We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 26 October 2011

Cali! Tiểu Bang Vàng Nay Còn Đâu?

Tờ báo thiên hữu Pháp bên   kia bờ Đại Tây Dương là tờ báo Le Figaro mà gần đây còn có một phóng sự đáng   buồn cho tiểu bang Cali, đông dân nhứt Mỹ, đông người Mỹ gốc Việt nhứt Hiệp   Chủng Quốc Hoa kỳ. Cali tiểu bang vàng của Mỹ, của người Mỹ gốc Việt chúng ta   chỉ là một tiểu bang nhưng từng đứng so kè với nước Pháp, nay còn   đâu!


Với 16.3% dân số sống dưới mức   nghèo khó. Như Cô Sheila Magsby - do báo Figaro viết trong phóng sự - thất   nghiệp ba năm, suốt ba năm chạy đôn chạy đáo  hết trung tâm tìm việc này   đến trung tâm khác, vỏ xe mòn, tay lái mỏi, sau 36 tháng hưởng trợ cấp thất   nghiệp, người nữ thơ ký  bốn mươi tuổi này với hai mươi năm kinh nghiệm   làm thơ ký ở Los Angeles vẫn chưa  tìm được việc làm dù  sẵn sàng   nhận một việc làm với mức lương tối thiểu. Từ một tiểu bang dứng ngang hàng   Pháp đệ ngũ siêu cường kinh tế, mấy năm kinh tế Mỹ suy thóai Cali sụt xuống   hạng  tám.


                           


Với mức thất nghiệp   12.1%,  cao hơn tòan quốc 9.1%, chỉ đỡ hơn TB Nevad13,4 %.  Chỉ   riêng vùng San Francisco, trái tim của nền kỹ nghệ kỹ thuật cao và Internet   thì hơi đỡ  một chút nhờ  công ty  Twitter và Facebook tiếp tực   thu dụng người làm. Phần còn lại tòan tiểu bang vàng lún sâu trong thất nghiệp   và suy thóai kinh tế.
Còn Miền Trung Cali  đồng bằng  San   Joaquin Valley, tỷ lệ thất nghiệp lên đến 40%  tại nhiều thành phố. Miền   Nam gần biên giới nước Mễ , thất  nghiệp cao 26%  đối với cư dân   quần cư ở 'El Centro.


Với kinh tế ngưng đọng, thị   trường chứng khóan tuột dốc, khủng khỏang tài chánh nhà đất, công ăn việc làm   khó khăn, khan hiếm.  Tháng Tám rồi - ở lãnh vực tư-  các cơ sở sản   xuất kinh doanh cho nghỉ việc 8400  người trong khi từ đầu năm đến đó   tiểu bang chỉ tạo dược 98.500  việc làm, vừa ngám với số lao dộng trẻ   đúng tuổi tham gia vào thị trưởng nhân dụng.


Ở lãnh vực công,    3600  giáo chức bị cho nghỉ việc. Có người phải chạy kiếm sống cho gia   đình bằng cách đi giữ trẻ, săn sóc người già (những việc làm ngòai chuyên môn,   uổng phí công sức học hành) với giá 50 Đô một ngày làm việc  – thấp hơn   đồng lương tối thiểu.


                            


Người đông việc ít, việc mới   tạo ít hơn việc mất đi khiến trung bình có ba trăm người xin cho một việc làm.   Có người phải đi học nghế khác, hay làm việc ngòai chuyên môn được đào, làm   việc với đồng lương tối thiều vẫn không kiếm ra việc làm như Cô Sheila Magsby   nói ở trên .


Có người không còn đủ điều   kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp vì hưởng quá thời hạn luật định mà kiếm không   ra việc làm. Nên 16,3 %  sống dưới mức nghèo khó. Nhà bị ngân hàng siết.   Chưa đến tuổi đủ điều kiện hưởng MediCal rơi vào gần 50 triệu người Mỹ không   có một thứ bảo hiểm y tế công hay tư nào. Theo bộ Lao dộng của TB Cali    có khỏang 300 người tranh nhau xin  một việc làm mổi khi có thông báo cần   người.


Nên chánh quyền Cali rất thiết   tha với kế họach tạo việc làm của TT Obama công bố gần đây. Ba tỷ chín Đô la   dành cho việc tân trang hạ tầng cơ sở TB Cali có thế tạo ra  51.500    việc  làm,  37.000  giáo chức có thể trở lại trường. Nhưng số   tiền TT Obama hứa đó còn nằm ở Quốc Hội.




Cali đã hơn một lần bên bờ phá   sản. Tin  trên Việt Báo, hồi  cuối tháng 1 năm 2009, nhân chuyền   viếng thăm quí vị cao niên ở ba nhà dưỡng lão, Dân biểu Tiểu bang Cali, Luật   sư Trần Thái Văn thưa cùng quí cụ, “Hiện nay ngân sách tiểu bang đang trong   cơn khủng hoảng và có thể bị thâm thủng khoảng 42 tỷ Mỹ kim tính đến cuối   tháng 6 năm naỵ. Dân biểu Văn cho biết đến cuối tháng 2 sắp đến, ngân sách   tiểu bang sẽ cạn tiền và  không có khả năng thanh toán cho bất cứ ai”.  
Còn Giám sát viên Janet Nguyễn  lúc bấy giờ đưọc cử làm Phó Chủ Tịch   Hội Đồng Giám sát Quân Cam, nơi có một cộng đồng người Mỹ gốc Việt đông nhứt   Mỹ, trong Nhật Ký trên mạng cũng nói điêu  không vui của Quận Cam. Tổng   Uûy Viên Ngân Khố John Chiang cho biết sẽ đình hoãn chi trả những công chi   quan yếu nếu Thống Đốc và Lập pháp không thể đưa ra những giải pháp để giải   quyết cơn khủng khoảng tài chánh ở Cali.
Còn  thông tấn xã  AFP   và báo Liberation của Pháp đi tin còn thảm hơn, “Cali  gần kề phá sản”.  


Cali là tiểu bang đông dân và   kinh tế mạnh nhứt Mỹ. Cali là tiểu bang có ngưòi Mỹ gốc Việt, đông nhứt Mỹ tức   đông nhứt thề giới, chỉ sau công đồng ngưòi Việt trong nước đang sống trong   gông kềm CS Hà nội thôi. Tìền trợ cấp an sinh xã hội Cali chơi ngon nhứt, giúp   người lớn tuổi nhiều nhứt, cho thêm 200 mấy Đô, cao hơn tất cả các tiểu   bang.
Về diện tích Cali ngang với nước Ý nhưng có chỉ có 36 triệu rưởi dân.   Mà về kinh tế Cali đứng hàng thứ 8 so với các siêu cường kinh tế trên thế   giới. Nhưng tỉểu bang vàng đang gặp khó khăn. Đã 5 năm  thời Ông Arnold   Schwarzenegger làm Thống Đốc, Ông đã gắn một đồng hồ khiếm hụt ngân sách ở tòa   nhà Capitol nơi thủ phủ Sacramento. Cứ 1 giây thì ngân sách Cali khiếm hụt 500   Đô la. 


Ông  phải đề nghị công   chức TB Cali phải  nghi 2 ngày không lương để tiết giảm chi phí nhân viên   và điều hành. Ông còn đề nghị tăng thuế giá trị gia tăng. Nhưng phải có đa số   tuyệt đối tức 2 phần 3 Quốc Hội đồng ý mới được. Quốc Hội Cali do đảng Dân Chủ   kiểm soát. Chưa có một dự án thoả hiệp dàn xếp nào.Thống đốc mới của Cali lên   cùng Đảng Dân Chủ với đa số dân biểu nghị sĩ Quốc Hội Cali. Ông  lãnh một   gánh nặng công nợ của tiểu bang, tìm cách gỡ nhưng chưa thấy dấu hiệu lạc quan   nào.




Trở lại cộng đồng ngươi Mỹ gốc   Việt ở Cali của chúng ta, một cộng đồng đông người Mỹ gốc Việt nhứt so với các   tiểu bang. Nhiều đoàn thể đấu tranh ở hải ngoại đã hơn một lần lên tiếng kêu   gọi kế hoạch hoá việc gởi tiền và đi VN. Sẵn dịp nền tài chánh kinh tế Cali   khó khăn người Mỹ gốc Việt có thể cùng chia xẻ với dân Cali nói chung.  
Người Việt có câu "cứu ngặt chớ không ai cứu nghèo" để bà con ở nước nhà   liệu cơm gắp mắm, không ỷ lại vào cái vú sữa ở ngọai quốc gởi về. Người Pháp   có câu "từ thiện sắp đặt đúng bắt đầu từ mình trước", trừ khi tang gia hữu sự   ở nước nhà, cực chẳng đả phải đi VN. Chớ bỏ ra cả ngàn tiền máy bay để đi VN,   mới tới phi trường mà thấy bộ mặt “hình sự” của công an, hải quan VC đã mất   hứng du lịch rồi. Đó là chưa nói những bịnh hoạn do đồ ăn thức uống, bò lạc,   cỏ non ô nhiễm bịnh xã hội làm khổ thân và gia đình khi trở lại Mỹ   nữa.


Muốn hay không muốn bây giờ Mỹ   cũng như các quốc gia  người Việt định cư và nhập tịch ở Tây Âu, Bắc Mỹ,   Úc châu hiện là nước nhà của người Mỹ, Pháp, Anh, v.v. gốcViệt;  và VN   chỉ là cố quốc thôi. Chế độ CS đang kềm kẹp VN. Tiền của những ngưòi CS Hà nội   gọi là Việt Kiều gởi  càng nhiều  thì CS Hà nội càng có nhiều ngoại   tệ  mạnh. Sưu khảo cho biết tiền của người Việt hải ngọai gởi về thừa để   nuôi, trang bị, cho quân đội và công an cánh sát của CS Hà nội hai cánh tay   chuyên chính vô sản kềm kẹp đồng bào trong nước.


Quyền phát hành tiền VN là   quyền của Đảng Nhà Nước, muốn in bao nhiêu đề đổi lấy ngọai tệ gởi về CS    làm cũng được và không ai biết vì CS Hà nội xếp việc ấy vào hồ sơ bí mật quốc   gia như ngân sách của đảng CSVN và sức khoẻ của lãnh tụ Đảng. Ngoại tệ nào vì   thế sau cùng rồi ra cũng vào tay nhà cầm quyền CS Hà nội vì ngưòi Việt phải   đổi ra tiền VNCS để xài.


“Việt Kiều” càng về kiếm cỏ non bò lạc ở VN thì CS Hà   nội càng có lý do tuyên truyền hoà giải hoà hợp, gia đình ở ngoại quốc càng dễ   mất hạnh phúc, và lớp thiếu nữ VN càng bị hư  hỏng thêm vì tiền.

Vi Anh

Nổ Súng Hãm Thanh?


Ai sẽ nổ súng ở Biển Đông trước? Có phải đó là lời hăm dọa mới đưa ra một cách không chính thức của Trung Quốc qua tờ báo ở Bắc Kinh? Và nổ súng sẽ diễn ra thế nào, thí dụ, Hải Quân TQ sẽ đổ bộ các đảo do Việt Nam còn đang trấn giữ  trong quần đảo Trường Sa? Và nổ súng vang dội hay chỉ nổ súng hãm thanh? Hay thực tế TQ đã cho nố súng với nòng hãm thanh bằng cách cắt dây cáp tàu dầu VN, đụng chìm tàu ngư dân Việt, cho 500 tàu cá TQ vào vét ngư trường Quảng Ngãi và Quảng Nam?
Chuyện taù lạ đụng chìm tàu ngư dân Việt lại mới xảy ra hôm Thứ Hai 24-10-2011 tại ngư trường Việt Nam, chỉ gần 10 ngày sau khi ông Tổng Bí Thư CSVN Nguyễn Phú Trọng ký bản văn có tên là “Tuyên bố chung hai nước Việt Nam và Trung Quốc.”
Thông tấn VnExpress hôm Thứ Bảy 15/10/2011, đã đăng bản tin về lời thề non hẹn biển giữa hai đảng CSVN và CSTQ, trích như sau:
“Ngày 15/10, tại thủ đô Bắc Kinh, Việt Nam và Trung Quốc đã ra Tuyên bố chung về chuyến thăm chính thức Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam.
Nội dung tuyên bố chung như sau...(...)
... Hai bên nhấn mạnh tôn trọng lẫn nhau, hiểu biết lẫn nhau, ủng hộ lẫn nhau, tin cậy lẫn nhau, hợp tác với nhau là kinh nghiệm quan trọng cho quan hệ hai nước phát triển ổn định, lành mạnh; khẳng định tình hữu nghị đời đời Việt-Trung là tài sản quý báu chung của hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước, cần được không ngừng củng cố, phát triển, truyền mãi cho các thế hệ mai sau.
Hai bên khẳng định, Việt Nam và Trung Quốc tiếp tục kiên trì phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt,” từ tầm cao chiến lược và tầm nhìn toàn cục, sẽ tăng cường giao lưu hữu nghị giữa hai nước, mở rộng hợp tác cùng có lợi trên các lĩnh vực, trân trọng, giữ gìn, phát triển tốt quan hệ hai Đảng, hai nước Việt-Trung, thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc phát triển một cách ổn định, lành mạnh, lâu dài.
... thúc đẩy thiết lập đường dây điện thoại trực tiếp giữa hai Bộ Quốc phòng hai nước; tăng cường hợp tác đào tạo cán bộ và giao lưu sĩ quan trẻ; triển khai thí điểm tuần tra chung biên giới đất liền vào thời điểm thích hợp; tiếp tục tổ chức tuần tra chung giữa hải quân hai nước trong Vịnh Bắc Bộ; tăng cường hợp tác trong các mặt như tàu hải quân hai nước thăm nhau....
... Hai bên đã trao đổi ý kiến chân thành, thẳng thắn về vấn đề trên biển; nhấn mạnh ý chí và quyết tâm chính trị thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị để giải quyết tranh chấp, giữ gìn hòa bình, ổn định tại Biển Đông; cho rằng điều này phù hợp với lợi ích căn bản của hai nước và nguyện vọng chung của nhân dân hai nước, có lợi cho hòa bình, hợp tác và phát triển tại khu vực.
Lãnh đạo hai Đảng, hai nước sẽ duy trì trao đổi và đối thoại thường xuyên về vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc, từ tầm cao chính trị và chiến lược, kịp thời chỉ đạo xử lý và giải quyết thỏa đáng vấn đề trên biển....”(hết trích)
Tình hữu nghị đời đời Việt-Trung? Đúng là bản văn nói như thế, y hệt như trong tiểu thuyết tình cảm khi chàng và nàng gặp nhau, và có thể là sắp xa nhau. Vậy rồi vụ đụng chìm taù hôm Thứ Hai 24/10/2011 sẽ giải thích ra sao... khi ngư dân Việt không thấy “tuần tra chung” nào hết, không thấy cả Hải Quân VN và dân quân biển VN nào theo bảo vệ hết.
Bản tin thông tấn Bee hôm 25/10/2011 kể chuyện như sau:
“Bị tàu lạ tông, 12 ngư dân gặp nạn
Chiều 25/10, Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Ngãi cho biết đang điều tra làm rõ vụ một tàu cá ở xã Nghĩa An, huyện Tư Nghĩa, bị tông, làm một ngư dân bị thương.
Được biết vào khoảng 22h30 ngày 24/10, tại vùng biển xã Nghĩa An, huyện Tư Nghĩa, chiếc tàu cá mang số hiệu QNG 9222 TS, của ông Trần Ngọc Nga, ở cùng địa phương, trên tàu có 12 ngư dân, đã bị một tàu lạ đâm, làm một ngư dân rơi xuống biển và bị thương; còn thân tàu bị hư hỏng nặng, đồng thời làm khoảng 2000 lít dầu tràn ra khoang.
Để tàu khỏi bị chìm, cùng với bơm toàn bộ số dầu tràn xuống biển, ngư dân đã phải sửa chữa phần thân bị hư hỏng. Đến sáng sớm 25/10, chiếc tàu chạy và cập cảng Sa Kỳ, xã Bình Châu, an toàn.
Vụ tai nạn đã làm thiệt hại khoảng 150 triệu đồng, ông Nga cho biết.”
Tại sao đụng chìm tàù ngư dân Việt mà không chịu cứu vớt các ngư dân té xuống biển? Có phải đó là hữu nghị đời đời chăng?
Tuy nhiên, người ta dễ dàng hiểu được “sự cố” đụng chìm taù ngư dân Việt vừa mới sau chuyến đi của ông Nguyễn Phú Trọng là qua bài viết rất vang dội từ  Bắc Kinh.
Đài RFI hôm Thứ Ba 25/10/2011 loan tin:
“Vào hôm nay, 25/10/2011, Bắc Kinh lại bật đèn xanh cho báo chí hù dọa các láng giềng. Tờ Hoàn cầu Thời báo (Global Times), đã nêu đích danh Việt Nam, Philippines và Hàn Quốc, để cảnh cáo các nước đang tranh chấp chủ quyền trên các vùng Biển Đông và biển Hoa Đông với Trung Quốc là phải thay đổi lập trường, nếu không muốn chịu cảnh binh đao.
Trong bài xã luận viết bằng cả Anh ngữ lẫn Hoa ngữ, mang tựa đề «Đừng xem phương thức tiếp cận hòa bình là điều được hưởng mãi mãi», tờ báo này đã tố cáo các láng giềng của Trung Quốc là đã lợi dụng «đường lối ngoại giao hiếu hòa» của Bắc Kinh để thủ lợi cho riêng mình. Do đó, tờ báo cho rằng : «Nếu không thay đổi thái độ, các nước này sẽ phải chuẩn bị tinh thần để nghe thấy tiếng đại pháo», và chính quyền Trung Quốc cũng phải sẵn sàng cho biện pháp «phản công» quân sự, vì đây có thể là biện pháp duy nhất để giải quyết tranh chấp.
Dù có đề cập đến Hàn Quốc, nhưng Hoàn cầu Thời báo Trung Quốc đặc biệt gay gắt với Philippines và Việt Nam bị họ cho là «Tưởng rằng Trung Quốc đang bị sức ép nhiều phía, nên nghĩ rằng thời cơ đã đến để buộc Trung Quốc phải từ bỏ quyền lợi của mình» ở Biển Đông. Đối với tờ báo này, chính quyền Bắc Kinh cần phải tính đến một số biện pháp quân sự, nếu «tình hình xấu đi».
Đây không phải là lần đầu tiên mà tờ Hoàn cầu Thời báo có lời lẽ hung hăng với Việt Nam và Philippines. Cuối tháng 9 vừa qua, tờ báo này đã từng đăng bài của một tác giả ký tên là Long Đạo, kêu gọi Trung Quốc nên đánh phủ đầu Việt Nam và Philippines, hai nước đã dám chống lại các đòi hỏi chủ quyền của Bắc Kinh ở Biển Đông.
Global Times không phải là cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng Cộng sản Trung Quốc, cho dù trực thuộc Nhân dân Nhật báo. Tuy nhiên, tờ báo này được cho là diễn đàn của các thành phần diều hâu trong hàng ngũ lãnh đạo Trung Quốc.
Theo giới phân tích, không phải là ngẫu nhiên mà Trung Quốc lại bật đèn xanh cho tờ Hoàn cầu Thời báo đe dọa các láng giềng vào thời điểm này. Nhân vòng công du châu Á đầu tiên của mình khỏi sự từ chủ nhật 23/10, tân bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta đã lên tiếng xác định trở lại với các nước trong vùng là Hoa Kỳ sẽ không cắt giảm lực lượng quân sự tại châu Á, cho dù ngân sách quốc phòng Mỹ sắp bị thu hẹp.”(hết trích)
Cũng không phải tình cờ cho vụ đụng chìm tàu ngư dân Việt, khi chúng ta đọc được bản tin trên VOA hôm 25/10/2011 rằng Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Yasuo Ichikawa và người đồng nhiệm Việt Nam, Tướng Phùng Quang Thanh đã ký kết một biên bản ghi nhớ nhằm tăng cường hợp tác quốc phòng giữa hai nước. Bản tin nói ký kết này diễn ra trong khuôn khổ cuộc hội đàm giữa ông Ichikawa và ông Thanh tại Tokyo của Nhật Bản ngày hôm Thứ Hai, và “trong cuộc hội đàm này hai bên đã đề cập đến việc Trung Quốc nhiều lần cản trở các hoạt động hàng hải của các nước khác, trong đó có cả Việt Nam, và đồng ý về tầm quan trọng của việc thắt chặt quan hệ song phương trong bối cảnh đó.”
Biển Đông thực sự đã nổ súng, tuy là với nòng hãm thanh nhưng đã là vang dội khắp Việt Nam rồi. Hãy ngưng mọi ảo tưởng, và hãy thấy ai thực là những người bạn khả tín cho VN.
nguonvietbao.com

--
Nổ Súng Hãm Thanh?

Trần Khải
Ai sẽ nổ súng ở Biển Đông trước? Có phải đó là lời hăm dọa mới đưa ra một cách không chính thức của Trung Quốc qua tờ báo ở Bắc Kinh? Và nổ súng sẽ diễn ra thế nào, thí dụ, Hải Quân TQ sẽ đổ bộ các đảo do Việt Nam còn đang trấn giữ  trong quần đảo Trường Sa? Và nổ súng vang dội hay chỉ nổ súng hãm thanh? Hay thực tế TQ đã cho nố súng với nòng hãm thanh bằng cách cắt dây cáp tàu dầu VN, đụng chìm tàu ngư dân Việt, cho 500 tàu cá TQ vào vét ngư trường Quảng Ngãi và Quảng Nam?
Chuyện taù lạ đụng chìm tàu ngư dân Việt lại mới xảy ra hôm Thứ Hai 24-10-2011 tại ngư trường Việt Nam, chỉ gần 10 ngày sau khi ông Tổng Bí Thư CSVN Nguyễn Phú Trọng ký bản văn có tên là “Tuyên bố chung hai nước Việt Nam và Trung Quốc.”
Thông tấn VnExpress hôm Thứ Bảy 15/10/2011, đã đăng bản tin về lời thề non hẹn biển giữa hai đảng CSVN và CSTQ, trích như sau:
“Ngày 15/10, tại thủ đô Bắc Kinh, Việt Nam và Trung Quốc đã ra Tuyên bố chung về chuyến thăm chính thức Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam.
Nội dung tuyên bố chung như sau...(...)
... Hai bên nhấn mạnh tôn trọng lẫn nhau, hiểu biết lẫn nhau, ủng hộ lẫn nhau, tin cậy lẫn nhau, hợp tác với nhau là kinh nghiệm quan trọng cho quan hệ hai nước phát triển ổn định, lành mạnh; khẳng định tình hữu nghị đời đời Việt-Trung là tài sản quý báu chung của hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước, cần được không ngừng củng cố, phát triển, truyền mãi cho các thế hệ mai sau.
Hai bên khẳng định, Việt Nam và Trung Quốc tiếp tục kiên trì phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt,” từ tầm cao chiến lược và tầm nhìn toàn cục, sẽ tăng cường giao lưu hữu nghị giữa hai nước, mở rộng hợp tác cùng có lợi trên các lĩnh vực, trân trọng, giữ gìn, phát triển tốt quan hệ hai Đảng, hai nước Việt-Trung, thúc đẩy quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc phát triển một cách ổn định, lành mạnh, lâu dài.
... thúc đẩy thiết lập đường dây điện thoại trực tiếp giữa hai Bộ Quốc phòng hai nước; tăng cường hợp tác đào tạo cán bộ và giao lưu sĩ quan trẻ; triển khai thí điểm tuần tra chung biên giới đất liền vào thời điểm thích hợp; tiếp tục tổ chức tuần tra chung giữa hải quân hai nước trong Vịnh Bắc Bộ; tăng cường hợp tác trong các mặt như tàu hải quân hai nước thăm nhau....
... Hai bên đã trao đổi ý kiến chân thành, thẳng thắn về vấn đề trên biển; nhấn mạnh ý chí và quyết tâm chính trị thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị để giải quyết tranh chấp, giữ gìn hòa bình, ổn định tại Biển Đông; cho rằng điều này phù hợp với lợi ích căn bản của hai nước và nguyện vọng chung của nhân dân hai nước, có lợi cho hòa bình, hợp tác và phát triển tại khu vực.
Lãnh đạo hai Đảng, hai nước sẽ duy trì trao đổi và đối thoại thường xuyên về vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc, từ tầm cao chính trị và chiến lược, kịp thời chỉ đạo xử lý và giải quyết thỏa đáng vấn đề trên biển....”(hết trích)
Tình hữu nghị đời đời Việt-Trung? Đúng là bản văn nói như thế, y hệt như trong tiểu thuyết tình cảm khi chàng và nàng gặp nhau, và có thể là sắp xa nhau. Vậy rồi vụ đụng chìm taù hôm Thứ Hai 24/10/2011 sẽ giải thích ra sao... khi ngư dân Việt không thấy “tuần tra chung” nào hết, không thấy cả Hải Quân VN và dân quân biển VN nào theo bảo vệ hết.
Bản tin thông tấn Bee hôm 25/10/2011 kể chuyện như sau:
“Bị tàu lạ tông, 12 ngư dân gặp nạn
Chiều 25/10, Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Ngãi cho biết đang điều tra làm rõ vụ một tàu cá ở xã Nghĩa An, huyện Tư Nghĩa, bị tông, làm một ngư dân bị thương.
Được biết vào khoảng 22h30 ngày 24/10, tại vùng biển xã Nghĩa An, huyện Tư Nghĩa, chiếc tàu cá mang số hiệu QNG 9222 TS, của ông Trần Ngọc Nga, ở cùng địa phương, trên tàu có 12 ngư dân, đã bị một tàu lạ đâm, làm một ngư dân rơi xuống biển và bị thương; còn thân tàu bị hư hỏng nặng, đồng thời làm khoảng 2000 lít dầu tràn ra khoang.
Để tàu khỏi bị chìm, cùng với bơm toàn bộ số dầu tràn xuống biển, ngư dân đã phải sửa chữa phần thân bị hư hỏng. Đến sáng sớm 25/10, chiếc tàu chạy và cập cảng Sa Kỳ, xã Bình Châu, an toàn.
Vụ tai nạn đã làm thiệt hại khoảng 150 triệu đồng, ông Nga cho biết.”
Tại sao đụng chìm tàù ngư dân Việt mà không chịu cứu vớt các ngư dân té xuống biển? Có phải đó là hữu nghị đời đời chăng?
Tuy nhiên, người ta dễ dàng hiểu được “sự cố” đụng chìm taù ngư dân Việt vừa mới sau chuyến đi của ông Nguyễn Phú Trọng là qua bài viết rất vang dội từ  Bắc Kinh.
Đài RFI hôm Thứ Ba 25/10/2011 loan tin:
“Vào hôm nay, 25/10/2011, Bắc Kinh lại bật đèn xanh cho báo chí hù dọa các láng giềng. Tờ Hoàn cầu Thời báo (Global Times), đã nêu đích danh Việt Nam, Philippines và Hàn Quốc, để cảnh cáo các nước đang tranh chấp chủ quyền trên các vùng Biển Đông và biển Hoa Đông với Trung Quốc là phải thay đổi lập trường, nếu không muốn chịu cảnh binh đao.
Trong bài xã luận viết bằng cả Anh ngữ lẫn Hoa ngữ, mang tựa đề «Đừng xem phương thức tiếp cận hòa bình là điều được hưởng mãi mãi», tờ báo này đã tố cáo các láng giềng của Trung Quốc là đã lợi dụng «đường lối ngoại giao hiếu hòa» của Bắc Kinh để thủ lợi cho riêng mình. Do đó, tờ báo cho rằng : «Nếu không thay đổi thái độ, các nước này sẽ phải chuẩn bị tinh thần để nghe thấy tiếng đại pháo», và chính quyền Trung Quốc cũng phải sẵn sàng cho biện pháp «phản công» quân sự, vì đây có thể là biện pháp duy nhất để giải quyết tranh chấp.
Dù có đề cập đến Hàn Quốc, nhưng Hoàn cầu Thời báo Trung Quốc đặc biệt gay gắt với Philippines và Việt Nam bị họ cho là «Tưởng rằng Trung Quốc đang bị sức ép nhiều phía, nên nghĩ rằng thời cơ đã đến để buộc Trung Quốc phải từ bỏ quyền lợi của mình» ở Biển Đông. Đối với tờ báo này, chính quyền Bắc Kinh cần phải tính đến một số biện pháp quân sự, nếu «tình hình xấu đi».
Đây không phải là lần đầu tiên mà tờ Hoàn cầu Thời báo có lời lẽ hung hăng với Việt Nam và Philippines. Cuối tháng 9 vừa qua, tờ báo này đã từng đăng bài của một tác giả ký tên là Long Đạo, kêu gọi Trung Quốc nên đánh phủ đầu Việt Nam và Philippines, hai nước đã dám chống lại các đòi hỏi chủ quyền của Bắc Kinh ở Biển Đông.
Global Times không phải là cơ quan ngôn luận chính thức của Đảng Cộng sản Trung Quốc, cho dù trực thuộc Nhân dân Nhật báo. Tuy nhiên, tờ báo này được cho là diễn đàn của các thành phần diều hâu trong hàng ngũ lãnh đạo Trung Quốc.
Theo giới phân tích, không phải là ngẫu nhiên mà Trung Quốc lại bật đèn xanh cho tờ Hoàn cầu Thời báo đe dọa các láng giềng vào thời điểm này. Nhân vòng công du châu Á đầu tiên của mình khỏi sự từ chủ nhật 23/10, tân bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta đã lên tiếng xác định trở lại với các nước trong vùng là Hoa Kỳ sẽ không cắt giảm lực lượng quân sự tại châu Á, cho dù ngân sách quốc phòng Mỹ sắp bị thu hẹp.”(hết trích)
Cũng không phải tình cờ cho vụ đụng chìm tàu ngư dân Việt, khi chúng ta đọc được bản tin trên VOA hôm 25/10/2011 rằng Bộ trưởng Quốc phòng Nhật Bản Yasuo Ichikawa và người đồng nhiệm Việt Nam, Tướng Phùng Quang Thanh đã ký kết một biên bản ghi nhớ nhằm tăng cường hợp tác quốc phòng giữa hai nước. Bản tin nói ký kết này diễn ra trong khuôn khổ cuộc hội đàm giữa ông Ichikawa và ông Thanh tại Tokyo của Nhật Bản ngày hôm Thứ Hai, và “trong cuộc hội đàm này hai bên đã đề cập đến việc Trung Quốc nhiều lần cản trở các hoạt động hàng hải của các nước khác, trong đó có cả Việt Nam, và đồng ý về tầm quan trọng của việc thắt chặt quan hệ song phương trong bối cảnh đó.”
Biển Đông thực sự đã nổ súng, tuy là với nòng hãm thanh nhưng đã là vang dội khắp Việt Nam rồi. Hãy ngưng mọi ảo tưởng, và hãy thấy ai thực là những người bạn khả tín cho VN.

 Tác giả : Trần Khải
nguonvietbao.com

Thư Chúc Mừng của DB Julie Attwood & Kết quả cuối cùng của Poll trên báo Sydney Morning Herald



Kính thưa tất cả,

(1) Cuộc Trưng Cầu Ý Kiến "Cựu chiến binh có nên hòa giải với các cựu thù hay không?" trên nhật báo Sydney Morning Herald đã chấm dứt với kết quả sau đây:


Australian Vietnamese War Memorial ở Queesnland, Australia
Tổng cộng số lần bầu: 8,968

Yes: 16%        No: 84%

Xin chân thành cảm ơn quý hội đoàn, tổ chức, thân hữu, đồng hương đã tiếp tay phổ biến và hỗ trợ cho việc bỏ phiếu trong cuộc TCYK này.

(2) Sau đây là thư Chúc Mừng (và bản dịch Việt ngữ) của bà Julie Attwood, dân biểu tiểu bang Qld, đơn vị Mt. Ommaney. Như quý vị còn nhớ, bà Attwood đã viết 1 bức thư hỗ trợ cuộc tranh đấu của chúng ta vào hôm 24/10/2011 vừa qua.


"Các bạn thân mến,

Đây đã là một trận chiến dài và khó khăn cho các cựu quân nhân QLVNCH và cộng đồng người Việt nói chung. Tôi hy vọng vấn đề này đến đây đã được chôn cất – một cách vĩnh viễn.
Nỗi đau lòng  từ chiến tranh Việt Nam vẫn còn in dấu trong trí óc của nhiều thành viên và gia đình của họ. Khía cạnh nhân quyền của vấn đề là chuyện mà chúng ta phải thường lưu tâm. Chúng ta phải bảo đảm là Hội Cựu Chiến binh Việt Nam và nhà cầm quyền chủ nhân của họ không được trục lợi từ bât cứ quan điểm pháp lý nào liên quan đến việc đối xử của họ với cựu quân nhân QLVNCH


Nước Úc phải làm gương cho thế giới – là chúng ta không khoan nhượng những sự vi phạm nhân quyền trong bất cứ trường hợp nào. Chúng ta sống một cách hài hòa trong môt quốc gia với vô số nền văn hóa khác nhau. Tôi hy vọng chúng ta có thể tiếp tục giáo dục các thế hệ tương lai về sự quan trọng của Tự Do, Tình Nhân Ái  Lòng Khoan Dung và Tôn Trọng những người khác.

Chúc mừng tất cả những người tin tưởng một cách chính xác rằng đây là những điều đáng cho chúng ta tranh đấu.


Trân trọng.
Julie Attwood
Dân biểu đơn v ị Mt. Ommaney
Thứ Trưởng bộ Y tế".

---
(Nguyên bản Anh ngữ)


" Friends,

This has been a long hard battle for ARVN members and the wider Vietnamese community.  I hope at last the matter has been buried – permanently.

The trauma resulting from the war in Vietnam is still fresh in the minds of many members and their families.  The human rights aspect of the dilemma is something that we must constantly be cognisant of.   We must ensure that the communist VAV and its government overlords do not benefit from any perception of legality in relation to their treatment of former ARVN members.

Australia must set an example to the world – that we do not tolerate the breach of human rights under any circumstances.  We live in a country with a myriad of cultures who live in relative harmony.  I hope that we can continue to teach future generations about the importance of freedom, compassion, tolerance and respect for our fellow human beings. 


Congratulations to all those people who rightly believe that this is worth fighting for.

Kind regards Julie Attwood MP
Member for Mt Ommaney
Parliamentary Secretary for Health
T:  07 3279 5137
F:  07 3279 0645
E:  julie.attwood@..."

http://www.lyhuong.net/uc/index.php/shcd/1533-1533

Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ngày 26 Tháng 4 năm 1958 về thắc mắc trong vấn đề tái thống nhất đất nước


Kính thưa Quí Vị,
Từ hai năm qua, vào cuối tháng 10 hoặc đầu tháng 11 tôi đều đóng góp một bài viết về nền Đệ Nhất Cộng Hoà. Với hai bài „Thời nào Dân Việt sướng nhất“ chúng ta đã cùng so sánh đời sống đại đa số dân chúng trong ba thời kỳ Đệ Nhất, Đệ Nhị Cộng hoà và XHCN. Kết quả cho thấy, mặc dù dưới thời Đê Nhất Cộng hoà số tiền viện trợ ngoại quốc vào Việt Nam thấp nhất nhưng tiền lương người dân laođộng, là thành phần chiếm đa số trong xã hội Việt Nam, cao trội hơn một cách rõ ràng với Đệ Nhị Cộng hoà và đặc biệt là với thời XHCN, mặc dù khoảng cách đã gần 50 năm.
Nhân tìm được trong thư viện một trường Đại học Đức “Bản Tuyên Bố của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà ngày 26.04.1958 về thắc mắc trong vấn đề tái thống nhất đất nước” bằng tiếng Đức, tôi “ngấu nghiến” đọc và nhận thấy Bản Tuyên Bố có lập luận chặt chẽ, lời lẽ nhẹ nhàng nhưng diễn được suy nghĩ đanh thép của những người lãnh đạo thời đó. Những lập luận luôn được kèm theo thí dụ các sự kiện đã xảy ra làm người đọc, cho dù chưa sống dưới chế độ cộng sản, cũng có thể hiểu được thực trạng của chế độ cộng sản và lý do nào khiến người cộng sản miền Bắc đã chia đôi đất nước và sau đó đòi hỏi một cuộc tổng tuyển cử để tái thống nhất đất nườc với một Việt Nam Cộng Hoà tự do và trù phú chỉ sau gần 4 năm tái kiến thiết sau ngày Hiệp định Genève được ký kết.
Một điều đáng chú ý là năm 1958 Việt Nam Cộng hoà chưa có Đại sứ, mới chỉ có Sứ Thần tại CHLB Đức, nhưng các Vị Tiền bối cũng đã cho dịch dịch Bản Tuyên bố của Chính phủ ra tiếng Đức và cho phổ biến đến các trường đại học. Qua đó cho thấy, Bản Tuyên bố này đã được phổ biến ở nhiều quốc gia khác nơi VNCH có cơ sở ngoại giao.
Do tầm quan trọng của Bản Tuyên bố, tôi dịch bản Tuyên bố trên ra tiếng Việt để mọi người chúng ta cùng tham khảo và hãnh diện rằng, nước Việt Nam đã một thời có những người lãnh đạo đất nước không những chỉ thực sự vì nước vì dân mà còn rất khôn ngoan. Với đường lối chính trị và phương thức đấu tranh của Chính phủ Đệ nhất VNCH, chắc chắn miền Nam đã không rơi vào tay người cộng sản mà ngược lại có lẽ cả nước Việt Nam ngày nay đã được thống nhất theo mô hình của Đức và người dân Việt không phải lam lũ làm tôi mọi cho giai cấp thống trị mại bản đỏ, người con gái Việt không phải vong thân cho ngoại bang dày vò thể xác để mong được sống qua ngày, mà chúng ta đã là những con người tự tin, hiên ngang như các dân tộc Nhật bản, Đại hàn, Đài loan, Singapore vv….
Công việc dịch ra tiếng Việt từ ngoại ngữ chắc chắn không thể diễn tả hoàn toàn hết được ý tưởng của bản văn tiếng Việt. Xin Quí Vị niệm tình tha thứ nếu có sơ xót.
Kính mến
Nguyễn Hội
 Vietnamese refugees left the newly created communist North Vietnam during Operation Passage to Freedom (October 1954).
 Tuyên bố của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ngày 26 Tháng 4 năm 1958 về thắc mắc trong vấn đề tái thống nhất đất nước
  Trong bức thư đề ngày 7 tháng ba năm1958, được sử dụng với mục đích tuyên truyền – bởi vì văn bản được phát đi ngay lập tức bởi Đài phát thanh Hà Nội và Đài phát thanh Bắc Kinh – Nhà chức trách Hà Nội đưa đề nghị „thiết lập quan hệ bình thường“, đề nghị xem xét vấn đề tái thống nhất đất nước, hạn chế quân sự và giao thương giữa hai vùng.
Mặc dù đồng bào chúng tôi ở miền Nam và miền Trung Việt Nam đã được thông báo về tính chất lừa đảo của tuyền truyền cộng sản, Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cũng phải có trách nhiệm giải thích cho đồng bào ở miền Bắc, những người đang bị cô lập với mọi thông tin xác thực và dư luận thế giới, các mâu thuẫn giữa tuyên bố và hành động của nhà chức trách Hà Nội cùng thực trạng bất lương về những cáo buộc của họ.
 Vấn đề thống nhất đất nước và cuộc bầu cử chung
  Xin nhớ rằng, Chính phủ chúng tôi đã luôn luôn bảo vệ sự thống nhất của đất nước. Trong Hội nghị Genève năm 1954, phái đoàn Việt Nam đã phản đối mạnh mẽ chống lại ý định của cộng sản Việt Nam. Phái đoàn chúng tôi đã chống việc chia ly tạm thời của đất nước. Chúng tôi đã đề xuất việc thu các đơn vị quân sự của cả hai bên vào một số khu vực hạn chế và sau đó tổ chức cuộc bầu cử tự do dưới sự kiểm soát của Liên Hiệp Quốc. Phái đoàn Cộng sản đã bác bỏ đề nghị trên, họ đòi hỏi chia đất nước từ vĩ tuyến 17 nhằm đạt dân số trội hơn miền Nam. Sau cuộc trốn chạy của hơn một triệu người tị nạn về miền Nam, tại miền Bắc vẫn còn hơn 13 triệu người so với 11 triệu người dân sinh sống trong miền Nam.
Nhờ vào chế độ công an trị và quân đội lớn hơn so với Việt Nam Cộng hòa, cộng sản tin rằng họ có thể ép dân chúng miền Bắc, dân số cao hơn, bỏ phiếu bầu cho họ ngõ hầu chế độ cộng sản có thể thống trị trên toàn lãnh thổ Việt Nam và như thế, nền hoà bình trong vùng Đông Nam Á sẽ bị đe doạ.
Từ ý tưởng này người cộng sản đòi hỏi thực hiện một cuộc Phổ thông đầu phiếu tại Việt Nam, trong khi họ luôn từ chối các cuộc bầu cử tự do tại Đức và Đại Hàn, bởi vì trong hai quốc gia này dân số trong vùng họ kiểm soát ít hơn so với các khu vực tự do; do đó họ không có cơ hội để thực hiện ý đồ đen tối của mình.
Thái độ mâu thuẫn của cộng sản về vấn đề thống nhất đất nước ở các quốc gia bị phân chia cho thấy động cơ thầm kín của họ nhằm thực hiện những cuộc bầu cử không tự do và không thành thật.
Mặc dù nhà chức trách Hà Nội đòi hỏi cuộc bầu cử chung, nhưng họ lại không tổ chức một cuộc bầu cử tự do trong vùng tạm kiểm soát của mình để canh tân cái gọi là Quốc hội của họ. Quốc hội này bao gồm một số thành viên được chỉ định và một số thành viên được bầu trong sự hỗn loạn của năm 1946, hiện nay phải đối mặt với thực tế là một số thành viên đã bỏ chạy về miền Nam. Theo quyđịnh trong Hiến pháp của họ, một bản Hiến pháp được hoàn thành không có sự tranh luận, trong một phiên họp chỉ kéo dài có một ngày, thì nhiệm vụ những đại biểu của Quốc hội này đã được chấm dứt từ hơn 8 năm nay rồi. Cộng sản Việt Nam dođó đã không tôn trọng hiến pháp của chính họ. Đồng thời họ đã thiết lập chế độ Cộng sản ở miền Bắc, mà không trưng cầu ý dân. Và họ không bao giờ trưng cầu dân ý vì họ biết rằng dân chúng sẽ không bao giờ chấp nhận cái chế độ này.
Chính phủ chúng tôi đã tiến hành một cuộc trưng cầu dân ý vào ngày 23 Tháng 10 năm 1955́, dựa theo đó chế độ cũ được bãi bỏ và chế độ Cộng hòa đã được thành lập. Sau đó chính phủ chúng tôi đã tổ chức cuộc bầu cử Quốc hội vào tháng 3 năm 1956 ở miền Trung và miền Nam Việt Nam. Quốc hội này đã soạn thảo và thông qua một bản Hiến pháp. Hiến Pháp này đã được công bố sau đó.
Những tổ chức dân chủ và các tiến bộ mà chính phủ chúng tôi đã đạt được trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội, đã được cảm thông của cả thế giới. Đến ngày hôm nay đã có 56 quốc gia công nhận chính phủ chúng tôi, duy trì quan hệ ngoại giao với chúng tôi, hoặc đã đề nghị chúng tôi được gia nhập Liên Hiệp Quốc. Nhà cầm quyền cộng sản ở miền Bắc chỉ được sự công nhận của khoảng 10 chính phủ cộng sản. Trong những năm gần đây, ảnh hưởng của Việt Nam Tự Do đã được tăng đáng kể: Nước chúng tôi hiện nay là thành viên của 33 tổ chức quốc tế và Sài Gòn được chọn là trụ sở của nhiều hội nghị quốc tế.
Do đó, rất kỳ lạ khi thấy những người có trách nhiệm phân chia đất nước, không dám tiến hành bầu cử trong vùng tạm kiểm soát của họ và sau đó lại đổ lỗi cho chính phủ chúng tôi từ chối thống nhất đất nước và từ chối bầu cử chung.
Vấn đề về giao thông đi lại giữa liên khu vực tự do
Nhà chức trách Hà Nội đã dấu không thông tin cho người dân miền Bắc biết, rằng người dân có quyền chọn lựa khu vực để sinh sống. Với chế độ khủng bố, họ đã ngăn cản các chuyến di tản của dân chúng miền Bắc; họ đã dùng bạo lực bắt giữ thân nhân những người đã di cư về miền Nam. Tại Ba-Làng và Lưu-Mỹ họ đã nổ súng đàn áp những người đã cố gắng đi đến khu vực tự do.
Họ cũng đã rút ngắn thời gian cho tự do giao thông liên vùng và tự do lựa chọn vùng sinh sống, qua việc qui định thời hạn vào ngày 19 Tháng 5 năm 1955. Sau thời gian này, chính phủ chúng tôi đã đề nghị gia hạn thời gian giao thông liên vùng tự do. Nhưng nhà chức trách Hà Nội muốn hủy bỏ càng nhanh càng tốt sự liên kết giữa hai khu vực, nhằm ngăn chặn các chuyến tỵ nạn về miền Nam và luôn bày tỏ ý đồ xấu xa này của họ. Do đó nhà chức trách Hà Nội đã chỉ gia hạn thời gian di tản thêm hai tháng, tức là đến ngày 20 Tháng 7 năm 1955, và trong hai tháng đó họ đã chỉ cung cấp một chiếc thuyền cho những người muốn về miền Nam.
Bất chấp mọi nỗ lực để ngăn cản việc di tản, bất chấp bị khủng bố và trù dập bằng bạo lực và cho dù thời hạn được di tản rất ngắn ngủi, nhưng gần một triệu đồng bào từ miền Bắc đã di cư về miền Nam thành công. Mặc dù đồng bào của chúng tôi ở phía bên kia vĩ tuyến 17 bị mất quyền tự do di chuyển ngay cả trong khu vực sinh sống của mình, ngày nay họ vẫn còn chạy trốn về miền Nam bằng cách vượt dẫy núi Trường Sơn[1], hoặc trong các chiếc thuyền mỏng manh dọc bờ biển. Một số người không may mắn bị rơi vào tay cộng sản và bị giết, hoặc đã bị tra tấn tàn nhẫn. Những người khác đã chết vì kiệt sức trong rừng sâu hoặc là nạn nhân của các cơn bão biển.
Hiện nay có 81 123 người và 1955 gia đình đã tự, hoặc qua đại diện của họ, làm đơn yêu cầu được di tản vào miền Nam. Yêu cầu của họ đã được giao cho Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến. Nhưng nhà chức trách Hà Nội phản đối những yêu cầu này.
Ngoài ra, còn có một số gia đình từ miền Trung và miền Nam Việt Nam đã đòi hỏi cho anh em, chồng con họ, những người đã bị cộng sản dùng bạo lực bắt cóc đưa về miền Bắc, phải được hồi hương. Tổng số đơn yêu cầu về việc này là 11.196, đã được chuyển tiếp đến Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến. Ngoài các đơn kiện này, còn có rất nhiều trường hợp khác được gửi trực tiếp đến Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến, và số lượng đơn của những trường hợp này không bao giờ được công bố. Qua sự phản đối, chống lại những yêu cầu của người dân được nêu trên, nhà chức trách Hà Nội phải gánh trách nhiệm về tình trạng đau đớn vì chia ly của các gia đình này. Sau khi cộng sản cấm đoán người dân tự do đi lại ngay cả trong khu vực miền Bắc Việt Nam và ngăn chặn những người muốn di tản đi xa, bây giờ thì họ lại rêu rao, tuyên truyền là „tự do đi lại“ và „khôi phục lại mối quan hệ bình thường“.
Vấn đề cắt giảm lực lượng quân sự
Từ 3 năm qua nhà chức trách Hà Nội luôn luôn cổ võ cho hòa bình. Nhưng hành động của họ luôn tương phản lớn với chủ đề tuyên truyền của họ.
Họ đã không dừng lại mà luôn tăng cường lực lượng quân sự và nâng cấp trang bị vũ khí kể từ sau khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực và như vậy là vi phạm Hiệp định Genève do chính họ đã ký kết.
Cần quan tâm đến một giác thư của chính phủ Vương quốc Anh gửi cho Liên Xô ngày 9 Tháng 4 năm 1956. Là đồng chủ tịch của Hội nghị Genève, chính phủ Anh đã cáo buộc chính quyền Hà Nội, kể từ khi ngừng chiến đến nay họ đã tăng cường lực lượng quân sự từ 7 lên 20 sư đoàn.
Ngoại trưởng Pháp tháng 3 năm 1958 cho biết, rằng nhà chức trách Hà Nội đã gia tăng quân đội lên đến 350.000 quân và công an, cảnh sát lên tới 200.000 người.
Họ cũng đã nhập cảng vũ khí từ các nước cộng sản để tăng cường lực lượng quân sự của họ. Trong ba năm qua họ đã không tôn trọng Hiệp định Genève, bởi vì họ chưa bao giờ thông báo cho Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến về việc nhập cảng vũ khí vào Việt Nam.
Mâu thuẫn với thực tế, nhà chức trách Hà Nội tuyên bố rằng họ đã giảm lực lượng quân sự của họ xuống còn 80.000 người. Nhưng cho đến nay họ chưa bao giờ nói bất cứ điều gì về con số thực sự quân đội của họ, trước khi hoặc sau khi cái họ gọi là giảm quân. Họ không đưa ra bằng chứng về những lời tuyên bố của mình và không chấp nhận mọi cuộc điều tra.
Họ không có lý do duy trì một quân đội mạnh mẽ hơn Việt Nam Cộng Hòa. Đây là mối đe dọa cho nền hòa bình không những chỉ cho Việt Nam mà còn cho các nước ở trong vùng Đông Nam Á. Để có khả năng duy trì một quân đội to lớn như vậy, nhà chức trách BắcViệt áp đặt mức thuế cao và hệ thống „đấu tố“, với hệ thống này họ đã ép buộc những người vợ, những người con phải tố cáo cha mẹ và chồng mình đã „dấu vàng của nhân dân“. Những người này thậm chí đã phải tự đánh mình và cuối cùng họ bị xử tử ngay tai chỗ mà không thông qua một cuộc xét xử của toà án. Có thể nói rằng dân tộc chúng tôi phải chịu nhiều đau khổ với chính quyền miền Bắc hơn bất kỳ dân tộc nào khác trên thế giới này.
Ngược lại, Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã luôn luôn phục vụ cho nền hòa bình kể từ hiệp định Genève. Để đảm bảo lực lượng laođộng cần thiết cho việc tái thiết đất nước bị tàn phá bởi chiến tranh, chúng tôi đã giảm quân đội từ 242.000 xuống còn 150.000, đồng thời chúng tôi đã không bổ xung thay thế 180.000 binh lính của „Đội quân Viễn chinh“ Pháp. Cộng sản mong muốn duy trì Đội quân này lại ở Việt Nam. Vấn đề giảm lực lượng quân sự được phổ biến rộng rãi, điều này rất dễ kiểm chứng.
Nhân đây cũng xin nhắc lại lời tuyên bố long trọng của Chính phủ Quốc gia vào ngày 6 Tháng 4 năm 1956 là không tham gia bất kỳ liên minh quân sự nào và không cho phép cài đặt căn cứ quân sự ngoại quốc trên lãnh thổ của mình.
Vấn đề trao đổi thương mại
Trong thư đề ngày 7 Tháng Ba nhà chức trách Hà Nội đã đề xuất việc trao đổi thương mại với miền Nam. Qua đánh giá đề nghị này và qua tin tức nhận được cho thấy rằng đồng bào miền Bắc mong muốn, cầu xin sự giúp đỡ của thân nhân hoặc bạn bè ở miền Nam, có thể một vài mét vải hoặc vài viên thuốc aspirin. Nền kinh tế miền Bắc do sự thống trị của Đảng Cộng sản đang ở dưới đáy vực sâu. Đề nghị của cộng sản không nhằm mục đích nâng cao đời sống của dân chúng miền Bắc. Do hệ thống độc quyền với chính sách nội thương và ngoại thương mà họ đã đề ra là mua sản phẩm nông nghiệp của dân chúng với giá rẻ mạt và bán lại những sản phẩm này với giá cao hơn đáng kể. Mục tiêu của họ chỉ là, thu thập sự phong phú của miền Nam vào ngân sách đảng của họ. Nếu nhà chức trách miền Bắc muốn đề nghị của họ được duyệt xét thì điều kiện đầu tiên là họ phải đặt quyền lợi người dân lên trên lợi ích của đảng. Đồng thời họ phải để cho dân chúng miền Bắc toàn quyền tự do thương mại và từ bỏ sự độc quyền kinh tế mà đảng cộng sản đã chiếm đoạt từ trước đến giờ.
Vấn đề trao đổi thư từ và bưu thiếp
Mặc dù cộng sản không đề cập đến đề tài này trong thư của họ đề ngày 7 tháng ba năm 58, nhưng họ đã nhiều lần đề nghị nối lại dịch vụ bưu chính giữa hai khu vực. Cho đến hôm nay, cộng sản đã sử dụng các bưu thiếp như một phương tiện tuyên truyền nhiều hơn so với những phong thư được đóng kín. Yêu cầu trao đổi thư từ của họ không ngoài mục đích nào khác là tăng cường chiến dịch đe dọa và ăn xin người dân miền Nam. Vì quyền lợi của dân chúng, Chính phủ Quốc gia không thể thực hiện đề nghị này, nhưng Chính phủ yêu cầu cộng sản khai triển trao đổi bưu thiếp một cách đơn giản để nhân dân của hai Miền có thể liên lạc được với nhau.
Sự thật được mô tả trên đây cho thấy bản chất lừa đảo của các đề nghị của cộng sản, chẳng hạn như tăng cường củng cố lực lượng quân sự của mình, lệnh cấm di chuyển giữa hai khu vực, các vụ giết người muốn di tản về miền Nam, họ đã gây ra những trở ngại để các thân nhân của các gia đình sống tản mác không tìm được nhau và lợi dụng việc trao đổi bưu thiếp nhằm vào mục đích tuyên truyền.
Mâu thuẫn giữa tuyên truyền và hành động của nhà chức trách Hà Nội thật đã rõ ràng. Từ nhiều năm qua thái độ của họ vẫn luôn như một. Để chứng minh thái độ của họ đã thay đổi, họ hãy thực hiện một số hành động cụ thể như sau:
 1. Họ hãy để cho 92 319 người và 1955 gia đình thực hiện ý nguyện của mình là được di cư về miền Nam, đơn của những người và gia đình này đã nộp cho Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đình chiến, để những người này được đoàn tụ với gia đình của họ.
2. Họ nên giảm lực lượng quân sự của họ tương đương với miền Nam Việt Nam. Việc giảm bớt phải được xác nhận là đúng bởi một Ủy ban quốc tế hữu trách. Sau đó vấn đề giới hạn lực lượng quân đội của hai vùng mới được bàn thảo.
3. Họ cần phải xóa bỏ cái gọi là „Ủy ban Giải phóng miền Nam“, bằng cách từ bỏ khủng bố, giết dân cư của những làng mạc xa xôi hẻo lánh, phá hoại cơ sở Chính phủ nhằm cải thiện đời sống của người dân, đặc biệt trong lĩnh vực cải cách ruộng đất và nông nghiệp.
4. Họ phải từ bỏ sự độc quyền kinh tế của đảng Cộng sản, để nhân dân miền Bắc Việt Nam được làm việc trong hoàn toàn tự do và qua đó, có thể tăng mức sống của họ hiện đã bị giảm xuống đến mức chưa từng có từ xưa đến nay.
5. Họ không được buộc dân chúng phải cất tiếng ca ngợi họ[2] trong các bưu thiếp. Họ nên giải tán ban biên tập công tác tuyên truyền phục vụ bưu thiếp. Họ không được trả thù những người nhận hoặc gửi bưu thiếp.
6. Họ phải tôn trọng các quyền tự do dân chủ trong khu vực của họ như ở miền Nam và nâng cao mức sống của dân chúng miền Bắc, ít nhất được tương đương với dân chúng miền Nam; họ không được dùng chế độ vô nhân đạo của họ để làm cho khoảng cách giữa hai vùng lớn hơn nữa.
Nếu khảo sát các sự kiện kỹ càng, ta sẽ nhận thấy bức thư ngày 7 Tháng Ba năm 58 của nhà chức trách Hà Nội có mục đích chủ yếu nhằm tuyên truyền và phá hoại, chống lại sự giúp đỡ của các quốc gia bạn. Cộng sản đã hành động theo đơn đặt hàng của Liên Xô và cộng sản Trung Quốc, trong lá thư trên đã chỉ trích gay gắt Mỹ và cáo buộc người Mỹ can thiệp vào nội bộ của miền Nam Việt Nam.
Thực tế hoàn toàn ngược lại với những cáo buộc của cộng sản: mối quan hệ Việt-Mỹ hoàn toàn bình đẳng dựa trên luật pháp quốc tế giữa hai nước, cùng tôn trọng chủ quyền của nhau. Tương tự sự liên kết giữa Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và các nước trong thế giới Tự do. Mục đích mối quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và Hoa Kỳ chỉ nhằm bảo đảm nền hòa bình và tự do.
Mối quan hệ giữa nhà chức trách Hà Nội cùng giới thống trị Nga và Trung Quốc, thuộc một thể loại khác. Họ là một vệ tinh đối với giới cai trị. Họ là hạ cấp so với thượng cấp trong hệ thống phân cấp của một đảng: đảng Cộng sản Quốc tế. Sự phụ thuộc này không chỉ được thể hiện qua sự đồng nhất của các tổ chức chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, xã hội theo kiểu mẫu của cộng sản Liên Xô và Trung Quốc, mà sự lệ thuộc này còn thâm nhập ngay cả vào lĩnh vực tư tưởng: trong các nghị định và các quyđịnh của họ nhà chức trách Hà Nội bắt buộc dân chúng miền Bắc phải học các hệ tư tưởng cộng sản và sống theo đường lối chính trị của Nga và Trung Quốc.
Ở miền Nam, không ai bị bắt buộc phải tôn thờ các nhà lãnh đạo ngoại quốc và treo hình ảnh họ trong nhà, ở đây không ai có thể tưởng tượng rằng họ có thể hành xử điều kỳ lạ nêu trên.
Ở miền Bắc, nhà chức trách ép buộc dân chúng phải sùng bái các các nhà lãnh đạo Nga và Trung Quốc, treo hình ảnh của họ ở nhà và trong những ngày lễ của Liên Xô. Đồng thời họ cấm đoán dân chúng không được phê bình ý thức hệ cộng sản, không được phê bình chính phủ và giới lãnh đạo các nước cộng sản.
Thái độ hèn hạ của nhà chức trách Hà Nội đối với cộng sản ngoại quốc đã hủy hoại đời sống của dân tộc Việt, và là trở ngại lớn nhất cho công cuộc thống nhất đất nước.
Hệ tư tưởng cộng sản hoàn toàn phản nghịch với truyền thống tâm linh của châu Á và tính chất quốc gia của dân tộc Việt Nam.
Để tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc bầu cử tự do, nhà chức trách Hà Nội phải hủy bỏ chế độ cộng sản mà họ đã áp đặt lên người dân miền Bắc.
Họ không nên nhắm mắt và tự bịt tai. Họ phải học hỏi để hiểu cho ra rằng, Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và Dân tộc Việt Nam không bao giờ chấp nhận cuộc bầu cử không có sự tự do và chân thành.
Nguyễn Hội
sưu tầm và dịch từ văn bản tiếng Đức “Erklärung der Regierung der Republik Vietnam von 26. April 1958 über die Frage der Wiedervereinigung” do văn phòng Sứ Thần VNCH tại CHLB Đức xuất bản năm 1958.
[1] bản tiếng Đức ghi là dẫy núi An Nam
[2] nguyên văn tiếng Đức là: Họ không được buộc dân chúng phải cất tiếng hát những bài ca tụng họ trong các bưu thiếp“ 




Bài Xem Nhiều