We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 22 August 2011

NGƯỜI QUÉT CHỢ


Người quét chợ -- HoPhap.Net
"Nhớ dâng trà cúng sư thúc và dì Linh nghe con?" thầy nhắc chú tiểu khi thấy chú sửa soạn lên chánh điện để cúng ngọ.
"Bạch thầy, con nhớ," chú đáp.
Đó là câu mà thầy cứ nhắc chú mỗi ngày trước mỗi thời kinh. Chú chẳng biết sư thúc là ai, dì Linh là ai. Trên chiếc bàn thờ nhỏ đặt cạnh bàn Tổ, chú chỉ thấy hai cái bài vị được viết bằng chữ Hán chứ chẳng có hình ảnh gì cả. Vì thầy nhắc mãi nên chú không lúc nào quên, vậy mà thầy cứ nhắc. Nghe nhắc hoài, ban đầu chú hơi bực mình, nhưng riết rồi cũng quen. Và khi chú rót trà cúng cho hai người đó, chú cũng làm như một cái máy chứ không suy nghĩ gì. Chùa chỉ có một thầy một trò, nên thầy thương chú lắm và chú cũng quí kính thầy vừa như cha mẹ, vừa như thầy, và thỉnh thoảng như một người bạn đạo. Chú không có tên thế tục. Chú chẳng hiểu lý do vì sao. Có lẽ vì chú sống ở chùa từ nhỏ nên thầy đã không đặt tên thế tục cho chú mà chỉ đặt cho chú một pháp danh là Thanh Thị. Chú lớn lên ở trong chùa, quen với tên gọi mà thầy đặt cho, chẳng thắc mắc gì. Nhưng đến khi được thầy dạy cho học chữ Hán, chú mới hiểu được cái tên đọc nghe như tên con gái của mình lại có một ý nghĩa kỳ cục, không được thanh nhã cho lắm. Nó có vẻ như được đặt ra để đánh dấu một kỷ niệm nào đó của thầy, hoặc cho chính chú. Chú băn khoăn suy nghĩ mãi về ý nghĩa của cái tên mà mình đeo mang. Nhân lúc cùng thầy nhổ cỏ sau vườn chùa, chú hỏi:
"Bạch thầy, tại sao thầy đặt tên con là Thanh Thị?"
"Vì thầy thích đặt như vậy," thầy chú thản nhiên trả lời.
"Lâu nay con tưởng rằng chữ thị có nghĩa là đây, như vầy, giống như chữ thị trong như thị, đích thị hoặc chữ thị như trong biểu thị, thị hiện... nhưng mới hôm qua, thầy viết tên con bằng chữ thị có nghĩa là chợ. Con không rõ là tên con sao lại có cái nghĩa không được hay. Xin thầy giải thích cho con."
Thầy nghiêm giọng nói:
"Chỉ là tên gọi thôi, có gì mà phải bận tâm, nhổ cỏ đi."
Chú cúi xuống nhổ cỏ tiếp, nhưng được một lúc, chú lại hỏi:
"Con biết đó chỉ là tên gọi thôi, nhưng tên gọi cũng phải nói lên một cái gì, một ý nghĩa gì chứ."
"Thì chợ cũng là một cái gì, một ý nghĩa gì rồi đó," thầy đáp.
"Con thấy chợ chỉ có ý nghĩa là dơ, ồn ào, phức tạp... toàn là xấu không à. Con không tìm ra được ý nghĩa nào hay đẹp ở trong nó. Khi thầy đặt tên con, chắc chắn là thầy có nghĩ đến một ý tưởng hay một hình ảnh gì đó về cái chợ, phải không, bạch thầy?"
"Nhiều chuyện quá," thầy nói, "nhổ cỏ đi."
Chú im lặng nhổ cỏ, không dám hỏi nữa. Nhưng trong đầu óc chú bắt đầu nẩy ra những suy tưởng, những phán đoán về sự đặt tên của thầy. Chú nghĩ, năm nay chú đã mười sáu tuổi rồi, có thể nói là chú đủ trưởng thành để nghe thầy kể về lai lịch của chú. Lâu nay mỗi lần chú hỏi đến vấn đề đó, thầy chỉ nói là chú chưa trưởng thành, chưa đến lúc cần biết. Nhưng dù thầy chẳng nói ra, chú cũng không đến nỗi ngu độn để không biết rằng chú là một đứa bé mồ côi. Ai cũng có cha mẹ, riêng chú không có. Cái thực tế đó làm gì thầy che giấu được. Nhưng tại sao lại đặt tên là Thị, có nghĩa là chợ? Có lẽ... có lẽ cha hay mẹ của chú là người bán hàng ngoài chợ, hoặc là người chủ chợ. Nhưng ba mẹ chú đâu mà để cho thầy phải đặt tên? Cũng có thể mẹ chú đi ngang chợ thì sinh ra chú. Không, nếu mẹ chú sinh ra chú ở chợ thì cũng đem về nhà, và chú vẫn còn người mẹ đó chứ chú đâu có mồ côi để cho thầy phải đặt tên! Hay là... hay là thầy lượm được chú ngoài chợ, đem về chùa nuôi cho đến ngày hôm nay? Chính vì kỷ niệm đó mà thầy đặt tên cho chú là Thị (chợ)?
"Bạch thầy..." chú không ngăn được nỗi háo hức tìm hiểu thân phận mình, lại mở miệng hỏi.
"Gì nữa đây?" thầy không nhìn chú.
"Có phải... có phải con là đứa con rơi thầy lượm ở ngoài chợ đem về hay không?"
Thầy ngưng tay nhổ cỏ. Im lặng một lúc, thầy tiếp tục nhổ, vừa nói:
"Nhổ cỏ."
Đến chiều, sau giờ ăn cháo, thầy gọi chú cùng dạo sân với thầy. Hai thầy trò tản bộ cho đến vườn sau, nơi có hai ngôi mộ mà thỉnh thoảng chú thấy thầy ra thắp hương. Một cái mộ thì chú biết là của sư thúc chú, còn cái còn lại chú chẳng biết của ai và cũng không để ý lắm.
"Con đã dâng trà cho sư thúc và dì Linh lúc công phu chiều rồi hả?" thầy hỏi.
"Bạch thầy, rồi," chú trả lời như máy.
Thầy nhặt mấy chiếc lá nằm trên mộ sư thúc, nhổ vài bụi cỏ mới mọc quanh hai ngôi mộ. Rồi thầy bắt đầu kể chuyện cho chú nghe.
*
Thầy Hải Chấn đang ngồi đọc sách thì Hải Thanh, sư đệ của thầy, bước vào, mặt buồn dàu dàu. Hải Chấn hỏi:
"Gì mà sư đệ có vẻ rầu lo vậy?"
Hải Thanh buồn bã đứng nhìn ra cửa sổ một lúc rồi nói:
"Đệ... đã phạm giới..." Hải Thanh nói đến đó thì rơi nước mắt.
Hải Chấn kéo tay sư đệ ngồi xuống, vỗ về:
"Có trầm trọng lắm không? Đệ đã sám hối chưa?"
"Đã sám hối. Nhưng đó là cho tự tâm. Không giải quyết gì được cho hoàn cảnh."
"Chuyện gì vậy? Nói đi, để xem huynh có thể giúp gì cho đệ không."
"Huynh đừng trách mắng đệ nghe..."
"Phạm tội thì sám hối; huynh trách mắng có thay đổi gì được đâu! Nói đi, đừng chất chứa trong lòng," Hải Chấn nói với giọng đầy cảm thương.
Hải Thanh đưa hai tay ôm lấy đầu, mặt gục xuống bàn, nói:
"Cô ấy đã có mang."
Hải Chấn sửng sốt một lúc, rồi thở dài, hỏi:
"Cô ấy là ai vậy?"
"Sư huynh không biết đâu. Cô ấy không hề đến chùa mình."
"Vậy làm sao đệ quen để đến nỗi..."
"Thôi, huynh hỏi làm gì chuyện đó cho mệt. Bây giờ, đệ chỉ hỏi huynh một điều là đệ phải làm sao đây?"
Hải Chấn nhíu mày, thấy khó xử. Theo luật, Hải Thanh đã phạm một trong các tội Ba-la-di, tức những trọng giới mà đương sự bị coi như mất cả giới thể, không còn là tỳ-kheo thanh tịnh nữa, không thể chữa được nữa—như cây dừa, cây cau, đã chặt đi khúc đầu (đoạn đầu) thì không thể mọc lại tàu lá mới. Đã tới nước đó thì Hải Chấn biết góp ý với Hải Thanh điều gì nữa. Hải Chấn thở dài nói:
"Huynh cũng chẳng biết phải góp ý với đệ làm sao. Chuyện không đơn giản đâu. Đệ phải nói rõ sự việc may ra..."
Hải Thanh ngập ngừng lúc lâu rồi kể:
"Cũng vì cái hạnh quét chợ mà đệ vướng phải nghịch cảnh này. Huynh cũng biết mà, mỗi sáng đệ quét từ sân ra tới chợ, mặc ai cười ai chê, đệ quét thì cứ quét, vừa quét vừa quán niệm về sự cấu bẩn của thế gian và thanh tịnh của niết bàn... năm này qua năm nọ, mưa hay nắng, đệ cũng không bỏ ngày nào. Thế rồi... cô ấy lưu ý đến đệ. Và... một ngày nọ, đệ sa ngã."
"Buồn thay cho đệ. Cô ấy bán ngoài chợ à?"
"Không, cô chỉ đi ngang chợ thôi."
"Vậy bây giờ gia đình cô ấy đã biết rằng chính đệ đã làm... cái chuyện gì đó chưa?"
"Chưa, cô ấy không nói ra là ai. Nhưng... có lẽ có ngày họ cũng biết. Mà họ có biết hay không thì... mình cũng phải tự liệu."
"Tự liệu?"
"Ý đệ nói là mình phải giải quyết vấn đề đó bằng cách đến nói chuyện với gia đình cô ấy, xin hỏi cưới cô ấy, hoặc là... đệ cùng cô ấy trốn đi xa để khỏi mang tai tiếng cho gia đình cô ấy và cho chùa nữa."
"Nghĩa là đệ sẽ hoàn tục?"
"Chứ biết sao bây giờ. Huynh có cách gì hay hơn không?"
Hải Chấn ứa nước mắt, thương sư đệ mình gặp nghịch duyên đến phải bỏ đường tu, nhưng chẳng biết phải giúp bằng cách nào. Hải Chấn ngồi lặng thinh. Một chặp, Hải Chấn nói:
"Huynh chẳng biết cách nào hết, mong đệ tha thứ cho sự chậm lụt của huynh. Huynh nghĩ chắc phải làm theo một trong hai cách mà đệ nêu ra thôi. Mà cho dù chọn giải pháp nào, huynh cũng xin lưu ý đệ một điều rằng đệ nên giải bỏ hình thức tăng sĩ trước khi..."
"Đệ hiểu."
Hai huynh đệ im lặng, mỗi người một dòng suy tưởng.
Hải Chấn nhớ lại bao kỷ niệm mà thầy cùng Hải Thanh trải qua nơi ngôi chùa này từ thuở còn để chóp đến nay. Hải Thanh thông minh, nhanh nhẹn mà lại siêng năng nên cái gì cũng vượt qua mặt sư huynh. Nhưng đến khi sư phụ sắp viên tịch, sư phụ lại giao trọng trách trụ trì cho Hải Chấn. Lúc đó Hải Chấn đã không nhận vì cho rằng sư đệ vượt trội hơn mình quá nhiều. Hải Thanh cũng không chịu nhận chức trụ trì, còn sư phụ thì nhất quyết phải giao chức ấy cho Hải Chấn dù Hải Chấn học hành chậm lụt. Rốt cuộc Hải Chấn phải nhận. Giờ ra đi, sư phụ không nói gì nhiều ngoài việc khuyên răn hai huynh đệ nương nhau tu tập, và những lời cuối cùng của sư phụ đều nhắm vào Hải Thanh, cảnh giác Hải Thanh là không nên chú trọng vào sở kiến sở văn mà bỏ quên phần tu tập. Sau khi sư phụ mất, Hải Thanh thức tỉnh, nỗ lực hành trì, không bao giờ chểnh mảng. Rồi một ngày đó, Hải Thanh bỗng phát nguyện quét luôn cả chợ thay vì chỉ quét sân chùa. Hải Chấn không ngăn cản chi hạnh nguyện của sư đệ mình vì nghĩ rằng đó cũng là hạnh tốt thôi. Hải Thanh cho rằng hình ảnh người tu sĩ hiền lành nhẫn nại có mặt nơi phố chợ đông người sẽ cảm hóa và gây được tín tâm cho nhiều người. Ngoài ra, quét chợ cũng là một cách tu luyện cho tâm được định tĩnh ngay giữa chốn náo động. Không ngờ, chính hạnh nguyện cao đẹp đó lại đốn ngã Hải Thanh trong một nghịch duyên đau xót.
Hải Thanh không ôn lại kỷ niệm xưa mà chỉ ưu tư vấn đề xảy ra trước mắt. Hải Thanh nhớ đến Thùy Linh, cô gái đã có mang với mình. Cô ấy rất đẹp và là một tiểu thư con của quan huyện. Với sự thông minh vốn có, lại thêm sự giúp đỡ bày mưu của cô nữ tì, cô ấy đã tạo đủ điều kiện để lôi kéo Hải Thanh ngã vào vòng tay mình. Từ những phút đầu Hải Thanh đã biết mình rơi vào lưới tình, nếu không thức tỉnh quay lại ngay với thiền môn thì khó bề giữ gìn được đạo hạnh của mình, nhưng bóng sắc lộng lẫy kiêu sa của nàng đã không để cho Hải Thanh chùn bước mà còn kéo thầy lậm sâu thêm vào cơn men ái dục. Bây giờ chuyện đã lỡ rồi, không cưỡng lại được nữa. Hải Thanh muốn rủ Thùy Linh cùng bỏ huyện này trốn đi với mình qua xứ khác sinh sống và cũng để tránh tiếng cho cả đôi bên, nhưng Thùy Linh không dám. Nàng đã ở lại để rồi không che dấu được cái thai càng lúc càng lớn. Nàng đã bị cha đánh đập, mắng chửi dữ dội. Hải Thanh nghe nữ tì nói lại như vậy nhưng chẳng biết phải làm sao. Nhiều lúc Hải Thanh muốn lẻn vào tư dinh quan huyện để cứu nàng ra khỏi đó, nhưng lính gác canh phòng nghiêm mhặt, không cách gì vào được. Dù đã từng xem thế sự như một giấc mộng hư huyễn, trước tình cảnh đau xót mà Thùy Linh phải hứng chịu, Hải Thanh không khỏi nghe tan nát trong lòng.
Đêm đó, hai huynh đệ ngồi thức trắng bên bàn sách. Đến lúc mờ sáng, Hải Thanh mới rời phòng sách vào phòng riêng, lấy khăn chít lấy đầu để che dấu cái đầu tròn tu sĩ của mình, thay đổi y phục như một người thế tục rồi từ giã Hải Chấn mà đi. Hải Chấn hỏi:
"Đệ đi đâu vậy?"
"Đến tư dinh quan huyện nói chuyện thẳng với cha cô ấy."
"Sao huynh thấy ái ngại cho chuyến đi này của đệ quá. Thấy có gì không ổn. Đệ liệu có thể thuyết phục được cha mẹ cô ấy không?"
Hải Thanh không đáp, chỉ nhún vai rồi đi. Hải Chấn níu lại, dúi vào bọc vải của sư đệ một túi tiền nhỏ:
"Đó là tiền riêng của huynh, không phải của chùa đâu, đừng ngại. Đệ mang theo để có gì..."
"Cám ơn huynh. Đệ đi đây. Nếu có tin tốt đẹp, đệ sẽ cùng Thùy Linh ghé thăm huynh trước khi rời xứ này."
Và Hải Thanh đi luôn, không trở lại. Hải Chấn bồn chồn lo lắng suốt cả ngày và đêm hôm đó. Sáng hôm sau, khi Hải Chấn ra vườn thì thấy xác Hải Thanh nằm ở trước sân chùa, thân thể tím bầm vì bị đánh đập đến tắt thở. Hải Chấn đến khiếu nại với quan huyện nhưng huyện đường đóng cửa, lính gác xua thầy về. Thầy đành ngậm ngùi chôn xác sư đệ sau vườn chùa. Nghĩ rằng có làm to chuyện lên thì sư đệ nhắm mắt cũng không được yên.
Hai tháng sau, Thùy Linh sinh hạ một bé trai. Nửa đêm nàng lẻn trốn khỏi dinh, mang con ra chợ, ngồi nơi sạp hàng mà ôn lại chuyện xưa khi nàng đi ngang đây và bắt gặp nhà sư quét chợ lạ kỳ. Nàng ngồi giữa trời sương cho đến sáng thì chết, tay vẫn còn ôm đứa bé sơ sinh đang khóc.
Quan huyện lâu nay cố che dấu chuyện con gái mình nhưng nay, cái chết của Thùy Linh ngay giữa chợ đã làm cho câu chuyện nhanh chóng truyền đi; ông bực dọc và căm giận đến độ sai lính treo bảng thông báo rằng ông đã từ đứa con trắc nết phá hoại gia phong, rằng ông không chịu trách nhiệm về cái chết của Thùy Linh cũng như không chấp nhận đứa con của người quét chợ. Thông cáo của ông có vẻ như ngầm phán rằng đứa bé phải chịu chết giữa chợ đời, không ai được phép cứu nó. Vì uy quyền hống hách cũng như sự giận dữ của quan huyện, không ai dám mang đứa bé sơ sinh về nuôi. Người ta gỡ đứa bé khỏi vòng tay lạnh giá và cứng đờ của mẹ nó rồi đặt nó nằm trong một chiếc nôi, để giữa chợ để chờ kẻ nào động lòng trắc ẩn đến mang nó đi. Những người đàn bà bán hàng ngoài chợ đã chăm lo sữa cho đứa bé suốt ngày đó, nhưng cũng không ai chịu nhận đứa bé về. Còn xác Thùy Linh thì được quấn sơ sài bằng một cái chiếu, đặt ở gần đó. Đến chiều tối thì chuyện đến tai Hải Chấn. Thầy liền tức tốc ra chợ, ôm chiếc nôi nhỏ mang về chùa. Còn xác Thùy Linh, thầy bảo những người phật-tử bán hàng ở chợ giúp đem về chùa chôn. Ấy vậy mà quan huyện không dám động đến Hải Chấn vì cả nể đức hạnh và uy tín của thầy. Đứa bé được yên thân sống và lớn lên trong cửa chùa.
*
Nước mắt ràn rụa trên hai gò má bầu bĩnh, chú tiểu Thanh Thị quì xuống chân thầy:
"Tạ ơn thầy cứu sống và nuôi dưỡng con."
Thầy đỡ chú dậy, nói tiếp:
"Sư thúc của con có linh vị thờ trong chùa mà thầy thường nhắc con rót trà dâng cúng chính là Hải Thanh cha của con đó. Sư thúc với thầy tu học với nhau từ nhỏ nên ngoài tình đạo bạn còn coi nhau như anh em ruột. Chuyện của sư thúc khiến thầy đau lòng quá mà không biết giúp bằng cách nào. Nuôi dưỡng con chỉ là một chuyện nhỏ để biểu lộ sự mến tiếc của thầy đối với sư thúc thôi. Huống chi, làm sao thầy có thể bỏ mặc một đứa trẻ kêu khóc không người đoái hoài..."
Chú tiểu Thanh Thị bây giờ đã hiểu vì sao chú có cái tên lạ kỳ đó: Thanh là tên của cha chú còn Thị chính là chợ, là nơi ghi lại kỷ niệm chua xót đầu đời của cha chú, mẹ chú, và cả chú nữa.
"Vậy quan huyện hiện nay chính là ông ngoại của con hở, bạch thầy?"
"Không. Ông và phu nhân đều đã qua đời. Quan huyện hiện nay là người mới được bổ nhiệm."
"Vậy những người ở ngoài chợ... đều biết chuyện của con hở thầy?"
"Mười sáu năm rồi, nhiều người đã dọn đi xứ khác, nhiều người đã chết, chỉ còn lại rất ít người là biết chuyện của con, nhưng chắc họ cũng quên khuấy đi rồi. Mà sao con hỏi vậy? Con không muốn người ta biết rằng con đã xuất thân từ đâu, phải vậy không?"
"Bạch thầy không phải, không phải."
"Như vậy thì tốt. Nhân cách không nằm ở chỗ xuất thân từ đâu mà từ chính giá trị thực có của mình."
"Dạ, con biết," chú cúi mặt nói nhỏ.
Theo như lời thầy kể, rồi nhìn hai ngôi mộ song song trước mặt, đọc những chữ Hán viết trên mộ bia, chú thấy rõ đó chính là song thân của mình. Chú quỳ xuống nhìn thật lâu nơi hai mộ bia, lặng người một lúc lâu, chú bật khóc thảm thiết.
Vậy đó mà chú vẫn không sao tẩy xóa được nỗi mặc cảm đè nặng trong tâm khảm mình: rằng chú là một đứa trẻ vô thừa nhận, được sinh ra bởi một người cha tu sĩ phá giới, một người mẹ khuê các phá gia phong; rằng chú bị bỏ rơi giữa chợ đời như một tội nhân tử hình ngay từ lúc sơ sinh. Bao nhiêu ý nghĩ đó ám ảnh chú suốt mấy ngày kế tiếp sau khi nghe thầy kể rõ sự tình. Thầy theo dõi từng biến động tâm tư hiện trên mặt chú, bèn gọi chú hỏi chuyện:
"Con sẽ mang buồn cho đến bao giờ? Có sinh tức có diệt, sao phải ôm mãi nỗi đau khổ biệt ly như thế!"
Chú lặng thinh không đáp lời thầy. Thầy biểu lộ tình cảm, lấy tay xoa đầu chú:
"Thương cha mẹ, con rán tu học để cha mẹ vui lòng. Cha con là một tu sĩ thông minh, có tuệ căn, làu thông kinh điển. Chỉ một phút yếu lòng mà đánh mất sự nghiệp cao cả. Con có thương cha thì nối tiếp sự nghiệp đó mới phải, sao cứ ôm lòng buồn rầu mãi. Con đến rót trà dâng ba đi, rồi lên tụng kinh."
Chú cúi mặt bặm môi một chặp, bỗng ngước lên nói:
"Chỉ có thầy mới là cha con thôi. Ông ấy không phải là cha con!"
Nói rồi chú vụt đứng dậy, bỏ đi vào phòng riêng, đóng cửa lại. Thầy sững sờ ngồi nhìn theo, lắc đầu buồn bã. Chú bỏ tụng kinh chiều hôm đó. Thầy lặng lẽ đắp y áo, thắp hương, rót trà cho sư đệ Hải Thanh rồi thầy tụng kinh thay chú.
Suốt mấy ngày, chú vẫn không ra khỏi phòng. Thầy đến gõ cửa, gọi mãi mà không được. Mọi việc trong chùa thầy làm thay chú hết. Chú không ra khỏi phòng nên cũng nhịn ăn luôn cả mấy ngày. Hai thầy trò sống bên nhau mười sáu năm rồi, chưa lần nào vào bữa ăn mà thiếu thầy hay thiếu trò. Cho nên, khi chú nhịn, thầy cũng nhịn theo, không buồn ăn nữa, chia xẻ nỗi đau khổ nặng nề của chú. Đến ngày thứ tư, chú mới mở cửa bước ra, phờ phạc, bệnh hoạn. Chú đến quỳ dưới chân thầy và khóc nức nở. Thầy chỉ lấy tay xoa đầu chú.
Hai thầy trò bỗng dưng mà sống một cuộc sống lặng câm, buồn tẻ. Thầy để chú tự do trong những suy tưởng riêng tư chứ không gợi chuyện gì với chú cả. Không khí trong chùa vì vậy mà nặng nề. Cho đến một ngày nọ, sau khi cùng làm lễ sám hối với thầy xong, chú mới cất được gánh nặng trong lòng. Chú thưa với thầy:
"Con đã sai lầm. Con không thể phủ nhận công ơn sanh thành của cha mẹ."
"Tốt, con biết vậy là tốt. Mẹ con vì sinh mạng của con, vì muốn lưu giữ giọt máu và hình bóng của cha con mà nhẫn nhục sống giữa bao lời xỉ vả, bao trận đánh đập của gia đình để chờ ngày sinh ra con. Mẹ con tuy phá gia phong nhưng, theo thầy, bà là người tinh mắt, thông minh, một phụ nữ đức hạnh biết vượt lên cái hình thức bề ngoài để nhìn thấy được giá trị tinh thần nơi cha con. Còn cha con, tuy phạm cấm giới, nhưng biết ăn năn, biết trách nhiệm, đã can đảm bước vào tư dinh của ông ngoại con với ước mong là cứu được hai mẹ con ra ngoài... và cha con đã chết vì dám đứng ra đối đầu với nguy hiểm. Với truyền thống, với tập tục, cả hai đều bị lên án. Nhưng họ đã chết một cách cao cả, ít nhất là đối với sinh mạng của con, phải không? Ở một khía cạnh nào đó, một hoàn cảnh đặc biệt nào đó, con sẽ thấy rằng cái mà người ta gọi là truyền thống, tập tục, gia phong, lễ giáo v.v... thật ra chẳng là gì cả. Rỗng tuếch! Chỉ có những tấm chân tình mới thực sự là có ý nghĩa mà thôi."
"Dạ, con hiểu," chú nói trong giọng xúc động và tri ân thầy đã chỉ giáo.
Chú không dám coi thường cha mẹ mình nữa. Chú thăm mộ cha mẹ hàng ngày, chú rót trà dâng cha mẹ vào mỗi thời kinh. Sư thúc và dì Linh, chú không còn gọi hai tên đó nữa mà gọi bằng cha mẹ. Chú cảm thấy có cái gì ngọt ngào và khiến chú ấm lòng khi gọi lên hai tiếng cha mẹ đó. Tuy nhiên, trên thực tế, chú chỉ vui sướng sống trong tình cảm và vòng tay vô hình vô ảnh của cha mẹ; còn đối với những mặc cảm về thân phận mình, chú vẫn không sao tẩy xóa đi một cách thoải mái được. Đến nỗi khi đi ra đường với thầy, chú có cảm giác như mọi người đang nhìn mình, xầm xì, chỉ trỏ, bàn tán về "người quét chợ". Từ đó, chú hết muốn ra khỏi chùa. Và đôi lúc, chú muốn cải đổi cái tên Thanh Thị mà chú mang. Chú thấy cái tên đó chỉ nhắc nhở chú về thân phận buồn tủi của chú mà thôi.
Vì thương chú, và vì chưa biết cách nào giải tỏa mặc cảm của chú một cách hữu hiệu, thầy cũng chiều lòng chú, không sai chú ra ngoài nhiều và cũng tránh cho chú những dịp phải ra trước đám đông.
Trải qua bốn năm, với tuổi đời thêm lớn, với sự học hỏi giáo lý, với sự tu tập thiền định, và với sự tiếp thọ đại giới để trở thành một vị tỳ kheo, chú dần dần thấy vơi đi những tình cảm lưu luyến xót xa cho chuyện tình thương tâm của cha mẹ. Nhưng cái mặc cảm sợ người khác biết rõ thân phận mình vẫn cứ đeo bám mãi trong lòng chú, không sao gột bỏ. Thầy biết vậy, cố gắng tháo gỡ cái mặc cảm đó cho chú lần nữa bằng một cuộc nói chuyện sau thời tụng kinh khuya:
"Thanh Thị, con đã trở thành một vị đại đức, một vị lãnh đạo tinh thần xứng đáng cho đồ chúng noi gương tu tập. Vậy mà thầy thấy con như vẫn còn ôm ấp cái mặc cảm rằng mình thấp hèn, phải vậy không? Con nói đi, cái gì khiến con nghĩ như thế? Con có biết rằng chỉ một cái phiền não nhỏ nhặt còn sót lại trong tâm cũng đủ ngăn trở con tiến đến giải thoát hay không?"
Thanh Thị không nói không rằng, lặng lẽ bỏ vào phòng. Thầy đến gõ cửa, đứng ngoài cửa nói vọng vào:
"Hãy nhìn kỹ những gì thầy làm. Nếu việc thầy làm khiến con thấy thầy không xứng đáng là thầy của con nữa thì con hãy rời thầy mà đi tìm một minh sư khác để tham vấn. Con không thay đổi thì suốt một đời ở bên thầy cũng chỉ vô ích mà thôi. Làm sao thấy được vòm trời giải thoát chứ!"
Nói rồi thầy bỏ đi. Thanh Thị thấy không khí im quá, biết là thầy không còn đứng ngoài cửa phòng mình. Thanh Thị thắc mắc không hiểu thầy đi đâu và làm gì. Chú bước ra, tìm thầy. Thầy không có trong chùa. Thầy đã đi ra ngoài. Chú bước ra cổng chùa nhìn hai bên thì thấy thầy đang cầm chổi quét ở xa xa. Thầy quét về hướng chợ. Chú bặm môi, rồi cắn răng chạy vào phòng mình, ôm mặt khóc như một đứa trẻ. Thầy đã quét chợ như cha chú đã làm trước đây. Thầy muốn chứng minh cho chú thấy rằng việc quét chợ không có gì xấu mà còn là một hạnh nguyện cao cả chỉ có cha chú mới làm nổi. Nhưng, sự cố gắng của thầy không mang lại kết quả gì. Chú vẫn không sao chấp nhận được hành vi quét chợ cho dù thầy có khoác lên đó bao nhiêu ý nghĩa cao đẹp.
Khi thầy quét chợ về, cất chổi dưới bếp, chú đón lạy thầy ngay ở thềm bếp, năn nỉ:
"Lạy thầy, xin thầy đừng vì con mà phải nhọc đến thân tâm như thế. Xin thầy đừng làm vậy nữa, con không chịu nổi."
Thầy không nói. Ngày mai thầy lại tiếp tục quét chợ. Chú lại lạy lục xin thầy chấm dứt. Thầy kiên quyết:
"Ta chỉ ngưng khi nào con thực sự đốt cháy được cái mặc cảm và ý nghĩ cho rằng quét chợ là việc xấu hay thấp hèn. Con không thay đổi, sẽ không giải thoát, sẽ không tìm thấy an lạc cho dù đang khoác mặc tăng bào. Và nếu con không thay đổi, ta sẽ quét chợ cho đến khi nào ta nhắm mắt mới thôi."
Thầy tiếp tục quét. Thanh Thị vẫn không thay đổi mà còn đau khổ hơn. Đến nỗi, chú bỏ thầy mà đi, chỉ ghi lại vài dòng vắn tắt rằng chú muốn đi tham học ở phương xa.
Chú đi xa thật xa khỏi nơi chốn sinh ra và trưởng thành của mình để xóa đi bao hình ảnh, bao ý nghĩ đau buồn về thân phận. Chú tìm tới nhiều vị thầy để học hỏi, nhưng không vị thầy nào đả thông được những mặc cảm của chú. Một hôm, nghe đến danh tiếng của một vị thiền sư tên là Đại Ngốc, chú tức tốc tìm đến vị này để học đạo vì chú hy vọng rằng ông ta cũng mang một cái tên không được tao nhã, có thể ông ta sẽ có thuốc hay để chữa căn bệnh mặc cảm của chú. Chú nghĩ có lẽ đằng sau cái tên của vị thiền sư này cũng mang một quá khứ nếu không đau xót như chú thì cũng cay chua buồn cười chứ chẳng không.
Thiền sư Đại Ngốc ẩn cư trong một am tranh trên núi cao. Khi lên tới nơi, chú thấy một cái bảng nhỏ treo trên một thân cây: "Đại Ngốc Am". Chú bước vào đảnh lễ thiền sư, hỏi ngay:
"Bạch thầy, làm sao có thể gột bỏ được một danh từ chỉ đem lại cho mình những buồn phiền, khổ đau?"
"Nó chỉ là một tên gọi giả tạo thì cần gì phải gột bỏ!"
"Nhưng... rõ ràng là nó đeo bám và gợi lên bao điều đau xót cho con từ nhiều năm nay."
"Đeo bám chỗ nào? Gợi lên cái gì? Ở đâu? Nói ta nghe!"
Thanh Thị hốt nhiên giác ngộ lẽ sinh diệt huyễn hóa của muôn sự muôn vật, liền sụp lạy thiền sư mà về. Chú đi ngày đêm không dừng nghỉ, những mong về quỳ dưới chân thầy mà sám hối.
*
Từ hai năm rồi, khi Thanh Thị bỏ chùa mà đi, thầy Hải Chấn cứ mang chổi ra quét sân chùa rồi quét luôn tới chợ. Ban đầu thầy quét chỉ để thức tỉnh Thanh Thị, nhưng khi quét, thầy cảm nhận được nhiều ý nghĩa cũng như công dụng tu tập ngay trong chính sự việc quét chợ đó. Thầy tập trung tâm mình vào từng động tác quét, lắng nghe tiếng chổi khua nhẹ trên đất, nhìn ngọn chổi vờn trên cỏ rác... không phút giây nào mà không lắng lòng vào việc quét. Đến độ, thầy với cây chổi chỉ là một. Vì vậy, âm thanh náo loạn của chợ búa không ảnh hưởng, không tổn hại gì đến tự tâm thanh tịnh của thầy. Chính trong loạn động thầy tìm thấy sự tịch lặng. Và thầy có thể an lạc trong chính việc quét chợ tầm thường hàng ngày. Trong khi đó, hình bóng của thầy, việc quét dọn của thầy giữa chợ đời cũng làm cho khu chợ sạch sẽ hơn, bớt huyên náo xô bồ, và người ta cũng bớt cạnh tranh cãi vả nhau. Mỗi lúc thấy thầy quét đến chợ, người ta bỗng dưng giảm chuyện nói năng, có nói thì nói nhỏ giọng xuống. Đức độ của thầy làm thay đổi không khí chợ một cách rõ rệt.
Hôm nay thầy đang quét đến giữa chợ, bỗng có người nắm lấy cây chổi của thầy, nói với giọng cung kính:
"Bạch thầy, thầy hãy về nghỉ ngơi để con quét thay thầy."
Thầy ngưng tay ngước nhìn và thấy Thanh Thị. Khuôn mặt của chú ấy không còn dấu vết của mặc cảm, khổ đau và phiền não. Thầy mỉm cười trao chổi cho chú quét, và thầy bước theo chú, từng bước chậm.
Từ đó, cứ mỗi sáng, người ta thấy hai thầy trò tu sĩ cùng quét đường, quét chợ. Bóng dáng họ xuất hiện nơi đâu, sự an lạc lan tỏa ra đến đó.
Hai năm sau, thầy Hải Chấn viên tịch. Trước khi từ giã cuộc đời, thầy gọi Thanh Thị đến bên thiền sàng, trao cho Thanh Thị cây chổi mà thầy thường dùng để quét chợ hàng ngày:
"Đời thầy mấy mươi năm học đạo không ngờ đến tuổi xế chiều mới tìm thấy được đạo lớn từ cây chổi tầm thường này. Đây là tất cả công phu và ý chỉ của thầy. Con hãy giữ lấy mà đi cho trọn con đường của con."
Nói rồi thầy hóa. Thanh Thị cất cây chổi đó trong phòng riêng của mình như một kỷ vật ghi lại hình ảnh cao đẹp của cha, của mẹ, và nhất là của thầy mình.
Sáng hôm sau, Thanh Thị vẫn cứ quét chợ. Người ở chợ thấy Thanh Thị quét một mình thì biết rằng thầy Hải Chấn đức độ khả kính của họ đã mất.
Thanh Thị quét chợ cho đến tuổi già. Mấy mươi năm không hề xao lãng. Bây giờ Thanh Thị đã trở thành một vị hòa thượng đạo đức thanh cao, nổi tiếng với cây chổi và hạnh nguyện quét chợ. Hải Thanh quét chợ sáu năm. Hải Chấn quét chợ bốn năm. Riêng Thanh Thị thì quét chợ đến sáu mươi năm. Bao khuôn mặt mới có cũ có, thay nhau ngồi bán hoặc đi mua sắm ở khu chợ, không ai mà không biết đến Thanh Thị quét chợ. Hình ảnh Thanh Thị đã trở nên quen thuộc và gắn liền với khu chợ khiến cho mọi người nẩy ý lấy tên vị hòa thượng này để đặt cho khu chợ: chợ Thanh Thị—một cái chợ sạch. Ngày Thanh Thị ngưng quét thì tuổi đã tám mươi tư. Ngày ấy, bầu trời u ám. Ngoài khu chợ, cỏ rác đầy mà chẳng thấy tăm dạng Thanh Thị đâu. Chợt nghe chuông chùa vẳng lại ba hồi buồn bã. Mọi người ở khu chợ bỗng sa lệ vì biết rằng vị hòa thượng già mang tên Thanh Thị sẽ không bao giờ cầm chổi ra quét chợ này nữa. Cả người bán lẫn khách mua đều sụt sùi khóc.

Vĩnh Hảo

Tội Ác VGCS : Hàng trăm cô gái Việt Nam lấy chồng Trung Quốc bị mất tích

Số lượng cô dâu người Việt bị mất tích tại đây có thể cao hơn con số 100

Công an Trung Quốc đã cho mở cuộc điều tra về việc hàng trăm cô gái Việt Nam bị bán làm vợ đàn ông nước này bỗng nhiên bị bắt cóc. Rất có thể những cô gái nói trên lại tiếp tục bị đem bán cho những người đàn ông khác ở Trung Quốc.

AFP hôm 21/08/2011 dẫn nguồn tin từ báo chí chính thứcTrung Quốc cho biết, công an nước này đã cho mở cuộc điều tra về việc hàng trăm cô gái Việt Nam bị bán làm vợ đàn ông Trung Quốc nay bỗng nhiên bị bắt cóc.

Rất có thể những cô gái nói trên lại tiếp tục bị đem bán cho những người đàn ông khác ở Trung Quốc.
Theo bản tin Tân Hoa xã hôm 20/08, công an tỉnh Hồ Nam, (miền trung Trung Quốc) thông báo họ đang tiến hành điều tra vụ rất đông các cô gái Việt Nam trong một khu làng thuộc huyện miền núi Song Phong trong tỉnh Hồ Nam bị mất tích. Những người phụ nữ bị mất tích chính là những người đã bị gả bán làm vợ cho đàn ông Trung Quốc trong vùng. Theo Tân Hoa xã, những ông chồng người Trung Quốc có vợ bị mất tích đã nhận được những cú điện thọai yêu cầu họ phải nộp một khoản tiền chuộc, nếu không vợ họ sẽ bị đem bán.

Một người đàn ông họ Hồ, tại địa phương kể lại với AFP, năm 2008 đã phải bỏ ra hơn 36 nghìn nhân dân tệ (tương ương với 4000 euro) mới có được cô vợ người Việt Nam. Vợ ông bỗng dưng bị mất tích, hai tháng sau bà gọi điện thoại về khóc nức nở nói rằng bà bị bắt cóc và bán sang làm vợ ở một nơi khác, nay họ đòi 20 nghìn nhân dân tệ để chuộc.

Theo AFP thì con số những cô vợ người Việt bị mất tích tại tỉnh Hồ Nam chắc chắn còn cao hơn nhiều, bởi vì có rất đông những ông chồng có vợ bị mất tích không dám khai báo. Họ sợ sẽ bị liên lụy vì đã tham gia mua bán phụ nữ.

Trung Quốc hiện nay đang rơi vào tình trạng mất cân đối về dân số nghiêm trọng. Theo một thống kê mới đây tại Trung Quốc thì đến năm 2020, sẽ có hơn 24 triệu người đàn ông nước này không thể tìm được vợ. Không thể lấy vợ ở trong nước, đàn ông Trung Quốc, chủ yếu ở các vùng nông thôn, đã phải bỏ tiền ra mua các cô vợ được đưa qua từ bên ngoài biên giới mà chủ yếu là từ Việt Nam sang.

Gần đây báo chí tại Việt Nam cũng đã nhiều lần đưa tin về những vụ lừa đảo phụ nữ bán sang Trung Quốc làm gái mãi dâm hoặc làm vợ.


DR
Anh Vũ RFI

CÁI NHÀ NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM

http://loivedatme.files.wordpress.com/2011/01/loivedatme_danguyendadang_2.jpg

Từ một đám côn đồ du thủ du thực,tụ tập thành băng đảng để cướp chính quyền, tạo ra một nhà nước côn đồ. Ngay từ thửa ban sơ, nhà nước này gồm những tay côn đồ và từ cái bửng đó chúng đã đào tạo tuyển lựa cán bộ có lý lịch côn đồ, lãnh đạo ngớ ngẩn côn đồ, bắc bộ phủ côn đồ, công an côn đồ, đẻ ra luật pháp rừng rú và những phán quyết cũng rất man dã rùng rợn. Một thể chế được dựng nên bởi một lũ có cái gọi nhức nhối là: Bần Cố Nông hoặc nói rùng rợn theo ngụy ngữ là: Vô Sản.

Dân gian ta có những câu truyền tụng để nhắc nhở giáo huấn:

Ông vua cũng thua thằng cùng,anh hùng bước cùng cũng phải thua thằng tiểu nhân.

Con ơi nhớ lấy câu này.
Cướp đêm là giặc , cướp ngày là quan.

Người dân Việt với tâm trạng đầy ngao ngán,người Việt xa quê về thăm cũng thất vọng lắc đầu. Đất Nước toàn điêu ngoa gian dối, được điều hành bởi một băng đảng Mafia có giấy phép. Oán than thống khổ,nhũng nhiễu hoành hành,đời sống cơ cực tận cùng. Ai đó đã thổ lộ trong tâm trạng bó tay: "Không thể chống lại những thằng ngu bởi chúng quá đông và hung hãn".

Ngay cả người đồng chí vĩ đại thắm thiết Đặng Tiểu Bình mà cũng phải phán "Việt nam là một bọn côn đồ, phải dạy cho bài học".

Trên đời, dẫu ở đâu cũng vậy, phải siêng năng cần mẫn, tích tụ vốn liếng tiền của và trí tuệ để gầy nên cuộc sống thành đạt. Một xã hội tốt và phát triển, những thành viên trong xã hội ấy phải có tiền có bạc, có niềm tin tôn giáo và đạo lý nhân nghĩa thì mới được gọi là một xã hội công bằng văn minh.

Một quốc gia được lãnh dạo bởi những con người thông minh mẫn cán đầy đạo nghĩa thì thì đất nước ấy sẽ được tự chủ hạnh phúc âm no, bằng ngược lại như Việt Nam, các nước ở Bắc Phi và Trung Đông là địa ngục điển hình.

Rành rành đề cương tôn lĩnh của đảng csVN đề cao và phải lấy vô sản của giai cấp công nhân và bần nông làm chủ đạo cho tư tưởng và hành động. Bởi thế lịch sử của đảng đã được dựng nên bởi đầy rẫy những thằng đầu trộm đuôi cướp đầu đường xó chợ, chăn trâu chăn bò, du côn láu cá, tàn ác hung hãn, nông cạn hẹp hòi bởi chúng không được học hành đến nơi đến chốn thì chuyện thiếu tri thức hẳn là đương nhiên.

Một con người không tri thức và đạo lý, một nhà nước không kiến thức và đạo luật chính nghĩa thì những hành xử côn đồ cướp giựt ắt không là chuyện lạ. Bất kể là người Việt xa quê hay người ngoại quốc, không ai còn lạ gì khi đến Việt Nam và chứng kiến bao điều nghịch lý, nhiễu nhương ngang ngược, hối lộ tham nhũng, cướp bóc hoành hành. Nhà nước cướp theo uy quyền ưu thế của nhà nước người dân cướp theo kiểu dân đạo lý suy đồi bởi sáu mươi năm đời trâu ngựa gian dối thành quen.

Ai có người quen bạn bè làm chức lớn, có dịp đi sâu và chi tiết hơn nữa thì càng hiểu hơn mưu đồ, băng đảng tập đoàn lừa lọc nham hiểm, biết được ý nghĩ ươn hèn yếm thế cũng như những biểu hiện của sự ích kỷ riêng tư. Đảng csVN, dưới nhãn quang của người viết là một bọn du côn xã hội đen không hơn không kém, một sự khinh miệt tởm lợm, mặc dù tôi chỉ là một dân quèn.

Nơi nơi ngày ngày, ở đâu cũng thấy cướp nhà cửa đất đai, qui hoạch lừa đảo để mua một bán một bán ngàn. Việc gì cũng phong bì quà cáp, bằng không thì nhũng nhiễu gây trở ngại khó khăn. Chính sách thì chẳng nhìn xa thấy rộng, bán rẻ tài nguyên cùng nhân lực. Đần độn bảo thủ mà bằng cấp giả thì đầy ắp. Nhân quyền thì bịt miệng tù đày. Đường hướng tương lai thì mù thẳm chẳng gì xán lạn.

Mỗi khi nhìn vào truyền hình, những đầu trâu mặt ngựa xám sịt, lưỡi cày quả trám, phì bủn huệch hoặc, trông nó đần độn tủi hổ quốc thể làm sao, không thể so với lãnh đạo xứ người sáng sủa thanh lịch... Lúc ra đường hoặc vào cơ quan nhà nước, phải đối diện với những cái bản mặt tam giác mắt lồi da thâm, nói cười vòi vĩnh trơ trẽn lộ nét ơi là bẩn thỉu cùng cực.

Một lũ cầm quyền với tư duy tự kỷ ám thị, làm dữ lo xa, gây quá nhiều tội ác nên phải vin vào độc tài toàn trị. Ngân sách nhà nước phải chi trả số lượng tiền lãng phí khổng lồ cho đảng viên và công an để bám chặt và đàn áp xã hội, viễn thông thì đắt nhất thế giới bởi phải chi trả cho những thằng những con ngồi rỗi hơi nghe lén. Nợ thế giới thì cứ vay để có công trình mà rút ruột làm giàu, tương lai ai phải trả thì mặc.

Tóm lại,một nhà nước mà những tên cầm nắm vận mệnh quốc gia là những tay côn đồ thì việc hành xử côn đồ là điều mà mọi người phải gánh chịu, bởi thế phải chịu lắng nghe vị cựu tổng thống Nga Boris Nikolayevich Yeltsin:

"Cộng sản chỉ có thể thay thế chứ không bao giờ thay đổi...."


Dẫu biết,với bọn côn đồ thì lý lẽ cũng chỉ là "nước đổ lá môn" cho "đám vịt nghe sấm" nhưng khổ nổi, không nói thì chúng cứ tưởng chúng ngon.

Một nhà nước mà quan lại là những bè phái cơ hội mánh mung thì sản xuất và phát triển là điều không tưởng. Một chính quyền không còn những minh quan vị quốc, sự thanh liêm với lòng tự trọng và ý niệm giang sơn không còn nghĩa lý gì nữa thì việc mất đất, mất biển, đưa Tổ Quốc vào tròng nô lệ là chuyện không thể tránh khỏi.

Một quốc gia tràn ngập những con người gian manh đê hèn lụn bại, một hệ thống cầm quyền côn đồ đần độn thiển cận thì làm sao tiến lên cùng cộng đồng thế giới. Căn bệnh ung thư ác tính đã đến hồi xạ trị. Niềm tin, lòng ái quốc bị lừa đảo đến thiêu chột, đạo lý suy đồi đến tận cùng bằng con số không to chà bá thì việc mất nước là lẽ đương nhiên.

Nguyên Thạch

NIỀM ĐAU VÀ NỖI HẬN :Thư gửi 4732 bạn công an Hà Nội



Chút xíu hi vọng vào liêm sĩ của nhà quyền trong tôi đã tắt khi chứng kiến những bắt bớ, trấn áp người yêu nước phản đối ngoại xâm tại Hà Nội ngày 21.8.2011. Nước mắt đã chảy trên những gương mặt trong trắng. Một lũ thanh niên trai tráng nhào vô tấn công những người yêu nước. Nhân danh ai?
Người dân biểu tình nhân danh lòng yêu nước. An ninh Hà Nội dựa vào một tờ thông báo vô danh, vô giá trị pháp lý, vô đạo đức để trấn áp những người tham gia biểu tình.
Những trí thức tham gia biểu tình họ nhân danh những anh hùng đã ngã xuống hi sinh cho sự toàn vẹn lãnh thổ. Công an Hà Nội nhân danh chỉ thị bằng lệnh miệng của một tập thể 14 người trong Bộ Chính Trị đã bán nước.
Bằng chứng là những gì diễn ra ngay tại Bờ Hồ, trái tim của thủ đô ngàn năm văn hiến vào sáng ngày 21.8.2011. Chỉ có bán nước mới hành xử với dân mình như vậy. Vì một thành phố Hòa Bình ư? Không! đoàn người biểu tình trong hòa bình và trật tự. Hơn 10 lần qua đã chứng minh rằng họ mới là người ôn hòa và công an Hà Nội mới là kẻ gây mất an ninh trật tự.
Đoàn người từng người một bị công an lôi kéo và ém lên xe bus chờ sẵn. Người tham gia biểu tình họ có kế hoạch đi một vòng bờ Hồ rồi tự giải tán nhưng công an có sẵn kế hoạch trấn áp rất bài bản: xe bus, an ninh chìm, ca nhạc ru ngủ trên vườn hoa Lý Thái Tổ, trụ sở công an Từ Liêm trực ban ngày chủ nhật, kế hoạch tác chiến... Một cuộc đối đầu giữa tay không và dùi cui bạo lực.
Những trấn áp của công an làm theo lệnh miệng không làm cho người biểu tình nhụt chí mà ngược lại thổi bùng lên ngọn lửa căm thù. Rồi đây những cuộc biểu tình tuần hành ngày chủ nhật có thể bị dập tắt nhưng tinh thần của nó lan tỏa khắp mọi vùng như máu từ tim chảy về các tế bào trong cơ thể.
Người tham gia biểu tình đã học được nhiều điều hơn chính trong những lần bị bắt bớ và trấn áp như thế này. Biết tiếp tế cho nhau, biết biểu tình trên xe bus và trong trụ sở công an. Và biết rõ chính nghĩa đang đứng hẳn về phía mình.
Nước mắt đã trào ra, niềm đau bỗng chốc thành nỗi hận thù. Chính trong đau đớn người ta mới đứng dậy mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Nguyễn Đình Thi từng nói: "Từ trong máu lửa lại vùng đứng lên - Đạp quân thù xuống đất đen". Những diễn biến trong đồn công an Mỹ Đình và công an quận Hoàn Kiếm sẽ được đưa ra dư luận gần đây. Công an không thể nhốt mãi những người yêu nước như chị Minh Hằng, chị Phương Bích, anh Tiến Nam, cô Trịnh Kim Tiến, anh Lê Dũng... Cho dù họ có cam kết không tham gia biểu tình (rất khó) thì họ cũng đã làm xong việc của họ cần làm là truyền lửa cho nhiều người khác đứng lên.
Một Điếu Cày vào tù thì ngày nay cả dân tộc thức giấc. Một Phạm Thanh Nghiên vào tù vì biểu tình tại gia và một biểu ngữ HS-TS-VN thì ngày hôm nay hơn 11 cuộc biểu tình ngay giữa trái tim Hà Nội, và biểu ngữ khẳng định chủ quyền lãnh thổ đã công khai khắp các nẻo đường đất nước.
Có nỗi đau nào hơn là bị nhà cầm quyền với những công cụ bạo quyền trấn áp vì lòng yêu nước muốn bảo vệ chủ quyền cho Tổ Quốc? Có mãnh lực nào dập tắt truyền thống yêu nước của người Việt? Từ niềm đau biến thành nỗi hận gần lắm. Rất gần.




Người Đà Nẵng (danlambao)


------

Thư gửi 4732 bạn công an Hà Nội


Một ngày không xa, khi Việt Nam có dân chủ, ngày đó chắc chắn sẽ đến, các bạn sẽ trả lời ra sao trước nhân dân, trước anh em bè bạn về những gì các bạn đã hành động hôm nay? Các bạn sẽ nói chuyện với con cháu các bạn ra sao? Các bạn còn dám nhìn thẳng vào mắt những người hôm nay các bạn đã đánh đập? Các bạn có hổ thẹn khi nghe con cháu đọc lại những trang sử hào hùng của lớp cha anh xuống đường chống Trung Quốc xâm lược ngày hôm nay?...


*

Ngày 19 tháng 8, Sở công an Hà Nội quyết định thăng cấp cho 4732 “công an nhân dân”.

Sự kiện này nên vui hay nên buồn?

Nếu trong một xã hội phát triển bình thường thì đây là một tin vui, không những cho các bạn công an được thăng cấp mà còn cho cả xã hội, vì việc thăng cấp chứng tỏ thành tích của các bạn trong việc bảo đảm an toàn cho xã hội, giữ gìn cuộc sống an lành cho người dân.

Nhưng trong xã hội Việt Nam ngày nay, khi ở tất cả mọi lúc, mọi nơi, từ trong nhà ra ngoài phố người dân luôn phập phồng lo sợ, không biết lúc nào tai họa ập đến với mình. Người ngay sợ kẻ gian, cái ác lộng hành, mà công an là một trong những đối tượng người dân phải luôn luôn cảnh giác đề phòng: đã có hàng chục cái chết của người dân, hàng chục vụ thương tích do công an gây ra. người bị nạn không những không được bồi thường mà còn bị đe dọa, còn công an gây ra cái chết, gây ra thương tích không những không bị truy tố đúng mức mà còn được cấp trên bao che, biện bạch thì sự kiện thăng cấp trên đây là một chuyện buồn.

Tuy nhiên, nỗi buồn trên đây chỉ là chuyện nhỏ nếu trong số 4732 bạn công an được thăng cấp kia gồm những bạn đã hăng hái, mẫn cán, có nhiều “thành tích”, nhiều “sáng kiến” trong việc bắt bớ những người yêu nước, đàn áp những người dân oan khiếu kiện vì bị cướp đất, cướp tài sản, đặc biệt là đàn áp, đánh đập những người dân yêu nước xuống đường biểu tình để bảo vệ lãnh thổ của Tổ Tiên Cha Ông trong những ngày vừa qua, thì nỗi buồn được nhân lên rất nhiều.

Vâng, đây là một sự kiện đáng buồn, rất đáng buồn.

Có thể mấy ngày qua, từ khi nhận được quyết định, hàng chục ngàn lít bia, hàng ngàn lít rượu đã được trôi qua cổ họng các bạn. Các bạn đang hân hoan vì được lên lương, được thêm tiền, những ngày lễ, ngày tết sẽ có thêm nhiều phong bao trong đó chứa nhiều ảnh các tổng thống Mỹ. Các bạn được nhiều người chúc mừng, nhiều người chia vui.

Nhưng, tôi thấy tai họa đang treo lơ lửng trên đầu các bạn.

Chắc chắn khi được gắn thêm sao, thêm vạch các bạn phải xin thề với lãnh đạo đảng, những người đã quyết định thăng cấp cho các bạn là phải tuyệt đối trung thành với họ, tuyệt đối tuân lệnh họ, thực hiện các chỉ thị của họ.

Không phải ngẫu nhiên mà ngày 18 tháng 8, “Ủy ban nhân dân” thành phố Hà Nội ra thông báo cấm người dân biểu tình thể hiện lòng yêu nước với những lời đe dọa: ”Đối với những người cố tình không chấp hành; tụ tập đông người trái pháp luật; gây rối trật tự công cộng, chống người thi hành công vụ, UBND TP yêu cầu lực lượng làm nhiệm vụ áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ trật tự công cộng theo quy định tại điều 9, Nghị định số 38/2005/NĐ-CP ngày 18/3/2005 của Chính phủ quy định một số biện pháp bảo đảm trật tự công cộng và xử lý theo quy định của pháp luật” thì ngày 19 tháng 8 công an Hà Nội thông báo thăng cấp cho các bạn.

Đây là một hình thức thuê các bạn trấn áp người yêu nước bằng “gạch” và “sao”, hay nói một cách khác họ dùng tiền thuế của nhân dân thuê các bạn đánh đập, đàn áp lại nhân dân.

Họ biết rằng ngày 21 tháng 8, nhân dân sẽ tiếp tục xuống đường biểu tình yêu nước nên ngày 19 họ vội vã ký hợp đồng với các bạn. Đây sẽ là một “bản hợp đồng “ oan nghiệt đối với các bạn. Với một ít tiền nhỏ nhoi so với lợi tức mà họ thu được từ quan thầy “4 tốt”, các bạn buộc phải trở thành những con chó trung thành với chủ, làm theo lệnh chủ, cắn xé những người yêu nước để bảo vệ tài sản kếch sù của chủ, bảo vệ ngai vàng của chủ, làm yên lòng giặc ngoại xâm.

Đàn áp người biểu tình, đàn áp người yêu nước, nhân dân sẽ căm ghét các bạn, oán thù các bạn, coi khinh các bạn như đã từng căm thù, oán ghét, coi khinh, thương hại đại úy Minh, còn những thằng chủ thì vô can, ung dung ngồi rung đùi trong nhà máy lạnh nhấm nháp rượu mao đài. Họ có thừa những trò lưu manh, láu cá để đẩy con em nhân dân đánh đập lại nhân dân, còn họ thì dửng dưng, đứng ngoài cuộc. Nếu bạn công an nào nhiệt tình quá, hăng hái quá như đại úy Minh, khi bị nhân dân phẫn nộ thì sẽ trở thành những con tốt thí.

Các bạn hãy xem cái bản “Thông báo” của cái gọi là “Ủy Ban nhân dân” thành phố Hà Nội thì rõ, không có một thằng nào dám ký tên dưới bản “thông báo” đó (Xin lỗi các bạn, với những kẻ như vậy, chỉ đáng gọi bằng thằng). Họ đúng là một lũ hèn. Dân gian có câu” Có gan ăn ốc thì có gan lội hồ”, chúng nó chỉ có gan ăn cướp thôi nhưng không có gan chịu trách nhiệm, chúng nó đẩy trách nhiệm về phía các bạn.

Chủ tịch cái “Ủy Ban nhân dân” thành phố Hà Nội Nguyễn Thế Thảo từng du học tại Ba Lan trong thời kỳ Ba Lan sôi động với những cuộc đình công, biểu tình của công nhân, sinh viên, trí thức đòi tự do, dân chủ. Ba Lan lúc đó vẫn còn là chế độ độc tài cộng sản, những cuộc biểu tình đã bị đàn áp, thậm chí công an đã được lệnh bắn vào người biểu tình. Máu của hàng chục người Ba Lan đã đổ, nhưng những giọt máu đó đã đơm hoa kết trái thành một nước Ba Lan dân chủ, tự do, phồn vinh và đẹp đẽ như ngày hôm nay để gần 30 ngàn người Việt cũng được thừa hưởng.

Nguyễn Thế Thảo đáng lý phải học cái nhân bản, cái cao thượng của người Ba Lan, hắn lại học cái trò lưu manh của đám quan chức cộng sản Ba Lan thời đó khi ra lệnh cho công an đàn áp người biểu tình. Nhưng đám quan chức cộng sản Ba Lan còn có chút tự trọng, dám ký tên vào các quyết định, còn Nguyễn Thế Thảo thì không. Hắn sợ. Hắn là một thằng hèn, không dám ký tên,không một thằng nào dám ký tên, không một thằng nào dám chịu trách nhiệm. Vì hắn biết, chúng nó biêt, cả đám quan chức tại Hà Nội, tại Ba Đình đều biết, rằng chế độ độc tài cộng sản của chúng nó chắc chắn sẽ sụp đổ, nhân dân sẽ hỏi tội những thằng nào ký lệnh đàn áp nhân dân.

Những bài học về vợ chồng tổng bí thư đảng cộng sản Rumani trở thành “lãnh tụ” với “99,9 % tín nhiệm” nhưng một thời gian sau bị nhân dân xử bắn. Tổng bí thư đảng CS Đức phải chết lưu vong ở nước ngoài. Tổng bí thư đảng công nhân thống nhất Ba Lan mặc dù tuổi trên 80 nhưng phải nhiều lần ra trước vành móng ngựa trả lời về việc ký lệnh ban bố tình trạng chiến tranh... Những bài học xưa và nay đang rành rành ra đó. Những bài học đó làm họ run sợ. Họ đã nhìn thấy hình ảnh nhà độc tài Ai Cập trên giường bệnh nhưng đặt trong cũi sắt để trả lời trước tòa án nhân dân. Nếu đã biết sợ, họ phải đứng về phia nhân dân, nhưng càng sợ họ lại càng tàn bạo.

Họ đã không còn nhân tính.

Họ đang đẩy các bạn làm vật hy sinh cho họ.

Một ngày không xa, khi Việt Nam có dân chủ, ngày đó chắc chắn sẽ đến, các bạn sẽ trả lời ra sao trước nhân dân, trước anh em bè bạn về những gì các bạn đã hành động hôm nay? Các bạn sẽ nói chuyện với con cháu các bạn ra sao? Các bạn còn dám nhìn thẳng vào mắt những người hôm nay các bạn đã đánh đập? Các bạn có hổ thẹn khi nghe con cháu đọc lại những trang sử hào hùng của lớp cha anh xuống đường chống Trung Quốc xâm lược ngày hôm nay?

Thưa 4732 bạn công an,

Tôi viết xong thư này tối ngày 20 tháng 8. Tôi chưa gửi, tôi chờ xem thái độ của các bạn đối với những người yêu nước ngày hôm nay, 21 tháng 8.

Tôi được biết các bạn đã đàn áp, đã bắt đi hàng chục người yêu nước. Các bạn đang thực hiện “bản hợp đồng” bẩn thỉu với bọn cầm quyền. Tôi rất buồn, buồn cho tương lai các bạn, mong các bạn hãy tỉnh ngộ xé tan ”bản hợp đồng” ô uế đó.

Cũng ngày hôm nay, tôi rất tự hào vì những Người Con của Tổ Quốc bất chấp hiểm nguy, tiếp tục xuống đường để quân xâm lược biết rằng Dân Tộc Việt Nam mãi mãi trường tồn vì vẫn còn những đứa con trung hiếu.

Tôi tự hào vì những người bị đẩy lên xe buýt; Tôi tự hào vì những người bị giam giữ tại các đồn công an, tôi tự hào vì những người đã đưa cơm, tiếp nước cho những người bị bắt.

Tôi tự hào vì trong tim tôi, những người đó là những anh hùng.

22 giờ, 21 tháng 8


Trần Ngọc Thành (danlambao)

Chỉ có công an cộng sản mới tin rằng Việt Nam có tự do tôn giáo

Linh mục Nguyễn Văn Khải: Lúc này chúng ta lo lắng cho vận mạng đất nước còn hơn cho giáo hội…
Bởi vì, mất nước vào tay Trung Cộng sẽ là mất dân tộc, mất văn hóa và mất cả giáo hội
Phạm Đình/Nguyệt San Hiệp Nhất
Báo động trước nguy cơ mất nước vào tay Trung Cộng dưới sự toa rập của chế độ cộng sản “phản dân hại nước”, linh mục Nguyễn Văn Khải đã tuyên bố: Là người con giáo hội, luôn chăm lo xây dựng và bảo vệ giáo hội, lúc này chúng ta phải lo cho đất nước hơn là cho giáo hội, “vì mất nước sẽ mất dân tộc, mất văn hóa và mất cả giáo hội.”

Chiều ngày 21 tháng Tám, cha Nguyễn Văn Khải, vị linh mục Dòng Chúa Cứu Thế vừa đào thoát khỏi Việt Nam đã đến nói chuyện tại Trung Tâm Công Giáo thuộc Giáo Phận Orange, California theo lời mời của tổ chức Free Viet Nam. Bằng những lời nhiệt thành và đanh thép, vị linh mục đã làm chấn động cử tọa đông đảo với sự xúc động sâu xa hòa cùng những tràng pháo tay vang dội trong suốt 3 giờ nói chuyện. Ngay từ phút đầu tiên, mọi người đã bị thu hút ngay bởi sự nhiệt thành với giáo hội và đất nước ….. qua lời nói mạnh mẽ, đầy xác tín, rất hóm hỉnh, nhưng cũng vô cùng khiêm tốn của vị linh mục trẻ dòng Chúa Cứu Thế. Quả thật, vị linh mục càng nhìn gần càng thấy trẻ, với nước da trắng và tu phục đen tự xưng là ‘con’ là ‘cháu’ trước cử tọa, nhưng không ai quên rằng đây là vị phát ngôn viên rắn rỏi, anh hùng của những ngày Thái Hà rực lửa đấu tranh vì công lý nhân quyền, trực diện không khoan nhượng trước đàn áp dã man và đòn phép ma mãnh của nhà cầm quyền cộng sản những năm 2008, 2009, và 2010.
Chỉ có công an cộng sản mới tin rằng Việt Nam có tự do tôn giáo

Suốt gần 3 tiếng đồng hồ nói chuyện, gián đoạn bởi nhiều tràng pháo tay tán thưởng, cha Khải đã chứng minh rằng dân tộc Việt Nam chưa hề bao giờ có tự do tôn giáo. Là một chứng nhân sinh ở đất Bắc, đi “tu chui” trong miền Nam, chịu chức linh mục “chui” - như hàng chục hàng trăm linh mục khác trong dòng Chúa Cứu Thế và toàn cõi Việt Nam- chưa bao giờ được nhà cầm quyền công nhận một nơi cư trú chính thức, cha Khải đã đưa ra nhiều bằng chứng hùng hồn về sự kềm kẹp của nhà cầm quyền, được mô tả như những “bàn tay lông lá” lúc nào cũng muốn thọc sâu vào sinh hoạt thuần túy tôn giáo ….. Chẳng hạn, đòi kiểm soát lý lịch tu sinh trước khi cho phép nhập chủng viện, đòi quyền phê chuẩn chức linh mục, chức giám mục, cũng như phê chuẩn các bổ nhiệm và thuyên chuyển trong nội bộ giáo hội. Mặc dầu là những áp chế rất ngược ngạo, nhưng đó cũng mới chỉ là một vài trong muôn vàn bằng chứng rõ nét về sự đàn áp tôn giáo mà bất cứ ai cũng nhìn thấy được.

Bằng vào kinh nghiệm sống vẫn còn nóng bỏng trong ký ức của mình dưới chế độ cộng sản, cha Khải mạnh mẽ khẳng định, không hề có tự do tôn giáo tại Việt Nam, mà thực tế là các tôn giáo đang bị kềm kẹp hiếp đáp một cách thô bạo. Nếu có ai nói ngược lại, thì theo cha Khải, đó chắc chắn là một người nói dối, “nếu không phải là người nói dối thì là một người quá sợ hãi đến tê liệt không còn dám nói lên sự thật. Nếu không phải là người quá sợ hãi thì là người đầu óc có vấn đề, không còn nhận biết đâu là thật đâu là hư. Nếu không phải là người đầu óc có vấn đề thì là người đời sống có vấn đề, một người bị công an nắm được cái gì đó khiến cho không dám nói ngược với công an. Nếu không phải là người đời sống có vấn đề thì người đó chắc chắn là ….công an!”

Đề cập tới sự thành bại của phong trào đòi công lý tại tổng giáo phận Hà Nội, đã đi vào lịch sử với tên gọi sự kiện Khâm Sứ và Thái Hà, cha Khải cho rằng, đó không là thất bại khi không đòi lại được 2 miếng đất như một số người đã nghĩ. Nhưng đó là một cuộc chiến đấu cho công lý với kết quả đã thấy trước “được ăn cả, mà ngã cũng chẳng …. về không”. Là vì, nếu chỉ là đòi đất thì 2 cuộc tuần hành đó đã thành công rất nhanh khi nhà cầm quyền Hà Nội đề nghị đổi cho những mảnh đất khác với giá trị tương đương. Nhưng cuộc tranh đấu không dừng lại ở mục tiêu ích kỷ, dại khờ và nhỏ nhen như thế. Bởi vì, hai mảnh đất đó – Tòa Khâm Sứ và Thái Hà Ấp - đã bị nhà cầm quyền cộng sản giật lấy đã từ nửa thế kỷ nay dưới danh nghĩa phục vụ công ích (mà chúng ta không màng đòi lại). Nay họ lại toan tính bán cho tư nhân, dành tư lợi bỏ túi riêng. Vậy chính nghĩa của cuộc đấu tranh là giành lại công lý, giành lại phương tiện vốn là của mình để phục vụ công ích. Nếu thành công thì giáo hội sẽ thu hồi được chẳng những 2 mảnh đất có giá trị về kinh tế (đất Thái Hà khoảng $200 triệu đô la, đất tòa Khâm Sứ khoảng $400 triệu đô) mà còn tạo được một tiền lệ quan trọng để các xứ khác đứng lên đòi đất, các tôn giáo khác đòi đất, người dân oan đòi lại đất…. Tức là một phong trào đòi công lý trên phạm vi cả nước. Còn nếu “ngã thì ….. cũng chẳng về không” là vì: Như kết quả bây giờ, hai khu đất đã trở thành vườn hoa, tạo thành một môi trường trong sạch yên tĩnh bên cạnh tòa giám mục và nhà thờ Thái Hà, thay vì trở thành nhà hàng vũ trường, nhà máy ồn ào và xô bồ cạnh nơi thờ phượng…. Ngoài ra, cuộc đấu tranh đã tạo ra một tiền lệ về đấu tranh không khuất phục bạo quyền, đã trang bị cho người dân Hà Nội một đối sách thích hợp, là thái độ nhu hòa mà cương quyết khiến võ lực của bạo quyền không có chỗ thi thố. Đó là một thành quả tinh thần không nhỏ, được nhiều sĩ phu đất Bắc rất trân trọng.

Không lo sợ về vận mạng giáo hội cho bằng về vận mạng đất nước
Trả lời một câu hỏi về việc xâm lấn lãnh thổ do Trung Cộng chủ trương có sự toa rập của nhà cầm quyền Hà Nội, bằng lời lẽ của một ngôn sứ, cha Khải đã thẳng thắn gọi nhà cầm quyền cộng sản hiện nay ở Việt Nam là “tà quyền”, là một chế độ “phản dân hại nước”, chứ không chỉ là “phản động”. Đồng thời, vị “ngôn sứ” cũng nói rằng, “Chúng con không lo cho giáo hội bằng lo cho vận mạng đất nước này”. Và để giải thích cho câu nói của mình trong tư cách một tu sĩ, cha Khải nói rằng là con cái giáo hội, “chúng con hết lòng xây dựng và bảo vệ giáo hội, nhưng chúng con cũng hiểu rằng từ 2000 năm nay, giáo hội Chúa luôn luôn bị đánh phá, giáo hội Việt Nam từ 500 năm nay luôn luôn bị bách hại mà vẫn sống, và càng sống vững vàng” đúng như lời Chúa đã phán “Ta xây giáo hội ta trên đá, khiến cho quỉ hỏa ngục có dấy lên phá hoại cũng không làm gì được.” Nhưng trước nguy cơ đất nước sắp rơi vào tay Trung Cộng, dưới sự toa rập bán nước của nhà cầm quyền cộng sản, không ai trong chúng ta có thể thờ ơ. Từ Trường Sa và Hoàng Sa là những trạm tiền tiêu canh giữ đất nước đã bị Trung Quốc chiếm đóng, nhà cầm quyền cộng sản lại để cho Trung Quốc tự do khai thác bô xít, chiếm đóng vùng cao nguyên vốn là “mái nhà Đông Dương”. Việc làm này chẳng những là một hành động vô cùng nguy hại cho sự sống còn của đất nước mà còn hủy hoại giá trị văn hóa tinh thần và đức tin Công Giáo mới bén rễ trong các dân tộc thiểu số ở miền tây nguyên. Mất nước là sẽ mất dân tộc, mất văn hóa, và mất cả giáo hội, bởi vì rồi ra giáo hội cũng sẽ rơi vào tình cảnh tương tự như ở Trung Quốc hiện nay.”

Nên giáo xứ Thái Hà, giáo xứ Hàm Long, và Dòng Chúa Cứu Thế Kỳ Đồng …. liên tục có những buổi thắp nến cầu nguyện cho đất nước trong nỗ lực chống khai thác Bô Xít ở Tây Nguyên cũng như cuộc xâm lăng của Trung Quốc. Vị linh mục nhớ lại, “Trong các bài giảng, con đã giảng như thế, các anh em linh mục trẻ hơn cũng giảng như thế….. Và nếu được nghe những lời đanh thép hùng hồn của các vị linh mục khác tại Hà Nội hiện nay, như cha Trịnh duy Công, cha Phạm Minh Triệu, cha Cường, cha Toản…. thì quí vị sẽ thấy những gì con nói ở đây còn thua xa, những bài giảng chính con cũng chỉ biết ‘trợn mắt, há miệng” mà nghe. Bởi vì, trước bản lĩnh của các vị thì chính bản thân con cũng phải gọi bằng…. cụ.” Sau cùng, vẫn như một phát ngôn viên của Thái Hà và phong trào giáo dân Hà Nội kiên cường đòi công lý từ tay bạo quyền phản dân hại nước, linh mục Nguyễn Văn Khải trân trọng cám ơn sự hỗ trợ của cộng đồng hải ngoại đối với Thái Hà và công cuộc đấu tranh vì công lý của người dân trong nước. Ban tổ chức cũng kêu gọi mọi người ghi danh làm thành viên ủng hộ dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam.

Cần thêm chi tiết về việc này,
xin gọi: (714) 583-8041,
hoặc email: hoiannhandcctvn@...

Kinh hoàng món ăn, thuốc bổ made in TQ

Mới đây Giới y tế Trung Quốc (TQ) thực sự sốc khi có thông tin bệnh viện ở tỉnh Cát Lâm mua trẻ sơ sinh chết non và nhau thai để chế tạo thuốc bổ. Cùng với hàng loạt công nghệ chế biến thực phẩm bẩn bị phát hiện, phanh phui trong thời gian qua, khi nói đến thực phẩm TQ, không ít người hoang mang, rùng mình.

Xin điểm lại một số sự vụ nổi cộm suốt thời gian qua khiến người dân Trung Quốc bất bình, các cơ quan chức trách phải vào cuộc điều tra và hàng vạn người tiêu dùng thế giới lên tiếng “tẩy chay”.

Công nghệ chế thuốc bổ từ xác trẻ sơ sinh

Từ câu chuyện phong phanh về việc mua bán thai nhi, với mong muốn tìm ra cách bào chế thuốc bổ từ xác trẻ sơ sinh, nhóm phóng viên đài truyền hình SBS TV của Hàn Quốc đã đi sâu tìm hiểu quy trình để làm ra những viên 'thuốc bổ' từ thịt trẻ em chết này. Từ đó, phát hiện ra một sự thật kinh hoàng: Xác những đứa trẻ được lưu giữ trong tủ lạnh, khi cần chế thuốc thì cho vào lò vi sóng sấy khô.

Giai đoạn đầu của cuộc điều tra, phóng viên tìm đến một bệnh viện lớn chuyên bán di hài cho các công ty dược phẩm. Tại đây họ phát hiện ra một luật ngầm, nếu có ca sơ sinh nào tử vong, công ty dược sẽ được gọi đến đểgiải quyết. Nhóm SBS TV cũng tìm thấy nhiều bằng chứng của việc sản xuất "thần dược" này.


Xác những đứa trẻ được lưu giữ trong tủ lạnh, khi cần chế thuốc thì cho vào lò vi sóng sấy khô (Ảnh minh họa)
Sau khi sấy khô, xác được nghiền ra và trộn với thuốc bột trước khi đóng vào con nhộng.

Theo Deng Haihua, phát ngôn viên Bộ Y tế Trung Quốc, Trung Quốc quản lý chặt chẽ việc vứt bỏ trẻ em, bào thai và nhau thai. "Bất cứ hànhđộng nào nhằm giữ lại những thứ trên như rác thải y tế đều bị nghiêm cấm".

Theo quy định của TQ, các tổ chức y tế và nhân viên bị cấm buôn bán xác chết. Còn theo ông Jia Qian, người đứng đầu dự án nghiên cứu chiến lược của Viện y học cổ truyền Trung Quốc thì nhau thai từ lâu được sử dụng để bào chế thuốc trong Trung y nhưng Trung y chưa bao giờ dùng bào thai hay trẻ sơ sinh chết non để bào chế thuốc”.

Thuốc bổ dành cho nam giới làm từ… thức ăn cho gà

Trước khi cả thế giới sửng sốt với thông tin thuốc nhộng được chế từ xác trẻ sơ sinh, Công an thành phố Tây An (tỉnh Thiểm Tây, TQ) cũng đã triệt phá đường dây sản xuất các loại thuốc bổ, thuốc cảm... từ nguyên liệu chính là thức ăn nuôi gà và các thức ăn chăn nuôi khác.


Nguyên liệu SX thuốc chủ yếu là thức ăn cho gà và vài loại thức ăn chăn nuôi khác.
Vụ kiểm tra bất ngờ diễn ra hôm 8/8/2011, tại một con phố của thành phố Tây An và bất ngờ khi “nhà máy” sản xuất thuốc tây chỉ là căn phòng rộng, xây gạch thô sơ cùng với máy móc cũ kỹ, lạc hậu.

Các trang mạng TQ thông tin, khi lực lượng công an xông vào thì tại hiện trường vương vãi khá nhiều bao bì rất nhiều loại thuốc khác nhau, chủ yếu là thuốc bổ, thuốc hạ huyết áp, thuốc giảm béo, thuốc cho bệnh nhân tiểuđường, thuốc bổ dành cho nam giới… Tất cả đều chưa được dập ngày sản xuất cũng như các thành phần bên trong.
Tuy nhiên lực lượng kiểm tra phát hiện, thành phần chính của các loại thuốc tâyđóng vỉ này chỉ là từ... thức ăn cho gà và vài loại thức ăn chăn nuôi khác, sauđó được pha trộn với hóa chất để tạo mùi. Được biết số thuốc bị thu giữ tại hiện trường có trị giá khoảng 5 triệu nhân dân tệ.

Thuốc y học cổ truyền TQ gây tác dụng phụ nghiêm trọng
Theo khuyến cáo của Cơ quan Khoa học Y tế (HSA), người dân không nên sử dụng hai loại thuốc y học cổ truyền TQ là Ren Sem Tu Chon Chin Kuo PillHuo Li Bao vì chúng có thể gây ra các tác dụng phụ nghiêm trọng.

HSA đã phát hiện, hai loại thuốc này có chứa lượng lớn các dược liệu của y học phương Tây hiện đại và chúng được pha trộn một cách bất hợp pháp, không theo tiêu chuẩn an toàn của HSA, có thể gây tác dụng phụ nghiêm trọng cho người sửdụng.


Hai loại thuốc y học cổ truyền Trung Quốc có thể gây ra các tác dụng phụ nghiêm trọng.
Ren Sem Tu Chon Chin Kuo Pill là sản phẩm được đóng gói lọ có nhãn có nhãn màu vàng, bên trong có chứa những viên thuốc tròn màu đen được quảng cáo có tác dụng giảm đau. Nó chứa dexamethasone và Clorpheniramin.
Còn Huo Li Bao được đóng gói trong hộp màu xanh lá cây, bên trong có vỉ chứa viên nang màu xanh. Các viên nang này được sử dụng để điều trị đau viêm khớp. Nó chứa piroxicam, Chlorpheniramin và frusemide
Các sản phẩm này đều được nhập khẩu từ TQ.

Đặc sản kinh khủng: Gà chết

Cứ rạng sáng sớm, như thường lệ, một người đàn ông TQ lại lái xe máy đi thu mua gà chết. Đi tới cổng nhà ai, ông ta cũng hỏi câu: “Có gà chết không?”. Tổng cộng có khoảng 5 người lái xe đi thu mua gà chết cho 1 ông chủ như thế này. Mỗi con gà chết được thu mua với giá 1 tệ và sẽ được bán với giá 9 tệ sau khi chế biến.

Đột nhập lò chế biến gà tại TQ, người ta tận mắt chứng kiến cảnh ngổn ngang những con gà chết được vất bừa bãi trên nền nhà, ngoài sân. Có 4 người chuyên nhúng gà vào nước sôi và vặt lông. Sau đó, dùng xà phòng và thuốc tẩy để làm sạch rồi tẩm mầu.

Hàng loạt chân gà đã ướp formon hoặc hóa chất nên khi xử lý mốc cũng đơn giản, vẫn đảm bảo tươi sống. Khi nướng lên, các chủ cửa hàng chân gà nướng chỉ cần gia giảm các loại gia vị cho át mùi là lại thành đặc sản.


Những con gà chết chuẩn bị được "hô biến" thành thịt gà ngon.
Theo một dân kinh doanh chân gà về Việt Nam, “chân gà nhập từ nước bạn về chẳng còn tí mùi vị gì, dai nhách. Chỉ đến khi vào tay các chủ hàng chân gà thì nó mới thơm ngon, kể cả hương vị cũng là đánh lừa miệng khách hàng”.

Những con gà chết sau khi qua các công đoạn “hô biến” được“khoác” một lớp ngoài bắt mắt và vô cùng thơm ngon.

Công đoạn cuối cùng là tẩm hóa chất tăng độ bắt mắt cho gà.
Trong khi đó, hiện nay, gà lậu TQ không qua kiểm dịch vẫn đang từng ngày được tuồn về Việt Nam, đặc biệt là ở Lạng Sơn luôn trong thời gian cao điểm "tập kết"ở đường biên, chờ dịp nhập cảnh VN.
"Một kg gà TQ giá chỉ 25.000-30.000 đồng là cùng" - Khang, lái xe ôm vùng biên, khẳng định với phóng viên. "Mỗi con đem về thành công, trả cho người dắt mối, bảo kê 2.000 đồng, tôi bỏ túi 5.000 - 7.000 đồng. Về xuôi mỗi kg gà TQ vẫn bán được 55.000 - 60.000 đồng, khoản chênh lệch gần gấp đôi đó những người ngồi ôtô hưởng". Chính vì mỗi chuyến kiếm được cỡ trăm ngàn, ngày làm được vài chuyến nên dù nghe nói dịch gia cầm đang quay lại nhưng gà lậu từ các cửa khẩu vẫn ồ ạt đổ về.

Dầu ăn chế biến từ nước 'cống rãnh'

Cơ quan thông tấn Trung Quốc vừa tiết lộ: Một vài loại dầu ăn bắt mắt được bày bán trên các cửa hàng ở Bắc Kinh, Thiên Tân và Hà Bắc hóa ra được tái chế từ dầuđã qua chiên xào nhiều lần, hoặc từ nước rãnh thải.


Dầu ăn hóa ra được tái chế từ dầu đã qua chiên xào nhiều lần, hoặc từ nước rãnh thải.

Theo Chinadaily và Beijing Times, một vài nhà sản xuất các loại dầu bẩn nói trên cho ra lò gần 100 tấn sản phẩm kém chất lượng mỗi ngày. Kỹ thuật sản xuất và các thiết bị tinh lọc tiên tiến khiến cho người mua khó mà phân biệt được dầu nào được sản xuất an toàn và dầu nào bắt nguồn từ chất thải.

Một người trong nghề cho biết nguyên liệu thô để sản xuất ra dầu ăn bẩn gồm có dầu ăn từ các nhà hàng được chiên đi chiên lại nhiều lần, thịt lợn thừa từ các lò mổ và mỡ gia cầm. Sau đó, chúng được trộn với nhau và tẩy màu.

Thiết bị chính để lọc dầu là các thùng chứa lớn và bộ lọc, nối với nhau bằng ống dẫn. Dầu trở nên sáng màu hơn qua khâu lọc và tinh chế,sau cùng được đóng gói thành dầu ăn như bình thường.

Số liệu từ cơ quan quản lý Bắc Kinh cho biết: khoảng 1.750 tấn thức ăn thừa được tạo ra trong thành phố mỗi ngày, và 60 tấn dầu bẩn được tái chế từ đây.

Wang Ruiyuan, phó chủ tịch chi nhánh dầu ăn thuộc Hiệp hội Dầu ăn và Ngũ cốc Trung Quốc, cho biết hiện không có cách nào hiệu quả để phát hiện dầu ăn bất hợp pháp.

Nội tạng lợn, bò phế thải TQ đổ về Việt Nam


Những bì nội tạng chuyển về Việt Nam.
Những loại thực phẩm như nội tạng lợn, bò, dê, chân gà... ướp hóa chất độc hại, dân TQ "không dám động đến" nhưng vẫn đang ngày ngày chảy qua biên giới, rồi ồ ạt về các đô thị ở Việt Nam và trở thành món ăn khoái khẩu của không ít thực khách.

"Trắng hếu, nhạt, luộc lên thấy nước hơi tanh và có vị lạ;riêng lòng lợn ném xuống đất nẩy cái bịch" - đó là cách phân biệt mà một tiểu thương tên Hương tại chợ Kỳ Lừa, Lạng Sơn chỉ cho PV khi nghe hỏi về nội tạngđộng vật tươi sống.

Cũng theo chị Hương, trước đây ở xứ Lạng, chân gà, nội tạng lợn bán đầy, dọc các đường cũng có. Nhưng giờ dân vùng biên chỉ bán về xuôi chứ không dám ăn vì... kinh lắm.

Tuy vậy, theo tìm hiểu của chúng tôi tại Lạng Sơn cũng có hàng chục cửa hàng ăn sử dụng gà thải, nội tạng động vật TQ để bán cho khách hàng.

Từng vào sâu nội địa TQ để "săn" hàng, Tuyến kể: "Chủ loại hàng nội tạng động vật trước tôi định bắt tay là một tư thương nhỏ người Trung Quốc thiểu số. Hàng của nó, nói thật, toàn hàng tồn, hàng bệnh từ các nơi. Mua về, hàng để phệt ngay xuống sàn ximăng. Vài thằng ngồi lọc, cái nào hôi, nát quá dành để cô nước dùng bán cho các tiệm lẩu, phở. Hàng nào còn tạm sẽ được nhúng vào thùng hóa chất".

Thùng đó độc thế nào? Tuyến bảo không biết nhưng "lúc gần về, thấy một con chuột bị đuổi sa vào, được vớt ra ngay nhưng lát sau đã lăn ra chết!".

Theo số liệu của các cơ quan chức năng, chỉ riêng lực lượng cảnh sát giao thông năm 2007 đã bắt được tới 170 tấn gà, nội tạng động vật nhập lậu, hơn 22.000 con gà, gần 60.000 quả trứng nhập lậu từ TQ.

Theo cán bộ tham mưu của Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Lạng Sơn, đó đúng là con số không đáng kể vì cảnh sát giao thông chỉ là đơn vị phối hợp và chỉ dừng kiểm tra những xe có nghi vấn.

Kinh hoàng bánh bao “bẩn” ở siêu thị TQ

Chương trình “Tiêu dùng” của CCTV đưa tin, mỗi ngày có hơn 30 ngàn chiếc bánh bao độc hại này được đưa vào kệ bày bán tại các siêu thị lớn như Thượng Hải Liên Hoa, Hoa Liên, Địch Á Thiên Thiên…

Kết quả điều tra ban đầu phát hiện, trên bao bì các dòng sản phẩm bánh bao này, ngày sản xuất được in thành ngày nhập hàng vào siêu thị, những chiếc bánh đã quá hạn sử dụng thì được hô “biến” thành bánh bao mới.


Bánh bao quá hạn sử dụng được hô “biến” thành bánh bao mới.
Một nhân viên siêu thị cho hay, những loạt bánh bao tẩy trắng này đều do một công ty sản xuất và cung ứng, hiện bán khá chạy tại các siêu thị lớn. Phóng viên CCTV đã xâm nhập vào xưởng sản xuất của công ty này và phát hiện một loạt bánh bao dập ngày sản xuất 22/3 được tuồn ngược trở lại xưởng để “tái chế” thành bánh bao mới và xuất lại cho siêu thị.
Theo ghi nhận của phóng viên, những chiếc bánh bao cũ được đổ vào máy đánh tan thành bột. Sau đó một công nhân đổ thêm 2 túi bột trắng vào cho máy đánh đều trước khi đổ khuôn. Chưa đầy 10 phút sau, loạt bánh bao “tái chế” nóng hổi được xuất lò. Công đoạn tái chế kéo dài khoảng gần 20 phút.
Công ty này đã dùng đường hóa học để thay thế đường kính, đồng thời trộn thêm chất bảo quản, chống thối và chất tẩy trắng không rõ nguồn gốc. Một công nhân tiết lộ: “Tôi không bao giờ ăn bánh này. Có đánh chết tôi cũng không dám ăn.”Mỗi ngày, bình quân công ty tái chế bánh bao xuất xưởng khoảng 30 ngàn chiếc và cung ứng cho từ 300 đến 400 siêu thị ở Thượng Hải, hàng đang bán rất chạy.

Rùng mình thịt lợn bẩn

Sau bánh bao bẩn, khiến người TQ phẫn nộ, thì nay, đất nước đông dân nhất hành tinh lại một phen rùng mình, kinh hãi khi hàng tấn thịt bẩn "rùng rùng" chuyển động trên các ô tô tải.


Nếu không được phát hiện thì lô thịt lợn bẩn này đã nằm trên bàn ăn của người tiêu dùng.
Người dân TQ không khỏi bàng hoàng khi biết tin tập đoàn Song Hội (tỉnh Hà Nam, TQ), một thương hiệu lớn trong lĩnh vực công nghệ thực phẩm của nước này, đã vàđang cung cấp ra thị trường rất nhiều thịt lợn và các sản phẩm từ thịt lợn bẩn (lợn được nuôi bằng chất kích thích tăng nạc đã bị cấm từ nhiều năm qua.

Ngày 12/4/2011, Bộ Công an TQ tổ chức họp báo cho biết, 96 đối tượng liên quan trong vụ bê bối thịt lợn bẩn này đã bị bắt, thu giữ hơn 4 tạ chất kích thích tăng nạc, đóng cửa một cơ sở sản xuất và phá 2 đường dây tiêu thụ loại chất kích thích tăng nạc này.

Theo cơ quan chức năng, chất kích thích tăng nạc là loại chất hóa học có tên gọi Ractopamine và Clenbuterol, khi trộn với thức ăn chăn nuôi lợn sẽ làm tăng nạc, giảm mỡ, giảm lượng thức ăn và thịt lợn khi mổ tươi hơn, giảm chi phí sản xuất. Hiện nhiều quốc gia trên thế giới đã cấm sử dụng loại chất kích thích tăng trưởng này trong chăn nuôi vì nếu thường xuyên ăn loại thịt lợn “siêu nạc” và các sản phẩm chế biến từ thịt lợn “siêu nạc”, người dùng có thể bị ngộ độc, chân tay run rẩy, đứng không vững, choáng đầu, mất sức, tim đập nhanh.

Rau TQ nhiễm độc nặng
Năm 2010, 2011, TQ liên tục phát hiện dư lượng thuốc trừ sâu quá cao trong rau của Trung Quốc, chứa chất độc hại nghiêm trọng gây ra các bệnh nguy hiểm đến tính mạng người dùng.

"Do thời tiết khô hạn, thuốc trừ sâu trên hoa quả và rau xanh không phai đi và dẫn tới dư lượng thuốc trừ sâu vẫn cao. Có 3 loại thuốc trừ sâu được dùng phổbiến trong trồng cây và tác động tới con người. Tuy nhiên, sau khi phai bớt, các loại rau quả vẫn có thể ăn được" - Giám đốc sở nông nghiệp Nam Ninh là Tang Bowen cho biết.


Trung Quốc phát hiện nhiều loại rau nhiễm độc nặng.

Tháng 4/2011 vừa qua, Bộ Y tế Trung Quốc vừa thông tin: iốt phóng xạ ảnh hưởng từ vụ nổ nhà máy điện hạt nhân Fukusima 1 Nhật Bản đã được phát hiện trong các loại rau trồng trên chính đất Trung Quốc.

Các mẫu kiểm tra được tiến hành vào ngày 5/4 đã tìm thấy hàm lượng i-ốt phóng xạ ở mức độ thấp trong rau bina trồng tại Bắc Kinh, Thiên Tân và tỉnh Hà Nam. Hàm lượng i-ốt phóng xạ khoảng 1-3 becquerels/kg.

Theo các chuyên gia y tế, hàm lượng i-ốt phóng xạ có thể tích tụ trong con người khi ăn phải những thực phẩm có nồng độ phóng xạ cao và làm tăng nguy cơ ung thư tuyến giáp. Nhưng nó phân rã tự nhiên trong vòng vài tuần.

Trong khi đó, tại Việt Nam, ở các chợ đầu mối, thậm chí là các siêu thị lớn nhỏ vẫn đang bày bán đầy rẫy các loại hoa quả được nhập về từTrung Quốc mà hoàn toàn chưa kiểm soát được nguy cơ.

(Theo GDVN)

Bài Xem Nhiều