We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 10 October 2011

Đùa dai và nỗi nhục "quốc thể".

"Lâu nay ở nhiều địa phương, có không ít dự án, công trình chậm tiến độ, gây lãng phí, thất thoát và ảnh hưởng đến đời sống người dân. Lô cốt mọc lên đầy đường và kéo dài hết tháng này qua năm khác. Nhiều con đường, cây cầu làm mãi không xong. Có dự án không chỉ thất thoát mà nảy sinh tham nhũng, nhưng ban quản lý các dự án đó vẫn cứ nhởn nhơ, chẳng ai cách chức. Nhà thầu tự tung tự tác, thi công ẩu, gây ra nhiều hậu quả kể cả chết người, rồi cũng xuê xoa cho qua. Vì để cho các ban quản lý dự án và các nhà thầu "đùa dai" cho nên mới có "nỗi nhục" như vậy".
 
 
Thưa bạn đọc, hàng trên là phần bình luận của một tờ báo trong nước. Theo tôi, chuyện này không phải là chuyện mới, chỉ có hai từ "đùa dai" và lời than "nỗi nhục quốc thể" do chính các quan chức cấp cao VN nói ra có vẻ … hơi mới. Hàng loạt các công trình xây dựng lớn, hàng trăm hàng ngàn tỉ đều rơi vào tay các nhà thầu "quốc doanh", nói cho rõ là những nhà thầu nằm trong các đại công ty, đại doanh nghiệp của nhà nước, không nói đến 90% rơi vào tay nhà thầu Trung Quốc. Những đại công ty ấy có vô số những "công ty con làm vệ tinh", đứng dưới công ty mẹ, thầu luôn cả những công trình nhỏ. Và tất nhiên họ được sự ưu ái đặc biệt của các chủ đầu tư vì "phe ta cùng là người nhà nước". Mọi sự đều chín bỏ làm mười, miễn có làm, còn bao giờ xong, tuổi thọ được bao lâu là "chuyện đùa", chuyện nhỏ như con kiến.
Báo cáo láo lòi đuôi
Nhà ga hành khách sân bay Đà Nẵng được khởi công xây dựng từ tháng 12/2007 với tổng vốn hơn 1.345 tỉ đồng từ ngân sách và vốn vay, do Tổng Công ty Cảng Hàng Không miền Trung làm chủ đầu tư. Theo kế hoạch, nhà ga đã được đưa vào khai thác từ đầu năm 2010 nhưng do thi công bê trễ nên bị chậm gần hai năm.
 
Ngày 2 tháng 10-2011 vừa qua, Bộ trưởng Bộ trưởng Bộ Giao Thông Vận Tải Đinh La Thăng đến thị sát thực trạng xây dựng công trình nhà ga hành khách sân bay quốc tế Đà Nẵng, trả lời những biện bạch về sự làm như rùa bò của các nhà thầu, ông bộ trưởng Thăng quay sang hỏi đại diện chủ nhà thầu: " Các ông đùa à?..."
 
Ông Hoàng Thành, Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng Công ty Cảng HK miền Trung, báo cáo trên công trường có 350 công nhân đang làm việc. Trong khi Tư vấn trưởng giám sát John Richard Malig nói rõ chỉ có 250 công nhân. Đúng là báo cáo láo lòi đuôi. Kiểu "dỡn mặt tử thần này" cũng qua mặt được nhiều "tử thần" rồi. Chuyện đó không lạ đối với lề lối làm việc của của các quan, các "ban bệ" cấp dưới trong nhiều cơ quan ở VN.
 
Bộ trưở ng Thăng nói: "Đấu thầu theo tiêu chí gì mà nhà thầu yếu như thế? Hai nhà thầu chính trong nước thì Tổng Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng và Thương mại VN (Contrexim) yếu cả năng lực, kinh nghiệm lẫn tài chính. Công ty Xây dựng Công nghiệp số 4 (thuộc Tổng Công ty Xây dựng Công nghiệp VN - ICIC) cũng không phải đơn vị mạnh, làm gì chẳng chậm tiến độ.". Cả hai giám đốc của hai công ty này đều "trốn" khi Bộ trưởng yêu cầu vào họp kiểm tra tiến độ thi công. Thậm chí gọi điện thoại cho ông Phan Minh Tuấn, Giám đốc Contrexim, song ông này không nghe máy!
 
Ông Đinh La Thăng nhận định "để xảy ra tình trạng trên trách nhiệm trước hết thuộc về chủ đầu tư ; và Ban Quản lý dự án. Chủ đầu tư nắm đằng chuôi, giữ tiền nhưng tiến độ chậm hàng năm trời mà không phạt, cứ vui vẻ là không chấp nhận được". Như thế là cả hai phía, chủ đầu tư và chủ quản lý dự án đều "đùa dai" với nhà nước.
Từ đâu có nỗi nhục quốc thể?
Không cần họp hành lôi thôi, mất nhiều thời gian, lấy ý kiến của đủ thứ ban bệ, ông Thăng móc điện thoại gọi cho ông Nguyễn Nguyên Hùng - Tổng Giám đốc Tổng Công ty Hàng không miền Nam, yêu cầu điều động ngay một người ở Công ty Hoà Bình là Công ty tư nhân nhưng thi công rất tốt công trình nhà ga sân bay Cần Thơ, ra để sẵn sàng thay thế. Bộ trưởng Đinh La Thăng đã ra lệnh cách chức Trưởng ban quản lý dự án Đặng Hồng Cương ngay tại công trường.
 
Ông Bộ trưởng Đinh La Thăng cho biết: "Việc hoàn thành dự án nhà ga sân bay Đà Nẵng đúng yêu cầu là danh dự của ngành Giao thông Vận tải và của cả các nhà thầu VN… Thế nhưng khi làm việc với tôi trưa 4-10, Bí thư Thành uỷ Đà Nẵng đã gọi đây là một "nỗi nhục quốc thể!" Bộ trưởng Đinh La Thăng cho biết: Tại cuộc gặp, ông Bí thư Thành uỷ Đà Nẵng hết sức "bức xúc" trước tình trạng thi công ì ạch, chậm trễ kéo dài hết năm này đến năm khác trong khi hành khách trong nước lẫn quốc tế phải đứng giữa mưa, giữa nắng vì nhà ga cũ đã quá tải. Ông nói thẳng nếu đây là công trình của TP Đà Nẵng thì Ban quản lý dự án đã bị cách chức lâu rồi!
 
Đây là lần đầu tiên một chủ dự án bị cách chức ngay tức khắc, còn hàng trăm ông chủ đầu tư ở những công trình khác đang ngốn không biết bao nhiêu tỉ đồng của dân, góp phần không nhỏ vào sự lạm phát và suy thoái kinh tế hiện nay vẫn nhởn nhơ. Cần phải có một quy định kỷ luật bằng văn bản rõ rệt. Thí dụ chậm một tuần, chủ đầu tư bị phạt tương đương với số tiền do sự bê trễ gây ra. Chậm một tháng, ngoài tiền bị phạt còn bị cách chức đuổi về làm thường dân chứ -- 


  Văn Quang - 
Từ Sài Gòn, ngày 10.10.2011     
 
http://tapchidanvan.wordpress.com/
              

Úc: Victoria: Lễ Kỷ niệm Húy Nhật Đức Thánh Tổ Hải Quân


Victoria: Lễ Kỷ niệm Húy Nhật Đức Thánh Tổ Hải Quân


Gần 400 Quân Dân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa tham dự LỄ KỶ NIỆM HÚY NHẬT ĐỨC THÁNH TỔ HẢI QUÂN do Gia Đình Hải Quân Hàng Hải Tiểu Bang VICTORIA-AUSTRALIA tổ chức ngày 18.09.2011 tại Đền Thờ QUỐC TỔ.

Buổi Lễ diễn ra theo nghi thức cổ truyền, long trọng và trang nghiêm để tưởng nhớ đến công đức hiển hách của ĐỨC THÁNH TỔ ba lần đánh tan giặc Tàu, xăm lăng phương Bắc.

Trân trọng kính mời Quý Vị xem hình ảnh và diễn trình buổi lễ tại các youtube, bên dưới.

Ghi nhận của Bạch Lê, Trần Bá Lý



























 http://www.lyhuong.net/uc/index.php/shcd/1472-1472


Ở các xứ cộng sản : NÓI LÁO

NÓI LÁO
 
          Ai cũng biết " Nói Láo " là gì, mặc dầu trong quá trình học nói chẳng có thầy nào hay sách vở nào dạy " Nói Láo ". Vậy mà sao con người biết nói láo ? Nhỏ nói láo theo nhỏ, nghĩa là có phần vô tư. Lớn nói láo theo lớn, nghĩa là có suy nghĩ. Còn già thì tới lúc nào đó có nói láo cũng không biết mình nói láo !
          Hồi nhỏ, nói láo mà bị người lớn bắt được là bị xán một bạt tay với câu : " Ai dạy mầy nói láo, hả ? ". Rồi … thôi ! Cái bạt tay của người lớn không dạy mình đừng nói láo, mà nó làm cho mình sợ : sợ cái bạt tay đau điếng nên vội vã giấu cái " Nói Láo " trong lưng để lần sau, trong một trường hợp nào khác, nếu thấy cần thì lại … móc ra xài ! Cho nên, cái " Nói Láo " nó cứ đeo theo mình cho tới khi mình lớn. Đến đây thì cái trí khôn của con người đã biết sử dụng cái " Nói Láo " một cách tự do, nhuần nhuyễn, có khi tài tình nữa ! Kéo tới tuổi già khú thì nói láo hay nói thiệt gì cũng giống nhau tuốt, cho nên khi bị hỏi " Sao ông nội nói láo ? " thì trả lời như không trả lời " Vậy hả ? " tỉnh bơ …
          Ở các xứ tự do, người ta … tự do nói láo, miễn là đừng đụng vào quyền lợi của cá nhân hay công ty hay hội đoàn gì gì. Bởi vì "người nói láo" có thể…vác chiếu ra toà vì tội phỉ báng, chỉ có như vậy thôi. Thành ra chỉ cần để ý một chút để đừng…sa chân vào vòng pháp luật là người dân xứ tự do nói láo…thoải mái ! Nhìn coi : chồng nói láo vợ ( Lạ lắm! Sao đàn ông nói láo nhiều hơn đàn bà ?) , con nói láo cha mẹ (Cũng có cha mẹ nói láo với con, nhưng ít lắm, có lẽ vì phải làm gương…) , người bán hàng nói láo với khách hàng để "ca" một món hàng dỏm : bảo đảm với Cô Hai đồ nầy mới tới bằng máy bay hồi khuya, phắc tuya còn nóng hổi hà ! .v.v…Thôi thì "nói láo" thiên hình vạn trạng, kể không hết !
          Ở các xứ cộng sản, "Nói Láo" đã được các lãnh tụ - vốn là những…siêu nhân - kết thành bài bản mà cha nào cũng thuộc lòng như…cháo. Cho nên họ nói láo trơn tru - phải nói là rất…nghề ! Hãy nghe câu "châm ngôn khuôn vàng thước ngọc" của họ sau đây :" Nói láo, cứ nói lập đi lập lại riết rồi tụi nó cũng tin là sự thật !". Song song với "Nói Láo", các tổ sư cộng sản luôn luôn dùng mỹ từ để "ngụy trang" một cách "trí trá" cái "Nói Láo". Ví dụ như ở Liên Xô có tờ báo mang tên "Sự Thật" của nhà nước trong đó không thấy một…sự thật nào hết. Và ví dụ như ở Việt Nam XHCN, tờ báo "Nhân Dân" của đảng và nhà nước có để một tên "nhân dân" nào…lăn tay trên đó đâu ?
          Gần đây, ở VN, nhân dân đi biểu tình chống Tàu rần rần, hình ảnh được phổ biến đầy trên mạn, vậy mà Thông Tấn Xã Nhà Nước thông tin gọn bân:" Đâu có gì ! Chỉ có vài người dừng lại nhìn rồi đi. Truyền thông nước ngoài nói láo đấy !". Đừng cười !"Ta" ca đúng bài bản mà !
          Và cũng gần đây, trong tuần lễ "Biển và Hải Đảo Việt Nam" tổ chức ở Nha Trang, thằng cha thủ tướng VNXHCN tuyên bố…ngon lành :" Tiếp tục khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa !". Cũng đừng cười ! Thằng chả nói " nghiêm túc " như vậy đó ! Nói như là chưa có chuyện gì xảy ra hết ! Nói như là " ta " đang … anh hùng giữ nguyên bờ cõi ! Trong lúc ai ai cũng biết là thằng " đồng chí Trung Quốc anh em " của thằng chả đã ngang nhiên chiếm đóng hai quần đảo đó từ khuya ! Thằng cha thủ tướng  "khẳng định" một cách láo lếu như vậy là đúng bài bản đấy thôi ! Đã nói : họ thuộc lòng bài bản như cháo và vì sử dụng liên tục đến nỗi trở thành tật, nên khi họ mở miệng là cứ phải … nói láo ! Không có gì ngạc nhiên hết ! 
 
 
Biếm văn của Tiểu Tử
          

ĐẤT PHẬT : “Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng”

TÔI ĐỌC “ĐẤT VIỆT …” VÀ “HÀNH HƯƠNG ĐẤT PHẬT” CỦA PHAN THIẾT

I. Vài lời nói đầu.
Đồng thời với cuốn “Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng” của GH John Paul II, tôi đã đọc cuốn Đất Việt, Người Việt, Đạo Việt (Đất Việt...) của Phan Thiết, nxb Văn Nghệ Tiền Phong, 1995-1996. Theo như lời tự giới thiệu của tác giả thì Phan Thiết là bút hiệu của Nguyen Kim Khanh (Nguyễn Kim Khanh? Khánh?), một trí thức Gia Tô có bằng Cử Nhân Luật đại học Saigon, vào khoảng 1965-66 gì đó. Nghe nói ông ta đã từng làm Thẩm phán ở Phan Thiết. Không như cuốn Người Việt, Đất Việt của Toan Ánh, chỉ nói về người Việt và đất Việt, nội dung cuốn sách của ông Phan Thiết chẳng phải về Đất Việt, Người Việt và Đạo Việt, mà là để phê bình những cuốn Tây Dương Gia Tô Bí Lục của hai tác giả Việt Nam theo Gia Tô La Mã Giáo vào cuối thế kỷ 18, Đạo Thiên Chúa Và Chủ Nghĩa Thực Dân Ở Việt Nam, luận án Tiến Sĩ Quốc Gia tại Pháp của Cao Huy Thuần, Bão Biển của Chu Văn, Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi của Đỗ Mậu, vài cuốn về Triết học và Dân Tộc của Giáo Sư Trần Văn Giàu. Phần còn lại là viết lăng nhăng về Phật Giáo và quảng cáo huênh hoang cho Thiên Chúa Giáo tuy tác giả không hề biết gì về Phật Giáo, và cũng không hề đọc Thánh Kinh. Tác giả cũng không hề biết đến những tác phẩm nghiên cứu về Thiên Chúa Giáo của ngay một số Giám mục, linh mục và của các nhà Thần học, giáo sư đại học, học giả chuyên gia về tôn giáo.
Viết trong tâm cảnh của một tín đồ Gia Tô ngu đạo, cuồng tín, tác giả đã lên án các tác phẩm trên là "chống Gia Tô", làm như chống Gia Tô là một trọng tội đáng chê trách, trong khi "chống Gia Tô" chỉ có nghĩa là chống tội ác, chống mê tín dị đoan, chống đạo đức giả, chống độc tài, chống nô lệ ngoại bang v...v..., và chống những hành động phi dân tộc, phản dân tộc của một số tín đồ Gia Tô Việt Nam. Điểm đặc biệt là Phan Thiết, ngoài nghề viết lách chẳng ra gì, còn làm nghề buôn nón cối, chụp mũ tất cả các tác giả mà ông phê bình là tay sai của CS, kể cả Phật Giáo chống Nhu Diệm vào đầu thập niên 60. Điều này kể cũng dễ hiểu, vì đó chỉ là phản ứng của Phan Thiết trước tiếng chuông rung "Chống Cộng" và "Xuyên Tạc Phật Giáo Bằng Mọi Giá", theo đúng sách lược của các "bề trên" ăn không ngồi rồi ở Tòa Thánh Vatican, nghĩ cách phá đạo khác.
Đọc xong cuốn sách trên tôi đã có ý định viết một bài "điểm sách" để phê bình. Nhưng suy đi nghĩ lại tôi thấy không đáng, vì tôi còn bận nhiều việc khác, nhưng phần lớn vì nội dung cuốn sách phản ánh một kiến thức phiến diện, nghèo nàn, thấp kém; một tâm cảnh lắt léo, nặng về xuyên tạc và chụp mũ; một sự ám ảnh hoang tưởng (paranoid); một niềm tin mù quáng.
Có lẽ vì thấy cuốn “Đất Việt…” không có một phản ứng nào từ phía Cọng Sản hay Phật Giáo nên năm 1999, Phan Thiết lại cho ra một tác phẩm khác nhan đề Hành Hương Đất Phật (HHĐP), gồm có hai phần, HHĐP IHHĐP II. Tôi được biết, tác giả đã gửi bản thảo cuốn này tới nhà xuất bản Văn Hóa ở Houston, Texas, Hoa Kỳ, nhưng giám đốc nhà xuất bản Văn Hóa, Tiến sĩ Sử học Vũ Ngự Chiêu đã từ chối không nhận xuất bản, chắc vì thấy giá trị của cuốn sách sẽ kéo danh tiếng của nxb Văn Hóa xuống bùn đen. Cuốn sách này được nhà xuất bản Southern Stars Publisher ở bên Úc xuất bản và phát hành. Giá trị trí thức của nhà xuất bản này ra sao, tôi không rõ.
Cũng như cuốn Đất Việt..., cuốn HHĐP chẳng phải là Hành Hương Đất Phật mà chủ yếu là để xuyên tạc và trình bày Phật Giáo theo cái hiểu, nếu có thể gọi là hiểu, của tác giả về Phật Giáo. Nếu phê bình cho đúng thì đây là hành động của một người phù hợp với định nghĩa "Côn Đồ Văn Hóa" của Giáo sư Sử học Nguyễn Mạnh Quang trong cuốn Thực Chất Của Giáo Hội La Mã, với mục đích duy nhất là dùng cái bình phong "Hành Hương Đất Phật" để "Hành Hung Đạo Phật" bằng ngôn từ gian dối, xảo quyệt và nhiều khi khá tục tĩu, hạ cấp của một trí thức Gia Tô. Khi Giáo hoàng Gion Pôn Hai (John Paul II) viết cuốn Bước Qua ngưỡng Cửa Hi Vọng trong đó có vài nhận định sai lầm về Phật Giáo thì giới trí thức trên thế giới phê bình là kiến thức của Ngài về Phật Giáo thuộc loại kiến thức của các thừa sai theo gót thực dân trong thế kỷ 19. Nhưng ít ra đó cũng là một kiến thức bắt nguồn từ một số nhận định hẹp hòi và sai lầm về Phật Giáo Tiểu Thừa. Còn kiến thức của Phan Thiết thì không thể gọi là kiến thức, mà là những điều tạp nham mà tác giả thuyết giải một cách nham nhở theo ý riêng, với mục đích rõ rệt là dựng lên một người rơm để rồi chính tay mình quật nó xuống đất, hi vọng với thủ đoạn này, tác giả có thể hạ thấp Phật Giáo. Điều này Tòa Thánh đã muốn làm từ bao thế kỷ nay, và với những bộ óc thượng thặng trong hàng Giáo phẩm ở Vatican, từ Giáo hoàng trở xuống, và những tay sai bản địa ở Việt Nam còn làm không nổi, cũng như mưu toan xuyên tạc, hạ thấp Phật Giáo để "vinh danh Thiên Chúa trên Trời" của các Thừa sai Gia Tô, song hành với chủ nghĩa Thực Dân của Tây phương, ở Á Đông, cũng đã hoàn toàn thất bại, ngoại trừ ở Phi Luật Tân và trong những ốc đảo ngu dốt (Từ của LM Trần Tam Tĩnh) ở Việt Nam, vậy thử hỏi một đầu óc như của Phan Thiết mà chúng ta sẽ thấy rõ trong phần phê bình sau thì sẽ làm được gì?
Như một đoàn lữ hành, Phật Giáo cứ thản nhiên "đường ta, ta cứ đi" (la caravane passe), những tiếng ồn ào bâng quơ bên đường không thể ngăn cản bước tiến của Phật Giáo. Ngày nay, sau bao thế kỷ bị giam hãm trong cái bóng tối dày đặc của các Thần Giáo, đặc biệt là của Gia Tô La Mã Giáo (Tiến sĩ Barnado: The Thick darkness of Romanism), Tây phương cũng như khắp nơi trên thế giới đã nhận ra được chân giá trị của Phật Giáo. Sự bành trướng của Phật Giáo trên thế giới song song với sự suy thoái không phương cứu vãn của Ki Tô Giáo ở ngay cái nôi của Ki Tô Giáo trước đây là Âu Châu, đã làm "lạnh xương sống" những kẻ buôn Thần bán Thánh đến nỗi từ giáo chủ cho đến một số tín đồ nô lệ đã phải viết sách để xuyên tạc Phật Giáo, phê bình nhảm nhí về Phật Giáo, hòng ngăn chặn ảnh hưởng của Phật Giáo trên đám tín đồ. Nhưng mưu đồ "hàm huyết phún nhân" đã không còn tác dụng trong một thế giới đã tiến bộ nhiều về trí thức, trong đó cây gươm (để giết người) và bó củi (để thiêu sống người) đã bị tước khỏi bàn tay đẫm máu của Giáo hội. [Theo John Remsburg trong cuốn False Claims] Phan Thiết chắc không biết đến những sự kiện này nên cố gắng vớt vát, làm công việc của con Dã Tràng. Tôi rất tiếc bắt buộc phải dùng đến một số danh từ tả chân chính xác như trên. Phật Giáo thường dạy chúng ta phải dùng ái ngữ nhưng cũng dạy chúng ta phải dùng trí tuệ để ứng xử tùy theo trường hợp. Trong trường hợp này, dùng ái ngữ có nghĩa là giả dối, che đậy sự thật, và ngu xuẩn như là khi bị tát má này thì đưa má kia cho người ta tát thêm (lời Giêsu dạy), dung dưỡng sự bất công và bạo hành. Đưa ra những sự thật và dùng danh từ chính xác chỉ có nghĩa giải hoặc với mục đích vạch trần những thủ đoạn xuyên tạc gian dối nhằm hạ thấp Phật Giáo, chứ không có nghĩa là dùng cùng những phương pháp gian dối, xuyên tạc để trả đũa.
Đọc hai cuốn Đất Việt...HHĐP của Phan Thiết, tôi có thể thấy rõ thực chất kiến thức cùng những tiểu xảo của tác giả trong cách trình bày vấn đề, được tóm lược trong bảy nhận định tổng quát sau đây:
1. Tác giả tự xưng là đã nghiên cứu về Phật Giáo trong nhiều năm nhưng kiến thức của tác giả về Phật Giáo có thể nói là một con số không vĩ đại, vì nó thuộc loại tạp nham vặt vãnh, vô cùng hời hợt và méo mó lệch lạc một cách không thể tưởng tượng được.
2. Tác giả nhắc đến nhiều kinh sách Phật Giáo nhưng thực ra tác giả chưa hề đọc những kinh, sách này, khoan nói đến chuyện tìm hiểu ý nghĩa của kinh.
3. Tác giả đưa ra một loạt những khẳng định vô trách nhiệm (affirmation gratuite), những khẳng định này nhiều khi lại chính là những lời thú nhận về một kiến thức hẹp hòi và trình độ thấp kém của tác giả.
4. Tác giả liệt kê tên một số sách mà tác giả dùng làm tài liệu để tỏ ra mình là người trí thức, đọc rộng, biết nhiều, nhưng phân tích kỹ chúng ta có thể thấy đó là một thủ đoạn lừa bịp độc giả vì những điều tác giả viết chứng tỏ tác giả không biết rõ nội dung và cũng có thể chẳng bao giờ đọc những cuốn đó.
5. Nhiều chỗ tác giả bịa ra những chuyện vô căn cứ, mơ hồ, không ghi rõ xuất xứ, để đạt được mục đích của mình, chưa kể là đôi khi còn trình bày những chuyện giả tưởng một cách tục tĩu, phản ánh nền tảng giáo dục của tác giả.
6. Tác giả quảng cáo, đánh bóng Gia Tô Giáo như một con vẹt, với những khẳng định thuộc thời Trung Cổ, hoặc của các thừa sai thực dân như Alexandre de Rhodes, không cần để ý đến sự kiện là những tiến bộ trí thức của nhân loại đã phá đổ hoàn toàn nền Thần Học của Gia Tô Giáo, một nền Thần học cũ kỹ, lỗi thời, hoang đường, phản khoa học, phi lôgic mà ngày nay chỉ còn được sử dụng để chiêu dụ tín đồ trong đám cùng dân thấp kém, ít học hay vô học; và trong những tín đồ đã bị điều kiện hóa từ trong sữa mẹ, chỉ còn có thể phản ứng theo tiếng chuông Pavlov.
7. Bản chất của tác giả là một tín đồ Thiên Chúa Giáo cuồng tín, nghĩa là, theo định nghĩa của Giáo sư sử học Nguyễn Mạnh Quang trong cuốn Thực Chất Của Giáo Hội La Mã, tổng hợp của ngu, dốt, huênh hoang và hung hăng, cho nên nhiều đoạn tác giả viết rất hung hăng về Phật Giáo, rất huênh hoang về Gia Tô Giáo, và trong cả hai lãnh vực, để lộ cái vốn liếng hiểu biết kém cỏi, lệch lạc, bệnh hoạn của mình ra, khoan kể là nhiều khi cùng dùng những từ ngữ hạ cấp, tục tĩu, phản ánh bản chất vô giáo dục của tác giả.
Đó là những nhận định tổng quát của tôi về Phan Thiết, tác giả hai cuốn Đất Việt, Người Việt...và Hành Hương Đất Phật. Phải chăng những nhận định trên là những khẳng định vu vơ vô căn cứ, vô trách nhiệm mà tôi đưa ra để phản bác tác phẩm của một người tự xưng là "trí thức Thiên Chúa Giáo"? Tuyệt đối không phải. Trong phần chứng minh sau đây, tôi sẽ phân tích chi tiết một số đoạn viết nhảm nhí của Phan Thiết để quý độc giả có thể thấy rõ thực chất mưu đồ, thủ đoạn, và kiến thức thực sự của Phan Thiết ra sao.
Thật ra thì tôi chẳng muốn phí thì giờ để phê bình những tác phẩm vô giá trị, không đáng phê bình. Nhưng sau khi đọc câu sau đây của tác giả, nghe có vẻ khiêm nhường nhưng thực chất là để che dấu một thủ đoạn không mấy đẹp:
"Tôi luôn luôn ý thức trách nhiệm về những dòng chữ của mình nên hoan hỉ đón nhận sự chỉ giáo, phê bình, chỉ trích, đối thoại của bạn đọc. Tôi xem các vị như thầy, là ân nhân giúp tôi tiến bộ."
tôi nghĩ bỏ chút thì giờ ra để giải hoặc, may ra có thể chỉnh lại phần nào đầu óc bệnh hoạn và sự thiếu lương thiện trí thức của tác giả, tưởng cũng không phải là chuyện vô ích.
Tuy nhiên, có một điều tôi cần nói rõ trước hết: tôi thực sự không muốn làm thầy Phan Thiết. Bậc cổ đức đã chẳng dạy: "Làm đầy tớ người trí còn hơn là làm thầy kẻ ngu" hay sao? Theo quan điểm của Phật Giáo, kẻ ngu không phải là kẻ biết ít hay không biết, mà là kẻ tự cho là mình biết và chấp vào những điều mình biết, dù rằng những điều mình biết là sai lầm, do đó không chịu mở mang đầu óc để thu nhận kiến thức của nhân loại. Phật Giáo nói đến kẻ "ngu si vô trí" là nói đến những kẻ không biết rõ sự thực về một vấn đề nào đó mà lại cứ cho là mình biết rõ. Nhưng đây thuộc về ngã mạn nên ngu si vô trí dù sao cũng còn đỡ hơn là những kẻ không có đến cả một sự lương thiện trí thức tối thiểu, những kẻ phải dùng đến những thủ đoạn thấp kém, xuyên tạc sự thật, ngôn từ hạ cấp, tục tĩu, không đếm xỉa gì đến liêm sỉ, với hi vọng có thể đạt được những mục đích đen tối bắt nguồn từ một tâm cảnh cuồng tín của mình.
Thứ đến, qua hai cuốn sách trên, tác giả đã tạo cơ hội để tôi trình bày những sự hiểu biết của tôi về tôn giáo, nhất là về Phật Giáo và Ki Tô Giáo, đối chiếu với những hiểu biết của tác giả để độc giả thấy rõ đâu là sự thật. Những hiểu biết tôi trình bày trong bài phê bình này đều dựa trên luận lý và sự kiện, chứ không dựa trên cảm tính cá nhân hoặc niềm tin tôn giáo cá nhân. Tuy nhiên, tôi sẽ giới hạn tối đa việc diễn giải giáo lý Phật Giáo vì đó không phải là mục đích của tôi khi phê bình Phan Thiết.
Trong bài phê bình này tôi sẽ lần lượt trình bày và luận về kiến thức tạp nham của Phan Thiết về Phật Giáo và Ki Tô Giáo. Và đây cũng chỉ là những nhận định chính về hai cuốn sách của Phan Thiết. Nếu phê bình cho hết những sai lầm và những lời viết láo lếu trong hai cuốn sách của Phan Thiết, tôi không còn thì giờ làm việc gì khác nữa, và bài phê bình này sẽ trở thành một cuốn sách dầy gấp ba 2 cuốn của Phan Thiết cộng lại. Tôi thực sự không muốn lãng phí thời gian vào những việc không đáng.
II. Phê bình Phan Thiết viết về Phật giáo.
Trước hết, chúng ta hãy phân tích vài đoạn sau đây của Phan Thiết viết về Phật Giáo. Từ những đoạn này chúng ta có thể thấy rõ mục đích, thủ đoạn, và lương tâm trí thức của Phan Thiết.
Đối với những sách viết về Phật Giáo, tác giả Phan Thiết cho rằng, (HHĐP I, trg. 18):
"Cuốn sách có giá trị nhất là cuốn Phật Học Tinh Hoa của cụ Thu Giang Nguyễn Duy Cần viết cách nay hơn nửa thế kỷ. Vậy mà trình độ như tôi phải đọc tới hai ba lần mới thấm được phần nào ý nghĩa."
Đọc câu trên chúng ta phải hiểu là trình độ của Phan Thiết cao lắm (trình độ như tôi phải...mới...). Phan Thiết đã cho chúng ta thấy rõ "trình độ" của ông trong câu viết trên, một trình độ cho rằng cuốn sách viết về Phật Giáo có giá trị nhất là cuốn Phật Học Tinh Hoa. Phải đọc tới hai ba lần mới thấm được phần nào ý nghĩa trong cuốn Phật Học Tinh Hoa của Thu Giang Nguyễn Duy Cần thì tôi có thể biết ngay là “trình độ” của Phan Thiết thực sự ở mức nào. Thật là tội nghiệp cho một con ếch ngồi dưới đáy giếng. Nhưng thôi, chúng ta hãy bỏ qua câu khẳng định chứng tỏ một kiến thức nghèo nàn của một "cái Ta" vĩ đại này, và hãy đi vào sự phân tích các khẳng định khác của Phan Thiết về Phật Giáo để xem "trình độ" của tác giả như thế nào.
Trong cả hai cuốn Đất Việt...HHĐP, Phan Thiết đều nhắc đi nhắc lại về một điều hoang tưởng của mình: (1) Trọng tâm của đạo lý và triết lý của Phật Tổ là diệt ngã. (HHĐP, trg. 14); (2) Cái đạo diệt ngã của Thích Ca chẳng ai theo được. (HHĐP, trg. 20); (3) Mục tiêu của đạo Phật là đạo diệt ngã. (HHĐP, trg 46); (4) Khi Ngài Chakya (nguyên văn) Muni thành đạo, ngồi dưới gốc cây Bồ Đề Ngài nghĩ rằng: "Ta đã tìm ra chân lý giải thoát rất khó nhận thức, chỉ những kẻ nào thật thông minh may ra mới hiểu nổi. Giáo lý của ta là diệt ngã, mà loài người ai chịu bỏ cái ngã của mình... (Đất Việt..., trg. 174); (5) Đạo Phật theo đúng nghĩa thì phải đem vào tín ngưỡng Việt Nam thuyết luân hồi và giáo lý diệt ngã (Đất Việt..., trg. 295); (6) ..đi qua Trung Quốc ở đấy đạo Phật đã biến thể từ một đạo diệt ngã trở thành đạo vị ngã (Đất Việt..., trg. 295); (7) Như thế đạo Phật có còn là cái đạo diệt ngã của Đức Thích Ca Mâu Ni không? (Đất Việt..., trg. 295); (8) Các tăng sĩ đạo Phật ở nước ta đã không rao giảng thuyết diệt ngã đến nơi đến chốn (Đất Việt..., trg. 295); (9) Cái gì làm nên đạo Phật? Thưa đó là sự diệt ngã để dứt khỏi vòng luân hồi. Đó là yếu tính của đạo Phật, hiểu khác đi thì không còn là đạo Phật nữa. (Đất Việt..., trg. 417); (10) Điều kiện cần và đủ để xác định một người là Phật tử là lòng tin của họ biểu lộ ra ngoài bằng ý chí minh mẫn chấp nhận đạo diệt ngã của Phật tổ... (Đất Việt..., trg. 417) v...v...
Quý vị độc giả đã thấy ai viết láo lếu về đạo Phật như vậy chưa? Chỉ có “trình độ” như của Phan Thiết, một tín đồ Gia-tô “trí thức” có thể là “đạo gốc”, mới có thể viết lên những câu như vậy về đạo Phật. Dựa vào những lời viết bậy bạ trên, chụp một cái mũ diệt ngã lên đầu đạo Phật, nghĩa là dựng lên một người rơm, để rồi chính tay mình quật người rơm xuống, Phan Thiết đã viết như sau (HHĐP I, trg. 13):
"Từ năm 1990, tôi chọn các tôn giáo và niềm tin làm chủ đề cho các sáng tác văn học, tôi chẳng hề băn khoăn về sự giải thoát hoặc thắc mắc về sự cứu rỗi nào bởi vì nó nằm ngoài sự "kiến" của con người. Vấn đề đến với tôi có tính cách phương pháp luận nên trong các câu chuyện đạo Phật trao đổi với các vị tăng sĩ hoặc thiền sư, tôi chỉ có một câu hỏi duy nhất: "Xin thầy chỉ cho tôi làm thế nào để diệt ngã"
Có vị dậy rằng tôi phải giữ tam qui ngũ giới: qui y Phật, Pháp, Tăng, giữ 5 giới trọng: bất sát, bất đạo, bất dâm, bất vọng ngữ, bất ẩm tửu.
Có vị dậy rằng phải thực hành Bát Chánh Đạo kết thành 3 việc chính là Giới+Định+Tuệ nghĩa là giữ giới luật, chuyên tâm thiền định để phát huy năng lực của trí tuệ.
Có vị tu Tịnh độ dậy rằng phải giữ 5 việc: lễ bái, sám hối, khuyến thiện, hồi hướng, phát nguyện.
Có vị dậy rằng chẳng cần phải tu hành gì cả, chỉ cần niệm Phật A Di Đà khi chết tất được rước về Tây Phương Cực Lạc.
Trước những lời dậy bảo ấy tôi chỉ im lặng và nghĩ trong bụng quí vị ấy không hiểu Phật là gì và cũng không hiểu câu hỏi của tôi...
Trọng tâm của đạo lý và triết lý của Phật Tổ là diệt ngã. Các phương pháp tu hành trong hầu hết các tông phái đạo Phật cũng thuyết lý diệt ngã tức là trở về với cái không. Câu tôi hỏi là câu nghi vấn xin vị tăng sĩ chỉ đường, chỉ phương pháp giải thoát tức là phương pháp diệt ngã. Câu trả lời của vị thiền sư là câu xác định, quả quyết bằng lối nói tán thán "Chao ơi, làm sao diệt được ngã?"
Rõ ràng người ta không thể diệt được ngã, hay Atman là cái tôi của chính mình. Cái tôi hữu hình theo thuyết của Phật hợp bởi 4 nguyên tố: đất, nước, gió, lửa và cái tôi vô hình là ngũ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Cái tôi rồi sẽ phải qua đi một cách tự nhiên dù cố công tu hành hay không tu hành cũng vậy thôi. Cái tôi đang hiện hữu, đang cầm bút viết những dòng chữ này dù có ngụp lặn trong Giới+Định+Tuệ đạt tới tuyệt đỉnh của tu hành là vô sắc, vô tưởng, vô niệm thì chữ "vô" kia cũng hoàn toàn giả mạo: trong vô có hữu như bài Bát Nhã Tâm Kinh "sắc tức thị không, không tức thị sắc". Diệt cái ngã này tất có cái ngã khác lấp ló. Không thể dùng ngã diệt ngã. Mà đã không diệt được ngã thì vẫn còn sinh tử, luân hồi. Không bao giờ giải thoát được, thành Phật là ảo tưởng."
Đọc đoạn trên chúng ta thấy rõ đó chỉ là chuyện "phịa", vì tác giả không nêu rõ danh tánh hay trú sở của các vị Tăng sĩ hay Thiền sư mà tác giả đã đến hỏi câu "Xin thầy chỉ cho tôi làm thế nào để diệt ngã", và cũng vì trên thế gian này không có vị tăng sĩ hay thiền sư nào ngu đến độ phải dùng đến Tam Qui Ngũ Giới, Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, Tam Học v...v.. để trả lời một câu hỏi ngớ ngẩn, bắt nguồn từ một đầu óc bệnh hoạn, tâm cảnh lắt léo, chứ chẳng liên quan gì đến giáo lý nhà Phật. Nếu Phan Thiết hỏi tôi câu đó thì tôi sẽ trả lời như sau: "Ông làm gì có ngã mà diệt, hồn và xác của ông đã bán khoán cho Vatican và Chúa từ khi ông còn bú sữa mẹ, ông sống vất va vất vưởng như một hồn ma, chỉ chờ ngày lên Thiên đường [mù] hưởng nhan thánh Chúa, vậy quan tâm đến vấn đề diệt ngã làm chi? Ngã ở đâu mà diệt? Ông mang cái ngã của ông ra đây, tôi sẽ chỉ cho ông cách diệt ngã".
Nhưng điều đáng nói là, "Trình độ như của tác giả, phải đọc cuốn Phật Học Tinh Hoa tới hai ba lần mới thấm được phần nào ý nghĩa" mà cũng không thấy được trong cuốn Phật Học Tinh Hoa chẳng có chỗ nào nói về thuyết diệt ngã mà chỉ viết về thuyết Vô Ngã của nhà Phật như sau:
"Tất cả giáo lý của Phật Tiểu Thừa đều gồm trong hai chủ thuyết "vô thường" và "vô ngã"... Ngã là gì?... Chính nó là nguồn gốc của các thứ mê lầm, đau khổ. Cho nên diệt khổ là diệt cái nhận thức mê lầm của Ngã chấp". (Phật Học Tinh Hoa, trg. 101)
"Thuyết Vô Ngã là căn bản của giáo lý Thích Ca, vì Chấp Ngã là nguồn gốc sinh ra vô minh. Mà vô minh là đầu mối của luân hồi sinh tử và đau khổ của con người". (Phật Học Tinh Hoa, trg. 160)
Vô Ngã tuyệt đối không có nghĩa là Diệt Ngã. Đã không có cái gì có thể gọi là Ngã thì diệt Ngã là điều hoang tưởng, cũng như Frederich Nietzche cho rằng Thượng Đế đã chết (God is dead) là sai, vì làm gì có Thượng đế để mà chết. Đúng ra phải nói như John Remsburg trong cuốn Những Điều Tự Nhận Sai Sự Thực (False Claims), (của Giáo hội Gia Tô. TCN) trg. 3:
"Trong những giới thông minh ở Âu châu và Mỹ châu, nền Thần học Ki Tô trên thực tế đã chết."
(Among the intelligent classes of Europe and America, Christian theology is practically dead)
bởi vì nền Thần Học Ki Tô đã tạo ra và biện minh cho sự hiện hữu của Thần Ki Tô, một niềm tin chỉ còn sót lại trong những đầu óc thuộc loại cần dựa vào một cặp nạng Thần Quyền của một tôn giáo mà theo định nghĩa của Thống Đốc Tiểu Bang Minnesota Jesse Ventura gần đây, đã được loan chiếu trên TV cũng như đăng trên nhiều báo chí có tên tuổi trên đất Mỹ: "là một sự giả dối trống rỗng và là một cặp nạng cho những người có đầu óc yếu kém cần đến sức mạnh trong số nhiều" (Christianity ia a sham and a crutch for weak-minded people who need strength in numbers: Newsweek, Oct. 11, 1999, p. 36).
Phan Thiết đã dựa trên điều ngu ngơ của mình là cốt tủy giáo lý của Đức Phật là "diệt ngã" để chê các Thiền sư và Tăng Sĩ, phần chắc là do tác giả bịa ra và dựng lên, là không hiểu Phật và không hiểu câu hỏi thuộc loại không đáng để trả lời của ông. Phan Thiết cũng còn xác nhận rằng kiến thức về Phật Giáo của ông phần lớn dựa vào bộ Tư Tưởng Luận (gồm ba cuốn: Nguyên Thủy, Tiểu Thừa, Đại Thừa) của Kimura Taiken do Hòa Thượng Thích Quảng Độ dịch ra Việt Ngữ. Ông cho rằng: Kinh Luận Phật Giáo nhiều như rừng, đọc nhiều dễ lạc phương hướng (HHĐP I, trg. 24). Nhưng tôi cho rằng, cũng như đối với cuốn Phật Học Tinh Hoa, ông cũng chỉ nêu tên bộ Tư Tưởng Luận này để lòe thiên hạ chứ thực sự ông cũng chẳng đọc bộ này, vì chúng ta có kiếm 7 ngày trong bộ Tư Tưởng Luận này cũng không thấy đâu là thuyết “diệt ngã.” Trái lại, trong cuốn Nguyên Thủy Phật Giáo Tư Tưởng Luận, Chương VII, Mục 2, trang 279-287, tác giả Kimura Taiken đã viết khá rõ về Vô Thường, Vô Ngã: Căn Cứ của Khổ Quan.
Chúng ta thấy ngay rằng Phan Thiết chỉ nêu tên mấy cuốn sách viết về Phật Giáo chứ không hề biết nội dung của những cuốn đó. Điều này chứng tỏ tác giả muốn tỏ ra mình là một trí thức, cũng có đọc sách về Phật Giáo đấy, nhưng thực sự thì chưa bao giờ đọc. Đây là một thủ đoạn không được lương thiện cho lắm để tự đề cao kiến thức của mình mà không biết rằng chính những điều mình viết lại lột chân tướng của mình ra. Chân tướng của Phan Thiết là trí trá, dựng lên một cái thuyết diệt ngã, chỉ có trong đầu óc tăm tối của tác giả, để dựa vào đó mà phê bình Phật Giáo. Thủ đoạn này chỉ có thể lừa được những người không biết gì về Phật Giáo.
Theo như Phan Thiết thì "Cái tôi (hay ngã của Phan Thiết) đang hiện hữu, đang cầm bút viết những dòng chữ này..." nhưng đối với những người đui, què, sứt, mẻ thì chắc hẳn "cái tôi" của họ cũng đui, què, sứt, mẻ; cái tôi của những người bị hội chứng trì trệ tâm thần (mentally retarded), cái tôi của những người già bị bệnh mất trí nặng; cái tôi của những nô lệ Vatican v...v... chắc hẳn cũng mang những sắc thái của hội chứng trì trệ tâm thần, mất trí, hay nô lệ? Đây là điều Phan Thiết không bao giờ nghĩ tới. Và tôi cũng không có ý định luận bàn về "cái Tôi" của Phan Thiết.
Ai cũng biết trong Phật Giáo chỉ có thuyết Vô Ngã chứ không làm gì có “thuyết diệt ngã.” Dựng lên một thuyết vu vơ, gán cho đạo Phật thuyết đó để từ đó phủ bác đạo Phật là việc làm quen thuộc của các cán bộ Gia Tô Giáo từ xưa tới nay. Giáo Hoàng Gion Pôn Hai cũng đã dùng thủ đoạn này trong cuốn Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng nhưng sau cùng đã thất bại và đại diện của Ngài đã phải xin lỗi Phật Giáo.
Tiếp theo, chúng ta hãy xét đến cái hiểu về Kinh điển Phật Giáo của Phan Thiết khi ông viết về lời di ngôn cuối cùng của Đức Phật trước khi Người tịch diệt (HHĐP I, trg. 31-32):
"Đức Thế Tôn vô cùng tỉnh táo, mặt Ngài rạng rỡ như trăng rằm trong khi các đệ tử xúm quanh u sầu khóc lóc. A-Nan-Đà cung kính quỳ dưới chân Ngài xin Ngài di ngôn lần cuối. Phật hé mắt âu yếm nhìn ông rồi đọc kệ:
Đừng tin những gì do kinh sách
Đừng tin điều gì do tập quán lưu truyền
Đừng tin điều gì vì được người ta nhắc đi nhắc lại
Đừng tin điều gì do bút tích của thánh nhơn
......"
Theo Phan Thiết viết như trên thì đó là lời di ngôn cuối cùng của Đức Phật. Nhưng bất cứ Phật tử sơ cơ nào cũng biết lời di ngôn cuối cùng của Đức Phật là nhắc nhở các đệ tử về luật vô thường và khuyên các đệ tử hãy tinh tiến để đạt giải thoát cho chính mình. Chúng ta hãy đọc những lời nói cuối cùng của Đức Phật (Thích Nhất Hạnh, Đường Xưa Mây Trắng, trg. 917):
"Các vị khất sĩ, hãy nghe Như Lai nói đây: "vạn pháp vô thường, có sinh thì có diệt. Các vị hãy tinh tiến lên để đạt tới giải thoát.". Nói xong Phật nhắm mắt."
Và trong cuốn Đức Phật Và Phật Pháp, bản dịch của Phạm Kim Khánh dịch cuốn The Buddha and His Teachings của Narada Thera mà Phan Thiết cũng có ghi trong mục Thư Loại Tham Khảo của ông, nơi trang 238, cũng có ghi lời cuối của Đức Phật như sau:
"Hãy nghe đây, này các đệ tử. Như Lai khuyên các con: Tất cả các Pháp hữu vi đều vô thường, hãy tận lực liên tục chuyên cần."
Chúng ta thấy rõ là Phan Thiết chẳng biết gì về Kinh Phật, bạ đâu viết đấy, không ngoài mục đích phê bình rất tiêu cực về Phật Giáo. Nhưng chính những sai lầm căn bản trong kiến thức của tác giả lại quật ngược lại tác giả và phủ bác toàn bộ những điều tác giả viết về Phật Giáo mà thực chất chỉ là những lời viết láo lếu, vô căn cứ. Những sai lầm căn bản này cũng chứng tỏ rằng Phan Thiết chưa bao giờ đọc những cuốn mà ông liệt kê làm tài liệu tham khảo. Thật vậy, trong cuốn Phật Học Tinh Hoa của Thu Giang Nguyễn Duy Cần, cuốn mà Phan Thiết khoe rằng trình độ như của Phan Thiết mà phải đọc tới hai ba lần mới thấm được phần nào ý nghĩa, chúng ta có thể đọc, trang 55:
"Ngày kia, Phật đi ngang qua một làng nọ, tên là Kesaputta. Dân chúng nơi đó gọi là dân Kalama, khi nghe Phật đến, đón ngài để hỏi: "Bạch Ngài, có những nhà tu đến đây thuyết Pháp. Nhưng họ cho rằng chỉ có giáo lý của họ là đúng, còn tất cả đều sai lầm. [Câu này có thể áp dụng cho Gia-tô La Mã Giáo. TCN] Chúng tôi hoang mang chẳng rõ ai sai ai đúng?"
Phật nói: "Các người hoài nghi là phải..."
(Rồi Phật thuyết Kinh Kalama). Như vậy, Kinh Phật thuyết cho dân Kalama đâu có phải là lời di ngôn cuối cùng của Đức Phật?
Thiền Sư Nhất Hạnh viết Kinh này rõ hơn Nguyễn Duy Cần nên sau đây, tôi xin trích dẫn Kinh này trong cuốn Đường Xưa Mây Trắng, trg. 698:
"Này các bạn, các bạn đừng vội tin vào một điều gì dù điều đó là điều mà người ta thường nói đến luôn, dù điều đó có trong kinh điển, dù điều đó là do một bậc thầy mà thiên hạ tôn sùng nói ra. Các bạn chỉ nên chấp nhận và tin vào những điều mà các bạn thấy hợp với lý trí của các bạn, những điều được các bậc hiền nhân đồng ý, những điều mà nếu đem ra thực hành thì đưa tới những kết quả tốt đẹp cho đời sống. Còn những điều không hợp với lý trí, những điều bị các hiền nhân chê trách, những điều mà nếu đem ra thực hành thì đưa tới khổ đau và đổ vỡ, những điều đó các bạn nên bác bỏ, đừng chấp nhận."
Với một kiến thức như vậy, không biết khi nào Phật thuyết Kinh Kalama, không biết những lời nào là lời di ngôn cuối cùng của Đức Phật, mà Phan Thiết dám viết những lời huênh hoang như sau:
"Có điều trí tuệ của tôi đã được mài dũa trong khoa luận lý học với những phương pháp luận, phương pháp đối chiếu, biện chứng pháp, các phạm trù...để truy tầm những điều tôi nghi vấn." (HHĐP I, trg. 21).
"Nghiêm trang và đứng đắn như tác giả đang viết tác phẩm "Hành Hương Đất Phật" bỏ ra nhiều năm nghiên cứu Phật Pháp đặt ra nhiều nghi vấn cho đạo Phật cũng sẽ làm nhiều người lung lạc "đức tin" (HHĐP I, trg. 46).
"Lý tưởng và chủ trương: Tôn thờ tự do, lấy sự thật, lẽ Công và Nhân Ái làm thước đo. Tuy sinh trưởng trong một gia đình Thiên Chúa Giáo nhưng tôi có đạo "quốc tế" học đạo lý của nhà thờ, nhà chùa, miếu mạo với tôn chỉ "truy tầm tận gốc"..." (Tác giả tự giới thiệu, trang cuối HHĐP)
Bỏ ra nhiều năm nghiên cứu Phật Pháp mà viết về Phật Giáo như trên thì rõ ràng là, nghiên cứu Phật Pháp trong ma tâm của một tín đồ cuồng tín Thiên Chúa Giáo, Phật Pháp đã biến thành Ma Pháp. Với những hiểu biết sai lầm rất sơ đẳng và ấu trĩ về Phật Giáo như trên mà cũng dám nói là "truy tầm tận gốc", "lấy sự thật làm thước đo" v...v.... và mơ tưởng có thể làm "lung lạc đức tin" của người Phật tử, thì chúng ta phải thấy rõ thực chất con người và ý đồ của Phan Thiết là như thế nào. Người Phật tử đâu có tin bậy tin bạ như là Phan Thiết tin vào cái bánh vẽ "cứu rỗi" trên trời? Như chúng ta đã thấy trong Kinh Kalama, người Phật tử chỉ tin những gì hợp với lý trí của mình. Dùng lý trí để phân tích thì những điều Phan Thiết viết về Phật Giáo chỉ là một trò bày đặt rẻ tiền, hạ cấp, đâu có đáng gì phải để ý, mà cũng hi vọng làm lung lạc đức tin của Phật tử?
Nhưng không phải chỉ có vậy, chúng ta hãy đọc Phan Thiết bình luận về Kinh Phật để thấy rõ hơn đâu là thực chất kiến thức về Phật Giáo của Phan Thiết. Phan Thiết viết về Kinh Hoa Nghiêm như sau (HHĐP I, trg. 52):
"Nội dung Kinh này diễn dịch Pháp từ thấp đến cao. Pháp tối thượng là Phật Tánh hay Chân Như. Nó chính là Đại Hồn tức Brahman trong Bà-La-Môn vậy. Thiền sư Nghiêm Xuân Hồng viết sách luận về Kinh này dùng chữ "nhập Pháp giới" thay cho "nhập Niết Bàn" rất chí lý."
Tôi không thể tưởng tượng là một người nghiên cứu Phật Pháp nhiều năm như Phan Thiết tự nhận lại có thể viết như trên. Câu viết trên chứng tỏ Phan Thiết chưa bao giờ sờ đến Kinh Hoa Nghiêm đừng nói là đọc hay hiểu Kinh Hoa Nghiêm. Phan Thiết không hề biết rằng "Nhập Pháp giới" là một Phẩm quan trọng nhất trong Kinh Hoa Nghiêm, chiếm hơn 1/4 bộ Kinh Hoa Nghiêm gồm 8 quyển (tiếng Việt), mỗi quyển dày trên dưới 5, 6 trăm trang, nên mới viết bậy là Thiền sư Nghiêm Xuân Hồng (Nghiêm Xuân Hồng không phải là một Thiền sư) dùng chữ "nhập Pháp giới" thay cho "nhập Niết Bàn" là rất chí lý, và viết nhảm nhí là Phật Tánh hay Chân Như chính là Đại Hồn hay Brahman của đạo Bà La Môn.
Tất cả Kinh Phật đều đưa ra những phương pháp tu hành để thực chứng được Phật Tánh có sẵn trong mỗi chúng sinh. Nhưng nội dung Kinh Hoa Nghiêm không phải là thuyết minh về Phật Tánh hay Chân Như. Những chủ đề này được diễn giải trong các Kinh khác, đặc biệt là trong tập luận Đại Thừa Khởi Tín của Bồ Tát Mã Minh. Kinh Hoa Nghiêm gồm 39 Phẩm và phần lớn thuyết minh về sự dung thông vô ngại của bốn Pháp giới: Lý, Sự, Lý Sự và Sự Sự; về "Thể tánh của Tâm nhiếp thâu tất cả"; về "Tất cả là một, một là tất cả" v...v... Riêng Phẩm "Nhập Pháp Giới", như trên đã nói, chiếm hơn 1/4 toàn bộ Kinh Hoa Nghiêm, mô tả cuộc hành trình của Thiện Tài đồng tử tu đạo Bồ Đề, học đạo giải thoát với 53 vị thiện tri thức gồm đủ mọi thành phần trong xã hội: Bồ Tát, Vua, Tăng, Ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ, thương gia, thầy thuốc v...v... Và lẽ dĩ nhiên, Phật Tánh hay Chân Như tuyệt đối chẳng dính dáng gì tới cái Đại hồn hay Đại Ngã hay Brahman của Phan Thiết. Quan niệm về Đại hồn hay Đại Ngã của Ấn Độ Giáo tương đương với quan niệm về Thượng đế của Ki Tô Giáo, vì Ấn Độ Giáo tin tưởng có một linh hồn vĩnh cửu và tin có một đấng Tạo hóa. Trái lại, Phật Giáo dứt khoát bác bỏ sự hiện hữu của linh hồn và của đấng sáng tạo ra vũ trụ và con người. Ý niệm linh hồn, theo Phật Giáo, chỉ là một ý niệm tưởng tượng, không phù hợp với một thực thể nào cả. Con người là sự cấu hợp của danh và sắc, tâm và vật, theo định luật duyên sinh, không phải là sản phẩm của một Thượng đế, một đấng chỉ hiện hữu trong sự hoang tưởng của con người yếu kém không biết gì hơn là khao khát một cái bánh vẽ trên trời (từ của Linh Mục Ernie Bringas: A Pie-in-the-sky).
Tiếp theo, chúng ta hãy đọc Phan Thiết viết về Kinh Bát Nhã (HHĐP I, trang 52):
"Kinh Bát-nhã Ba-la-mật (Prajna Paramita) còn gọi là Bát-nhã Tâm Kinh....Đây là bài Kinh của chủ nghĩa hư vô."
Phan Thiết đã lẫn lộn Kinh Bát Nhã Ba La Mật với Tâm Kinh. Kinh Bát Nhã có Đại Phẩm Bát Nhã, Tiểu Phẩm Bát Nhã. Đại Phẩm Bát Nhã do Huyền Trang dịch gồm 600 quyển trong khi Tâm Kinh chỉ có 260 chữ. Phan Thiết đồng hóa tư tưởng "không" trong Tâm Kinh với chủ nghĩa hư vô. Phan Thiết khoe rằng đã dùng bộ Tư Tưởng Luận của Kimura Taiken làm căn bản nghiên cứu về Phật Giáo nhưng Phan Thiết lại không biết rằng trong cuốn Đại Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận, trang 64, Kimura Taiken đã viết rằng:
"Do trí tuệ mà đạt đến nhận thức "không", đó là lập trường Kinh Bát Nhã, nhưng nếu căn cứ vào đấy mà giải thích vũ trụ quan và nhân sinh quan trong Bát Nhã như một chủ nghĩa hư vô thì sẽ là một điều sai lầm rất lớn."
Một lần nữa, chúng ta lại thấy rằng, Phan Thiết chỉ nêu tên sách để lòe thiên hạ chứ thực sự chưa bao giờ đọc những sách đó. Về phương diện trí thức, Phan Thiết đã phạm phải sai lầm rất lớn như trên vì đã trí trá, khoe rằng mình đã đọc cuốn này cuốn nọ, nhưng thực sự thì chưa bao giờ đọc, vì nếu đọc thì không thể có những sơ hở rất lộ liễu như trên. Phan Thiết chỉ biết rất hời hợt về tư tưởng "chân không" trong Kinh Bát Nhã, không hiểu Phật Giáo muốn nói gì về quan niệm chân không, và nhất là không biết gì về quan niệm diệu hữu trong chân không. Vì cho rằng tư tưởng "không" trong Kinh Bát Nhã có nghĩa là không có gì nên Phan Thiết mới đồng hóa Kinh Bát Nhã với chủ nghĩa hư vô. Dù rằng không có ý định làm thầy Phan Thiết, nhưng để giúp cho Phan Thiết khỏi tiếp tục viết bậy về Phật Giáo, tôi xin phép quý độc giả được có vài lời giải thích về quan niệm "không" trong Kinh Bát Nhã cùng Phan Thiết.
Tìm hiểu quan niệm về Chân Không hay Tính Không trong Phật Giáo, chúng ta vấp phải một trở ngại. Đó là: Thấy được Tính Không của mọi sự vật thì tương đương với thấy được Phật Tánh. Nhưng Phật Tánh thì chỉ có thể thực chứng chứ không thể nghĩ bàn, do đó, người ta không thể định nghĩa Tính Không, bởi vì làm như thế là đặt Tính Không vào một giới hạn, trong khi thực thể của Không siêu việt mọi ngôn từ, giới hạn, Tuy không thể định nghĩa được Tính Không, nhưng các vị cao Tăng đắc Đạo (đã thực chứng được Tính Không của mọi sự vật), vì muốn dẫn dắt chúng sanh trên con đường giải thoát (chuyển cái Không thành cái Có kỳ diệu) , đã bắt buộc phải dùng ngôn từ thông thường để mô tả phần nào Tính Không. Trong phương diện mô tả này, tuy không thể khẳng định thế nào là Không, nhưng chúng ta có thể khẳng định những gì không phải là Không.
- "Không" trong Phật Giáo không có nghĩa là không có thực, thí dụ như lông rùa, sừng thỏ.
- "Không" cũng không phải là "không vắng" hay hủy diệt, nghĩa là trống rỗng hay trước có bây giờ không còn nữa, thí dụ như: trong phòng này trước có nhiều đồ đạc bây giờ trống chơn, không có gì, hay ông A, bà B, trước sống nay chết đi rồi, không có nữa.
Vậy thì Phật Giáo muốn nói gì khi bảo mọi sự vật là "Không"? Tôi xin đưa ra đây vài lối giải thích nhưng sẽ không đi vào lý luận chi tiết để giải thích những lời giải thích ấy.
- Vì mọi sự vật luôn luôn thay đổi, ngay cả trong khoảng thời gian ngắn nhất mà chúng ta có thể tưởng tượng được, nên chúng là Không. Ở đây, Không đồng nghĩa với quan niệm "Vô Thường" trong Phật Giáo Nguyên Thủy.
- Vì mọi sự vật đều do duyên sinh nên chúng là Không. Không ở đây có nghĩa là không có tự tính, nghĩa là tính tự túc, tự tồn tại, độc lập, không tùy thuộc vào bất cứ cái gì khác. Không có tự tính trong Kinh Bát Nhã chỉ là sự mở rộng của thuyết "Vô Ngã" trong Phật Giáo Nguyên Thủy. Thuyết vô ngã của Phật Giáo đã dứt khoát bác bỏ thuyết sáng tạo trong Thánh Kinh.
- Vì thế giới Ta Bà chỉ là tổng thể của Cộng Nghiệp và là dự phóng của Tâm, chịu theo luật biến diệt nên mọi sự vật là Không. Đây là luận cứ của Duy Thức Tông theo đó một vật chỉ hiện hữu đối với những sinh vật sống trong cùng một cảnh giới, danh từ khoa học gọi là có cùng tần số giao cảm (do cộng nghiệp).
Những lời giải thích trên chỉ cho chúng ta một ý niệm khái quát về tại sao mọi sự vật là Không chứ không cho chúng ta biết cái Không là gì. Cho nên chúng ta không thể chấp vào cái Không này mà coi Không như là một cái gì đó, bằng cách nào đó, xuất hiện ở đâu đó. Nói một cách khác, chúng ta phải phủ nhận ngay cả chính cái Không này, vì nếu chúng ta nhận rằng có cái Không, chúng ta đã tự mâu thuẫn với chính những điều giải thích trên về tính Không. Chính cái Không của Không này mới tương đương với chân lý chung cùng của mọi sự sự vật vật. Đây chính là quan niệm Chân Không Tuyệt Đối, sự siêu việt rốt ráo, vượt khỏi mọi Pháp và mọi ý niệm mà Phật Giáo thường cho là: không thể nói ra hay không thể nghĩ bàn (bất khả thuyết hay bất tư nghị: Kinh Duy Ma Cật).
Trong suốt cuốn HHĐP, Phan Thiết toàn viết bậy về Phật Giáo đại loại như tôi đã chứng minh ở trên, chứng tỏ rằng ông không hiểu gì Phật Giáo. Mọi suy diễn của ông về Phật Giáo bắt nguồn từ một đầu óc bệnh hoạn và lắt léo, mục đích không ngoài việc hạ thấp Phật Giáo một cách vô liêm sỉ, vì nó méo mó, lệch lạc một cách quá sơ đẳng. Nhiều khi ông còn bịa ra những tài liệu để dựa vào đó mà phê bình Phật Giáo. Sau đây là một thí dụ.
Trong HHĐP I, trang 150, Phan Thiết viết:
"Theo học giả Kimura Taiken bảo rằng kinh điển Đại thừa sản sinh dưới triều Gupta (thế kỷ thứ tư đến thế kỷ thứ sáu sau Tây Lịch) (3). Tôi hoàn toàn nhất trí với ông và nói rõ thêm rằng đạo Phật ở Ấn Độ vào giai đoạn này đã bị suy vi...."
Ông kê đã trích dẫn đoạn trên của Kimura Taiken, từ cuốn Nguyên Thủy Phật Giáo Tư Tưởng Luận do Thích Quảng Độ dịch, trang 113 (HHĐP I, trg. 170). Nhưng trong cuốn trên không có chỗ nào nói về xuất xứ của các kinh Đại Thừa, chưa kể là trang 113 nằm trong mục tác giả viết về Nhân Duyên Luận. Trái lại trong cuốn Đại Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận, trang 61-62, Kimura Taiken đã liệt kê những Kinh Đại Thừa quan trọng xuất hiện trước thời đại Long Thọ (thế kỷ 3 sau Tây Lịch) như Đại Phẩm Bát Nhã, Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, A-Di-Đà, Duy Ma Cật, Thủ Lăng Nghiêm v...v... qua lịch sử dịch kinh ở Trung Quốc trong thế kỷ 2, 3 sau Tây Lịch bởi Chi-Lâu-Ca-Sấm, Ngô-Chi-Khiêm, Khương Tăng Hội, Trúc Pháp Hộ v..v... Như vậy, những Kinh Đại Thừa trên đã có từ trước thế kỷ 2 chứ không phải là những tác phẩm viết ra trong những thế kỷ 4 - 6 như Phan Thiết đã bịa ra ở trên.
Vì không hiểu gì về nguồn gốc của Đại Thừa Phật Giáo nên Phan Thiết đã viết về một điều hoang tưởng của ông để đánh bóng Thiên Chúa Giáo, cho rằng Đại Thừa Phật Giáo chịu ảnh hưởng của Thiên Chúa Giáo. Ông viết:
"Đạo lý căn bản của Phật Giáo Đại Thừa là cứu độ. Rất có thể Long Thụ đã du nhập lý tưởng này của Thiên Chúa giáo... (HHĐP II, trg. 66);
"Long Thụ và các luận sư Phât giáo Đại Thừa đã xây dựng đạo lý cứu độ không khác với lòng thương xót của Thiên Chúa trong Thiên Chúa giáo mấy. Khi Phật Giáo Đại Thừa ra đời khoảng giữa thế kỷ thứ hai thì đạo Thiên Chúa đã có mặt trên đất Ấn rồi." (HHĐP II, trg. 67).
"Riêng lý thuyết về độ hay lòng thương xót (Đại Thừa Phật Giáo) vay mượn của đạo Thiên Chúa... Tôi tìm thấy chữ độ rất lớn trong đạo Thiên Chúa hay đạo lý của đạo này định nghĩa Thiên Chúa là tình yêu, Thiên Chúa là cứu độ." (HHĐP II, trg. 120)
"Lòng từ bi phải khởi đi từ một cái ngã từ bi, yếu tính từ bi, toàn chất kiêm ái theo định nghĩa của Thần học Thiên Chúa Giáo: Thiên Chúa là tình yêu; tình yêu là Thiên Chúa thì sự cứu độ mới có được... Các luận sư và kinh sư của Phật Giáo Đại Thừa đã hy sinh Pháp tính của đạo Phật nguyên thủy để du nhập đạo lý cứu độ của Thiên Chúa Giáo" (HHĐP II, trg. 68)
"Bỏ ra ngoài thần thoại, xét cho cùng sự cứu độ của Thích Ca thiếu tính tất yếu vì Thích Ca cứu độ như chỉ đường. Còn Jesus chuôc tội chỉ mình Jesus làm được là xóa bỏ cái vô minh (tội tổ tông) của toàn thể giống người... Hơn nữa Thích Ca là ngón tay chỉ mặt trăng. Thấy trăng rồi thì ngón tay vô dụng, còn Jesus vừa là ngón tay vừa là Mặt trăng." (HHĐP I, trg. 145)
Viết những đoạn trên, Phan Thiết đã chứng tỏ cho chúng ta thấy trong đầu óc của ông có một khuyết tật (từ của Linh Mục Ernie Bringas: an astrolabe mind). Astrolabe nguyên là một dụng cụ định hướng cho tàu bè thuộc thế kỷ 17. Từ thế kỷ 18, với sự phát triển của kỹ thuật mới, dụng cụ này đã được xếp vào bảo tàng viện vì thiếu chính xác và đã trở thành lỗi thời. Linh mục Bringas dùng từ này để mô tả đầu óc của những tín đồ Ki Tô vẫn giữ những niềm tin sai trái và lỗi thời trong Ki Tô Giáo, bất kể đến sự tiến bộ trí thức của nhân loại trong những thế kỷ gần đây. Tôi dịch thoát là khuyết tật vì nọ đúng là một cái tật mà đa số tín đồ Gia Tô mang trong đầu từ khi còn nằm trong nôi. Để chứng minh, sau đây tôi xin đi vào phân tích những đoạn trên.
Thứ nhất, Phan Thiết cho rằng: Phật Giáo Đại Thừa ra đời khoảng giữa thế kỷ thứ hai. Đây là một sai lầm nghiêm trọng của những người chỉ biết hời hợt về Phật Giáo. Tư tưởng "cứu độ" trong Phật giáo Đại Thừa đã có từ trong thời Đức Phật còn tại thế. Chính đời sống của Đức Phật, thuyết giảng Phật Pháp để cứu độ chúng sinh trong 45 năm không biết mệt mỏi, là bằng chứng rõ ràng nhất. Phan Thiết không hiểu gì về xuất xứ của Phật Giáo Đại Thừa, khoe rằng đã dùng bộ Tư Tưởng Luận của Kimura Taiken làm căn bản kiến thức về Phật Giáo, nhưng lại không hề đọc cuốn Đại Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận của Kimura Taiken. Thật vậy, trong cuốn này, trang 55-56, Kimura Taiken viết:
"Thế rồi phái tự do thừa kế Đại-Chúng-bộ-hệ lại thí nghiệm một lần nữa để mở đường tiến, đả phá tất cả hình thức bộ phái Phật Giáo, khôi phục tinh thần (cứu độ. TCN) của Phật Tổ để thích ứng với thời đại, đó là sự vận động của Đại Thừa... Như thế ta có thể cho Đại Thừa Phật Giáo là một phong trào phục hưng.... Căn cứ vào thời đại để nhận xét thì tư tưởng Đại Thừa đã nẩy mầm từ Nguyên Thủy Phật Giáo..."
Sở dĩ phong trào phục hưng Phật Giáo ra đời vì Nguyên Thủy Phật Giáo chú trọng đến những phương pháp tu hành của đức Phật dạy để tiến tới giải thoát cho bản thân mà lơ là khía cạnh xã hội mà tuyệt đại đa số Phật tử sống trong đó. Cho nên, có thể nói rằng, Phật Giáo Nguyên Thủy đặt trọng tâm trên Phật Pháp trong khi Phật Giáo Đại Thừa, ngoài việc tôn trọng Giáo Pháp của Đức Phật, còn thực sự đi theo vết chân Phật qua sự thực hành giáo lý tự độ và độ tha.
Như vậy, khi Phan Thiết viết: "Như tôi đã chứng minh Thiên Chúa giáo đã du nhập và vay mượn rất nhiều của các môn phái giải thoát Ấn Độ trong đó có Phật Giáo.." thì hoàn toàn đúng, nhưng ngược lại thì hoàn toàn sai, vì Thiên Chúa Giáo sinh sau đẻ muộn cả mấy trăm năm, không làm gì có chuyện "đạo Phật vay mượn đạo lý cứu độ của Thiên Chúa Giáo". Chưa kể là trong Thiên Chúa Giáo không làm gì có đạo lý, nhất lại là đạo lý cứu độ. Có lẽ Phan Thiết không hiểu nghĩa của cứu độ là gì nên nhập nhằng cho rằng "cứu độ" trong Phật Giáo cũng như "cứu rỗi" trong Thiên Chúa Giáo.
"Cứu độ" trong Phật Giáo có nghĩa "cứu giúp và đưa qua". Đưa qua đâu? Đưa qua bờ bên kia, bờ bên này là mê, bờ bên kia là ngộ, là rõ được chân lý, hiểu được Phật Pháp rồi từ đó tiến tới tự giải thoát. Chữ độ còn có nghĩa là "độ sinh", nghĩa là giúp cho chúng sinh sống ở đời thoát khỏi được phiền não. Trong Thiên Chúa Giáo chỉ có "cứu rỗi" chứ không có cứu độ. Người nào tin ở Jesus thì được Jesus cứu khỏi cái gọi là "tội tổ tông", một trong những huyền thoại của lịch sử dân Do Thái, và cho lên Thiên đường (mù) ở cùng Jesus và Chúa Cha. Đúng là một Thiên đường mù, vì trước sự tiến bộ trí thức của nhân loại, nhất là của khoa vũ trụ học, Giáo hoàng Gion Pôn Hai đã phải thú nhận hồi tháng 7, 1999, là chẳng làm gì có Thiên đường ở trên các tầng mây. Linh Mục Ernie Bringas đã gọi sự cứu rỗi của Jesus là một cái bánh vẽ ở trên trời (a Pie-in-the-sky) mà Ki Tô Giáo dùng để dụ khị tín đồ ngây thơ, cả tin, suốt trong 2000 năm nay. Cũng vì vậy mà cả thế giới trí thức ngày nay đã đồng thuận ở một điểm: Phật Giáo là đạo Giác Ngộ, còn Ki Tô Giáo là đạo Cứu Rỗi. Cứu độ trong Phật Giáo và cứu rỗi trong Ki Tô Giáo hoàn toàn khác nhau và trái ngược hẳn nhau. Cho nên, những đoạn Phan Thiết viết ở trên chỉ là cường điệu của một tín đồ Gia Tô cuồng tín, không biết ngay cả bản chất của đạo mình, chỉ viết bậy bạ với mục đích đánh bóng đạo mình một cách lố bịch, hoàn toàn sai sự thật, vì vậy tôi mới viết ở trên, Phan Thiết là kẻ ngu đạo.
Thứ nhì, thời buổi này mà Phan Thiết vẫn còn tin và viết về những chuyện hoang đường như Jesus có thể chuộc cái "tội tổ tông" hoang đường của toàn thể giống người... Trọng điểm của Tân Ước là vai trò "chuộc tội" và "cứu rỗi" của Chúa Con, Jesus. Nhưng vai trò này đặt trên giả thuyết là con người có tội, cần đến một sự "chuộc tội" và "cứu rỗi". Do đó, câu chuyện con người sa ngã, phạm tội với Chúa Cha và bị Chúa Cha nguyền rủa, hành hạ, đày ải, trừng phạt v...v...được đặt ra qua các nhân vật của huyền thoại Adam và Eve. Ông Đỗ Mạnh Tri, một trí thức Gia Tô, trong cuốn Ngón Tay Và Mặt Trăng, đã phủ nhận những lời "mặc khải" không thể sai lầm của Thần Ki Tô trong Cựu Ước, chấp nhận chuyện Adam và Eva ăn trái cấm tạo thành tội tổ tông là một huyền thoại. Theo rõi thời cuộc, chúng ta cũng biết rằng Giáo Hoàng Gion Pôn Hai đã công nhận thuyết Big Bang, nghĩa là phủ nhận vai trò sáng tạo ra vũ trụ của Thượng đế, và công nhận thuyết Tiến Hóa của Darwin và những khai triển của thuyết này sau Darwin, nghĩa là phủ nhận huyền thoại "tội tổ tông". Vậy thì, vai trò "chuộc tội" và "cứu rỗi" của Chúa Con có ý nghĩa gì trong thời đại này ngoài việc trở thành một chuyện hoang đường? Tội tổ tông chỉ là một huyền thoại của dân Do Thái, vậy thì ai (hoặc ông Nguyễn bà Trần nào) cần ai "chuộc tội", và ai (hoặc ông Lê bà Lý nào) cần ai "cứu rỗi"? Điều này kéo theo chuyện Chúa Con chịu đóng đinh trên Thánh Giá để "chuộc tội" cho nhân loại là chuyện hoang đường nhất trong những chuyện hoang đường. Nói tóm lại, vai trò "chuộc tội" và "cứu rỗi" của Chúa Con, Giêsu, đặt nền tảng trên huyền thoại về các nhân vật Adam và Eve trong cuốn đầu trong Cựu Ưóc, Sáng Thế (Genesis), và cùng sống hay cùng chết với huyền thoại này. Nhưng, trong ánh sáng của khoa học và lý trí, giá trị đích thực của huyền thoại về tội tổ tông trong Cựu Ước đã được chứng minh rằng không hơn giá trị của một mớ huyền thoại khác thuộc lịch sử của dân tộc Do Thái. Cũng vì vậy mà trong cuốn Tại Sao Ki Tô Giáo Phải Thay Đổi Không Thì Chết (Why Christianity Must Change or Die), Giám mục John Shelby Spong đã dành riêng chương 6 để viết về đề tài Giê-su Như Là Đấng Cứu Thế: Một Hình Ảnh Cần Phải Dẹp Bỏ (Jesus as Rescuer: An Image That Has To Go). Trong chương này, Giám Mục Spong viết như sau, trang 98-99:
"Nhân loại chúng ta không sống trong tội lỗi. Chúng ta không sinh ra trong tội lỗi. Chúng ta không cần phải rửa sạch cái tì vết tội tổ tông trong lễ rửa tội. Chúng ta không phải là những tạo vật sa ngã, mất đi sự cứu rỗi nếu chúng ta không rửa tội. Do đó, một đấng cứu thế có nhiệm vụ khôi phục tình trạng trước khi sa ngã của chúng ta chỉ là một sự mê tín trước thời Darwin và một sự vô nghĩa sau thời Darwin."
(We human beings do not live in sin. We are not born in sin. We do not need to have the stain of our original sin washed away in baptism. We are not fallen creatures who will lose salvation if we are not baptized... A savior who restores us to our prefallen status is therefore pre-Darwinian superstition and post-Darwinian nonsense.)
Với những hiểu biết hiện đại thì câu Phan Thiết viết: "Thích Ca là ngón tay chỉ mặt trăng. Thấy trăng rồi thì ngón tay vô dụng, còn Jesus vừa là ngón tay vừa là Mặt trăng." (HHĐP I, trg. 145) có thể đúng nếu chúng ta hiểu như sau. Mặt trăng của Đức Phật tượng trưng cho chân lý. Ngón tay tượng trưng cho Phật Pháp, những phương pháp tu tập thân, miệng, ý, nhờ đó con người có thể đạt tới chân lý, chứ không phải "Thích Ca là ngón tay" như Phan Thiết viết. Không có ngón tay thì không thấy được chân lý, nhưng chúng ta không nên nhầm lẫn ngón tay với chân lý. Chân lý phải do chúng ta đích thân thực chứng chứ không phải do Đức Phật ban cho. Còn ngón tay của Jesus là ngón tay lông lá. Lông lá vì nó chỉ vào nhiều điều phi luân, hẹp hòi, ác độc v..v.. mà tôi sẽ dẫn chứng từ Thánh Kinh trong một phần sau, và mặt trăng "cứu rỗi" của Jesus là mặt trăng ở dưới đáy nước, đồng nghĩa với cái bánh vẽ ở trên trời. Ai muốn mò trăng đáy nước, hay ăn chiếc bánh vẽ trên trời, xin cứ tùy tiện, tôi tuyệt đối không ngăn cản.... Nhưng đừng có làm tôi mất thì giờ vì mấy cái vớ vẩn của thời bán khai.
Thật ra, muốn phê bình cho đầy đủ những điều Phan Thiết viết về Phật Giáo, tôi cần một cuốn dày gấp ba hai cuốn Đất Việt.. & HHĐP cộng chung lại để vạch ra chi tiết những sai lầm của Phan Thiết. Nhưng trước một trình độ quá thấp kém của Phan Thiết được chứng tỏ trong vài thí dụ tôi vừa phân tích ở trên, tôi nghĩ không nên tiếp tục phí thời giờ để nhặt ra những hiểu biết sai lầm của Phan Thiết về Phật Giáo có thể nói là quá ấu trĩ rải rác trong suốt hai tác phẩm Đất Việt.. HHĐP của Phan Thiết. Quý độc giả nào muốn biết rõ nhiều hơn về bộ mặt thật, về kiến thức và về thủ đoạn xuyên tạc để đánh phá Phật Giáo của Phan Thiết xin đọc cuốn “Vạch Trần Âm Mưu Phá Ngầm Phật Giáo” của Thích Nhật Từ và Trần Chung Ngọc, Giao Điểm xuất bản, 2000. Phần I: Phê Bình Ký Sự Hành Hương Đất Phật của Phan Thiết” của Tỳ Kheo Thích Nhật Từ, tại địa chỉ http://www.buddhismtoday.com/viet/diemsach/003-tnt-hhdp0.htm, người đã cất công phê bình đầy đủ, vạch ra những hiểu biết và sai lầm sơ đẳng của Phan Thiết về thuật ngữ Phật Giáo, kinh điển Phật Giáo, và giáo lý Phật Giáo. Trong bài phê bình này, trên cương vị của một tu sĩ Phật Giáo với chủ trương Phật Pháp không tranh cãi với các Pháp thế gian, Tỳ Kheo Thích Nhật Từ không phê bình những điều Phan Thiết viết về Ki Tô Giáo. Nhưng để cho cho độc giả thấy rõ âm mưu và thủ đoạn của Phan Thiết trong sách lược xuyên tạc Phật Giáo và cùng lúc tôn vinh Thiên Chúa Giáo một cách huênh hoang, lố bịch, tiêu biểu sự cuồng tín của một tín đồ Thiên Chúa Giáo đã bị điều kiện hóa từ khi còn nhỏ, tôi nghĩ không có cách nào khác là đi thẳng vào những luận điểm Phan Thiết viết về Ki Tô Giáo..
III. Phê bình Phan Thiết viết về Ki-Tô giáo
Ngoài việc viết bậy về Phật Giáo, Phan Thiết cũng còn viết bậy về khoa học và Gia Tô Giáo, tôn giáo truyền thống của gia đình ông, không rõ đã từ bao nhiêu đời. Có lẽ quý độc giả nghĩ rằng, là một tín đồ Gia Tô Giáo, chắc hẳn kiến thức của Phan Thiết về tôn giáo của ông phải đúng và thành thật hơn là kiến thức dỏm của ông ta về Phật Giáo. Không hẳn vậy. Cái hiểu về Gia Tô Giáo của Phan Thiết còn tệ hơn nữa, vì đó chỉ là những điều mù lòa tin bướng tin càn chứ không thể gọi là hiểu. Để chứng minh, sau đây tôi sẽ phân tích một số điều Phan Thiết viết về Gia Tô Giáo, nhưng trước hết là vài điều Phan Thiết viết về khoa học.
Bám vào điều hoang tưởng "diệt ngã", Phan Thiết đưa khoa học vào để chứng minh, HHĐP I, trg. 16:
"...tôi không thể diệt được tôi, cái tôi vẫn lù lù hiện ra chỉ cho tôi xem công thức phá hủy một nguyên tử E = mc2 của Albert Einstein. Khi phá hủy khối lượng m cần dùng bình phương tốc độ ánh sáng.."
Viết câu trên, Phan Thiết có ý khoe rằng mình cũng biết về nhà khoa học nổi danh nhất thế kỷ 20 là Albert Einstein và công thức E = mc2 đấy. Nhưng kiến thức của Phan Thiết về khoa học cũng thuộc loại kiến thức dỏm, tạp nham, vì công thức trên của Einstein không phải là công thức “phá hủy một nguyên tử” mà là công thức xác định năng lượng tương ứng của một khối vật chất có khối lượng m, bất kể khối lượng m vật chất đó là khối lượng nào, chứ không dành riêng cho nguyên tử. Đó là năng lượng tiềm ẩn trong khối lượng m của vật chất, và muốn phá hủy khối lượng trên ta không cần dùng đến bình phương vận tốc của ánh sáng, mà là thực hiện sự “phân hạt nhân” [nuclear fission], thí dụ như làm bom nguyên tử. Công thức của Einstein cũng cho chúng ta biết là “năng lượng” có thể biến cải thành “chất lượng” như Irène and Frédéric Joliot-Curie đã chứng minh năm 1933 ở Paris. Phan Thiết có thể cho độc giả biết là khi phá hủy khối lượng m thì ta cần dùng bình phương tốc độ ánh sáng để làm gì và dùng nó như thế nào được chăng? Vật lý nguyên tử không phải để cho những người như Phan Thiết viết bậy đâu. Vì ngay cả những kiến thức thông thường về Thái Dương Hệ, Phan Thiết còn không nắm vững, làm sao đi vào Vật Lý hiện đại? Thật vậy, trong cuốn Đất Việt..., trg. 357, Phan Thiết viết một cách trống rỗng, huênh hoang và sai lầm như sau:
"Chúa thông ban sự vinh quang cho những tạo vật tôn thờ ngài như mặt trời tỏa ánh sáng cho các tinh tú trong Thái Dương Hệ."
Đúng là lời lẽ huênh hoang của một kẻ mê muội, ngu đạo, cuồng tín. Trong Thái Dương Hệ không có tinh tú. Tinh tú là các vị sao trên trời, tự chúng sáng vì chúng lớn hơn mặt trời rất nhiều có cùng một cấu tạo như mặt trời và ở rất xa chúng ta, và chúng ta chỉ thấy chúng lấp lánh ban đêm, khi mà ánh sáng vinh quang của Chúa đã tắt ngấm.. Trong Thái Dương Hệ chỉ có mặt trời (1 vị sao) và 9 hành tinh. Các hành tinh này tự nó không có ánh sáng. Những tạo vật tôn thờ Chúa (tín đồ), vì đầu óc tối tăm cho nên mới cần đến "ánh sáng vinh quang" của Chúa soi sáng, giả thử là Chúa có một chút “ánh sáng vinh quang” nào đó. Trong khi đó, 70% của 6 tỷ người trên trái đất không phải là những tạo vật tôn thờ Chúa cho nên tự họ trong sáng như những tinh tú trên trời. Sự vinh quang của Chúa ban cho những tạo vật tôn thờ Chúa như thế nào? Được làm tôi tớ hèn mọn của Chúa? của Vatican? Được lên Thiên đường (mù) sau khi chết? Đó là ánh sáng hay sự tăm tối của trí tuệ? Thật là đáng buồn, ở trên đời có những hạng người không muốn làm người, chỉ muốn làm tôi tớ hèn mọn.
Sau đây chúng ta hãy xét đến kiến thức của Phan Thiết về Gia Tô Giáo, tôn giáo mấy đời của nhà ổng. Phan Thiết viết, Đất Việt..., trg. 14:

Bài Xem Nhiều