We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 8 November 2011

TÀ ÁO DÀI VIỆT NAM



- Bài Tà Áo Dài Việt Nam sau đây nguyên là bài nói chuyện của ông Nguyễn Tất Đạt, trưởng nam của họa sĩ Nguyễn Cát Tường (tức Le Mur, cha đẻ của chiếc áo dài tân thời), trong đêm nhạc Thu và Tình Yêu, tổ chức tại Little Saigon ngày 4 tháng 11, 2011. Bài nói này là phần mở đầu của tiết mục Trình Diễn Áo Dài trong chương trình. Vì thời giờ có hạn, diễn giả đã cắt bớt một số đoạn của bài nói, mà sau đây chúng tôi đăng lại toàn văn.-
 
Ông Nguyễn Tất Đạt
Kính thưa quý vị,

Đêm nhạc hôm nay có chủ đề là Thu và Tình Yêu. Vẻ đẹp lãng mạn của mùa thu rất thích hợp với tình yêu, trong đó chính tà áo dài của người phụ nữ Việt Nam sẽ làm lộng lẫy thêm vẻ duyên dáng của mùa thu lẫn tình yêu. Chẳng thế mà nhạc sĩ Đoàn Chuẩn đã viết nên câu nhạc: Với bao tà áo xanh đây màu thu... Trong âm nhạc và thơ văn của ta, mùa thu, tình yêu và tà áo dài luôn luôn quấn quít lấy nhau. Nhưng điều đáng chú ý là sự quấn quít ấy chỉ bắt đầu từ giữa thập niên 1930 của thế kỷ 20 trở về sau mà thôi. Nhân chương trình hôm nay có mục trình diễn áo dài, tôi xin có một số ý kiến về sự kiện này.

Từ nghìn xưa, đất nước Việt Nam của chúng ta sống trong nền văn hóa khép kín kiểu Á đông, với chế độ quân chủ và đặc biệt chịu ảnh hưởng của tư tưởng Khổng Mạnh. Khi người Pháp xâm chiếm nước ta vào hậu bán thế kỷ 19 thì ảnh hưởng của nền văn minh Âu Tây mới dần dần thâm nhập vào xã hội Việt Nam, ảnh hưởng của Nho giáo ngày một thu hẹp lại trong khi ảnh hưởng của văn hóa Pháp ngày một mạnh hơn. Trong quá trình chuyển động ấy, thập niên 1930 đã chứng kiến một biến chuyển lớn về văn hóa giúp xã hội tiến nhanh trong việc đổi mới. Đó là sự xuất hiện của nhóm Tự Lực Văn Đoàn với một nhà xuất bản và hai tờ báo Phong Hóa và Ngày Nay. Văn đoàn này chủ trương dùng báo chí và văn chương để đả phá những cái thủ cựu lạc hậu, đồng thời tiếp thu những cái tiến bộ về nếp sống và tinh thần khoa học của Âu Tây. Với một nhóm người có tài năng và nặng lòng canh tân đất nước, nhóm Tự Lực Văn Đoàn đã thực sự gây được một ảnh hưởng mới mẻ trong xã hội Việt Nam về nhiều mặt. Một trong nhiều cải cách đã đạt được kết quả cụ thể của báo Phong Hóa và Ngày Nay là đổi mới chiếc áo dài của phụ nữ Việt Nam.

Thưa quý vị, nếu ở đầu thập niên 1930 những người đàn ông theo tân học đã mặc veston, thắt cà vạt, mang dày da giống như người Pháp thì về cánh phụ nữ sự thay đổi về y phục vẫn còn rụt rè lắm, nếu không nói là hầu như chưa có gì. Tuy về màu sắc thì lác đác đã có phần linh động hơn là chỉ có màu đen và màu trắng, chiếc áo dài của phụ nữ ở thời điểm ấy vẫn là những chiếc áo mà thế hệ mẹ và bà mình vẫn mặc trước kia, nghĩa là luộm thuộm, quá kín đáo và bất tiện, nhất là không làm tôn vẻ đẹp của dáng vẻ và thân hình người phụ nữ lên. Năm 1934, báo Phong Hóa đã dành hẳn một mục về cải cách y phục của phụ nữ, do họa sĩ Nguyễn Cát Tường phụ trách. Trong bài mở đầu cho mục này, ông viết: “Đoái nhìn lại nước nhà tôi không khỏi có điều chán nản. Trừ y phục của bọn trai chúng tôi, phần nhiều phỏng theo kiểu mẫu của người Âu, Mỹ, còn y phục của các bạn gái, tôi xem thấy có nhiều điều bất tiện mà lại không có vẻ chi là mỹ thuật.” Một đoạn khác, ông viết: “Phụ nữ đời nay có khác phụ nữ đời xưa họa chăng ở chỗ không đội nón thúng quai thao, không đi dép cong hay giầy “mõm nhái” như họ. Còn thì, vẫn kiểu áo lòe sòe ấy, vẫn cái quần lụng thụng đen ngòm ấy.” Và ông đề nghị phải sửa đổi y phục phụ nữ. Liên tiếp trong nhiều năm sau đó, trên mặt báo này, ông đã trình bày nhiều kiểu quần áo cho phụ nữ Việt Nam do ông vẽ ra, mà đặc biệt là sửa đổi chiếc áo dài. Có thể nói ông là tác giả của chiếc áo dài tân thời, mà từ thời thập niên 1930, cả xã hội đã mệnh danh là “Áo Dài Le Mur”. Xin nói thêm về tên gọi này: tên ông là Tường, mà trong tiếng Pháp, bức tường gọi là Le mur, nên ông lấy biệt danh là Le Mur cho các tác phẩm hí họa, minh họa và vẽ kiểu y phục của mình.


Những kiểu áo dài trình diễn

Có thể nói không ngoa, từ các cải cách của họa sĩ Nguyễn Cát Tường, chiếc áo dài của phụ nữ Việt Nam đã bước hẳn sang một giai đoạn mới. Với chiếc áo dài “tân thời” –như cách gọi của thời ấy- người phụ nữ Việt Nam đã đẹp hẳn lên nhờ chiếc áo làm nổi bật vẻ duyên dáng của thân thể mà vẫn giữ được sự kín đáo nữ tính. Và trên cái nền cải cách ấy chiếc áo dài lại tiếp tục được cải tiến hết thế hệ này sang thế hệ khác để giữ luôn luôn vẻ yêu kiều hợp với thẩm mỹ của mỗi thời đại. Từ sau cuộc cải cách lớn về y phục phụ nữ trong thập niên 1930 ấy, chiếc áo dài tung gió chơi vơi đã gây cảm hứng cho không biết bao nhiêu là nhạc sĩ, họa sĩ, thi sĩ, văn sĩ và các nhà nhiếp ảnh. Cuộc sống của người Việt Nam đã đẹp hẳn lên với chiếc áo dài. Đối với thế giới, chiếc áo dài Việt Nam đã là một nét văn hóa dân tộc nổi bật rất đặc sắc không thua sút y phục bất cứ nước nào.


Một kiểu áo dài đầu thập niên 1960

Riêng trong một lãnh vực quan trọng trong đời sống chúng ta là tình yêu, thì lạ thay, tình yêu cũng rực rỡ hẳn lên với tà áo dài duyên dáng. Ngay từ ngày xưa y phục của người phụ nữ đã đóng vai trò thu hút đối với cái tình của đàn ông đối với người khác phái. Câu ca dao sau đây nói lên tính chất thi vị của một lời tỏ tình, trong đó vạt áo dài của người phụ nữ là trung tâm:

Người về ta chẳng cho về
Ta nắm lấy áo ta đề câu thơ

Lẳng lơ, tình tứ (và hơi “thô bạo” nữa) biết bao trong hành động “nắm lấy áo”! Dĩ nhiên động tác có vẻ thô thiển ấy là để ngăn cản không cho người đẹp ra về, nhưng tiếp theo lại là “ta đề câu thơ” lên vạt áo thì bao nhiêu vẻ phóng đãng bậy bạ đã được xóa hết, chỉ còn lại cái tình tứ rất có ăn học, một lối “bạo lực” rất văn nghệ! Ôi cái vạt áo dài của người nữ từ xưa đã đóng vai trò mời gọi biết là chừng nào trong mối tình nam nữ!

Kịp đến khi chiếc áo dài đã được cách tân thì nó trở nên gợi tình hơn gấp bội với các đường nét phô diễn thân thể với hai tà có khả năng gọi gió. Trước sau, chính vẻ đẹp của phái nữ là điểm thu hút nam giới, mà chiếc áo dài khi đã vượt ra khỏi quan niệm chật hẹp đã giam hãm người đàn bà một cách quá đáng để chính nó cùng với người mặc nó đạt tới cái ĐẸP viên mãn thì cũng là lúc văn nhân thi sĩ – và nói chung những tâm hồn nghệ sĩ – đã say mê và ca tụng hết lời.

Chúng ta hãy đọc đoạn mở đầu bài Áo Dài Trong Thơ và Nhạc của tác giả Lê Hữu (đăng ở diendantheky.net ngày 22 tháng 10, 2001) để thấy tà áo dài đã gây cảm hứng cho văn nghệ sĩ nước ta như thế nào:

Chiều nào áo tím nhiều quá / lòng thấy rộn ràng nhớ người... 

Giọng hát trầm ấm, dìu dặt của Duy Trác cất lên đâu đó trong một ngày đầu thu gợi nhớ hình ảnh và nơi chốn thân quen trước “cổng trường áo tím” những chiều tan học. Áo tím túa ra như đàn bướm, áo tím thướt tha dọc theo những “lối đi dưới lá” trên lề đường Phan Thanh Giản, trên những đường phố Saigon ngập nắng. Những tà áo nhẹ bay trong gió từ lâu lắm đã đi vào thi ca, làm rung động lòng người và là nguồn cảm hứng vô tận của những người làm thơ, viết nhạc. Tà áo nên thơ ấy, dưới đôi mắt ngắm nhìn của người nghệ sĩ, là bức tranh sinh động với nhiều đường nét, nhiều dáng vẻ, thể hiện qua từng lời thơ ý nhạc:

Dưới mắt Phạm Đình Chương là “Áo bay mở, khép nghìn tâm sự...” (Mộng dưới hoa)

Dưới mắt Vũ Thành là “Áo dài bay ngờm ngợp cả khung trời...” (Mùa kỷ niệm)

Dưới mắt Hoàng Dương là “Áo mầu tung gió chơi vơi...” (Hướng về Hà Nội)

Dưới mắt Trịnh Công Sơn là “Áo xưa lồng lộng đã xô dạt trời chiều...” (Tình nhớ)

Những vạt áo dài, từ lâu lắm, đã lất phất trong những trang thơ tiền chiến. Từ…

“Đôi tà áo lụa bay trong nắng” (Áo lụa, Bàng Bá Lân) đến…

“Nắng thơ dệt sáng trên tà áo

lá nhỏ mừng vui phất cửa ngoài” (Áo trắng, Huy Cận)

Áo dài cũng len cả vào những câu lục bát trữ tình của Nguyễn Bính:

“Hồn anh như bông cỏ may

một chiều cả gió bám đầy áo em” (Bông cỏ may)

Và len cả vào dòng thơ hào hùng và lãng mạn của Quang Dũng:

“Em đi áo mỏng buông hờn tủi

dòng lệ thơ ngây có dạt dào” (Đôi bờ)

Áo dài còn là giấc mơ thanh bình của những làng quê hiền hòa trong tình ca quê hương của Phạm Duy:

Nằm mơ, mơ thấy trăm họ tốt tươi / mơ thấy bên lề cuộc đời / áo dài đùa trong tiếng cười… (Quê nghèo) 

Áo dài lướt thướt như vạt áo của nàng Xuân trong thơ Trần Mộng Tú:

“Tôi gói xuân vào hai vạt áo

ngước nhìn mây trắng dạ mang mang” (Mẫu Đơn)

Áo dài bồng bềnh như dải trăng thu huyền ảo trong thơ Nghiêu Minh:

“Dấu thu kinh tự còn mê

Em mang tà áo bốn bề là trăng” (Thu vô lượng)

Chỉ mới một đoạn mở đầu, chúng ta đã thấy biết bao là kiểu dáng và tình tự của chiếc áo dài trong con mắt của người nghệ sĩ. Những câu thơ, câu hát được trích dẫn còn dài lắm, đó là chưa kể những tác phẩm ngoài văn tự như hội họa, nhiếp ảnh nhằm ghi lại trực tiếp, cụ thể vẻ đẹp của chiếc áo dài và người phụ nữ mặc nó. Có thể nói cảm hứng mà tà áo dài mang lại cho người nghệ sĩ nước ta là vô bờ, trùng trùng điệp điệp, đã đem lại cho cuộc sống của người Việt Nam vô vàn xúc cảm phiêu du.

Trong cõi tinh thần và tình cảm giàu có mà chiếc áo dài đã mang lại, tôi chỉ biết nói: Xin cám ơn chiếc áo dài!

Và vì không thể lan man mãi theo những cảm xúc vô tận này, tôi chỉ xin đọc mấy câu của nhà thơ Nguyên Sa để kết thúc bài nói chuyện hôm nay:
Có phải em mang trên áo bay
Hai phần gió thổi, một phần mây
Hay là em gói mây trong áo
Rồi thở cho làn áo trắng bay?

Nguyễn Tất Đạt

400 ĐẠI HỌC ĐỨNG ĐẦU THẾ GIỚI NĂM 2011



University of Cambridge
 
 
Hàng năm Công Ty Đánh Giá Đại Học – QS World University Rankings – chọn 2000 đại học trên khắp thế giới, đánh giá và chọn lại 700 đại học, và cuối cùng chọn 400 đại học.
Quacquarelli Symonds (QS) là một công ty tư vấn về giáo dục và đảo tạo đại học quốc tế, thiết lập từ năm 1990. Ngày nay, công ty QS có trên 200 nhân viên và hoạt động toàn cầu có trụ sở ở London, New York, Paris, Singapore, Stuttgart, Boston, Washington DC, Sydney, Shanghai, Johannesburg và Alicante. Công ty cung cấp dịch vụ tư vấn cho sinh viên đang học cấp đại học, tốt nghiệp đại học, MSc, PhD, MBA và EMBA. QS cũng cung cấp dịch vụ cho ứng viên cấp sau-đại-học tại 35 quốc gia.
Một cơ quan đánh giá đại học quốc tế khác là Times Higher Education World University Rankings, một bộ phận của tạp chí Times Higher Education của Anh quốc.
Việc đánh giá của QS dựa theo 6 tiêu chuẩn tuyển chọn:
 
(i) Thang điểm về danh tiếng đại học (Academic reputation score), (2) thang điểm danh tiếng về tìm việc làm của sinh viên tốt nghiệp (Employer reputation score), (3) thang điểm về sỉ số sinh viên/giáo sư (Faculty – student ratio score), (4) thang điểm về giảng dạy cho quốc tế (International Faculty score), (5) thang điểm về số lượng sinh viên quốc tế (International students score), và (6) thang điểm về tài liệu nghiên cứu (publication) được ghi trong tài liệu tham khảo (citations per Faculty score). Từ 6 thang điểm này kết hợp thành thang điểm tổng kết (Overall score) đánh giá cho mỗi đại học.
Trong tháng 10/2011 vừa qua, cơ quan đánh giá đại học QS công bố kết quả. Có tổng cộng 42 quốc gia (Hồng Kông, một thuộc địa của Anh, được trao lại Trung quốc, nhưng trong bảng liệt kê xem như một quốc gia tự trị) có đại học được xếp hạng trong số 400 đại học hàng đầu của thế giới trong năm 2011.
Đại học xếp hàng đầu thế giới năm 2011 là University of Cambridge của Anh quốc (UK).
Trong số 10 đại học hàng đầu thế giới (top ten) gồm 4 đại học của Anh (University of Cambridge hạng 1, University of Oxford hạng 5, Imperial College London hạng 6, và University College London UCL hạng 7) và 6 đại học của Hoa Kỳ (Harvard University hạng 2, MIT hạng 3, Yale University hạng 4, University of Chicago hạng 8, University of Pennsylvania hạng 9 và Columbia University hạng 10).
Năm quốc gia có nhiều đại học hàng đầu là: Hoa Kỳ với 85 đại học (21,25%), kế tiếp là Anh quốc với 43 đại học (10,75%), Đức quốc 36 đại học (9%), Australia 21 đại học (5,25%), và Pháp 19 đại học (4,75%).
Mỹ Châu có 6 quốc gia trong danh sách, gồm 2 ở Bắc Mỹ (Hoa Kỳ và Canada) và 4 ở Trung, Nam Mỹ (Mexico, Brazil, Chile, Argentina). Đại học hàng đầu Havard University đứng hạng 2 đại diện cho Bắc Mỹ, và Sao Paolo University hạng 169 đại diện cho Trung Nam Mỹ.
Úc châu gồm 2 quốc gia Australia và New Zealand đều nằm trong danh sách. Australian National University đứng hạng 26 đại diện cho Úc Châu
Phi châu chỉ có một quốc gia duy nhất trong danh sách là South Africa với 2 đại học (0,5%), mà đại học hàng đầu nước này là University of Cape Town thứ hạng 156.
Á Châu có 16 quốc gia trong danh sách. 5 quốc gia đứng đầu Á châu là Nhật Bản với 16 đại học (4%), Nam Hàn (South Korea) 10 đại học (2,5%), Trung quốc 10 đại học (2,5%), và Hong Kong 6 đại học (1,5%). University of Hong Kong đứng hạng 22 đại diện hàng đầu cho Á Châu.
Trong khối quốc gia Đông Nam Á có Malaysia với 4 đại học (1%), Singapore 2 đại học (0,5%), Thái Lan 2 đại học (0,5%), Philippines 2 đại học (0,5%), và Indonesia 2 đại học. National University of Singapore hạng thứ 28 đại diện cao nhất cho các quốc gia này
So sánh giữa các thuộc địa cũ của đế quốc Anh và đế quốc Pháp, thì đế quốc Anh (không kể USA và Canada) có 26 đại học nằm trong danh sách, trong lúc thuộc địa đế quốc Pháp không có đại học nào.
Liên Xô và khối Đông Âu cũ có 3 quốc gia là Liên Xô với 5 đại học, Tiệp Khắc 1 đại học, và Hungary 1 đại học. Đại học thứ hạng cao nhất của khối này là 112 của Lomonosov Moscow State University.
Khối Cộng Sản (gồm Liên Xô, Đông Âu cũ và Trung quốc) tổng cộng có 17 đại học nằm trong danh sách. Peking University với thứ hạng 46 đại diện đỉnh cao trí tuệ của khối Cộng Sản.
So sánh giữa các thành phần Trung Hoa, Taiwan 6 đại học, Hong Kong 6 đại học, trong lúc Trung quốc khỗng lồ về địa lý và dân số chỉ có 10 đại học. Sự khác biệt về vị thứ 22 của University of Hong Kong và vị thứ 46 của Peking University phản ảnh rõ ràng sự thừa kế truyền thống tự trị đại học, giảng dạy và nghiên cứu từ nền giáo dục đào tạo con người của đế quốc Anh.
Khối Á Rập chỉ có 6 đại học, mà Đại học King Saud có thứ hạng 200.
Bảng 1Số đại học được phân phối theo từng quốc gia theo thứ tự từ nhiều tới ít.
Thứ
Tự
Quốc gia
Số đại học trong danh sách 400
Tên đại học hàng đấu của quốc gia
Thứ hạng trong bảng xếp hạng thế giới
1United States of America
85
Harvard University
2
2United Kingdom
43
Cambridge University
1
3Germany
36
Ruprecht-Karls-Universität Heidelberg
53
4Australia
21
Australian National University (ANU)
26
5France
19
École Normale Superieure de Paris
33
6Canada
17
Mc Gill University
17
7Japan
16
The University of Tokyo
25
8Netherlands
12
University of Amsterdam
63
9South Korea
10
Seoul National University
42
10China
10
Peking University
46
11Italy
9
Università di Bologna
183
12Switzerland
8
ETH Zurich
18
13Finland
8
University of Helsinki
89
14Spain
8
Universitat de Barcelona
176
15Denmark
7
University of Copenhagen
52
16Sweden
7
University of Copenhagen
83
17Belgium
7
Université Catholique de Louvain
125
18Hong Kong
6
University of Hong Kong
22
19New Zealand
6
University of Auckland
82
20Taiwan
6
National Taiwan University
87
21Ireland
6
University College Dublin
134
22India
6
Indian Institute of Technology Delhi
218
23Russia
5
Lomonosov Moscow State University
112
24Norway
4
University of Oslo
108
25Austria
4
University of Vienna
155
26Malaysia
4
Universiti Malaya
167
27Israel
4
Tel Aviv University
173
28Brazil
3
Universidade de São Paulo
169
29Saudi Arabia
3
King Saud University
200
30Argentina
3
Universidad de Buenos Aires
270
31Singapore
2
National University of Singapore
28
32Mexico
2
Universidad Nacional Autónoma de México
169
33Thailand
2
Mahidol University
171
34South Africa
2
University of Cape Town
156
35Indonesia
2
University of Indonesia
217
36Chile
2
Pontificia Universidad Católica de Chile
250
37Philippines
2
University of the Philippines
332
38Czech Republic
1
Charles University
276
39Lebanon
1
American University of Beirut
300
40United Arab Emirates
1
United Arab Emirates University
338
41Hungary
1
Central European University
372
42Oman
1
Sultan Qaboos University
377
Bảng 2Danh sách 400 đại học được xếp hạng đứng đầu thế giới trong năm 2011. Tài liệu lấy từ http://www.usnews.com/education/worlds-best-universities-rankings/top-400-universities-in-the-world.
Thứ hạng Tên đại học
1 University of Cambridge (United Kingdom)
2 Harvard University (United States)
3 Massachusetts Institute of Technology (MIT) (United States)
4 Yale University (United States)
5 University of Oxford (United Kingdom)
6 Imperial College London (United Kingdom)
7 UCL (University College London) (United Kingdom)
8 University of Chicago (United States)
9 University of Pennsylvania (UPenn) (United States)
10 Columbia University (United States)
11 Stanford University (United States)
12 California Institute of Technology (Caltech) (United States)
13 Princeton University (United States)
14 University of Michigan (United States)
15 Cornell University (United States)
16 Johns Hopkins University (United States)
17 McGill University (Canada)
18 ETH Zurich (Swiss Federal Institute of Technology) (Switzerland)
19 Duke University (United States)
20 University of Edinburgh (United Kingdom)
21 University of California, Berkeley (UCB) (United States)
22 University of Hong Kong (HKU) (Hong Kong)
23 University of Toronto (Canada)
24 Northwestern University (United States)
25 The University of Tokyo (Japan)
26 Australian National University (ANU) (Australia)
27 King’s College London (KCL) (United Kingdom)
28 National University of Singapore (NUS) (Singapore)
29 University of Manchester (United Kingdom)
30 University of Bristol (United Kingdom)
31 University of Melbourne (Australia)
32 Kyoto University (Japan)
33 École Normale Supérieure de Paris (ENS Paris) (France)
34 University of California, Los Angeles (UCLA) (United States)
35 Ecole Polytechnique Fédérale de Lausanne (EPFL) (Switzerland)
36 École Polytechnique, ParisTech (France)
37 Chinese University of Hong Kong (CUHK) (Hong Kong)
38 University of Sydney (Australia)
39 Brown University (United States)
40 Hong Kong University of Science and Technology (HKUST) (Hong Kong)
41 University of Wisconsin-Madison (United States)
42 Seoul National University (SNU) (South Korea)
43 Carnegie Mellon University (CMU) (United States)
44 New York University (NYU) (United States)
45 Osaka University (Japan)
46 Peking University (China)
47 Tsinghua University (China)
48 University of Queensland (UQ) (Australia)
49 The University of New South Wales (UNSW) (Australia)
50 University of Warwick (United Kingdom)
51 University of British Columbia (UBC) (Canada)
52 University of Copenhagen (Denmark)
53 Ruprecht-Karls-Universität Heidelberg (Germany)
54 Technische Universität München (TUM) (Germany)
55 University of North Carolina, Chapel Hill (United States)
56 University of Washington (United States)
57 Tokyo Institute of Technology (Japan)
58 Nanyang Technological University (NTU) (Singapore)
59 University of Glasgow (United Kingdom)
60 Monash University (Australia)
61 University of Illinois at Urbana-Champaign (UIUC) (United States)
62 Ludwig-Maximilians-Universität München (LMU) (Germany)
63 University of Amsterdam (Netherlands)
64 London School of Economics and Political Science (LSE) (United Kingdom)
65 Trinity College Dublin (Ireland)
66 Freie Universität Berlin (Germany)
67 University of Birmingham (United Kingdom)
68 Katholieke Universiteit Leuven (Belgium)
69 University of Geneva (Switzerland)
70 Boston University (United States)
70 Tohoku University (Japan)
72 University of Sheffield (United Kingdom)
73 University of Western Australia (UWA) (Australia)
74 University of Nottingham (United Kingdom)
75 University of Southampton (United Kingdom)
76 University of Texas at Austin (UT Austin) (United States)
77 University of California, San Diego (UCSD) (United States)
78 Washington University in St. Louis (United States)
79 Aarhus University (Denmark)
80 Nagoya University (Japan)
80 Utrecht University (Netherlands)
82 University of Auckland (New Zealand)
83 Uppsala University (Sweden)
84 Georgia Institute of Technology (United States)
85 Purdue University (United States)
86 Lund University (Sweden)
87 National Taiwan University (NTU) (Taiwan)
88 Leiden University (Netherlands)
89 University of Helsinki (Finland)
90 KAIST – Korea Advanced Institute of Science & Technology (South Korea)
91 Fudan University (China)
92 University of Adelaide (Australia)
93 University of Leeds (United Kingdom)
94 Pennsylvania State University (Penn State) (United States)
95 Durham University (United Kingdom)
96 University of York (United Kingdom)
97 University of St Andrews (United Kingdom)
98 Pohang University of Science and Technology (POSTECH) (South Korea)
99 Dartmouth College (United States)
100 University of Alberta (Canada)
101 University of California, Davis (UCD) (United States)
102 University of Minnesota (United States)
103 Erasmus University Rotterdam (Netherlands)
104 Delft University of Technology (TU Delft) (Netherlands)
105 Universität Freiburg (Germany)
106 University of Zurich (Switzerland)
107 University of Southern California (USC) (United States)
108 University of Oslo (Norway)
109 Maastricht University (Netherlands)
110 City University of Hong Kong (Hong Kong)
111 Ohio State University (United States)
112 Lomonosov Moscow State University (Russia)
113 University of Maryland, College Park (United States)
114 Emory University (United States)
115 University of Groningen (Netherlands)
116 University of Pittsburgh (United States)
117 Rice University (United States)
118 University of California, Santa Barbara (UCSB) (United States)
119 Université Pierre et Marie Curie (UPMC) (France)
120 Hebrew University of Jerusalem (Israel)
121 University of Bergen (Norway)
122 Kyushu University (Japan)
123 University of Liverpool (United Kingdom)
124 Shanghai Jiao Tong University (SJTU) (China)
125 Université Catholique de Louvain (UCL) (Belgium)
126 University of Virginia (United States)
127 Newcastle University (United Kingdom)
128 University of Rochester (United States)
129 Yonsei University (South Korea)
130 University of Otago (New Zealand)
131 Vanderbilt University (United States)
132 Humboldt-Universität zu Berlin (Germany)
133 École Normale Supérieure de Lyon (ENS Lyon) (France)
134 University College Dublin (UCD) (Ireland)
135 Cardiff University (United Kingdom)
136 University of Lausanne (Switzerland)
137 Université de Montréal (Canada)
138 Radboud University Nijmegen (Netherlands)
139 Hokkaido University (Japan)
140 RWTH Aachen (Germany)
141 University of Aberdeen (United Kingdom)
142 University of Colorado at Boulder (United States)
143 University of Bern (Switzerland)
144 Queen’s University (Canada)
145 Case Western Reserve University (United States)
146 Eindhoven University of Technology (TU Eindhoven) (Netherlands)
147 Universität Karlsruhe (Germany)
148 University of California, Irvine (United States)
149 Georg-August-Universität Göttingen (Germany)
150 Technical University of (Denmark) (Denmark)
151 University of Basel (Switzerland)
152 Eberhard Karls Universität Tübingen (Germany)
153 Lancaster University (United Kingdom)
154 Rheinische Friedrich-Wilhelms-Universität Bonn (Germany)
155 University of Vienna (Austria)
156 University of Cape Town (South Africa)
157 University of Western Ontario (Canada)
158 Texas A&M University (United States)
159 McMaster University (Canada)
160 University of Waterloo (Canada)
161 University of Florida (United States)
162 University of Illinois, Chicago (UIC) (United States)
163 University of Arizona (United States)
164 Michigan State University (MSU) (United States)
165 University of Ghent (Belgium)
166 Georgetown University (United States)
167 Universiti Malaya (UM) (Malaysia)
168 University of Bath (United Kingdom)
169 Universidade de São Paulo (Brazil)
170 Universidad Nacional Autónoma de México (UNAM) (Mexico)
171 Chulalongkorn University (Thailand)
172 Queen Mary, University of London (QMUL) (United Kingdom)
173 Tel Aviv University (Israel)
174 Tufts University (United States)
175 Wageningen University (Netherlands)
176 Universitat de Barcelona (UB) (Spain)
177 Hong Kong Polytechnic University (Hong Kong)
178 Stockholm University (Sweden)
179 Vrije Universiteit Amsterdam (VU Amsterdam) (Netherlands)