We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 30 September 2011

Núi Vàng bên bờ sông Seine




Người Tầu đón xuân tại Paris
Nói tới sông Seine, tháp Eiffel, hay nhà thờ Đức Bà là muốn nói tới Paris. Không thể có sự ngộ nhận với một thành phố nào khác được.
Về cách làm ăn, khi nói tới hàng giả, có chứa chất độc, tổ chức cờ bạc lậu, xài tiền mặt, …là muốn nói tới Ba Tàu. Nhưng khi nói cách làm ăn chung với nhau, giữ chữ tín không cần hợp đồng, thì không ai khác hơn Ba Tàu!
Triết lý cổ đại của người Tàu là “lượm bạc cắc”. Phương tiện nào cũng đều tốt, khả thi nếu giúp người Tàu lượm được bạc cắc.
Cỏ May kể một câu chuyện về triết lý lượm bạc cắc của người Tàu để hiểu tại sao người Tàu, con cháu của Khổng Mạnh, thường không cần quan tâm tới vấn đề đạo đức và vệ sinh sức khỏe khi lượm bạc cắc. Không phải chỉ vì người Tàu trước đây bị nạn đói hoành hành triền miên nên đối với họ cái ăn là quan trọng. Chết vì đói trước khi chết vì bịnh tật do thiếu vệ sinh luôn luôn là nổi ám ảnh người Tàu từ muôn đời . Nên chi, khi gặp nhau, người Tàu có thói quen hỏi nhau như để chào nhau “ăn cơm chưa?”. Người ăn cơm rồi là người hạnh phúc cho ngày hôm ấy . Muốn không bị chết đói, phải có tiền. Muốn có tiền, phải biết cách làm ăn. Và khởi đầu với hai bàn tay trắng. Triết lý lượm bạc cắc đã dạy người Tàu thoát nạn đói và làm giàu ở khắp nơi trên thế giới. Triết lý này còn giúp họ biết sống tương thân tương trợ nơi đất khách, lấy chữ tín làm phương châm.
Trong Thế chiến, dân Âu châu đi tỵ nạn. Chiếc tàu chở người tỵ nạn bị chìm vì quá tải. Một ngưòi Do thái rớt xuống biển. Sau thời gian ngắn bơi lội, anh từ từ chìm xuống. Bỗng anh thấy như chân đang đi trên một tấm thảm êm ái và anh không còn thấy bị ngộp nước nữa. Cứ như vậy, anh tiến xa thêm. Anh chẳng những không sợ khi biết mình đang đi trong bụng một con cá mập khổng lồ, mà còn mừng thầm vì nghĩ phen này, anh có cơ hội mới làm ăn, không còn bị cạnh tranh khó khăn như trước đây. Chốc lác sau, anh kinh ngạc trông thấy một người Tàu ngồi trước mặt anh đang đếm bạc cắc.
Ngày nay, người Tàu đang ngồi bên bờ sông Seine đếm bạc cắc. Nước Pháp và Âu châu, nói chung, đều đang lâm vào tình trạng kinh tế khủng hoảng nhưng vẫn còn là “mảnh đất vàng” cho người Tàu lượm bạc cắc. Họ lần lược tới bằng nhiều đợt di dân lậu. Họ trốn ở lại không giấy tờ, làm ăn lậu, sống lậu trong khắp hang cùng ngỏ hẻm giữa người Tàu với nhau, trong tinh thần tương thân tương trợ. Làm việc, ăn mì gói, ngủ dưới hầm, lãnh lương bằng tiền mặt.
Những bí mật của người Tàu ở Paris
Hôm chủ nhựt 13/02/2011, đài TV6 của Pháp, vào 22 giờ 45, phát hành một chương trình điều tra đặc biệt về “Những bí mật của người Tàu ở Paris” do ký giả Eric de Saint Angel của tuần báo Le Nouvel Observateur (phụ bản) tường thuật . Những điều được gọi là “bí mật của người Tàu ở Paris” do đài TV6 đưa ra, thật sự chẳng có gì đáng gọi là bí mật hết cả. Vì ai cũng đã am hiểu từ lâu, mà còn rõ hơn, nhiều hơn . Như phóng viên TV6 đưa ra giới thiệu với khán giả những món hàng giả, phẩm chất xấu, giá rẻ để chiếm thị trường, …
Cách tổ chức làm ăn của người Tàu rất chặt chẽ. Tiền bạc không qua ngân hàng Pháp, chỉ lưu hành trong vòng đóng kín của họ. Ngân hàng của người Tàu là “chữ tín” trừu tượng mà hiệu lực hơn hợp đồng nhiều trang giấy của Tây. Chủ nhân, công nhân, những dịch vụ cung cấp cho tổ chức làm ăn này đều là người Tàu. Một giọt xì-dầu không rớt khỏi miệng người Tàu để có thể rơi xuống thấm vào đất Tây!
Về lịch sử người Tàu có mặt ở Pháp, thiên điều tra đặc biệt của TV6 cũng bị nhiều người phủ nhận. Theo TV6, người Tàu tới Pháp lập nghiệp từ những năm 1930. Thật ra, người Tàu phải tới đây từ hồi Đệ Nhứt Thế chiến.
Ngày nay, theo sự thăm dò thì có lẽ số người Tàu sanh sống ở Pháp phải từ 400 000 tới 900 000 người. Sai biệt 500 000 người, tuy theo ước tính, cho thấy con số người Tàu ở Pháp là rất mơ hồ. Riêng trong số 400 000 – 900 000 người đó, có bao nhiêu là người Tàu thiệt, bao nhiêu người Tàu mang quốc tịch Pháp, bao nhiêu người “Tàu ma”, tức không có giấy tờ gì hết. Và khi bị bắt, chính họ trả lời với cảnh sát rằng họ không biết  họ là người xứ nào, làm sao tới đây được, để không bị trục xuất về.
Trước đây, hơn mươi năm, nhựt báo France Soir, đăng một thiên điều tra về người Tàu sanh sống ở Pháp. Ngoài những vụ làm ăn theo kiểu hoàn toàn “Made in China” quen thuộc, tác giả của thiên điều tra còn nhấn mạnh đến một chi tiết nhân xã làm độc giả Pháp kinh ngạc là cộng đồng người Tàu chỉ có sanh, mà không hề có tử vong. Bởi thông thường, một cộng đồng nào, sau thời gian sanh sống qua hơn một thế hệ, đều có con số tử vong vào lối 10 % .
Ở Pháp, người Á châu bị móc túi không chỉ vì nhằm lấy tiền mà thôi, mà quan trọng là giấy tờ. Nếu giấy căn cước còn hiệu lực lâu (căn cước Tây hiệu lực 10 năm) bán có giá cao, vài mươi ngàn euros, cho người mua để tạm ở lậu. Bởi cảnh sát pháp khó phân biệt người Tàu với người Á châu khác như chúng ta khó phân biệt người Pháp với người Ý hay Đức. Sau France Soir, có hai tác giả viết quyển “Họa da vàng” (Le Mal Jaune) cũng đào sâu những cách làm ăn phi pháp, những vụ thanh toán nhau theo băng đảng mà không bao giờ khai báo, … Nên nhớ Tam Điểm hay Thiên Địa Hội vẫn còn hoạt động ngày nay ở nhiều nơi, cả ở Phi châu, để nhằm khống chế ảnh hưởng người Tây phương đã có từ thời thuộc địa. Hai đồng tác giả bị người Tàu ở Paris kiện nhưng thua kiện vì những vụ việc trong sách đều có dẫn chứng. Liền sau đó, quyển sách không còn thấy xuất hiện trên thị trường vì bán hết sạch. Sách cũng không được tái bản.
Thiên điều tra của TV6 cho rằng người Tàu sanh sống ở Pháp là một cộng đồng thuần nhứt . Thật ra, nhận xét của tác giả không đúng hẳn vì họ tới Pháp bằng nhiều đợt khác nhau, từ nhiều địa phương khác nhau ở xứ Tàu. Như người ở Quảng đông, Quảng tây, Bắc kinh, Hán vũ, Hồng kông, Thượng hải, … Còn số khác tới từ Đài Loan, hoặc Miên, Lèo, Chợ lớn, sau biến cố 30/04/75 . Trong làm ăn, họ cũng tranh chấp nhau gay gắt, có khi phải thanh toán nhau. Nhưng khi thanh toán nhau, họ giử thảng nhiên, không hề đưa ra luật pháp xử lý. Ở Paris, thỉnh thoảng cảnh sát phát hiện một vài xác chết người Tàu vứt ở xó hẻm hoặc dưới cống rãnh kín đáo.
Có điều nổi bật, rất hiển nhiên, là người Tàu ở Paris nổi tiếng là cộng đồng làm ăn thành công nhanh chống và vững chắc. Họ là một thế giới đóng kín. Sự thành công của họ làm cho mọi người, tức cả người Pháp, phải bị chóa mắt. Lúc đầu, họ tới Paris, cắm dùi ở khu phố Arts et Métiers ( khu phố và Métro Arts et Métiers, tên Trường Cao đẳng đào tạo kỹ sư Công Nghệ và các ngành khoa học nổi tiếng ) thuộc Quận 3 Paris. Dĩ nhiên họ tới Paris không phải với quần xà lỏn và cây đòn gánh như Chú Hỏa ngày xưa tới Sài Gòn. Từ cuối năm 1975, họ bắt đầu lan xuống Quận 13, phía Đông-Nam Paris, tiếp theo, họ lấn chiếm khu phố Belleville thuộc Quận 20, vá các Quận 10, 11, 19 và 20 Paris.
Trong Quận 11, họ chiếm lấy khu phố Voltaire, dành về tay họ các xưởng may quần áo, xưởng thi công hoặc sản xuất các thứ phụ tùng cho thời trang mà trước đây do người Do thái nắm giữ gần như độc quyền. Nói người Tàu chiếm lấy khu phố, có nghĩa cụ thể là họ sang lại hay mua lại cửa hàng, hãng xưởng trên dài suốt cả con đường, từ con đường này qua con đường kia, loại hẳn các ngành nghề buôn bán khác của các sắc dân khác. Đứng buôn bán, công nhân sản xuất, lao công đẩy xe giao hàng, cà-phê, tiệm ăn sáng, trưa, chiều tối, toilettes, … tất cả đều của người Tàu, do người Tàu hết và cho người Tàu .
Aubervilliers, Thành phố ngoại ô Đông-Bắc nằm sát Paris, là Trung tâm xuất nhập cảng của Tàu. Ngày lễ hội như Trung Thu hay Tết, Aubervilliers được người Tàu giăng đèn kết hoa khắp đường phố, trông như một Thành phố ở trên xứ Tàu.
Ở đây, một người Tàu tên Wang, người xứ Wenzhou, làm chủ ¾ tổng số kho hàng của thành phố. Cơ sở kinh doanh của ông Wang được ghi tên trên Thị trường chứng khoán. Ông đang dự tính bỏ ra 30 triệu euros khai thác hải cảng Le Havre ở Miền Tây-Bắc nước Pháp, và biến Le Havre thành một Trung tâm xuất nhập cảng lớn . Cảng Le Havre từ mấy năm sau này gần như không còn hoạt động nữa. Cảng Marseille cũng vừa đóng cửa vì công nhận đình công kéo dài, để chuyển tàu bè qua Tây-ban-nha bốc dỡ. Người Tàu sẽ làm ăn thành công. Người Pháp sẽ có cơ hội làm công nhân cho chủ Ba Tàu.
Cỏ May có nói Cộng đồng Tàu ở Pháp không phải là một cộng đồng thuần nhứt như thiên phóng sự giới thiệu. Cạnh tranh làm ăn, kỳ thị nguồn gốc địa phương với nhau và thẳng tay bốc lột nhau là chuyện bình thường. Như truyện Tam Quốc diễn nghĩa. Người Tàu tên Yang, cũng ở khu phố Aubervilliers, than phiền bị nhiều ông chủ Tàu thay phiên nhau bóc lột vì anh ta sanh sống ở đây không có giấy tờ hợp lệ. Yang còn bị người Tàu kỳ thị, ngược đãi vì anh gốc gác ở Dongbei. Anh chỉ làm công nhân, không được Bang Hội giúp đở để có thể có một cửa hàng như những người khác trong lúc đó anh đã thường xuyên thay đổi chỗ ở liên tục để tránh bị cảnh sát truy nã.
TV6 đưa ra một chi tiết đã làm cho khán giả chú ý là ở khu phố Tây-Bắc Paris, có một chung cư mà tất cả chủ đều là người Tàu. Mỗi căn được người chủ xếp đặt lại thành một thứ phòng ngủ cho người Tàu thuê. Chung cư giao cho một người Tàu quản lý, thu tiền phòng và thi hành kỷ luật nội bộ.
Lần đầu tiên người Tàu ở Paris biểu tình
Belleville là khu phố nằm giữa các Quận X, XI, XIX và XX của Paris . Cư dân ở đây gần như đủ chủng loại. Một khu phố quốc tế. Người có tiền, ít có ai chọn nơi đây.
Vừa rồi, đó là lần đầu tiên Ba Tàu ở Paris, từ nhiều nơi kín đáo, lũ lượt chui ra, xuống Đại lộ Belleville rầm rộ biểu tình, với khẩu hiệu hiền lành “Sống ở Paris không sợ hãi”. Khẩu hiệu này cũng ngụ ý nói lên rằng “nay người Tàu không sợ cảnh sát bắt vì ở lậu nữa”. Hay hàm ý khiêu khích “Người Tàu đây” vì họ biết chỉ trong ít lâu nữa thì Tổng thống Pháp sẽ trải thảm đỏ rước ông Hồ Cẩm-đào của họ.
Cuộc biểu tình tuy lần đầu tiên tổ chức rất thành công vì qui tụ được gần 10 000 người, theo ước tính của cảnh sát, và 20 000 người theo nguồn tin của ban tổ chức. Biểu tình để đòi được bảo vệ an ninh vì từ trước giờ họ bị người “rệp” (Ả-rập) và đen gặp đâu, đè họ ra giựt tiền mà họ không dám thưa gởi. Một phần vì bản tánh muốn sống yên thân để lượm bạc cắc, phần khác vì họ sanh sống ở khu phố Belleville, đa số không có giấy tờ do nhập cư lậu từ lục địa sang. Mà có thưa cảnh sát, thì cảnh sát lờ đi như có khuynh hướng bênh vực dân rệp và dân đen.
Một hôm có đám cưới Tàu trong một nhà hàng lớn ở Belleville. Đông đảo khách người Tàu ra về. Một đám rệp và đen, có lẽ quen lối làm ăn cũ, đứng ngay trước cửa nhà hàng, chặn khách người Tàu, cướp tiền, nữ trang, giựt bót. Trong số khách đi đám cưới có một người có khẩu súng nhỏ, rút ra bắn vào đám rệp và đen, làm cho một người bị thương. Cảnh sát can thiệp vì ở Pháp, mọi người dân không ai có quyền giữ vũ khí. Hậu quả vụ cướp đám cưới là Ba Tàu kéo nhau xuống đường biểu tình đòi được bảo vệ an ninh. Hôm người Tàu biểu tình, bà Anh Đào, con gái nuôi của Cựu Tổng thống Chirac có tham dự để tỏ tình đoàn kết vì ông bố rất mê Tàu.
Người Tàu sanh sống ở Paris và vùng phụ cận ước tính có tới từ 600 000 – 700 000 người. Trong lúc đó, người Việt nam tới Pháp từ Đê I Thế chiến cho tới nay, trên toàn nước Pháp, không quá 200 000 người.
Ngày nay, ở Belleville, ngoài 2 cộng đồng Phi châu và Tàu, vừa xuất hiện thêm những người có tên là “bo-bos” đang tìm mua nhà cửa, cơ sở thương mãi với giá cao, hàng triệu euros, mà nguồn gốc tiền bạc, cảnh sát cho rất mơ hồ.
Những người Phi châu đen hay xám tuy du đãng, chặn người Tàu giựt tiền, nhưng vẫn biết giữ tối thiểu lịch sự theo nếp sống của xã hội văn minh trong lúc đó người Tàu tới từ xứ Trung quốc, không biết tôn trọng thứ tự ưu tiên mà chen lấn để để được giải quyết trước.
Chỉ cần nhìn cử chỉ nhỏ này người ta có thể nhận diện không sợ sai lầm người Tàu Trung quốc với người Á châu khác như Việt nam, Nhựt bổn, Đại hàn hay Miên, Lào, …
© Nguyễn Thị Cỏ May

Bảo Vệ Cộng Đồng



Danh từ ‘cộng đồng’ sử dụng ở đây là danh từ chung chỉ tập thể người Việt hải ngọai - mà đông nhứt là người  Mỹ gốc Việt - và hậu duệ tỵ nạn CS bằng nhiều cách kể cả những  người Việt dùng thuyền nan vượt đại dương đi tỵ nạn CS.  Sau gần 36 năm, những người này đã lập được một kỳ công, hình thành được một Việt Nam Hải ngoại. Nhờ tiến bộ khoa học, kỹ thuật của Tin Học, truyền thông tiếng Việt trong đó có phát thanh, phát hình, báo chí chuyển qua cable, satellite và Internet, các cộng đồng người Việt tỵ nạn CS ở Tây Âu, Bắc Mỹ, Úc châu đã kết nối dễ dàng với nhau. Tuy không có chánh quyền, không có chánh phủ lưu vong, không có riêng một lãnh thổ, nhưng nhờ có cảm nghĩ thuộc về nhau (sense of belonging), cùng chung một căn cước tỵ nạn CS, và chánh nghĩa đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN nên đã cùng làm ra  một Việt Nam Hải ngoại.
CS Hà nội là những người chuyên môn lũng đoạn hàng ngũ người Việt Quốc gia và chuyên nghiệp cướp chánh quyền đâu có dễ gì buông tha cho những người Việt Nam hải Ngọai. Đó là những người chịu không nổi CS, quyết không sống chung với CS, đành phải bỏ nước ra đi, nay đã thành một thế lực kinh tế, chánh trị thách thức lý do tồn tại của Đảng Nhà Nước CSVN qua chánh nghĩa đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN. 
Nên việc CS đánh phá các cộng đồng VN ở hải ngoại và VN hải ngoại là chuyện đương nhiên, không có gì đáng ngạc nhiên cả. Bộ Chánh Trị của Đảng CS, bộ quyền lực cao nhứt nước VNCS, có ra cả Nghị Quyết 36 và dành một ngân sách tình báo, tuyên truyền quốc ngọai  bí mật rất lớn để thi hành kế họach “nắm” và lũng đọan các cộng đồng người Việt hải ngọai. Một mặt CS dùng nhiều chiêu bài chiêu dụ như hòa giải hòa hợp, để quá khứ ra sau hướng về tương lai phía trước, đem tiền tài, tri thức, kinh nghiệm về xây dựng quê hương. Mặt khác lên án ai không theo CS là “lực lượng thù địch”, như  CS tuyên truyền đen, trắng, xám rằng chống Cộng là “chống gậy”, biểu tình chống Cộng chỉ còn có ”bảy tám người”, đi biểu tình tranh đấu cho tự do tôn giáo, tự do, dân chủ, nhân quyền VN, toàn vẹn lãnh thổ VN bị chụp hình thì khó “tránh đâu” khi hữu sự xin visa về VN, v.v... 
Thời đại này là thời đại truyền thông đại chúng, xã hội người Việt sống khi định cư là xã hội tự do ngôn luận. CS Hà nội bây giờ có an ninh lộ trình bang giao, giao thương, có ngân sách quốc gia bạc tỷ tỷ Đô la, CS lợi dụng tình hình tự do ngôn luận, tự do báo chí tại Hoa Kỳ, đã chỉa mũi dùi vào tận phòng khách dân việt tị nạn qua truyền hình, qua báo mạng và tập trung nỗ lực tấn công các cộng đồng người Việt chống Cộng ở hải ngọại -- là điều không khó hiểu. 
Ở Mỹ nơi có hơn hai triệu người Mỹ gốc Việt, truyền thông đại chúng của Mỹ chánh yếu do các công ty tư nhân về vệ tinh, cable, Internet đều do tư nhân làm chủ. Trên trời CS Hà nội đã dùng tiền bạc hợp đồng mướn những công ty Mỹ này chuyễn tải truyền hình VT4 của Trung ương, và lập ra một chi nhánh của Thống tấn xã VNCS rồi. CS hầu như không thu lệ phí và gắn dĩa thu gần như cho không. Dưới đất, CS Hà nội chưa dám ra một đài phát thanh hay một tờ báo riêng vì e ngại chẳng có người nào nghe và xem như văn hoá phẩm của CS đã đem qua Mỹ bán giá hết sức rẻ mà không ai buồn mua. 
CS phải dùng con đường quanh co để xâm nhập. CS gian ngoan vận động đến mức nhiều người tuyên truyền không công cho CS mà không biết. Mục tiêu mà CS nhắm vào là quan niệm và làm báo, làm đài  theo kiểu Tây kiểu Mỹ nhưng cho người gốc Việt tỵ nạn CS xem và nghe. Không ý thức được tấm hình có cây cờ máu CS, những “từ CS” làm nhói tim, làm trái tai gai mắt người đọc, nhứt là thế hệ thứ nhứt là độc, khán, thính giả mẫn cán. Bao nhiêu cuộc phản đối xảy ra là do những vô tình hay cố ý che đậy đó. 
CS khai thác tối đa và lạm dụng tối đa cách làm báo của Tây Phương, nhơn danh quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, khích động, khiêu khích đối thoại, phản biện, nghị luận đa chiều để đưa văn hoá, tư tưởng của CS vào truyền thông hải ngoaạ, nhưng vẫn kềm kẹp trong nước.
CS khai thác sự sống nhờ vào quảng cáo của các cơ quan truyền thông tiếng Việt ở hải ngọai. Khác với báo thời kỳ còn VNCH, báo chí tiếng Việt ở hải ngoại phần rất lớn sống nhờ quảng cáo. CS xâm nhập vào kinh tế khá sâu ở hải ngoại có thể trực hay gián tiếp ảnh hưởng đến chủ quảng cáo. 
CS khai thác sự thiếu nhân sư của toà soạn, ban biên tập báo, ban chương trình của các đài truyền hình. Ít người quá khi đi tin trong nước cứ copy, cut, rồi paste mà không edit vì không có người và thì giờ.
Và CS cũng khai thác phương tiên tài chánh khiêm tốn của các báo và đài của người Việt hải ngoại trong chương trình giải trí và văn nghệ. Lấy cải lương, tân nhạc, kịch tuồng của trong nước thì khỏi trả tiền, không gặp khó khăn về bản quyền, chớ lấy của hải ngoại thì phải trả tiền mà truyền thông đại chúng tiêng Việt hải ngọai thì tài chánh rất khiêm tốn, người làm truyền thông vì cái ‘nghiệp” chớ không vì đồng tiền chẳng được bao nhiêu. 
 Con đường quanh co CS xâm nhập tuy êm nhưng thấm rất sâu, khó cho  cộng đồng hải ngọai gỡ. Quần chúng độc giả, khán thính gỉa muốn đưa ý kiến khác với báo chí rất khó, muốn chống đối một tờ báo hay một đài phát thanh hay phát hình không phải là chuyện dễ. Cơ quan truyền thông tuy là của một tư nhân hay một công ty tư nhưng có nhiều cách, nhiều quyền để có quyền ăn, quyền nói, quyền gói ý kiến người khác... Thêm nữa, vì quyền tự do ngôn luận được luật pháp Hoa Kỳ bảo vệ, và là nhu cầu phát triển tự nhiên của cuộc cách mạng tin học ở Mỹ.
Thêm vào đó gần đây CS Hà nội kết họp diệt tiếng nói của cộng đồng tỵ nạn CS chống Cộng bằng thủ tục thưa kiện. Nhiểu vụ lợi dụng thủ tục tố tụng của Mỹ, nơi đông người Việt tỵ nạn CS nhứt thế giới, để kiện tụng nhằm mục đích cản trở  những ý kiến và hành động của những người chống Cộng đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN. Ở Mỹ người ta đã thấy nhiều vu kiện như thế: Arizona, Seattle, Texas, California…
Cộng đồng là tập thể trong đó có mỗi một người sống trong đó. Căn cước của cộng đồng người Việt hải ngọai đại đa số gốc là tỵ nạn CS. Nhiệm vụ bảo vệ cộng đồng là nhiệm vụ chung, nhiệm vụ của mỗi một người. Thái độ đứng ngòài  chờ  các tổ chức cộng đồng, hội đòan, đòàn thể làm cho mình hưởng là thiếu tinh thần công dân giáo dục, thiếu tinh thần cộng đồng, thiều tình liên đới, và quên nguồn gốc của mình./.

Vi Anh

Tại sao Việt Nam cần dân chủ?



Kể ra, hỏi như vậy cũng thừa. Bởi, hầu như ai có trí óc bình thường một chút cũng đều biết giá trị của dân chủ. Ngày xưa, chính quyền bưng biết mọi thông tin, dân chúng hoàn toàn không biết gì về đời sống bên ngoài cả, do đó, họ dễ có ảo tưởng xem nơi họ đang sống đã là thiên đường dù, trên thực tế, họ đang cơm độn và thiếu thốn đủ thứ. Nhưng cái thời ấy qua rồi. Bây giờ, người dân có cơ hội đi nhiều, thấy nhiều, biết nhiều, hiểu nhiều. Một trong những cái thấy, biết và hiểu đó là: sự ưu việt của các chế độ dân chủ.
Chính những tính ưu việt ấy là những lý do chính đáng và đầy thuyết phục để người ta thấy dân chủ hóa là cần thiết. Cần thiết vì một số lý do có thể được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hưng Quốc
Thứ nhất, dân chủ mang lại thịnh vượng và phát triển. Trong phạm vi toàn cầu, ai cũng thấy là tất cả các nước dân chủ đều giàu mạnh. Ngay cả Việt Nam và Trung Quốc, trước đây, dưới ách chuyên chế tuyệt đối, tất cả đều chìm ngập trong nghèo đói. Sau này, từ giữa thập niên 1980, đặc biệt từ đầu thập niên 1990 đến nay, nhờ chính sách "cởi trói", dân chủ được manh nha một chút, kinh tế đi lên ngay và đời sống thoải mái hơn hẳn. Đó chỉ mới là dân chủ một chút. Một chút thôi. Mà đã thấy khác. Ngày trước, dân chúng thường giễu cợt những lời tuyên truyền láo khoét của đảng bằng câu ca dao: "Mất mùa là tại thiên tai / Được mùa là tại thiên tài đảng ta!" Các nhà nghiên cứu từ lâu nhận ra sự thật này: ở các quốc gia dân chủ, hầu như không bao giờ dân chúng phải chết đói vì thiên tai cả. Không phải tại họ không gặp thiên tai. Ở đâu lại chẳng có thiên tai? Mỹ: có. Nhật: có. Úc: có. Châu Âu: có. Có, nhưng không ai chết đói cả. Ngược lại, ở các xứ độc tài, chỉ một thiên tai nhỏ là đã có bao nhiêu người chết đói. Lý do không phải là tại thiên tai mà tại sự quản lý của con người.
Thứ hai, chỉ có dân chủ mới tôn trọng nhân quyền. Vừa độc tài vừa nói về nhân quyền là một sự nói dối. Cả hai không bao giờ đi liền với nhau được. Trừ khi người ta hiểu nhân quyền là quyền được sống như những con vật. Còn lại, tất cả các quyền của con người, từ quyền bình đẳng đến quyền tự do, quyền được tôn trọng và được bảo vệ thì chỉ có dân chủ mới bảo đảm. Bởi, tự bản chất, dân chủ ra đời là để bảo vệ những thứ quyền ấy.
Thứ ba, chỉ có dân chủ mới có một sinh hoạt chính trị lành mạnh, tốt đẹp và hiệu quả. Hầu hết các cuộc khủng hoảng chính trị chỉ xảy ra ở các nước độc tài. Ở các quốc gia dân chủ, ngay cả khi có khủng hoảng ở cấp lãnh đạo cao nhất, guồng máy chính phủ vẫn hoạt động suôn sẻ và đời sống dân chúng cũng như sinh hoạt hàng ngày vẫn diễn ra bình thường. Ở Úc, trong năm vừa qua, có cuộc đảo chính trong nội bộ đảng cầm quyền, ngày hôm trước Kevin Rudd làm Thủ tướng; ngày hôm sau Thủ tướng đã là Julia Gillard. Phần lớn dân chúng vẫn không cảm nhận bất cứ sự thay đổi nào cả. Sau đó là bầu cử. Số phiếu của đảng Lao Động và Liên đảng (Tự Do và Quốc Gia) ngang ngửa nhau. Trong suốt cả tháng họp hành, bàn bạc, vận động để tranh thủ sự ủng hộ của các Dân biểu độc lập, chính phủ ở trạng thái treo, không có người thực sự cầm lái. Nhưng guồng máy chính phủ vẫn chạy đều. Dân chúng cũng vẫn không cảm nhận có sự thay đổi nào cả. Mọi việc vẫn bình thường. Bởi vậy, không ai gọi đó là "khủng hoảng" ở tầm quốc gia.
Tất cả những điều vừa nêu đều là những điều khá hiển nhiên. Hầu như ai cũng thấy. Nhưng với riêng Việt Nam, ngoài những lý do nêu trên, theo tôi, chúng ta còn cần dân chủ vì một số lý do khác nữa.
Thứ nhất, chỉ có dân chủ mới mang lại sức mạnh cho chúng ta trong việc đương đầu với Trung Quốc. Hầu như ai cũng thấy, điều duy nhất khiến Trung Quốc chùn tay trong mọi âm mưu xâm lấn hay xâm lược chính là gần 90 triệu dân chúng Việt Nam. Trung Quốc có thể đánh bại họ, nhưng chắc chắn không thể giết hết họ và không thể làm họ bị khuất phục. Không dân chủ hóa, cứ khăng khăng giành độc quyền yêu nước, chính quyền chọn ở vào thế bị cô lập với dân chúng. Bị cô lập cũng đồng nghĩa với sự suy yếu. Đối diện với Trung Quốc, họ chỉ còn là một nhúm người nhu nhược, làm sao có thể đòi hỏi thế đứng ngang tầm để đối thoại được? Chẳng có gì đáng  ngạc nhiên khi, trước Trung Quốc, họ cứ khúm na khúm núm. Như những Mặc Đăng Dung mặc áo vét và thắt cà vạt.
Thứ hai, chỉ có dân chủ mới mang lại hòa bình cho Việt Nam. Một là, nếu Việt Nam dân chủ, sẽ không có quốc gia Tây phương nào nuôi ý đồ xâm lấn Việt Nam cả. Truyền thống của các nước dân chủ là, trừ một số ngoại lệ hiếm hoi, họ không gây chiến với nhau. Mọi xung đột đều được giải quyết một cách khá ôn hòa, qua các cuộc thương thảo và thương lượng. Hai là, chỉ khi dân chủ hóa, Việt Nam mới có thể hy vọng có bạn nhiệt tình giúp đỡ trong cuộc đối đầu với Trung Quốc. Hiện nay, rõ ràng Việt Nam đang ở thế thân cô thế cô. Là thành viên của khối ASEAN, nhưng không có nước nào hết lòng với Việt Nam cả. Ý đồ (nếu thực sự đảng Cộng sản đang nuôi một ý đồ nào đó để bảo vệ đất nước) liên kết với một số quốc gia khác cũng sẽ không thể thực hiện được nếu Việt Nam không có dân chủ. Lý do đơn giản: đã độc tài thì không có bạn. Tên độc tài nào cũng cô đơn. Hắn không tin người khác. Và cũng không ai tin hắn.
Ở những nơi khác, không dân chủ là một thiệt thòi. Ở Việt Nam hiện nay, không dân chủ là một thảm họa.

Tiếng nấc của Mẹ



   
 
“...khối đá dẫu sống đời
cũng vô tri vô nghĩa
mẹ chỉ muốn làm người
chết nằm yên nghĩa địa...”

 
Mẹ Việt Nam Anh Hùng
  đời nhọc nhằn khoai sắn
cam khổ đến tận cùng
giờ tiếp tục cay đắng
 
con mẹ muốn gì đây?
vinh danh, tạ ơn mẹ
  hay mang mẹ phơi thây
cầu danh mua phú quí


ngày xưa mẹ đã từng
bị đàn con lợi dụng
mang mẹ làm bung xung
nhuộm nước nhà đỏ máu

mẹ chết đã số nhiều
mẹ sống còn không ít
tiếp tục kiếp hẩm hiu
mòn mỏi trong chòi lá
 
con cháu mẹ cả đàn
thiếu nhà thương trường học
cơm lưng dạ bủng vàng
đời câm nín như đất

vinh danh mẹ cách nào
với đống đá đồ sộ?
nhắm mắt vươn đỉnh cao
cải lương, phi nghệ thuật

đừng mê từ “Vĩ Đại”
hại chết mòn nhiều người
đã có người “Vĩ Đại”
cả dân tội ngậm ngùi

mẹ không là con dơi
cũng chẳng là con quạ
giương nanh hút máu người
dựng tượng hay đầy đọa ?

con hẳn nhớ quê ta
“đất cày lên sỏi đá”
hè cháy, đông sình lầy
danh “Năm Eo” còn mãi

con đào tiền đâu ra
lấp đầy khoản chi phí
trung ương tài trợ à?
cũng từ dân buộc bụng

con tiếp tục bày trò
hiếu thảo kêu đóng góp
dân nào dám giả lơ
đành đưa cổ con bóp

con hưởng mấy phần trăm
để cùng nhau chia chác
năm mươi hay bảy mươi
trên kinh phí xây dựng

mẹ cảm ơn các con
đã có lòng báo hiếu
biết thương và biết ơn
hãy liêm sĩ tối thiếu

khối đá dẫu sống đời
cũng vô tri vô nghĩa
mẹ chỉ muốn làm người
chết nằm yên nghĩa địa

xin vì mẹ thắp hương
xin vì mẹ đốt nến
tiếp tục cuộc đời thường
để hồn mẹ siêu thoát
 mẹ cúi lạy các con
đừng bất nhơn bất trí
bày đặt trò kiếm tiền
bán danh mẹ lần nữa
Luân Hoán

Giã từ Trung Quốc




Lời giới thiệu: Bài “Giã Từ Trung Quốc” được dịch từ bản Anh ngữ tựa là “Walking Out on China” (do Wen Huang dịch từ tiếng Trung Hoa) của nhà văn đối kháng Trung Hoa, Liêu Yiwu, xuất bản trên The New York Times số ra ngày 15 tháng 9, 2011. Ông Liêu, tên Hán Việt là Liêu Diệc Vũ, cũng còn được biết tới dưới tên Lão Vị, sinh năm 1958 tại tỉnh Tứ Xuyên, đúng vào năm Mao trạch Động phát động chiến dịch Một Bước Nhẩy Vọt đã đưa cả nước vào nạn đói trầm trọng. Chính ông Liêu cũng suýt chết đói khi mới 2 tuổi. 

JPEG - 30 kb
Liêu Yiwu, 2010 (Ảnh Wikipedia)
Ông là tác giả, phóng viên, nhạc sĩ và thi sĩ của nhiều tác phẩm bị chính phủ Trung Cộng liệt vào loại phản cách mạng vì đã mô tả bề trái của chế độ thay vì tô hồng, và đã góp phần đưa ông vào chốn lao tù, bị vợ con bằng hữu xa lánh. Ra tù có lúc ông đã sống như một người không nhà, kiếm ăn độ nhật bằng ngón thổi sáo mà ông đã học được từ một vị sư trong thời gian ở tù, trong khi tiếp tục ghi nhận đời sống của những người bị lọt qua các kẽ hở của cuộc cải cách kinh tế bằng hệ thống tư bản của Bắc Kinh. Tác phẩm của ông, trong số đó có nhiều cuốn là những gom góp các cuộc phỏng vấn với những người cùng đinh hay sống bên lề xã hội — những tay anh chị du thủ du thực, những người sống ngoài vòng pháp luật, các nghệ sĩ hè phố, những cựu đảng viên cộng sản, người tàn tật, phu đổ rác, hốt phân, lượm xác chết, lang vườn, phạm pháp và cả những kẻ ăn thịt người, vv… — đã được xuất bản ở Đài Loan và Hương Cảng song bị cấm tại Hoa Lục. Một số đã được dịch ra tiếng Anh, Pháp và Đức (xem thư mục và chi tiết tiểu sử tại http://en.wikipedia.org/wiki/Liêu_Yiwu). Vào năm 2003, ông được giải Nhân Quyền Hellman-Hammett, và năm 2007, ông được giải Tự Do Sáng tác (Freedom to Write Award) của Trung tâm Văn bút Trung Hoa. Mặc dù buổi trao giải diễn ra ở Bắc Kinh, song ông bị chính quyền ngăn cản không cho tới dự.

Sau 16 lần xin giấy xuất cảnh song bị bác, ông Liêu quyết định đào thoát. Ngày 6 tháng 7 vừa qua ông đã tới được Đức sau khi vượt biên giới Hoa-Việt tới Hà Nội rồi đáp máy bay đi Ba Lan và sau đó tới Đức. Sau đây là bản dịch từ bản Anh ngữ bài viết của ông về hành trình vượt biên tìm tự do của ông. (Trùng Dương)

— -

Tỉnh Vân Nam ở tây nam Trung Hoa từ lâu đã là lối thoát cho những người khao khát một đời sống bên ngoài nước này. Tại đây, ta có thể vượt biên bằng đường bộ xuyên qua những khu rừng còn tinh khôi, hoặc bằng đường thủy lênh đênh từ sông Lancang cho đến khi nó trở thành sông Mekong len lỏi qua Miến Điện, Lào, Thái Lan, Cao Miên và Việt Nam.

Do đấy mỗi lần tôi đặt chân tới đây, nơi đất đỏ tỏa sáng dưới ánh mặt trời, tôi thấy xốn xang; óc tưởng tượng của tôi mặc sức vẫy vùng. Thực tế là sau khi bị bỏ tù bốn năm vì đã viết một bài thơ kết án chính quyền Trung Cộng đã đàn áp dã man các sinh viên tranh đấu vào năm 1989 [nhân vụ sinh viên biểu tình đòi dân chủ tại quảng trường Thiên An Môn – chú thích của người dịch], tôi đã bị nhà cầm quyền từ chối không cấp giấy xuất cảnh 16 lần.

Tôi cảm thấy bị cám dỗ. Bạn không cần phải có sổ thông hành hay hộ chiếu. Cái đáng kể duy nhất là số tiền bạn có trong túi. Bạn chỉ việc liệng cái điện thoại cầm tay đi, cắt đứt mọi liên lạc với thế giới bên ngoài và lẩn vào trong một ngôi làng nơi bạn có thể tìm dễ dàng một người dân quê hay một tay buôn lậu sẵng sàng giúp đỡ bạn. Sau khi đã thỏa thuận giá cả, bạn sẽ được đưa ra khỏi Trung Hoa qua một ngả đường bí mật ngoài tầm hiểu biết của loài người và loài ma.

Cho tới hồi đầu năm nay tôi chống lại sự thôi thúc đào thoát. Thay vì thế, tôi đã chọn ở lại, tiếp tục thu thập tư liệu về những mảnh đời nơi hạ tầng xã hội. Thế rồi những cuộc biểu tình đòi dân chủ lan khắp thế giới Ả rập, và các lời kêu gọi trên Internet để thực hiện những cuộc xuống đường tương tự tại Trung Hoa. Vào tháng Hai và Ba, có những cuộc tụ họp tại các trung tâm thương mại và du lịch ở mấy chục thành phố vào mỗi ngày Chủ nhật. Chính quyền hoảng hốt, dàn chào biểu dương lực lượng khắp nơi. Lính tráng thay đồng phục bằng đồ dân sự và đứng đầy đường phố, chặn bắt bất kỳ ai thấy có vẻ tình nghi.

Trong khi đó, bất cứ đề cập nào tới Cuộc Cách Mạng Hoa Nhài của Tunisia, ngay cả nhắc tới chữ hoa nhài thôi, cũng bị kiểm duyệt trong các điện thư và search engines. Cảnh sát bắt bớ các luật sư nhân quyền, nhà văn và nghệ sĩ. Nhà vận động dân chủ Lưu Hiền Bân (Liu Xianbin), người đã bị giam cầm chín năm vì đã tiếp tay thành lập Đảng Dân Chủ Trung Hoa, lại bị kết án thêm 10 năm tù. Nghệ sĩ Ngải Vị Vị (Ai Wei Wei) biến mất hồi tháng Tư và đã bị quản thúc chặt chẽ tại gia từ khi được thả ra vào giữa tháng Sáu.

Là một người cầm bút cổ hủ, tôi ít khi lên Internet, và Mùa Xuân Ả Rập đã qua mặt tôi. Tuy đứng bên lề vậy chứ tôi cũng không tránh khỏi bị cảnh sát làm rầy rà. Khi các nhân viên mật vụ biết là sách tôi sẽ được xuất bản tại Đức, Đài Loan và Hoa Kỳ, họ bắt đầu gọi điện thoại và tới thăm tôi thường xuyên.

Vào tháng Ba, bọn mật vụ đến đóng đô ở trước nhà tôi để theo dõi sinh hoạt hàng ngày của tôi. “Xuất bản ở Tây phương là vi phạm luật lệ của Trung Quốc,” họ bảo tôi. “Hồi ký ở tù làm ô uế tiếng tăm của hệ thống nhà tù của Trung Quốc và cuốn ‘Thượng Đế Đỏ’ xuyên tạc chính sách của đảng về tôn giáo và đề cao các nhà thờ lậu.” Nếu tôi từ chối không chịu hủy bỏ giao kèo in sách với các nhà xuất bản Tây phương, họ bảo tôi, thì tôi sẽ phải chịu những hậu quả pháp lý.

Rồi thư của [nhà văn] Salman Rushdie tới, mời tôi đi dự Đại hội PEN World Voices ở Nữu Ước. Tôi liền liên lạc với nhà chức trách địa phương để xin phép dời Trung Hoa, và đã đặt mua vé máy bay. Tuy nhiên, ngay trước ngày tôi lên đường, một sĩ quan cảnh sát gọi tôi tới “uống trà,” thông báo cho tôi hay là đơn xin phép của tôi đã bị khước từ. Nếu tôi cứ nhất định ra phi trường, ông ta bảo tôi, họ là làm tôi biến mất, như đã xẩy ra cho Ngải Vị Vị.

Đối với một người cầm bút, nhất là khi người đó lại muốn làm nhân chứng về những gì đang diễn ra ở trung Hoa, tự do ngôn luận và xuất bản mang một ý nghĩa lớn hơn chính cuộc sống. Bạn thân tôi, nhà văn đoạt giải Nobel Lưu Hiểu Ba (Liu Xiaobo), đã trả một giá rất đắt cho những tác phẩm và hành động chính trị của mình [Hiện vẫn còn bị tù mặc dù được trao giải Nobel năm 2010]. Tôi không muốn dẵm vào vết chân của ông. Tôi không có ý định trở lại nhà tù. Tôi lại cũng không muốn bị coi như là “biểu tượng của tự do” bởi những người ở bên ngoài những bức tường cao của nhà giam. 

Chỉ có việc thoát khỏi cái nhà tù vĩ đại và vô hình có tên là Trung Quốc này tôi mới có thể viết và xuất bản một cách tự do. Tôi có trách nhiệm cho thế giới biết một Trung Quốc hiện thực được che dấu bởi ảo tưởng về một nền kinh tế bùng phát — một Trung Quốc vô cảm đối với niềm bất mãn đang âm ỉ của người dân thường.

Tôi giữ ý định đào thoát cho riêng mình. Tôi đã không hỏi phép bọn mật vụ canh chừng tôi như tôi vẫn làm. Thay vì thế, tôi gói ít quần áo, cây sáo Trung Hoa, một cái bát chuông Tây Tạng và hai cuốn sách qúy, “Hồ sơ của nhà Đại Sử Gia” và cuốn “Đạo Đức Kinh.” Rồi tôi ra khỏi nhà khi lũ mật vụ không để ý, và lên đường đi Vân Nam. Mặc dù đang lúc trời nóng mà tôi cảm thấy như mình là một con chuột đồng vào mùa đông, nằm im để dành năng lượng. Tôi trải qua phần lớn thời giờ với đám dân hè phố. Tôi biết là nếu tôi lục lọi tìm kíếm thế nào tôi cũng sẽ tìm ra một lối thoát.

Với cuốn sổ thông hành và hộ chiếu nhập cảnh Đức Quốc, Hoa Kỳ và Việt Nam, tôi bắt đầu tiến hành. Tôi tắt điện thoại di động sau khi liên lạc vắn tắt với các thân hữu ở phương Tây, những người đã hợp tác trong dự tính thoát ly. Nhiều ngày sau, tôi tới một tỉnh nhỏ dọc biên giới, từ đó tôi có thể thấy Việt Nam bên kia một giòng sông đang chẩy xiết. Người giúp tôi tại địa phương nói tôi có thể thuê người bí mật chở tôi qua sông, nhưng tôi từ chối. Tôi có cuốn sổ thông hành còn giá trị. Tôi chọn ra đi bằng ngả trạm kiểm soát biên giới trên cầu.

Trước cuộc đào thoát, người giúp tôi mướn một phòng khách sạn sát biên giới. Giữa những cơn mưa, tôi trôi nổi giữa các cơn mộng và thực tại, rồi thức giấc phập phồng trước tiếng gõ cửa để chỉ bắt gặp một cô gái điếm run rẩy trong mưa xin vào tá túc. Mặc dù tội nghiệp song tôi không thể giúp đỡ cô ta.

Vào lúc 10 giờ sáng ngày mồng 2 tháng 7, tôi bước khoảng gần 1km tới trạm gác biên giới, sẵn sàng chấp nhận chuyện ghê gớm nhất, song một phép lạ đã xẩy ra. Viên chức xem xét giấy tờ của tôi, thỉnh thoảng ngó tôi quan sát, rồi đóng dấu vào sổ thông hành của tôi. Tôi đi một mạch không ngừng tới Hà Nội rồi đáp một chuyến bay tới Ba Lan và sau đó Đức quốc. Khi tôi bước ra khỏi phi trường Tegel ở Bá Linh vào buổi sáng ngày mồng 6 tháng 7, viên chủ bút người Đức, Peter Sillem, đón tôi. “Trời ơi, Trời ơi,” anh ta kêu lên. Anh ta vô cùng xúc động và không tin được là tôi thực sự đã tới được Đức. Bên ngoài phi trường không khí tươi mát và tôi cảm thấy tự do.

Sau khi tôi đã ổn định, tôi gọi cho gia đình và cô bạn gái của tôi, những người đã bị nhà chức trách chất vấn. Tin tôi đã đào thoát lan ra nhanh chóng. Một anh bạn họa sĩ bảo tôi là anh ta đã tới thăm Ngải Vị Vị vẫn bị canh chừng gắt gao. Khi người bạn nói là tôi đã bí mật đặt chân tới nước Đức, đôi mắt Lão Ai mở lớn. Ông ta rú lên, như không tin đó là sự thực, “Thật vậy sao? Thật vậy sao? Thật vậy sao?” 

Liêu Diệc Vũ

(Liêu Yiwu)

— Trùng Dương giới thiệu & chuyển ngữ09/2011http://www.viettan.org/spip.php?article11573

Việt Nam: Cần phóng thích các nhà hoạt động tôn giáo ngay lập tức

Các hành động đàn áp đe dọa tự do tôn giáo

(New York, ngày 30 tháng Chín năm 2011) – Hôm nay, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền tuyên bố chính quyền Việt Nam cần chấm dứt ngay lập tức việc đàn áp các nhà hoạt động tôn giáo và phóng thích 15 người bị bắt vì đã bày tỏ niềm tin của mình. Các vụ bắt bớ, chủ yếu nhằm vào các tín đồ Công giáo Dòng Chúa Cứu thế, là một vết đen nữa trong bảng thành tích vốn đã nhiều vấn đề của Việt Nam về tự do tôn giáo.

Đợt bắt bớ này khởi đầu từ ngày 30 tháng Bảy năm 2011, khi công an bắt 3 nhà hoạt động Công giáo tại sân bay Tân Sơn Nhất thành phố Hồ Chí Minh ngay khi họ vừa từ nước ngoài trở về. Trong bảy tuần tiếp theo, chính quyền tiếp tục bắt thêm 12 nhà hoạt động tôn giáo nữa. Đến thời điểm này, 10 người đã bị khởi tố theo điều 79 bộ luật hình sự, tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền, với mức án quy định là từ 5 đến 15 năm tù đối với người “đồng phạm” và 12 năm đến chung thân hoặc tử hình đối với những người được coi là “tổ chức,” hoặc có hành vi “gây hậu quả nghiêm trọng.”

“Những vụ bắt bớ mới nhất nói trên thể hiện mối ác cảm của chính quyền Việt Nam đối với những người muốn tự do thực hành tín ngưỡng của mình bên ngoài sự kiểm soát của chính quyền,” ông Phil Robertson, Phó Giám đốc phụ trách châu Á của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền phát biểu. “Hành động của chính quyền đối với những người vận động tự do tôn giáo một cách ôn hòa nói trên là một chỉ dấu khá rõ về tình trạng vi phạm nhân quyền đang gia tăng ở Việt Nam.”

Nhiều người bị bắt trong hai tháng qua có quan hệ với Nhà thờ Thái Hà ở Hà Nội và Nhà thờ Kỳ Đồng ở Thành phố Hồ Chí Minh, đều thuộc dòng Chúa Cứu thế. Trong sáu tháng vừa qua, cả hai nhà thờ thường xuyên tổ chức các buổi thắp nến cầu nguyện cho sự bình an của các nhà hoạt động đang ở trong tù hoặc trại tạm giam, trong đó có nhà hoạt động pháp lý Ts. Cù Huy Hà Vũ, nhà vận động Hòa Hảo Nguyễn Văn Lía, blogger Nguyễn Văn Hải (Điếu Cày), blogger Phan Thanh Hải (Anhbasg) và blogger Phạm Minh Hoàng. Ngày 25 tháng Chín, nhà thờ Kỳ Đồng tổ chức một buổi thắp nến nữa để cầu nguyện cho 15 nhà hoạt động tôn giáo mới bị bắt trong hai tháng gần đây, cùng với các nhà hoạt động nổi tiếng khác. Dòng Chúa Cứu thế, trước đây được biết với tên dòng Chúa Cứu chuộc, là một dòng truyền giáo Công giáo được thành lập ở Italy vào năm 1732, hiện có mặt tại hơn 77 quốc gia trên thế giới.

Vụ bắt giữ hai blogger Công giáo có ảnh hưởng, Lê Văn Sơn và Tạ Phong Tần, là điểm kết của chiến dịch sách nhiễu, câu lưu và thẩm vấn của công an đối với cả hai người về việc viết blog. Buổi sáng ngày mồng 2 tháng Tám, ngày xử phúc thẩm Ts. Vũ, Lê Văn Sơn đến khu vực gần Tòa án Nhân dân Tối cao để bày tỏ sự ủng hộ đối với Ts. Vũ, và bị công an theo sát. Sáng ngày hôm sau ông bị công an bắt. Tạ Phong Tần thì bị bắt ngày mồng 5 tháng Chín, sáu ngày sau khi bà đăng bài phân tích tính chất tùy tiện và trái luật của việc bắt giữ Lê Văn Sơn trên blog của mình vào ngày 30 tháng Tám. Tạ Phong Tần đã được trao giải thưởng uy tín Hellman Hammett vào ngày 14 tháng Chín vì đã dũng cảm viết dù liên tục bị đàn áp.

Lãnh đạo mục vụ của cả hai nhà thờ cho biết họ bị công an giám sát và sách nhiễu thường xuyên. Ngày mồng 10 tháng Bảy, công an xuất nhập cảnh thành phố Hồ Chí Minh ngăn cấm Linh mục Phạm Trung Thành, lãnh đạo Dòng Chúa Cứu thế Việt Nam, xuất cảnh để dự một hội nghị tôn giáo ở Singapore, tuyên bố lý do rằng ông “thuộc diện chưa được xuất cảnh.” Công an không đưa ra được bất cứ lời giải thích nào về việc tại sao ông lại bị xếp vào diện đó. Hai ngày sau đó, công an xuất nhập cảnh ở cửa khẩu Mộc Bài, Tây Ninh lại ngăn cấm một vị lãnh đạo khác của Dòng Chúa Cứu thế, Linh mục Đinh Hữu Thoại, xuất cảnh. Ngày 19 tháng Bảy, ông Đinh Hữu Thoại nộp đơn kiện trạm kiểm soát cửa khẩu đã vi phạm quyền tự do của mình, nhưng Tòa án  Nhân dân tỉnh Tây Ninh bác đơn kiện đó vào ngày 26 tháng Chín, tuyên bố rằng vấn đề này “không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.”

“Tự do đi lại là quyền cơ bản của con người, được tôn vinh trong Hiến pháp Việt Nam và được bảo hộ bằng các công ước quốc tế về nhân quyền mà Việt Nam đã tham gia ký kết,” ông Roberson nói. “Qua việc ngăn chặn các lãnh đạo Dòng Chúa Cứu thế ra nước ngoài tham dự các sự kiện tôn giáo, chính quyền Việt Nam đã cho thấy, ở Việt Nam, pháp quyền bị coi rẻ đến mức nào.”

Vụ bắt bớ gần đây nhất diễn ra vào ngày 19 tháng Chín, khi công an Thành phố Hồ Chí Minh bắt giam Trần Vũ Anh Bình khi ông vừa về nhà sau khi dự một đám tang ở Nhà thờ Đức Mẹ Hằng Cứu giúp trong thành phố. Tới giờ chính quyền vẫn chưa thông báo lý do bắt ông.

Trong bản báo cáo mới đây về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam, Bộ Ngoại giao Hoa kỳ khẳng định, “Tiếp tục có các báo cáo về tình trạng vi phạm tự do tôn giáo ở nước này,” và bổ sung rằng “Không có sự thay đổi về mức độ tôn trọng tự do tôn giáo từ phía chính phủ trong phạm vi thời gian đánh giá của bản báo cáo này.”

“Washington cần nhận định công khai rằng Việt Nam thẳng tay đàn áp những người bất đồng chính kiến về tôn giáo, và gây áp lực yêu cầu chính quyền Việt Nam phóng thích tất cả những người bị giam giữ vì đã ôn hòa bày tỏ tiếng gọi của lương tâm mình chứ không phải đường lối của đảng,” ông Robertson nói. “Chính quyền Việt Nam cần ghi nhận rằng tự do tôn giáo không có nghĩa là chỉ được tự do hành xử theo cách đã được chính quyền cho phép trước.”

Muốn biết thêm các báo cáo về Việt Nam của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, xem:

Để biết thêm thông tin, xin liên hệ:
Ở Bangkok, Phil Robertson (tiếng Anh, Thái): +66-85-060-8406 (di động);
Ở Washington, DC, John Sifton (tiếng Anh): +1-917-838-9736 (di động);
Ở London, Brad Adams (tiếng Anh): +44-7908-728-333 (di động);

Danh sách các nhà hoạt động tôn giáo bị bắt ở Việt Nam trong thời gian gần đây (theo trình tự thời gian bị bắt, bắt đầu từ vụ mới nhất)

1.      Trần Vũ Anh Bình, 37 tuổi – Nhà hoạt động Công giáo; bị bắt ngày 19 tháng Chín năm 2011 tại TP Hồ Chí Minh; chưa rõ bị bắt với tội danh gì; hiện bị tạm giam tại số 4 Phan Đăng Lưu, TP Hồ Chí Minh;

2.      Tạ Phong Tần, 43 tuổi – Blogger người Công giáo; bị bắt ngày 5 tháng Chín năm 2011 tại TP Hồ Chí Minh; chưa rõ bị bắt với tội danh gì; hiện bị tạm giam tại số 4 Phan Đăng Lưu, TP Hồ Chí Minh;

3.      Trần Minh Nhật, 23 tuổi – Nhà hoạt động Công giáo; bị bắt ngày 27 tháng Tám năm 2011 tại TP Hồ Chí Minh; bị cáo buộc với tội danh hoạt động nhằm lật đổ chính quyền (điều 79 bộ luật hình sự); hiện bị tạm giam ở trại B34 (237 Nguyễn Văn Cừ, Quận 1, TP Hồ Chí Minh);

4.      Thái Văn Dung, 23 tuổi – Nhà hoạt động Công giáo; bị bắt ngày 19 tháng Tám năm 2011 tại Hà Nội; bị cáo buộc với tội danh hoạt động nhằm lật đổ chính quyền (điều 79 bộ luật hình sự); hiện bị tạm giam ở trại B14 (Thanh Trì, Hà Nội);

5.      Hồ Văn Oanh, 26 tuổi – Nhà hoạt động Công giáo; bị bắt ngày 16 tháng Tám  năm 2011 tại TP Hồ Chí Minh; bị cáo buộc với tội danh hoạt động nhằm lật đổ chính quyền (điều 79 bộ luật hình sự); hiện bị tạm giam ở trại B34 (237 Nguyễn Văn Cừ, Quận 1, TP Hồ Chí Minh);

6.      Nguyễn Văn Duyệt, 31 tuổi – Nhà hoạt động Công giáo; bị bắt ngày 7 tháng Tám năm 2011 tại Nghệ An; bị cáo buộc với tội danh hoạt động nhằm lật đổ chính quyền (điều 79 bộ luật hình sự); hiện bị tạm giam ở trại B14 (Thanh Trì, Hà Nội);

7.      Nguyễn Xuân Anh, 29 tuổi – Nhà hoạt động Công giáo; bị bắt ngày 7 tháng Tám năm 2011 tại Nghệ An; bị cáo buộc với tội danh hoạt động nhằm lật đổ chính quyền (điều 79 bộ luật hình sự); hiện bị tạm giam ở trại B14 (Thanh Trì, Hà Nội);

8.      Nông Hùng Anh, 23 tuổi – Nhà hoạt động Tin Lành; bị bắt ngày 5 tháng Tám năm 2011 tại Hà Nội; bị cáo buộc với tội danh hoạt động nhằm lật đổ chính quyền (điều 79 bộ luật hình sự); hiện bị tạm giam ở trại B14 (Thanh Trì, Hà Nội);

9.      Lê Văn Sơn, 25 tuổi – Nhà hoạt động Công giáo; bị bắt ngày 3 tháng Tám năm 2011 tại Hà Nội; bị cáo buộc với tội danh hoạt động nhằm lật đổ chính quyền (điều 79 bộ luật hình sự); hiện bị tạm giam ở trại B14 (Thanh Trì, Hà Nội);

10.  Chu Mạnh Sơn, 22 tuổi – Nhà hoạt động Công giáo; bị bắt ngày 3 tháng Tám năm 2011 tại Nghệ An; chưa rõ bị bắt với tội danh gì; hiện bị tạm giam ở trại Nghi Kim, Nghệ An.

11.  Trần Hữu Đức, 23 tuổi – Nhà hoạt động Công giáo; bị bắt ngày 2 tháng Tám năm 2011 tại Nghệ An; chưa rõ bị bắt với tội danh gì; hiện bị tạm giam ở trại Nghi Kim, Nghệ An;

12.  Đậu Văn Dương, 25 tuổi - Nhà hoạt động Công giáo; bị bắt ngày 2 tháng Tám năm 2011 tại Nghệ An; chưa rõ bị bắt với tội danh gì; hiện bị tạm giam ở trại Nghi Kim, Nghệ An;

13.  Hồ Đức Hòa, 37 tuổi – Nhà hoạt động Công giáo; bị bắt ngày 30 tháng Bảy năm 2011 tại TP Hồ Chí Minh; bị cáo buộc với tội danh hoạt động nhằm lật đổ chính quyền (điều 79 bộ luật hình sự); hiện bị tạm giam ở trại B14 (Thanh Trì, Hà Nội);

14.  Đặng Xuân Diệu, 34 tuổi - Nhà hoạt động Công giáo; bị bắt ngày 30 tháng Bảy năm 2011 tại TP Hồ Chí Minh; bị cáo buộc với tội danh hoạt động nhằm lật đổ chính quyền (điều 79 bộ luật hình sự); hiện bị tạm giam ở trại B14 (Thanh Trì, Hà Nội);

15.  Nguyễn Văn Oai, 31 tuổi - Nhà hoạt động Công giáo; bị bắt ngày 30 tháng Bảy năm 2011 tại TP Hồ Chí Minh; bị cáo buộc với tội danh hoạt động nhằm lật đổ chính quyền (điều 79 bộ luật hình sự); hiện bị tạm giam ở trại B14 (Thanh Trì, Hà Nội);



http://www.hrw.org/node/102032

Bài Xem Nhiều