We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 23 November 2011

Tinh Thần Melbourne : Những ngọn nến cho Thái Hà cháy rực sáng dưới cơn mưa

Ngọn Nến Thắp Cho Thái Hà
Vẫn Cháy Rực Dưới Cơn Mưa Melbourne

  Những ngọn nến vẫn bùng cháy và rực sáng dưới cơn mưa tại Melbourne như tinh thần của các Giáo dân tại Thái Hà. Trời xám xịt, mưa rơi tầm tả cả ngày thứ Bảy, mười chín tháng 11 năm 2011. Tuy là mùa hè nhưng khí hậu bỗng dưng đổ lạnh và mưa suốt từ chiều thứ Sáu. Thế mà cả hàng trăm người già, trẻ, mọi giới, mọi tôn giáo kéo nhau về trước Nhà Quốc Hội của Tiểu Bang Victoria (Parliament House of Victoria) thắp nến cầu nguyện và hiệp thông với Thái Hà, dưới sự chủ trì của Đức Cha Vincent Nguyễn Văn Long, Giám Mục Phụ Tá Tổng Giáo Phận Melbourne.
Dưới hai màu cờ Úc, Việt, vàng ba sọc đỏ tượng trưng cho sự tự do, những gương mặt rạng rỡ dưới ánh nến lung linh, những đôi môi mấp máy cầu nguyện  cho Thái Hà, tất cả đang hướng về những người dân Việt Nam đang chịu cảnh áp bức của chính quyền cộng sản.
Cả một khoảng sân rộng lớn trước nhà Quốc Hội chật ních người và dù đủ màu sắc từ 7 giờ tối. Những hạt mưa trái mùa bắn tung toé trên những ô dù, tạo nên sự lấp lánh như những hạt kim cương dưới ánh đèn đêm. Bài hát Kinh Hoà Bình bắt đầu thay cho lời cầu nguyện. Bài hát thay cho niềm ước mơ, lòng thiết tha, yêu thương nhau của dân Việt tại hải ngoại dành cho dân Việt trong nước. Đã nhiều lần cùng cầu nguyện, cùng hướng về Việt Nam nhưng lần này cảm xúc của tôi dâng cao độ. Nhìn những bác lớn tuổi, các em bé và những người rất bận rộn với công việc, gia đình và những người không phải là Công giáo đều có mặt dưới cơn mưa dai dẳng, tôi thấy rưng rưng cảm động và thầm phục những trái tim đang cùng đập một nhịp nguyện cầu cho quê hương sớm thoát khỏi cảnh độc tài, bạo tàn.
Lời của Đức Cha Vinh Sơn Nguyễn Văn Long: “Tất cả có mặt ngày hôm nay không những vì một Thái Hoà hay vì một tôn giáo mà vì tương lai cho một dân tộc và vì tiền đồ cho một tổ quốc. Thái Hà là một biểu tượng cho dân tộc ta, quyết không khuất phục trước bạo quyền”. Thật vậy, Việt Nam chúng ta đã bao năm bị đô hộ, bị đàn áp nhưng chưa hề bị khuất phục. Lịch sử đã ghi lại những tấm gương oai hùng, và bây giờ không kể gái trai, già trẻ hay tôn giáo nào, mọi người cùng đứng lại với nhau để lên án hành động vô nhân của nhà cầm quyền cộng sản tại Việt Nam.
Sự hiện diện và những lời phát biểu của Đức Giám Mục Hilton Deakin, Linh Mục Anthony Nguyễn Hữu Quảng, một số thương nghị sĩ, dân biểu, Luke Donnelan và Hong Lim, thuộc Quốc hội Victoria, hai đại diện cho Cộng đồng người Việt tại Úc Châu và Victoria, ông Nguyễn Thế Phong và ông Nguyễn Văn Bon, cùng các Hội đoàn khác tôn giáo chính là sự đoàn kết và đồng lòng hướng về Việt Nam, thắp lên một ngọn nến cho Thái Hà cũng là ngọn nến soi sáng cho quê hương đứng lên đấu tranh dành tự do, nhân quyền, thoát khỏi chế độ áp bức, độc tài.
Trước tình hình càng lúc càng căng thẳng tại thái Hoà, chính quyền lộ rõ bộ mặt ăn cướp lại còn dỡ thói lưu manh. Ai có thể làm ngơ? Ai có thể đứng nhìn các vị tu sĩ, giáo dân bị cướp đất mà còn bị đánh đập tàn nhẫn? Nơi thờ phượnng bị công an đập phá, ai không đau lòng? Ai có thể chấp nhận con em mình chứng kiến cảnh dân phòng dí thuốc vào mặt một Linh Mục đang dâng lễ cho thiếu nhi? Một chế độ áp chế con người cư xử với con người một cách vô nhân tánh, vô tôn giáo. Quý phụ huynh nào muốn con em mình học cách đối xử như vậy?
Khi chúng ta có mặt tại những nước tự do, thì cũng đã hiểu chế độ độc tài, vô nhân của cộng sản như thế nào. Và chắc chắn một điều là chúng ta không muốn bị đàn áp, ức chế, không được nói, không được thở không khí tự do. Thì tại sao còn có những người dám thốt lên những lời binh vực cho chế độ ác ôn đó? Các người không biết xúc động trước cảnh đàn áp, bắt bớ tù đày những người dân chỉ vì dám nói lên sự thật hay sao?
Những người đang ngồi trong mái ấm, không đội mưa để thấy và cảm thông được những tấm lòng  biết yêu thương người, biết đau nổi đau chung của dân tộc, thì xin hãy giữ yên lặng, như là để tôn trọng chính mình. Đừng thốt lên những lời vô ý thức để tự bị chà đạp và xấu hổ mỗi khi bước chân lên mảnh đất thân yêu đã thấm máu biết bao nhiêu người thèm khát  tự do, nhân quyền đã dám nói lên tiếng nói của con tim.
Sau hai tiếng đội mưa, lòng người đi thắp nến cầu nguyện cho Thái Hà cũng sủng ướt. Thương cho người dân Việt Nam đang lầm than. Thương cho mẹ Việt Nam bao nhiêu năm nhục nhằn. Không những người dân bị nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đàn áp, mà còn bị quân bành trướng Trung cộng xâm lấn, hại biết bao người dân oan. Cơn mưa nào có thể dội xoá được những giọt máu oan ức đã thấm trong lòng đất mẹ? Cơn mưa nào có thể xóa nhoà những vết thương của người dân oan bị nhà cầm quyền áp bức? Cơn mưa cũng không thể nào dập tắt ngọn nến cho Thái Hà đang lan tràn khắp thế giới. Và cơn mưa cũng không thể dập tắt ngọn lửa nung nấu dẹp bạo quyền trong lòng của người dân Việt Nam.
Ngọn nến thắp cho Thái Hà không chỉ thắp tại Thái Hà, mà đã và đang thắp khắp nơi trên thế giới. Ngọn nến đang rực sáng, soi vào lòng không những chỉ của người dân Việt Nam, mà còn cả các sắc dân khác. Ngọn nến đang lan tràn, cháy rực sáng soi cho tự do, nhân quyền. Riêng tại Úc Châu, ngọn nến sẽ được tiếp tục thắp sáng tại Sydney vào Thứ Bảy, ngày 26 tháng 11 năm 2011. Xin hãy cùng nhau thắp một ngọn nến cho Thái Hà, cho quê hương thân yêu của chúng ta sớm ngày an lành, thoát khỏi bạo quyền cộng sản.
Dáng Thơ
http://dangtho.blogspot.com/

Việt Nam, Một Chế Độ Bưng Bít Thông Tin


http://vietcongonline.files.wordpress.com/2010/06/1142.jpg?w=300&h=225
1* Nhà nước bưng bít thông tin
Điều 2 của Hiến pháp Việt Cộng năm 1992 có ghi: “Nhà nước CHXHCN/VN là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân…”
Điều 53 của hiến pháp ghi rõ như sau: “Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội…”
Điều 69: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; “có quyền được thông tin”; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình…”
Nhân dân làm chủ đất nước thế mà nhà nước luôn luôn bưng bít thông tin đối với người dân, nhất là trong các vấn đề trọng đại có liên quan đến vận mạng của dân tộc và sự sinh tồn của đất nước.
2* Trí thức Hà Nội yêu cầu Bộ Ngoại giao cung cấp thông tin
Sáng ngày 2-7-2011, luật sư Trần Vũ Hải thay mặt giới nhân sĩ, trí thức, đem trực tiếp đến Bộ Ngoại giao Kiến Nghị, yêu cầu cung cấp thông tin có liên quan đến quan hệ với Trung Cộng.
Kiến nghị đề ngày 2-7-2011 gồm 3 điểm, được 18 nhân sĩ ký tên, gồm có: Nguyễn Trọng Vĩnh, Nguyễn Huệ Chi, Hoàng Tụy, Chu Hảo, Phạm Duy Hiển, Lê Hiếu Đằng, Nguyên Ngọc, Nguyễn Quang A, Ngô Đức Thọ, Trần Nhương, Nguyễn Xuân Diện, Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Quang Thạch, Cao Thị Vũ Hương, Trần Vũ Hải, Trần Kim Anh, Hoàng Hồng Cẩm, Nguyễn Văn Phương.
Trong 18 nhân sĩ có 7 người là Giáo sư Đại học, 1 Thiếu tướng, 1 Chủ tịch Hội Nhà Văn, 2 Luật sư.
Trích Kiến Nghị:
“Chúng tôi, những công dân VN, ký tên dưới đây, căn cứ vào điều 53 Hiến pháp 1992, “Công dân có quyền tham gia thảo luận các vấn đề chung của cả nước và địa phương, kiến nghị cơ quan nhà nước…”
Căn cứ điều 69. “Công dân có quyền được thông tin…”
“Chúng tôi kiến nghị Bộ Ngoại giao như sau:
a)    Yêu cầu ông Hồ Xuân Sơn cho biết, thông tin do Tân Hoa Xã đưa ra ở mục 2 (i) và 2 (ii) có đúng sự thật hay không?
Trích mục 2 (i):
“Cả hai nước đều phản đối những thế lực bên ngoài can dự vào tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam, và nguyện sẽ tích cực hướng dẫn công luận và ngăn chặn những lời bình luận hoặc hành động làm tổn hại đến tình hữu nghị và sự tin cậy giữa nhân dân hai nước”
Trích mục 2 (ii) mà Hồ Xuân Sơn đã nhất trí và đồng thuận với Trung Cộng:
“Những hồ sơ lịch sử của TQ cho thấy rằng năm 1958 chính phủ TQ đã khẳng định các hòn đảo trên biển Hoa Nam là những bộ phận thuộc về lãnh thổ quốc gia của TQ, và kế đó, thủ tướng VN Phạm Văn Đồng  đã bày tỏ sự tán đồng trong bức thư ngoại giao của mình, gởi cho thủ tướng khi đó là ông Chu Ân Lai” (Hết trích)
Các trí thức Hà Nội nêu thắc mắc:
“Những thông tin trên chúng tôi không thấy đăng trên báo chí Việt Nam.
Yêu cầu ông Hồ Xuân Sơn cho biết, những thông tin của Tân Hoa Xã nêu trên có đúng sự thật hay không?
Yêu cầu cho công khai nội dung bản thoả thuận mà ông Hồ Xuân Sơn đã ký với người đối nhiệm phía Trung Quốc”.(Hết trích)
Bộ Ngoại giao VN đã tránh né và lờ đi bản Kiến Nghị của 18 nhân sĩ Hà Nội. Tiếp tục bưng bít.
Căn cứ vào nội dung mà Tân Hoa Xã công bố, thì Hồ Xuân Sơn, đặc phái viên của lãnh đạo đảng và nhà nước CSVN đã nhất trí đồng thuận 3 điểm sau đây:
1.    Đồng thuận giải quyết tranh chấp song phương về Biển Đông
2.    Đồng thuận thi hành “định hướng dư luận”, cấm biểu tình chống TC.
3.    Đồng thuận công nhận công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng, cụ thể là công nhận Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Cộng.
Trí thức Hà Nội đã hiểu biết nội dung của việc “đồng thuận” là như thế nào, cho nên đã kiến nghị phản đối, không chỉ phản đối Bộ Ngoại giao, mà còn phản đối Đảng và nhà nước CSVN nữa, bởi vì, Hồ Xuân Sơn đã đại diện cho lãnh đạo đảng và nhà nước, chớ không chỉ là một thứ trưởng bình thường khi đi sứ sang Tàu ngày 25-6-2011.
 3* Hồ Xuân Sơn công nhận vùng “Lưỡi bò” là của Trung Cộng
Căn cứ vào bản tin của Tân Hoa Xã, thì Hồ Xuân Sơn đã công nhận công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng, cụ thể là tán thành hai quần đảo HS/TS là của Trung Cộng. Như vậy, từ lãnh thổ của Trung Cộng là HS và TS kéo dài ra 12 hải lý là lãnh hải của TC, kéo dài ra 200 hải lý là Vùng Đặc Quyền Kinh Tế (Exclusive Economic Zone=EEZ) của TC, nói chung, khu vực hình chữ U hay đường 9 đoạn, hoặc vùng Lưỡi bò là thuộc quyền của Trung Cộng.
Khi đã công nhận HS/TS là của Trung Cộng, công nhận hải phận 12 hải lý của HS/TS, thì mặc nhiên công nhận Vùng Đặc quyền kinh tế 200 hải lý, nói chung là công nhận vùng biển hình Lưỡi Bò trên Biển Đông, là của Trung Cộng.
Như vậy, đúng là đại diện của lãnh đạo đảng và nhà nước CSVN đã đồng thuận vùng Lưỡi bò là của Trung Cộng. Vì thế, Trung Cộng lên tiếng hối thúc, nhắc nhở CSVN như sau:
“Chúng tôi đã thảo luận một cách kỹ lưỡng, hai bên nhất trí giải quyết tranh chấp thông qua hiệp thương hữu nghị. Chúng tôi hy vọng phía Việt Nam sẽ thực hiện đồng thuận chung”. (Hết trích)
7* Bưng bít thông tin về xung đột biên giới 1975-1978.
Kẻ gian thường hay giấu giếm những hành động bất hảo của mình, vì hễ nói ra thì lòi cái gian manh xảo trá hoặc lừa bịp của mình, vì thế phải bưng bít, ngay cả những vụ việc trọng đại có ảnh hưởng tới sự tồn vong của đất nước, sự an nguy của dân tộc, cụ thể như vụ “xung đột biên giới năm 1975-1978.
Cuộc xung đột làm mất mạng hàng ngàn người VN ở Tây Ninh, Phú Quốc, Rạch Giá mà người Việt ở Sài Gòn và cả nước không hay biết gì cả.
Ngày 4-5-1975, tức 3 ngày sau khi miền Nam mất về tay CSBV (30-4-1975), một toán quân Khmer Đỏ của Pol Pot đột kích đảo Phú Quốc. Sáu ngày sau, ngày 10-5-1975, bọn Cộng Sản Miên đánh chiếm đảo Thổ Châu, hành quyết 500 thường dân VN. Sự việc trọng đại như thế mà người Sài Gòn không hay biết gì cả. Báo, đài nhà nước im hơi lặng tiếng.
Sau trận Phú Quốc và đảo Thổ Châu, Khmer Đỏ thực hiện những cuộc tấn công lẻ tẻ giết hại thường dân VN.
Tháng 4 năm 1977
Quân chính quy Cộng Sản Miên tiến sâu 10 km vào lãnh thổ VN, chiếm một số vùng ở tỉnh An Giang và tàn sát một số lớn thường dân.
Ngày 25-9-1977.
Khmer Đỏ đưa 4 sư đoàn đánh chiếm nhiều điểm  ở các quận Tân Biên, (Châu Đốc), Bến Cầu, châu thành tỉnh Tây Ninh.
-    Đốt phá 471 ngôi nhà
-    giết chết hơn 800 thường dân VN.
Ngày 31-12-1977
6 sư đoàn CSBV đánh sâu vào Campuchia, đến tận Neak Luong rồi mới rút ra ngày 5-1-1978. (5 ngày) mang theo một số nhân vật quan trọng của Khmer Đỏ, trong đó có Hun Sen, hiện là thủ tướng nước Campuchia.
Phía VN đề nghị thiết lập một vùng phi quân sự dọc theo biên giới, nhưng Pol Pot từ chối, và giao tranh tiếp diễn.
Ngày 1-2-1978
Trung Ương đảng Cộng Sản Campuchia họp bàn kế hoạch chống VN. 15 sư đoàn được thành lập. Trong Nghị Quyết của Cộng Sản Miên có ghi “Chỉ cần mỗi ngày tiêu diệt vài chục người VN, mỗi tháng diệt vài ngàn, mỗi năm diệt vài ba vạn thì có thể đánh tới 10, 15 hoặc 20 năm thì tiêu diệt hết người VN. Thực hiện 1 diệt 30, hy sinh 2 triệu người Campuchia để tiêu diệt 50 triêu người VN”
Pol Pot đã điều 13 trong 17 sư đoàn chủ lực và một số trung đoàn địa phương liên tục tấn công vào VN. Có nơi CS Miên đã vào sâu 15, 20 km. Trong những cuộc tấn công, CS Miên  giết chết bất cứ người VN nào mà chúng gặp. Một điển hình là cuộc thảm sát ở Ba Chúc vào tháng 4 năm 1978 làm chết 3,157 người VN.
Từ tháng 12 năm 1977 đến 14-6-1978, một thống kê cho biết.
Tổn thất phía VN
-    30,642 người bị thương
-    6,902 người chết
-    30 vạn phải di tản ra phiá sau
-    6 vạn hecta đất bị bỏ hoang.
Ngày 13-12-1978
Được Trung Cộng trang bị và hậu thuẩn, Khmer Đỏ đã huy động 10 trong 19 sư đoàn (Khoảng 60,000 quân) tấn công xâm lược trên toàn biên giới Việt-Miên.
-    3 sư đoàn đánh vào Bến Sỏi với mục đích chiếm thị xã tinh Tây Ninh.
-    2 sư đoàn đánh vào Hồng Ngự, (Đồng Tháp)
-    2 sư đoàn đánh vào Bảy núi (Thất Sơn) An Giang
-    1 sư đoàn đánh vào Trà Phô, Trà Tiến, Kiên Giang
Tại những vùng chiếm đóng Khmer Đỏ thực hiện sách lược diệt chủng đối với người VN, như đã làm đối với người Khmer.
Quân đội CSBV đánh trả quyết liệt mới kềm chân được quân Cộng Sản Miên.
Thống kê VN ghi nhận, từ tháng 6 năm 1977 đến tháng 12 năm 1978 (18 tháng)
-38,563 quân Khmer Đỏ bị tiêu diệt.
5,800 bị bắt sống.
Trong cuộc chiến tranh biên giới nầy, đa số người VN không hay biết gì cả, vì CSVN vẫn nêu những khẩu hiệu “Tình hữu nghị Việt Miên Lào bất diệt”. Tinh thần vô sản quốc tế muôn năm.
Sở dĩ CSVN bưng bít tin tức vì đảng CSVN quyết đưa miền Nam cùng với miền Bắc XHCN tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH ưu việt, không còn cảnh người bốc lột người nữa.
** Nói thêm về Hun Sen
Tên đầy đủ là Samdec Akeakmohasenapadey Decho Hun Sen, sinh ngày 4-4-1951. Lãnh đạo đảng Nhân Dân Campuchia.
Quốc vương Sihamoni phong cấp Thống tướng (5 sao) cho ông năm 2009.
Hun Sen gia nhập đảng Khmer Đỏ của Pol Pot năm 1967.
Tháng 4 năm 1975, Hun Sen giữ chức Trung đoàn phó của QĐ Khmer Đỏ.
Tháng 5 năm 1977, Hun Sen sống ở Hà Nội. Đây là một bí mật có nhiều tranh cãi.
-    Hun Sen tuyên bố, đào ngũ vì không thích Khmer Đỏ
-    Dư luận cho rằng Pol Pot thanh trừng những cán bộ thân CSVN, cho nên Hun Sen sợ bị thanh trừng nên bỏ trốn.
-    Nguồn tin cho rằng Hun Sen bị CSVN bắt trên mặt trận, đánh với Khmer Đỏ.
Nhưng dù lý do nào, thì trên thực tế, Hun Sen được CSVN đào tạo, huấn luyện để lãnh đạo chính phủ bù nhìn do CSVN dựng lên trong thời gian chiếm đóng Campuchia.
Hun Sen bị thương 5 lần, bị hư một con mắt phải.
8*  Giấu nhẹm trận đánh ở núi đất (Lão Sơn)
Xin trích lại bài đã đăng
Tại sao CSVN giấu nhẹm tin tức về trận đánh năm 1984 ở núi Lão Sơn?
Cuốn sách “Secret Records of Sino-Vietnamese War” do 3 tác gỉa Trung Cộng, Jin Hui, Zhang Hui Sheng và Zhang Wei Ming đã tiết lộ những tin tức động trời mà CSVN đã cố tình giấu nhẹm nhân dân VN, làm cho 3,700 bộ đội đã chiến đấu bảo vệ lãnh thổ VN bị quên lãng, phản bội, không được công nhận là liệt sĩ, và cuối cùng được dựng bia liệt sĩ chung với kẻ thù đã giết mình. Đó là một sĩ nhục đối với những chiến sĩ đã hy sinh để bảo vệ quê hương, đất nước.
Việc làm đó thật là mờ ám của đảng.
8.1. Trận Lão Sơn qua tường thuật của một Trung đoàn trưởng Pháo binh Trung Cộng
Trung đoàn trưởng Trung Cộng tường thuật như sau:
“Núi Lão Sơn cao 1422 m so với mặt nước biển, nằm trong lãnh thổ VN, gọi là Núi Đất hay cao điểm 1509 do quân đội VN trấn giữ.
Đầu năm 1984, trung đoàn của tôi được lịnh chiếm núi Lão Sơn.
Ngày 18-2-1984
Trung đoàn tiến tới Ei-Liang.
Ngày 20-2-1984
Tới đồi Ma-Sho Hill. Có 40 ngày chuẩn bị.
Ngày 1-4-1984
Tìm vị trí địch.
3 Đại đội ra quân. Họ bắn vài phát rồi rút lui, để buộc địch bắn trả, tự làm lộ vị trí. Chúng tôi dùng súng nặng để trấn áp. Địch mắc kế.
Ngày 26-4-1984
Đơn vị đặc nhiệm pháo binh 119 được thành lập.
Lập căn cứ hỏa lực.
Chúng tôi tiến quân ban đêm, tuyệt đối không gây một tiếng động nào. Pháo 85 ly được tháo rời ra, khi tới vị trí, ráp súng lại. Dùng những tấm trải giường màu trắng lót để thấy đường mà đi. Dàn hỏa lực cách địch (Bộ đội VN) 500 m. Đại đội 4 gần địch nhất, nên pháo binh bắn thẳng.
Ngày 28-4-1984
Tiền pháo hậu xung.
5 giờ 50 sáng, pháo binh bắt đầu khai hỏa. Sau 54 phút bắn dồn dập không ngừng, mặt đất rung chuyển.
6 giờ 24 phút. Khi ngừng pháo, bộ binh xông lên. Quân VN phản ứng liền trong 2 phút. Loạt súng đầu tiên bắn hạ một trung đội trưởng, một đồng chí đầu tiên hy sinh ở núi Lão Sơn. Pháo binh chúng tôi bắn hỗ trợ cho bộ binh. Bộ binh tiến lên, nhảy từ thùng đạn nầy đến thùng đạn khác. Sau 9 phút, bộ binh chiếm được cao điểm 662, và sau 54 phút, Lão Sơn rơi vào tay chúng tôi.
15 giờ 30, 20 cao điểm khác ở phía đông ngọn đồi 662 cũng bị chúng tôi chiếm. Chúng tôi đã bắn cháy xe tăng địch với 5 quả pháo bắn thẳng.” (Hết trích)
Cuộc chiến ở Lão Sơn kéo dài từ 1984 đến năm 1988, nhưng nhân dân VN hoàn toàn bị bưng bít, không ai biết gì về trận Lão Sơn cả. Lão Sơn mất, và Hà Nội không giành lại được.
Vì sao Hà Nội không vinh danh những anh hùng giữ gìn đất mẹ ở tỉnh Hà Giang? HN bưng bít đến nổi các hãng thông tấn AFP, AP, Reuters cũng không hề biết.
Vì sao mất đất, mất biển mà người dân không được quyền biết?
Trung đoàn trưởng Trung Cộng thuật tiếp:
“Ngày 11-6-1984
3 giờ sáng. Một phát đạn được bắn lên. Chúng tôi đang hỏi nhau, việc gì đã xảy ra. Trong suốt 30 phút, không liên lạc được với các đơn vị khác bằng điện thoại. Tiểu đoàn 2 thám thính cũng bị mất liên lạc. Duy nhất, một trung đội trưởng liên lạc được với tôi, yêu cầu pháo binh bắn yểm trợ. Tôi từ chối, với lý do là các đơn vị bạn đang ở trong vị trí đó. Tôi yêu cầu tiểu đoàn 2 thám thính cho 5 binh sĩ đến mặt trận, nhưng họ bị hỏa lực địch ngăn chận.
Trời sáng, cả đại đội thám thính bị đẩy lui. Tại thời điểm nầy, tôi được biết các đơn vị tiền phương của chúng tôi đã bị địch tràn ngập.
5 giờ 30 phút sáng. Với sự yểm trợ của tiểu đoàn pháo , bộ binh của chúng tôi mở cuộc tấn công, và trong vòng 30 phút, đã chiếm lại được những vị trí đã mất.
6 giờ. Địch lại mở cuộc tấn công mới. Các đơn vị bộ binh kêu chúng tôi pháo yểm trợ vì có khoảng 500, 600 địch quân tấn công vào phòng tuyến. Các dàn tên lửa của chúng tôi đồng loạt khai hỏa. Có khoảng 100 tên địch bỏ xác.
Tiểu đoàn pháo thứ hai cũng bắt đầu gia nhập mặt trận và tuồn đại pháo vào quân thù.
3 giờ chiều. Quân địch không thể nào tiến gần đến vị trí phòng thủ của chúng tôi.
Một lực lượng tiếp viện của địch đang cố gắn vượt qua sông để tấn công vào cạnh sườn của chúng tôi. Chúng tôi quay nòng súng 10 độ trái, 10 độ phải, khiến địch quân không tiến, không lùi được, đứng tại chỗ làm bia đở đạn và bị tiêu diệt.
Ngày 12-7-1984
Địch quân phản kích
Sau ngày 11-6-1984, chúng tôi học được bài học tại chiến trường. Phân công các đơn vị lai.
Các ống phóng hỏa tiễn do tôi (trung đoàn trưởng) chỉ huy. Pháo 82 do các tiểu đoàn chỉ huy. Đơn vị 100 ly được đào sâu thêm dưới mặt đất, do tôi trực tiếp chỉ huy.
12 trung đội pháo và 4 trung đội xe tăng được tăng cường và phân phối cho các đơn vị. Các đơn vị mới đến được hướng dẫn là phải bắn thẳng vào những khúc đường “độc đạo” chạy theo sườn núi mà chắc chắn là địch sẽ dùng để tiến quân. Các đơn vị thám báo được rải ra trên những khúc đường quanh co khả nghi. Hai trung đội pháo được lịnh bắn thẳng vào những đoạn đường đó để chận địch. 3 trung đội tên lửa đóng ở cao điểm 152 để yểm trợ cho chúng tôi.
Ngày 12-7-1984
Chúng tôi biết được tên của các đơn vị địch quân. Đó là 2 Trung đoàn của sư đoàn 356, 1 trung đoàn của SĐ 316 và 6 trung đoàn độc lập tham gia trận địa. Tổng cộng 9 trung đoàn.
Dự đoán địch quân sẽ tấn công vào lúc 5 giờ sáng, lúc nửa khuya, chúng tôi có gấp 2.5 lần số đạn bình thường, sẵn sàng cho các khẩu pháo.
3 giờ sáng ngày 12-7-1984, Tổng hành dinh cho biết 3 vị trí của địch và ra lịnh khai hoả. Sau tràn pháo dữ dội thứ nhất, tôi hội ý với cấp chỉ huy và cả hai chúng tôi đều đồng ý nhau là địch có thể ở cách chúng tôi khoảng 1,000m. Tôi trình lên Tư lịnh phó xin khai hoả và được chấp thuận. Tôi ra lịnh bắn từng loạt, cách nhau 10 phút. Sau loạt pháo thứ hai, không thấy có gì xảy ra. Tôi ra lịnh bắn hoả châu soi sang cả khu vực. Kết quả không thấy gì. Phí đạn thật.
Lúc đó 3 giờ sáng, nhiều binh lính lăn ra ngủ. Ngay lúc đó, tôi mới khám phá ra rằng địch chỉ cách chúng tôi khoảng 500m.
Chúng tôi lại bắn tối đa vào mục tiêu. Hai tiểu đoàn trưởng địch bị giết tại chỗ, dù không có chỉ huy, nhưng địch vẫn không bỏ vị trí. Những binh lính bị thương cũng không rên rĩ, họ tản thương ngay sau khi hỏa châu vừa tắt. Thật là có kỷ luật.
Ngày 13-7-1984
Lúc 3 giờ sáng, cả địa ngục rung chuyển. Trận đánh lại bùng nổ tại mọi phía. Chúng tôi bắt được một tù binh đầu tiên, qua tù binh, được biết những gì xảy ra trước đó. Đó là, địch quân rất giỏi che dấu tung tích, không dùng truyền tin trước khi tấn công.
Ngay khi bị tấn công, các đơn vị bộ binh xin pháo binh yểm trợ. Tôi lo lắng vì sợ bắn vào đầu quân bạn, nên không yểm trợ.
Bộ chỉ huy ra lịnh khoá phòng tuyến bằng cách bắn vào làn sóng tấn công thứ hai, có thể là những đơn vị lớn cấp trung đoàn.
Các dàn tên lửa của chúng tôi nhả 13 tràng liên tục, ngoài ra, pháo 85mm, 100mm và 152mm cũng tham gia phản kích. Chúng tôi bắn 200 m về phía trước tại 6 điểm hỏa lực, dựng lên một bức tường lửa dày đặc chung quanh tuyến phòng thủ. Rất nhiều địch quân bị giết. Các ống phóng đỏ rực. Trong ngày đó, chúng tôi bắn trên 10,000 quả pháo.
Đến trưa.
Chúng tôi hết đạn. tin nầy làm cho Tư lịnh Yo-Hop không vui, vì 6 trung đoàn địch đang chờ tấn công.
Tôi gọi xin tiếp viện đạn.
Lúc 1 giờ chiều, 470 chiếc xe chở đạn tới.
Quân VN đã chiếm được cao điểm 164, một trong những tiểu đoàn của họ chỉ còn lại 6 người. Sau đợt tấn công 15 phút, chúng tôi chiếm lại được cao điểm 164. Quân VN từ chối rút lui, hết làn sóng nầy đến làn sóng khác tiến lên chiếm lại ngọn đồi. Khi tàn cuộc chiến, đếm được 3,700 xác địch.
Tư lịnh sư đoàn chúng tôi, cựu chiến binh thời nội chiến, phải nói rằng ông chưa bao giờ thấy nhiều xác chết như thế.
Chúng tôi đi thu vũ khí và thắt lưng trên xác địch phát cho binh sĩ. Đêm đó, Bộ chỉ huy trung đoàn hút hết 4 bao thuốc lá và uống hết 4 bình rượu.
Ngày 14-7-1984
Chúng tôi thông báo, cho phép địch quân đi thu xác chết, với những điều kiện:
-    Họ phải mang cờ Hồng Thập Tự
-    Mỗi toán không được quá 50 người.
-    Không được phép mang vũ khí.
Sau đó, một toán khoảng 60, 70 người VN, không có cờ Hồng Thập Tự mà còn mang theo vũ khí, khi biết chúng không tuân theo chỉ thị, chúng tôi khai hỏa giết sạch.
Chúng tôi không quan tâm gì đến sinh mạng của chúng. Không một người nào trong bọn họ còn sống sót.
Trời đang mùa hè, nắng rồi lại mưa, không ai có thể chịu đựng nổi mùi hôi thúi của xác chết, tôi yêu cầu các đơn vị hoá chất đến đốt hết các xác chết bằng súng phun lửa”.
(Trần Trung Đạo dịch từ văn bản tiếng Anh trên trang Web China Defense)
Hiệp định ngừng chiến năm 1990, CSVN đã ký nhượng 600 km2 phần đất Tổ quốc, trong đó có núi Bạc, núi Lão Sơn cho Trung Cộng.
8.2. Tổn thất
Trong Chiến dịch Biên giới 1984-1989, tổn thất hai bên như sau:
Phía Trung Cộng.
-    Bị giết: 939
-    Bị thương: 3,884
Phía Việt Nam
-    Bị giết: 11,700
-    Bị thương: 21,144
-    Bị bắt: 61
•    Đây là tài liệu của Trung Cộng. Vì CSVN giấu nhẹm tin tức về chiến dịch Biên giới 1984-1989.
Nghĩa trang “Liệt Sĩ Việt-Trung”
Ngày 19-2-2009.
Trích:
“Việt gian Cộng Sản hoàn toàn quy phục Tàu Cộng. Các “Nghĩa Trang Liệt Sĩ Trung Cộng” trong chiến tranh Biên giới Việt-Trung được đổi thành “Nghĩa Trang Liệt Sĩ Việt-Trung”. Việc sát nhập lãnh thổ VN vào Trung Cộng quá rõ ràng”. Thật là quá tủi nhục cho các liệt sĩ VN, vì phải ngồi chung bàn thờ với kẻ đã giết chết mình không thương tiếc!.
9* Kết
Cộng Sản VN đã chấp nhận đàm phán song phương tức là chấp nhận thân phận nô lệ cho Trung Cộng, trực tiếp và công khai dâng tài nguyên quốc gia cho ngoại bang, và vận mệnh của đất nước, không tránh khỏi một khu tự trị của TC.
Tố Hữu đã nêu cái ý nầy của Đảng CSVN:
“Bên nây biên giới là nhà
Bên kia biên giới cũng là quê hương” (Tố Hữu)
Ngày 24-8-2011, Thượng Nghị Sĩ Jim Webb từ Hoa Kỳ sang VN để cảnh cáo một câu: “Việc tiếp cận song phương sẽ không bao giờ giải quyết được những vấn đề cơ bản về chủ quyền, bởi vì cán cân lực lượng chênh lệch”. Có nghĩa là VN yếu thì phải phục tùng kẻ mạnh. Đó là một sai lầm của VN. Nếu VN chọn giải pháp đa phương. Quốc tế hoá, thì VN không còn ở thế yếu nữa.
Nhưng cái máu làm tay sai di truyền cho Trung Cộng khó có thể gột rửa được. Vận mệnh đen tối của dân tộc VN vẫn tồn tại, đều do cái đảng mắc dịch nầy cả.
Trung Cộng đã đạt được mục đích, là dùng công hàm bán nước của Phạm Văn Đồng để biến vùng biển thuộc chủ quyền của VN trở thành vùng biển tranh chấp, từ đó, dùng sức mạnh áp chế tên tay sai hèn nhát, để ngang nhiên vào vùng biển của VN mà khai thác tài nguyên.
Vì bản chất tay sai Trung Cộng từ thời Hồ Chí Minh, cho nên đảng CSVN luôn luôn bưng bít thông tin đối với ngưởi dân, được gọi là những người chủ đất nước, vì sợ dân biết, dân chửi, dân kết tội…
Đảng nắm trong tay 700 cơ quan truyền thông, 15 ngàn nhà báo và tất cả chỉ được phép đi bên lề phải của đường một chiều mà thôi. Đó là bằng chứng cụ thể của những phương tiện bưng bít thông tin.
Tác giả : Trúc Giang MN
Minnesota ngày 20-11-2011

Lễ Tạ Ơn Năm Nay 2011

http://i251.photobucket.com/albums/gg294/wafpaf/graphics/thanksgiving/thanksgiving85.jpg

Lễ Tạ Ơn (Thanksgiving) năm nay 2011 là lễ Tạ Ơn thứ 36 của người Mỹ gốc Việt. Tạ Ơn năm nay người Mỹ gốc Việt vô cùng cảm động nhớ công ơn nhân dân và chánh quyền Mỹ tạo cơ hội cho người Mỹ gốc Việt phát triễn thành một cộng đồng vững mạnh, năng động, thăng tiến cần lao đồng tiến xã hội trong xã hội đa văn hóa, đa chủng tộc của Hiệp Chủng Quốc Hoa kỳ.

Thực vậy 36 năm nói thì nghe lâu nhưng chỉ là thời gian của hơn một thế hệ xã hội học một chút mà thôi. Nhưng nhờ chánh quyền  Mỹ tự do, dân chủ, vì dân, do dân, của dân và nhân dân Mỹ với tinh thần xã hội cởi mở đa văn hóa, đa sắc tộc, người Mỹ gốc Việt đã lập được một kỳ tích; đó là cộng đồng người Mỹ gốc Việt.

Về dân số học, theo kết quả điều tra dân số năm 2010 của  US Census Bureau, Cộng Đồng Người Mỹ Gốc Việt có 1,548,449 người, là một cộng đồng lớn hàng thứ tư trong khối người Mỹ gốc Á châu trong xã hội Mỹ. Tỷ lệ tăng dân số khá cao, trong 10 năm tăng khỏan nửa triệu người, cụ thể là 425,921 người, tức 38% dân số của người Mỹ gốc Việt. Cộng đồng Mỹ gốc Việt là một tập thể năng động, một cộng đồng trẻ hơn so tuổi trung bình toàn quốc. Người Mỹ gốc Việt là sắc dân nói tiếng Việt, tiếng mẹ đẻ ở nhà nhiều hơn các sắc dân khác, kế cả người gốc Mễ. 68% là sinh ra ở ngoài Mỹ nhưng  73% đã vào quốc tịch Mỹ. Người Mỹ gốc Việt quần cư nhiều nhứt tại 10 quận mà ba quận đông người gốc Việt nhứt là ở TB California. Cali là tiểu  bang có nhiều người Mỹ gốc Việt nhứt, nhì Texas, ba Washington State.

Lợi tức trung bình đồng niên là $59,000 so với $62,000 toàn quốc. Chỉ có 12% người Mỹ gốc Việt sống dưới mức nghèo khó của liên bang  (năm 2011, mức đó là $22,350  dành cho  một gia đình 4 ngưới).

65% gia đình  Mỹ gốc Việt làm chủ căn nhà mình đang ở, so với 66% của toàn quốc. Cộng đồng Mỹ gốc Việt có trên 229,000 cơ sở thương mại, kinh doanh, doanh thu $28.8 tỷ một năm. Người Mỹ gốc Việt rất năng động chánh trị, ghi danh đi bầu đông và cao nhứt so với các sắc tộc Á châu khác.

Về tiến trình hình thành, cộng đồng người Mỹ gốc Việt là một cộng đồng chánh yếu tỵ nạn chánh trị, qua một cuộc di tản vô tiển khóang hậu, kéo dài nhiều năm, vượt biên bằng nhiều cách, làm rúng động lương tâm nhân lọai, được định cư tại nhiều quốc gia tự do, dân chủ. Cộng đồng người Việt ở nhiều nước cảm thấy thuộc về nhau, cùng chung nguồn gốc, lý tưởng dân tộc, nhân bản và , di sản là tự do, dân chủ, nhân quyền, liên lạc, nối kết nhau thành như một Việt Nam Hải ngọai.

 Cộng đồng người Việt ở Mỹ là cộng đồng lớn nhứt ở hải ngọai, chiếm phân nửa dân số người Việt hải ngọai. Cộng đồng ở Mỹ lớn mạnh là do công lao của cả ba lớp người nhập lại, già, trung, trẻ chụm. Thế hệ thứ nhứt và một rưởi gạt nước mắt rời đất nước ra đi, mất tất cả, sự nghiệp, quê cha, đất tổ, họ hàng, bè bạn. Và thế hệ thứ hai may mắn hơn, đến Mỹ còn tuổi học học trò hay sanh trên đất Mỹ được hưởng nhiều cơ hội tiến thân. Nhưng cả ba lớp người ấy người Mỹ gọi là Vietnamese Americans, người Mỹ gốc Việt, và xếp vào  trong khối sắc tộc thiểu số Asian Amereicans (người Mỹ gốc Á châu) đã đến Mỹ  trước đó rất lâu.

Chữ Vietnamese Americans nhắc nhớ nguồn gốc VN, hồn quê nước nhà Việt Nam và căn cước tỵ nạn CS của người Mỹ gốc Việt. Một nước nhà xa nửa vòng Trái Đất, đang nằm dưới gông cùm CS. Một  lý do chánh trị và chánh yếu để tỵ nạn CS.

Cái giá của tự do mà người Việt di tản ra đi để tìm  tự do và phải trả --  rất cao, cao lắm. Mắc hơn cái giá mà dân Pilgrims đã phải trả khi xuống tàu Mayfolowers vượt Đại Tây Dương đi tìm tự do tín ngưỡng. Vì trước khi ra đi người Pilgrims chỉ bị mất quyền tự do tín ngưỡng, vẫn còn có quyền sống, đi không cần trốn; còn người Việt mất tất cả : quyền tự do tín ngưỡng, quyền sống như một Con Người, mất quê cha đất tổ  ngay trên quê hương, xứ sở của mình.

Ra đi phải trốn như người tội đồ của chế độ CS. Quân, dân, cán chánh bị CS gán cho cái án “Ngụy quân, Ngụy quyền” đi tù cải tạo không biết  ngày về nhưng không hề xét xử. Miền Nam về kinh tế bị “cào bằng” cho ngang hàng với Miền Bắc xã hội chủ nghĩa qua bao nhieu đợt đổi tiền, đánh tư sản. Vì lẽ đó phải tìm  đường sống trong cái chết: vượt biên tỵ nạn CS. Phong trào Thuyền Nhân VN chấn động lương tâm Nhân loại và bàng hoàng Thế giới Tự do. Không có tắm máu nhưng quá nhiều lệ rơi, căm hận, chết dần chết mòn vì CS Hà nội.

 Mỹ là nước nhận cho người Việt tỵ nạn CS định cư nhiều nhứt. Do vậy đối với người Mỹ gốc Việt, ơn nghĩa của nước Mỹ dang tay ra cứu khổn phó nguy lớn lắm. Ơn của nhân dân, chánh quyền Mỹ đối với người Mỹ gốc Việt lớn lắm. Và người Việt, do bản chất trọng nghĩa nặng tình,  cảm thấy bổn phận ơn đền nghĩa trả rất lớn.

Người Mỹ gốc Việt “Tạ Ơn Mỹ” đã cứu khổn phò nguy người Việt khi  sa cơ thất thế. Trên thế giới này ít có nước nào sau gần 30 năm chiến tranh mà còn đưa những người con em của những quân dân cán chính VN Cộng Hoà đồng minh đến để giúp đỡ và tiếp tục đều đều cho những người định cư ở Mỹ bảo lãnh con cái qua để đoàn tụ gia đình.

Người Mỹ gốc Việt “Tạ Ơn Mỹ” đã giúp đỡ cho người Việt hoà nhập nhanh chóng vào cuộc sống của xã hội Mỹ nhưng không gò ép, đồng hoá người Việt thành “Mỹ Da Vàng”.

Người Mỹ gốc Việt “Tạ Ơn Mỹ” đã giúp người Việt ăn nên làm ra, an cư lạc nghiệp, tự do theo đuổi hạnh phúc của mình theo ý mình.

Người Việt gốc Mỹ “Tạ Ơn Mỹ” đã giúp giương cao ngọn cờ nền Vàng Ba Sọc Đỏ phất phới tung bay khắp cả chục tiểu bang, cả trăm  thành phố, quân hạt và đang trên đà lan rộng ra ở nước Mỹ. Một sự thừa nhận về pháp lý cũng như thực tại như biểu tượng, chánh nghĩa, khát vọng tự do, dân chủ của người Mỹ gốc Việt.

Người Mỹ gốc Việt “Tạ Ơn Mỹ” đã đưa vấn đề Nhân Quyền VN vào chánh quyền liên bang. Biền Nhân quyền VN thành trở ngại trung tâm trong bang giao giữa Hà nội và Washington DC. Mỹ luôn luôn đối thọai nhân quyền và lên tiếng bảo vể nhân quyền VN, làm CS Hà nội rất bối rối.

Sau cùng, người Mỹ gốc Việt cũng như người Mỹ nói chung còn một Đại Trọng Ơn phải trả, một chánh nghĩa phải hoàn thành. Đó là ơn  hai quốc gia dân tộc Mỹ-Việt đồng minh từng chiến đấu sát cánh bên nhau trong một chiến trường, trong Chiến tranh VN. Một cuộc chiến chưa thực sự chấm dứt; một kỳ vọng chưa đạt; một chánh nghĩa chung chưa thành;  tự do, dân chủ, nhân quyền VN chưa có.

58,000 người quân nhân Mỹ, 300,000 quân nhân Việt và nhiều rất nhiều thường dân VN hy sinh và  gấp ba lần số đó đã để lại một phần thân thể, chưa ngậm cười nơi chín suối. Ám ảnh  Chiến tranh VN  ngày xưa và đấu tranh cho chánh nghĩa tự do, dân chủ, nhân quyền VN ngày nay  chưa giải tỏa.

Người Mỹ và người Việt chỉ thua một trận 30-4-1975, chớ chưa thua cuộc chiến tranh VN. Kể cả người Mỹ lẫn người Việt phải  chiến thắng cho tự do, dân chủ, trong trận chiến sau cùng để Tạ Đại Ơn ấy, và  để khép vĩnh viễn lại trang sử Chiến tranh VN và xoá đi ám ảnh hội chứng VN.

Đại Ơn ấy chỉ có thể trả xong khi người Mỹ lẫn người Việt  cùng đấu tranh thành công cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN. Những giá trị đó cũng là lý tường lập quốc và chuẩn mực sinh hoạt dân chủ của Mỹ. Ngày đền đại ơn đó là ngày chế độ CS Hà nội độc tài, đảng trị không còn nữa và  chánh quyền VN mới  sau một cuộc bầu cử trong sạch, dân chủ, tự do - sẽ đại diện cho nhân dân và chánh quyền VN đích thân đến Quốc Hội Mỹ cám ơn nhân dân và chánh  quyền Mỹ đã giúp cho VN có dân chủ tự do và nhân quyền.

Ngày đáp đại nghĩa đó là ngày lãnh đạo quốc gia Mỹ, đại diện nhân dân và chánh quyền Mỹ đích thân đến Quốc hội VN mới cám ơn nhân dân và chánh  quyền vì dân, do dân, của quốc gia dân tộc dân VN  đã giúp cho Mỹ xoá đi vĩnh viễn  ám ảnh, hội chứng  Chiến tranh VN và hoàn thành sứ mạng tự do, dân chủ có tính lịch sử lập quốc và truyền thống xã hội của Mỹ. Đó cũng là ngày Tết lớn nhứt của người Việt trong ngoài nước đoàn tụ nhau sau bao nhiêu năm xa cách dưới máy nhà VN, trong vòng tay trìu mến của Mẹ VN./.


Tác giả : Vi Anh

Thư của một cán bộ hồi hưu gửi Giáo xứ Thái Hà

Trân trọng chuyển một lá huyết thư thật chân thành của một người biết yêu thương quê hương và quan tâm đến vận mệnh đất nước.  Xin vui lòng chuyển đi rộng rãi ...   Đa tạ !
LH

-----------

Thư của một cán bộ hồi hưu gửi Giáo xứ Thái Hà
Thư gửi tín đồ công giáo Thái Hà 
Hà Nội, ngày 7/11/2011
Kính thưa bà con và các tu sĩ , linh mục giáo xứ Thái Hà.
Chúng tôi là người dân Hà Nội, không theo tôn giáo nào, chưa được gặp quý vị bao giờ. Chỉ là một người dân yêu chuộng sự công bằng, sự thật mong muốn những điều được hiện diện thật sự trên quê hương mình sau bao nhiêu năm chờ đợi mà chưa thấy.
Tôi là một cán bộ đã ở tuổi về hưu, nhưng luôn suy nghĩ nặng lòng với đất nước, quê hương, ở đó con tôi, cháu tôi còn phải sống, phải tồn tại rồi sẽ đi đến đâu.
Không phải là tiếm xưng, nhưng những gì tôi nói trong lá thư này có thể đại diện cho ít nhất hàng ngàn người có cùng mong ước tốt đẹp cho quê hương như tôi. Trong các câu lạc bộ, trong các buổi nói chuyện giữa chúng tôi, những ngày vừa qua đề tài chính là câu chuyện của quý vị. Chính vì thế anh em bạn bè nhờ tôi cùng gửi lá thư này để tỏ tâm tình.
Côn đồ leo lên khu vực Cung thánh để đánh linh mục, tu sĩ và an ninh leo lên quay phim
Những ngày qua chúng tôi theo dõi diễn biến quanh vụ giáo xứ Thái Hà bị chính quyền cộng sản (biến chất) dùng mưu đồ hèn hạ để vu khống, triệt hạ. Lợi dụng bộ máy tuyên truyền mà do chính những người dân chúng tôi đóng thuế để làm những việc thất đức, vô lương tâm, chúng tôi rất bất bình. Đây không phải lần đầu tiên mà chính quyền cộng sản (biến chất) tuyên truyền xuyên tạc trắng trợn như vậy, thậm chí gần đây những trí thức lớn của dân tộc vì phản đối hành động xâm lược của Trung Quốc cũng đã bị xuyên tạc là phản động. Sự dấn sâu vào sai trái của chính quyền cộng sản (biến chất) này đã thành hệ thống không thể nào sửa chữa được. Nhiều người dân có tâm huyết,những trí thức, cán bộ lão thành đã góp ý trên tinh thần xây dựng, nhưng không những chẳng được tiếp thụ trái lại còn bị chúng hãm hại, vu vạ.
Đến nay sự trắng trợn của chính quyền đã đến tận cùng, khi ngày 3-11-2011 dùng đoàn thể, công an, dân phòng trá hình làm nhân dân đến đánh phá nhà thờ. Sau đó lu loa rằng nhân dân bức xúc. Sự mạo danh này cho thấy rõ bộ mặt táng tận lương tâm của chính quyền  khi đẩy nhân dân mâu thuẫn với nhau qua màn kịch ngày 3-11 ấy, sự táng tận đã đến chỗ tận cùng , đúng như nghĩa của từ táng tận. Một chính thể quang minh không bao giờ đưa nội bộ nhân dân đến chỗ mâu thuẫn, trừ chính thể đang trên bờ diệt vong mới phải hèn hạ để người khác mâu thuẫn hứng đòn cho mình.
Chúng tôi là những người đã hằng tin vào một chế độ CNXH tươi đẹp, công bằng và văn minh. Cha, anh chúng tôi đã cống hiến hết mình theo lời kêu gọi của chính quyền này trong bao nhiêu năm qua. Thế nhưng đến nay, thật sự chúng tôi đã thấy những đóng góp của mình là đóng góp tiếp tay cho phường lừa đảo, độc ác, bạo tàn. Không những hại mình mà còn làm hại cho đất nước, dân tộc. Thật sự từ đáy lòng, chúng tôi rất hối hận vì cả tin vào Đảng CSVN mà đã khiến đất nước, dân tộc đi đến ngày nay, nhìn lại những thứ như nợ nước ngoài khủng khiếp bởi vay bừa bãi,cạn kiệt tài nguyên do bán tống bán tháo, băng hoại đạo đức xã hội, lối sống suy đồi, đánh mất bản sắc văn hiến cha ông… những thứ mất đi là không thể nào lấy lại, hoặc có lấy lại cũng mất rất nhiều thập kỷ, thậm chí là hàng thế kỷ.
Điều đau đớn là những thứ mất đi này chính là cội rễ, là nguồn lực để đất nước phát triển đã bị mất đi. Đất nước mất đi những điều thiêng liêng quý báu đó, để đổi lại gì? Đổi lại một bọn tham quan, béo mập, phè phỡn và xa hoa, lừa dối và độc ác. Những hy vọng của chúng tôi về một ngày nào đó chính quyền này nhận ra sự thật, nghĩ về lợi ích nhân dân, đất nước đã trở thành vô vọng, là tuyệt vọng thật sự rồi.
Nhưng những gì mà những người dân giáo xứ Thái Hà đã bền bỉ thể hiện nhiều năm qua, đã dấy cho chúng tôi hy vọng về một sự hồi sinh, một sức sống mới trên quê hương, sức sống có mang đầy tính nhân văn, tinh thần bác ái và quan trọng hơn nữa là sự quyết liệt sống chết với công lý, với sự thật. Một điều hiếm hoi tưởng chừng đã tuyệt chủng trong lòng người dân Việt Nam sau bao nhiêu năm sống trong dối trá của chính quyền.
Xin đừng cho rằng chúng tôi viết lá thư này với nội dung kích động các quý vị, thực sự rằng trên quê hương Việt Nam này bao nhiêu năm qua, chưa có được nơi nào tập trung tinh thần phản kháng, đấu tranh với những bất công, sai trái bằng giáo xứ Thái Hà. Điều đó là hiển nhiên dù nói gì đi nữa cũng không bác bỏ được sự thật ấy. Các quý vị đã tranh đấu với sự kiên tâm của mình, với lý tưởng của mình hằng bao năm qua không cần phải trông cậy ai, một sự đấu tranh thật khâm phục. Và điều rõ ràng chỉ có chân lý muôn đời trong lòng mới khiến người ta bền gan đấu tranh trong hoàn cảnh đầy gian khó như các quý vị.
Thưa các quý vị
Cũng nhân đây, chúng tôi xin được gửi Giáo dân Thái Hà và cụ Giám mục Ngô Quang Kiệt lời xin lỗi sâu sắc của chúng tôi. Nói lời xin lỗi này, không vì chúng tôi đã làm gì xúc phạm đến quý vị hoặc Đức ngài Kiệt. Nhưng những lúc đó, hệ thống báo chí đã làm chúng tôi hiểu nhầm về quý vị dù chúng tôi đã có thời gian dài và có kinh nghiệm về hệ thống tuyên truyền này. Nhưng thật không ngờ lại là những sự táng tận lương tâm cùng cực trong những vụ việc ở 42 Nhà Chung và Thái Hà ngày đó mà chúng tôi không thể ngờ.
Cũng qua đây, chúng tôi xin gửi lời cảm ơn đến quý vị, qua sự kiện bị bôi xấu và vu vạ, chúng tôi mới mở cặp mắt của chúng tôi ra nhiều hơn và niềm tin thì sụp đổ hoàn toàn.
Kể từ đó chúng tôi luôn chú ý đến những gì quý vị đang làm và càng ngày càng sáng tỏ nhiều điều. Ở đó quý vị không chiến đấu vì tài sản, không vì đất đai đã bị mượn, bị chiếm và bị cướp, mà quý vị đang chiến đấu cho Sự thật – Công lý là điều mà đất nước này thiếu thốn và hầu như đã mất đi kể từ mấy chục năm qua.
Chúng tôi là những người dân Hà Nội hiểu rất rõ những tài sản nào, ở đâu là của tôn giáo đã bị chính quyền biến chất này cướp trắng trợn, nên mọi sự lừa bịp của báo, đài càng làm chúng tôi thấy tởm lợm hơn. Là người đã từng làm lâu năm trong cơ quan nhà nước, tôi biết rất rõ là nếu không có sự đấu tranh kiên quyết của quý vị, thì hai khu đất vàng Hà Nội ở 42 Nhà Chung và Thái Hà đã chia vào túi bọn quan tham Hà Nội từ lâu.
Thưa quý vị
Nói những lời này, rất dễ được hiểu là sáo rỗng và vô nghĩa, nhưng chúng tôi rất hiểu bản chất chế độ này cũng như chính sách của nó dành cho tôn giáo của quý vị, đó là sự tiêu diệt. Tùy từng lúc, từng nơi để thực hiện sách lược đó.
Chúng tôi đã biết rất rõ là quý vị đã hoàn toàn đúng đắn và theo đúng luật pháp quy định. Tài sản mượn thì phải trả là đương nhiên, nhưng với nhà nước biến chất này, thì luôn đi ngược lẽ phải và lòng dân. Vì vậy quý vị sẽ còn phải gặp nhiều chông gai hơn với chúng kể cả những mưu đồ thâm độc.
Ngày mai, hệ thống này có thể đưa quý vị lên giàn lửa, lên trường bắn, vào nhà tù hoặc một âm mưu thâm độc nào đó hãm hại. Chẳng có điều gì mà chúng không làm được, dù đó là việc mất đạo đức, lương tâm nhất.
Nhưng chúng tôi rất hiểu là Thái Hà không phải là Bát Nhã năm xưa, ngay cả sự kiện Thái Hà hôm nay cũng không phải là Thái Hà ba năm về trước nhà nước cướp đất chia nhau không được buộc phải làm công viên.
Đất nước đang rên xiết dưới chế độ độc tài, sợ hãi và nhiều thứ, tuy vậy đã đến lúc như một đồng cỏ khô mà chỉ cần một ngọn lửa. Nhưng sẽ khó có những người can trường, dấn thân cho Sự thật và Công lý như quý vị, chúng tôi không khen, chẳng nịnh nhưng bởi đó là bản chất của tôn giáo mà các quý vị đã đi theo. Chúng tôi những người có lương tri, thật sự xúc động và khâm phục tinh thần đấu tranh vì một sự thật, vì một nền công lý ngay thẳng và trong sạch trên quê hương Việt Nam dấu yêu.
Vì thế chúng tôi cảm phục, chúng tôi ngưỡng mộ và chúng tôi biết rằng, nếu chế độ độc tài Gaddafi đã phải chui xuống ống cống vì chống lại nhân dân, thì ngày mai khi các quý vị bị đàn áp, chắc chắn sẽ có một ngọn lửa bừng lên thiêu cháy chế độ độc tài phản nước hại dân trên toàn dân tộc.
Chúng tôi không mong những điều không tốt hoặc hậu quả không hay cho quý vị. Nhưng, nếu lúc đó đến, xin quý vị tin rằng sẽ có chúng tôi, có hàng triệu người dân Việt Nam đã quá chán ngán, u uất đồng hành cùng quý vị. Bởi lẽ đó, dù sức kiệt, tuổi già thì chúng tôi xin sẵn sàng mong muốn được gánh vác cùng các quý vị sứ mệnh nặng nề nhưng đầy ý nghĩa này cho quê hương.
Xin gửi đến quý vị sự đồng tâm và đồng hướng của chúng tôi trong việc tìm sự thật và công lý cho đất nước.
Chúa của các quý vị luôn bên cạnh các quý vị, che chở và mang bình an đến cho các quý vị.
Đại diện một số đông cán bộ hưu trí và nhiều người quan tâm đất nước.
Lưu Công Thành

Những hình ảnh thương đau của dân tộc Việt Nam

Chắc nhiều người đã được coi những hình ảnh này và có thể đã chứng kiến tận mắt những cảnh này năm 1954....
Những bước chân đầu tiên năm 54 rời khỏi Miền Bắc,thoát gông cùm Cộng Sản,năm 75 lại một lần nữa ra đi...để đến bây giờ chúng ta ở vùng đất Tự Do,con cái chúng ta có một đời sống đáng sống...NHỮNG BƯỚC CHÂN ĐẦY Ý-NGHIA !!!
Cảm ơn những người đi trước đã mở đường cho chúng ta ngày nay và cũng buồn cho những người không may vẫn còn sống dưới gông cùm CS,đất nước có hiểm hỏa diệt vong,dưới ách thống trị của Tàu Cộng.... 


Hà Nội 1954
Sau khi Hiệp định Genève dược ký kết,
Người dân Bắc chuẩn bị di cư vào Nam dễ tìm cuộc sống mới.
 
MỘT TRỜI THƯƠNG NHỚ




Cố TổngThống
Ngô Đình Diệm
Một Trời Thương Nhơ’ và Ghi Ơn Cô’ Tổng Thô’ng tiên khởi Đê. Nhâ’t Việt Nam Cộng Hòa Gioan Baotixita Ngô Đình Diệm, người đã đưa gần 1 triệu đồng bào Bă‘c Việt di cư vào Nam sau Hiệp Định Geneve 1954 chia đôi quê hương mến yêu Việt Nam.

bán đồ đạc chuẩn bị di cư vào nam sau khi Hiệp định Genève được công bố
những ngày cuối cùng ở Hà Nội
Việt Minh và Pháp bàn giao bót Hàng Trống
bộ đội tiến vào tiếp thu bót Hàng Trống, lúc này đang là Ty Cảnh Sát TP Hà Nội
tiếp thu bót Hàng Trống
tiếp thu bót Hàng Trống
lễ hạ cờ Tây lần cuối cùng trong thành Hà Nội, phía trước Đoan Môn, chấm dứt hơn 70 năm chiếm đóng thành Hà Nội từ năm 1883 của quân Pháp.
những ngày cuối cùng của Hà Nội, bệnh viện Yersin
những ngày cuối cùng của Hà Nội, bệnh viện Yersin
Jul 1954, dân chúng đọc Viet-Nam Presse
Bộ đội Việt Minh tiến vào tiếp quản Hà Nội
Bộ đội Việt Minh tiến vào Hà Nội
di cư vào nam
đi tìm tự do
Chuẩn bị lên tầu vào nam
Chuẩn bị lên tầu vào nam
mẹ và hai con, tay xách nách mang, trên đường vào miền Nam
tìm đường vào miền Nam
ra phi trường Gia Lâm vào Nam
ra phi trường Gia Lâm
ra phi trường Gia Lâm
phi trường Gia Lâm
phi trường Gia Lâm
Hải Phòng
lên tầu vào Nam
di cư vào Nam
lên tầu vào Nam
lên tầu vào Nam
lên tầu vào Nam
Hải Phòng 1954
Operation Passage to Freedom, October 1954 đi tìm tự do
người ở lại
Hải Phòng 1954
Hải Phòng 1954
USS Bayfield di cư vào Nam 3 September 1954
người công giáo bỏ đi khỏi vùng do CS kiểm soát giữa đêm đen nở nụ cười khi thuyền của họ cặp được vào tàu đổ bộ của Pháp mà sẽ đưa họ đến nơi tự do. Khoảng năm 1954.
các thủy thủ Pháp giúp người tỵ nạn VN kéo thuyền của họ vào tàu đổ bộ của Hải quân ở Vạn Lý. Mặc cho những cảnh báo và hạn chế bởi công an của Việt Minh, hàng ngàn người công giáo trong vùng do CS kiểm soát đã lũ lượt di cư vào miền Nam để tái định cư ở các vùng không theo chế độ Cộng sản.
Man looking at posters of new leaders shortly before Communist takeover of city from the French. Oct 1954
Hà Nội 1954 sau Hiệp định Genève. Xin làm nô lệ cho Nga, Tầu 
Thờ Mao chủ tịch, thờ Xít Ta Lin bất diệt. (thơ Tố Hữu)
Hà Nội 1954 sau Hiệp định Genève. Xin làm nô lệ cho Nga, Tầu 

Sưu Tầm

Bài Xem Nhiều