We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Saturday, 17 September 2011

Đi xa nhìn về



Kỳ 1
1. Niềm vui ở Việt Nam. Nỗi buồn ở Mỹ
Tháng Tư lịch mặt trời, vẫn còn tiết xuân. Tán lá cây cơm nguội non xanh mướt dọc phố Quang Trung, Hà Nội làm xao xuyến cả mắt nhìn và rạo rực lòng người đi dưới tán cây. Hàng chò chỉ đường Nguyễn Bỉnh Khiêm cạnh Sở thú Sài Gòn, thả những bông hoa có hai cánh xoay tít trong gió, bay la đà trên phố. Tôi rời sân bay Tân Sơn Nhất sát ngày ba mươi tháng Tư khi cả nước rực màu đỏ của cờ, của khẩu hiệu, của áp phích. Một cảnh sắc chính trị nhân tạo, sôi sục, nồng nực, chộn rộn, lấn át, khuấy động cả thiên nhiên thanh bình, êm ả!
Tôi đến nước Mỹ khi những cây anh đào chân đồi tượng Nữ thần Tự do ở cửa biển New York, những cây anh đào lẻ loi ở Philadelphia, hàng anh đào bên bờ sông Potomac giữa thủ đô Washington DC đang khoe sắc rực rỡ, trắng như hoa mơ chùa Hương, trắng như hoa mận Cao Bằng, tím hồng như hoa ban Điện Biên Phủ. Thời tiết ở New York phía Bắc nước Mỹ, thời tiết ở Dalas Fort Worth phía Nam nước Mỹ cũng se lạnh như tiết xuân ở Việt Nam. Lạnh vừa đủ để khoác thêm chiếc áo ấm khi bước ra khỏi nhà. Nhìn hoa anh đào nước Mỹ, tôi cứ bâng khuâng nhớ hoa mận, hoa ban quê nhà. Thiên nhiên ở đâu cũng thật thanh bình, êm ả.
Dù ngồi trong ô tô trên đường cao tốc giữa những làn ô tô nhấp nhô, cuồn cuộn như một dòng sông mải miết ruổi sóng, xe chạy với tốc độ 70 dặm giờ (1 dặm bằng 1,6 kilomet, 70 dặm là 116 kilomet) suốt năm, sáu giờ tôi không thấy bóng một cảnh sát giao thông. Dù đi bộ trên đường phố New York, một bên là siêu thị, nhà hàng tấp nập người vào ra, một bên là dòng chuyển động bất tận của lớp lớp ô tô nối đuôi nhau, tôi không nghe thấy một tiếng ồn, không một tiếng động cơ ô tô, không một tiếng còi. Cuộc sống cuồn cuộn, hối hả trong tĩnh lặng, tuần tự của một xã hội được tổ chức chặt chẽ và đã có nề nếp.
Thời tiết mùa xuân, sắc hoa mùa xuân và nhịp sống náo nức mùa xuân cho tôi cảm giác bình yên, thanh thản. Nhưng một buổi chiều đến ăn cơm ở nhà hàng Việt Nam trong khu thương mại Eden của người Việt ở thị trấn Fall Church ngoại ô Washington DC, tôi lại gặp không khí chính trị nhân tạo sôi sục ở Việt Nam!
Ngày ba mươi tháng Tư, ngày kết thúc cuộc chiến tranh được một phía gọi là chống Mỹ cứu nước nhưng thực chất là cuộc chiến tranh ý thức hệ, cuộc chiến tranh Nam– Bắc Việt Nam. Ngày ba mươi tháng Tư lại đến! Cả nước Việt Nam lại rầm rộ, ồn ào, hoan hỉ mừng chiến thắng thì ở thị trấn tĩnh lặng ngoại ô thủ đô Washingtonnước Mỹ, những người Việt Namở phía chiến bại phải tha hương lại ngậm ngùi làm lễ tưởng niệm những đồng đội cùng chiến hào đã bỏ mạng trong cuộc chiến tương tàn đó! Tôi lại nhớ đến câu của người lãnh đạo nhà nước Việt Namcộng sản, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt: Ngày ba mươi tháng Tư có một triệu người vui thì cũng có một triệu người buồn! Nhưng đâu phải chỉ có những người ở phía chiến bại mới có Nỗi – buồn – ba – mươi – tháng – Tư! Mỹ đổ quân vào miền Nam Việt Nam làm cho cuộc chiến tranh có sức giục giã, thôi thúc rất lớn đối với tuổi trẻ miền Bắc. Người con trai duy nhất của Bí thư tỉnh ủy Hải Hưng Lê Quý Quỳnh tình nguyện nhập ngũ ra ngay mặt trận và anh đã hi sinh ở mặt trận Tây Nguyên. Ngày cả nước tưng bừng mừng chiến thắng ba mươi tháng Tư, người mẹ liệt sĩ ấy nhìn pháo hoa sáng rực trời lại nhớ đến nỗi đau mất đứa con trai duy nhất, bà đã ngất xỉu rồi ít ngày sau bà cũng đi theo con trai! Những người từng trải và mẫn cảm đều hiểu rằng ngày ba mươi tháng Tư chỉ có niềm vui ở cờ, hoa, ở khẩu hiệu, ở không khí chính trị nhân tạo! Còn nỗi buồn lặn vào từng gia đình, lặn vào từng số phận đã đi qua cuộc chiến tương tàn! Với những người phải tức tưởi bỏ nước ra đi vì sự kiện ba mươi tháng Tư đó thì nỗi buồn còn lớn lao, sâu xa đến thế nào! Tôi đã đi từ niềm vui của những lá cờ rợp trên dải đất ViệtNam đến nỗi buồn thăm thẳm lắng sâu ở tận nước Mỹ!
2. Buổi sáng ở Philadelphia
Dặm đường nước Mỹ cho tôi nhận ra rằng, so với nhiều nước trên thế giới, lịch sử hơn hai trăm năm dựng nước của người Mỹ còn quá mỏng và nước Mỹ mênh mông nhưng thiên nhiên khá đơn điệu! Vì thế người Mỹ rất chăm chút giữ gìn, nâng niu lịch sử. Thời gian lịch sử không dày thì người Mỹ gom góp, vun đắp cho không gian lịch sử dày dặn lên. Từng con người lịch sử, từng sự kiện lịch sử đều có chỗ đứng trong không gian, có mặt trong thời gian và làm nên sự thăm thẳm của đời sống tâm linh nước Mỹ. Tạo hóa không sáng tạo cho nước Mỹ mênh mông nhiều cảnh sắc thiên nhiên kì diệu thì người Mỹ thay tạo hóa sáng tạo ra sự kì diệu đó. Bằng tài năng, trí tuệ và niềm tự hào Mỹ, người Mỹ đã sáng tạo nên sự lung linh, hoành tráng của thiên nhiên thứ hai, bổ khuyết cho sự đơn điệu của thiên nhiên thứ nhất do đất trời tạo ra.
Trung tâm chính trị ở thủ đô WashingtonDC bên dòng sông Potomac trong xanh như một công viên mênh mông mà dòng sông hiền hòa, thảm cỏ và rừng cây là chủ thể. Nhà Quốc hội trên đồi Capiton, Nhà Trắng giữa cây xanh và những tòa nhà giàu tính nghệ thuật như tòa nhà Bộ Tài chính là những tác phẩm kiến trúc điểm xuyết vào màu xanh thiên nhiên. Trong bát ngát cây xanh đó là đài tưởng niệm Washington, đài tưởng niệm Jefferson, đài tưởng niệm Lincohn, đài tưởng niệm Theodor Roosevelt, đài tưởng niệm Franklin Roosevelt, đài tưởng niệm Martin Lutherking, đài tưởng niệm Lindon B. Johnson… Tất cả những cung điện, đền đài của lịch sử, của chính trị thủ đô nước Mỹ như đều soi bóng xuống dòng sôngPotomactrong xanh.
Đi trên cầu Arlington nhìn xuống mặt sông Potomac lấp lánh nắng như một mặt gương, nhìn khối nhà xám năm góc đồ sộ im lìm cạnh sông, tôi cứ ngậm ngùi nhớ đến một lương tri nước Mỹ – anh Norman Morison, và tôi lại nhớ đến câu hát mà ca sĩ lừng danh Trần Khánh hát ngày nào: Hoa Thịnh Đốn chiều nay bỗng bùng lên cháy đỏ / Cháy từ thân thể anh Morison…  Morison đã đến bên sông Potomac trước cổng tòa nhà Năm Góc đốt mình lên thành ngọn đuốc phản đối chính phủ Mỹ tiến hành cuộc chiến tranh ViệtNam. Phản đối cuộc chiến tranh mang chết chóc, tai họa cho nước Mỹ, ngọn lửa Morison là ngọn lửa của lương tri nước Mỹ, của lịch sử nước Mỹ mà nơi ngọn lửa ấy cháy lên không có một dấu ấn ghi nhận! Hay có mà tôi không biết?
Cánh rừng rộng lớn phía bên trái dòng sông Potomac là khu tưởng niệm ba cuộc chiến tranh thế giới mà nước Mỹ đã tham chiến: Chiến tranh thế giới thứ hai, Chiến tranhKorea, Chiến tranh ViệtNam. Khu tưởng niệm chiến tranh ViệtNamrộng lớn nhất, nội dung phong phú nhất và cũng gợi nhiều suy nghĩ bùi ngùi nhất. Tên tuổi hơn năm mươi tám ngàn lính Mỹ chết trong cuộc chiến tranh Việt Nam được khắc chìm trên tấm bia đá hoa cương đen nguyên khối dài 75 mét, cao hơn 2 mét và được in trong tập sách dày đặt trên giá bên lối đi, trước tấm bia. Mặt trước tấm bia đá là tên những người lính xấu số. Mặt sau bia là gò đất dài xanh mướt cỏ mùa xuân như một nấm mồ lớn. Những trang sách ghi tên người lính Mỹ chết trận ở ViệtNamdù được bọc nilông cũng đã nhàu nhĩ, sờn cong vì đã có hàng triệu lượt người lật giở tìm tên người thân. Tên những người lính Mỹ khắc trên bia đá kia, in trong tập sách dày kia còn mãi với thời gian, còn mãi với lịch sử nước Mỹ, còn mãi trong lòng nước Mỹ, còn mãi trong tình yêu của lớp lớp thế hệ con cháu họ. Nhiều người xương cốt còn nằm lại đâu đó trong lòng đất ViệtNamnhưng tên của họ đã trở về khắc vào lòng nước Mỹ.
Tôi có người cậu ruột, em trai thứ ba của mẹ tôi, là bộ đội Vệ Quốc Đoàn đã hi sinh trong kháng chiến chống Pháp, cậu Nguyễn Bá Thứ. Bà ngoại tôi đã nhận được tấm bằng Tổ Quốc Ghi Công ghi tên cậu tôi nhưng đến những trận bom đánh phá miền Bắc của không quân Mỹ, bà ngoại tôi phải rời thành phố đi sơ tán. Thành phố có ngôi nhà của bà ngoại tôi bị đánh bom. Tấm bằng Tổ Quốc Ghi Công ghi tên cậu tôi không còn nữa! Đến nay nắm xương tàn của cậu tôi không biết vùi ở nơi đâu và cũng không có tấm bia nào ghi tên cậu! Cậu Thứ ơi, thôi cháu đành ghi tên cậu trong bài viết về tấm bia liệt sĩ cũa nước Mỹ vậy!
Tên thành phố Philadelphia của nước Mỹ cũng giống như tên vùng đất Lâm Thao, Phú Thọ của Việt Nam vì Philadelphia chính là thủ đô dựng nước của nước Mỹ giống như Lâm Thao là thủ đô dựng nước của Việt Nam. Thủ đô thời dựng nước của Việt Nam nay chỉ còn ngôi đền thờ Vua Hùng quanh  năm hương khói, chỉ còn truyền thuyết về chín mươi chín ngọn núi là đàn voi chín mươi chín con chầu về đền Hùng. Chỉ có chín mươi chín con voi thôi vì một con quay đi hướng khác có ý phản nghịch liền bị Vua Hùng chém đầu, nay máu voi còn chảy là dòng suối ở chân núi! Chỉ còn cái tên Thậm Thình của một làng quê bên đền Hùng, nơi có tiếng chày thậm thình giã gạo từ thời Vua Hùng. Tiếng chày giã gạo của Lang Liêu làm bánh chưng, bánh dày dâng lên Vua Hùng. ỞPhiladelphiacòn cả không gian lịch sử, còn cả không khí lịch sử, hơi thở lịch sử, còn cả viên gạch đỏ, phiến đá xanh mang hơi ấm lịch sử thời dựng lên nước Mỹ.
Không gian lịch sử là tòa nhà chính quyền bang Pennsylvania được xây dựng từ năm 1732, đến năm 1776 sôi động trở thành nhà làm việc của năm thành viên trong hội đồng soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ và ngày 6.7.1776, George Washington, một trong năm thành viên đó đã đứng trên vỉa hè trước tòa nhà hướng ra dân chúng đông đúc trên bãi cỏ rộng bên kia đường đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Mỹ. Ba năm sau, Washington được người dân bầu làm Tổng thống Mỹ đầu tiên. Tòa nhà lịch sử được xây bằng những viên gạch đỏ từ năm 1732 nay vẫn đỏ thắm giữa ngàn xanh cổ thụ và được gọi là dinh Độc lập, Independence Hall. NayWashingtonvẫn đứng nơi ông đã đi vào lịch sử, không lễ đài chót vót, không khoảng cách với người dân, tượng đồngWashingtonđứng ngay trên hè đường trước dinh Độc lập. Đoạn đường trước mặt ông vẫn lát những phiến đá xanh cổ mà tuổi những phiến đá đó chắc chắn còn cao hơn tuổi nước Mỹ. Bên kia đường trước mặt ông vẫn là thảm cỏ rộng, nơi những người dân Mỹ đã đứng ngây ngất hít thở không khí tự do thiêng liêng đầu tiên, sung sướng uống từng lời Tuyên ngôn Độc lập rồi vươn vai đứng thẳng người lên làm công dân nước Mỹ độc lập. Hơi thở lịch sử là tiếng ngựa hí, là tiếng vó ngựa lóc cóc trên con đường lát đá phiến kéo cỗ xe bốn bánh cổ kính. Khách du lịch bỏ ra mười dollars sẽ được lên xe đi một vòng trên những đường phố yên tĩnh, vắng vẻ, ngắm nhìn thành phốPhiladelphiavừa cổ kính vừa hiện đại. Không khí lịch sử là hàng người nối dài trên con đường xi măng cuối bãi cỏ rồi từng đợt, từng đợt được đón vào tòa nhà Liberty Bell chiêm ngưỡng quả chuông cùng tuổi với Tuyên ngôn Độc lập, cùng tuổi với nước Mỹ đã gióng lên tiếng chuông tự do gọi những chính khách đầu tiên của nước Mỹ đến dinh Độc lập biên soạn ra các văn kiện lịch sử định hình lên nước Mỹ, gọi dân chúng Philadelphia thay mặt cho người dân mười ba bang đầu tiên của nước Mỹ đến dinh Độc lập tham dự vào những sự kiện lịch sử buổi lập nước.
Trong những vật chứng lịch sử Mỹ ở đây: Tượng đồng Washington, Dinh Độc lập, Quả chuông Tự do, Liberty Bell, tôi đánh giá cao nhất những ngọn cỏ bình dị đã xanh từ trong thăm thẳm lịch sử nước Mỹ đến hôm nay và còn xanh mãi đến mai sau. Phải có ý thức dân tộc cao, phải biết trân trọng lịch sử đất nước lắm mới biết nâng niu giữ gìn từng ngọn cỏ lịch sử. Hơn hai trăm năm rầm rộ, hối hả công nghiệp hóa, đô thị hóa mà giữa thành phốPhiladelphiavẫn còn lại bãi cỏ từ ngày Độc lập năm 1776! Chỉ mấy ngọn cỏ bình dị kia cũng nói được tầm văn hóa và tấm lòng với nước, với dân của một chính quyền! Tôi lại xót xa nhớ đến những chứng tích hùng hồn của lịch sử và những tài sản vô giá của văn hóa Việt Nam đã bị những quyền lực giai cấp, bị những nghị quyết thiển cận đập phá, xóa bỏ. Phá đàn Nam Giao ở cố đô Huế! Xóa sổ hội trường Ba Đình ở thủ đô Hà Nội! Tượng đá nàng Tô Thị ôm con ngóng chồng ở Lạng Sơn bị cho vào lò nung vôi! Những viên gạch mộc của thế kỉ mười sáu xây nên thành nhà Mạc cổ kính ở Tuyên Quang bị đập bỏ để xây lại bằng vật liệu hào nhoáng của thế kỉ hai mươi!… Với tầm văn hóa đó của quyền lực, những giá trị lịch sử, văn hóa ViệtNam sẽ còn tiếp tục bị đập phá! Rồi những gì sẽ bị phá bỏ nữa? Tôi rùng  mình kinh hoàng! Để xóa đi nỗi buồn, tôi đi dạo trên con đường vắng bao quanh tòa nhà Độc lập. Ngắm những viên đá xanh lát trên đường, ngắm màu gạch đỏ trên tường nhà, nhìn những tia nắng sớm chiếu qua vòm lá như rắc hoa trắng lung linh trên đường, nghe ngọn gió cổ xưa rì rào trên vòm đại thụ, tôi tưởng như đang đi trong buổi bình minh của nước Mỹ.

3. Kỳ quan Mỹ
Lịch sử Mỹ do những trái tim người Mỹ yêu tự do viết lên. Cảnh quan nước Mỹ hôm nay cũng do những người Mỹ tự do đó xây cất lên. Bàn tay tạo hóa không tạo cho nước Mỹ những kỳ quan thiên nhiên, những kiệt tác của Trời thì bàn tay người Mỹ, trí tuệ người Mỹ đã thay tạo hóa làm nên những kỳ quan Mỹ, những kiệt tác Mỹ.
Kỳ quan Mỹ là những tòa nhà tháp nâng con người lên với trăng sao. Đất nước gần mười triệu cây số vuông trải rộng từ Thái Bình Dương sang Đại Tây Dương, dân số chỉ nhỉnh trên ba trăm triệu người, mật độ dân số chỉ hơn ba mươi người sống trên một cây số vuông. Trong khi con số đó ở ViệtNamlà gần ba trăm người, ở Trung Hoa là một trăm năm mươi người. Đất đai bằng phẳng, rộng rãi, dân cư thưa thoáng, vậy mà người Mỹ vẫn sáng tạo ra những tòa nhà chọc trời. Những tòa tháp kính lấp lánh như khối kim cương sừng sững vươn lên trời xanh về ban ngày. Những tòa tháp ánh sáng lung linh trong thăm thẳm vũ trụ về ban đêm. Không phải vì nước Mỹ thiếu đất, những tòa tháp đó mọc lên để tạo ra kỳ quan Mỹ, mang tầm vóc, tư thế nước Mỹ, mang triết lý làm chủ của tư duy Mỹ!
Kiến trúc Hy Lạp – La Mã cổ đại với những cột tròn cao vút uy nghi. Kiến trúc Pháp có cùng triết lí với kiến trúc cổ điển Việt Nam: Coi trọng thiên nhiên, hài hòa với thiên nhiên, thiên nhiên tham gia vào kiến trúc, là một phần không thể thiếu của kiến trúc, đường nét kiến trúc uyển chuyển, duyên dáng, tinh tế của tiết tấu cuộc sống thong thả, chậm rãi. Những tòa nhà tháp chế ngự thiên nhiên, làm chủ thiên nhiên ở các thành phố Mỹ là phong cách kiến trúc của những con người tự do, được giải phóng khỏi mọi ràng buộc, vươn vai đứng thẳng lên làm chủ vận mệnh, làm chủ thời đại, một thời đại của tốc độ cao, của tiết tấu cuộc sống công nghiệp gấp gáp, dồn dập, vì thế đường nét, hình khối kiến trúc cũng đơn giản nhất, thanh thoát, mạch lạc, dứt khoát. Những tòa tháp mang triết lí làm chủ của tư duy Mỹ, mang tâm hồn tự do Mỹ, mang í chí chinh phục Mỹ đã tạo ra không gian Mỹ, cảnh quan Mỹ, nhịp sống Mỹ.
Khi phần lớn những ngôi nhà ở châu Á, châu Phi nông nghiệp còn là tường đất, mái lá, con người vẫn còn phải ẩn trong đất, núp trong cây, châu Âu công nghiệp vẫn còn say sưa với kiến trúc dựa vào sắt thép trần trụi, say sưa dựng lên những tòa tháp ngạo nghễ sắt thép như tháp Eiffel ở Paris, cất năm 1889, những cây cầu trập trùng sắt thép như cầu Long Biên ở Hà Nội mà người Pháp gọi là cầu Doumer cất lên năm 1899 thì nước Mỹ đã đi đầu cất lên những building, những tòa tháp bê tông chất ngất. Tòa thị chính thành phố Milwaukee 30 tầng cao 107 mét xây năm 1895.Tòa nhà ParkRow ở New York 30 tầng cao 119 mét xây năm 1899. Tòa tháp Singer ở New York, 47 tầng cao 187 mét xây năm 1908… còn bền vững đến hôm nay. Người từ khắp nơi trên thế giới đến tòa tháp đôi World Trade Center, WTC, Trung tâm Thương mai Thế giới ở New York, 110 tầng, cao 417 mét không phải chỉ để mua sắm những mặt hàng cao cấp nổi tiếng thế giới mà còn để chiêm ngưỡng kỳ quan Mỹ, ngắm nhìn không gian Mỹ, hít thở không khí Mỹ, cảm nhận nhịp đập cuộc sống Mỹ. Ngày 11.9.2001, Bin Laden đánh sập tòa tháp đôi WTC. Mười năm sau tôi đến New York đi ngang qua công trường xây dựng lại WTC chỉ thấy nghễu nghện những cần cẩu, ngổn ngang những khối máy mà rất ít bóng người và tòa tháp đã lên tầng thứ sáu.
Kỳ quan Mỹ là hòn đảo Nữ thần Tự do ở cửa biểnNew Yorkmà người từ mọi miền trái đất tìm đến đây còn đông hơn cả số người đổ về Trung tâm Thương mại Thế giới. Dù tượng Nữ thần Tự do không phải là sáng tạo của người Mỹ. Tượng là tác phẩm của Kiến trúc sư Frederic Bartholdi, người Pháp, là quà tặng của nước Pháp tặng nước Mỹ, quà của những người mang lí tưởng Nhân quyền và Dân quyền tặng những người mang lí tưởng Tự do. Tượng đã trở thành phần hữu cơ của hòn đảo ở cửa biến New York, là phần hưu cơ của núi sông biển trời nước Mỹ. Cả hòn đảo Tự do, tên cũ là đảo Bedloe, là tác phẩm nghệ thuật kết hợp hài hòa giữa sự sáng tạo của tự nhiên và sự sáng tạo của con người. Để đặt tượng Nữ thần Tự do cao bốn mươi sáu mét, trí tuệ và bàn tay người Mỹ đã biến hòn đảo nhỏ như còn trôi dạt, còn biến đổi hình dạng trước sóng gió biển lớn phía Tây trái đất thành hòn đảo rộng rãi, vững chãi, thành một địa chỉ văn hóa của loài người. Thiên nhiên sáng tạo cho nước Mỹ biển trời lộng lẫy ở cửa biển New York, lại sáng tạo cho nước Mỹ hòn đảo nhỏ trần trụi như tòa nhà mới xây xong phần thô giữa nơi biển trời lộng lẫy đó để người Mỹ tiếp tục sáng tạo, biến ngôi nhà thô thành tòa lâu đài nguy nga. Tượng Nữ thần Tự do giơ cao ngọn đuốc soi sáng thế giới đặt ở nơi biển trời lộng lẫy như cõi thiên thai mà loài người vẫn ước vọng, vẫn khắc khoải hướng tới.
Mười lăm phút một chuyến phà đầy ắp người tách bếnNew Yorksang đảo Tự do. Tôi nhìn dòng người đủ màu da, từng cặp, từng tốp chân bước lâng lâng trên hòn đảo Tự do nhưng tôi biết cảm nhận về tự do của mỗi người sẽ rất khác nhau. Những cô gái da trắng, da đen ríu rít đi theo đoàn của một trường trung học Mỹ kia, họ chẳng cần bận tâm về tự do, vì với họ tự do là lẽ đương nhiên, bình thường của xã hội họ đang sống. Thời ông bà họ phải đấu tranh đổ máu giành tự do đã lùi xa mấy trăm năm rồi. Nhưng hai thanh niên người Trung Hoa có vẻ là sinh viên du học đang đứng lặng ngắm nhìn tượng Nữ thần Tự do kia, sao vẻ mặt họ bần thần thế? Có phải nhìn tượng Nữ thần Tự do họ lại nhớ đến sự kiện cách đây chưa lâu: Sinh viên Bắc Kinh biểu tình ở Thiên An Môn đòi tự do dân chủ bị xe tăng quân đội tràn qua, nghiến nát nhiều sinh viên? Tôi nhận ra chim biển ở đây nhiều quá. Chúng bay rợp trên trời. Nhiều con đậu thành hàng dài trên bờ kè đá mép đảo. Tôi đã đứng giữa đàn chim biển ở đảo Phan Vinh trong quần đảo Trường Sa của ViệtNamở Thái Bình Dương. Ngày ấy tôi đi với đơn vị hải quân đổ bộ lên giữ đảo. Lũ chim biển nhìn những con người lần đầu tiên xuất hiện trên đảo với vẻ bình thản, thân thiện, lính đứng gác, chim xà xuống đậu trên mũ lính. Nhưng khi mỗi con chim biển trở thành hai, ba cân thịt tươi trong bữa ăn kham khổ hàng ngày của lính đảo thì từ đó lũ chim biển hoang sơ nhìn thấy bóng con người đều hốt hoảng, tránh xa! Tượng Nữ thần Tự do khánh thành ngày 28 tháng mười, năm 1886. Từ đó hơn một thế kỉ đã trôi qua, ngày nào trên đảo cũng nườm nượp người như lễ hội mà bây giờ tôi đến sát mấy con chim biển đứng mép kè đá, chúng vẫn bình thản nhìn tôi thân thiện. Ở đây có cả luật pháp của nhà nước và tập quán của người dân bảo vệ những con chim biển hoang sơ, bảo vệ cuộc sống tự do mưu sinh của chúng nên chúng mới có phong thái ung dung, tự tin, bình đẳng với con người đến thế! Nhìn những con chim biển được sống tự do, hòa thuận bên những con người xa lạ, tôi lại chạnh nhớ đến cuộc sống mất tự do của tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ trong ngục tù Hà Nội. Bao giờ người dân ViệtNammới được pháp luật bảo vệ như những con chim biển ở hòn đảo Tự do này nhỉ?
Kỳ quan Mỹ là hệ thống giao thông chiếm lĩnh cả chiều rộng và chiều cao không gian. Có tới năm, bảy con đường bê tông xi măng song song cạnh nhau cùng một hướng. Mỗi con đường lại có hàng chục làn ô tô cuồn cuộn chảy. Nơi những con đường giao nhau, mặt phẳng nằm ngang chuyển thành mặt phẳng thẳng đứng. Năm, bảy con đường thành năm, bảy tầng cầu vượt. Mỗi con đường như một dải lụa bị gió thổi tung lên, uốn lượn, đan xen vào nhau. Nơi có đường giao nhau kì vĩ nhất thế giới là ở thành phố Houston bang Texas.  Mười con đường, mười dải lụa mềm mại uốn lượn lồng vào nhau, uyển chuyển, thướt tha như một màn múa, nhịp nhàng, dìu dặt như một giai điệu âm nhạc.
Các điểm du lịch kỳ thú nhất ở ViệtNam đều là các kỳ quan thiên nhiên.SaPa.Tam Đảo. Vịnh Hạ Long. Chùa Hương. Tam Cốc. Bích Động. Sầm Sơn. Phong Nha Kẻ Bàng. Non nước Hải Vân. Kênh rạch miền TâyNamBộ… Ngược lại, làm nên sức hấp dẫn của nước Mỹ với thế giới đều là những kỳ quan do con người tạo ra. Tạo ra bằng trí tuệ Mỹ. Tạo ra bằng tiền thuế của người dân Mỹ nên người dân Mỹ đều có ý thức làm chủ các kỳ quan đó và mỗi kỳ quan đều có một chủ thể có trách nhiệm trước dân Mỹ và có tầm văn hóa tương xứng với giá trị văn hóa mà họ là chủ thể nên kỳ quan trước hết được khai thác ở giá trị văn hóa. Mỗi ngày có cả chục ngàn khách đến đảo Nữ thần Tự do nhưng ở đó không có một mẩu giấy, một bịch ni lông rác thải, không có một hàng chữ lạc lõng của những kẻ văn hóa thấp lại muốn lưu tên tuổi vào thời gian cùng kỳ quan! Không có một âm thanh của con người phá mất âm thanh dào dạt, mênh mang của thiên nhiên. Ở những kỳ quan Mỹ chỉ có nườm nượp khách viếng thăm và sự lặng lẽ, tất bật, tận tụy của những người phục vụ khách. Hoàn toàn không có những thành phần ăn theo. Không có người bán hàng rong! Không có người đeo bám, chèo kéo khách mua đồ lưu niệm! Không có một tiếng loa, một bảng hiệu. Không một bóng người ăn xin. Ở Mỹ không phải không có người ăn xin. Một tối muộn, vừa từ nhà hàng trên tòa tháp quay ở Dallas bước ra phố, tôi thấy người đàn bà da đen cao gầy như mốt người mẫu một thời, bên sườn chiếc túi du lịch nhưng dáng đi vật vờ đến đứng lại trước con gái tôi. Bà ta hỏi xin tiền con gái tôi. Người ăn xin trong đêm tối, trong âm thầm, trong đơn lẻ, không kéo đàn kéo lũ, không bày biện, phô trương sự khốn cùng, không trơ tráo đeo bám!
Ngành du lịch ở ta ăn sẵn kỳ quan thiên nhiên. Coi kỳ quan của đất nước là của chùa, mọi ngành, mọi người xúm vào khai thác kỳ quan, kinh doanh kỳ quan, ăn theo kỳ quan chỉ vì giá trị vật chất của ngành, của cá nhân,  không vì giá trị văn hóa của đất nước. Mỗi kỳ quan đều là một giá trị văn hóa. Không có chủ thể có tầm văn hóa tương xứng để quản lý, bảo vệ, khai thác giá trị văn hóa của kỳ quan, các kỳ quan thiên nhiên ở ta đều bị thương mại hóa, dung tục hóa, đều bị xâm hại, tàn phá nghiêm trọng và bị những thẩm Mỹ thô thiển tùy tiện can thiệp, xây cất thêm làm cho méo mó, biến dạng, làm mất vẻ đẹp nguyên sơ của kỳ quan thiên nhiên! Nếu tầm văn hóa là ở bằng cấp, học hàm, học vị thì có lẽ công chức ViệtNamcó tầm văn hóa cao nhất thế giới! Nhưng cứ nhìn vào việc quản lý các hoạt động văn hóa và quản lý các công trình văn hóa ở ta thì mới thấy tầm văn hóa ở những  nhà quản lý đó thảm hại đến thế nào.
(Còn tiếp)

Phạm Đình Trọng


Quyền và bổn phận



Xã hội nào cũng được xây dựng trên hai trụ cột chính: quyền và bổn phận. Tuy nhiên, sự phân phối giữa hai yếu tố này hầu như chưa bao giờ thực sự quân bình và hợp lý. Lúc nào chúng cũng ở trạng thái tranh chấp. Chính những sự tranh chấp ấy đã vẽ nên tấm bản đồ và cũng là lịch sử của các nền chính trị trên thế giới.
Nói một cách tóm tắt, đặc điểm nổi bật nhất của các chế độ chuyên chế là giành phần quyền về phía giới thống trị và đổ hết phần bổn phận xuống cho những người bị trị. Ví dụ, ngày xưa, vua chúa, nhất là vua, hầu như nắm trong tay mọi thứ quyền. Quyền được coi tài sản của cả nước là tài sản của mình. Quyền được hưởng thụ, kể cả hưởng thụ một cách trụy lạc, bất chấp mọi nguyên tắc luân lý được chính họ truyền dạy. Quyền được ra lệnh, dù là những mệnh lệnh cực kỳ ngu dốt. Quyền sinh sát đối với mọi người. Không ai dám đòi hỏi bổn phận gì từ vua cả. Bổn phận được xem là chuyện của dân chúng. Bổn phận phải đóng thuế, phải phục dịch và phải vâng lời. Vâng lời trong mọi trường hợp, kể cả lúc nhà vua, trong một cơn say rượu nào đó, ra lệnh mình…tự thắt cổ chết: “Quân sử thần tử, thần bất tử bất trung”.
Chế độ dân chủ, ngược lại, nhấn mạnh vào quyền. Không phải quyền của những người cai trị mà là của những người bị trị. Không phải ngẫu nhiên mà các chế độ dân chủ đầu tiên trên thế giới hầu như ra đời cùng lúc với các bản tuyên ngôn về nhân quyền, trong đó, những quyền được xem là căn bản nhất là: quyền sống một cách tự do và bình đẳng. Những quyền căn bản này cũng là những quyền tối thượng: chúng thuộc về con người trước khi là công dân, do đó, chúng có tính chất phổ quát và bất khả xâm phạm. Chúng được áp dụng cho mọi người bất kể màu da, tôn giáo, đẳng cấp và phái tính. Chúng trở thành nền tảng của mọi thứ quyền khác và cũng là nền tảng để xây dựng một chế độ thực sự dân chủ. Càng ngày các thứ quyền ấy càng được cụ thể hóa và thiết chế hóa, bao gồm nhiều lãnh vực khác nhau, từ chính trị đến kinh tế, văn hóa và xã hội. Nhìn vào các thứ quyền ấy, điều nổi bật và dễ thấy nhất là phần lớn chúng đều gắn liền với ý niệm tự do: tự do phát biểu, tự do tụ tập, tự do hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại, tự do ứng cử, tự do làm ăn buôn bán, v.v…
Dĩ nhiên, quyền đi liền với bổn phận. Các bổn phận thường được nhắc nhở nhất là bổn phận đối với đất nước, với xã hội, với gia đình, bao gồm cả bổn phận nuôi dạy con cái ở tuổi vị thành niên (độ tuổi thay đổi theo từng nước). Bao trùm lên tất cả là bổn phận tuân thủ luật pháp: Có thu nhập thì phải đóng thuế; đi ra đường (kể cả đi bộ!) thì phải giữ đúng luật đi đường; đến ngã tư, thấy đèn đỏ thì phải dừng xe lại cho dù có cảnh sát hay không, v.v…
Điều cần chú ý là, ở Tây phương, hai khái niệm quyền và bổn phận thường có quan hệ mật thiết với nhau. Không có quyền nào lại không gắn liền với một bổn phận nhất định. Ví dụ: quyền tự do tụ tập. Ở Tây phương, ai cũng có thể rủ bà con, anh em, bạn bè về nhà mình ăn nhậu, hát hò thoải mái thâu đêm suốt sáng. Chẳng cần phải xin phép công an khu vực như ở Việt Nam ngày trước. Tuy nhiên, ở đây, người ta phải có bổn phận với người khác: sau 10 giờ tối thì mọi âm thanh đều phải điều chỉnh lại cho… vừa đủ nghe để không làm phiền đến giấc ngủ của hàng xóm. Ồn quá, người ta có thể gọi cảnh sát. Ngay cả việc biểu tình cũng vậy. Muốn chống ai thì cứ việc xuống đường biểu tình. Tự do. Nhưng mọi người lại có bổn phận không gây trở ngại cho việc giao thông của người khác. Để hòa giải giữa hai thứ quyền này (quyền biểu tình và quyền giao thông), cảnh sát thường đòi hỏi những người tổ chức biểu tình phải đăng ký trước là vì thế. Để họ có thể tái phối trí các hướng giao thông hầu bảo đảm trật tự và an ninh cho mọi người. Vậy thôi.
Nói đến bổn phận mà không nói đến quyền là độc tài. Nói đến quyền mà không nói đến bổn phận là ích kỷ về phương diện đạo đức, vô chính phủ về phương diện chính trị, và thật ra, vô nghĩa cả về phương diện luận lý lẫn phương diện thực tiễn.
Một xã hội lành mạnh là xã hội kết hợp cả quyền lẫn bổn phận. Giữa xã hội này và xã hội khác chỉ khác nhau ở sự cân đối. Có một số xã hội nhấn mạnh vào khía cạnh bổn phận (duty-centred society) và có một số xã hội nhấn mạnh vào quyền (right-centred society). Phần lớn các quốc gia phát triển nhất ở Tây phương hiện nay, đứng đầu là Mỹ, đều là những xã hội nhấn mạnh vào quyền. Không phải ai cũng hài lòng về điều đó. Người ta nhận thấy việc quá nhấn mạnh vào quyền cũng gây khá nhiều vấn đề: ở đâu cũng có kiện cáo và ý thức trách nhiện với cộng đồng bị sút giảm nghiêm trọng.
Đó là những chuyện trên lý thuyết và đặc biệt ở Tây phương. Còn ở Việt Nam thì sao?
Thì quyền vẫn là chuyện của giới lãnh đạo.
Và bổn phận vẫn là chuyện của quần chúng.
So với thời vua chúa ngày xưa, trên rất nhiều phương diện, quan hệ giữa quyền và bổn phận cũng chẳng có thay đổi bao nhiêu. Trừ trên giấy tờ.

Nguyễn Hưng Quốc

Nam Bắc


Nam Bắc
 

Phạm tội học là môn khoa học nghiên cứu hiện tượng phạm pháp, nguyên nhân, hoàn cảnh phát sinh các loại tội phạm; diễn tiến và tính chất các tội phạm; và biện pháp ngăn ngừa. Môn học cũng đề cập đến thái độ, ứng xử của cá nhân và xả hội đối với tội phạm. Bài học khi xưa có hai nhận xét liên quan đến Nam Bắc. Đó là:
- loại tôi phạm xảy ra ở miền Bắc có hơi khác biệt với loại tội phạm xảy ra ở Nam, và
- miền Bắc là nơi tập trung quyền lực chính-trị, kinh-tế, và văn hoá. 
Những nhận xét nầy có tính cách tổng quát và thường có ngoại lệ.

Khoảng đầu thế kỷ 20 bên Pháp, các nhà nghiên cứu và phân tích về tội phạm cho rằng những tội về tài sản, có tính cách tính toán, lừa đảo như lường gạt và biển thủ tương đối xảy ra nhiều hơn ở miền Bắc. Những tội dùng bạo lực như hành hung và ấu đả thường xảy ra nhiều hơn miền Nam. Lý do đưa ra là vì kinh-tế, thương mại, và kỷ nghệ ở miền Bắc được mở mang phát triển nhiều hơn miền Nam. Để hổ trợ cho sự phát triển đó, các hệ thống ngân hàng, tài chánh, thương-mại, và bảo hiểm cũng đã được nâng cấp. Khi số tiền của các thương vụ lên cao và số lượng dịch vụ gia tăng thì lại tạo ra nhiều cơ hội cũng như cám dỗ đưa đến phạm pháp nơi thương trường. 

Ngoài ra khí hậu của mỗi miền cũng ảnh hưởng và tạo điều kiện thuận tiện cho một số tội phạm. Như trong nước Pháp, Paris ở vào miền Bắc. Mùa đông trời lạnh, người dân ít ra đường, nên việc ấu đả ngoài công cộng vào những tháng lạnh cũng giãm bớt. Miền Nam Marseille thì khác. Dù là mùa đông, khí hậu vẫn dễ chịu, về đêm một số người vẫn la cà ngoài phố và nhậu nhẹt say sưa, nên tỷ lệ tội phạm về hành hung hay ấu đả không thuyên giảm so sánh với những tháng hè. Trong phạm vi rộng lớn hơn, các quốc-gia Bắc Âu-Châu và Bắc Mỹ-Châu cũng có những dữ kiện tương tự khi so sánh các loại tội phạm nói trên với các quốc gia ở vùng phía Nam Âu và Nam Mỹ. 

Ngay cả tội phạm về tình dục cũng có cá tánh khác biệt ở các quốc gia Bắc Âu. Loạn luận giữa thành viên trong gia-đính xảy ra ở vùng Bắc Âu thường xuyên hơn ở vùng Nam. Mùa đông ở những vùng hẻo lánh núi non mà có khi cả tháng không ra khỏi nhà thì phải dễ có chuyện hơn. Do đó luật pháp nhiều quốc gia Bắc Âu có phần dễ dãi về tội nầy. Hoà Lan không truy-tố tội loạn luân khi có quan hệ đồng thuận giữa những người trưởng thành trong gia đình. Thụy Điển còn chấp nhận cho anh chị em khác cha hoặc khác mẹ kết hôn nếu đã trưởng thành (1).

Các nhân xét trên dựa vào dữ kiện trong những thập niên 1930 hay 40 gì đó và không còn đứng vững với sự tiến hoá của xả hội. Ngày nay với nhiều tiến bộ kinh-tế thương-mại thu đạt được ở các quốc gia vùng Nam, phương tiện di-chuyển giao-thông nhanh chóng, máy lạnh, máy sưởi đầy đủ nên tội phạm của con người dù ở phía Nam hay Bắc cũng không khác gì nhau. Loại tội phạm gây ra có khác nhau cũng chỉ vì ảnh hưởng kinh-tế, gia-đình, giáo dục, hoặc đạo giáo chớ không vì lý do Nam hay Bắc. Theo thống kê (2) thì các loại tội phạm có tính cách bạo động như giết người, hảm hiếp xảy ra đồng đều mọi nơi và không nhất thiết là phải nhiều hơn ở miền Nam.

Phạm tội học ngày xưa có chưong nói thông thường miền Bắc là nơi trung-tâm chính-trị, kinh-tế, và văn hoá đất nước. Thủ đô của một quốc gia thường nằm ở phía Bắc. Ngày nay, sự kiện nầy vẫn không thay đổi. Năm quốc gia có quyền phủ quyết tại Liên Hiệp Quóc là Hoa-Kỳ, Nga, Anh, Pháp, và Trung-Hoa. Bốn trong số năm quốc gia nầy có thủ phủ nằm về phương Bắc. Đó là Washington DC của Hoa-Kỳ, Moscow của Nga, Paris của Pháp, và Beijing của Trung Hoa. Chỉ có London là ở phía Nam Anh quốc. Trên đời chẳng có gì là tuyệt đối nên luôn luôn có ngoại lệ.

Thủ đô của mỗi tiểu bang cũng thường nằm về phía Bắc. Trong số năm tiểu bang đông dân nhất của Hoa-Kỳ, có ba bang có thủ đô nằm về phía Bắc của bang. California có thủ phủ ở Sacramento. Tallahassee của Florida cũng nằm về phía Bắc. Albany của New York cũng vậy. Riêng thủ phủ Austin của Texas và Springfield của Illinois nằm khoảng kề trung tâm tiểu bang.

Năm đại học nổi tiếng nhất Hoa-Kỳ theo US News (3) là Harvard, Princeton, Yale, Columbia, và Stanford. Bốn trường nằm ở miền Bắc Hoa-Kỳ. Đó là Harvard ở Massachusetts, Princeton và Columbia ở New York, và Yale ở Connecticut. Chỉ có Stanford là ở phía Bắc của California. 

Nhóm G6 đầu tiên họp năm 1975 tại Pháp với sáu cường quốc kinh-tế: Pháp, Đức, Ý, Nhật, Anh, và Hoa-kỳ. Đến năm 1997, nhóm nầy trở thành G8 với Gia-nã-Đại và Nga. Tất cả tám quốc gia nầy đều nằm ở vùng Bắc Mỹ, Bắc Âu, Bắc Á và đang nắm thực quyền chính-trị, quân sự, và kinh-tế của thế giới. Có hai quốc gia thuộc phương Nam bán cầu nhưng cũng có đời sống kinh-tế và văn hoá cao, đó là Úc Đại Lợi và Tân Tây Lan. Phần đông quốc dân hai xứ nầy từ Anh và Ái Nhỉ Lan xuống từ vài thế kỷ trước. 

Theo tổng sản phẩm quốc gia và tổng sản phẩm quốc nội trung bình của người dân thì hầu hết các quốc gia Bắc Âu đứng đầu bảng ngoại trừ vài quốc gia nhỏ bé như Qatar, Brunei, và Kuwait (4) giàu có nhờ dầu hoả.

Gần gủi với Việt Nam chúng ta có Trung Hoa phía Bắc. Trên Trung Hoa có Đại Hàn. Việt Nam bị Trung Hoa đô hộ ngàn năm. Đại Hàn (5) cũng nhiều lần bị ngoại bang nhất là Mông Cổ đánh phá nhưng xứ nầy chỉ bị Nhật đô hộ 35 năm và bị Hoa-Kỳ và Nga chiếm đóng 3 năm sau đệ nhị thế chiến. Đại Hàn cũng nhỏ bé như Việt Nam nhưng trong lịch sử cũng đã nhiều lần tiến quân xuống đánh phá hay hà hiếp Trung Hoa. Ngay trong hiện đại, dù bị chia cắt nhưng Nam Hàn vẫn là nước giàu có về mặt kinh-tế theo Qủy Tiền Tệ Quốc Tế. Tính trên tổng sản phẩm quốc nội trung bình cho mỗi người dân, về mãi lực, người Nam Hàn đứng hạng 25 trên 183 quốc gia trong năm 2010 (6). Bắc Hàn tuy đói rách vì theo chủ thuyết kinh-tế chỉ huy của Cộng Sản nhưng vẫn là môt quốc gia có vũ khí hạt nhân (7) và không dễ bị hà hiếp.

Nói tóm lại, miền Bắc vẫn là nơi tập trung quyền lực chính-trị, kinh-tế, và văn hoá. Mỗi lần nghe “Mong sao nước Việt đời đời, anh dũng oai hùng chen chân thế giới” của Nguyễn văn Đông, người Việt nào cũng thầm mơ ước được như vậy. Nhưng nếu nhìn quá khứ và hiện tại của đất nước và con người đề đoán tương lai, chắc ít có ai lạc quan mà chỉ mong vào bốn chử “hồn thiêng sông núi” nhất là khi nghĩ đến bọn giặc Tàu tham lam phương Bắc. 

Người Nam9/9/2011
(1) //news.bbc.co.uk/2/hi/6424337.stm
//en.wikipedia.org/wiki/Incest
(2) //www.nationmaster.com/graph/cri_rap_percap-crime-rapes-per-capita
(3) //colleges.usnews.rankingsandreviews.com/best-colleges/rankings/national-
universities
(4) //en.wikipedia.org/wiki/List_of_countries_by_GDP_(PPP)_per_capita
(5) //afe.easia.columbia.edu/webcourse/key_points/korea_timeline.htm
(6) //en.wikipedia.org/wiki/List_of_countries_by_GDP_(PPP)_per_capita 
(7) //www.scribd.com/doc/32815792/List-of-States-With-Nuclear-Weapons
//www.armscontrol.org/factsheets/Nuclearweaponswhohaswhat

Chuyển ngữ Bắc và Nam



Vô Danh
LTS: Tiếng Việt vốn là một sinh ngữ nên mỗi vùng nói một lối khác nhau. Ðây là một trong những yếu tố phong phú của ngôn ngữ. Bài viết này công phu ở chỗ vần vè, tuy có đôi chỗ chưa được “đắt ý” cho lắm nhưng chúng tôi cứ đăng lên để chúng ta cùng thưởng thức.

Bắc bảo Kỳ, Nam kêu Cọ (gọi là Kỳ Cọ)
Bắc gọi lọ, Nam kêu chai
Phụ nữ Nam Phần Việt Nam, hồi nửa đầu thế kỷ 20.
Bắc mang thai, Nam có chửa
Nam xẻ nửa, Bắc bổ đôi

Ôi! Bắc quở Gầy, Nam than Ốm
Bắc cáo Ốm, Nam khai Bịnh
Bắc định đến muộn, Nam liền la trễ
Nam mần Sơ Sơ, Bắc làm lấy lệ

Bắc lệ tuôn trào, Nam chảy nước mắt
Nam bắc Vạc tre, Bắc kê Lều chõng
Bắc nói trổng Thế Thôi, Nam bâng quơ Vậy Ðó
Bắc đan cái Rọ, Nam làm giỏ Tre,

Nam không nghe Nói Dai, Bắc chẳng mê Lải Nhải
Nam Cãi bai bải, Bắc Lý Sự ào ào
Bắc vào Ô tô, Nam vô Xế hộp
Hồi hộp Bắc hãm phanh, trợn tròng Nam đạp thắng

Khi nắng Nam mở Dù, Bắc lại xòe Ô
Ðiên rồ Nam Ði trốn, nguy khốn Bắc Lánh mặt
Chưa chắc Nam nhắc Từ từ, Bắc khuyên Gượm lại
Bắc là Quá dại, Nam thì Ngu ghê

Nam Sợ Ghê, Bắc Hãi Quá
Nam thưa Tía Má, Bắc bẩm Thầy Bu
Nam nhủ Ưng Ghê, Bắc mê Hài Lòng
Nam chối Lòng Vòng, Bắc bảo Dối Quanh

Nhanh nhanh Nam bẻ Bắp, hấp tấp Bắc vặt Ngô
Bắc thích cứ vồ, Nam ưng là chụp
Nam rờ Bông Bụp, Bắc vuốt Tường Vi
Nam nói: mày đi! Bắc hô: cút xéo.

Bắc bảo: cứ véo! Nam: ngắt nó đi.
Bắc gửi phong bì, bao thơ Nam gởi
Nam kêu: muốn ói, Bắc bảo: buồn nôn!
Bắc gọi tiền đồn, Nam kêu chòi gác

Bắc hay khoác lác, Nam bảo xạo ke
Mưa đến Nam che, gió ngang Bắc chắn
Bắc khen giỏi mắng, Nam nói chửi hay.
Bắc nấu thịt cầy, Nam thui thịt chó.

Bắc vén búi tó, Nam bới tóc lên
Anh Cả Bắc quên, anh Hai Nam lú
Nam: ăn đi chú, Bắc: mời anh xơi!
Bắc mới tập bơi, Nam thời đi lội.

Bắc đi phó hội, Nam tới chia vui
Thui thủi Bắc kéo xe lôi, một mình xích lô Nam đạp
Nam thời mập mạp, Bắc cho là béo
Khi Nam khen béo, Bắc bảo là ngậy

Bắc quậy Sướng Phê, Nam rên Ðã Quá!
Bắc khoái đi phà, Nam thường qua bắc.
Bắc nhắc môi giới, Nam liền giới thiệu
Nam ít khi điệu, Bắc hay làm dáng.

Tán mà không thật, Bắc bảo là điêu
Giỡn hớt hơi nhiều, Nam kêu là xạo.
Bắc nạo bằng gươm, Nam thọt bằng kiếm
Nam mê phiếm, Bắc thích đùa.

Bắc vua Bia Bọt, Nam chúa La-De
Bắc khoe Bùi Bùi lạc rang, Nam: Thơm Thơm đậu phọng
Bắc xơi na vướng họng, Nam ăn mãng cầu mắc cổ
Khi khổ Nam tròm trèm ăn vụng, Bắc len lén ăn vèn

Phụ nữ Bắc phần Việt Nam.
Nam toe toét “hổng chịu đèn”, Bắc vặn mình “em chả”
Bắc giấm chua “cái ả,” Nam bặm trợn “con kia”
Nam mỉa “tên cà chua,” Bắc rủa “đồ phải gió”
Nam nhậu nhẹt thịt chó, Bắc đánh chén cầy tơ

Bắc vờ vịt lá mơ, Nam thẳng thừng lá thúi địt
Khi thấm, Nam xách thùng thì Bắc bê sô
Nam bỏ trong rương, Bắc tuôn vào hòm.
Nam lết vô hòm, Bắc mặc áo quan

Bắc xuýt xoa “Cái Lan xinh lắm!”
Nam trầm trồ “Con Lan đẹp hết chê!”
Phủ phê Bắc trùm chăn, no đủ Nam đắp mền
Tình Nam duyên Bắc, có thế mới bền mới lâu.

THƯ GỬI ÔNG NGUYỄN TẤN DŨNG, THỦ TƯỚNG CHXHCH VIỆT NAM.




                                     
      Viết nhân chuyến Mỹ du của Nguyễn Tấn Dũng.



Lời đầu tiên là một điều minh xác
Thư này được viết với tư cách một công dân
Sinh đẻ tại Việt Nam, lớn lên và lập thân
Rồi đi xa, nhưng vẫn nhớ quê hương ngào nghẹn
Tôi không gửi thư đến ông như một người kiếm chuyện
Làm quen ông, một chức vụ lẫy lừng
Để sau này, có cơ hội tưng bừng
Về đất nước, bon chen, kiếm cháo
Tôi cũng không phải là người táo bạo
Tìm cách gần ông, một triệu phú giầu nhất vùng
Nhất Việt Nam, nhất Đông Á, tài sản nhiều vô cùng
Nếu được ông cho một chút lẻ, cũng tiêu hoài không hết
Những biệt thự Hồ Tây, những công ty hàng may, hàng dệt
Những cổ phần con cháu đứng tên giùm
Vợ lớn, bồ nhí, người yêu, người phục vụ, từng chùm
Một cái chỉ tay, người người cúc cung, tận tụy
Những trương mục rải khắp nơi, Mỹ, Tây, Thụy Sĩ
Tiền cứ vô nhà như thác chẩy vào hồ
Từ hồi 75, khi hành chính còn xô bồ
Đảng đổi tiền, đánh tư sản, cướp tiền dân, bỏ túi
Cả miền Nam, vài chục tỷ đô la, bỗng nhiên, chia dấm dúi
Cho vài chục lãnh đạo, thử hỏi ai chẳng giầu to
Rồi độc quyền thương gia, xí nghiệp, buôn bán vô bờ
Ký một tờ giấy, là tiền vô như nước
Chị Ba nắm vùng này, anh Sáu vùng kia hưởng phước
Có Công An, còng số 8 , súng Aka
Đứa nào ho he, cứ “nhốt chúng cho ta!”
Còn “đồng chí”  thích biệt thự nào, cứ lấy
Trước là làm Trụ sở, sau thì ký giấy
Hóa giá nhà, cho làm chủ khơi khơi
Và thế là, tài sản đất nước mất toi
Một chốc bốc hơi, nước thì nghèo, Đảng thì giầu bự
Thôi, nhưng mà, nói làm chi chuyện cũ
Ba mươi mấy năm rồi, gợi lại, nước mắt nhòa
Tôi chỉ muốn hỏi ông chuyện hiện tại, không xa
Vài câu hỏi, trước khi ông đến Mỹ...
                     ****
Có bao giờ ông nhớ lại thời chống Mỹ
Những mẹ già nhịn đói, nuôi ông
Những người thôn quê, giúp ông vót hầm chông
Củ sắn, củ khoai chia cho ông một nửa
Ông nịnh họ là Mẹ Cách Mạng, Mẹ Chiến Sĩ, Mẹ... gì nữa?
Giờ đây, ông huy hoàng, họ vẫn cứ long đong
Vách lều năm xưa, vẫn rách nát, từ Xuân đến Đông
Mưa vẫn dột, gió vẫn lùa, lạnh giá
Họ chỉ có chút đất ruộng, chút vườn xưa hương hỏa
Mà Đảng ông lại nỡ trưng thâu
Không một chút gì ơn trả cho nhau
Lại táng tận tịch thu, đuổi cổ
Mẹ Chiến Sĩ năm xưa, giờ này, đang khóc khổ
Đứng ngoài đường, làm một lũ “DÂN OAN”
Ông ngồi xe láng đi qua, còi hú vang vang
Không nhìn thấy nước mắt mẹ già ướt phố!
Những chiếc áo rách kia, ở nhà ông, chó không thèm rớ!
Đầy tớ ông, toàn vải ngoại, hàng sang
Những chiếc nón lá kia của lũ “DÂN OAN”
Mong gì thấy trong cầu tiêu ông Tỷ Phú
Ông Thủ Tướng ơi! Đảng ông quá giầu, còn tham chi nữa?
Ông chỉ có hai tay, một cái miệng, một bụng to
Ăn đồ ngon bao nhiêu, cũng chỉ đến lúc no
Sao lại để NHÂN DÂN, “NGƯỜI CHỦ ĐẤT NƯỚC” chết đói?
Có lẽ  các ông chỉ thích xài danh từ le lói
Ủy Ban Nhân Dân, Thư Viện Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân
Trung với Đảng, Hiếu với Dân, Đầy Tớ Nhân Dân...
Mà thực chất, chỉ những Nhân Dân ấy khiếu kiện
Vậy xin ông “Đầy Tớ Nhân Dân” ấy, làm ơn mở lòng từ thiện
Trả lại cho Nhân Dân ruộng đất cắm cái dùi
Một tấc đất thôi, để mưa nắng khỏi dập vùi
Già sắp chết rồi, mong có chỗ trú mưa cho con cháu...
                     ****
Thưa Ông Thủ Tướng, ông đông bồ nhí, lắm con, nhiều cháu
Có khi nào ông nghĩ chúng đứng đường
Mặc quần lòe, áo hở ngực, kệ phong sương
Chụp giật khách qua đường, bán xác
Những đứa bé mới lớn lên, mặt còn ngơ ngác:
“Chú chơi con đi! Con hãy còn trinh!
Miễn sao cho mẹ con, khỏi phải bán máu mình
Có mấy lít máu, bán hoài cũng chết
Em con, đang rửa bao ny lông đựng chuột chết
Đựng bao cao su, máu mủ, băng vệ sinh
Đôi khi đựng cả chân tay người thúi sình
Ruột gan, cơ phận người, bệnh viện vất ra đống rác
Chú ơi! Cả đời con chả biết gì, ngoài rác
Đẻ trên đống rác, và lớn cũng ở đây
Mười mấy năm rồi, con mới bỏ que sắt cầm tay
Đi bán “của trời cho”, mong bữa cơm thay cháo...”
Những em gái khác, con cán bộ, lại là dân chơi bạo
Dư bạc tiền, nên hút, chích, lắc như điên
Thích ngủ lang mà không phải vì tiền
Bố mẹ chúng, Giám Đốc, Bộ Trưởng, quyền uy kinh khiếp
Chúng tha hồ chơi, đứa nào dám ăn hiếp?
Cả họ phải rũ tù, mang chục án làm gương.
Cho nên, cả thành phố, về đêm, đầy gái đứng đường
Ông có thấy nhục không, ông Nguyễn Tấn Dũng?
                     ****
Nếu ông rời đô thành, đến cao nguyên, thung lũng
Đâu đâu cũng có nghề làm gái-không-biên- cương
Phủ Lý, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Hải Dương...
Những địa danh thơ mộng giờ thành ổ đĩ
Một khi con người đói quá, thì không cần suy nghĩ
Có chi bán nấy, giật dọc qua ngày.
Chân Cửu Vạn, tay xe thồ, lưng không bao giờ thẳng ngay
Vì khiêng vác, gái trai, ông già, bà lão
Có những làng, cả ba đời vác gạo
Vượt đồn canh, biên giới, suối khe
Những thân người gầy yếu như cây tre
Chỉ xương cốt, gân xanh, gân đỏ
Có những làng chỉ nghe đàn bà thở
Vì đàn ông chết ráo đâu rồi
Đào vàng, đi ăn mày, tìm trầm, chết dưới vực khơi
Nên đêm tối, tiếng thở dài như bão nổi
Những cô gái chỉ mong một đời có lần trao đổi
Tấm băng trinh lấy chút vị yêu đương
Trong thế giới chửi thề, lên chiếu, xuống giường
Sống như trâu chó, lấy chi mà mơ mộng!
                     *****
Ông Thủ Tướng ơi! Có bao giờ ông thấy lòng bỗng động?
Khi nhìn hình lũ con gái thơ ngây
Đứng trần truồng hàng lũ, dạn dầy
Để lũ vượn ngoại bang sờ sớ, nắn nắn
Thè lưỡi, chu môi, cho chúng mua mua, bán bán
Gái cần đi ngoại quốc, mong có tấm chồng Hàn
Hay Đài Loan, Singapore, các nước lân bang
Một chồng, hay chục chồng, vợ lớn hay vợ lẽ
Nô lệ tình dục ư? Miễn sao no lòng thì mặc kệ
Đứng trong lồng gương, lên Yahoo rao bán, ôi.. mặc thây!
Chính ông Chủ Tịch nước cũng mới vừa đây
Dụ Việt kiều về nước, nói “gái quê nhà đẹp lắm!”
Không biết ông nghĩ sao, chứ chúng tôi nhục lắm!
Nhục cả ba bốn đời, nhục Quốc Tổ, nhục tông môn
Khi con người chỉ còn nghĩ đến bán trôn
Nuôi cái miệng, còn chi là danh dự?
Bốn ngàn năm văn hiến, ngời ngời lịch sử
Chống Bắc Phương, Thanh, Tống, Nguyên, Mông
Dũng sĩ trời Nam hiển lộng thần thông
Đánh cho chúng tơi bời cây cỏ
“Đánh cho sử tri Nam Quốc Anh Hùng chi hữu chủ” (1)
Lời Nguyễn Huệ xưa còn lồng lộng không gian
Vậy mà, giờ đây, ông đã dâng Ải Nam Quan
Nộp Thác Bản Giốc cho đàn anh hưởng dụng
Chỉ để cho các ông tung hoàng, dung túng
Lũ công an bắt bớ, dầy vò
Các cựu đảng viên, nhà phản kháng, bác sĩ, nhà văn, nhà thơ
Linh mục, luật sư, Thượng Tọa, Đại Đức
Chỉ vì họ dám hy sinh sức lực
Để nói lên tiếng nói tự lương tâm
Chống đối bất công, chống tham nhũng, bọn vô tâm
Cướp đất, cướp nhà, hành dân hơn trộm cắp...
                     ****
Ông Dũng ơi! Có bao giờ ông trả lời những câu hỏi đầy ắp:
Tại sao đất nước ta, Người bóc lột Người?
Karl Marx ngày xưa chống nô lệ người
Ăng Gen viết: “Người công nhân phải làm chủ!” (2)
Giờ đây, người lao động sống như trong cũi chó
Không thuốc men, không bảo hiểm, sống liều
Trong “Phố Liều”, “Phường Liều”, hay “Xóm Liều” (3)
Những chỗ đất hoang, nặc nồng hôi thối
Có khác nào phu mỏ than sống đời tăm tối
Bên nước Anh, nước Pháp thời xa xưa
Nơi Karl Marx tiên đoán cách mạng sẽ nổ ra (4)
Để thực tế, nước ta, hiện nay là vậy đó!
Mấy mươi năm trước :”Nhà văn An Nam khổ như chó!” (5)
Mấy mươi năm sau, mấy chục triệu dân cực hơn trâu
Trừ đi chục triệu dựa vào Đảng, sống trên cổ trên đầu
Dân Việt còn lại, kiếp ngựa trâu, khốn nạn
Các ông đánh bạc, chơi ngông hàng trăm vạn
Tiền đô như tiền lèo, khi lao động chỉ vài xu.
Một em bé cao nguyên, gánh củi có vài chục xu (6)
Em bé thành phố, đánh giầy, một ổ bánh mì chưa đủ
Trinh trắng em tôi, có chục “đô” một lần ngủ
Thầy cô giáo một tháng được hơn trăm.
Giám Đốc kia , chơi bạc bằng cả làng ăn nhiều năm
Ông nọ cá độ, bằng vài ngàn người sống “mút chỉ”.
Đốt một phong pháo chơi, bằng tiền mua bao trinh nữ
Nuôi một chú “bẹc giê”, phải nuôi thêm vệ sĩ cả bầy
Các sân chơi Gôn của ông, thẳng cánh cò bay
Bằng ruộng lúa cả làng tôi, hay cả ho.
                     ****
Ông Thủ Tướng ơi! có bao giờ thấy người rúm ró
Lạy lục van xin trước cửa bệnh viện Nhân Dân
Xin được chữa bệnh, được nạo thai, được một chỗ đặt chân
Một chiếc chiếu đặt thằng con sắp chết
Ông có nghe tiếng quát nạt giữa tiếng rên xiết
Tiếng khóc than ấm ức, tiếng kêu Trời
Tiếng “cò bán máu”, “cò thuốc Tây” hay “cò chạy quan tài”
Muốn được chết cũng không yên thân nằm chỗ
Ông Công An chưa cho phép “chết”, gia đình còn khổ
Còn nhờ “cò” đút lót, trao tay
Ở đâu cũng có “cò”: “cò xin việc”, “cò chạy án”, hay “đường dây”
“Đường dây bán máu”, “đường dây phá thai”, “đường dây bệnh viện”
Muốn chữa bệnh: Tiền! Muốn chết: Tiền! Muốn chôn: Tiền!
Chôn rồi, muốn không bị phá, lại cần thêm tiền nữa!
Ôi! Từ sinh ra đến chết, lúc nào cũng có người đứng giữa
Đó là anh Công An Nhân Dân có quyền hạn tầy đình
“Luật ở miệng tao!” Anh hãnh diện chỉ vào mình (7)
Kẻ cai trị những con người Việt Nam Mù, Lòa, Câm, Điếc
Không còn thấy chút nào nhiệt huyết
Chỉ thấy Mù lương tâm, Điếc tai, Lòa mắt, Câm mồm!
Trước hiện tượng cả nước đang phát triển nghề “Ôm”!
Bia ôm, ngủ trưa ôm, võng ôm, hớt tóc ôm
Karaokê ôm, chè đậu xanh ôm, mía ôm...
Học sinh ra trường, không có nghề, thì ôm đại
Cả nước, chỉ 30% học sinh được “Tổ” đãi (8)
Vào đại học rồi nam sinh cờ bạc, nữ sinh vợ thuê
Còn 70% kia, thì nhào vô nghề giật dọc
Tuy vậy, cũng còn hơn Bí Thư-“Cử Nhân” mà không biết đọc
Viện Trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân không có bằng
HIệu trưởng Trường Đại học cũng lãnh đạo không bằng
Giám Đốc Bệnh Viện mới học lớp ba bổ túc
Bộ Trưởng Kinh Tế, Tài Chánh có học hay không, tùy lúc
Chỉ một điểm chung là tham nhũng, kênh kiệu, khoe khoang
Mua xe hơi trăm ngàn đô la mới sang
Trong khi người nghèo thì bán mạng, làm liều mong sống sót...
                     ****
Ông Thủ Tướng ơi! Đảng ông thích lời nói ngọt:
“Lương tâm của Thời Đại, Đất nước Anh Hùng”
Nhiều đến nỗi “ra ngõ cũng gặp anh hùng” (9)
Giờ thì chỉ thấy một văn chương “Đéo!” (9)
Từ nữ sinh đến ông già, mở miệng là “đéo”
“Đéo sợ thằng nào! Đéo thông cảm! Đéo cần lịch sử!”
“Đéo cần tử tế! Đéo cần giúp ai! Đéo vào thiên hạ sự!”
Ở đời, cứ có tiền là nhào dô, đánh du kích, rồi rút lui.
Cây gỗ quý cứ chặt bừa, thú rừng cứ đốt thui
Chất hóa học đổ tràn, kệ cha chúng mày chết dấp!
Kệ rừng biến thành sa mạc, kệ sông đục rồi vùi lấp
Kệ bờ sông lở bồi, cứ lấy cát bán buôn
Kệ nhà dân tụt xuống sông, kệ rạch biến thành truông
Kệ khói bụi, ho lao, thủng phổi
Kệ thức ăn pha trộn chất diêm muối
Kệ nước tương là chất độc kinh hoàng
Kệ thế hệ này, thế hệ nữa, tan hoang
Miễn tiền đô Mỹ cứ chui vào quỹ
                     *****
Ông Thủ Tướng ơi! Biết nói chi nữa nhỉ?
Nói nhiều thì lệ tràn, mà cũng vô ích mà thôi
Đảng của ông vẫn chễm trệ ngồi
Trên mấy chục triệu dân ngu, dân khổ
Hàng trăm bài báo, hàng ngàn tờ công tố
Vài vạn buổi truyền thanh, truyền hình quốc tế
Trăm cuộc biểu tình của DÂN OAN như thế
Ông vẫn bình tâm rung đùi, máy lạnh, gái chung quanh
Ông như Lê Ngọa Triều, Lê Chiêu Thống HÔN QUÂN
Đóng cửa, bịt tai tàn tàn hưởng thụ
Những khẩu hiệu khiếu kiện tràn đầy đường phố
“Thủ Tướng ơi! Cứu Dân!”, “Đảng ơi! Cứu dân!”
Ông lệnh cho xé bỏ, tống giam mấy thằng kích động nhân dân
Mặc dù chúng chỉ khóc than những lời đau đớn
Báo chí ông chụp mũ, bắt những ai có lòng hảo hớn
Đến chia gói mì, chia ly nước cho DÂN OAN
Chưa có ai dám gọi ông là HÔN QUÂN
Chưa có ai dám gọi ông: “Lũ cướp ngày của lịch sử!” (10)
Họ chưa sánh ông với Tần Thủy Hoàng, Staline, hoặc ai trong lịch sử
Đã dùng cường quyền trấn áp dân đen
Họ chỉ quỳ xuống, van xin ông, đừng “Đến hẹn lại lên” (11)
Cứ đến hẹn là nhà bay, đất mất
Bí thư Xã, Chủ Tịch Phường hễ ra hẹn nộp đất
Mà không tuân, thì Xử Lý nghiêm minh
Còn bồi thường? Thì tuy đất một nghìn
Ông “Lý Trưởng”: “Một trăm? Không chịu? Kệ mẹ!!” (12)
Ông “Trương Tuần”: “Chống phá Cách Mạng! Đánh bỏ mẹ!?”
Bà “Tổng Cai” thì: “Nhốt chúng cho biết tay!”
Những tay “phú lít Tây” lập tức ra tay
Có khác gì đâu, những ngày mà các ông bị Tây nhốt
Xà lim sẵn sàng cho “cặp rằng” đi hốt
Hơn nửa thế kỷ sau, những “chị Dậu” của “Tắt đèn”
Những Bà Địa Chủ ngỏn ngoẻn ép buộc dân đen
Bán chó, bán con, cho mấy thằng già bú sữa
Những “anh Dậu” bị gông ra đình, đánh cho ụa mửa
Vẫn dẫy đầy trong xã hội ông trị cai
Chỉ khác là ngày xưa, thông tin ít, nên thế giới không đoái hoài
Giờ thì cả quốc tế đồng thanh lên án
Các ông vẫn mặt trơ, bóng trán
Ngậm miệng ăn tiền, đàn áp lũ “dân ngu, khu đen”
                     ****
Thủ Tướng ơi! Còn nhớ ngày các ông giương lá cờ lên
Có “búa - liềm” tượng trưng cho nông dân, lao động?
Các ông hô hào đánh tư sản mại bản, tiếng loa lồng lộng
Vài trăm ngàn người ông cho là Tư sản, địa chủ , giờ nơi đâu?
Họ đã chết trong đấu tố, Lý bá Sơ, hay núi thẳm, rừng sâu
Sau 75, tư sản vào tù hoặc kinh tế mới hết ráo
Chủ trương của các ông được thi hành rốt ráo
Sao bây giờ cả Đảng thành Tư Sản Mại Bản, bán nước cho Tầu?
Hoàng Sa, Nam Quan, Bản Giốc giờ còn đâu?
Đảng nhượng từng phần Vũng Tầu, Đồ Sơn, Nha Trang... mở sòng bạc
Chỗ nào có tiền ngoại ngon lành là các ông kiếm chác
Ký giấy nhượng luôn cho Tư bản vài chục năm
Không còn nhớ từ Triệu, Trưng.. luôn chống giặc ngoại xâm
Các ông chỉ đặt bút ký là đất thiêng biến mất!
Ôi! Có khi nào mà ông nghĩ đến đau thương chất ngất
Hàng triệu triệu người chiến sĩ hy sinh
Đã đổ máu xương ra bảo vệ từng tấm sinh linh
Bảo vệ danh dự dân Việt, bốn ngàn năm lịch sử
Có bao giờ mà mắt các ông nhòa lệ?
Nâng ly ruợu ngoại lên là thấy máu trong tay?
Ăn miếng cơm ngon mà tưởng như ăn thịt dân đây?
Mỗi ngụm ruợu là cả triệu trẻ em đói khát
Một lần các ông vung tay chơi bời, ngàn gia đình tan nát...
                     ****
Ông có nghe thấy không?
Ông có nhìn thấy không?
Hồn oan dân đen đang đứng cạnh chiếc bàn dài
Hồn của họ ngắm bọn ông, ngủ say, dãi nhớt chẩy dài
Sau trận truy hoan với bao nhiêu gái đẹp
Những hồn tử sĩ, vài chục năm mê thiếp
Sẽ có lần viếng từng người, từng “THỦ TRƯỞNG” năm xưa
Họ sẽ hỏi ông: “Thủ Trưởng muốn chết mấy cho vừa?
Lòng Tham, Sân, Si của những người lãnh đạo
Một chế độ độc tôn, độc quyền, tàn bạo
Không kể hạnh phúc dân đen, vận nước long đong
Mới vừa đây, báo cáo “vài ngàn tỷ xuống sông
Vì tiêu phí cho mấy ông Thủ Trưởng?”
Ôi! Trời ơi! Nước ơi! Không thể tưởng tượng!
Giữa thế kỷ văn minh này mà đất nước tồi tàn
Vẫn long đong giữa thế lực ngoại bang
Một Tầu, hai Mỹ, miễn sao cho các ông hưởng thụ!
                     ****
Thưa Ông Thủ Tướng!
Chúng tôi, không kể là người chế độ cũ
Người miền Bắc, Nghệ An, Quảng Trị, hay Quảng Bình
Cùng viết thư này mong các ông nghĩ tình
Là dân Việt mà lắng nghe lời chân thực
Hãy quỳ xuống, sám hối, khi còn kịp lúc!
Sám hối với nhân dân, sám hối với Tổ Tiên!
Tội nghiệt các ông mang, lẽ ra phải trừng phạt triền miên
Nhiều đời, nhiều kiếp, vạc dầu, tùng xẻo
Nhưng vì tương lai của dân ta, thôi đành hòa dịu
Không muốn chiến tranh, chỉ đòi các ông trả lại dân quyền
Trả Tự Do, Dân Chủ, Nhân quyền
Cho mọi người dân cùng dựng xây trên tan nát
Bỏ điều 4 đi, đừng nghĩ là tự sát!
(Đúng ra, nếu các ông Tự Sát, cũng đúng thôi!)
Hãy từ bỏ đặc quyền, trả lại quyền cho tất cả chúng tôi
Tám mươi triệu người Việt máu đỏ, da vàng yêu dấu
Hãy nhìn thẳng vào những khuôn mặt đau đáu
Hãy lắng nghe tiếng nói của lương tâm
Hãy bàn giao quyền lợi cho giới trẻ, thanh xuân
Những người chủ tương lai của đất nước
Hãy mở cửa nhà tù, tìm những người từ trước
Vẫn kiên gan đòi sống theo trái tim
Như vậy, mới mong đất nước không đắm chìm
Trong nô lệ, cùm gông, không lối thoát
Mau mau lên, rừng vàng biển bạc
Sắp tan thành sa mạc, bể dâu
Thế hệ này không kịp nữa đâu
Chỉ còn thế hệ sau, mới mong vững chãi
Thôi, vài lời dông dài, viết hoài nói mãi
Cũng chỉ là những giọt lệ thương đau
Những giọt máu trong tim đã vỡ vụn, nát nhàu
Của những tâm hồn Việt Nam

Chân Thành, Trung Thực.

Chu Tất Tiến.


(1)      Hịch của Đại Đế Quang Trung.
(2)      Ăng-gel: Những công nhân phải làm chủ tư liệu sản xuất. Thực tế, nhà nước Việt Nam là chủ toàn bộ tư liệu sản xuất.
(3)      Xóm Liều, Phường Liều...: Những khu vực của dân không hộ khẩu, anh chị, sống liều mạng
(4)      Karl Marx: Tiên đoán cách mạng vô sản sẽ nổ ra ở những nước Tư Bản. Thực tế, Cách mạng vô sản xẩy ra ở Nga là nước có chế độ Nga Hoàng.
(5)      Thơ Nguyễn Vỹ.
(6)      Một em bé bán củi vụn, măng tre ở Cao Nguyên suốt ngày được 30 xu.
(7)      Một anh công an đi bắt những nhà phản kháng, khi được hỏi về Luật nào cho phép bắt người, đã quát lên: “Luật ở miệng tao!”
(8)      Mỗi năm, chỉ có 30% học sinh Trung Học được vào Đại Học vì không có trường.
(9)      Các câu nói, tiếng nói phổ thông ở ngoài Bắc.
(10)    Ca dao: Con ơi! Hãy nhớ lời này
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan.
(11) Tên một cuốn phim cách mạng
(12) Hệ thống cai trị làng xã bây giờ không khác gì thời Tây Thực Dân đô hộ.
Bí thư = Tiên Chỉ, Chủ tịch =Chánh Tổng hay Lý Trưởng, Công An = Trương 
Tuần hay Phú Lít Tây.


Chu Tất Tiến
Tháng 9 năm 2007.



Bài Xem Nhiều