế mới. Tôi đáp: "Tôi yếu đuối, 4 con còn quá nhỏ, tôi làm được gì nơi đó?" Cũng may, nếu nghe lời họ, bây giờ mấy mẹ con tôi biết còn sống không?
Suốt mấy năm gian khổ, khi không thể cầm cự nỗi nữa (năm 1980) tôi xin thôi việc, bỏ Phan Thiết về Long Xuyên để ở gần cha mẹ tôi. (Lúc bấy giờ ông bà đang sống cùng gia đình người anh của tôi.) Ông xã tôi lúc đó còn trong tù, tôi phó mặc cho Trời, vì tôi không còn sức lực, không còn khả năng đi thăm nuôi nữa.
Trên danh nghĩa, tôi về Long Xuyên để nhờ anh tôi giúp đỡ. Chưa đầy một tháng thì anh ấy đưa toàn gia đình đi vượt biên hết. (Sau này tôi mới biết nhiều lần ông ấy đã đi vượt biên không thoát, nên gợi ý tôi về hòng che mắt công an, phường khóm.) Cha mẹ tôi lúc đó đã già. Anh tôi đi, ông bà mất chỗ dựa, lại thêm địa phương làm khó dễ vì nhà có người vượt biên nên bị khủng hoảng tinh thần, lâu dần sinh bệnh, nhất là mẹ tôi, bà đau ốm liên miên. Cuộc sống ở đây tuy gần cha mẹ tôi, nhưng lúc nào lòng tôi cũng thấp thỏm lo âu, cứ nơm nớp sợ không biết ngày nào người ta sẽ đuổi mình ra khỏi nhà, chừng đó biết đi đâu?
Hơn một năm sau, 1981, thình lình ông xã tôi được thả về. Từ đây, anh đi chích dạo, bán thuốc lá lẻ, bán vé số, làm đủ mọi nghề cho đến ngày nộp đơn đi H.O.

3. Từ giấy ra trại

tới cuộc phỏng vấn
Vì bị tù hai lần, ông xã tôi như một con chim bị đạn, cứ lo sợ không biết còn bị bắt lại nữa không. Vì thế, lúc nghe người ta kể về việc nộp hồ sơ đi Hoa Kỳ theo diện H.O., ông xã tôi vô cùng e ngại, lo sợ bị gạt, phải chờ đến khi có người bạn đi trước gởi thư về khuyên nhủ ông mới mạnh dạn làm thủ tục để ra đi.
Giấy ra trại là một vấn đề khiến gia đình tôi không yên tâm chút nào, vì trên giấy ghi rành rành "tội phản động chống chính quyền"! Chúng tôi hỏi thăm nhiều người, không ai có tờ giấy ra trại ghi như thế cả. Chúng tôi cũng được biết chính phủ Mỹ chỉ cho những thành phần quân, cán, chính chế độ cũ ở tù 3 năm trở lên mới được đi định cư ở Mỹ, còn những người chống chính quyền thì không được. Chúng tôi lại hỏi ý kiến bạn bè và được khuyên làm sẵn một tờ tường trình lý do bị tù lần hai. Vậy là có tờ report chuẩn bị cho cuộc phỏng vấn.
Rồi ngày gia đình tôi vào gặp phái đoàn Mỹ cũng tới. Tôi nhận thấy những gia đình H.O. được phỏng vấn trườc, hầu như đều đựơc giải quyết mau lẹ, không như gia đình tôi. Những đêm trước khi phỏng vấn, tôi đã cầu nguyện cho mọi việc suông sẻ. Vậy mà, khi gặp phái đoàn chúng tôi vẫn run, nhất là khi bà Mỹ nêu câu hỏi: "Tại sao anh là bác sĩ mà phải đi cải tạo cả 5 năm rưỡi?" Ông xã tôi khựng lại. Tim tôi đập thình thịch! Lát sau, bình tĩnh lại, tôi nhắc: "Anh, tờ report." chừng đó anh mới sực nhớ ra và đáp: "Xin bà đọc tờ report." Sau khi đọc xong, họ OK liền. Vậy là thoát nạn. Lúc ấy cả nhà tôi như vừa chết đi được sống lại.

4. Thời qua Mỹ

Gia đình tôi đến Hoa Kỳ năm 1992. Riêng tôi, qua năm sau mới được đi vì phải ở lại điều trị bệnh. Lúc mới qua, chồng và các con tôi đều nỗ lực làm việc và học hành. Con gái, con trai đều đổ ra shop may: con trai thỉ ủi đồ và cắt chỉ, con gái lãnh đồ may. Sau một thời gian, con tôi vào Đại học, nay thì đã tốt nghiệp và đi làm. Ông xã tôi, lúc mới qua, tự thấy lớn tuổi rồi, nếu học lại để lấy bằng thì ai thèm mướn nên cũng đành ra shop may lãnh đóng khuy nút một thời gian, sau đó vô làm ở một hãng Mỹ chuyên sản xuất nữ trang cho đến ngày nghỉ hưu.
Riêng tôi, thời gian vất vả trong những tháng năm cũ đã vắt kiệt sức lực của tôi. Tôi chỉ có thể làm những việc lặt vặt trong nhà, chứ không bươn chải nỗi như người khác được.
Đến Hoa kỳ, không ngờ chúng tôi có cơ duyên gặp lại những người bạn VN thân quen gần nửa thế kỷ, thật là vui! Có hai ông bác sĩ người Mỹ là Colman và Denatale cùng làm việc với ông xã tôi hồi ở Quảng Trị, trước mùa hè đỏ lửa, cũng tìm tới tận nhà thăm chúng tôi. Ai dám nói người Mỹ thực dụng, thiếu nghĩa tình? Vài tháng trước đây, cô con gái của ông bác sĩ Krainick từ Ohio cũng gọi phone qua hỏi thăm và nhắc lại những kỷ niệm xưa của cha mình với ông xã tôi. (Bác sĩ Krainick ngày xưa dạy ở Đại Học Y khoa Huế, là thầy của ông xã tôi, bị Việt Cộng sát hại năm Mậu Thân.) Thật là đậm đà tình người!
Đời tôi, những lúc vui buồn đều có bạn bè chia xẻ. Hôm tôi gởi bài viết của H.L., con gái tôi, kể chuyện thời đi bán vé số ở Long Xuyên bị người ta nhiếc mắng, chị LT người bạn thân ở Phan Thiết, từ Michigan gọi qua nói trong nước mắt: "Tội quá! Sao hồi đó em thiếu thốn, khổ cực thê thảm như vậy mà không chịu nói ra. Em làm chị đang ân hận là đã không giúp em!" Tôi đã câm lặng bao nhiêu năm trời để giữ gìn cái danh dự gia đình của tôi: "Đói cho sạch, rách cho thơm." "Hãy đứng trên đôi chân mình và ngững cao đầu tiến bước."
Nhìn lại những chặng đường đã qua, tôi tự thấy mình đã tận lực trong vai trò người mẹ, người vợ của một quân nhân VNCH trước và sau 30-4-75. Đời tôi sống đơn giản, không đua đòi se sua, không xúi giục chồng làm giàu bằng con đường tắt cong queo. Đó là nguyên nhân tôi nhận lãnh những cay đắng của cuộc đời, và những tủi nhục của tình đời. Tuy nhiên, hạnh phúc nào mà không trả giá bằng đau khổ? Nếm đủ cay, chua, mặn, đắng... chỉ làm cho ta cuối cùng thấy hạnh phúc thêm ngọt ngào hơn.
Cám ơn cuộc đời đã cho tôi và gia dình tôi nếm trải qua đủ mùi vị. Cám ơn nước Mỹ đã đưa gia đình tôi qua đây để đựơc sống những ngày an lành, hạnh phúc.

N. K.

Mục ruỗng từ bên trong

Bạn Paolo Nguyễn kể chuyện đi biểu tình chống quân Trung Quốc đè nén dân Việt Nam, bị bắt vào bót nghe anh công an khuyên can bằng những lời quen thuộc: “Ai cũng yêu nước, ai cũng bức xúc nhưng cứ yên tâm, có đảng lo rồi...!”



Một bà công an tên Oanh lại nhắc: “Mọi chuyện có nhà nước lo rồi, bọn em đừng làm mọi chuyện rối lên!”




Nhưng, chính cái đảng và nhà nước đó thực sự lại đang rối lên, rối đến nỗi phải la lên báo động với nhau! Tờ báo Quân Ðội Nhân Dân vừa mới cảnh giác các đảng viên cộng sản phải cùng nhau chống lại tình trạng “chế độ tự mục ruỗng từ bên trong;” và báo động là cảnh “mục ruỗng từ bên trong” đó sẽ “dẫn tới... sụp đổ.”




Ðể cho lời cảnh cáo này có trọng lượng, báo Quân Ðội Nhân Dân đã dẫn chứng cảnh sụp đổ của những chế độ độc tài trong 20 năm gần đây. Bắt đầu là những cuộc cách mạng “xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng Sản, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Ðông Âu bằng diễn biến hòa bình.” Những người bình thường và tỉnh táo ở khắp thế giới kể cả ở Việt Nam, khi nhắc đến các cuộc đổi đời trên thì hoan hỉ, mừng rỡ cho người dân các nước Nga và Ðông Âu, trong đó có cả các đảng viên cộng sản, được thoát cái họa độc tài và chậm tiến. Nhưng tờ báo Quân Ðội Nhân Dân thì ngược lại, lấy đó làm một dấu hiệu cần báo động!




Sau các biến cố ở Ðông Âu, báo Quân Ðội Nhân Dân nhấn mạnh đến các cuộc cách mạng ở các nước cũ thuộc Liên Xô: “...cuộc 'cách mạng đường phố' ở Nam Tư, 'cách mạng hoa hồng' ở Gru-di-a năm 2003, 'cách mạng cam' ở U-crai-na năm 2004, 'cách mạng tuy-líp vàng' ở Cư-rơ-gư-xtan năm 2005,...” rồi tiếp theo là những cuộc cách mạng hoa nhài ở Bắc Phi và Trung Ðông. Nhắc lại những cuộc cách mạng đó để làm gì? Chỉ cốt để hô hào các đảng viên cộng sản phải lo bảo vệ chế độ, đề phòng, chống lại cách mạng! Bao nhiêu năm đảng Cộng Sản vẫn lấy chiêu bài “Cách mạng” để mị dân, nhân danh hai chữ “Cách mạng” bắt mọi người hy sinh xương máu dựng lên một chế độ độc tài chuyên chế, rồi bảo vệ chế độ đó. Bây giờ chính cái đảng này đang hô hào đảng viên cùng đứng lên... phản cách mạng!




Mục tiêu của bài văn hô hào trên tờ Quân Ðội Nhân Dân là chống lại “các thế lực thù địch.” Các thế lực thù địch đó là ai, nó ở đâu? Họ lung túng, ấp úng như miệng ngậm hột thị, không cách nào kể ra được. Có lúc họ nói đến những “nước ngoài” khuyến khích các cuộc cách mạng ở những nước cựu cộng sản, hoặc thúc đẩy các cuộc cách mạng hoa nhài. Nhưng họ không dám công khai gọi tên đó là những nước nào cả, mà cũng không giải thích được là việc khuyến khích các cuộc cách mạng đó có ích lợi gì cho những “nước ngoài” đó hay là chỉ người dân các nước làm cách mạng đó được ích lợi. Một sự thật mà báo Quân Ðội Nhân Dân không dám nói ra, là chính người dân các nước trên, từ Ðông Âu đến Bắc Phi, đã đứng lên làm cách mạng lật đổ các chế độ độc tài, và họ đang sung sướng xây dựng chế độ tự do dân chủ cho mọi người dân cùng hưởng! Nói lăng nói nhăng như vậy chứng tỏ người viết bài trên tờ báo khinh thường trình độ hiểu biết của tất cả các độc giả, đặc biệt là các đảng viên cộng sản, đối tượng chính của họ!




Khinh thường độc giả, khinh thường các đảng viên cộng sản khác, cho nên tác giả bài báo trên Quân Ðội Nhân Dân mới đưa ra một lối lý luận rất lẩn quẩn khi giải thích tại sao có tình trạng “tự mục ruỗng từ bên trong” mà họ còn gọi tên là “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa.”




Hình ảnh “tự mục ruỗng từ bên trong” được tờ báo thuật lại, bao gồm tình trạng tham ô, tham nhũng, lối sống vô đạo đức của các cán bộ, đảng viên có chức có quyền, không cần nói ai cũng biết. Hậu quả của tình trạng chế độ tự mục ruỗng từ bên trong là không còn ai tin nữa. Nhưng nguyên nhân nào đã khiến cho chế độ “tự mục ruỗng” từ bên trong?




Ðối với những người bình thường và tỉnh táo, với cái đầu không đến nỗi ngu si thái quá, thì ai cũng biết tình trạng mục ruỗng đó là do chế độ độc tài chuyên chế. Khi một đảng nắm độc quyền cai trị hàng nửa thế kỷ mà không chấp nhận một định chế nào có khả năng cân bằng và kiểm soát, quyền hành của các cán bộ. quan chức không bị luật lệ nào ràng buộc và giới hạn, thì tham ô, nhũng lạm là hệ quả tất nhiên. Nhưng theo báo Quân Ðội Nhân Dân thì khác. Giống như bạn Paolo Nguyễn nghe các ông bà công an nói, báo Quân Ðội Nhân Dân cũng lập lại “những lời quen thuộc” lại đổ tội cho “thế lực thù địch!” Tờ báo này viết “các thế lực thù địch đặc biệt quan tâm” làm công việc gọi là “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa” đó. Vì tình trạng này “phù hợp với hướng tác động trong chiến lược ‘diễn biến hòa bình’ của các thế lực thù địch!” Chính các thế lực thù địch... “gia tăng các hoạt động tác động, chuyển hóa, làm cho chế độ ‘tự mục ruỗng’ từ bên trong, dẫn tới chệch hướng và sụp đổ!”




Người Việt Nam mình gọi lối nói đó là lý luận cù nhầy! Cứ hỏi các ông Huỳnh Ngọc Sỹ, Bùi Tiến Dũng, Sầm Ðức Xương, Nguyễn Trường Tô xem họ đã “tự diễn biến,” “tự chuyển hóa” tự “diễn biến hòa bình” theo lời xúi giục của các thế lực thù địch ngoại quốc nào? Ðổ tội cho người ngoài để chạy tội cho mình, để lừa dối dân, gạt gẫm các đảng viên, đó vẫn là đường lối quen thuộc của đảng Cộng Sản từ thế kỷ trước cho tới bây giờ.




Nhưng tại sao người ta đem đem những lý luận cù nhầy, những lời lẽ lăng nhăng đó ra đăng trên báo Quân Ðội Nhân Dân vào lúc này?




Lý do chính là có những người trong đảng Cộng Sản Việt Nam đang lo sợ cuống cuồng, muốn ngăn chặn những phong trào tự phát trong giới trí thức và người dân Việt Nam đòi các quyền dân chủ tự do.




Những cuộc biểu tình chống Trung Quốc hống hách và đè nén người Việt Nam từ một tháng qua đang chuyển hóa, dần dần biến thành một phong trào đòi tự do dân chủ. Nhân danh quyền được tự do tập hợp và bày tỏ ý kiến trước các hành động xâm lược của Trung Quốc, các nhà trí thức và thanh niên nước ta đang thẳng thắn đòi các quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do bầu cử và ứng cử. Ðây là cảnh tượng đã diễn ra hàng chục năm trước những cuộc cách mạng ở Ðông Âu, đã diễn ra ở các nước Bắc Phi và Trung Ðông bây giờ.




Báo Quân Ðội Nhân Dân phân tích các phong trào đòi dân chủ đó để báo động những người thủ cựu trong đảng Cộng Sản hãy rút ra bài học ở Ðông Âu và Bắc Phi: “Các thế lực thù địch đặc biệt chú ý thúc đẩy sự hình thành và công khai hóa các tổ chức chính trị đối lập... Thông qua các tổ chức đối lập, các thế lực thù địch tập hợp quần chúng, tiến tới tạo dựng ‘ngọn cờ’ và lực lượng đối lập trong xã hội, làm nòng cốt để tiến hành ‘cách mạng đường phố,’ nhằm thay đổi thể chế chính trị.” Người đọc lại tự hỏi “các thế lực thù địch” đó là ai mà tác động được hàng triệu người dân tay trắng ở Ðông Âu và Bắc Phi, Trung Ðông đứng lên làm cách mạng đường phố? Ðó chính là những người dân thức tỉnh, những nhà trí thức có lương tâm, họ không cam chịu sống mãi trong kiếp nô lệ, hèn yếu và chậm tiến, họ không cam chịu bị mất quyền sống xứng đáng với phẩm giá con người!




Nhưng hiện nay, mối lo của đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn chưa phải là một phong trào đòi tự do dân chủ bùng lên. Hai mối lo chính của họ là sức ép của Trung Quốc từ trên xuống và lòng yêu nước sôi sục của người dân đẩy từ dưới lên. Guồng máy công an của đảng vẫn còn hiệu quả trong việc đàn áp dân, nhưng vô giá trị khi cần đối phó với các đồng chí Trung Quốc. Cho nên, trong hai mối lo kể trên, những người thủ cựu trong đảng Cộng Sản chủ trương trước hết phải làm yên một mối lo dễ đối phó hơn, đó là dân. Nếu dân Việt Nam chịu ngậm miệng không lên tiếng phản đối Trung Quốc nữa, thì đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ dễ ăn dễ nói với các đồng chí cộng sản đàn anh Trung Quốc!




Nhưng đàn áp dân không dễ. Phải làm sao giải thích được việc đàn áp đó không phải là bênh vực các đồng chí Trung Quốc, bảo vệ các đồng chí Trung Quốc? Bài trên báo Quân Ðội Nhân Dân đã hiến kế: Ðổ tội cho các “thế lực thù địch” muốn “diễn biến hòa bình;” các thế lực thù địch muốn “tập hợp quần chúng, tiến tới tạo dựng ngọn cờ đối lập” trong xã hội và thay đổi chế độ!




Ðăng bài này trên báo Quân Ðội Nhân Dân là tiếng kèn thúc đẩy những người cầm đầu đảng Cộng Sản Việt Nam phải ra tay hành động, phải đàn áp mạnh mẽ các cuộc biểu tình chống Trung Quốc! Bài báo trên tờ Quân Ðội Nhân Dân nhấn mạnh: Cần nhận thức và ứng xử đúng đắn đối với việc hình thành các tổ chức “độc lập,” kiên quyết không để các thế lực thù địch lợi dụng để tác động chuyển hóa! Nói như vậy là giúp đảng Cộng Sản sẵn một cách giải thích: Cấm biểu tình tức là chống diễn biến hòa bình, chứ không phải là bênh Trung Quốc! Có thể coi đây là một thủ đoạn do các đồng chí Trung Quốc mach kế, muốn đảng Cộng Sản Việt Nam phải cấm người Việt Nam đi biểu tình trong những ngày tháng tới.




Người Trung Quốc rất khôn ngoan. Khi một tờ báo chính thức của đảng Cộng Sản nhân danh sự tồn tại của chế độ mà đòi hành động, các lãnh tụ đảng sẽ khó lòng từ chối lý luận này. Họ sẽ phải đàn áp dân để chấm dứt các cuộc biểu tình. Còn tình trạng mục ruỗng từ bên trong thì sao? Nói theo kiểu các ông bà công an: Cứ để đó, từ từ đảng sẽ lo, dân Việt Nam cứ ngoan ngoãn nhắm mắt và ngậm miệng!




Bây giờ nước Việt Nam chỉ còn trông cậy vào những người như Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Diện, như Anh Ba Sàm, như anh bạn trẻ Paolo Nguyễn. Tin tưởng vào mục tiêu hành động của mình. Tổ tiên đang nhìn xuống các bạn. Tương lai con cháu nằm trong tay các bạn! “Ðứng vững không khuỵu chân - trên mảnh đất nghèo khổ,” như câu thơ Thanh Tâm Tuyền viết trong nhà tù 30 năm trước đây.




Ngô Nhân Dụng




www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/?a=134289&z=7

Nữ Phi Công Elizabeth Phạm Vinh Thăng Thiếu Tá



Bà Elizabeth Phạm, phi công cuả Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ vừa mới đuợc vinh thăng thiếu tá. Bà là phi công lái máy bay F-18, phi cơ tối tân nhất hiện nay của Quân Lực Hoa Kỳ.
Thân phụ của bà là một cựu bác sĩ quân y QLVNCH, thân mẫu của bà cộng tác đắc lực trong hội hậu phương ủng hộ tiền tuyến tại địa phương cư ngụ, thành phố San Diego. Đó cũng là căn cứ gốc của thiếu tá Elizabeth Phạm .
Sau khi tốt nghiệp đại học, vị nữ sĩ quan này đã gia nhập Không Quân; bà đỗ thủ khoa trong khóa học đáp xuống hàng không mẫu hạm, thử thách lớn nhất cho mọi phi công.
Bà đã phục vụ tại lực lượng tiền phương vùng Thái Bình Dương, chiến trường Trung Đông, đặc biệt là tại Iraq, tăng cường hỏa lực, yểm trợ tại mặt trận cho lực lượng TQLC Hoa Kỳ trong các chiến dịch tại đó.
Sau một thời gian phục vụ tại Bộ Quốc Phòng tại vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn, nhiệm vụ mới của tân thiếu tá Elizabeth Phạm sẽ là phi công trong lực lượng ứng chiến thường trực tiền phương của Quân Lực Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, căn cứ tại Nhật Bản với hàng không mẫu hạm.



Song Kim

NƯỚC MẮT VÀ MÁU CỦA ĐỒNG BÀO VIỆT NAM TỪ HIỆP ĐỊNH GENÈVE 1954

Hôm nay là ngày 20 tháng 7 năm 2011, đúng 57 năm ngày ký Hiệp Định Geneve chia đôi đất nước để có cuộc di cư vĩ đại lần thứ nhất: từ Bắc vào Nam Việt Nam; và Mỹ can thiệp vào để có cuộc di cư lần hai to lớn hơn: bỏ nước ra đi sau 30 tháng 4 năm 1975; rồi tháng 7 năm 2010 Mỹ vào Việt Nam tuyên bố trở lại!

Do đó hôm nay cần ôn lại chút lịch sử ngày 20 tháng7 trong đọan cầu trên nửa thế kỷ nầy để tòan dân trong nước hiểu.

http://tinypic.com/67i7fpf.gif

Năm 1999, cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Mỹ Robert McNamara xuất bản quyển “Cuộc Tranh Luận không Chấm Dứt” (Argument Without End) về Việt Nam họp với các sử gia Cộng Sản như Tướng Võ Nguyên Giáp đi tới kết luận là Hoa Kỳ và miền Nam Việt Nam vi phạm Hiệp Định Geneve trước. Trong loạt bài “Trả Lời RobertMcNamara”, tên tạp chí Văn Nghệ Tiền Phong tại Mỹ, chúng tôi đã chứng minh rằng Hồ Chí Minh vi phạm ngay khi chưa ký hiệp định Geneve.

http://www.niemtinvietnam.net/dacsan/uploads/image/Geneve54.jpg

Ký kết hiệp định Genevè: Đại tướng Pháp Deltheil (trái) và Thủ Tướng Việt Minh Tạ Quang Bửu

Bài này còn đào sâu vào lịch sử, rằng người Tây Phương, nhất là người Mỹ, bị VC tuyên truyền cho rằng chính phủ và quân đội miền Nam chỉ là “lính đánh thuê” cho Pháp rồi cho Mỹ; vua Bảo Đại là “bù nhìn” của thực dân; còn Hồ Chí Minh mới thực sự là nhà lãnh đạo cuộc cách mạng đánh Tây đuổi Mỹ dành độc lập và thống nhất đất nước. Sự thực cũng ngược lại bằng bài nêu câu hỏi: Ai Vi Phạm Hiệp Định Geneve?


Chúng tôi bắt đầu từ cuộc phỏng vấn đăng trên tờ Thời Báo San José Xuân 1998 về "biến cố nào quan trọng trong đời mà ông còn nhớ mãi”, Tổng Lãnh Sự Việt Cộng Nguyễn Xuân Phong ở San Francisco trả lời rằng đó là: "lúc ông phải chia tay mẹ đi tập kết ra Bắc. Mới 10 tuổi”. Ông "nhớ mẹ, nhớ em, nhớ bạn bè và đã khóc sướt mướt ... Nhưng đau đớn nhất là cả mẹ và con cứ tưởng hai năm sau sẽ đoàn tụ thì cuộc xa cách phải kéo dài tới hai mươi năm. Trong khoảng thời gian ấy, tôi cũng như bao thanh niên khác nguyện dấn thân vào sự nghiệp giải phóng đất nước".

Chúng tôi đã dùng câu trả lời này soạn thành bài viết sau đây, đã phát thanh về Việt Nam qua đài Quê Hương và đài Việt Nam Tự Do vào cuối năm 1999, lúc ấy Phạm Văn Đồng còn sống, để người quốc nội nghe biết mà hỏi tội Phạm văn đồng hoặc ít nhất hỏi nhân chứng sống đó—tức Phạm Văn Đồng-- cho biết sự thật.

Đến năm 2001 chúng tôi còn làm copy để chiến sĩ Nguyễn Thị Ngọc Hạnh, người đang ở tù vì chống Phó Thủ Tướng Nguyễn tấn Dũng, để nộp vào hồ sơ tố cáo tội ác Hồ Chí Minh tại tòa hình sự liên bang San Francisco và cũng để trả lời những quan điểm sai lầm của những người Mỹ Cộng và Mỹ thân Cộng.

Câu đáp của Tổng Lãnh Sự Cộng Sản Nguyễn Xuân Phong không là một câu tâm tình thông thường, mà là một phát biểu đầy ý nghĩa lịch sử chính trị, mà VC luôn luôn dùng cái đau đớn của người miền Nam đi tập kết ra Bắc theo Hiệp Định Đình Chiến Genève năm 1954 với tin tưởng hai năm sau sẽ có tổng tuyển cử thống nhất đất nước rồi sẽ được sum họp gia đình để lấy cớ dàn dựng Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam; vì tóm lại, câu "tâm tình" trên đây của Tổng Lãnh Sự Nguyễn Xuân Phong có tác dụng làm thế hệ trẻ tiếp tục thấy cuộc chiến "chống Mỹ cứu nước" của VC là chính nghĩa và Hồ Chí Minh có công thống nhất đất nước!

Sự thật, "AI CHẶT XẺ DÂN TỘC VIỆT NAM?" Chính Hồ Chí Minh, đặc trách Á Châu Sự Vụ của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản, muốn thôn tính vùng Đông Nam Á Châu bằng việc thành lập đảng Cộng Sản Đông Dương từ năm 1930. Nhưng vì thế giới Tự Do và các đảng phái Quốc Gia không chấp nhận chủ nghĩa ngoại lai, nên HCM "ăn miếng lớn không được", phải chấp nhận "ăn miếng nhỏ" bằng cách đội lốt Quốc Gia tranh đấu chống thực dân Pháp, âm mưu chia đôi đất nước về cho Chúa Đỏ Nga Hoa, để làm bàn đạp nhuộm Đỏ cả vùng Đông Nam Á sau nầy, và cũng chính phe Hồ Chí Minh đưa ra việc tổng tuyển cử. Việt Nam Quốc Gia cực lực chống việc chia đất và không hề ký vào hiệp định bán nước đó.

Quốc Trưởng Bảo Đại không tham dự phiên họp tại Geneve

Trước hết, cần nhấn mạnh là chính Hồ Chí Minh vâng lệnh Nga Tàu chia hai đất nước. Còn chính Quốc Trưởng Bảo Đại mới là người dám chống lại thực dân Pháp khi biết âm mưu của họ nhằm chia hai đất nước. Ngài đã coi Việt Minh như “bọn phiến loạn”, không thèm phó hội. Chỉ khi nào Tổng Thống Pháp cam kết với Ngài bằng văn thư hẳn hòi, bảo đảm rằng không có chuyện chia đôi lãnh thổ của Ngài, thì Quốc Trưởng mới cử người tham dự hội nghị Genève.

Lịch sử còn ghi rõ trên giấy trắng mực đen, chính Phạm Văn Đồng biết rõ:

Hội nghị Genève chính thức khai mạc vào 4 giờ chiều ngày 8 tháng 5 năm 1954. Gần đến giờ họp mà dẫy ghế khu Cộng Sản vẫn trống trơn, không thấy bóng một người nào. Bốn giờ kém hai phút, ngoại trưởng Liên Sô Molotov bước vào phòng họp, sau ông là phái đoàn Nga trịnh trọng đi hàng một như cuộc diễn binh. Kế đó là ngoại trưởng Trung Cộng Châu Ân Lai và Phái đoàn Trung Cộng. Nối đuôi Trung Cộng là Phó Thủ Tướng Phạm văn Đồng, sau Phạm văn Đồng là phái đoàn Việt Minh cũng nghiêm trang trịnh trọng đi hàng một như đi diễn binh. ..Người ta thấy ba phái đoàn chỉ là một. Người ta thoáng thấy kỷ luật, trật tự của Cộng Sản.." Đây là ghi chép của Luật Sư Trần Văn Tuyên, một thành viên của phái đoàn Quốc Gia Việt Nam tham dự hội nghị.

Về hình thức, đi họp hội nghị Genève, Việt Minh Cộng Sản đã là chú lính tò te "long trọng" diển hành theo đuôi quan thầy Nga- Hoa trước mặt thế giới kiểu đó, có đúng không, xin ông Phạm Văn Đồng đang còn sống, hãy trả lờí!

Còn về nội dung, thì, ngày 25 tháng 5, 1954, chính trưởng phái đoàn Việt Minh là Phạm Văn Đồng đưa ra đề nghị "trao đổi lãnh thổ" để mỗi bên có khu tập kết riêng biệt. Cách vào họp đi chung thành một khối của phe CS như vậy, ai cũng biết là đề nghị của Phạm văn Đồng đã được quan thầy Nga Hoa "nhất trí" rồi. Chỉ còn vận động cho phe không CS chấp thuận. Nên sau đó có những cuộc "đi đêm" của phái đoàn Việt Minh với phái đoàn Pháp. Tạ Quang Bửu, phó Bộ Trưởng Quốc Phòng, thành viên của phái đoàn Việt Minh, gặp hai đại biểu của phái đoàn Pháp lúc 10 giờ đêm ngày 10 tháng 6 năm 1954 tại một biệt thự trên hồ Genève. Bửu trải bản đồ Đông Dương trên bàn, rồi đặt tay lên vùng trung châu Bắc Kỳ nói:"Chúng tôi phải có vùng nầy, chúng tôi phải có một quốc gia, chúng tôi phải có một thủ đô cho quốc gia chúng tôi, chúng tôi phải có một hải cảng cho thủ đô chúng tôi"

Cần nhấn mạnh là Hội Nghị Genève chủ yếu là hội nghị về quân sự, bàn về việc ngưng bắn, mà Pháp muốn có để rút quân về nước trong danh dự. Nay lại nghe bàn đến giải pháp chính trị, nên đại biểu Pháp hỏi Bửu:"Như thế có nghĩa là cắt đôi Việt Nam phải không?" Tạ Quang Bửu trả lời:"Đó chỉ là chia cắt tạm thời, về sau sẽ có tổng tuyển cử để thống nhất". Tin nầy được báo cáo về Paris khiến Tổng Thống Coty của Pháp hết sức lo ngại.

TẠI SAO PHÁP QUAN TÂM ĐẾN ĐẾN SỰ CHIA CẮT VIỆT NAM?

Vì Tổng Thống Pháp đã hứa với Quốc Trưởng Bảo Đại: sẽ không có sự chia cắt Quốc Gia Việt Nam. Sự thật lịch sử còn ghi rõ: khi thua trận Điện Biên Phủ và vì nội bộ nước Pháp khủng khoảng trầm trọng, Pháp muốn có Hội Nghị Genève về Đông Dương nầy. Muốn những gì ký kết có giá trị thi hành thì phải có các cường quốc Tây Phương như Anh, Mỹ tham dự và dỉ nhiên phải có Quốc Gia Việt Nam mà lúc ấy Pháp đã trao trả độc lập, và có chủ quyền riêng. Còn phe Cộng Sản thì dỉ nhiên Tàu và Nga muốn phải có Việt Minh.

Do tuyên truyền, ta chỉ nghe Bảo Đại là “bù nhìn” của thực dân Pháp, thực sự thì Ngài đã chống Pháp một cách quyết liệt để bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ Quốc Gia Việt Nam.

Ngay từ đầu, khi nghe tin sẽ có hội nghị Quốc Tế phân chia Việt Nam như kiểu Triều Tiên, Quốc Trưởng Bảo Đại đã đích thân bay sang Paris gặp Tổng Thống Pháp René Coty tại lâu đài Vizille ngày 16 tháng 4 năm 1954, và gặp Thủ Tướng Pháp Laniel và Georges Bidault ngày 21 tháng 4; Ngài cũng gặp Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Foster Dulles cũng đang có mặt tại Paris. Trong tất cả những cuộc tiếp xúc đó, Quốc Trưởng Bảo Đại đều phản đối việc chia cắt và khăng khăng không chịu ngồi họp chung với Việt Minh mà Ngài cho là "bọn phiến loạn".

Trong quyển hồi ký “Con Rồng Việt Nam”, trang 505, Quốc Trưởng Bảo Đại ghi rõ những ngày tháng gặp gở những nhà lãnh đạo hai cường quốc Pháp, Mỹ như trên và thẳng thắng lên tiếng với những chính khách sẽ ảnh hưởng đến vận mạng đất nước mình, rằng:

“Tôi xác định vị trí của tôi: bởi vì là một hội nghị, tôi chỉ đến dự khi được mời, do quốc thư của các nước tham dự hội nghị. Nhưng tôi không muốn nhìn Việt Minh. Tôi là chính phủ chính thức, và tôi không chấp nhận ngồi chung với bọn phiến loạn.”

Biết tuyên bố như vậy chưa đủ căn bản pháp lý để ràng buộc các cường quốc, hai ngày sau, tức ngày 23 tháng 4 (năm 1954) Quốc Trưởng Bảo Đại viết thư chính thức cho Tổng Thống Pháp Coty, yêu cầu triệu tập hội đồng Liên Hiệp Pháp. Nhưng đã quá trể, vì chỉ một ngày sau đó, tức là ngày 24 tháng 4, Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Quốc Định đã nhận được thông báo chính thức của Ngoại Trưởng Pháp Georges Bidault về dự định của chính phủ Pháp đối với hội nghị sẽ mở ở Genève.

Không được thỏa mãn trong việc xin triệu tập hội đồng Liên Hiệp Pháp, và biết mình bị áp đặt chấp nhận một chuyện đã rồi, Quốc Trưởng Bảo Đại vẫn không chịu thua, Ngài cho phát hành một tuyên cáo chính thức với thế giới về quan điểm của Quốc Gia Việt Nam đối với âm mưu chia cắt tổ quốc Ngài, không như phái đoàn Hồ Chí Minh ngoan ngoản đi theo đuôi của quan thầy Nga Hoa để chia đôi đất nước như trình bày trên.

Quốc Trưởng Bảo Đại viết:

Hôm sau, 26 tháng 4 (1954), tôi cho Văn phòng của tôi ấn hành bản thông cáo nói rõ:

“Nước Việt Nam không thể chấp nhận những điều khoản về hội nghị dàn xếp, trong đó nước Pháp, đi trái với nguyên tắc của Liên Hiệp Pháp, mà nhân danh nó, nước Pháp lại đi điều đình với bọn phiến loạn chống lại nước Việt Nam và với những cường quốc đã chống lại Việt Nam.”

Tuy chưa biết hội nghị Genève sẽ ngã ngũ ra sao, nhưng Quốc Trưởng Bảo Đại đã lên tiếng chính thức tố giác những dự định phân chia Việt Nam theo kiểu Triều Tiên, hay tập hợp riêng rẽ từng vùng một. Ngài kết luận trong bản thông cáo:

“Cả từ Quốc Trưởng lẫn Chính phủ Việt Nam đều coi như không liên hệ gì đến những quyết định đi ngược lại với nền độc lập và thống nhất của đất nước.”

Bản tuyên cáo “tẩy chay” không nhìn nhận ngồi chung với bọn phiến loạn Việt Minh, có nghĩa là không dự hội nghị Geneve ấy, đã làm cho các cường quốc bối rối. Nhiều chính khách Tây Phương đã thay nhau tìm gặp Bảo Đại với tính cách cá nhân để ngầm báo cho biết là các cường quốc Nga Mỹ đã xếp đặt cả rồi tại hội nghị Berlin. Bidault của Pháp cũng đã gặp Molotov của Nga v.v. Riêng nước Pháp thì cho Quố c Vụ Khanh Marc Jacquet ụ xin gặp Bảo Đại để “hù” Ngài rằng “đây là người Mỹ đã bày ra tất cả”. Rồi Bộ Trưởng Ngoai giao Bidault còn cho Đổng Lý Văn Phòng Pierre Falaise đến gặp Bảo Đại tại nhà riêng ở Cannes để xin Ngài cử người đi phó hội. Rằng đi dự hội nghị cũng chỉ là để biết vị trí của Việt Nam khi có mặt của phái đoàn Việt Minh.

Bảo Đại viết: “Tôi cảm thấy cái bẫy mỗi ngày một thắt chặt lại. Nhưng tôi muốn bảo vệ nền độc lập đến kỳ cùng. Tôi phải trả lời ông Bidault (rằng): Chúng tôi chỉ đến Genève để đàm phán về sự có chấp nhận Việt Minh vào hội nghị hay không, và với điều kiện là chúng tôi phải được các cường quốc Tây phương mời: Hoa Kỳ, Anh, Pháp, để cùng với đại biểu của họ dự phiên họp đầu tiên.” ( Con Rồng Việt Nam, trang 506)

Chính vì áp lực của Pháp và lời khuyên của ông Heath Đại Sứ Hoa Kỳ lúc đó mà Quốc Trưởng Bảo Đại mới cử Ngoại Trưởng Nguyễn Quốc Định đi Genève tham dự hội nghị sơ bộ ngày 3 tháng 5 năm 1954. Là Quốc Trưởng một nước nhược tiểu, lại bị “mẫu quốc” đô hộ cả thế kỷ, nhưng Vua Bảo Đại không vì thế mà khúm núm vâng lời các cường quốc như Cộng Sản thường rêu rao. Trái lại, Ngài viết:

“Nhưng tôi cũng chẳng để họ khuất phục được. Vì thế, khi nó chưa từng đề cập đến, tôi vẫn từ chối bọn Việt Minh vào trong hội nghị. Nay tôi cương quyết đặt vấn đề với phái đoàn Pháp để được rõ ràng, và buộc họ phải cam đoan bảo đảm cho nền thống nhứt của Việt Nam.”

Trước sự cương quyết của nhà Vua, và lúc ấy Ngoại Trưởng Pháp đã được chính phủ cho toàn quyền giải quyết, cốt giữ cho Hội nghi được trơn tru, Ngoại Trưởng Pháp Georges Bidault đã gưỉ cho Quốc Trưởng Bảo Đại một bức thư nhấn mạnh:

"Chính phủ Pháp trong thời gian nầy, không cho là đi tìm một giải pháp chính trị vĩnh viễn. Công việc của tôi, như đã nói rõ trong bản thông cáo ở Berlin, là tìm hòa bình cho Đông Dương. Mục đích của chúng tôi là đi tìm việc ngưng bắn, trong khuôn khổ một cuộc đình chiến, đem lại bảo đảm cần thiết cho các quốc gia Đông Dương, cho nước Pháp và các cường quốc đồng minh mà quyền lợi tổng quát của họ có liên hệ chặt chẽ với quyền lợi của chúng tôi ở khắp Đông Nam Á (.... )

“Ngay từ bây giờ, tôi sẳn sàng xác nhận với Hoàng Thượng rằng chính phủ (Pháp) không có ý định sửa soạn lập ra hai quốc gia trên lưng nước Việt Nam Thống nhất, để hai quốc gia nầy mỗi nước có xu hướng quốc tế khác nhau." (CRVN, tr. 507)

Cho nên, khi tin phái đoàn Phạm Văn Đồng đòi phân chia Việt Nam, ngoại trưởng Bidault, cũng là trưởng phái đoàn tham dự Hội Nghị Genève của Pháp, lúc ấy đang về Paris để trả lời chất vấn của Quốc Hội Pháp về Hội Nghị Genève, cũng phải tức khắc bay trở lại Genève .

Báo chí Pháp ngày hôm sau, 11/6/1954, đăng tin "chia đất" trên trang nhất.

Ông Nguyễn Quốc Định, Trưởng phái đoàn Quốc Gia Việt Nam đã lên tiếng phản đối mạnh mẽ. Ông Định cho rằng đề nghị của Việt Minh có nghĩa là "Chặt xẻ dân tộc Việt Nam" và ông nói:"Tôi để cho phái đoàn Việt Minh trách nhiệm với lịch sử về sau nầy. Chúng ta ở đây để làm cho tự do, pháp lý, công bằng thắng, hay đã làm cho sức mạnh và chánh sách "sự đã rồi" thắng? Nếu sự chia đôi được chấp thuận thì sẽ không có hòa bình mà chỉ ngưng chiến một lúc để rồi lại tái chiến. Người ta chưa từng thấy một nước nào bị chia xẻ lãnh thổ mà không tìm cách xóa bỏ việc chia cắt đó và lập lại ranh giới lịch sử. Chia đôi, nghĩa là sớm muộn cũng lại có chiến tranh".

Như vậy, lịch sử còn đây. Ai Chặt Xẻ Dân tộc Việt Nam? AI LÀM ĐAU ĐỚN MẸ VIỆT NAM? Phạm Văn Đồng, hãy trả lờí với toàn dân!

Khi Quốc Trưởng Bảo Đại bổ nhiệm ông Ngô Đình Diệm lập nội các, ra mắt ngày 7 tháng 7 năm 1954, Bác Sĩ Trần Văn Đổ đảm nhận chức Ngoại Trưởng và làm trưởng đoàn Việt Nam đi dự hội nghị Genève. BS Đổ cũng cực lực chống lại đề nghị chia cắt lãnh thổ dù chỉ là tạm thời của Phạm văn Đồng. Ông nói:

"Dù sự chia cắt nầy chỉ tạm thời, chắc chắn nó sẽ tạo cho Việt Nam những hậu quả tương tự như ở Đức, Áo và Triều Tiên"

Phạm văn Đồng lúc đầu đòi chia cắt từ vĩ tuyến 13, tức đất Quốc Gia chỉ có phần nhỏ từ Tuy Hòa trở vào Nam mà thôi. Rồi sau cả tháng trời kèn cựa, ngày 19 tháng 7, 1954, Phạm văn Đồng tuyên bố chỉ rút lui thêm về phía Bắc 100 cây số trên vĩ tuyến 16. Vậy tại sao lịch sử lại ghi Việt Nam ta bị chia đôi ở vĩ tuyến 17 mà không 13 hay 16 như Phạm văn Đồng đề nghị?

Hãy nghe sử gia Pháp Jean Lacouture, người đã có công thổi phồng thần tượng Hồ Chí Minh trong chính giới Tây Phương, ghi lại diễn biến lịch sử đó trong quyển "La fin d'une guerre, Indochine 1954", trang 311, được dẫn lại trong "Việt Sử Khảo Luận" tr. 2638 của Hoàng Cơ Thụy, về ngày 20 tháng 7, một ngày trước khi ký Hiệp Định chia xẻ đất mẹ: sáng đó, Phạm Văn Đồng, Eden (Ngoại trưởng Anh) và Molotov gặp nhau. Buổi trưa Mendès France (Pháp) gặp Chu Ân Lai rồi cả hai đi tới Bocage để gặp Đồng, Eden và Molotov. Jean Lacouture viết :

"Chung quanh một chiếc bàn lớn, ghế xô đẩy ngổn ngang, người ta thấy bốn ông Eden và P.M.F (ghi chú riêng: chử tắc của Pièrre Mendès France); Molotov và Châu Ân Lai bao quanh Phạm Văn Đồng, ông nầy mồ hôi nhễ nhại trước mặt một bản đồ Đông Dương, mặt hốc hác hầu như đau đớn: bởi địa thế của phần Việt Nam Cộng Sản cứ phải bị đẩy lui dần từng cây số một về phía Bắc.

"Đến khoảng 17 giờ, Molotov nói như truyền lệnh: bằng lòng nhau về vĩ tuyến 17 đi... (entendons-nous sur le 17è parallèle...)

Eden và P.M.F vội liếc nhìn nhau: Vĩ tuyến 17 chỉ còn cách đường phân ranh của Anh-Mỹ có chừng hai chục cây số, vậy xin chấp nhận!"

Đến đây đã quá rõ ai là tác giả của con số 17. Nhưng ông Khrouchtchev, Tổng Bí Thư của Đảng CS đệ tam quốc tế, người kế vị Satlin, ( tức ông nội của Tố Hữu—bài thơ dạy mẹ con “tiếng đầu lòng con gọi Stalin”và “thương mình thương một, thương ông thương mười” và là tổ tiên của con cháu Hồ Chí Minh như loại Đại sứ MÒ SÒ Lê văn Bằng và Tổng Lãnh Sự VC Nguyễn Xuân Phong bây giờ) còn xác nhận minh thị trong hồi ký của ông:

"Chúng tôi có chỉ thị cho nhân viên ngoại giao (tức Molotov, trưởng phái đoàn Nga trong hội nghị Genève) rằng lúc đầu phải cứng rắên, phải đòi giới tuyến tối đa là vĩ tuyến 17. Bất ngờ đối phương nhận ngay, tin đó làm chúng tôi há miệng vì ngạc nhiên và khoái lạc" (bouchée de stupéfaction et de plaisir).

Câu tuyên bố nầy trả lời rõ là tổ tiên của Cộng Sản, là những "ông Tây có nhiều râu" tức Karl Marx, Lê Nin và các tên đồ tể kế vị, đã ra lệnh cho Hồ Chí Minh và đồng đảng banh xé mẹ Việt Nam. Nhưng nó cũng bóp méo sự thật khi bảo rằng "đối phương nhận ngay". Vì từ hình thức đi vào phòng khai mạc hội nghị Genève theo đuôi hai ông chủ Nga Hoa ngày 8 tháng 5 năm 1954, cho tới một ngày trước khi ký việc chia cắt, Phạm Văn Đồng bị bao quanh bởi Nga Sô, Tàu Cộng và Anh Quốc, không hề có mặt Việt Nam Quốc Gia và đồng minh là Hoa Kỳ?

Theo chính sử gia thiên tả Lacouture ghi chép như trên thì quả thật tên đầy tớ Phạm văn Đồng rất trung thành rao bán đấu giá ép cho Quốc Gia VN, từ 13 rồi đi đến chỉ thị 17 của chủ đã dạy sẳn, chứ phe Quốc Gia và và Hoa Kỳ làm gì có sự chấp nhận ngay?

Chẳng những không hề "chấp nhận ngay", mà 3 ngày trước ngày 21 là ngày Phạm Văn Đồng ký xẻ chặt đất nước theo chỉ thị của Nga như trên, BS Trần văn Đổ của phe Quốc Gia còn lên tiếng cực lực chống đối việc chia cắt nầy trước hội nghị Genève.

Cộng Sản Hồ Chí Minh và tên bán nước Phạm văn Đồng đã cấu kết với thực dân Pháp chia xẻ mẹ Việt Nam chúng tôi, bất chấp tiếng kêu rên thống thiết của phái đoàn chúng tôi cho dân tộc. Nhà sử học thiên tả của Pháp, Jean Lacouture là nhân chứng của phút giâỳ lịch sử đó. Trong quyển "La fin d'une guerre, Indochine 1954" tr.338) ông viết về ngày 18 tháng 7 lịch sử đó:

"Bỗng nhiên, người mà không ai đợi chờ, ông Tổng Trưởng Việt Nam Trần Văn Đổ đứng lên và với một giọng nghẹn ngào, một tiếng nói khô khan vì cảm động, nêu ra lời phản kháng việc chia đôi đất nước của ông và cách thức người ta định đoạt số phận của người Việt Nam. Nhưng trước đó, bài diễn văn bả lả (discours palatin) của ông Molotov đã làm mọi người hết sức hể hả nên ít ai để ý tới sự can thiệp đáng thương của ông Tổng trưởng vua Bảo Đại".

Luật sư Trần Văn Tuyên, một thành viên của phái đoàn Quốc Gia Việt Nam, cũng kể lại giây phút cảm xúc của BS Trần Văn Đổ:"Bổng nhiên Trưởng phái đoàn Việt Nam Quốc Gia đứng lên, nghẹn ngào, cất tiếng phản đối việc chia xẻ non sông Việt Nam. Phòng họp im phăng phắc, kể cả bên phía cộng sản, như người ta truy điệu một người vừa khuất...Không ai nghĩ tới bản tuyên ngôn, nhưng người tin rằng Ngoại trưởng Trần Văn Đổ đã ứa lệ mặc dù ông không hề khóc".

Đó, hởi những người CS bị dụ dổ, bị cưởng bức phải xa lìa vú mẹ lúc mới lên 10 tuổi như Nguyễn Xuân Phong; hởi những người Cộng Sản bị Hồ Chí Minh lừa gạt lòng yêu nước, những người đã phải khóc sướt mướt vì bị chia lìa tình cốt nhục; những người phải đổ lệ, đổ máu trong chiến tranh "thống nhất" đất nước, hãy biết rằng trước quí vị, người Việt Quốc Gia đã khóc cho số phận của giống nòi. Chính Phạm văn Đồng đã tỏ ra nhể nhại mồ hôi, hóc hác "đau đớn" khi phần đất dâng cho chủ Nga Hoa bị thu nhỏ lại! Vậy những người CSVN muốn oán hận vì đất nước bị chia đôi, muốn trả thù cho dân tộc, hãy tới lăng Ba Đình, lôi xác chết sình của Hồ Chí Minh ra mà hỏi tội; và hỏi tội thủ tướng Phạm Văn Đồng của quí vị! Nghe nói ông Phạm văn Đồng đang bệnh nặng, vậy trước khi đi gặp "Bác Hồ sống mãi trong quần (chúng)" của ông, hãy còn một chút liêm sĩ, lên tiếng trả lời với hồn thiêng sông núi, với lịch sử dân tộc: AI CHẶT XẺ DÂN TỘC VIỆT NAM? Phạm Văn Đồng, trả lờí đí!

Chắc chắn là Phạm Văn Đồng không dám trả lời, vì nếu trả lời đúng sự thật như trên thì ông Thủ Tướng đã “chửi cha” cái “Báo Cáo Tại Hội Nghị Chính Trị Đặc Biệt” ngày 27 tháng 3, 1964 của Bác Hồ, đoạn nói về Hiệp Định Genève, rằng:

"Đáng lẽ thì sau hội nghị giơ-ne-vơ (Geneve), nhân dân cả nước ta có thể an cư lạc nghiệp, xây dựng nước nhà. Nhưng bọn đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai đã phá hoại hiệp định đó, chia cắt nước ta, gây ra cuộc chiến tranh tàn khốc ở miền Nam. Chúng đốt phá làng mạc, giết hại nhân dân, giam cầm hãm hiếp, mỗ bụng chặt đầu, trẻ không tha già không nể. Tội ác tày trời ấy làm cho cả loài người văn minh sôi sục câm hờn. Chính vì vậy mà 14 triệu đồng bào miền Nam ta kiên quyết đứng dậy kháng chiến đến cùng. Đồng bào miền Bắc ta vì máu chảy ruột mềm mà không một giờ phút nào không nhớ đến miền Nam anh dũng và sự nghiệp đấu tranh thống nhất nước nhà.” (HCM, Vì độc lập tự do, vì XHCN, ST, HN, 1970, tr.253)

Các em tuổi trẻ trong nước hẳn đã bị bắt học cái báo cáo láo khoét ấy trong quyển “Văn Hồ Chủ Tịch”, tác phẩm chọn lọc dùng cho nhà trường, trang 158.

Hãy đọc kỷ lại và so sánh với tài liệu lịch sử trên đây để biết tội ác “ngậm máu phun người” của Bác đã đưa dân tộc vào hai cuộc chiến “đánh Tây đuổi Mỹ” đẩm máu, để có một Việt Nam CS thống nhất, nghèo hèn nhất thế giới như ngày nay.

Mẹ Việt Nam ơí! Chúng con hãy còn đây! Chúng con hãy còn đây, thì

những vết dao của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam 60 năm nay đã làm đau đớn thân mẹ, vu khống tâm hồn mẹ, sẽ được chúng con đưa ra trước tòa án lương tâm và tòa hình sự thế giới.

(Nguyên văn được phát thanh về Việt Nam trong chương trình “Tâm Tình Gửi Về Quê Hương” do Nguyễn Việt Nữ phụ trách trên đài Việt Nam Tự Do và và được đọc trên đài Quê Hương Bắc Cali, suốt mùa Lễ Giáng Sinh từ 22/ 12/ 1999), thời đài Quê Hương còn vô đầu bằng vài “Lôi Hồ Chí Minh chết sình ra khỏi Ba Đình” nên cả hai đài đều có Cộng Sản len vào để đập nát tiếng nói “Cực kỳ phản động” nầy.)

Lúc ấy Phạm Văn Đồng còn sống (Ông chết ngày 29 tháng năm 2000) đã bị hỏi tội bán nước cho dân chúng nghe. Nay tòan dân chống con cháu Hồ Chí Minh là đảng Cộng Sản Việt Nam khiếp nhược trước quốc nạn Trung Cộng xâm lăng, bắt đầu hải ngọai sẽ có cuộc biểu tình lớn nhân ngày 14 tháng 9 là ngày năm 1958 trên công hàm có chữ ký của Phạm Văn Đồng bán nước, chúng tôi xin gở lại những dòng nứớc mắt và máu của ông cha đã gìn giữ sơn hà trên bàn cờ ngọai giao tại Geneve năm 1954 để chuyển về nước đóng góp “thổi lửa” với đòan biểu tình trong nước để cứu MẸ VIỆT NAM!

NGUYỄN VIỆT NỮ

(20 tháng 7 năm 2011)

Bài Xem Nhiều