We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 11 August 2011

Làm sao để con em chúng ta đừng quên tiếng Việt ?



Tâm Sự Người Hàng Xóm


Gia đình bà Hai dọn tới căn nhà mới mua ở cạnh nhà tôi đã vài tháng nay. Bà khoảng hơn 60 tuổi, nhìn dáng vẻ bề ngoài, bà có vẻ cằn cỗi, từng trải nhưng vẫn không mất đi vẻ đẹp thanh tú và nói năng một cách lịch sự, hiểu biết của người đàn bà có học.

Bà Hai sang Mỹ đã gần 2 năm do Tuấn, con trai bà bảo lãnh. Tuấn làm nghề chạy Taxi, vợ thì làm việc cho một hãng mỹ phẩm của người Nhật, hai đứa con còn nhỏ mới vào học tiểu học. Vì nhu cầu chi phí của gia đình cũng như muốn kiếm thêm tiền để sắm sửa và bù đắp vật chất cho mẹ mới từ VN qua, nên cả hai vợ chồng làm việc ngày đêm, để lại hai con nhỏ cho bà Hai chăm sóc.

Một hôm đi làm về, tôi nhìn thấy hai đứa nhỏ đang đùa giỡn ngoài sân, chúng nói năng gì đó tíu tít, vui vẻ. Bà Hai thì ngồi buồn thiu, đôi mắt ngó mung lung về một phương trời xa xăm vô định. Thấy vậy tôi dừng lai chào hỏi với bà.

Mừng vì có người để tỏ bầy tâm sự, bà nói:

- Thú thật với ông, tôi biết được tuổi già mà sống cái cảnh này thì tôi không bao giờ qua Mỹ cả!

Tôi ngạc nhiên hỏi lại bà:

- Tại sao vậy? Tôi thấy vợ chồng cháu Tuấn đều hiếu thảo với bà, hai đứa nhỏ này cũng ngoan đấy chứ.

- Đúng, vợ chồng thằng Tuấn rất thương tôi. Hai đứa nhỏ cũng ngoan lắm, nhưng nếu chúng nói tiếng Việt được với tôi thì tôi sung sướng biết bao! Đằng này, chúng nói chúng nghe, tôi nói gì chúng chẳng hiểu mà chỉ cười khúc khích với nhau rồi bỏ đi. Từ ngày qua đây tôi chỉ hiểu được hai tiếng Răng Ma (Grandma) tức là chúng kêu tôi khi cần thiết. Nhiều khi tôi muốn bộc lộ những lời lẽ yêu thương mà tôi hằng mong ước nhưng không biết cách nào nói cho chúng nó hiểu được, thật buồn bực vô cùng!

Ông nghĩ coi, dù là đàn bà tôi cũng thiết nghĩ, với tình trạng con em VN không nói được tiếng Việt là một vấn nạn hàng đầu của các gia đình người Việt cần được quan tâm và giải quyết. Nếu không nói được tiếng Việt thì làm sao các em giao tiếp được với người Việt khi trở lại quê hương. Làm sao học hỏi được phong tục, tập quán và phục vụ đất nước hữu hiệu khi cần thiết. Đặc biệt làm sao để những người lớn tuổi chúng ta không rành tiếng Mỹ có thể truyền đạt những ý niệm, tư tưởng, lý tưởng cho chúng, để chúng hướng về cội nguồn dân tộc, và hiểu những hy sinh bằng máu và nước mắt của cha ông đã phải vất vả, khổ cực như thế nào, để chúng có mặt hoặc được sinh ra và lớn lên trên xứ sở tự do, tiên tiến này!

Bà Hai thốt ra những lời lẽ, băn khoăn ấy với những vết nhăn cằn cỗi trên mặt của bà càng rõ nét hơn, trông thật là tội nghiệp!

Tôi đang tìm cách lựa lời an ủi thì bà tiếp:

- Được biết ông bà là gia đình H.O ( cựu tù nhân chính trị ) nên nhiều lúc tôi lại nhớ và thương xót cho ông nhà tôi. Ông ấy trước kia cũng là sĩ quan cấp tá của Quân Lực / Việt Nam Cộng Hòa. Sau khi đi “cải tạo” ở miền Bắc được gần 2 năm thì nghe tin ông ấy chết. Có lẽ không chịu nổi sự đầy đọa, tàn ác của Cộng Sản trong trại tù. Trong khi ấy thì tôi không đủ điều kiện thăm nuôi, tiếp tế, cho nên ông ấy đã chết vì khổ cực và đói khát, bỏ lại tôi và thằng Tuấn lúc đó mới có 13 tuổi.

Không thể nào ngồi yên nhìn đứa con nối nghiệp duy nhất của mình sống trong cảnh vô vọng dưới chế độ phi nghĩa, phi nhân của Việt Cộng. Nên tôi đã cố gắng gom góp, vay mượn tiền bạc để lo cho thằng Tuấn theo một người bà con đi vượt biên. Năm đó nó mới vừa 15 tuổi. Khi nó ra đi lòng tôi đau như cắt, không biết gian nguy, sống chết của nó thế nào nhưng cũng đành phải liều vì tương lai của nó. Những ngày tháng chờ đợi tin con trong lòng tôi phập phồng lo sợ không sao kể siết! Cho đến khi được tin nó đã qua đến Mỹ tôi mới yên lòng. Ngày nó cưới vợ tôi cũng buồn vì không có mặt trong ngày vui nhất đời của nó! Đến năm được tin nó có đứa con trai đầu lòng làm tôi vui mừng, hớn hở và mong sớm có ngày đoàn tụ để chăm sóc các con, lo lắng, vỗ về đứa cháu nội yêu quí. Với tuổi già, còn gì an ủi cho bằng được sống lo cho con, bên cạnh những đứa cháu nội, ngoại để bồng ẵm, tâng tiu chúng và được nghe chúng bi-bô những tiếng nội, ngoại mà chúng thốt ra hàng ngày. Thế nhưng với tôi, mong ước đoàn tụ đã thành, nhưng trong lòng tôi cảm thấy buồn tẻ, chán chường trong cảnh sống này! Ông nghĩ coi, thằng Tuấn thì chạy Taxi từ sáng sớm đến khuya mới về, nhiều đêm phải ngủ luôn tại bến chờ khách. Vợ nó thì làm việc 6 ngày một tuần, chỉ nghỉ ngày chúa nhật với bao việc nhà cần giải quyết. Chỉ có hai đứa nhỏ thường ngày gần gũi bên cạnh, nhưng chúng nó giống như những đứa trẻ Mỹ ngoài đường, vì chúng đâu có nói chuyện được với tôi, ngược lại tôi nói gì nào chúng có hiểu. Suốt ngày bà cháu coi như người xa lạ và tôi cứ tha thẩn, lủi thủi một mình!

Những lời tâm sự đơn thuần của bà Hai thật sự đã làm tôi suy nghĩ và xúc động. Đành rằng vợ chồng Tuấn rất hiếu thảo với mẹ, nhưng vì mải mê kiếm tiền đã quên bổn phận gần gũi, phụng dưỡng mẹ gìa khi bà mới tới xứ lạ quê người. Đã thiếu sót trong việc giáo dục con cái, để những đứa con của mình quên hẳn tiếng Việt, làm tình cảm gia đình, ruột thịt bị sút giảm và sẽ trở ngại nhiều cho các con khi đất nước không còn cộng sản, trở về giao tiếp với người thân, đem tài năng phục vụ xứ sở, kiến tạo một quê hương tự do, dân chủ và phú cừơng mà toàn dân đang mong đợi.

Nỗi lòng của bà Hai kể trên cũng là nỗi lòng của rất nhiều bà mẹ VN đã gặp ở hoàn cảnh này, nhất là những bà mẹ ấy thật sự không bao giờ muốn con cháu mình quên đi tiếng mẹ đẻ, xa nguồn cội dân tộc... Là người Việt, dù có mang quốc tịch Mỹ, nói tiếng Anh lưu loát cũng vẫn chỉ là công dân Mỹ chứ chẳng bao giờ thành người Mỹ chính gốc được. Một nhà thơ nào đó (không nhớ tên) đã viết ra những vần thơ vô cùng chí lý như sau:.

. . . . . . . . . .

Ở đây cho đến mãn đời,

Cũng chưa thành Mỹ, vẫn người Việt Nam.

Da này còn mãi da vàng,

Tóc này vẫn mãi hàng hàng tóc đen.

. . . . . . . . . . . .

Là người Việt, chúng ta có quyền hãnh diện về dân tộc Việt của mình với trên 4000 năm văn hiến; với phong tục tập quán, đạo đức cổ truyền; với nền văn hóa nhân bản; với ngôn ngữ mẹ đẻ, một biểu tượng cho tinh thần đoàn kết, thống nhất chống ngoại xâm, giữ vững giang san, bờ cõi mà cha ông ta đã tốn bao công lao, xương máu để giữ gìn. Việc làm sao để con em của chúng ta đừng quên tiếng Việt là một trong những vấn nạn hiện nay vẫn chưa được mọi gia đình, tổ chức của người Việt đặt nặng và quan tâm. Cũng như các cộng đồng người Việt ở các địa phương hầu như tới nay vẫn chưa có kế hoạch, chương trình, trường lớp thực hiện việc giảng dạy cho con em của chúng ta cả về trí dục lẫn đức dục theo truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Giải quyết được vấn nạn con em của người Việt không biết tiếng Việt là trách nhiệm của mọi gia đình, đoàn thể và cộng đồng chúng ta ở từng địa phương. Đây là một trong những việc làm cấp thiết để đầu tư cho tương lai của cộng đồng và dân tộc trước khi quá trễ, và cũng là để thể hiện tấm lòng yêu nước mến quê của tất cả người Việt tỵ nạn cộng sản chúng ta ./.

Hawaii, tháng 5 / 2011

Ngô Xuân Tâm

----------
Dạy và học tiếng Việt tại Hoa KỳTrọng Thành

rfi.fr (Tạp chí Cộng đồng)
Lễ Tuyên Dương cho học sinh tốt nghiệp xuất sắc các trường Trung Học Việt ngữ,
do Hiệp Hội Người Việt San Diego tổ chức, 26/6/2011.
Giảng dạy và học tiếng Việt tại hải ngoại là chủ đề được sự quan tâm thường xuyên của nhiều gia đình,

TÔI PHẢI NÓI, TÔI PHẢI GÀO



Tôi phải nói, tôi phải gào cho… những sợ hãi khiếp nhược vỡ ra, cho tình yêu nước tuôn trào, cho hào khí dân tộc được hâm nóng.

Sau khi đất nước thống nhất, để đập tan âm mưu “phản động”, tại miền Nam các lực lượng công an cảnh sát chìm nổi kiểm soát sự đi lại của dân chúng rất chặt chẽ. Ngoài những buổi họp tổ dân phố, hay những sinh hoạt do phường khóm tổ chức, nếu tụ nhóm khoảng dăm ba người là sẽ bị dòm ngó và bị theo dõi rất kỹ.

Thế mà vào năm 1977, tại Sài Gòn, những người phụ nữ có chồng con bị bắt đi học tập cải tạo - cũng đã tìm cách gặp gỡ và rủ nhau “xuống đường”.

Mười một người đàn bà cùng ba em nhỏ, hai trai một gái, hẹn nhau trước nhà thờ Đức Bà, tại Sài Gòn với những tấm giấy nguệch ngọac viết vội những chữ “Chồng tôi ở đâu ?”, “ Mẹ đi tìm con”, và các em nhỏ với “Ba ở đâu ? Con nhớ ba”. Họ đến đây với một mục đích duy nhất là yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cho biết tin tức về chồng con của họ. Ai cũng nhớ, tháng 5 năm 1975, khi ra lệnh những người thuộc quân cán chính của chế độ Việt Nam Cộng Hòa phải trình diện đi học tập, Ủy Ban Quân Quản đã “hứa khoan hồng” và kêu gọi chỉ cần đem áo quần lương thực dự trữ cho 10 ngày. Nhưng than ôi... những người chồng những đứa con đã ra đi biền biệt mấy năm liền không một tin tức về nhà.

Cuộc, tạm gọi là “xuống đường”, dĩ nhiên bị giải tán ngay tức khắc chỉ trong vòng 15 phút. Công an cảnh sát, với đồng phục vàng, đồng phục xanh cùng lực lượng dân phòng tay đeo băng đỏ, rầm rập ào ào chạy đến dùng báng súng húc vào hông những người phụ nữ. Có kẻ tay này giật miếng carton biểu ngữ, tay kia tát, chân đá chân thụi vào những người đàn bà cô thế. Các em nhỏ sợ hãi mếu máo khóc cũng bị những cú đá cú đấm vào mặt, rồi tất cả bị lùa lên xe chở đi mất hút.

Tôi nhớ, tôi đã thảng thốt sững sờ - tê buốt cả người khi khúc phim bạo động xảy ra trước mắt trong chớp nhoáng. Tôi cũng đã từng bị những cái tát vào mặt, những cú đạp thốc vào hông, nhưng chưa bao giờ tôi nhói đau như ngày hôm đó, khi nhìn thấy cảnh hai em bé trai khoảng 5 tuổi bị kéo lê xồng xộc trên mặt đường và một bà mẹ già tuổi khoảng 65 đang loạng choạng đứng dậy lại bị thêm một cái tát tai nẩy lửa vào mặt chúi nhủi. Bầu trời như sạm tối lại, chung quanh tôi, có những giọt lệ vội vã chùi, có những viên sỏi ven đuờng bị đá thốc lên bởi những bước chân bực tức.

Ngày hôm nay, hình ảnh hai người đàn bà mảnh mai, chị Dương Hà, với tấm bảng ghi dòng chữ “Chồng Tôi Vô Tội” và chị Cù thị Xuân Bích với “Anh Tôi Vô Tội” trong ngày xử phúc thẩm Luật sư Cù Huy Hà Vũ, chao ơi lòng tôi lại nhói.

Họ cướp, đã cướp tất cả
cướp nhà, cướp đất
cướp cha, cướp chồng
và cướp cả niềm tự tin sinh khí của một con người.

Họ cứ như những con thú dữ điên cuồng say máu, hả hê thẳng tay cướp đoạt tài sản và triệt hạ tận gốc những người ngã ngựa, những người mà họ đã gọi là “anh em” và dùng làm đối tượng trong chiêu bài “giải phóng”. Xuyên qua những chiến dịch trả thù ngông cuồng của nhà cầm quyền với các chính sách diệt tư bản mại sản, diệt văn hóa “đồi trụy”, trại cải tạo, kinh tế mới…. thì hỡi ơi Độc Lập Tự Do Hạnh Phúc của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là như thế đó ư ?

Nhìn lại, không phải chỉ miền Nam bị hủy diệt mà cả miền Bắc cũng bị trù dập không kém. Qua những chiến dịch cải cách ruộng đất, Trăm Hoa Đua Nở, Nhân Văn Giai Phẩm v.v.. Đảng Cộng sản đã biến những đứa con trong gia đình thành những đao phủ thủ giỏi nhất, tài ba nhất đến nỗi cha mẹ cũng còn phải e dè sợ hãi. Đảng đã dùng miếng ăn để khống chế tinh thần phản kháng, dùng miếng ăn để sai khiến kẻ nhẹ dạ luồn cúi, những bồi bút văn nô và từ đó hầu hết mọi người sống trong âm thầm nhận chịu. Tất cả những tinh hoa hào khí của đất nước đều nằm trong ngục tù, bên ngoài là những con người cúi đầu chấp nhận bị trị. Đảng đã dùng quyền lực đẩy người dân ra hẳn ngòai lề, biến họ thành một đàn cừu ngoan ngoãn, tuân phục.

Cái thói quen của cuộc sống ngòai lề này trong suốt mấy chục năm đã tạo ra một lớp người chỉ muốn an phận. Thay vì khuyến khích tuổi trẻ phải tự tin vươn lên, bậc cha mẹ, với nỗi nhút nhát cố hữu, không những đã ươm trồng cái tự ti của mình vào con cái mà còn khuyến khích cho lối sống an nhiên chờ đợi ân huệ ban phát mà không hề thấy hổ thẹn.

Thật kinh hòang khi sức sống của cả một dân tộc bị thui chột một cách rất bài bản. Ý thức nơi người dân đóng vai trò rất quan trọng trong việc phục hưng đất nước, nhất là cho Độc lập, Tự do của một dân tộc. Và qua chín lần biểu tình, cái sợ hãi nhu nhược vẫn còn bám chặt trong quần chúng. Kẻ an phận tò mò bàng quan bên lề nhiều hơn số người thực sự muốn cứu nước.

Một con én không làm nổi mùa xuân.

Độc lập, tự chủ của một dân tộc không thể xây dựng trên lơ là, nhu nhược, nông cạn. Những tiếng nói đơn lẽ của các nhà dân chủ như Linh mục Nguyễn Văn Lý, Cù Huy Hà Vũ, Trần Hùynh Duy Thức, Lê Thị Công Nhân, v.v... sẽ không có kết quả nếu không có sự yểm trợ ý thức của khối quần chúng.

Xin hãy đập vỡ cái sợ hãi, cái nhút nhát cố hữu kia đi. Trời ơi, cứ nghĩ đến lúc phải làm nô lệ cho quân xâm lược trên chính đất nước mình, tôi thấy thật nhục nhã và kinh hoàng quá. Tất cả, xin đừng chần chờ, hãy can đảm quật khởi tự lột mình ra khỏi vỏ để sống bằng hào khí thanh niên. Xin đừng biểu tình bằng màn ảnh điện tóan mà hãy mạnh dạn bước ra ngoài cầm loa, cầm bảng tuần hành xuống đường cùng các chị các anh. Cũng xin đừng đứng trên lề để “xem” biểu tình mà hãy bước xuống làm người biểu tình.

Tôi mất bố, tôi mất mẹ, tôi mất chồng,
nên tôi hiểu được những hụt hẫng của mất mát
và bây giờ tôi sắp sửa mất nước,
nên tôi phải nói, nên tôi phài gào …
gào cho đến khi nào anh em tôi tỉnh thức,
cho đến khi nào đồng bào tôi không còn mất chồng mất cha
“Chồng Tôi Vô Tội” “Anh Tôi Vô Tội”
“Chồng tôi ở đâu ?”, “ Mẹ đi tìm con”, “Ba ở đâu ? Con nhớ ba”,

mãi mãi là những câu hỏi nhức nhối mà tất cả chúng ta không thể nhắm mắt bịt tai… chỉ đứng bên lề.

Bình Minh (danlambao)

Bạo động tại Anh : hồi chuông cảnh báo.

Xe hơi bị đốt cháy  trên đường phố ở Luân Đôn, ngày 09/08/2011
Xe hơi bị đốt cháy trên đường phố ở Luân Đôn, ngày 09/08/2011
REUTERS/Luke MacGregor

Nhìn chung, các trang báo Pháp hôm nay đều quan tâm đến vụ bạo loạn tại Tottenham, Anh Quốc. Theo nhiều nhà xã luận của Pháp, bùng nổ xã hội đang lan truyền tại Anh minh chứng sự thất bại của chủ nghĩa siêu tự do. Nó gióng lên hồi chuông cảnh báo tất cả các nước mà hố ngăn cách giàu và nghèo không ngừng tăng.

Nhà bình luận của nhật báo Le Figaro, Ông Pierre Rousselin nhận rằng : « Nếu các cuộc bạo động đang phá hủy các khu phố nghèo tại Luân Đôn, thì điều này cũng có thể xảy ra ở bất kỳ nơi nào khác ở Châu Âu. Đây cũng là bản sao của những vụ bạo động xảy ra cách đây 5 năm ở các vùng ngoại ô của chúng ta, khi mà khắp nơi đang chỉ trích mô hình hội nhập Pháp ».

Ông cho rằng, ngăn cách xã hội chính là vùng đất màu mỡ cho các vụ bạo động. Ông viết : « Các khu ngoại ô nghèo của các thành phố lớn là một vùng đất màu mỡ cho sự bùng phát xã hội, đặ biệt trong giai đoạn khủng hoảng, cắt giảm ngân sách và thất nghiệp tăng ».

Quan điểm này cũng được bình luận gia François Sergent đồng chia sẻ trên Libération. Ông nói : « Các vụ bạo động đưa ra một báo động nghiệm trọng không những cho Anh quốc mà cho tất cả các xã hội phương Tây đa chủng tộc và bất bình đẳng […] Cũng giống như tại Pháp, các cuộc nổi dậy bạo lực, giờ đang tràn khắp nước Anh, cho thấy trước tiên sự thất vọng và phẩn nộ của một cộng đồng cảm thấy bị gạt ra ngoài và sống bên lề xã hội ».

Bài xã luận của ông Dominique Quinio trên nhật báo Công giáo La Croix còn nhấn mạnh rằng : « Chính phủ của ông David Cameron đang đối diện với một thách thức nặng nề, khi mà các chính sách kinh tế của ông thì hạn hẹp và chính sách thắt lưng buộc bụng của ông dẫn đến việc phải cắt giảm các khoản chi phí cho xã hội. ». Một câu hỏi được đặt ra cho tất cả các nước mà nạn bạo động đang gia tăng được nhìn thấy một cách hiển nhiên và đầy khiêu khích, và nơi mà khoảng cách giữa một thiểu số người được ưu đãi và những người dân bị bỏ rơi trên phương diện xã hội và văn hóa ». Cuối cùng, ông cũng tự hỏi « Làm thế nào mà có thể so sánh điều này với những gì đang diễn ra trong những ngày qua trên các sàn chứng khoán ?»

Cuộc chiến tranh du kích điện tử

Cũng liên quan đến vụ bạo động tại Anh, nhật báo Kinh tế Les Echos quan tâm đến vai trò quan trọng của hộp thư điện tử BlackBerry. Việc này đã dấy lên nhiều cuộc tranh luận. Les Echos cho biết, Nghị sĩ Anh David Lammy đã kêu gọi đình chỉ hoạt động của hộp thư điện tử BlackBerry Messenger (BBM), một trong những dịch vụ thông dụng nhất của hiệu điện thoại di động.

Ông cho rằng : « BBM chính là một trong những nguyên nhân khiến cho các cảnh sát vốn được trang bị kỹ, gặp thất bại trước các tên tội phạm ít kinh nghiệm ».

Theo Les Echos, những kẻ gây bạo động đã dùng các loại điện thoại thông minh (smartphones) do tập đoàn Canada RIM sản xuất để phối hợp với nhau, thông qua máy chủ BBM của chính tập đoàn.

Vấn đề là, không như các trang mạng xã hội khác như Facebook hay Twitter, do loại dịch vụ này được mã hóa, nên cảnh sát không thể nào biết được chuyện gì đang diễn ra.

Trước đó, Ả Rập Xê Út và Ấn Độ, đã từng đe dọa cấm tập đoàn RIM với lý do là dịch vụ này tạo điều kiện cho các âm mưu khủng bố.

Lần này, RIM cho thấy thiện chí khi tuyên bố sẽ hợp tác với cảnh sát. Vấn đề là để biết nội dung các thông điệp, RIM phải mở các máy chủ, và cần phải có sự hợp tác của các nhà cung cấp Internet.

Cũng chẳng phải đợi lâu, một nhóm tin tặc đã làm biến dạng các blog chính thức của BBM bằng cách đăng một thông điệp trên trang chủ, đe dọa sẽ truy cập vào các cơ sở dữ liệu của BBM chứa các thông tin cá nhân của các nhân viên. Họ sẽ cho công bố và chuyển các thông tin này đến những kẻ gây bạo động.

Les Echos kết luận một mặt trận mới lại mở ra cho cảnh sát Anh : đối phó với chiến tranh du kích điện tử !

Chiến tranh Việt Nam : Chất độc màu da cam, một vũ khí hủy diệt bền vững

Liên quan đến Việt Nam, trên trang Lịch sử, nhật báo Cộng sản L’humanité hôm nay có bài viết « Chiến tranh Việt Nam : Chất độc mà da cam, một vũ khí hủy diệt bền vững ». Bài báo cho biết, dù chiến tranh đã kết thúc, nhưng hậu quả của nó vẫn còn nặng nề. Nhiều thế hệ trẻ em sinh ra với những vết sẹo tội ác chiến tranh của Mỹ.

Trong vòng có 10 năm từ năm 1961 đến 1971, Mỹ đã rải tổng cộng 80 triệu lít chất độc màu da cam, trên một diện tích rộng 2.500.000 hec-ta, chỉ nhằm một mục đích duy nhất là đuổi các chiến sĩ ra khỏi rừng rậm, cắt đường mòn Hồ Chí Minh, con đường vận chuyển lương thực, đạn dược và thuốc men. Đồng thời, hành động này cũng nhằm truy bức dân làng vào các « khu chiến lược ».

Kết quả là hàng chục ngàn người chết tại chỗ. Từ 2 đến 4 triệu người sống sót, nhưng thường xuyên có biểu hiện các bệnh lý trầm trọng như ung thư, bệnh bạch cầu, tiểu đường, rối loạn thần kinh, bệnh về da v.v… Những người bị nhiễm độc còn sinh ra những đứa trẻ tật nguyền (thiếu hay teo tay chân, mù, trì năng tâm thần, phát triển bị rối loạn dẫn đến đời sống thực vật…). Đôi khi, đời cháu cũng bị ảnh hưởng mà cho đến giờ các nhà khoa học vẫn chưa hiểu được cơ chế lây truyền.

Theo L’Humanité, hậu quả của vụ thải chất độc da cam này là một gánh nặng khổng lồ cho Việt Nam. Chính quyền Mỹ và các tập đoàn sản xuất hóa chất phủi trách nhiệm. Và các nạn nhân cũng chỉ biết dựa vào các hiệp hội để tìm công lý.

Gần đây, chính phủ Mỹ đã thay đổi một phần thái độ, từ việc phủ nhận hoàn toàn sang xem xét nhân đạo. Trong một bản báo cáo năm 2009 ở Quốc hội Mỹ về vấn đề « Nạn nhân chất độc màu da cam Việt Nam và mối quan hệ Mỹ - Việt », tác giả đề nghị thông qua một kế hoạch trợ giúp nhiều năm như là một trong những biện pháp nhằm cải thiện hình ảnh của Mỹ tại Châu Á.

Bài báo cũng cho biết thêm một Nhóm Đối thoại Mỹ đề nghị một kế hoạch hành động huy động khoảng 300 triệu đô-la, được chia đều trong vòng 10 năm. Điều đáng mừng là nhóm Đối thoại này đã trực tiếp yêu cầu chính phủ Mỹ tài trợ một phần lớn cho kế hoạch.

Cuối cùng, bài báo nhấn mạnh rằng trách nhiệm vẫn thuộc về các nhà sản xuất hóa chất, các tập đoàn đã lập ra các báo cáo giả hòng che giấu sự thật về tính độc hại của loại chất diệt cỏ này.

Bắc Kinh khó khăn kềm chế lạm phát

Liên quan đến lãnh vực kinh tế, nhật báo kinh tế Les Echos quan tâm đến tình hình lạm phát tại Trung Quốc, qua bài viết « Chính quyền Bắc Kinh khó kềm chế được lạm phát ».

Lạm phát tại Trung Quốc đã tăng lên 6,5%, một kỷ lục mới sau mức tăng 6,4% hồi tháng 6 vừa qua. Điều này đã gây ra nhiều mối lo ngại cho hậu quả xã hội và chính trị.

Theo Les Echos, không những khoảng cách giàu và nghèo ngày càng bị đào sâu, mà giá thực phẩm cũng sẽ dội lên theo và sẽ ảnh hưởng nhiều đến các hộ gia đình nghèo. Một phần lớn thu nhập sẽ phải chi cho lương thực (chiếm khoảng 14,8%). Ngoài ra, lạm phát sẽ còn làm xói mòn các giá trị tiết kiệm, chiếm tỷ trọng cao tại Trung Quốc.

Tác giả bài viết còn cho rằng lạm phát lần này chính là hệ quả của kế hoạch phục hồi kinh tế năm 2008 nhằm đối phó với khủng hoảng tài chính thế giới và các hậu quả tiêu cực về xuất khẩu của Trung Quốc. Kết quả của kế hoạch này là lượng tiền mặt lưu thông trên thị trường tăng vọt. Để hạn chế, chính quyền Bắc Kinh đã phải 5 lần tăng lãi suất tín dụng.

Hiện tại, các chuyên gia phân tích vẫn tin rằng khả năng lạm phát giảm, vì hai lý do : Thứ nhất, mức tăng lạm phát dường như đang chựng lại (mức tăng từ 6,4% đến 6,5% từ tháng 6 đến tháng 7 yếu hơn so với mức tăng từ 5,5% lên 6,4% từ tháng 5 đến tháng 6. Thứ hai, phần lớn các chuyên gia cho rằng bắt đầu thấy rõ tác động của các biện pháp tiền tệ do Trung Quốc đề ra.

Tại Hàn Quốc, các tập đoàn thâu tóm quyền lực và bóp nghẹt các doanh nghiệp vừa và nhỏ

Nhìn sang Hàn Quốc, nhật báo Le Monde lại chú ý đến các mặt trái trong sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế Hàn Quốc. Theo tác giả, sự thông đồng giữa Nhà nước và tư nhân đang là những ung nhọt gây nhức nhối xã hội Hàn Quốc.

« Hàn Quốc, các tập đoàn đang chiếm quyền lực và bóp nghẹt các doanh nghiệp vừa và nhỏ » là bài viết của tác giả Philippe Pons trên trang kinh tế. Theo tác giả, hai hiện tượng « tham nhũng » và « sự tham lam » của các tập đoàn lớn tại Hàn Quốc không những đang lan rộng một cách kinh ngạc mà còn đè bẹp các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Tác giả cho biết, sự thông đồng giữa chính quyền và quyền lợi tư nhân vốn là một vấn đề "cấu trúc". Ông giải thích rằng « Trong xã hội Hàn Quốc hiện nay, do mối quan hệ gia đình mang đậm dấu ấn đạo đức Tân Nho giáo, nên họ rất chú trọng đến các mối liên kết gia đình cũng như là thành phần khu vực xuất thân ăn sâu vào trong tâm thức. Tất cả những yếu tố này kết hợp với thừa hưởng của những nền độc tài quân sự tạo thành một ma trận tham nhũng tạo thuận lợi cho việc đưa hối lộ ».

Tác giả cho biết, kể từ năm 1961, các chính quyền nối tiếp nhau xây dựng nền kinh tế bằng cách dựa vào các ông chủ các tập đoàn lớn. Từ đó, các tập đoàn này trở thành những triều đại đế chế và là « hệ thần kinh của cuộc chiến tranh » kinh tế, mà sự tăng trưởng phụ thuộc hoàn toàn vào xuất khẩu. Sau khủng hoảng kinh tế năm 1997-1998, chính quyền phe trung –tả đã cố gắng dẹp bỏ nhưng không thành công. Ngược lại, tổng thống Hàn Quốc hiện nay là ông Lee Myung-Bak lại rất ưu ái các tập đoàn này.

Nhiều ông chủ lớn bị kết án tù vì tội tham ô, hay trốn thuế sau đó đều được Tổng thống ân xá. Một điều mà các ông chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ không bao giờ được hưởng.

Cuối cùng, tác giả còn cho biết thêm, là các ông chủ lớn này không bao giờ vừa lòng với những gì mình đang có. Họ bắt đầu tấn công vào các lãnh vực truyền thống khác như sản xuất đậu hũ, các hiệu cà phê và bánh pizza, nhập khẩu rượu . Và dĩ nhiên nạn nhân chính là doanh nghiệp vừa và nhỏ của các địa phương.

Minh Anh
ĐIỂM BÁO PHÁP QUỐC


THIÊN ĐƯỜNG MỚI: “Nhiều người lấy bằng cấp thay cho tri thức”

... cũng phổ biến hiện tượng tri thức và những người làm ra tri thức thực sự thì bị bạc đãi, trong khi bằng cấp dởm và những người có bằng cấp dởm lại được trọng dụng. Giữa hiện tượng này và sự sa sút về kinh tế, yếu kém về quân sự, lệ thuộc vào nước ngoài, có quan hệ khăng khít với nhau, đáng tiếc là còn ít người hiểu được điều này. Và đáng tiếc nhất là những người quản lý ở các cấp chưa chứng tỏ là đã hiểu được điều này.


“Nhiều người lấy bằng cấp
thay cho tri thức”



TH

Điều gì khiến chị, một tiến sĩ văn học, thay vì “bổ một nhát cuốc” lên cánh đồng văn chương, lại đi dịch “Nietzsche và triết học” trước tiên? Bản thân mỗi việc đọc và hiểu được những tư tưởng của Nietzsche đã khó, huống hồ là đọc những biện giải về ông từ những nhà triết học khác.

Bởi vì nhiều khái niệm trong cuốn “Nietzsche và triết học” đã được ứng dụng vào nghiên cứu văn học: sự quy hồi vĩnh cửu, sức mạnh, sự thật, mặc cảm tội lỗi, nỗi đau… Triết học và văn chương có chung một mối quan tâm. Alain Robbe-Grillet nói rằng : « triết học và văn chương có cùng những đối tượng, tiếp tục cùng những nghiên cứu giống nhau, nhưng bằng những phương thức khác nhau ». Đôi khi văn chương đi trước triết học trong mối quan tâm này. Nhà văn Kundera khẳng định : « …tất cả những đề tài hiện sinh lớn mà Heidegger phân tích trong tác phẩm Tồn tại và thời gian, cho rằng chúng đã bị toàn bộ nền triết học châu Âu trước đó bỏ rơi, thì lại đã được khám phá, phô bày, soi sáng bởi bốn thế kỷ tiểu thuyết châu Âu. » Muốn phát triển văn học và nghiên cứu văn học, cần có nền tảng triết học. Đấy là lý do vì sao tôi chọn dịch cuốn sách của Deleuze. Còn về chuyện “khó”, tất nhiên là rất khó. Nhưng cái khó cũng có sức hấp dẫn của nó. Nó giúp ta khám phá các giới hạn của trí tuệ, nó giúp ta cảm nhận sự may mắn rằng ta được sở hữu một trí tuệ mà không phải loài động vật nào cũng có.

Deleuze nhận thấy rằng, đối với Nietzsche, triết học phải tiến hành công việc phê phán, triết học trở thành triết học phê phán…Và triết gia chính là kiểu người phê phán. Ông ta phải luôn chống lại thời đại mình, phải luôn phê phán thế giới hiện tại. Liệu những giá trị của tư tưởng Nietzsche có phù hợp với tư duy phương Đông, nhất là đối với tư duy người Việt ?

Tôi nghĩ rằng chúng ta là con người, trước khi là người Việt Nam, do vậy chúng ta cũng có những đặc điểm phổ quát của con người, chúng ta cũng mang các giá trị phổ quát của con người. Chúng ta có thể học được từ kinh nghiệm của nhân loại những gì hữu ích cho sự phát triển của chúng ta. Đấy là điều mà người Nhật đã làm, điều đã góp phần tạo nên sức mạnh của Nhật Bản hiện nay. Phan Châu Trinh trước đây đã rất ý thức về chuyện này, ông đã nói rằng: “ Người Nhật học [thế giới] như vậy, ta chẳng học gì cả, mất nước là phải ”, tôi dẫn theo Nguyên Ngọc trong bài “Đem tinh hoa tri thức của nhân loại về cho đất nước. Một sự nghiệp lớn và cấp thiết” [ Doanh nhân Sài Gòn cuối tháng, số 2, tháng 5.2007, tr. 76].

Chị đặt một vấn đề rất hay, rằng « trong lập luận của Nietzsche về mối quan hệ giữa triết học và tình trạng sức khỏe của dân tộc, có một điểm mà ông chưa bàn tới : liệu một dân tộc bệnh hoạn có thể trở thành một dân tộc lành mạnh được không ? » Mặc dù khi ấy, chị đã biết trước câu trả lời : « Khi một dân tộc ốm yếu bệnh tật bắt đầu quan tâm đến triết học, bắt đầu thấy cần đến triết học (cho dù nó chưa đủ khả năng để làm ra triết học) thì đó có phải là dấu hiệu cho thấy sức khỏe của nó bắt đầu hồi phục, một dấu hiệu dự báo rằng nó có thể trở thành một dân tộc lành mạnh, cường tráng trong tương lai ? » Có bao giờ, câu trả lời từ bản thân chị bị lung lay hay không ?

Đời sống không phải là một trạng thái tĩnh, bất biến, mà nó luôn vận động và tiềm tàng những khả năng biến đổi. Con người cũng vậy. Khả năng biến đổi này được Sartre gọi là hạt nhân “hư vô”, hay sự “tự do” của con người. Tuy nhiên, sự biến đổi có thể diễn ra theo nhiều hướng khác nhau, có thể tồi tệ đi, cũng có thể tiến bộ lên. Tôi đặt niềm tin, sự ngây thơ, và ảo tưởng của tôi vào xu hướng tiến bộ, tức là vào cái khả thể: bệnh có thể lành, dân tộc có thể trở nên cường tráng. Ảo tưởng sẽ trở thành hiện thực khi có những người hành động, và nhất là khi những người hành động càng ngày càng nhiều lên.

Phải chăng đó chính là điều thôi thúc chị muốn dịch một cách hệ thống những tác giả quan trọng của triết học và văn học Phương Tây được coi là đương đại, ít hoặc chưa từng được giới thiệu ở Việt Nam ?

Đối với tôi, đó chính là hành động. Hành động trong lĩnh vực của mình, trong phạm vi nghề nghiệp của mình.

Giữa triết học và văn chương, mối quan hệ hình và bóng lâu nay vẫn bị tách nửa ở VN. Vậy chị nhìn nhận thế nào về một nền văn học thiếu vắng tư tưởng triết học « ngoài luồng »?

Nhiều nhà văn không đọc triết học, nhưng khi họ quan tâm tới những việc như họ là ai, đời sống này có ý nghĩa gì, nó vận động như thế nào, sự thật của đời sống này là gì, họ đóng vai trò gì đối với toàn bộ cái dòng chảy được gọi là lịch sử, họ có quan hệ như thế nào với những người khác, với cộng đồng, họ tìm kiếm điều gì, họ có thể làm gì, họ không thể làm gì, đời sống tinh thần của họ như thế nào v.v…thì họ đã gặp gỡ với những vấn đề của triết học.

Tuy nhiên, những mối quan tâm này càng trở nên có ý thức hơn, sâu sắc hơn, nếu như nhà văn tiếp xúc với các tác phẩm triết học. Một số nhà văn nước ngoài còn dùng tác phẩm của mình để đối thoại với các triết gia.

Một nền văn học thiếu vắng triết học vẫn có thể đẻ ra các tác phẩm có giá trị khi các nhà văn quan tâm thực sự đến những vấn đề thuộc về thế giới này, một sự quan tâm vô vị lợi, một sự quan tâm cho thấy tư cách người của họ. Điều đó, kỳ lạ thay, có thể đưa họ lại gần với triết học, mà đôi khi họ không biết.

Lao vào làm những cái khó, dịch những tác phẩm kén người đọc, làm luận án nghiên cứu về Alain Robbe Grillet- nhà văn của những nghịch lý, việc lội ngược dòng này có khiến chị liên tưởng đến hình ảnh « lặn lội thân cò nơi quãng vắng », khi mà những giá trị tri thức gần như chưa được đánh giá cao hoặc ít ra, được tưởng thưởng xứng đáng ?

Voltaire qua truyện Candide cho ta thấy rằng sự độc ác và ngu dốt gắn liền với nhau như con gà và quả trứng, nghĩa là không biết cái nào đẻ ra cái nào. Quan niệm đó là quan niệm chung của các nhà khai sáng ở châu Âu thế kỷ XVIII, những người ý thức được rằng tri thức chính là sức mạnh, khả năng tư duy độc lập làm nên sức mạnh cho con người. Kant nói rõ điều đó trong bài “Trả lời câu hỏi: Khai sáng là gì?” Chính vì thế mà trí thức phương Tây hồi đó đã phát động cả một phong trào rộng lớn nhằm đưa ánh sáng của tri thức để xóa đi bóng tối của sự ngu dốt. Và phương Tây ngày nay hiểu rất rõ giá trị của tri thức, cho dù họ không còn tuyệt đối hóa lý tính nữa. Tôi làm việc với hy vọng rằng xã hội chúng ta sẽ đánh giá đúng giá trị và ý nghĩa của tri thức, trước khi quá muộn. Mà lúc này cũng đã là quá muộn rồi. Một trong những dấu hiệu, đó là chúng ta đang lấy bằng cấp thay cho tri thức. Vì thế chúng ta có thể có bằng cấp (có nhiều) nhưng không có khả năng giải quyết các vấn đề của cuộc sống. Hoặc là cũng phổ biến hiện tượng tri thức và những người làm ra tri thức thực sự thì bị bạc đãi, trong khi bằng cấp dởm và những người có bằng cấp dởm lại được trọng dụng. Giữa hiện tượng này và sự sa sút về kinh tế, yếu kém về quân sự, lệ thuộc vào nước ngoài, có quan hệ khăng khít với nhau, đáng tiếc là còn ít người hiểu được điều này. Và đáng tiếc nhất là những người quản lý ở các cấp chưa chứng tỏ là đã hiểu được điều này.

« Ta không bao giờ trùng khít với chính mình »- trên con đường tìm kiếm tự do nội tại, Alain Robbe Grillet đã nhận ra luôn có một con người khác trong mình. Chị có thể nói gì về con người khác trong chị, một con người của thơ (dữ dội, hoài nghi, băn khoăn, tự vấn, rất khác với vẻ ngoài), một con người của phê bình văn học (không khoan nhượng, không thỏa hiệp, không thủ cựu) ?

Tôi không biết nói gì thêm ngoài những gì đã được viết ra, đã được công bố. Cảm ơn chị đã đọc tôi rất kỹ.

Tập thơ « Chữ cái » như một giọng nói khác biệt giữa đám đông, một thân thể được khoác ngoài bằng chiếc áo chữ quá chật. Người ta vẫn thường làm đau « cái tôi của chữ », như vẫn thường làm thế với con người. Đến nay, chị đã gần hoàn tất tập « Biến mất », với nỗ lực « vít vào khoảng trống một hiện diện rỗng”, để “chân trời của biến mất mở vào những thế giới khác/những thế giới biến mất trong những thế giới khác”. Tập “Biến mất” mang cá tính thơ nhiều hơn tập đầu. Liệu có phải “biến mất” là một cách tự giải thoát của những con người đã ở đến đỉnh điểm của sự cô đơn, của nỗi đau, bất lực hay của trống rỗng trong thân xác?

Tất cả chúng ta rồi sẽ biến mất khỏi cõi đời này. Nhưng một khi đã biến mất rồi thì không còn ý thức được về sự biến mất của mình nữa. Vì thế, có một lúc trong đời, vào đầu năm 2008, tôi muốn trải nghiệm cảm giác đó, để sau khi trở lại, có thể nắm bắt được ý nghĩa của sự biến mất.

Rồi khi trở về với thực tại, từ “biến mất” đối với tôi có nhiều ý nghĩa hơn. Trong thực tại của xã hội chúng ta, những điều tốt đẹp đang dần dần biến mất. Và tôi tự hỏi, cái gì là nguyên nhân thúc đẩy sự phát triển của cái xấu và cái ác, cái gì làm biến mất những giá trị tốt đẹp, làm đảo lộn các chuẩn mực? Tập “Biến mất” là những câu hỏi khác với những câu hỏi đặt ra trong tập “Chữ cái”. Nhiều câu hỏi chưa được thể hiện trong tập thơ này, vì nó chưa kết thúc. Ví dụ: chúng ta nên để lại điều gì sau khi biến mất khỏi thế giới này: những cái nhà, những cái ô tô, các tài khoản trong ngân hàng của các cá nhân? Và song song là môi trường bị phá hủy, tài nguyên mất mát, nợ nần chồng chất cho thế hệ tương lai, một nền giáo dục lạc hậu, kiềm tỏa và áp chế con người, những nỗi oan khuất không được hóa giải, sự mất thể diện chung của toàn dân tộc…? Hay là ta nên để lại tri thức, các công trình văn hóa đích thực, các giá trị nhân đạo và một xã hội lành mạnh để con cháu sinh ra có thể tự hào vì được làm hậu sinh của một dân tộc cường tráng?

Milan Kundera từng viết: “Nếu ta không biết hiện tại sẽ dẫn ta tới tương lai nào, làm sao ta có thể nói rằng cái hiện tại này là tốt hay xấu… », chúng ta đang ở trong một hiện tại nhiều đau đớn, thay đổi, sợ hãi, nơi cái ác, cái dốt nát đang mọc mầm nhanh hơn lúc nào hết, vậy chị sẽ nói gì về một tương lai gần?

Liệu tôi có thể nói gì về tương lai khi không có đủ thông tin về hiện tại? Trong thời đại mà thông tin trở thành sức mạnh như hiện nay, thì cả điều này nữa chúng ta cũng chưa ý thức được: tước bỏ thông tin cũng đồng nghĩa với việc tước bỏ khả năng phân tích, khả năng tư duy; từ chối và ngăn cấm việc đối diện với thực tại cũng đồng nghĩa với việc tước bỏ khả năng tác động tới thực tại, mà nếu không có sự tác động đó thì cũng không có sự phát triển, không chuẩn bị được cho tương lai. Lâu dần, tất cả chúng ta sẽ chỉ còn là những cá thể bị lệ thuộc và bị chi phối bởi thực tại, cả tương lai cũng bị chi phối bởi thực tại. Điều đó giải thích tại sao thái độ thích nghi được đề cao trong xã hội chúng ta. Nhưng thích nghi cũng đồng nghĩa với sự dừng lại, không phát triển.

Tuy nhiên, từ góc độ một nước chậm phát triển, thích nghi còn được hiểu theo hướng khác: thích nghi với bối cảnh chung của thế giới, bởi chúng ta đang ở trong thời đại toàn cầu hóa. Thích nghi với sự tiến bộ, thích nghi với thế giới hiện đại. Sự thích nghi này, trái lại, đòi hỏi phải cải cách, phải cách tân, phải can đảm từ bỏ thực tại mình đang có để tạo ra một thực tại khác. Không thể có sự phát triển nếu không chịu từ bỏ cái mình đang là để hướng tới cái mình sẽ là. Đó là một quá trình có thể đau đớn, có thể mất mát, nhưng sẽ có một bước phát triển cao hơn. Còn nếu cố giữ thực trạng hiện tại này, thì cũng không lấy gì đảm bảo là không có mất mát trong tương lai.


Nguyễn Thị Từ Huy/Nhật Lệ

Nhà hoạt động Phạm Minh Hoàng bị tuyên án 3 năm tù

Công an áp tải ông Phạm Minh Hoàng, nguyên giảng viên toán trường Đại học Bách khoa Sài Gòn, ra khỏi tòa án, ngày 10/9/2011
Hình: ASSOCIATED PRESS
Công an áp tải ông Phạm Minh Hoàng, nguyên giảng viên toán trường Đại học Bách khoa Sài Gòn, ra khỏi tòa án, ngày 10/9/2011

Tòa án Nhân dân TPHCM ngày 10/8 tuyên phạt một nhà hoạt động là công dân Pháp gốc Việt 3 năm tù về tội “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo điều 79 Bộ luật Hình sự Việt Nam.

Chính quyền cáo buộc ông Phạm Minh Hoàng, nguyên giảng viên toán trường Đại học Bách khoa Sài Gòn, đã đăng tải 33 bài viết phản đối chế độ độc đảng của chính quyền cộng sản Việt Nam trên mạng internet với bút danh Phan Kiến Quốc và có liên hệ với đảng Việt Tân ở hải ngoại, nhóm cổ súy dân chủ bị cấm hoạt động ở Việt Nam. Cáo trạng cũng nói là ông có tham gia tuyển mộ thành viên cho đảng Việt Tân và tham dự khóa tập huấn đấu tranh bất bạo động ở Malaysia do Việt Tân tổ chức. Chính quyền Việt Nam cho rằng hành vi của ông Hoàng là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm an ninh quốc gia.

Báo chí trong nước loan tin trong quá trình điều tra và tại tòa, ông Hoàng đã ‘thừa nhận hành vi phạm tội’, ‘xin được khoan hồng’.

Tuy nhiên, hãng thông tấn AP trích lời luật sư Trần Vũ Hải, người bảo vệ cho ông Hoàng, cho biết tại tòa ông Hoàng thừa nhận gia nhập đảng Việt Tân tại Pháp, nơi mà tổ chức này không bị cấm, nhưng ông nhấn mạnh ông không hoạt động dưới sự chỉ đạo của Việt Tân. Ông Hoàng nói ông quyết định về Việt Nam vào năm 2000 để đóng góp cho đất nước và chăm sóc cha mẹ già. Ông cũng đồng thời khẳng định là các bài viết của ông nêu lên những tiêu cực trong xã hội chứ không nhằm lật đổ chính quyền, và ông cho rằng Việt Nam cần phải cải thiện dân chủ hơn nữa.

Bà Lê Thị Kiều Oanh, vợ ông Hoàng được tham dự phiên xử, cho Ban Việt Ngữ đài VOA biết:

“Chồng tôi chỉ thừa nhận việc anh ấy tham gia đảng Việt Tân là vi phạm pháp luật Việt Nam. Ngoài ra, những điều khoản buộc tội khác thì không. Thoạt tiên, phiên tòa có vẻ cũng dân chủ khi cho chồng tôi lên tiếng và cho luật sư bào chữa. Tuy nhiên, rất tiếc đến phần phản bác của luật sư trước những lời buộc tội của Viện Kiểm sát, Thẩm phán không tập trung lắng nghe, lo ra rất nhiều lần, khiến tôi nghĩ chẳng lẽ bản án đã được phán quyết rồi nên ông không cần lắng nghe luật sư bào chữa nữa. Một vấn đề khác nữa là rõ ràng tòa không đưa ra được bằng chứng nào để buộc tội là chồng tôi lật đổ chính quyền, nhưng Thẩm phán vẫn tuyên lại y chang những gì đã cáo buộc chồng tôi và phán quyết 3 năm tù giam, 3 năm quản chế. Tôi rất ngỡ ngàng.”

Trong thông cáo báo chí ngày 10/8, đảng Việt Tân cực lực phản đối bản án của giảng viên Minh Hoàng và tố cáo điều 79 Bộ luật Hình sự Việt Nam là phản dân chủ, đi ngược lại quyền tự do sinh hoạt chính trị và quyền tự do ngôn luận của công dân được thế giới công nhận.

Trước khi phiên xử diễn ra, Bộ Ngoại giao Pháp đã lên tiếng bày tỏ quan ngại sâu sắc về trường hợp của ông Hoàng.

Tổ chức Phóng viên Không Biên giới (RSF) có trụ sở tại Pháp ngày 3/8 đã gửi thư cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu Việt Nam tôn trọng nhân quyền và phóng thích blogger Phạm Minh Hoàng vô điều kiện. Giám đốc Thông tin của RSF, ông Gilles Lordet, phát biểu với VOA Việt Ngữ:

“Chúng tôi rất bàng hoàng vì bản án này cho thấy chính phủ cộng sản Việt Nam ngày càng đàn áp quyền tự do ngôn luận nhiều hơn. Ngoài lá thư chúng tôi đã gửi tới Thủ tướng Việt Nam, trong thông cáo báo chí của Tổ chức Phóng viên không biên giới hôm nay, chúng tôi cũng kêu gọi chính phủ Pháp tăng áp lực, yêu cầu chính quyền Hà Nội trả tự do cho ông Phạm Minh Hoàng.”

Nhà bất đồng chính kiến Phạm Minh Hoàng sang Pháp du học năm 1973 và có quốc tịch Pháp.

Ông bị chính quyền Việt Nam giam giữ 1 năm trước khi ra tòa, và thời gian này sẽ được tính trừ vào bản án 3 năm của ông. Sau án tù, ông sẽ bị quản thúc tại gia thêm 3 năm nữa.

Nguồn: VOA interview, CN1239850, AP, Australia Network News, DPA


Bài Xem Nhiều