We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 28 September 2011

NGHỊCH LÝ CỦA ĐỘC TÀI

Sự tồn tại và, nhất là, sự tồn tại kéo dài của các chế độ độc tài chứa đựng một số nghịch lý rất lạ lùng: Một, tại sao một người hoặc một nhóm người nào đó có thể tước đoạt tự do và quyền lợi của tất cả những người khác một cách dễ dàng như thế? Hai, tại sao tất cả những người gọi là "khác" ấy lại dễ dàng chấp nhận và chịu đựng cảnh bị tước đoạt lâu đến như vậy?

Lý thuyết tiến hóa có thể giải thích bằng cách cho những nhà độc tài là những kẻ có bản lĩnh phi phường,  vượt lên trên mọi người khác. Nhưng lịch sử lại cung cấp vô số bằng chứng ngược lại: Thứ nhất, trong suốt chế độ phong kiến vốn kéo dài cả hàng ngàn năm, không phải vị vua nào cũng tài giỏi. Ở nơi nào cũng có hằng hà những tên vua tầm thường, thậm chí, khở khạo hoặc ngu xuẩn. Vậy mà chúng vẫn đầy quyền lực và khiến mọi người khiếp sợ. Trong thời hiện đại cũng vậy. Không phải tên độc tài nào cũng xuất chúng. Người ta có thể ghét Adolf Hitler hay Fidel Castro nhưng ít nhất cả hai đều có một số tài nào đó, chẳng hạn, tài hùng biện. Nhưng còn những tên độc tài khác thì sao? Chẳng hạn Moammar Gadhafi ở Libya hay Kim Chính Nhật ở Bắc Hàn?

Cả Gadhafi lẫn Kim Chính Nhật đều bị giới nghiên cứu và truyền thông Tây phương gọi là điên với những chính sách và phát ngôn không những ngu xuẩn mà còn ngu xuẩn ở mức "phi thường", chỉ có thể tìm thấy ở những người mắc bệnh tâm thần mà thôi. Cứ vào Google, đánh tên hai người này, chúng ta sẽ thấy ngay một trong những tính từ phổ biến gắn liền với tên họ là chữ "điên rồ" (insane). Họ điên đến độ biến thành trò cười cho cả thế giới. Nhiều nhà bình luận chính trị nhận định: Phải điên lắm chúng ta mới hiểu nổi cái điên của Gadhafi và Kim Chính Nhật.

Điên vậy mà cả Gadhafi lẫn Kim Chính Nhật đều cầm quyền một cách tuyệt đối trong một thời gian rất dài: Kim Chính Nhật chính thức trở thành "Lãnh tụ kính yêu" của Bắc Hàn từ năm 1994, tức là cách đây gần 20 năm (thật ra, nhiều năm trước khi ông lên "ngôi", lúc Kim Nhật Thành còn sống, ông đã thay cha quyết định gần như mọi sự!). Gadhafi thì tại vị lâu hơn, đến 40 năm. Nếu Mỹ và khối NATO không quyết định không kích thẳng vào Libya để ủng hộ các nhóm phiến loạn không biết ông ta sẽ còn kéo dài những cơn điên của mình đến bao giờ nữa!

Không những cầm quyền lâu, cả Gadhafi lẫn Kim Chính Nhật đều tạo cho mình vô số huyền thoại. Người thì đóng vai của một thứ nhà tiên tri, một "lý thuyết gia" cách mạng của thế giới; người được coi như thánh sống, lúc ra đời trên một ngọn đồi nhỏ thì chim chóc hót vang chào đón, lớn lên thì trở thành một nhà chính trị sáng suốt phi phàm; còn tài năng thì vô cùng đa dạng: viết nhạc hay, chơi golf giỏi, thậm chí, giỏi cả internet; hơn nữa, ông không hề đi tiểu tiện (như người phàm trần) và có khả năng làm thay đổi thời tiết.

Câu hỏi đặt ra là: Tại sao những kẻ điên rồ như vậy có thể cầm quyền lâu như vậy? Tại sao dân chúng nước họ lại tin tưởng vào những chuyện vớ vẩn như vậy? Tại sao cả hai điều này có thể diễn ra bất chấp thực tế là đất nước của họ càng ngày càng lún sâu vào nghèo đói và không có ai có tự do cả?

Tại sao?

Giải phẫu các chế độ độc tài, các nhà nghiên cứu phát hiện có hai khía cạnh căn bản: việc tước hầu hết hoặc toàn bộ quyền của công dân và việc chia chác quyền trong một nhóm người nào đó.

Chuyện tước quyền thì đã rõ. hầu như ai cũng thấy. Độc tài, nói một cách vắn tắt, thực chất là một hình thức ăn cướp, có thể nói là ăn cướp ở mức độ triệt để và tàn bạo nhất. Các tên ăn cướp, dù hung bạo và tàn nhẫn đến mấy, cũng chỉ cướp được tài sản một số người. Độc tài cướp cả quyền sống và quyền làm người của con người, cướp tất cả những gì làm cho con người thành người. Con người cần trí tuệ ư? Độc tài cướp trí tuệ. Và mọi người trở thành những con vẹt. Con người cần phát triển toàn diện ư? Độc tài cướp đi sự toàn diện ấy. Và mọi người biến thành những kẻ què quặt. Con người cần tự do ư? Độc tài cướp mọi tự do. Và mọi người biến thành những tên nô lệ.

Có điều, trên đời, hiếm, nếu không muốn nói là không, có những cá nhân có thể đạt được sự độc tài tuyệt đối như thế. Ngay những kẻ gọi là độc-tài-dựa-trên-cá-nhân, như trường hợp của Hitler và Gadhafi, cũng không thể một mình thâu tóm mọi quyền lực trong tay được. Bởi vậy, dù ít hay nhiều, mọi tên độc tài đều phải ở trong thế phải chia chác quyền bính với người khác. Sự khác biệt, giữa các chế độ độc tài, chỉ là ở mức độ.

Ngày xưa, trên danh nghĩa, các vua chúa nắm quyền tuyệt đối. Nhưng họ vẫn biết khôn khéo chia quyền và chia lợi cho cả một tầng lớp đông đảo với những đặc quyền và đặc lợi nhất định: đó là giai cấp quý tộc. Chính cái giai cấp ấy đứng ra nhận lãnh trách nhiệm bảo đảm và bảo vệ sự toàn trị của vua chúa. Bảo vệ và bảo đảm không phải chỉ bằng vũ lực mà còn cả văn hóa: họ xây dựng cả những lý thuyết dựa trên thần quyền để nhồi sọ dân chúng.

Các chế độ độc tài sau này cũng vậy. Bao giờ chung quanh những tên độc tài cũng có một lực lượng đông đảo những kẻ cúc cung bảo vệ: những kẻ ấy cũng được chia chác cả quyền lẫn lợi.

Ví dụ, nhìn vào Việt Nam hiện nay, chúng ta cũng có thể thấy rõ việc chia chác quyền lực và quyền lợi như vậy. Những nhân vật chóp bu trong hệ thống đảng và nhà nước hiện nay không phải là những kẻ duy nhất được hưởng mọi ưu đãi về quyền lực và quyền lợi. Họ khôn khéo chia quyền và lợi cho nhiều người khác để những kẻ đó trở thành những kẻ bảo vệ họ. Hậu quả là ở Việt Nam hệ thống quyền và lợi được phân cấp thành nhiều tầng. Nổi bật nhất là:

Tầng một: Đảng và chính quyền trung ương.
Tầng hai: chính quyền và đảng bộ ở cấp trung địa phương.
Tầng ba: quân đội.
Tầng bốn: công an.

Mỗi tầng có những đặc quyền và đặc lợi riêng không những cho bản thân họ mà còn cho cả gia đình và bạn bè của họ. Lý do khiến giới lãnh đạo cao cấp, từ Phạm Văn Đồng ngày trước đến Nguyễn Tấn Dũng hiện nay, không thể cách chức các cán bộ dưới quyền, như những gì họ từng thú nhận, không phải vì họ bất lực mà chỉ vì họ muốn bảo vệ cái hệ thống chia chác quyền và lợi vốn có tác dụng bảo vệ quyền và lợi của chính họ. Để mua sự trung thành của các cán bộ cấp dưới, họ không có chọn lựa nào khác ngoài việc ngoảnh mặt làm ngơ trước những sự bất tài, bất lực và tham nhũng của những người ấy.

Nhưng tất cả những điều ấy đều chưa đủ giải thích sự tồn tại lâu dài của các chế độ độc tài. Còn một yếu tố khác nữa: sự sợ hãi của dân chúng.

Ở Trung Quốc ngày xưa có một câu chuyện ngụ ngôn có thể soi sáng điều này:

Có một lão nông nọ nuôi một bầy khỉ. Mỗi sáng, ông thả bầy khỉ ra khỏi chuồng, bắt chúng lên núi cao hái trái cây cho ông. Ông ra lệnh chúng phải nộp một nửa số trái cây chúng hái được. Bầy khỉ làm việc vất vả nhưng không dám than vãn. Chúng quần quật từ ngày này sang ngày khác. Trong khi đó, ông già cứ nằm khẩy ở nhà chờ bọn khỉ mang trái cây về nộp. Một phần ông ăn; môt phần, ông mang ra chợ bán; một phần ông cất trong kho. Ai cũng khen ông sung sướng. Một hôm, ở trong rừng, có một con khỉ con nêu vấn đề: "Có phải ông chủ trồng các cây và cả mấy khu rừng này không?" Các con khỉ già đáp: "Không". Con khỉ con lại hỏi: "Nếu không được phép của ông chủ thì chúng ta có thể hái trái cây ở đây không?" Đàn khỉ già đồng loạt trả lời: "Được chứ!" Con khỉ con lại hỏi: "Vậy tại sao chúng ta lại phải nộp một nửa trái cây mà chúng ta hái được cho ông ấy?" Nghe câu hỏi ấy, cả đàn khỉ bỗng giác ngộ. Đêm ấy, bọn khỉ phá chuồng, lấy tất cả số trái cây dự trữ trong kho mang lên rừng. Vĩnh viễn không trở lại. Ông già, cuối cùng, chết vì đói.

Có thể nói các con khỉ ấy đã giải quyết được những nghịch lý của nạn độc tài.

Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc Blog

Khi Luật Gia Tự Bán Thân

Chuyện xảy ra tại Trung Quốc: một giáo sư đại học luật phải lên mạng tự rao bán thân mình, chỉ vì chính sách một con nghiêm ngặt của chính phủ Bắc Kinh. Không phải tiểu thuyết, mà là đời thật. Phóng viên BeiBei Bao đã kể lại chuyện này trên thông tấn UPI tại Hoa Kỳ.
Yang Zhizhu, 34 tuổi, bị chính phủ TQ phạt khoản tiền “lệ phí xã hội nuôi dưỡng” tới 37,000 đôla Mỹ, và bị sa thải ra khỏi chức vụ giáo sư luật sau khi vợ ông sinh đứa con gái thứ nhì hồi tháng 12-2009. Hình phạt này áp đặt vào Yang theo luật mỗi gia đình chỉ được phép có một con; luật này hiệu lực từ năm 1980.
Trước khi bị sa thải ra khỏi guồng máy sư phạm đạị học, Yang là giáo sư luật tại China Youth University for Political Sciences (Đại Học Khoa Học Chính Trị Thanh Niên Trung Quốc) tại Bắc Kinh. Lệnh sa thải đưa ra theo một quyết định hành chánh hồi tháng 4-2010, sau khi ông từ chối nộp phạt, vì khoản tiền phạt cao gấp 9 lần lương trung bình một năm của thu nhập đầu người.
Là giáo sư dạy về luật dân sự trong hơn 10 năm, Yang biết rõ rằng nếu không trả tiền phạt, con gái thứ nhì của ông, Yang Ruonan, sẽ sống như một “đứa trẻ đen,” nghĩa là không có giấy tờ hộ khẩu (Hukou), một giấy chứng nhận nơi cư trú tại một địa phương nhất định, và do vậy sẽ bị từ chối sự tiếp cận với giaó dục công lập, chăm sóc y tế công và cả trợ cấp gia cư.
Con gái đầu của Yang là Yang Ruoyi, 5 tuổi, cũng là nạn nhân dính chùm. Vì không còn là đứa con duy nhất, cô bé sẽ bị từ chối những quyền lợi giành cho các con độc nhất trong các hộ gia đình, trong đó có việc ghi danh vào trường học và khoản trợ cấp hàng tháng 9 đôla Mỹ.
Hồi tháng 9-2010, Yang quyết định tự rao bán mình với giá 100,000 đôla Mỹ, giá này không mặc cả. Cựu giáo sư Yang thề là sẽ trung thành với ông chủ “cho tới ngày chết.”
Khi thương lượng bán đời mình xong, Yang dự định dùng tiền này để trả khoản tiền phạt và tiền còn lại sẽ để cho vợ con mình.
Mảnh đời của GS Yang là một phần hình ảnh của chính sách một con tại Trung Quốc, vốn áp đặt từ ba mươi năm qua. Chính sách này được lần đầu thảo luận là năm 1978, khi chính sách mở cửa của TQ tiến hành. Đối phó với dân số tăng trưởng, TQ xiết lại bằng chính sách một con và hy vọng là sẽ có mức tăng dân số bằng zero vào năm 2000.
Năm 2010, một thống kê của Sở Thống Kê TQ cho thấy mức tăng dân số trung bình là 0.57% trong thập niên qua, như thế là một nửa phần trăm điểm thấp hơn mức tăng dân số của thập niên 1990s.
Tính vào ngày 1 tháng 11-2010, thế hệ trẻ của TQ, tính từ các em sơ sinh cho tới các em 14 tuổi, là tổng cộng 222 triệu người, tức là 16.6% dân số.
Hồi 10 năm trước, nhóm thế hệ trẻ ở tuổi đó là 30% đông hơn, và chiếm gần 23% tổng dân số.
Có nghĩa là gánh nặng người già tại TQ không thể nào tránh khỏi.
Tuy nhiên, các viên chức nói số lượng trẻ em mà một phụ nữ TQ trung bình sinh ra trong đời vẫn là 1.8 – và nếu con số này đúng, thì số lượng em vị thành niên (dưới 14 tuổi) không thể nào sụt  giảm nhanh chóng như thế, theo lời Li Jianxin, gioá sư xã hội học ở Đại Học Bắc Kinh.
Ông Li nói, “Đó thấy rõ là thống kê xạo.” Ông nói rằng, ông tin là sinh xuất của TQ đã bị ccá địa phương nhào nắn các con số trong 20 năm qua để phù hợp với chính sách một con.
Cũng đồng ý với ý kiến của Li là Liang Zhongtang, nhà dân số học tại Học Viện Khoa Học Xã Hội Thượng Hải. Liang, 63 tuổi, là người chứng kiến sự khai sanh và thực hiện chính sách một con, nói rằng thực tế sinh xuất tại TQ là 1.3% tới 1.5% -- nghĩa là một sinh xuất cực kỳ nguy hiểm cho một xã hội cần sức lao động nhân dụng.
Nhưng từ năm 1992, chính phủ đã ngưng phổ biến sinh xuất trong cuốn Niên Giám Thống Kê Dân Số TQ, mà theo Liang, vì các cán bộ lo sợ nếu phải ghi con số thực.
Trung Quốc từ lâu được xem như cơ xưởng lao động cho toàn thế giới, nơi lao động rẻ và đông.
GS Liang nói, như thế điều gì xảy ra khi công chúng biết rằng lao động sinh động nhất của TQ, tức là lứa tuổi 15 tới 29, đã sụt giảm còn 247 triệu người trong năm 2010, từ mức 326 triệu người hồi năm 1995.
Còn một nan đề nữa: trai thừa, gái thiếu. Truyền thống ưa chuộng con trai đã làm nhiều gia đình phá hủy bào thai  nữ để có con trai. Sau hơn 30 năm áp dụng chính sách một con, TQ đang có tỉ lệ 118 bé trai ra đời đối với mỗi 100 bé gái ra đời, theo các thống kê gần nhất. Như thế là nan đề, vì tại một số tỉnh đã có hiện tượng: 130 bé trai ra đời đối với 100 bé gái sơ sinh.
Như thế là tới năm 2020, khi các thế hệ trẻ gần đây trong chính sách này tới tuổi kết hôn sẽ có 30 triệu đàn ông không thể kiếm vợ nổi. Và như thế sẽ là tiềm năng bất ổn xã hội.
Người ta có thể hy vọng thay đổi chính sách từ thế hệ lãnh đaọ mới hay không, khi dự kiến Xi Jinping sẽ lên nắm quyền Chủ Tịch Nước và Li Keqiang dự kiến sẽ nắm chức Thủ Tướng? Một số người mơ mộng như thế, vì họ Li tốt nghiệp về ngành luật và kinh tế.
Tuy nhiên, cựu giáo sư luật Yang nói rằng đừng hy vọng gì nhà nước TQ thay đổi, “trừ phi Đảng CSTQ phải chuyển hóa toàn diện.”
Bản tin UPI không nói rõ đã có ông chủ nào chịu mua cuộc đời luật gia họ Yang chưa.

 Tác giả : Trần Khải

Buôn Người: Nhục Quốc Thể

Chính quyền có trách nhiệm, giới lãnh đạo biết tự trọng thì phải bằng mọi giá bảo vệ quốc thể. Chưa bao giờ trong lịch sử cận đại công dân Việt đi ra nước ngoài lại bị khinh rẻ như hiện nay.
Trong chuyến thăm Montréal gần đây, tôi được nghe một giáo sư đại học trẻ vừa trở lại Canada sau nhiều năm giảng dạy ở Singapore kể về nỗi nhục này: các nữ sinh viên Việt từng tâm sự với anh rằng họ không dám nhận mình là người Việt. Truyền thông Singapore lúc ấy đang chạy tin nóng về đường dây buôn phụ nữ từ Việt Nam sang Singapore với lời rao hàng: “bảo đảm còn trinh”.
Tôi thông cảm tâm trạng của các nữ sinh viên Việt này. Sáu năm hoạt động để bài trừ nạn buôn người Việt đã đưa tôi đến nhiều quốc gia trong vùng Đông Nam Á và Á Châu. Trong con mắt của nhiều người dân ở các quốc gia láng giềng, Việt Nam là nguồn cung cấp tôi đòi, người ở, đĩ điếm hay là nơi để đàn ông ngoại quốc mua vợ.
Công nhân lao động “xuất khẩu” có những người bị bóc lột tận xương tuỷ, bị đánh đập, bị giam hãm như nô lệ. Các chị em phụ nữ đi làm gia nhân bị đối xử như con sen, con hầu; họ bị hà hiếp và có khi bị hãm hiếp bởi Ông chủ nhưng phải cắn răng chịu đựng. Nhiều cô gái Việt có nhan sắc được chiêu dụ đi lao động để rồi bị bán thẳng vào các động mãi dâm. Ở nhiều quốc gia nẩy sinh dịch vụ mua “cô dâu” Việt không khác gì người ta mua một mặt hàng; người mua có quyền dùng thử và đổi mặt hàng nếu không vừa ý.
Tôi thấy rất rõ, đồng bào mình sống ở xứ người trong thân phận con giun con dế, bị chà đạp nhân phẩm mà không dám mơ tưởng công lý. Khi cầu cứu đến toà đại sứ Việt Nam thì họ bị xỉa xói, mắng nhiếc, hăm doạ. Thậm chí đối với những nạn nhân vì tức nước vỡ bờ, đứng lên chống bất công, thì nhà nước gửi phái đoàn đến tận nơi để trấn áp, hăm doạ, và dẫn độ nhằm bịt miệng và phi tang. Có người về đến nhà thì bị công an bắt giam, tra tấn, bắt nộp phạt cho kẻ đã buôn bán họ, và cấm không được kể cho ai biết kinh nghiệm hãi hùng nơi xứ người.
Đồng thời tôi cũng thấy, nơi những con người bị di xuống bùn đen, biết bao tấm gương đùm bọc nhau trong cảnh khốn cùng. Họ đã không bỏ rơi nhau trong hoạn nạn mà chia đắng sẻ ngọt, kể cả khi còn ở ngoài nước và sau khi hồi hương. Họ thể hiện tinh thần trách nhiệm và lòng tự trọng hơn chính quyền và giới lãnh đạo của họ. Thật vậy, một số người bạn ở các quốc gia láng giềng, khi đã thân quen, từng bày tỏ với tôi sự ngỡ ngàng về một chính quyền và giới lãnh đạo đã để cho cả dân tộc bị sỉ nhục mà không biết ngượng.
Là con dân Việt, chúng ta ở hải ngoại có thể cùng nhau rửa mối nhục ấy. Trong 6 năm làm việc trực tiếp với các cơ quan chính quyền và các tổ chức dân sự ở nhiều quốc gia, tôi nhận thấy sự chuyển đổi cách nhìn của họ về đồng bào của chúng ta khi thấy được một mẫu mực khác về người Việt: chững chạc, bản lãnh, có trách nhiệm, biết tự trọng, yêu thương đồng bào; khác hẳn với những định kiến mà họ có trước đây.
Sự thay đổi này sẽ xẩy ra một cách tự nhiên khi chúng ta đến với đồng bào trong tư thế công dân của các quốc gia tân tiến và nhân bản, làm việc trực tiếp với các chính quyền ở tầm vóc chính sách, cống hiến những kinh nghiệm chuyên môn để cải tạo xã hội, vận dụng các thế lực quốc tế để yểm trợ công tác chống buôn người. Điển hình là giờ đây những cơ quan chính phủ và tổ chức dân sự Đài Loan đã từng làm việc với Liên Minh CAMSA rất niềm nở và ân cần mỗi khi các chị em phụ nữ hay công nhân Việt cần đến họ. Điển hình là nhiều tổ chức và công đoàn ở Mã Lai đang hợp tác với Liên Minh CAMSA để cùng bênh vực và phục vụ công nhân Việt. Điển hình là nhiều chính quyền đã cử phái đoàn đến Hoa Thịnh Đốn để thu thập kinh nghiệm phòng chống buôn người của Liên Minh CAMSA: Nhật, Nga, Ukraine…
Do đó tôi kêu gọi người Việt ở những quốc gia tự do hoặc hợp tác với Liên Minh CAMSA, hoặc khởi xướng những nỗ lực tương tự, để làm việc ở cấp chính sách với các chính quyền sở tại nơi đồng bào của chúng ta đang gặp nguy cơ bị buôn làm nô lệ, đầy tớ, đĩ điếm. Khi thể diện của dân tộc bị chà đạp thì đó là mối nhục chung, dù chúng ta sống xa quê hương và đã mang quốc tịch khác; chúng ta là những người có tinh thần trách nhiệm và lòng tự trọng.
Tôi cũng kêu gọi chính quyền Việt Nam hãy lương thiện áp dụng Nghị Quyết 36 cho gần một triệu công dân đang khốn khó nơi xứ người để “bảo vệ lợi ích chính đáng của bà con, chống các biểu hiện kỳ thị, các hành động chống lại người Việt Nam ở nước ngoài”. Số gần triệu người này, gồm các công nhân lao động “xuất khẩu” và các “cô dâu” cùng với con cái, là đối tượng cần sự bảo vệ hơn hết. Chưa chu toàn trách nhiệm đối với chính công dân của mình thì chẳng hà cớ gì đòi giúp những người Việt đã là công dân của các quốc gia văn minh, có đầy năng lực và bản lãnh, và chẳng hề mời chào thiện chí đặt không đúng chỗ ấy. 

Tác giả : Ts. Nguyễn Đình Thắng

(Nguồn: Mạch Sống Magazine, http://www.machsong.org)

Chuyện Dân Tôi : Giấy chứng nhận làm .... Người

Giấy chứng nhận làm .... Người

Một chút để suy gẫm
Giấy chứng nhận làm... Người
--------
Trên đoàn tàu Thống Nhất Bắc Nam , cô soát vé hết sức xinh đẹp cứ nhìn chằm chằm vào người đàn ông lớn tuổi áng chừng đi làm thuê, hạch sách:
-Vé tàu!
Người đàn ông lớn tuổi lục khắp người từ trên xuống dưới một thôi một hồi, cuối cùng tìm thấy vé, nhưng cứ cầm trong tay không muốn chìa ra.

Cô soát vé liếc nhìn vào tay anh, cười trách móc:
- Đây là vé trẻ em.
Người đàn ông đứng tuổi đỏ bằng mặt, nhỏ nhẹ đáp:
- Vé trẻ em chẳng phải ngang giá vé người tàn tật hay sao?
Giá vé trẻ em và người tàn tật đều bằng một nửa vé, đương nhiên cô soát vé biết. Cô nhìn kỹ người đàn ông một lúc rồi hỏi:
- Anh là người tàn tật?
- Vâng, tôi là người tàn tật.
- Vậy anh cho tôi xem giấy chứng nhận tàn tật.
Người đàn ông tỏ ra căng thẳng. Anh đáp:
- Tôi... không có giấy tờ. Khi mua vé cô bán vé bảo tôi đưa giấy chứng nhận tàn tật, không biết làm thế nào, tôi đã mua vé trẻ em
Cô soát vé cười gằn:
- Không có giấy chứng nhận tàn tật, làm sao chứng minh được anh là người tàn tật?
Người đàn ông đứng tuổi im lặng, khe khẽ tháo giầy, rồi vén ống quần lên - Anh chỉ còn một nửa bàn chân.
Cô soát vé liếc nhìn, bảo:
- Tôi cần xem chừng từ, tức là quyển sổ có in mấy chữ "Giấy chứng nhận tàn tật", có đóng con dấu bằng thép của Hội người tàn tật!
Người đàn ông đứng tuổi có khuôn mặt quả dưa đắng, giải thích:
- Tôi không có hộ khẩu của địa phương, người ta không cấp sổ tàn tật cho tôi. Hơn nữa, tôi làm việc trên công trường của tư nhân. Sau khi xảy ra sự cố ông chủ bỏ chạy, tôi cũng không có tiền đến bệnh viện giám định...
Trưởng tàu nghe tin, đến hỏi tình hình.
Người đàn ông đứng tuổi một lần nữa trình bày với trưởng tàu, mình là người tàn tật, đã mua một chiếc vé có giá trị bằng vé của người tàn tật ...
Trưởng tàu cũng hỏi:
- Giấy chứng nhận tàn tật của anh đâu?
Người đàn ông đứng tuổi trả lời anh không có giấy chứng nhận tàn tật, sau đó anh cho Trưởng tàu xem nửa bàn chân của mình.
Trưởng tàu ngay đến nhìn cũng không thèm nhìn, cứ nhất quyết nói:
- Chúng tôi chỉ xem giấy chứng nhận, không xem người. Có giấy chứng nhận tàn tật chính là người tàn tật, có giấy chứng nhận tàn tật mới được hưởng chế độ ưu đãi vé người tàn tật. Anh mau mau mua vé bổ sung.
Người đứng tuổi bỗng thẫn thờ. Anh lục khắp lượt các túi trên người và hành lý, chỉ có bốn đồng, hoàn toàn không đủ mua vé bổ sung. Anh nhăn nhó và nói với trưởng tàu như khóc:
- Sau khi bàn chân tôi bị máy cán đứt một nửa, không bao giờ còn đi làm được nữa. Không có tiền, ngay đến về quê cũng không về nổi. Nửa vé này cũng do bà con đồng hương góp mỗi người một ít để mua giùm, xin ông mở lượng hải hà, giơ cao đánh khẽ, nương bàn tay cao quý, tha cho tôi.
Trưởng tàu nói kiên quyết:
- Không được.
Thừa dịp, cô soát vé nói với Trưởng tàu:
- Bắt anh ta lên đầu tàu xúc than, coi như làm lao động nghĩa vụ.
Nghĩ một lát, trưởng tàu đồng ý:
- Cũng được.
Một đồng chí lão thành ( vừa đi tham quan đất nước tự do về ) ngồi đối diện với người đàn ông đứng tuổi tỏ ra chướng tai gai mắt, đứng phắt lên nhìn chằm chằm vào mắt vị trưởng tàu, hỏi:
- Anh có phải đàn ông không?
Vị trưởng tàu không hiểu, hỏi lại:
- Chuyện này có liên quan gì đến tôi có là đàn ông hay không?
- Anh hãy trả lời tôi, anh có phải đàn ông hay không?
- Đương nhiên tôi là đàn ông!
- Anh dùng cái gì để chứng minh anh là đàn ông? Anh đưa giấy chứng nhận đàn ông của mình cho mọi người xem xem?
Mọi người chung quanh cười rộ lên.
Thừ người ra một lát, vị truởng tàu nói:
- Một người đàn ông to lớn như tôi đang đứng đây, lẽ nào lại là đàn ông giả?
Đồng chí lão thành lắc lắc đầu, nói:
- Tôi cũng giống anh chị, chỉ xem chứng từ, không xem người, có giấy chứng nhận đàn ông sẽ là đàn ông, không có giấy chứng nhận đàn ông không phải đàn ông.
Vị trưởng tàu tịt ngóp, ngay một lúc không biết ứng phó ra sao.
Cô soát vé đứng ra giải vây cho Trưởng tàu. Cô nói với đồng chí lão thành:
- Tôi không phải đàn ông, có chuyện gì ông cứ nói với tôi.
Đồng chí lão thành chỉ vào mặt chị ta, nói thẳng thừng:
- Cô hoàn toàn không phải người!
Cô soát vé bỗng nổi cơn tam bành, nói the thé:
- Ông ăn nói sạch sẽ một chút. Tôi không là người thì là gì?
Đồng chí lão thành vẫn bình tĩnh, cười ranh mãnh, ông nói:
- Cô là người ư? Cô đưa giấy chứng nhận "người" của cô ra xem nào...
Mọi hành khách chung quanh lại cười ầm lên một lần nữa.
Chỉ có một người không cười. 
Sưu Tầm

CHẾT MẸ : MỘT BÀY KHỈ ĐANG CƯỜI NHE RĂNG BÊN NHỮNG XÁC NGƯỜI CHẾT KHÔ!





VIỆT NAM: TƯỢNG ĐÀI, CÂY CẦU "BIỂU TƯỢNG", VÀ CON NGƯỜI

 Cả tuần lễ rồi, toàn nước rộ lên những lời ta thán, phê phán rất nặng nề đối với giới cầm quyền! Những lời lẽ biểu lộ sự bức xúc cùng độ này phát ra từ mọi nơi, mọi người: nông thôn đến thành thị, ngoài đường, ngoài chợ, trong quán, nơi công sở, tư sở…; từ người trí thức đến nông dân, công nhân, nhà báo, dân thường, và cả đám trẻ con mới lớn vừa biết suy nghĩ cũng nêu nhận định.

Có lẽ sự kiện này đã đụng chạm đến mọi người, mọi giới, khi mà họ đã quá căng thẳng vì cuộc sống bất ổn do vật giá leo thang, làm ăn khó khăn, thu nhập không đáp ứng chi tiêu, và tình trạng mất an ninh trật tự xã hội đã …đạt đáy: trộm cướp, đinh tặc, cẩu tặc, dâm tặc, và muôn vàn thứ TẶC ở khắp mọi nơi, nhất là bạo lực lan tràn, đến cả nơi sơn lâm cùng cốc, vùng thượng du vốn hiền hòa, đe dọa sự an ninh của mọi người, mà nguồn gốc từ bọn bất lương cho đến chính quyền bất chánh, từ kẻ côn đồ trấn lột, đến công an hăm he đe dọa, bắt nóng bắt nguội người biểu tình yêu nước, người tham gia tọa đàm về an ninh biển đảo, người bất đồng chính kiến, còn gắt gao hơn cả họ truy lùng những kẻ bất lương! 

Do đó mà khi cái tin chính quyền tỉnh Quảng Nam, một tỉnh còn nghèo nàn, quyết định xây tượng đài Bà Mẹ VN Anh Hùng với kinh phí 410 tỷ đồng, đã giống như một gáo nước lạnh tạt vào mặt người dân, như những giọt cuối cùng làm tràn ly nước đã đầy! Và mọi nơi, mọi người mặc sức tuôn ra những lời chỉ trích thậm tệ không còn chút kiêng nể, kềm chế, trong rất nhiều các comments ở các trang tin Yahoo, BBC…, như muốn đấm thẳng nắm tay vào kẻ đã gây nên tội: cái tội HẠI DÂN HẠI NƯỚC, VÔ CẢM, THAM LẬM, Ỷ QUYỀN, VÔ TRÁCH NHIỆM trước nỗi cùng khổ của người dân, trước một đống nợ quốc gia không trả nổi vì ngân quỹ rỗng trống, mà vẫn nhập siêu nhiều ngoaị phẩm, đặc biệt từ Trung quốc, kẻ thù số 1 của dân ta. Nguồn tài nguyên quốc gia thì cạn kiệt, mạnh ai nấy đào bới, khiến đất nước tan hoang, ô nhiễm môi trường sống của người dân, như vụ khai thác bauxite ở Lâm Đồng: vừa đi vào hoạt động thì cả một vùng ở Bảo Lộc đã chết cây, chết cá hàng loạt vì nước nhiễm độc! Ấy thế mà những kẻ cầm quyền vẫn chưa chịu ngừng cái tội ác ham danh, hám lợi, vẽ vạch ra những loại dự án hàng ngàn tỷ đồng để ngắm chơi, để lấy danh, và để rút ruột công trình bỏ bào túi riêng! Dân chúng hoàn toàn có lý, và rất đáng được sự đồng cảm, đồng thuận của cả nước, khi mà báo chí đưa ra những bức hình chụp từng tốp trẻ em đang ngụp lặn giữa dòng sông để…đến trường học! Vì thế mà mọi giới đều phẫn uất và phản kháng, lên tiếng mạnh mẽ chưa từng thấy. 
Hai trách nhiệm chính của nhà cầm quyền: Một là lo cho dân an cư lạc nghiệp, ấm no hạnh phúc; hai là lo bảo toàn, xây dựng đất nước, thì cả hai trọng trách này, kẻ cầm quyền hiện tại đều VI PHẠM NẶNG NỀ! Vi phạm không phải ở mức độ không làm xong, mà ở tình trạng hoàn toàn làm phản ngược lai: HẠI DÂN, BÁN NƯỚC, PHÁ TAN TIỀN ĐỒ TỔ QUỐC DO TIỀN NHÂN ĐỂ LẠI ! Vì thế, họ đã trở thành kẻ nghịch thù của dân, và là kẻ PHẢN QUỐC, không còn thể chối cãi! 
Chối cãi thế nào đây? Làm sao các người lý giải được trước những hình ảnh trái ngược đến gây sốc trên mặt báo, báo “lề phải” của các người đó: mô hình tượng đài Bà Mẹ VN Anh Hùng to như một quả núi, giữa nhô lên một cái đầu, hai bên “cánh” là hình “gương mặt những người con”, mà một số phản hồi tôi đọc được trên Yahoo: “Lại cướp tiền của dân!”, “Phải vẽ ra chứ, có VIỆC LÀM mới có CÁI ĂN!”, “Eo ơi! Sao không giống hình ảnh bà mẹ, mà giống như QUỶ, vì chỉ có một cái đầu, không có tay, hai cái cánh xòe ra với một lũ đầu người”!... Tôi ngồi chung với một số bạn bè cùng đọc các comments đó, họ bình luận rằng: “Có lý! Vì cái tượng đài này ngốn hết BAO NHIÊU LÀ CƠM GẠO CỦA DÂN NGHÈO, và CHẶN ĐƯỜNG TƯƠNG LAI CỦA BAO NHIÊU TRẺ EM đang phải vượt qua sông nước cuồn cuộn chảy để đi học, vì không có được một cây cầu dù chỉ đáng hơn một tỷ đồng! “BÀ MẸ VN” mà như vậy sao?”. 
Nghe xong tôi sững sờ tê tái! Kẻ chủ trương xây tượng đài này vô tâm đến thế sao? Thử tưởng tượng cảnh các cháu trai gái đã lớn khôn, đã hiểu biết, ngày ngày cùng nhau trần trụi lội sông, liệu có chấp nhận được không? Ngày nắng đã đành, ngày mưa gió nước lũ giá rét phải trầm mình trong giòng nước lạnh, các cháu có chịu nổi không? Nếu chẳng may một vài cháu bị dòng nước cuốn trôi, thì trách nhiệm về ai, hay lại “tại dòng nước”?! Chúng ta hãy ngẫm xem: cái tượng đài này chỉ dành cho những đối tượng là mẹ của những người lính phục vụ và bảo vệ cho chế độ CS, chứ không bao gồm tất cả các bà mẹ chiến sĩ VN nói chung, của mọi thể chế, mọi thời đại. Còn mẹ của các chiến sĩ VNCH đã hy sinh bảo vệ Hoàng Sa năm 1974 thì sao? Vậy nó chỉ có ý nghĩa cho một thời, chứ không mang giá trị phổ quát bất biến, và vì thế sẽ phải ĐẬP BỎ sau khi chế độ CS không còn. Đó là điều tự nhiên, vì chẳng có chế độ nào, con người nào mà tồn tại mãi cả. Hãy nhìn các chế độ CS ở Liên Xô, Đông Âu, Libya sau khi sụp đổ, thì những tượng đài mang tính chế độ đều bị dân chúng lôi đầu kéo cổ xuống hết!. Vả lại, ngay những vị anh hùng cứu quốc mà mọi thời đều kính tôn, hay Mẹ Âu Cơ của giòng giống Việt cũng chưa từng được tạc tượng lớn đến như vậy! 

Thật ra các bà mẹ VN anh hùng của chế độ CS này, hiện còn sống đi nữa, quý vị cứ công tâm mà nghĩ xem có bà mẹ nào ham thích hay thấy cần thiết phải có cái tượng đài này không? Một ngàn lần không! Trên tám chín chục tuổi đầu gần đất xa trời, bản thân còn chưa lo nổi, đi đứng không xong, nhiều khi cơm cháo, thuốc thang còn không có đủ, thậm chí mất cả nhà cửa, ruộng vườn, không nơi nương tựa vì các DỰ ÁN nọ kia của kẻ cầm quyền, mắt đã mờ, chân đã chậm, liệu có bao nhiêu cụ còn cơ hội mà đi nhìn thấy cái “tượng đài” của mình?! Đúng với câu cổ nhân nói: “Khi sống thì chẳng cho ăn, đợi đến khi chết làm văn tế ruồi!”. Hầu hết các cụ đã chết, hoặc đang “chờ ngày sum họp với các con” là những người lính đã bỏ mình trong các trận chiến bảo vệ non sông, hay tệ hại và đau đớn hơn, là bị mất mạng trong các trận chiến “nồi da xáo thịt” phi nghĩa, BẢO VỆ CHO MỘT CHẾ ĐỘ BẤT XỨNG HIỆN NAY, để nó tồn tại mà hại dân hại nước! Đừng “mượn đầu heo nấu cháo”! Cái lý do chính xác thì chính “kẻ chủ mưu” đã thốt ra rồi: “Nhìn tượng đài này cả ‘thế giới’ sẽ nể phục ta”?! “TA” đây là AI? Có phải là các bà mẹ? Vì các bà mẹ hay vì các người, những con người đầu nhỏ nhưng bụng to, HÁO DANH, HÁO LỢI? Với các dự án này, sau cái danh, các người còn có lợi, là rút ruột công trình bỏ túi riêng! Đó là cái BỆNH mãn tính của các người, ai mà chẳng biết! Đến cái “công trình ngàn năm” của các người ở Điện Biên Phủ, mới vài năm mà nó đã muốn sụp, và chờ trở thành đống đổ vụn! Đừng có lấy các người mẹ khổ đau và bất hạnh này ra mà gánh tội cho các người! 

Đây! Nếu muốn thì tôi sẽ chứng minh tại sao tôi gọi họ là những kẻ khổ đau và bất hạnh, chỉ một vài trường hợp điển hình thôi (tôi không hề dám xúc phạm đến những người mẹ các chiến sĩ đã bỏ mình vì tổ quốc, trong các trận chiến chống ngoại xâm!): Một bà mẹ của 5 bộ đội đã cùng tử vong trong trận Mậu Thân ở chiến trường Miền Nam, khi CS miền Bắc xua quân vào tấn công mong chiếm trọn miền Nam đang dưới chế độ Cộng Hòa, bà sống ở Thanh Hóa. Khi đó bà cũng như những người dân miền Bắc, được tuyên truyền là ở miền Nam đồng bào “ruột thịt” đang bị sống lầm than dưới ách kìm kẹp của “Mỹ Ngụy”, cần phải “hạt gạo cắn làm đôi” để cứu đồng bào miền Nam đang đói khổ và cần được “giải phóng”! Thế là những người mẹ có con trai, con gái sẵn sàng hy sinh cho con đi “giải phóng”, vì nhà nào mà chả có thân nhân xa gần di cư vào Nam? Sau khi đã nếm mùi “thiên đường XHCN” do mình dầy công xây dựng, nhìn cảnh quê hương tan nát tiêu điều, ngư dân bị Tàu giết, đất cảng được dâng cho Tàu, bà đau khổ hao mòn mà chết, chết trong cô quạnh vì chẳng còn con cháu ngó nhìn! 
Còn miền Nam như thế nào tôi miễn nói. Chỉ vì “giải phóng” mà ngày nay Bắc Nam cùng khổ, cùng “hưởng” địa ngục trần gian như nhau, để cho một số kẻ thời cơ trồi lên làm “tư bản đỏ”, thu tích của cải tài sản của dân nước, cỡi đầu toàn dân. Chúng cấm biểu tình chống ngoại xâm theo lệnh của giặc, và bắt bớ tiêu diệt những người không chấp nhận “thiên đường CS”, như mọi người từng thấy! Nhưng không gì uất ức cho bằng cảnh mà cụ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tiên báo cho dân ta cái thời đại CS: “Người khôn uất ức, kẻ ngu cỡi đầu!” như hiện giờ! 

Trường hợp của hai bà mẹ VN anh hùng ở làng tôi, một bà có 3 người con trai tử trận vì đi “giải phóng miền Nam”, đến khi Saigon vừa bị chiếm, bà được vào thăm anh em, chứng kiến thực cảnh ở miền Nam, bà về lại quê và phát bệnh rồi chết, vì thương tiếc con, và trách mình mê lầm để con phải chết oan! Còn cụ kia có 4 con trai, hai người đang dậy học thì phải đi lính, và một con rể nữa là 5, cùng chết trong trận Mậu Thân. Khi được tin báo, mọi người trong thân tộc khóc than đau đớn vì tuyệt giòng, người dì ruột của các tử sĩ đã xỉu lên xỉu xuống, riêng bà mẹ “anh hùng” thì tỉnh queo, còn có vẻ hãnh diện và hân hoan khi “lãnh” hình 5 người con tử trận đem treo đầy nhà, với một số tiền mấy chục triệu, và một bộ đồ cho bà mặc để nhận huy chương “mẹ VN anh hùng”! Bà được đưa lên thủ đô Hà Nôi tham quan, và được các “đồng chí cán bộ” đến “tôn vinh”, khiến bà luôn kiêu hãnh vì những “danh vọng” đạt được do hiến cho Đảng 5 người con thân thương. Cho đến khi nằm bệnh lúc tuổi già cô quạnh không ai chăm sóc, trước khi lâm chung, bà đã khóc suốt mấy đêm ngày và thốt ra những lời đã từng giấu kín trong lòng bao chục năm: “Vì tôi ngu nên đã… giết hết các con của tôi”, và bà quyết… ra đi để tìm con chuộc lỗi! 

Những người mẹ như vậy hỏi có ai biết tới? “Tượng đài” kia có khiến họ khuây nguôi?! Cũng đừng nói khi xây tượng đài với kinh phí hơn 4 trăm tỷ là cử chỉ đền ơn của các người nhé, tiền của các người không bỏ ra một cắc, hoàn toàn đó là tiền mồ hôi nước mắt của dân đóng góp vào ngân sách nhà nước mà các người trọn quyền làm chủ và vung tay phung phá, trong khi trẻ em ở vùng sâu phải hàng ngày 2 buổi trần truồng ngụp lặn dưới dòng nước sâu lạnh giá, gái như trai, đầu đội quần áo và cặp sách, tay bơi lội vượt sông đi tìm “cái chữ”! Khi nghe tin về dự án này, nhiều phản ánh trên báo nói rằng có nhiều bà mẹ VN anh hùng đã phản đối mạnh mẽ, vì không cam lòng nhìn thấy trẻ thơ phải vượt sông đi học, mà dùng quá nhiều tiền để xây tượng đài như vậy! Tôi nghĩ phải chi họ chỉ cần lấy 1 phần mười số tiền đó để chăm lo cho các bà mẹ côi cút là “tượng đài sống” này, thì có lẽ các bà đã thật sự hạnh phúc. Nói tới đây lòng tôi đau như cắt, nghẹn tắc nơi cổ họng, cố nuốt hận vào lòng mà không trôi! 
Lại còn tiếp thêm một tin mới trên mặt báo ngày hôm qua: “Cải tạo cầu Long Biên (Hà Nội) làm “cầu biểu tượng”, chỉ dùng để …đi bộ cho nó “hết sức lãng mạn, như một số cầu ở các nước phương Tây” (lời của người đề xướng dự án), với kinh phí chỉ… 4.860 tỷ đồng! (tin trên Yahoo). Số tiền này mới chỉ bằng...gần BỐN NGHÌN CÂY CẦU vô cùng cần thiết cho các trẻ nhỏ vùng sâu xa, như ở bản “ông Tú”, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình đang mơ ước mà không có, để tránh nguy cơ bị chết trôi chết chìm cho bao trẻ nghèo cần đi học hàng ngày! Số tiền ấy cũng có thể xây dựng tương lai cho nhiều thế hệ trẻ, chứ không chỉ sửa chữa cải tạo có một cây cầu Long Biên! Đó là Ý TƯỞNG TÁO TỢN của một nữ kiến trúc sư (không thấy nêu tên trong bài báo), vừa mới “vạch đường” cho các quan chức Hà Nội, mà chắc chắn nếu Ý TƯỞNG GIẾT NGƯỜI này được thực hiện, bà ta “khó tránh khỏi được… hậu tạ” hàng trăm hay nhiều chục tỷ đồng cho cái tư tưởng QUÁI THAI VÔ NHÂN TÍNH nói trên! Tôi nói “giết người”, là chính xác, vì 4.860 tỷ đồng LÀ XƯƠNG MÁU CỦA BAO DÂN LÀNH! 

Nhân đây xin nhắn “mẹ-đẻ-của-cây-cầu-Long-Biên-với-kinh-phí-4.860-tỷ-để-đi-bộ-cho-lãng-mạn” rằng: Cây cầu của bà chắc chắn chưa ĐẠT LÃNG MẠN bằng các bức hình chụp TRẦN TRUỒNG GIỮA THIÊN NHIÊN của mấy cô cậu nghệ sĩ vô văn hóa, kém giáo dục đăng trên các báo, nhất là cảnh SỐNG THỜI TIỀN SỬ với những màn TẮM TIÊN của các quan chức nhà nước mới đây đâu bà ạ! Dù sao nó cũng không cướp của dân nhiều tiền như “cây cầu biểu tượng” con đẻ của bà, và nó còn “nhân đạo” hơn gấp bội, vì các cảnh “lãng mạn” bẩn thỉu kia nếu có gây cho người ta bức xúc đến sinh bệnh mà chết, thì “con số tử vong” của nó cộng lại, cũng không thể cao bằng con số tử vong do đói, hay do bất mãn và uất ức bởi cái DỰ ÁN HẠI NGƯỜI của bà đâu, thưa bà kiến trúc sư… bệnh hoạn! (Bệnh hoạn vì trong tình thế này mà dám ngồi rỗi đẻ ra cái quái thai đó, để “hiến kế” cho bọn tham quan hút máu mủ của dân!). Nếu chỉ vì muốn nổi danh thì xin bà hãy lựa con đường khác “nhân đạo” hơn, kẻo bà lại có thể trở thành kẻ tiếp tay cho quỷ mà hại dân đấy bà ạ! Hoặc giả bà tự thấy có khả năng và dư giờ, xin bà hãy cố động não vẽ “truyền chân” dùm cho nhà cầm quyền VN một “biểu tượng” chính xác và thích hợp hơn: đó là MỘT BÀY KHỈ ĐANG CƯỜI NHE RĂNG BÊN NHỮNG XÁC NGƯỜI CHẾT KHÔ! 
Nói thay cho dân, 

Nhà Giáo... Bỏ Nghề

Bài Xem Nhiều