We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 2 August 2011

VIỆT CỘNG ĐANG TỰ ĐÀO HỐ CHÔN MÌNH.


Tin tổng hợp giới truyền thông quốc tế và từ Việt nam cho hay, ngày 25-7-2011 vừa qua, nhà cầm quyền Việt cộng đã đến khu Nhà Chung thuộc Tổng Giáo Phận Huế, nơi Linh mục Nguyễn Văn Lý đang điều trị những căn bệnh hiểm nghèo,bắt giam trở lại Ngài, sau hơn một năm tạm đình chỉ thi hành bản án 8 năm tù giam, 5 năm quản chế về tội tuyên truyền chống cái gọi là nhà nước “Cộng hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”.

Hành động bắt Linh mục Nguyễn Văn Lý đưa trở lại nhà tù giữa lúc những căn bệnh hiểm nghèo vẫn còn là nguy cơ cho tính mạng của Ngài, một lần nữa đã tự tố cáo trước nhân dân và công luận quốc tế tính tàn ác vô nhân đạo đã là bản chất cố hữu của nhà cầm quyền Việt cộng. Đồng thời, lý do đưa ra để bắt giam Linh mục Nguyễn Văn Lý,là vì đã “làm ra, tàng trữ và phát tán các tài liệu… chống Đảng và Nhà nước”, là lý do không chính đáng, bất hợp pháp. Bởi vì, tất cả những việc làm ấy của Linh mục Nguyễn Văn Lý là quyền tự do ngôn luận đã được chính Hiến pháp hiện hành của chế độ qui định, và đã được thực hiện một cách ôn hoà.

Như vậy, việc bắt Linh mục Nguyễn Văn Lý trở lại nhà tù chỉ là hành động bịt miệng Ngài lần thứ hai, sau lần bịt miệng công khai trước phiên Toà xử Ngài tháng 3 năm 2007 tại Đà Nẵng thuộc Trung phần Việt Nam,với bản án 8 năm tù giam, 5 năm quản chế về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước” theo Điều 88 Luật Hình sự của chế độ

Chính vì sự bắt giam trở lại Linh mục Nguyễn Văn Lý một cách không chính đáng, vi phạm Hiến pháp hiện hành của chế độ cũng như những công ước quốc tế về các chính trị và quyền dân sự mà chính nhà cầm quyền Việt cộng đã ký kết và cam kết thi hành, nên đã gây phản ứng tức thời trước công luận quốc tế và sự bất bình, phẫn nộ của nhân dân trong nước.

Điển hình là Hoa Kỳ, cường quốc mà Việt cộng đã và đang tìm cách dựa vào để tìm thế đối trọng đương đầu với tham vọng xâm lăng lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam của Tầu cộng, đã lên tiếng phản đối sớm nhất việc bắt Linh mục Nguyễn Văn Lý trở vào nhà tù. Nghĩa là chỉ một ngày sau vụ bắt giam Cha Lý, Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã ra Thông Cáo báo chí với sự quan tâm sâu xa và đòi hỏi mạnh mẽ, rằng “Chúng tôi quan ngại về quyết định của Chính phủ Việt Nam đưa nhà bảo vệ nhân quyền lâu năm Cha Nguyễn Văn Lý trở lại nhà tù vào ngày 25/7. Chúng tôi thúc giục Chính phủ Việt Nam thả ông ngay lập tức.Vì “ Cha Lý sau những cơn đột quỵ trong khi ông bị biệt giam. Cha Lý đang bị u não và cần tiếp tục được phép tìm cách điều trị y tế.” ; Và rằng “Không nên có cá nhân nào bị bỏ tù vì bày tỏ quyền tự do ngôn luận.”

Trong phần cuối của bản Thông cáo báo chí của Bộ Ngoài Giao Hoa Kỳ ngày 27-7-2011 còn nhắc lại khuyến cáo tháng 9/2010 của Nhóm Công tác LHQ về Giam giữ Độc đoán “rằng Cha Lý đã không được xử công bằng và khẳng định sự giam giữ ông là độc đoán, vi phạm Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền và Công ước Quốc tế về Các Quyền Dân sự và Chính trị, và kêu gọi thả ông ngay lập tức.”

Cùng ngày 27-7-2011, tổ chức theo dõi nhân quyền quốc tế Human Rights Watch cũng đa ra thư tố cáo, lên án và đòi trả tự do ngay cho Linh mục Nguyễn Văn Lý. Rằng “Bắt cha Lý trở lại nhà tù chỉ làm nặng thêm tính độc ác và bất công của bản án đã tuyên cho ngài”, ông Phil Robertson, Phó Giám đốc phụ trách châu Á của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền phát biểu.Vì rằng“Buộc cha Lý trở về nhà tù thêm năm năm nữa sẽ gây nguy cơ nghiêm trọng với sức khỏe của Ngài, và là sự vi phạm quyền bày tỏ chính kiến một cách ôn hòa và quyền không bị tùy tiện bắt giữ của ngài”. Tổ chức này cũng kêu gọi các đối tác phát triển của Việt Nam, bao gồm Hoa kỳ, Liên minh Châu Âu, Úc, Ca-na-đa và Nhật Bản cần kiên quyết đặt vấn đề với chính phủ Việt Nam và yêu cầu trả tự do cho cha Lý. Theo đó,“Các nhà tài trợ cần nói rõ rằng việc Việt Nam tiếp tục công nhiên vi phạm nhân quyền và quyền tự do tôn giáo là không thể chấp nhận được”, và yêu cầu “Hoa kỳ cần đưa Việt Nam trở lại danh sách các quốc gia cần quan tâm đặc biệt về vi phạm tự do tôn giáo (CPC) cho đến khi Việt Nam cải thiện được thành tích về tự do tôn giáo của mình”.

Tất nhiên, những đòi hỏi của Hoa Kỳ và quốc tế trên hồ sơ bắt giam trở lại Linh mục Nguyễn Văn Lý hiệu quả thực tế ra sao, thì còn tùy vào những biện pháp ngầm hay công khai của chính phủ Hoa Kỳ và các nước có ảnh hưởng trong những ngày tháng sắp tới, để áp lực trên nhà cầm quyền Hà Nội. Trước mắt ai cũng thấy việc bắt Linh mục Nguyễn Văn Lý trở vào nhà tù cùng với hành động nghịch lý đàn áp thô bạo, bắt giam những người dân yêu nước tham gia các cuộc biểu tình chống ngoại bang xâm luợc lãnh thổ, lãnh hải của Tổ Quốc, nếu Việt cộng có thu được cái lợi trước mắt là làm đẹp lòng quan thầy Tầu cộng, chỗ dựa quyền lực của Cộng đảng Việt Nam, thì cái hại lâu dài là Việt cộng đã và đang tự đào hố chôn mình.

Bởi vì, chính những hành động : “hèn với giặc, ác với dân”, Việt cộng ngày càng mất thế dựa nhân dân, gia tăng các mâu thuẫn đối kháng (một mất một còn) với mọi tầng lớp nhân dân, tiến dần đến mâu thuẫn đối kháng với toàn xã hội, là lúc mà Lênin, môt trong các tổ sư của Cộng sản Việt nam, gọi là “Tình thế cách mạng chín mùi”. Cuộc cách mạng của quần chúng nhân dân nổ ra nhằm lật đổ giai cấp thống trị sẽ nhất định thành công. Bởi vì lúc đó, giai cấp thống trị độc quyền như Cộng đảng Việt Nam sẽ bị cô lập hoàn toàn, quân đội, công an là những lực lượng nòng cốt bảo vệ chế độ không còn dám đàn áp, bắn giết nhân dân nữa. Đó là thực tế đã xẩy ra ở Liên Xô và các nuớc xã hội chủ nghĩa Đông Âu trước ngày sụp đổ, vào những năm cuối tập niên 80, đầu thập niên 90. Cứ theo đà này, chẳng còn bao lâu nữa Cộng đảng và chế độ độc tài toàn trị Cộng sản Việt Nam sẽ có chung số phận.



Thiện Ý


Houston, ngày 1 tháng 8 năm 2011

Chưa thấy lộ nguyên hình, lòi cả mặt hay sao???


Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 128
(01-08-2011)


Khi sang Trung Quốc ngày 25-06-2011, Thứ trưởng ngoại giao Việt Cộng Hồ Xuân Sơn đã gặp không chỉ Trương Chí Quân, người tương nhiệm, mà cả Đới Bỉnh Quốc, Trưởng ban Đối ngoại Tàu cộng, một trong 5 ủy viên Quốc vụ viện nước này, nhân vật có quyền lực cao nhất trong ngành ngoại giao Bắc Kinh, vì đứng trên cả Ngoại trưởng Dương Khiết Trì nữa. Hành động trái với thủ tục như thế tất nhiên không phải để bàn bạc tay đôi, mà là để bái yết, để nghe chỉ thị, y như bao cuộc triều kiến Bắc phương của hàng lãnh đạo Việt từ vụ khấu đầu tái phục tại Thành Đô, Tứ Xuyên, tháng 09 năm 1990.

Thành ra chẳng lạ gì mà sau đó nội dung “đàm phán song phương” -do phát ngôn nhân bộ ngoại giao Tàu cộng công bố- đã gây thắc mắc phẫn nộ cho toàn thể dân Việt, vì gồm ba chữ “đồng”: 1- Đồng thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản giữa VN và TQ để giải quyết những tranh chấp trên Biển giữa hai quốc gia, không cho nước ngoài (hiểu ngầm là Hoa Kỳ) can thiệp; b- Đồng tuyên bố Hoàng Sa-Trường Sa và các vùng biển vây quanh thuộc chủ quyền TQ, như TQ đã luôn khẳng định và Công hàm 1958 của VN từng thừa nhận; c- Đồng hướng dẫn công luận và ngăn chặn những bình phẩm hoặc hành động làm tổn hại tới tình hữu nghị và mối tin cậy giữa nhân dân hai nước. Nội dung “đàm phán” lạ đời này một lần nữa làm lộ bộ mặt thật của cộng đảng Việt, và người ta đã thấy ngay tất cả sự áp dụng của cam kết khiếp nhược, đồng lõa đó.

Trước tiên, ngày 02-07-2011, 18 nhà trí thức trong nước đã yêu cầu bộ Ngoại giao cho biết thông tin do Hồng Lỗi đưa ra có đúng sự thật chăng, trình bày rõ quan điểm của VN về bức công hàm Phạm Văn Đồng, và thông báo toàn văn thỏa thuận đã đạt được giữa đại diện hai nước trong cuộc “đàm phán”. Thế nhưng Bộ Ngoại giao Việt cộng đã tìm mọi cách làm cho cuộc gặp gỡ với nhóm trí thức ấy sáng ngày 13-07-2011 bất thành để khỏi giải thích hay tranh biện. Đây là gáo nước lạnh dội trên đầu nhân dân, cú bĩu môi khinh thường ném vào mặt kẻ sĩ. Rõ ràng nó che giấu một hành vi ám muội và tùy tiện (như đảng từng tùy tiện và ám muội trong vụ 2 hiệp định lãnh thổ và lãnh hải năm 1999 và 2000), nó tránh né những vấn đề quan trọng liên hệ đến Đất nước Dân tộc đang làm cho Quốc dân thấp thỏm, nhất là vấn đề mang tính thời sự: ý nghĩa công hàm Phạm Văn Đồng, vốn luôn được Tàu cộng dùng để bắt bí Việt cộng, dù rất nhiều chuyên gia luật và sử cho rằng nó vô cùng phi pháp và phi lý. Để lấp liếm, đảng bày trò khác. Một tuần sau, ngày 20-07-2011, lần đầu tiên dân Việt được đọc một bài báo “chính thống” bàn về văn kiện lịch sử này. Đó là bài “Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam” của “Nhóm Phóng viên Biển Đông” đăng trên tờ Đại Đoàn Kết thuộc Mặt trận Tổ quốc, cơ quan ngoại vi của đảng. Nhưng với hình thức một bình luận (thay vì tuyên bố), với tư cách bất chính thức của một tờ báo Mặt trận (thay vì thủ tướng, ngoại trưởng…), với những luận điệu loanh quanh (như Nguyễn Mạnh Cầm hồi 1992), nào “vừa là đồng chí vừa là anh em”…nào “tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ”, nào “chỉ là một cử chỉ ngoại giao tốt đẹp”…, bài viết không che giấu nổi quan điểm cố hữu của đảng: “đồng tuyên bố Hoàng Sa-Trường Sa và các vùng biển vây quanh thuộc chủ quyền TQ, như TQ đã luôn khẳng định và Công hàm 1958 của VN từng thừa nhận” (tựa lần đảng im lặng khi Tàu cộng chiếm Hoàng Sa năm 1974 và lần đảng bất động khi Tàu cộng chiếm Trường Sa năm 1988).

Đến lượt nhân dân phản ứng thì không trình bày ý kiến cách văn vẻ như hàng kẻ sĩ. Các chủ nhật tiếp sau cuộc gặp Trung-Việt (03-07, 10-07, 17-07 rồi 24-07), ở hai thành phố lớn là Hà Nội và Sài Gòn, hàng trăm hàng ngàn công dân đủ giai tầng (có lẽ ngoại trừ các lãnh đạo tinh thần – không muốn nhúng vào thế sự chăng? và các lãnh đạo chính trị – không dám hành động khi chưa được phép đảng!) đã xuống đường, giăng cao biểu ngữ, hô to khẩu hiệu, khoác áo in chữ phản đối Đại Hán gây hấn xâm lược. Nhưng vì lời hứa với Tàu cộng: “đồng hướng dẫn công luận và ngăn chặn những bình phẩm hoặc hành động làm tổn hại tới tình hữu nghị và mối tin cậy” Trung-Việt, nên cử chỉ yêu nước hết sức chính đáng và quý báu đó (mà bất cứ nhà cầm quyền nào trên thế giới và trong lịch sử đều trân trọng và vui mừng đón nhận) đã bị ngăn chận cách quyết liệt thô bạo (ở Sài Gòn và nhiều tỉnh) hay đàn áp cách hung tợn dã man (ở Hà Nội) bởi công an, dân quân, thanh niên tự quản, đoàn thanh niên CS, côn đồ lưu manh thuê mướn, những công cụ tàn ác và tay sai mù quáng của cái thế lực luôn coi nhân dân hoặc như kẻ thù (để triệt hạ) hoặc như nô lệ (để bóc lột). Hành vi thường xuyên chửi rủa, đánh đập, bỏ tù những người ái quốc (đặc biệt kể từ các cuộc biểu tình chống Tàu cộng năm 2007-2008) lần này gia tăng cường độ bằng cách đạp thẳng vào mặt công dân yêu nước, (dù công dân này cũng đang yêu đảng, tin đảng), không hề là chuyện tình cờ, không hề là chuyện “trên đúng dưới sai”, không hề là chuyện “bản chất khác với hiện tượng”. Tay công an cho anh Trí Đức ăn “bánh giày” trong cuộc biểu tình ngày 17-07-2011 chỉ là một tên côn đồ làm theo lệnh của những kẻ chỉ đạo y từ trụ sở công an quận Hoàn Kiếm và xa hơn từ trụ sở Ba Đình của Bộ Chính trị. Việc này tiếp nối cả một truyền thống dài, bắt đầu từ cuộc Cải cách ruộng đất, khi Hồ Chí Minh cho những tên đầu trộm đuôi cướp, dốt nát thấp kém, đầy tớ bất mãn ngồi làm chủ tọa các tòa án nhân dân, với quyền sinh sát tuyệt đối, để vừa giết các nhân sĩ uy tín, vừa giết các nông dân tài giỏi, vừa giết những ai có tiềm năng làm tổn hại đảng. Tất cả đều là dấu chứng cho thấy đảng Việt cộng là phường phản nước hại dân như nhiều công dân đã nêu trong bản cáo trạng đanh thép và chi tiết công bố ngày 21-12-2010.

Cũng để “hướng dẫn công luận và ngăn chặn những bình phẩm hoặc hành động làm tổn hại tới tình hữu nghị và mối tin cậy giữa hai nước”, đảng đã ra lệnh cho tân Quốc hội khóa 13 thoát thai từ cuộc “đảng cử dân bầu” phải hoàn toàn im lặng. Thành thử qua 8 cuộc biểu tình, chưa bao giờ thấy một thành viên Quốc hội nào xuống đường bày tỏ tấm lòng yêu nước chống giặc với nhân dân, ngay cả khi họ đã tụ tập tại Hà Nội để bắt đầu nhóm họp (từ 21-07-2011). Rồi họp chỉ để được nghe (chứ không được chất vấn) đảng trình bày vấn đề Biển Đông. Lời của nhân dân và trí thức đề nghị Quốc hội ra nghị quyết về vấn đề này chưa tỏ ra có dấu hiệu gì để hy vọng. Không khéo lại đi ngược lòng dân, y như “cơ quan bất lực” ấy đã mau mắn thông qua hai hiệp định lãnh thổ và lãnh hải dâng đất và nhượng biển năm nào. Cuộc bầu chọn 3 chức vụ quan trọng nhất của Quốc gia: thủ tướng, chủ tịch nước, chủ tịch Quốc hội vẫn chỉ thể hiện ý muốn của 2 đảng đang liên kết sinh mệnh cùng nhau, đưa lên những kẻ vô tài bất tướng, chỉ giỏi thần phục Tàu cộng. Cả một dàn báo chí cũng được lệnh im lặng trước các cuộc biểu tình. Cả những tấm bia vạch tội quân Tàu như tại đầu cầu Khánh Khê (Lạng Sơn), tại đền thờ vua Quang Trung trên núi Dũng Quyết ở thành phố Vinh (Nghệ An), cũng phải bị đục bỏ.

Vẫn nằm trong đường hướng này là việc đảng tiếp tục trừng phạt những ai từng lên tiếng đòi hỏi chủ quyền đất nước trên các quần đảo Hoàng Trường Sa, cảnh báo về hiểm họa Tàu cộng xâm lược: như ký giả Nguyễn Văn Hải (Điếu Cày) tiếp tục bị giam giữ sau khi đã mãn án và nay thì hoàn toàn biệt vô âm tín (có tin bị tàn hại thân thể); như linh mục Nguyễn Văn Lý, sau thời gian được tại ngoại chữa bệnh, đã bị đưa vào tù trở lại dù sức khỏe chưa hồi phục; như luật gia Cù Huy Hà Vũ sẽ bị phúc thẩm ngày 02-08 với không chút hy vọng được hoàn trả công lý; như giáo sư Phạm Minh Hoàng sẽ ra tòa ngày 10-08 tới với những tội danh mơ hồ và áp đặt. Đảng Việt cộng, tên đầy tớ của đảng Tàu cộng, quyết coi tất cả những người yêu nước ấy (và nhiều công dân khác đang bị cầm tù, như Phạm Thanh Nghiên, Vũ Hùng, Nguyễn Xuân Nghĩa…) đều là những kẻ thù nguy hiểm cần phải triệt hạ và trừng trị.

Trong khi đó, kẻ thù truyền kiếp của Đất nước được ung dung tiếp tục đẩy nguy cơ diệt vong của Dân tộc đến gần (để đảng được trường tồn) qua vô số hành động ngang ngược khắp đất Việt. Nào là vào Tây Nguyên khai thác bauxite, gây nguy hiểm cho an ninh quốc phòng, văn hóa và cuộc sống đồng bào thiểu số, sinh mệnh dân chúng bình nguyên Nam bộ. Nào là thiết lập nhiều làng mạc, phố thị, bãi biển Tàu từ Nam chí Bắc, tạo ra vô số tô giới, lãnh địa, khu ém quân bất khả xâm nhập giữa lòng đất Việt; nào là thắng thầu 90 % các dự án trọng điểm quốc gia, để sau đó thực hiện cách gian dối, khiến nền kinh tế và công nghiệp Đất nước bị thao túng lũng đoạn, công ăn việc làm của dân lao động bị chiếm đoạt; nào là tung vào thị trường VN vô số sản phẩm văn hóa, ẩm thực, gia dụng giả dổm và độc hại (kể cả sách giáo khoa giới thiệu Đường lưỡi bò), giết chết bao ngành sản xuất của Dân chúng và hủy hoại dần sinh khí lẫn tinh thần Dân tộc; nào là sách nhiễu hành hung dân lành, thậm chí lường gạt cưỡng hiếp thiếu nữ VN sống gần các khu vực các công nhân hay công dân Tàu (để gieo giống Chệt); nào là thuê được hàng trăm ngàn hecta rừng đầu nguồn hay rừng quốc phòng với giá rẻ mạt trong nửa thế kỷ, khiến an ninh đất nước và an sinh quốc dân bị đe dọa; nào là tự tiện vạch đường lưỡi bò ở Biển Đông, cho đủ loại tàu quân sự trá hình ngang dọc để chiếm cứ nguồn khoáng sản và hải sản đất nước, khiến sinh kế và sinh mạng ngư dân lâm nguy, nguồn dinh dưỡng và nguồn nguyên liệu của đất nước cạn kiệt.

Thế nhưng, đang khi các nước lân bang phản ứng mạnh mẽ trước cuộc xâm lăng nhiều mặt của Tàu cộng như thế, đảng và nhà cầm quyền Việt cộng vẫn khư khư và mù quáng ôm lấy “16 chữ vàng”, “4 chữ tốt”, chỉ phản ứng một cách chiếu lệ, khiếp nhược, đấu võ mồm, lừa mỵ nhân dân, đồng lõa với kẻ thù, phục vụ ý đồ xâm lược của Tàu cộng.

Tất cả các sự kiện ấy không cho thấy cộng đảng Việt đã lộ nguyên hình, lòi cả mặt ư? Cớ sao vẫn chỉ phản kháng giặc ngoài mà chẳng cảnh giác thù trong? Cớ sao vẫn chỉ chống đối Trọng Thủy ngoại thù và chẳng thanh toán Mỵ Châu nội gián ? Hay tệ hơn, cớ sao vẫn bình chân như vại, chỉ biết đến sự yên ổn của bản thân, gia đình hay cộng đoàn mình? Đợi khi thằng Việt cộng leo lên gắn ngôi sao vàng vào lá cờ 5 sao của thằng Tàu cộng thì mới phản ứng chăng???

BAN BIÊN TẬP

Đánh rắn phải đánh vào đầu

Khi bắt hay giết một con rắn, nếu ta đánh vào thân nó, dù bị thương, nó vẫn có thể sống và tiếp tục quay lại cắn ta. Nhưng nếu đánh vào đầu nó, khiến đầu nó bị tê liệt, thì toàn con rắn trở nên bất động. Trong các trận chiến, khi người chỉ huy trận chiến của bên nào bị tử thương, thì bên đó nắm chắc phần chiến bại.

Thật vậy, trong biến cố 11-11-1960, Nguyễn Chánh Thi đảo chánh Tổng Thống Diệm, nhưng vị lãnh đạo nàvẫn an toàn, không sao cả, nên cả chế độ của ông vẫn tồn tại, trong khi ông Thi phải trốn khỏi Việt Nam. Trong cuộc chính biến ngày 1-11-1963, Dương Văn Minh đã quyết tâm giết chết hai anh em TT Diệm, nhờ vậy, cuộc đảo chánh mới thành công. Ông Minh biết rằng nếu để vị Tổng Thống này còn sống, chưa chắc chính phủ do ông Minh thành lập đã tồn tại được. Trong biến cố 30-4-1975, chỉ cần người lãnh đạo VNCH lúc đó tuyên bố đầu hàng, là cả miền Nam bị rơi vào tay Cộng sản. Như vậy, vận mạng của đất nước, của tập thể, tùy thuộc rất nhiều vào những người lãnh đạo.

Bản chất của các tôn giáo là khuyến thiện và chống ác. Bản chất chống ác này vô cùng bất lợi cho một thể chế tàn ác như chế độ CSVN. Vì thế, Việt cộng tìm đủ mọi cách “nắm đầu” các vị lãnh đạo tôn giáo, vì hễ “nắm đầu” hoặc điều khiển được các vị lãnh đạo của một tôn giáo thì hầu như họ cũng khống chế hoặc vô hiệu hóa được khả năng chống ác, chống bất công của toàn bộ tôn giáo ấy.

Các cuộc biểu tình chống Tầu cộng trong các Chúa nhật hai tháng qua sở dĩ thực hiện được là do có những người chủ chốt, huy động, liên lạc, nối kết… Để ngăn chặn những cuộc biểu tình này, Việt cộng cũng chủ trương chiến thuật “đánh rắn phải đánh vào đầu”. Vì thế họ dùng đủ mọi cách tìm cho ra những người chủ chốt này để theo dõi, khống chế, cô lập, vô hiệu hóa mọi hoạt động, nếu cần thì đưa vào tù.

Để đấu tranh chống Việt cộng bán nước, tiếp tay Tầu cộng, thiết tưởng chúng ta cũng cần áp dụng chiến thuật “đánh rắn phải đánh vào đầu”. Cái đầu của “con rắn Việt cộng” chính là Bộ Chính trị của chúng. Vì thế, chúng ta nên tập trung sự phẫn nộ của chúng ta vào Bộ chính trị, gồm những tên chủ chốt trong tội bán nước, tội đồng lõa với Tầu cộng, tội tiếp tay để Tầu cộng xâm chiếm đất nước. Bộ chính trị đã đứng hẳn về phía Tầu cộng và ra lệnh cho tay sai của chúng là công an và quân đội đàn áp những người yêu nước cương quyết bảo vệ lãnh thổ chống lại ngoại xâm. Nếu cứ trải đều sự phẫn nộ của chúng ta lên cả một tập thể -trong đó lẫn lộn kẻ có tội cùng người vô tội, kẻ bán nước lẫn người yêu nước- sẽ không đem lại nhiều hiệu quả.

Tất cả bộ máy đàn áp nhân dân như Quốc hội, Nhà nước, Tòa án, Quân đội, Công an, Mặt trận Tổ quốc, Hội đồng Nhân dân… đều chỉ là công cụ, là tay sai của Bộ Chính trị Việt cộng. Bộ máy công cụ hay tay sai này có tội rất lớn đối với đất nước và dân tộc: thay vì phục vụ nhân dân, họ lại hèn nhát chấp nhận làm tay sai cho bọn bán nước chỉ vì bả danh vọng hay vì miếng cơm manh áo. Chính nhờ bộ máy tay sai này mà Bộ Chính trị Việt cộng mới tồn tại để bán nước, để bóc lột, để đàn áp và cưỡi đầu cưỡi cổ nhân dân.

Tuy nhiên, nếu chúng ta dồn quá nhiều phẫn nộ lên bộ máy công cụ tay sai này, dẫu chúng có bị đánh te tua hay bị chửi rủa thậm tệ, thì Bộ chính trị của chúng vẫn chẳng hề suy suyển. Bộ này vẫn tồn tại để tiếp tục bán nước và cưỡi đầu cưỡi cổ người dân. Vả lại, bọn tay sai này dù có độc ác bách hại hay chống lại chúng ta mạnh mẽ tới đâu, chúng cũng chỉ là nạn nhân của chế độ cộng sản, của Bộ chính trị.

Muốn vô hiệu hóa Bộ chính trị là bọn chủ chốt bán nước, chúng ta cần phải cô lập chúng khỏi bộ máy tay sai của chúng. Muốn thế, chúng ta phải làm sao để tay sai của chúng, là quân đội, công an, các đoàn thể… hiểu rõ họ đang bị bộ chính trị lợi dụng trong ý đồ bán đất nước cho Tầu cộng, khi chúng ra lệnh cho họ đàn áp những người biểu tình yêu nước. Hãy làm sao để họ thấy rằng một khi đất nước lọt vào tay Tầu cộng, thì trước tiên Tầu cộng đem họ ra làm “vật tế thần” hầu xoa dịu nỗi căm phẫn của dân chúng vốn thù ghét họ vì những hành vi quá độc ác của họ đối với dân chúng. Việc họ hợp tác với bộ chính trị trong việc bán nước cho Tầu cộng, họ chỉ được trả lương để đủ sống hoặc để làm giàu trong hiện tại. Nhưng tương lai của họ thì rất bi đát, vì sau khi bộ chính trị đã đạt được mục đích của chúng, thì số phận họ sẽ y hệt như con chó săn: sau khi săn hết thú rừng rồi, thì chính nó cũng bị cho vào nồi (1*). Họ đã quá hiểu chính sách “vắt chanh bỏ vỏ” của cộng sản, chính họ cũng đã từng áp dụng chính sách ấy với người khác, nhưng có lẽ họ chưa ngờ được rằng chính họ sẽ là nạn nhân của chính sách “bỏ vỏ” ấy. Và khi Tầu cộng chiếm được đất nước, thì chính họ và con cháu họ cũng bị Tầu cộng ức hiếp, đàn áp.

Tóm lại, trong cuộc đấu tranh này, chúng ta cần phải xác định cho thật rõ, kẻ thù của toàn dân tộc chính là những tên bán nước trong Bộ chính trị. Chúng cũng chính là kẻ thù của những kẻ đang cam tâm và mù quáng làm tay sai cho chúng. Chúng đang lợi dụng sức lực, công lao, thậm chí xương máu của họ để bán nước và làm giàu trên sự khốn khổ của toàn dân, để rồi chính họ cũng bị toàn dân căm thù oán ghét. Chúng ta cần giúp họ nhận ra kẻ thù đích thực của họ. Hãy kéo họ về cùng một chiến tuyến với chúng ta hầu cùng chống lại kẻ thù chung, thay vì đẩy họ về phía kẻ thù, làm cho kẻ thù đông hơn, mạnh hơn. Hãy sáng suốt và hữu hiệu trong cuộc đấu tranh cam go này.

Houston, ngày 31-7-2011

Nguyễn Chính Kết

________________

(1*) Như lời Phạm Lãi nói với Văn Chủng: “Chim đã hết thì cung tốt phải cất, thỏ khôn đã chết thì chó săn bị nấu”. Gương Câu Tiễn giết Văn Chủng, Lưu Bang giết Hàn Tín, Tiêu Hà còn sờ sờ trong lịch sử. Những kẻ bị giết đều là những người có công vô cùng lớn đối với những người giết họ.

Con Gái Một Người Lính Già.

Thưa Chú,

Khoảng thập niên 90, khi số Cựu Quân Nhân QLVNCH được qua đây theo chương trình H.O, thì lúc đó cháu chưa có văn phòng luật sư, và còn làm social worker cho FFX County, và có được nhiều cơ hội tiếp xúc với rất đông Sĩ quan, đã bị tù nhiều năm trong trại cải tạo. Rất nhiều người đã cho cháu biết, là họ và cả gia đình đã kẹt lại dù có cơ hội vượt thoát, chỉ vì tin vào lời tuyên bố của ông Kỳ, và đã ở lại tử thủ với ông, trong khi ông đã yên lành trên đệ thất hạm đội, dù là trước đó “ở lại, vì qua Mỹ không có rau muống mà ăn……”.
Có cả những người cho vợ con đi, và ở lại, vào tù, qua đây mất vợ con, vì người vợ đã có một mái gia đình khác, chỉ vì tin vào ông Kỳ. Cuối 2003 và đầu năm 2004, cháu lại được nghe những lời tuyên bố của ông, khi đặt chân về Sàigòn, là ông “ xin được cám ơn nhà nước và nhân dân đã khoan hồng cho tôi, để tôi về sống những ngày cuối cùng ở Việt Nam lúc tuổi già”. Theo sự nhận xét tầm thường của cháu, thì nếu ông vì nặng thê nhi, không thể tuẩn tiết hay tử thủ, thì cứ im lặng ra đi, để đồng đội, thuộc cấp tự quyết định chuyện đi hay ở của mình, còn ồn ào tuyên bố, rồi lẳng lặng bỏ chạy, để lại hậu quả là rất nhiều người tin ông để bị chết trong trại cải tạo, hoặc bị xử tử lúc quân đội Bắc Việt vào, còn may mắn hơn thì lảnh nhiều năm tù trong trại cải tạo, rồi được qua Mỹ lúc thân tàn ma dại, đó là hành động gián tiếp giết đồng đội và thuộc cấp của ông Kỳ. Tiếp nửa, như một người lính già đã nói, có nhiều người dù nhớ quê nhà Việt Nam đến chết, vẫn không thể về, vì liêm sĩ và tự trọng cho mình, vì danh dự cho gia đình riêng và cái gia đình to lớn (QLVNCH) mà mình đã là một thành viên. Ông ta đã không làm như thế, đã không im lặng chịu nhục, để cho cái tập thể mà ông chẳng những là một thành viên, mà còn là một thành viên được nhiều ưu đãi và quyền hành, tránh được những cái tát tai đau đớn, đã không biết thế nào là “Danh Dự -Tổ Quốc - Trách Nhiệm”, là “Sĩ khả (tử) sát, bất khả nhục”, để những người bên kia, đã có thể coi thường chúng ta có một ông tướng như thế, thì một lần nửa ông lại đấm thẳng vào mặt đồng đội, thuộc cấp, bằng những lời tuyên bố hèn hạ của ông ta.
Cô Kỳ Duyên, trong điếu văn của cô ca tụng ông Kỳ là người thẳng thắn, “non jeu”. Cháu xin nói với cô Kỳ Duyên là thẳng thắn và “non jeu” khác với vô ý thức, vô trách nhiệm. Cô Kỳ Duyên ca tụng cha cô là đã có công đi đầu, chịu búa rìu dư luận trong việc “hòa hợp, hòa giải”, cháu xin nói với cô Kỳ Duyên là “hòa hợp, hòa giải” chỉ khi nào (sau 36 năm) những người Chiến Sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, phải được đối xử công bằng, như những bộ đội CS, rằng điều 4 hiến pháp của V.C phải bị hủy bỏ, để mọi thành phần được tham dự và có ý kiến, còn nếu không thì đó chỉ là một ngụy biện, bất khả tín.
Cuối cùng, cháu muốn nói với cô Kỳ Duyên là cô, và gia đình cô có quyền thương tiếc, và ca tụng ông Kỳ, nhưng cô và gia đình cô không có quyền làm nhục lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, khi đem cờ phủ lên quan tài của thân phụ cô, sau những nhát dao ông đã đâm vào đồng đội, thuộc cấp của ông.
Cháu cũng muốn hỏi cô Kỳ Duyên, là sau những “công trạng” của ông Kỳ đối với chính quyền cộng sản, tại sao cô không phủ lên quan tài thân phụ của cô lá cờ đỏ sao vàng, hữu lý hơn chứ, phải không?

Cháu chịu trách nhiệm về những điều cháu viết hôm nay, với tư cách một người, đã có người thân đổ máu xương cho lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, đang bị lạm dụng, dùng cho những sự tự cao, tự đại, thiếu liêm sĩ…

Xin chú tùy nghi phổ biến.

Con Gái Một Người Lính Già.

------------
Lấy nhục làm vinh

Chuyện Nguyễn Cao Kỳ về Việt Nam không làm tôi bận tâm nhiều. Bởi vì năm trước khi tên cẩu tướng này trả lời phỏng vấn của De Vos tôi đã tung lên một bài viết về hắn với tựa đề là :" THỜI THẾ TẠO ĂN MÀY". Người Bắc mà mắng ai là: "Đồ ăn mày" thì có nghĩa là hạng người đó không còn gì đáng để nói tới.


Nhất là ăn mày cái kiểu tên cẩu tướng Nguyễn Cao Kỳ thì viết thêm về "thằng ăn mày" này không những mất công mà còn chuốc thêm bực bội vì vậy chúng tôi không muốn nhắc đến hắn nhưng vừa qua do hắn tuyên bố vung vít ở Thành Hồ nên khắp nơi đều nổi cơn thịnh nộ. Bài viết thượng dẫn của tôi lại xuất hiện trên một số tờ báo của bạn bè thêm vào đó một số độc giả quá phẫn nộ đã gọi điện đề nghị chúng tôi lên tiếng..


Dưới đây, một lần nữa, xin mời quý độc giả cùng chúng tôi nhận xét về hành vi, ngôn từ qua đó thấy rõ bản chất của Kỳ.


Như quý độc giả đã biết Nguyễn Cao Kỳ đã xin được hòa giải!!! với CSVN từ lâu rồi nhưng mãi cho tới lần này hắn mới được chấp thuận cho về VN, và tư tưởng của ông Kỳ đã được xác định qua trả lời phỏng vấn với Đỗ Hiếu, đài phát thanh Á Châu Tự Do.

Kỳ nói: "Tư tưởng chính của tôi là bỏ qua chuyện dĩ vãng, nhất là chuyện hận thù với nhau đi, anh em trong nước hay ngoài nước cũng đều là người VN cả, vì vậy nếu có chuyện gì không đồng ý thì cứ ngồi lại và gặp nhau rồi nói chuyện và thảo luận"


Chao ôi! Nghe Kỳ nói mà phát ngán. Dễ thường từ xưa tới nay chúng ta và đồng bào quốc nội KHÔNG PHẢI LÀ người Việt Nam. Và việc ngồi lại nói chuyện và thảo luận chắc hẳn ai cũng thấy đó chỉ là chuyện rất thường. Có điều Nguyễn Cao Kỳ nói ở đây ý rằng Cộng Sản Việt Nam cũng đang nuôi ý muốn hòa giải để kêu gọi chúng ta - những người tỵ nạn Cộng Sản - bắt chước theo Kỳ: XIN VỀ, ĐƯỢC CHO PHÉP VỀ ĐỂ DIỄN VỞ KỊCH TUNG HÔ CÔNG LAO CỦA BÁC và ĐẢNG,
Trong cuộc trả lời phỏng vấn này Kỳ khoe đã có nhiều lần "mấy anh em bên nhà liên lạc " Kỳ khoe được đi đánh golf và đi ăn uống với "ông Thứ trưởng Nguyễn Đình Bin" "rồi trân trọng mời tôi (Kỳ) về thăm quê hương". Kỳ bảo rằng: "Bởi vì ổng (Bin) nói thôi bây giờ chuyện cũ bỏ qua đi, nên đặt vấn đề đại đoàn kết dân tộc mà hướng về tương lai". Rồi Kỳ tự cho mình là sáng: "Nhưng mà đối với tôi, thì tôi suy nghĩ và làm với tất cả tâm hồn mình, với một tâm sáng như mặt trời và mặt trăng, sáng bởi vì tôi hướng hoàn toàn về đất nước và dân tộc, có thế thôi".
À ra thế ! Đến bây giờ do được nghe những lời chỉ dạy của Nguyễn Đình Bin nên Kỳ mới thấy được chân lý vì thế dù không có đủ can đảm để đọc lên mấy câu của Tố Hữu:


" Từ đó trong tôi bừng nắng hạ.
Mặt trời chân lý chiếu qua tim"


nhưng ngôn từ của Kỳ cũng vẫn đầy chất cúc cung, vâng mệnh.


Rõ dơ ! Rõ nhục!


Từ ngày ra hải ngoại đến nay, lần đầu tiên mới nghe tiếng của tên cẩu tướng này trả lời phỏng vấn. Qua vài câu đối đáp thôi cũng đã thấy rõ bản chất một con người mất nhân cách thiếu liêm sỉ. Tâm của Kỳ sáng quá, tâm của một "thằng ngợm hoạt đầu" không hơn , không kém: " Đi lính cho Pháp để chống Cộng hộ Thực Dân, đi theo Mỹ để chống Cộng cho Đế Quốc Mỹ?!
Rồi đến hôm nay ăn mày trên nước Mỹ thì trơ trẽn quay về ôm chân Cộng Sản."
Kỳ quên rằng sở dĩ cuộc đời của Kỳ có lúc được như "chó nhảy bàn độc" cũng nhờ vào tinh thần chống Cộng chứ chẳng phải do Kỳ có tài "kinh bang tế thế" lệch đất nghiêng trời gì đâu. Và đến ngày hôm nay, gần đất xa trời, Kỳ bị phỉ nhổ cũng chỉ vì quay lưng, phản bội với con đường toàn dân tộc đang theo đuổi.
Thật là phí thì giờ khi phải nói đến chuỗi dài thất bại của Kỳ hoặc nói đến những "trò khỉ" từ quá khứ cho đến hiện tại. Kỳ nhắc tới lời Nguyễn Đình Bin dạy dỗ Kỳ:" chuyện cũ bỏ qua đi, nên đặt vấn đề đại đoàn kết dân tộc mà hướng về tương lai"đồng nghĩa với "bỏ qua quá khứ để bàn chuyện tương lai."
Vấn đề cần đặt ra ở đây là "quá khứ nào cần bỏ và tương lai nào" thật sự dân tộc ta đang muốn tiến tới.
Người Việt Quốc Gia chúng ta với tấm lòng thương yêu dân tộc sẵn sàng "bỏ qua quá khứ lỗi lầm của bọn Cộng Sản cho chúng trở về với chính đạo của dân tộc để cùng hướng về một tương lai rực rỡ của một Việt Nam Tự Do- Nhân Bản - Phú Cường" chứ chúng ta không thể ngu xuẩn "bỏ qua quá khứ " để Việt Cộng tiếp tục duy trì thể chế độc đảng, phản dân, hại nước, tham nhũng, thối nát đưa cả dân tộc hướng về một tương lai lạc hậu, đói nghèo, băng hoại hơn hiện tại.
Kỳ cũng ví von :"Con đường nào cũng tới La Mã". Rồi sau đó Kỳ bảo rằng Kỳ cũng có một con đường. Đúng thế! Con đường của Kỳ đã đến đoạn cuối. Với những thất bại triền miên, Kỳ cắm cúi đi lòng tưởng đang tiến tới nhưng "cóc chết ba năm quay đầu về núi" lúc nào chẳng biết.
Ba mươi năm đã trôi qua. Những tưởng loại "chó nhảy bàn độc" kia cũng biết tự đào luyện mình sao cho phù hợp với vở tuồng đã từng sắm. Ngờ đâu " chó nhảy lên bàn rồi chó lại nhảy xuống".
Chỉ có thế thôi! Vận nước có kỳ hưng thịnh, có lúc suy vong. Kiếp nhân sinh tất phải trải qua vinh nhục. Nhưng "lấy nhục làm vinh" thì chỉ có Nguyễn Cao Kỳ.


Kỳ nói khi mới đặt chân xuống phi trường Tân Sơn Nhất là thấy rõ đất nước có nhiều đổi thay tiến bộ. "Sau khi tận mắt chứng kiến những đổi thay của quê hương, tôi tự thấy có bổn phận phải nói lại, không chỉ cho kiều bào, mà cả thế giới biết rõ hơn về đất nước Việt Nam đổi mới\.
Tôi hy vọng sẽ còn trở về thăm quê hương nhiều lần."


"Nước Việt Nam giờ đây đã là một cơ thể thống nhất. Người nào đó mà còn bị dĩ vãng ám ảnh thì đó là không tưởng, phản lại quyền lợi của đất nước".


"Đến giờ phút này, quyết định trở về quê hương là một quyết định đúng đắn, và chắc rằng nhiều anh em ở hải ngoại khi trở về sẽ tán đồng với ý kiến của tôi""Đến giờ phút này, quyết định trở về quê hương là một quyết định đúng đắn, và chắc rằng nhiều anh em ở hải ngoại khi trở về sẽ tán đồng với ý kiến của tôi"


Nguyễn Cao Kỳ cũng nói: "Nếu như Đảng thực hiện được những chính sách đường lối đề ra, đưa đất nước phát triển, làm cho dân giàu nước mạnh, tôi sẵn sàng đứng lên hô: Đảng Cộng sản muôn năm".


Thật là tự sỉ nhục!
Kỳ thấy gì khi đi hầu tiếp tên đầu đảng thành Hồ?
Kỳ thấy gì khi đi chơi "golf" bằng tiền của người bạn Mỹ?


Mắt Kỳ chố nhưng thật ra Kỳ mù rồi. Sự mù lòa của một tâm hồn thấm đẫm chất cường toan vị kỷ. Kỳ tưởng rằng sau chuyến trở về sám hối với Bác và Đảng tư thế của Kỳ sẽ nổi như cồn chứ không thấy rằng chuyến đi này là một quyết định ngu xuẩn chứng minh cho mọi người thấy rõ cái tên Nguyễn Cao Kỳ thật đáng "lưu xú vạn niên" không còn gì có thể bào chữa được.


Trên báo New York Times số ngày 26 -01 - 2004. Jane Perlez trong bài viết với cái tựa :"After Decades, Saigon Figure Visits Vietnam With U.S. Nod" có đoạn như sau: " Mr. Ky's visit, though informal, comes with some behind-the-scenes encouragement from the Bush administration. Last year, an American official suggested to the government here that it try to mend fences with Mr. Ky as a way to help Vietnam improve its image in the United States. Picking up on the idea, a deputy foreign minister, Nguyen Phu Bin, went to San Francisco last spring and met with Mr. Ky. Mr. Bin, now the Vietnamese ambassador in Paris, suggested the trip to Vietnam. In the months leading up to Mr. Ky's arrival, Vietnam took several conventional steps to foster better relations with Washington."


Chuyến du hành không (chính thức) của ông Kỳ đến từ những khuyến khích nơi hậu trường của chính quyền Bush. Năm ngoái ,một viên chức Mỹ gợi ý cho Hà nội là họ nên liên hệ với ông Kỳ để giúp họ có một vóc dáng nào đó với Hoa Kỳ. Theo ý đó, thứ trưởng Nguyễn Đình Bin tới San Francisco gặp ông Kỳ; và nay ông Kỳ cho biết, ông Bin, hiện là đại sứ tại Ba Lê, đã đề xuất ra chuyến viếng thăm này.


Sự thật nếu đúng như Jane Perlez viết chắc chắn giọng điệu của Kỳ đã không đến nỗi phản trắc nhớp nhúa như chúng ta đã thấy. Vả lại điều này cho chúng ta hết sức ngạc nhiên khi thấy rõ những viên chức trong hậu trường của Bush ( viên chức cấp nào? thật ra chẳng có viên chức nào cả) đã hết sức sai lầm khi "vắt lại múi chanh đã nằm trong sọt rác".


Theo những thông tin mà chúng ta nhận được về những phát ngôn lếu láo của Nguyễn Cao Kỳ không đại diện cho bất cứ một nhóm người Việt tỵ nạn Cộng Sản nào. Tất cả những vở tuồng màu mè mà Kỳ, Kim và con gái Kim sắm tỏ rõ sự sám hối của một gia đình nhận biềt lỗi lầm của gia đình đối với Bác và Đảng nay đang quyết tâm chuộc lỗi chứ chẳng được chính thức giao phó một nhiệm vụ nào.


Nguyễn Cao Kỳ đã là con số không từ lâu bởi thế hành vi và ngôn từ của Nguyễn Cao Kỳ chẳng những không kêu gọi được một sự hòa giải, hòa hợp nào mà trái lại còn làm ngọn lửa chống cộng bùng cháy mãnh liệt.
Đối với hạng người vô liêm sỉ như Nguyễn Cao Kỳ lẽ ra không cần thiết phải có bài viết này nhưng vì trách nhiệm với tinh thần chống Cộng vẫn còn bỏng cháy của đồng bào và chiến hữu chúng tôi phải lên tiếng.


Và có một SỰ THẬT cần phải được nói lên rằng :
"Cuộc chiến đấu vì đại cuộc của dân tộc Việt Nam hiện nay không thể phụ thuộc vào bất cứ một ông chủ lớn hay một tên Đế Quốc mới nào.
Chỉ có sự thức tỉnh của tinh thần dân tộc và sự quật cường trong lòng dân tộc mới đưa đất nước thoát khỏi tình trạng đói nghèo, lạc hậu để tiến tới những bến bờ của Dân Chủ, Tự Do, Phú Cường"

Kim Âu

Jun 27/2004

VỢ GIÁO SƯ PHẠM MINH HOÀNG: CHỒNG TÔI VÔ TỘI

VỢ GIÁO SƯ PHẠM MINH HOÀNG:
Sài Gòn, ngày 01 tháng 8 năm 2011

Kính gửi quý ân nhân trong và ngoài nước,

Tính cho đến ngày hôm nay, chồng tôi là giảng viên Phạm Minh Hoàng của Đại Học Bách Khoa TP
Sài Gòn đã bị giam giữ gần 12 tháng và đến ngày 10/8/2011, tòa án TP HCM sẽ mang anh ra xét xử với tội danh “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo điều 79 của bộ luật hình sự.

Trong 12 tháng qua, kể từ lúc anh Phạm Minh Hoàng bị bắt, rất nhiều tổ chức trên thế giới, các dân cử ngoại quốc, thân hữu và đồng hương đã lên tiếng kêu gọi và can thiệp với chính quyền Việt Nam để vận động cho anh Hoàng được tự do. Đặc biệt trong những ngày qua, ngay khi được biết phiên tòa xét xử anh Hoàng sẽ được tổ chức vào ngày 10/08/2011, nguồn dư luận ủng hộ việc làm của chồng tôi đã gia tăng đáng kể. Gia đình chúng tôi vô cùng xúc động trước sự quan tâm này và xin chân thành cảm tạ tất cả quí vị. Đặc biệt chúng tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đối với chính quyền, Đại Sứ và Tổng Lãnh Sự Pháp đã lo lắng và can thiệp cho anh Hoàng suốt gần 12 tháng qua. Vì quí vị cũng như gia đình chúng tôi, đều khẳng định một điều, đó là anh Phạm Minh Hoàng hoàn toàn vô tội.




Anh Hoàng không thể có tội khi anh viết những bài với bút danh là Phan Kiến Quốc để nêu lên những vấn đề mà cả nước đều quan tâm, như tình trạng biển đảo của Việt Nam, vấn đề khai thác bô xít, các hiện tượng tiêu cực trên các lãnh vực xã hội, giáo dục, y tế,… Ngày nay báo chí cả nước và dư luận đều đề cập đến những vấn đề này.

Anh Hoàng không thể có tội khi anh quan tâm đến tuổi trẻ Việt Nam và cố gắng mang lại cho các em những hành trang mới khi bước vào cuộc sống bằng cách tổ chức những khóa học kỹ năng mềm mà nội dung là những kỹ thuật dạy về tâm lý để tạo sự tự tin ở mỗi con người, giúp họ có cách nhìn khoa học để thích nghi vào đời sống xã hội. Ngày nay, những kỹ năng này được giảng dạy rất nhiều ở các nước và Việt Nam, rất được giới trẻ ưa chuộng.

Anh Hoàng không thể có tội khi anh tham gia vào các tổ chức, đoàn thể lúc còn sinh sống ở Pháp. Quyền tham gia sinh hoạt tổ chức, đoàn thể là một quyền tự do căn bản của con người, được quy định trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, được hiến pháp của cả nước Pháp lẫn Việt Nam công nhận và bảo vệ.

Trong khi đó, cách hành xử của cơ quan điều tra đối với anh Hoàng lại biểu hiện nhiều điều bất cập. Như anh đã bị tạm giữ quá thời hạn mà gia đình không được thông báo đúng lúc. Thời hạn tạm giam của anh Hoàng đã chấm dứt từ tháng 4, nhưng việc giam cầm anh vẫn tiếp tục cho đến ngày hôm nay mà không có bất kỳ một văn bản nào để chính thức hóa sự giam giữ kéo dài này. Khi luật sư bào chữa vào gặp anh để trao đổi về các luận cứ bào chữa để chuẩn bị cho phiên tòa sắp tới, lúc nào cơ quan an ninh điều tra cũng ngồi kế bên để giám sát. Anh không hề có một sự riêng tư nào để trao đổi với luật sư bào chữa. Thậm chí, cơ quan an ninh điều tra còn gắn máy thu âm, thu hình một cách công khai cuộc trao đổi giữa anh Hoàng với luật sư, tạo một áp lực đe dọa tâm lý vô cùng lớn đối với anh.

Kính thưa quí ân nhân trong và ngoài nước,

Càng gần đến ngày anh Phạm Minh Hoàng ra tòa, cá nhân tôi và gia đình chúng tôi đều vô cùng hoang mang, lo lắng. Vì mặc dù đã có rất nhiều sự lên tiếng để khẳng định là anh Hoàng vô tội và kêu gọi chính quyền Việt Nam trả tự do cho anh. Nhưng anh Hoàng vẫn bị giam giữ gần 12 tháng và vẫn bị mang ra xử với một tội danh vô cùng nặng nề, đó là “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền”, mà khung hình phạt có thể lên đến 15 năm tù. Chúng tôi biết rằng quí vị, đặc biệt là chính phủ Pháp, đã cố gắng vận động cho anh Hoàng và đây là điều chúng tôi vô cùng xúc động và ghi ơn. Nhưng nếu chính quyền Việt Nam có thể giam anh Hoàng 12 tháng bất chấp các sự can thiệp, họ có thể xử nặng anh trong phiên tòa sắp tới.

Do đó, chúng tôi khẩn thiết kêu gọi quí vị gia tăng sự can thiệp cho anh Phạm Minh Hoàng, vì anh hoàn toàn vô tội ! Gia đình chúng tôi tin rằng chỉ có sự quan tâm can thiệp mạnh mẽ của quí vị, đặc biệt là dư luận và chính phủ Pháp, chính quyền Việt Nam mới xem xét lại và trả tự do cho anh.

Chúng tôi vô cùng cảm tạ tất cả quí vị.

Kính thư,

Lê Thị Kiều Oanh
423 đường Nguyễn Tri Phương, Phường 8, Quận 10, TP
Sài Gòn
Điện thoại: +84 838 532 010; +84 93 83 45 343; +84 93 83 45 343

Bài Xem Nhiều