We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Sunday, 4 December 2011

Tam Toà: Nối tiếp gương các Thánh Tử Đạo




Tam Toà là nơi các giáo dân thuộc các giáo xứ ở phía nam Quảng Bình bị bắt đạo dưới thời Tự Đức và Văn Thân, đã chạy tán loạn, được Linh mục Claude Bonin (thường gọi là Cố Ninh) tập trung lại và lập thành một giáo xứ mới ở phía bắc thành Đồng Hới, trên bờ sông Nhật Lệ, lấy tên là giáo xứ Tam Tòa. Số người bị bách hại và chết vì đạo rất nhiều, trong đó có hai vị đã được phong thánh là Linh Mục Gioan Đoạn Trinh Hoan và ông Mathêô Nguyễn Văn Phượng. Trước năm 1954,20đi vào nhà thờ Tam Toà, chúng ta thấy tượng của hai vị này đứng hai bên trước cung thánh. Ngoài ra, trong làng còn có một ngôi đền kính Chân Phưóc Mathêô Phượng (lúc đó chưa được phong thánh). Theo truyền thống của cha ông, tinh thần sống và chết vì đạo của các tính hữu Tam Toà nói riêng và Quảng Bình nói chung là rất cao.

QUẢNG BÌNH DƯỚI THỜI CẤM ĐẠO

Dưới thời vua Tự Đức (1847 – 1883), lệnh cấm đạo rất ác liệt. Sắc dụ 1855 ra hạn “các quan ở tỉnh 3 tháng để xuất giáo, dân chúng và binh sĩ được 6 tháng để bỏ đạo. Phải đốt tất cả các nhà thờ, nhà xứ; cấm giáo hữu không được tập trung”. Sắc dụ 1857 truyền “khắc vào má hai chữ Tả Đạo và tên làng” cho giáo hữu; những ông quan chễnh mảng phải mất chức”. Sắc dụ 1859 ra lệnh “bắt các chức việc họ, Thầy Giảng”. Sắc dụ 1860 truyền cấm không cho đàn bà, con nít ra khỏi làng “vì chúng dùng những đàn bà xấu nết mà chúng gọi là trinh nữ, là bà phước để giấu diếm các đồ thờ, để đưa thư từ và tin tức”. Cuối cùng Vua Tự Đức hạ Sắc dụ 1861 về “Phân Sáp”, tức phân tán người Công Giáo đi khắp nơi trong nước cho sống giữa các lương dân để họ không còn có thể sống đạo được. 

Dưới thời vua Tự Đức cấm đạo, Đức Giáo Mục Francois Marie Pellerin (1850 – 1862) đang cai quản Giáo Phận Bắc Đàng Trong và Giám Mục Joseph Hyacinthe Sohier (1862-1876) làm Giám Mục Phụ Tá. Trước những biện pháp cấm đạo gắt gao nói trên, Đức Cha Sohi er phải dời chủng viện ở Di Loan, Cửa Tùng, Quảng Trị, ra Kẻ Sen, phía tây thành phố Đồng Hới ngày nay và ngài đến cư trú ở đó để lo cho chủng sinh. Kẻ Sen là một giáo xứ ở sát rừng núi nên dễ lẩn tránh mỗi khi quan quân mở cuộc lùng bắt. Trong 10 năm, quan quân đã lùng bắt Đức Cha nhiều lần nhưng không bắt được, nên báo cáo với Vua Tự Đức rằng Đức Cha Sohier đã chết. Ngày 13.9.1862, Đức Cha Pellerin qua đời, Đức Cha Sohier lại được Tòa Thánh cử cai quản Giáo phận Bắc Đàng Trong.

Tháng 6 năm 1876, Đức Cha Sohier đi kinh lược tỉnh Quảng Bình, khi tới Kẻ Sen, ngài bị kiết lị và qua đời ngày 3.9.1876, an táng tại Kẻ Sen, hưởng thọ 58 tuổi, với 34 năm làm Linh Mục và 23 năm làm Giám Mục. Vì thế, ngày nay Pháp đã giúp Kẻ Sen phục hồi lại giáo xA 9.


Đức Giám Mục Sohier qua đời để lại cho Giáo Phận Huế 113 giáo xứ (Quảng Bình 25, Quảng Trị 63 và Thừa Thiên 25), 2 chủng viện, 7 tu viện Mến Thánh Giá, 3 viện dục anh và 22.000 giáo dân

Vùng Sen Bàng trước 1954 gồm 4 giáo xứ sau đây: Kẻ Sen, Kẻ Bàng, Xóm Kéc và Đá Mài. Hầu hết giáo dân thuộc các giáo xứ này đã di cư vào Đà Nẵng năm 1954. Ngày ngay, các giáo xứ này kết hợp lại thành giáo xứ Sen Bàng, hiện do Linh mục Lê Thanh Hồng làm chánh xứ kiêm chánh xứ Tam Toà.

HAI ANH HÙNG TỬ ĐẠO

Trong thời gian cấm đạo dưới thời Tự Đức, tại Quảng Bình có 41 giáo dân bị giết, nhiều người bị tù tội. Riêng giáo xứ Sáo Bùn có một linh mục và một thầy giảng bị án trảm quyết, đó là Linh mục Gioan Đoạn Trinh Hoan và Thầy giảng Mathêô Nguyễn Văn Phượng.

1.- Linh mục Gioan Đoạn Trinh Hoan: 

Cuối tháng ba, cha bị kết án tử hình và tịch thu tài sản. Các giáo dân khác bị xử lưu đày gồm có: ông Biện, Thầy Huệ, ông Quế và bà Ban. Bốn người khác can vào vụ này còn trốn thoát sẽ bị kết án khi bắt được.

Ngày 25.6.1861, cai đội đã đến nhà tù gọi ngài ra và đọc án như sau: "Tự Đức năm thứ 14, ngày 17 tháng 4, tên Hoan là linh mục, day đạo và lừa dối nhiều người, luận phải xử chém lập tức". Sau đó ông ra lệnh đặt gông lên cổ cha và cho bốn tên lính cầm giáo áp tải cha đi ra cửa thành và đưa ra pháp trường là một cánh đồng trống ở ngoài thành Động Hải, gần làng Phú Ninh. Tại đây, giáo dân đã trải ch iếu sẵn để cha quì lên trên.

Sau khi hướng mắt lên trời cầu nguyện một hổi lâu, ngài nói với lý hình: “Tôi đã sẵn sàng”. Lý hình nhảy múa chờ trống lệnh để chém xuống. Nhát đao thứ nhất chém trúng vai khiến Cha Hoan té ngửa, tên lính túm tóc cha ngồi lên và chém nhát thứ hai vào má và chém tiếp theo hai nhát nữa. Lát sau cùng đã trúng cổ khiến đầu cha văng ra xa khoảng năm bước.

Giáo dân được phép vào thấm máu và tẩm liệm, đem xác cha an táng trọng thể tại nghĩa địa của các nữ tu ở Mỹ Hương. Khi lập hồ sơ phong Á Thánh, xác ngài được đưa về chủng viện Phú Xuân

2.- Thầy giảng Nguyễn Văn Phượng: sinh năm 1801 tại Kẻ Lậy, cũng gọi là Lý Nhơn, thuộc tỉnh Quảng Bình. Ngài có ba tên: tên Kế là tên chính thức, tên 9 0ắc là tên cha mẹ đặt cho và tên Phượng là tên người con gái đầu lòng.

Mồ côi cha mẹ lúc 12 tuổi, cậu Đắc đi học thuốc với một người ngoại đạo tên là Nhu, nhưng ba năm sau cậu gặp Cha Điểm, được ngài nhận nuôi và dạy dỗ cho thành Thầy Giảng. Sau đó ngài giúp ông lập gia đình với bà Agnes, con của ông đội Khiêm ở Sáo Bùn. Lập gia đình rồi ông về ở Sáo Bùn luôn và được cử làm Thầy Giảng ở đó. Hai ông bà sinh được 8 người con. Ban đầu làm nghề thuốc nhưng không được khá giả nên đổi sang nghề buôn bán và được dư giả.

Đầu năm 1861 Cha Hoan đến tổ chức tuần đại phúc cho họ Sáo Bùn, ông Phượng lo chỗ ăn ở cho ngài. Khi cha Hoan bị truy lùng vì có người tố cáo, ông đã bị bắt vì tội chBa chấp Cha Hoan. Năm đó ông đã 60 tuổi.

Ông bị giải về Đồng Hới và bị ép chối đạo bốn lần, nhưng ông từ chối. Khi quan bắt ông nhận là đã chứa chấp Cha Hoan, ông cũng không nhận vì không biết Cha Hoan đã khai như thế nào. Quan dọa sẽ bắt các con của ông đánh đòn. Vì thế khi có sự hiện diện của Cha Hoan và các giáo dân khác, với sự đồng ý của Cha Hoan, ông đã khai có tiếp đón và nuôi Cha Hoan.

Ông cũng bị tuyên án như Cha Hoan và cũng bị đưa đi hành quyết một lần với Cha Hoan. Bản án của ông được viết trên gỗ, ghi như sau: "Năm Tự Đức thứ 14, ngày 17-4. Tên Nguyễn Văn Đắc, tự Phượng, là người theo đạo Kitô và chứa chấp đạo trưởng Hoan, tội đáng chém".

Tại pháp trường, lý hình chỉ chém một phát là đB Au rơi xuống ngay. Xác ngài được bọc lại và chôn ở Mỹ Hương như Cha Hoan. Khi lập hồ sơ phong Á Thánh, xác ngài cũng được đưa về chủng viện Phú Xuân như xác Cha Hoan.

Cả hai vị đã được phong Á Thánh năm 1909 và được phong Thánh ngày 19.6.1988.

Những gì các nhà truyền giáo và cha ông chúng ta đã dùng xương máu để làm ở nên Tam Tòa, các thế hệ đi sau nhất định sẽ nối tiếp. Sinh năm 1798 tại họ Kim Long, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên, được phong linh mục năm 1836. Trước tiên, cha Hoan được cử coi sóc họ Kẻ Sen ở Quảng Bình, rồi họ Bãi Trời ở Quảng Trị. Khi tình hình ở Huế gặp nhiều khó khăn, Đức Cha đã gọi ngài về coi giáo dân ở Thừa Thiên. Đầu tháng Giêng năm 1861, Cha Hoan đến Sáo Bùn để giúp giáo dân20chuẩn bị dự lễ Ba Vua thì có người ngoại đạo biết được và đi tố giác với quan. Ngài đã bị bắt và bị đưa ra xét xử ngày 4.1.1861 cùng với 9 giáo dân.
Lữ Giang

Dòng nước mắt cho một bản quốc ca




Trải qua một thời gian dài nước mất nhà tan, bị tù đày, gia đình ly tán, phải sống dưới một chế độ thù nghịch, ngày được ra khỏi đất nước, được đứng nghiêm trang, mắt ngước nhìn lá quốc kỳ thân yêu xa vắng bao nhiêu năm, tai nghe lại điệu nhạc hùng tráng năm xưa, lòng bỗng dưng xôn xao bao kỷ niệm, hai dòng nước mắt tuôn rơi. Ðã bao nhiêu người mang tâm trạng như tôi vào những ngày đầu đặt chân đến xứ người. Phải chăng những điều gì đã mất khiến cho lòng chúng ta tiếc nuối và xót xa.

Nhớ mới một buổi sáng ngày nào, buổi chào cờ cuối cùng tại đơn vị và không ai ngờ đó là buổi chia ly, tan đàn sẻ nghé. Anh em đồng ngũ mỗi người đi về một hướng, người vượt thoát ra đi bỏ lại quê hương, người vào chốn lao tù nơi chốn rừng sâu nước độc. Gia đình miền Nam bỗng dưng tan tác, mỗi người lâm vào cảnh, không cách biệt giữa hai bên bờ sinh tử thì cũng nghìn trùng biệt ly.
Có những bản quốc ca xưa hàng trăm năm như quốc ca Hà Lan từ thế kỷ XVI, nhưng cũng có những bản quốc ca chỉ vang vọng trong một thời, non yểu trong hoàn cảnh chiến tranh, của một quốc gia vừa thành hình đã bị định mệnh chôn vùi. Trong đất nước ấy, tuổi trẻ bị dập vùi trong lửa đạn, tương lai mờ mịt trong khói súng, và những niềm hy vọng sớm tàn phai. Ðể bảo vệ cho tự do của miền Nam, một triệu thanh niên dưới lá quốc kỳ, đã nằm xuống, xương tàn cốt mục, mà bây giờ đã gần bốn mươi năm hài cốt vẫn còn xiêu lạc. Quốc ca đâu phải là một bản nhạc của một nhạc sĩ si tình nào đó viết cho một người, để đời sau những người ca sĩ hát lại cho những người mang cùng tâm trạng riêng lẻ ấy thưởng thức. Quốc ca là nhạc phẩm của một người viết cho triệu người nghe.
Xin đừng ai dạy bảo cho chúng ta biết định nghĩa thế nào là một bản nhạc hay. Lời đẹp, nhạc hay, nhưng tiếng “hay” không nói lên được một điều gì cả. Một bản nhạc mới được tác giả sáng tác xong, nếu mới nghe qua chỉ là đợt sơ khảo, mang cho người nghe cái cảm giác ban đầu hời hợt. Suối từ nguồn chỉ là những dòng nước, trở thành những con sông, chảy qua những bờ lau, cánh đồng, qua những chiếc cầu, qua xóm làng, tới những bình minh rực rỡ, đến những buổi chiều nắng xế và chan hòa với đại dương. Nhạc vô hồn nếu nhạc không mang những kỷ niệm, không in dấu được thời gian, không có quá trình vui buồn với cuộc sống của con người. Có ai nghe một bản nhạc mà không nhớ đến một quãng đời, không nhớ đến một kỷ niệm, không nhớ đến một người, ví dụ như trong câu hát nghe rất ngậm ngùi, liên tưởng trong thời chiến tranh: “Ai có nghe tiếng hát hành quân xa, mà không nhớ thương người mẹ già” (PD).
Tiến Sĩ Schubert là học giả nghiên cứu nghệ thuật trình diễn của Ðại Học New South Wales Úc cho rằng:”Nếu hỏi bất cứ ai bài hát họ ưa thích nhất là bài nào, nhiều người đã trả lời, đó là những bài hát mà họ đã từng nghe ở thiếu thời hay lúc mới trưởng thành”. Theo ông, những bản ca khúc luôn đọng lại trong tâm trí người nghe với nhiều nguyên do khác nhau như các khái niệm văn hóa, qua kinh nghiệm và sự việc được lặp lại nhiều lần. Chúng ta, vì vậy không lấy làm lạ khi những ca khúc thời chinh chiến hay những bản tình ca xuất hiện trong thời gian 65-75, gần 40 năm sau đều được đón nhận nồng nhiệt bởi những người bước vào tuổi 60 ngày nay ở ngoài hay trong đất nước.
Chúng ta thường mủi lòng nhớ đến quê hương đã bỏ xa khi nghe những khúc dân ca, những tiếng đàn bầu như lời than thở, những tiếng nhị hồ như lời khóc than. Và những con đò, những đêm trăng, những dòng sông, những bờ tre, những cánh đồng, những tiếng hò, những gì của làng mạc đã xa của một thời thơ ấu như sống lại. Ðó không chỉ là tiếng gọi của quê hương mà là tiếng thì thầm của dĩ vãng, bỗng dưng hiện về. Trong âm nhạc, dân ca hay những bản nhạc mang âm hưởng dân ca thường đánh động đến lòng người và dễ gây xúc động làm người ta rơi nước mắt.
Nhưng nếu có một ca khúc tác động vào lòng người nhất thì tôi không ngần ngại nói rằng đó là bản quốc ca. Không phải ngày đầu tiên lìa xa đất nước ra đi, bỏ lại tất cả những gì gọi là thân yêu từ quê hương ruột thịt mà người ta đã khóc khi nghe lại bài quốc ca, mà cho đến bây giờ, gần mấy mươi năm qua, tất cả tưởng như đã rơi vào quên lãng, nhạt nhòa theo thời gian, những dòng nhạc như đã khơi lên những “trào lệ cảm”(*) trong lòng chúng ta.
Nhiều bản nhạc chỉ nhắc cho chúng ta nhớ đến một người, hôm nay bài quốc ca làm cho chúng ta nhớ đến hàng triệu người. Những người đã phải rời bỏ đất nước vì tự do, xa cội nguồn, đã bị xô đẩy đi khắp chân trời góc biển. Bài hát nhắc cho chúng ta nhớ đến những người đã chiến đấu, hy sinh thân xác và chết dưới cờ trong suốt một thời gian giữ nước. Bài hát làm cho chúng ta nhớ lại những cánh rừng, những con đường, những bãi biển, là chiến trường, nơi mà anh em ta đã gục ngã. Bài hát làm cho chúng ta nhớ lại nỗi nhục tù đày, những chiến hữu cụt què bất hạnh, những góa phụ cô đơn. Bài hát nhắc lại cho chúng ta khoảng thời gian ba mươi năm, dù là ngắn ngủi nhưng tràn đầy kỷ niệm. Bạn đã thấy người khác khóc và chính bạn đã hơn một lần nhỏ lệ cho quốc ca.

Xin hãy hát lên bài quốc ca, hãy ràn rụa nước mắt để khóc cho một nền tự do đã bị đánh mất, hổ thẹn cho một nền hòa bình trong tủi nhục và để nghĩ đến những người chết cho chúng ta sống, những người bị thương tật cho chúng ta lành lặn, những người ở lại cho chúng ta ra đi.
(*) Chữ của Hà Mai Anh trong “Tâm Hồn Cao Thượng.”
Tạp ghi Huy Phương

Ý NGHĨA TÔN GIÁO VÀ VĂN HOÁ CỦA LỄ GIÁNG SINH



Những quả cầu tuyết rực rỡ được trang trí trên cây thông Noel (Ảnh: Sina)
  
        Mùa Giáng Sinh thường khởi sự từ tuần lễ đầu và kết thúc vào tuần lễ cuối cùng của tháng 12 hàng năm. Đối với các tín đồ Thiên Chúa Giáo, Mùa Giáng Sinh khởi sự bằng tuần lễ thứ nhất của Mùa Vọng và kết thúc bằng tuần lễ thứ tư  của Lễ Giáng Sinh. Hôm nay, Chủ nhật ngày 4-12-2011, là bước vào tuần lễ thứ hai của mùa Giáng sinh 2011.
       Theo lịch mục vụ của Giáo Hội Công Giáo, mùa vọng Giáng Sinh, thường gọi tắt là Mùa Vọng, là ba tuần lễ đầu của tháng 12, mang ý nghĩa là thời gian trông chờ Chúa đến. Trong thời gian này, các tín đồ thường chuẩn bị tâm hồn trong sạch để đón mừng Chúa đến, theo ý nghĩa Thánh Vịnh về Giáng Sinh, rằng ‘ đồi cao san cho bằng, thung lũng lấp cho đầy, đường cong uốn cho thẳng, hãy dọn đường cho  Chúa đến ’’Thể hiện ý nghĩa này, các giáo dân thường có thói quen tham dự các cuộc cấm phòng hay tĩnh tâm, linh thao, xưng tội rước lễ, hãm mình đền tội và làm nhiều việc lành phúc đức, hòa giải với anh em, chia xẻ cơm ăn áo mặc với anh em nghèo khổ, khốn cùng.
      Thông thường hàng năm, vào tuần lễ  thứ tư và cũng là tuần lễ cuối cùng của mùa Giáng Sinh, các Nhà Thờ Công Giáo Việt Nam tại thành phố Houston và các vùng phụ cận, thuộc Giáo Phận Galveston Houston, đều thiết kế những cây thông  và hang đá trang hoàng đèn sao lấp lánh, vốn là những biểu tượng không thể thiếu trong Mùa Giáng Sinh. Đặc biệt tại thành phố Houston này, từ nhiều năm qua, Cộng đồng Công Giáo Việt Nam hàng năm đã long trọng tổ chức đại Lễ Giáng Sinh, tập trung hàng chục ngàn giáo dân tại Geoge Brown Convention Center ở Down Town Houston. Đại Lễ Giáng Sinh thường diễn ra từ 4 Giờ  chiều tối ngày 24 Tháng 12 hàng năm,do Đức  Tổng Giám Mục Giáo phận Galveston chủ tế,cùng với sự đồng tế của các linh mục Việt – Mỹ trong Giáo phận.
    Mặt khác, vượt lên trên ý nghĩa tôn giáo, Giáng Sinh đã đi vào truyền thống văn hoá nhân loại, để trở thành ngày vui chung của mọi người trên trái đất. Riêng tại Hoa Kỳ, hàng năm Mùa Giáng Sinh khởi sự sau Lễ Tạ Ơn( Thanksgiving) vào cuối tháng 11, người ta bắt đầu chuẩn bị đón mừng  Lễ Giáng Sinh vào cuối tháng 12, là đêm 24 và ngày 25 tháng 12. Bầu không khí Giáng Sinh bắt đầu lan toả khắp nơi nơi, khi các cửa hàng ở các trung tâm thương mại, các siêu thị, bắt đầu trang hoàng những hình ảnh, màu sắc biểu tượng Giáng Sinh: như cây thông giăng mắc đèn mầu, hỏa châu lấp lánh, Ông Già Noel bằng hình ảnh hay hình nộm hoặc người thật hoá trang sống động, với nhạc Giáng Sinh réo rắt khắp nơi nơi.
         Trong khi đó, các tư gia cũng  trang trí cây thông giáng sinh trong nhà và treo đèn kết hoa ra tận cửa, trước sân, trên mái nhà, với ánh đèn chớp sáng đủ màu. Một số gia đình, nhất là các tín đồ Thiên Chúa Giáo theo truyền thống Đông Phương như Việt Nam ta, thì vẫn giữ lại phần nào lối trang trí Giáng Sinh truyền thống như nhửng Giáng sinh năm nào ở quê nhà, với hang đá Bethlhem có máng cỏ bò lừa và hình tượng Chúa Hài Đồng nằm trong máng cỏ, hai bên có Cha nuôi và Mẹ Người là Thánh Giuse và đức Maria, cùng Ba Vua và các Thiên Thần bao quanh thờ lậy. Ngoài  hang đá trên cao là hình Thiên Thần thổi loa loan báo tin vui và lời chúc tụng ‘‘ Vinh danh Chúa Cả trên Trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm’’.
         Đồng thời cũng là để chuẩn bị cho Ngày Giáng Sinh, từ mấy tuần trước lễ Giáng Sinh, người ta lo gửi thiệp chúc mừng đến thân nhân, bạn bè ở xa và mua quà tặng cho nhau. Và vì vậy, đối với các nhà kinh doanh, đây là một trong những mùa gặt hái lợi nhuận thương vụ lớn nhất trong năm. Tất nhiên, trái ngược lại, đối với giới tiêu thụ, thì đây lại là dịp phải tiêu tốn tiền bạc nhiều, theo tập quán và hấp lực của mùa “ Big sale’’, để làm công việc mua sắm theo truyền thống Giáng Sinh vốn là như  thế.
  
         Tựu chung, Giáng Sinh không còn là ngày lễ riêng của tôn giáo, của những người tin vào mầu nhiệm Ngôi Hai Thiên Chúa giáng trần  cứu chuộc nhân loại, mà đã trở thành ngày Lễ Hội vui chung cho toàn thể nhân loại trên trái đất. Bởi vì Giáng Sinh đã vượt ra ngoài ý nghĩa tôn giáo, để trở thành một truyền thống văn hoá tốt đẹp của nhân loại. Và vì vậy, Mùa Giáng Sinh, chính là thời khỏang mà mọi người dù có niềm tin hay không vào mầu nhiệm Giáng sinh, đều có những sinh hoạt cần thiết chuẩn bị cho ngày vui chung này.
                Thiện Ý
    Mùa Giang sinh 2011

Vụ Thái Hà: Bằng chứng về công an cài người vào đoàn biểu tình


Vụ Thái Hà: Bằng chứng về công an cài người vào đoàn biểu tình

Cập nhật lúc 04-12-2011 17:53:36 (GMT+1)

Đoàn biểu tình có trẩt tự ngày 2/12/2011. Ảnh NVCL
 
Vụ cho "côn đồ" đóng giả nhân dân, dân phòng xúc phạm nhà thờ, chỉ điểm tay trong vào đọc bảng tin rồi buông lời khiêu khích, trà trộn đóng giả giáo dân trên đường đi về la ó tạo cớ bắt bớ là một chuỗi hành vi đầy toan tính trước của nhà cầm quyền Hà Nội.
 
Nhà cầm quyền Hà Nội đã "chơi" giáo xứ Thái Hà một đòn mà giới dân dã thường gọi là “úp sọt”. Đây là chiêu thức cài bẫy, được sắp đặt tính toán kỹ càng, sử dụng một cách chuyên nghiệp.
Ngày 2/12/2011 đoàn giáo dân giáo xứ Thái Hà trên đường ra ủy ban nộp đơn về, họ đi hàng hai gọn ghẽ, không hô hào, la hét, chỉ cùng nhịp hát bài Kinh Hòa Bình. Một đám đông đi như vậy muốn giữ trật tự, kỷ luật thì có gì tốt hơn là để họ nhập tâm chuyên chú vào việc đọc kinh. Họ không dừng lại, không đi vòng vèo. Họ đi một mạch không dừng từ Văn phòng Tiếp dân – nơi nộp đơn, về Nhà thờ Lớn, nơi gửi xe máy để lấy xe về.
Đến đoạn trước cổng công an quận Hoàn Kiếm, cách nhà thờ lớn Hà Nội không xa,  nhận thấy nếu không “úp sọt” nhanh thì đoàn giáo dân sẽ kịp lấy xe ra về. Vì thế, họ ập xe buýt đến, đổ quân và bấy giờ mới dùng loa gào hét “đề nghị giải tán, không tụ tập, vi phạm nghị định…” miệng nói, tay chân làm ngay. Lập tức công an, mật vụ xông vào bắt người lập tức, bất chấp người ta thanh minh là đang trên đường lấy xe về.
Sở dĩ phải làm ráo riết như thế bởi họ sợ vài phút nữa mọi người về hết thì vỡ kịch bản đã sắp sẵn. Một kịch bản khi đã chuẩn bị máy quay, chuẩn bị những thanh niên (là công an cải trang) đi lẫn trong đoàn để la ó đồng đội mặc sắc phục tạo lý do. Thậm chí còn dùng nữ mật vụ, đóng giả giáo dân cầm băng rôn gào hét phấn khích để người khác tưởng lầm là giáo dân phản ứng tiêu cực. Từ cái gọi là vận động giải tán đến cưỡng chế là 30 giây, những đoạn clip, ghi âm đều thể hiện cố ý bằng mọi giá “ úp sọt” những người giáo dân hiền lành.
Nữ Công an nhận lệnh từ Ông Canh - phó CA quận Hoàn Kiếm

Tiến về phía giáo dân

Ông Canh - phó CA quận trước CA quận Hoàn Kiếm
 
Chắc chắn, chiều này 4/12/2011, chính quyền sẽ họp báo và trưng ra những bằng cớ để lừa bịp công luận, báo chí, quan sát quốc tế...
Nguồn: NVCL

THIÊN ĐƯỜNG MỚI :“Trung Quốc Làm Chủ, Việt Nam Làm Thuê”


“Trung Quốc Làm Chủ, 
Việt Nam 
Làm Thuê”

Thằng Thủ DŨNG nay giống như ngưới máy
Biết khom lưng , biết quỳ gối , cúi đầu
Làm tay sai đắc lực bọn giặc Tầu
Vì người máy hoàn toàn không có ÓC ! 
Hiểu cho nó , chỉ là thằng VÔ HỌC
Nay được ngồi ghế THỦ , sướng mê tơi !
Dù phải làm đày tớ suốt cả đời 
Thân chó ghẻ đựợc lên ngồi bàn độc
Tầu vuốt tóc , DŨNG gật đầu BÁN NƯỚC .



Gần đây chúng tôi mới nói chuyện với một người Việt từng tham dự những cuộc biểu tình trước tòa lãnh sự Trung Quốc để phản đối việc Bắc Kinh thành lập huyện Tam Sa ở đảo Hải Nam; anh đã từng bị công an đuổi bắt. Tôi hỏi đùa một câu vô duyên: Sao, đã biết sợ công an chưa? Câu trả lời của anh thật bất ngờ: Không sợ, vì họ cũng là người Việt cả. Tôi chỉ sợ công an Trung Quốc!

Công an Trung Quốc làm gì những người Việt biểu tình ở Hà Nội hay Sài Gòn? Không, họ không cần làm gì cả. Họ chỉ cần theo dõi, ghi chép. Họ sẽ có tên tuổi, địa chỉ, tình trạng vợ con, kế sinh nhai, đường đi lối về hàng ngày của tất cả những người từng nói hay hành động chống quyền lợi Trung Quốc ở Việt Nam. Họ lập một cuốn sổ đen. Khi hữu sự, họ sẽ sẵn sàng. Hình ảnh “cuốn sổ đen” đó đang ám ảnh rất nhiều người Việt yêu nước.

Nghe anh bạn nói, tôi ngờ vực không tin. Nhưng nếu quý vị được nghe cả giọng nói bình thản, dửng dưng không xúc động của anh, quý vị sẽ hiểu mối lo sợ này là có thật. Mạng lưới công an Trung Cộng đã hoạt động ở Sài Gòn-Chợ Lớn từ thời Việt Nam Cộng Hòa. Dù bây giờ nó không bành trướng lên tới mức đáng sợ như trên, thì mối lo sợ vẫn có thật. Không lẽ công an Việt Nam cũng cộng tác “chiến lược và toàn diện” với công an Trung Quốc trong mật vụ này hay sao?

Gần đây một nhà báo ở Sài Gòn mới bị một đám côn đồ “lạ mặt” hành hung vô cớ. Tình cờ, anh cũng là một nhà báo từng viết trên mạng những bài về đòi bảo vệ chủ quyền Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Anh cũng viết rất nhiều về vụ Bô Xít, và những vụ “tầu lạ” đâm chìm thuyền đánh cá Việt Nam ra biển. Ðám “người lạ” đánh anh nhà báo và đám “tầu lạ” đâm thuyền ngư phủ Quảng Ngãi có liên hệ gì với nhau không?

Một điều chúng ta biết chắc là chính quyền Cộng Sản Trung Quốc quyết tâm bành trướng ảnh hưởng không riêng trong vùng Ðông Nam Á mà ra khắp thế giới, ở bất cứ nơi nào trên thế giới có tài nguyên thiên nhiên để khai thác, Trong mục này đã có lần kể chuyện chúng tôi gặp một sinh viên người Congo ở Quảng Châu. Khi nói chuyện với nhau, anh ta bày tỏ nỗi ngạc nhiên không hiểu sao người Trung Quốc sang nước anh nhiều thế. Và họ đi khắp nơi, cả những vùng núi non xa xôi anh không bao giờ nghĩ đến mà họ cũng mò tới. Sau cuộc gặp gỡ đó, tôi đọc một bản tin cho biết hơn 200 nhà kinh doanh Trung Quốc ở Congo mới lén bỏ trốn về nước, để lại hàng ngàn công nhân bản xứ đến đập phá nhà cửa, máy móc, cơ xưởng vì họ không được trả lương! Ðám doanh nhân này là những người Trung Quốc sang Congo khai thác mỏ. Hồi đầu năm 2009 giá nguyên liệu kim khí tụt xuống khắp thế giới, các đại gia Trung Quốc chỉ tính làm ăn chụp giật, thấy lỗ vốn bèn bỏ của chạy lấy người!

Hôm rồi, một anh bạn từ Pháp qua chơi kể rằng anh đã đi khắp các nước Phi Châu vì công việc của sở. Tình cờ, anh cũng kể có lần đi đến thăm một chi nhánh của hãng anh ở Côte d'Ivoire, anh tới một thị xã xa xôi hẻo lánh. “Ông biết không? Mình đang bước đi ngoài phố bỗng giật mình thấy một da vàng mặc áo may ô ưỡn cái bụng phệ trên chiếc ghế trước cửa nhà! Ông ấy đang ngồi xỉa răng! Ở giữa cái xứ chỉ thấy toàn mầu da đen, mình tưởng là gặp đồng bào Việt! Hỏi chuyện rồi mới biết ông ấy là một cố vấn cho chính quyền tỉnh, do Bắc Kinh gửi tới! Ông ấy được mang cả gia đình vợ con sang Côte d'Ivoire để làm cố vấn!”

Không thể nói chính phủ Bắc Kinh chỉ nhắm riêng vào nước Việt Nam mình khi họ đi tìm các nguồn tài nguyên để khai thác. Trung Quốc đang cần công nghiệp hóa. Họ đi tới bất cứ nơi nào tìm quặng mỏ. Họ vừa bị hụt vụ mua 18% cổ phần trong công ty Rio Tinto ở Úc Châu, bắt người đứng đầu công ty Anh-Úc này ở bên Tầu, gán cho tội “gián điệp.” Ở Trung Ðông các nước Á Rập Hồi Giáo cũng chống Trung Quốc sau vụ đàn áp người Uyghur tại Tân Cương. Dân chúng những nước Trung Á cùng chung gốc Turk (Thổ) đã biểu tình chống Trung Quốc, trong khi Bắc Kinh lo hối lộ chính quyền các nước này để mua dầu lửa và khí đốt. Dù ăn hối lộ, chính quyền các nước này cũng không dám đàn áp dân họ để bênh vực Thiên triều. Ở Algerie có những vụ tập kích đánh vào xe chở người Trung Quốc. Cũng vì vụ Tân Cương cả. Nhu cầu nguyên liệu và nhiên liệu khiến chính quyền Bắc Kinh phải tiếp tục bành trướng, khắp thế giới. Ðó sẽ là hiện tượng quan trọng nhất ở Á Châu trong thế kỷ 21, đặc biệt là trong vùng biển Ðông của nước ta.

Vì Ðông Nam Á vẫn là một trọng tâm của tham vọng bành trướng này. Chỉ vì lý do địa dư; đó là những nước láng giềng, nhỏ, còn yếu, và quyền lợi còn khác biệt nhau rất nhiều. Trong các nước ASEAN có nước dân chủ, có nước độc tài, có nước Phật Giáo, có nước Hồi Giáo, có nước độc tài Cộng Sản, có nước độc tài quân phiệt, có nước chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa như Việt Nam, có nước theo Thiên Chúa Giáo như Phi Luật Tân. Tình trạng này khiến ASEAN còn chưa thể liên kết chặt chẽ, và Bắc Kinh thì đã gõ cửa xin vào tham dự, đến năm nay Mỹ mới bước vô. Người Mỹ từng coi Tây Bán Cầu với những nước Châu Mỹ La tinh, là “sân sau” của họ, không muốn cường quốc nào đụng tới. Bây giờ Trung Quốc có thể cũng mong tới ngày cả miền biển Ðông Á và Ðông Nam Á trở thành “cái ao trước cửa” cho họ thả câu.

Ðứng về mặt đạo đức, chúng ta lên án tham vọng bá quyền này, của bất cứ quốc gia nào. Trên thực tế, bất cứ chính quyền độc tài một nước lớn nào cũng nuôi những tham vọng như vậy, và có khả năng khích động dân chúng ngả theo khuynh hướng đó. Thế kỷ trước, Nhật Bản đã làm như vậy. Ngay một Ðảng Cộng Sản nho nhỏ của các ông Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ cũng có thời muốn làm bá chủ toàn cõi Ðông Dương kia mà! Cho nên phải coi tham vọng bá quyền của Trung Quốc là một sự thật không thể tránh được, các nước Ðông Á phải đối phó chứ không thể chỉ lên án suông mà thôi.

Trong cuộc phỏng vấn của Nhật báo Người Việt, đăng ngày hôm qua, Giáo Sư Carl Thayer đã nói, “Có Hoa Kỳ hiện diện, Trung Quốc không thể múa gậy vườn hoang.” Ðúng như vậy. Các nước Ðông Nam Á đều mong nước Mỹ trở lại vùng này để tạo thế cân bằng với Trung Quốc. Trung Quốc đã lập căn cứ hải quân ở đảo Hải Nam (Thời Tây Hán gọi tên là Châu Nhai và Ðạm Nhĩ) với 6 hàng không mẫu hạm và 20 tầu ngầm nguyên tử. Chỉ có hạm đội Thứ Bẩy của Mỹ đáng vai đối thủ. Nhưng chúng ta đã có dư kinh nghiệm về cả Hoa Kỳ lẫn Trung Quốc. Nước nào cũng chỉ nghĩ tới quyền lợi quốc gia của họ mà thôi. Người Việt Nam không thể trông nhờ vào ngoại lực. Muốn kháng cự được sức bành trướng của hơn một tỷ dânTrung Quốc thì người Việt phải lo lấy nước Việt chứ không thể trông cậy vào ai khác. Trong hai ngàn năm lịch sử tổ tiên chúng ta vẫn sống như vậy, bây giờ cũng không khác.

Nhưng dân tộc Việt Nam muốn đủ sức cự địch với sức bành trướng của Trung Quốc nếu chính quyền cũng chứng tỏ quyết tâm bảo vệ chủ quyền dân tộc và toàn dân đoàn kết một lòng kháng cự. Hiện nay chúng ta không thấy những dấu hiệu đó. Ðiều đáng lo ngại đối với dân tộc Việt Nam bây giờ không phải là những đoàn quân Trung Quốc tiến qua biên giới như hồi năm 1979. Phương cách xâm lăng đó đã lỗi thời rồi, mà không cần thiết nữa. Ðiều lo lắng nhất là một kế hoạch “tàm thực,” (tầm ăn dâu), hay nói theo kiểu bà con trong nước, gọi là Diễn Biến Hòa Bình. Cộng Sản Trung Quốc không cần gây chiến với Việt Nam. Họ đang gậm nhấm nước Việt Nam từ từ, như đã gậm dần dần cho tới khi nuốt chửng đất đai của người Uyghur, người Mông Cổ, nước Ðại Lý, nước Tây Tạng.

Ngày hôm qua Nhật Báo Người Việt cũng đăng thiên phóng sự viết về chuyến đi thăm miền đất cực Ðông của nước ta, mũi Sa Vỉ, bờ biển Trà Cổ, thành phố Móng Cái, giáp giới Trung Hoa. Ký giả Thiên Thư viết tựa đề: “Trung Quốc làm chủ, Việt Nam làm thuê.” Ðó là “tám chữ vàng” mô tả một sự thật. Có những mảnh đất cho người Trung Quốc thuê 50 năm, còn dài hạn hơn nhiều nông dân Việt Nam chỉ được thuê đất 35 năm. Người Trung Quốc sang mở nhà hàng, khách sạn, sân Golf, và cả cờ bạc, đĩ điếm. Người Trung Quốc làm chủ, người Việt Nam làm thuê. Hai bên cùng có lợi. Các quan chức lợi nhất. Tổng cộng thành 20 chữ vàng, có thể coi là một chính sách, chủ trương lớn của đảng và nhà nước... Trung Quốc!

Nếu chưa đọc, xin mời quý vị đọc lại thiên phóng sự này. Nhiều nhà báo trong nước đã kể chuyện và chụp hình những “làng Trung Quốc” ở Việt Nam, từ miền Bắc vào tới miền Trung và Cao nguyên. Nhưng ở thành phố Móng Cái, ở mũi Sa Vĩ, có những trung tâm thương mại Trung Quốc mà người Việt muốn xin việc làm phải nói hai thứ tiếng. Con cháu người Việt khôn ngoan ở đây sẽ biết rằng muốn có tương lai phải học tiếng Quảng hay tiếng Phổ thông. Tiếng đầu lòng con học nói có thể là “Nỉ Hào Ma?” Người bạn ở Sài Gòn đang sợ công an Trung Quốc, anh vẫn tin tưởng rằng anh không cần sợ công an Việt Nam. Vì họ cũng là người Việt như mình cả. Niềm tin đó còn có cơ sở vững chắc hay không?

Nhiều người Việt ở Nam California đã nói đùa rằng có ngày Bắc Kinh sẽ đổi tên huyện Tam Sa thành Tứ Sa. Vì ngoài Hoàng Sa, Trường Sa của nước ta, cộng với Tây Sa của họ, họ còn muốn có thêm chữ Sa thứ tư là Bôn Sa (Bolsa) nữa! Trung Quốc sẵn sàng đầu tư sang Bolsa mở nhà hàng, khách sạn, thương xá, cư xá cho người già, khu giải trí, vân vân; chỉ cần lúc nào cũng theo đúng 8 chữ vàng: “Trung Quốc làm chủ, Việt Nam làm thuê.”

Nhưng tầm ăn dâu ở Á Châu thì dễ, sang tới Mỹ sẽ khó hơn nhiều. Vì ngay người Hoa và người Việt gốc Hoa ở Mỹ cũng sợ Bắc Kinh xâm nhập. Cho nên dân Bolsa không cần lo. Nếu có một huyện Tứ Sa thì chắc chữ Sa thứ tư sẽ là mũi Sa Vĩ trong tỉnh Móng Cái. Ở Quảng Châu đã có bãi Sa Diện (Mặt Cát, sách thường in nhầm là Sa Ðiện), nay có thêm Sa Vĩ (Ðuôi Cát) nối với nhau như khẩu hiệu “núi liền núi, sông liền sông” từ 50, 60 năm trước!

Tám chữ vàng “Trung Quốc làm chủ, Việt Nam làm thuê” không nhất thiết chỉ áp dụng trong các khách sạn, nhà hàng. Tại sao không áp dụng (hợp tác chiến lược và toàn diện), ngay trong hoạt động của ngành công an hai nước? Người Trung Quốc có thể còn muốn áp dụng tám chữ vàng trong tất cả mọi phạm vi, từ trên xuống dưới, như công cuộc trị quốc và bình thiên hạ mà họ vẫn theo đuổi từ thời Tần Hán đến giờ. Trong tâm thức, họ có thể nghĩ đó là sứ mệnh ông Trời đã buộc dân Hán tộc phải thi hành! Người Việt Nam tất nhiên nghĩ khác, hai ngàn năm nay vẫn nghĩ ngược lại. Vậy người Việt Nam phải làm gì?

Ngô Nhân Dụng

Nguồn: http://www.nguoi-viet.com

VIỆT NAM: CHỐNG ĐẠO ĐỂ CỨU ĐẢNG


Hoa Thịnh Đốn.- Vấn đế đảng Cộng sản Việt Nam coi người theo đạo Thiên Chúa Giáo không ủng hộ đường lối của họ là kẻ thù không đội trời chung đã có trong lịch sử kể từ khi Đức Cha Lê Hữu Từ, Cố vấn của Hồ Chí Minh phải quay lại chống chủ trương phản dân tộc của họ Hồ.

Nhưng cốt lõi của chính sách thù nghịch đạo Thiên Chúa của đảng CSVN đã phát xuất từ quan điểm sai lầm cho rằng những người Việt Nam theo đạo Thiên Chúa, được du nhập từ các Cố đạo Tây phương, đã “làm tay sai” hoặc “tiếp tay” cho Thực dân Pháp xâm lăng Việt Nam để đặt ách đô hộ lên đầu lên cổ nhân dân Việt Nam mà đảng CSVN, do Hồ Chí Minh cầm đầu, đã đánh bại trong trận Điện Biên Phủ ngày 7 tháng 5/1954.

Chủ trương trả thù người theo đạo, thông thường gọi là Công Giáo, được Hồ Chí Minh thực hiện ngay sau khi tiến về Hà Nội làm chủ miền Bắc, do Hiệp định Genève quy định chia đôi nước Việt Nam từ Vỹ Tuyến 17 vào tháng 7/1954.

Lý do đơn gỉan vì hơn 1 triệu người, đa số theo đạo Công giáo ở miền Bắc, đã nghe theo tiếng gọi của hai vị Giám mục nổi tiếng lúc bấy giờ là Lê Hữu Từ, Địa phận Phát Diệm và Phạm Ngọc Chi, Địa phận Bùi Chu di cư vào miền Nam để lánh nạn Cộng sản.

Các hành động trả thù đã được phát động rộng khắp miền Bắc để chống lại Giáo hội Công giáo nằm trong chiến dịch kiểm soát chặt chẽ Giáo hội, bắt đầu từ việc trục xuất Đại diện Tòa thánh La Mã tại Hà Nội và tịch thu tài sản của giáo hội. Sau đó đến lượt các Chủng viện bị đóng cửa, các Tu viện bị giải tán và các hoạt động của các Tu sỹ bị chặt đứt khiến họ phải hòan tục để tồn tại hoặc phải đi lao động hay đi nghĩa vụ quân sự.

Sau 20 năm thống trị miền Bắc, Hồ Chí Minh và đảng CSVN đã biến Giáo hội Công giáo miền Bắc thành “cái xác chết” không hồn. Nhiều xứ đạo bị giải tán, số tu sỹ bị cạn kiệt và nhiều linh mục già qua đời hay không còn sức phục vụ không được thay thế khiến cho Giáo hội thu hẹp dần đến chỗ tiêu tụy, héo khô sau bức màn sắt.

Tuy nhiên, với lòng tin sắt đá, những người theo đạo Công giáo ở miền Bắc vẫn tồn tại nhưng bị cô lập và bị kỳ thị trong tất cả mọi lĩnh vực, kể cả giáo dục và việc làm.

Sau khi chiếm được miền Nam năm 1975, đảng CSVN toan áp dụng chích sách thù nghịch người theo đạo Thiên Chúa giáo trong Nam nhưng thất bại. Chủ trương đè nén Giáo hội Công giáo bất thành, dù đã đóng cửa được các tu viện, bắt tu sỹ hòan tục, bỏ tù hay tìm mọi cách ngăn cản các tín đồ đến nơi thờ phượng.

Thành công duy nhất mà đảng CSVN đã thực hiện được để chống Giáo hội Cộng giáo trong Nam là tịch thu các tài sản và cơ sở của Giáo hội với hy vọng triệt tiêu các nguồn tài chính, một trong những nhu cầu để tồn tại. Tuy nhiên, đảng CSVN vẫn không khống chế được tư tưởng bất thân thiện với người Cộng sản của hai Tổng Giám mục nổi tiếng là Nguyễn Văn Bình của Giáo phận Saìgon và Nguyễn Kim Điền của Giáo phận Huế.

Các tin của Giáo hội Công giáo cho hay Đức Tổng Giám mục Nguyễn Kim Điền bị “bức tử” năm 1988 vì lập trường chống lại chích sách đàn áp Tôn giáo của đảng CSVN. Riêng Đức Tổng Giám mục Nguyễn Văn Bình, trước khi qua đời năm 1995, đã nói với Báo Sàigòn Giải phóng của đảng bộ Cộng sản tại Sàigòn rằng sau khi đã “sống chung” với người Cộng sản, ngài “vẫn sợ người Cộng sản”.

Nhân chứng điển hình nhất cho chính sách đàn áp các nhà lãnh đạo Công giáo Việt Nam là Cố Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, nạn nhân của 13 năm tù Cộng sản, trong đó ó 9 năm bị cùm giam trong ngục tối. Ngài được tha tù năm 1988 và được phép cho đi Roma năm 1991, nhưng CSVN không cho trở về Việt Nam. Lý do thầm kín ngài bị bắt vì đảng CSVN không cho phép Ngài làm Phụ tá cho Đức Tổng Giám mục Nguyễn Văn Bình ở Sàigòn và vì Đức Cha Thuận là cháu ruột của Cố Tổng thống Ngô Đình Diệm, kẻ thù không đội trời chung với Hồ Chí Minh và đảng CSVN.

Người tù nổi tiếng khác của Giáo hội Công giáo Việt Nam hiện đang bị giam là Linh mục Thaddeus Nguyễn Văn Lý của Giáo phận Huế. Lm Lý đã có các hoạt động chống chính sách đàn áp tôn giáo và vi phạm nhân quyền của CSVN từ thập niên 1970. Cho đến nay, ông đã ngồi tù khỏang 15 năm cách nhau trong các lần bị bắt.

Lm Lý cũng là người tù nổi tiếng khắp thế giới với bức hình ông bị một Công an mặc thường phục bịt miệng trước phiên tòa xử ngày 30-3-2007, khi ông hô to :”Đảo đảo Cộng sản”.

Đảng CSVN đã rất bối rối nhưng không ngăn chặn được vì chính họ đã cho phép trực tiếp truyền hình phiên tòa nên tấm hình phản tuyên truyền này đã được truyền đi khắp thế giới.

Nhưng Linh mục Lý bị bắt nhiều lần không phải vì ông đã lên tiếng chống chính sách đàn áp tôn giáo mà còn tích cực trong công tác đòi nhà nước thực thi các quyền tự do và dân chủ của công dân đã được quy định trong các Hiến pháp từ 1946 đến 1992. Ông còn là một trong những Tu sỹ đã đi tiên phong trong việc đòi lại các tài sản cho Địa phận Huế của ông nói riêng và cho Giáo hội Công giáo nói chung.

Tiêu biểu cho chiến dịch người Công giáo đứng lên đòi lại tài sản và các cơ sở bị nhà nước tịch thu bất hợp pháp đã diễn ra trong một thời gian dài tại Xứ Thái Hà, Hà Nội nơi có Tòa nhà của Tòa Khâm sứ Vatican bị nhà nước thời Hồ Chí Minh thu dụng sau 1954.

Trong vụ này, Chính quyền thành phố Hà Nội đã bịa ra đủ các chứng cứ để chiếm đoạt tài sản
làm của riêng nhưng không thành nên đàng phải biến khu đất khang trang của Giáo hội Công giáo thành công viên của thành phố từ năm 2008.

VỤ TAM TÒA

Nay lại xẩy ra vụ Nhà thờ Tam Tòa của Giáo phận Vinh.

Theo Vũ Anh của Báo Điện tử đảng CSVN ngày 29-7 (2009) thì đầu đuôi vụ việc như thế này: “Nhà thờ Tam Tòa (Đồng Hới – Quảng Bình) được Giáo hội Công giáo xây dựng năm 1886 nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt tôn giáo trên địa bàn Đồng Hới. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, thị xã Đồng Hới bị máy bay đế quốc Mỹ hủy hoại gần như hoàn toàn, chỉ còn lại Cây đa Chùa Ông, Tháp nước Đồng Hới và Tháp chuông Nhà thờ Tam Tòa. Nhà thờ Tam Tòa bị trận bom năm 1965 đánh sập, phần còn lại chỉ là Tháp chuông với chi chít vết đạn bom Mỹ. Thể theo nguyện vọng của đông đảo nhân dân lương và giáo, ngày 26/02/1997, UBND tỉnh Quảng Bình đã có Quyết định số 143/QĐ-UB công nhận Tháp chuông nhà thờ Tam Tòa là di tích lịch sử văn hóa, chứng tích tội ác chiến tranh, cần được bảo vệ nghiêm ngặt. Quyết định được đông đảo nhân dân đồng tình ủng hộ, phù hợp với quy định của Luật di sản văn hóa và Luật đất đai hiện hành.

Để bảo vệ chứng tích chiến tranh, đồng thời tạo điều kiện cho giáo dân sinh hoạt tôn giáo đúng quy định của pháp luật, ngăn ngừa các hành vi vi phạm, ngày 23/10/2008, đại diện UBND tỉnh Quảng Bình và đại diện Tòa Giám mục Xã Đoài đã thống nhất cùng ký ''Bản ghi nhớ'” trong đó nêu rõ: “UBND tỉnh Quảng Bình và Tòa Giám mục thống nhất: Khuôn viên của Nhà thờ Tam Tòa cũ hiện là chứng tích tội ác chiến tranh. Hai bên cùng thống nhất sẽ giữ nguyên và tôn tạo nhằm bảo vệ cũng như phục vụ cho việc nghiên cứu, giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ “. Như vậy khuôn viên Chứng tích tội ác chiến tranh, Tháp chuông Tam Tòa đã được xếp hạng di tích chiến tranh, chính quyền địa phương và Giáo hội có trách nhiệm tu bổ, bảo quản di tích, không đặt ra vấn đề xây dựng lại Nhà thờ Tam Tòa trên nền đất cũ.”

Theo Vũ Anh thì : “Vào lúc 04 giờ ngày 20/7/2009, với sự chuẩn bị có kế hoạch từ trước, khoảng hơn 200 giáo dân, chủ yếu là giáo dân các huyện khác trong tỉnh Quảng Bình, một số ít giáo dân các tỉnh Nam Định, Thanh Hóa đang làm ăn, sinh sống trên địa bàn tỉnh Quảng Bình và một số ít giáo dân sinh sống tại thành phố Đồng Hới không xin phép chính quyền, đã đưa khung thép, mái tôn được gia công chuẩn bị trước cùng với cuốc, xẻng, dao, xi măng, gạch, máy phát điện, xoong nồi, bát đĩa, nước uống tổ chức dựng nhà trái phép tại khu Chứng tích tội ác chiến tranh Tháp chuông Tam Tòa; đến 05 giờ đã dựng xong ngôi nhà 4 vì kèo bằng sắt, mái lợp tôn, móng cột bê tông, đồng thời chuẩn bị làm lễ khánh thành. Sau khi được nhân dân phát hiện vụ việc vi phạm và báo cho chính quyền địa phương sở tại là UBND phường Đồng Mỹ, UBND thành phố Đồng Hới, các cơ quan chức năng của thành phố Đồng Hới đã trực tiếp đến hiện trường tuyên truyền, vận động, giải thích, yêu cầu số giáo dân này dừng ngay việc dựng nhà trái phép, chấp hành nghiêm chỉnh nội dung Biên bản ghi nhớ giữa UBND tỉnh Quảng Bình với Tòa Giám mục Xã Đoài. Hành vi coi thường pháp luật của một bộ phận giáo dân nêu trên đã bị đông đảo nhân dân trên địa bàn hết sức bất bình, phản đối và đã tháo dỡ nhà xây dựng trái phép nói trên ngay sáng ngày 20/7/2009. Trong quá trình tháo dỡ, một số đối tượng quá khích đã có hành vi ngăn cản gây rối, dùng gạch đá, gậy gộc để tấn công nhân dân và lực lượng bảo vệ trật tự làm hai người bị thương. Chính quyền thành phố Đồng Hới đã chỉ đạo các đoàn thể quần chúng và lực lượng chức năng thành phố kiên trì vận động thuyết phục, đã giải tán được số người quá khích, ổn định được tình hình.

Chiều ngày 21/7/2009, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đồng Hới đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự “Gây rối trật tự công cộng tại khu vực di tích, chứng tích chiến tranh Tam Tòa” và cùng ngày đã khởi tố, bắt khẩn cấp 7 bị can về tội danh “Gây rối trật tự công cộng” theo điều 245 – Bộ luật Hình sự. Việc bắt giữ 7 bị can nói trên theo đúng trình tự pháp luật. Bước đầu các bị can đã khai báo thành khẩn hành vi vi phạm pháp luật của bản thân và những người có liên quan, đồng thời xin được Nhà nước, pháp luật xem xét khoan hồng. Việc xây dựng nhà trái phép của một bộ phận giáo dân bị kích động và hành vi gây rối trật tự công cộng, tấn công người thi hành công vụ xảy ra vừa qua là vi phạm nghiêm trọng pháp luật, vi phạm Luật Đất đai, Luật Di sản văn hóa của Việt Nam.”

TÒA GIÁM MỤC PHẢN BÁC

Tuy nhiên, theo Linh mục Antôn Phạm Đình Phùng, Chánh Văn phòng Văn phòng Thư ký Tòa Giám mục Giáo phận Vinh thì : “Giáo dân Tam Tòa không vi phạm pháp luật khi dựng lán che trên nền nhà thờ Tam Tòa. Cho đến nay khuôn viên, tháp chuông nhà thờ Tam Tòa thuộc chủ quyền giáo xứ Tam Tòa, giáo phận Vinh. Giáo dân không tới gây rối trật tự công cộng, chỉ dựng lán che (dài 9 mét, rộng 6 mét, lợp tôn), không xây dựng nhà kiên cố nên không phải báo cáo, xin phép.”

“Ủy ban nhân dân Tỉnh nói rằng quần chúng nhân dân và giáo dân đánh đập nhau là không đúng sự thật. Chúng tôi có đủ bằng chứng khẳng định rằng công an Quảng Bình đã đánh đập, bằt giữ giáo dân trái pháp luật. Công an Quảng Bình đã chiếm đoạt trái phép Thánh Giá và các tài sản của giáo hội cũng như của giáo dân.” (Trích Thư trả lời Chính quyền Tỉnh Quảng Bình ngày 24/7/2009)

Như thế thì ai nói láo? Các Linh mục Công giáo và Địa phận Vinh, đại diện cho 500 ngàn giáo dân hay Đảng CSVN, thay mặt cho trên 3 triệu đảng viên?

Nhưng tại sao một ngôi Thánh đường do người Pháp xây dựng từ năm 1886 lại bị máy bay Mỹ oanh tạc đến 48 lần, theo lời biện giải của Chính quyền?

Hãy nghe các Đại diện Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền cho biết quan điểm của họ trong Thư ngày 26/7 (2009) : “Theo lịch sử, sở dĩ nhà thờ bị ném bom là vì quân đội Cộng sản thời đó đã bố trí các đơn vị phòng không chung quanh và cả bên trong nhà thờ, y như tại nhiều nhà thờ khác thuộc Giáo phận Vinh và trên cả miền Bắc trước năm 1973, theo chính sách tiêu diệt tôn giáo tinh vi của CS. Ngoài ra, đang khi chứng tích chiến tranh không hề thiếu ở bất cứ chỗ nào trên đất nước Việt Nam, thì việc biến một biểu tượng của Công giáo, đạo tình thương và tha thứ, thành biểu tượng ghen ghét hận thù, là một hành vi xúc phạm tôn giáo cách trầm trọng. Nếu gọi tháp chuông Tam Tòa là chứng tích tội ác, thì đó là chứng tích tội ác của CS quyết mượn tay Mỹ tàn phá cơ sở Công giáo năm 1968 và chứng tích tội ác của CS hôm 20-07 mới rồi. Tội ác đánh đập, nhục mạ các giáo hữu; tội ác dùng lương dân tấn công giáo dân nhằm chia rẽ, kích động hận thù tôn giáo trong lòng dân tộc; tội ác phá hoại, tịch thu tài sản, đánh đập dân lành không theo bất cứ trình tự pháp luật đúng đắn nào, không có bất cứ một văn bản, mệnh lệnh nào; tội ác dùng hệ thống pháp đình và hệ thống báo đài nhằm bôi nhọ, xuyên tạc sự thật, đổ lên đầu dân lành vô tội những tội trạng mà họ không hề có nhằm giấu đi sự man rợ của mình; tội ác ngang nhiên chiếm nơi thờ tự của Giáo dân, nhằm tước đoạt quyền tự do tôn giáo được Pháp luật bảo vệ và nhằm cướp lấy tài sản của Giáo hội. ( Linh mục Têphanô Chân Tín, Dòng Chúa Cứu Thế, Sài Gòn (đang nghỉ hưu), Linh mục Phêrô Nguyễn Hữu Giải, Tổng Giáo phận Huế (đang bị sách nhiễu), Linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý, Tổng Giáo phận Huế (đang bị cầm tù)’ Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi, Giáo phận Bắc Ninh (đang bị quản thúc).

Như vậy có phải những người cầm đầu ngành công an và chính quyền tỉnh Quảng Bình đã muốn chống những người theo đạo Công giáo để cứu đảng hay muốn mượn tay đảng để chống người theo đạo đòi lại tản sản của Giáo hội ?


Phạm Trần

Luật biểu tình Miến Điện khác với Luật biểu tình VC


Tổng thống Miến Điện chính thức ban hành Luật biểu tình
Tổng thống Miến Điện Thein Sein (AFP/ C. Archambault)
Tổng thống Miến Điện Thein Sein (AFP/ C. Archambault)

Thụy My
Hãng tin AFP dẫn nguồn tin từ báo chí chính thức của Miến Điện hôm nay (3/12) cho biết, Tổng thống Thein Sein đã chính thức ký ban hành Luật biểu tình cho phép người dân được biểu tình một cách hòa bình nếu có xin phép. Đây là một trong hàng loạt các cải cách gần đây của chính quyền Miến Điện.

Theo tờ báo nhà nước Myanmar Ahlin, Luật biểu tình vừa được Tổng thống Thein Sein ký ban hành vào hôm qua. Luật này quy định người dân muốn biểu tình phải thông báo cho chính quyền trước 5 ngày về thời gian, địa điểm và lý do. Người biểu tình cũng phải báo trước là sẽ hô hào, ca hát những gì trong lúc xuống đường, cũng như lộ trình sẽ đi qua.
Luật biểu tình cấm làm tắc nghẽn giao thông hay gây rối trong cuộc tập họp. Những người nào biểu tình không xin phép có thể bị phạt đến một năm tù. Còn những ai quấy nhiễu những cuộc biểu tình hợp pháp có nguy cơ lãnh bản án hai năm tù giam.
Đạo luật này đã được Quốc hội Miến Điện thông qua vào tháng trước. Do đa số đại biểu Quốc hội đều thuộc đảng của ông Thein Sein và các đồng minh từ quân đội, nên việc được Tổng thống ký ban hành chỉ là thủ tục hình thức.
Các cuộc biểu tình hiếm khi xảy ra trong các quốc gia độc tài như Miến Điện. Những cuộc biểu tình đòi dân chủ tại đây vào năm 1988 và 2007 đã bị tập đoàn quân sự thẳng tay đàn áp. Riêng « cuộc nổi dậy của những chiếc áo cà sa » do các nhà sư dẫn đầu, đã thu hút trên 100.000 người tham gia vào năm 2007, là thử thách gay go nhất cho các tướng lãnh.
Quốc hội mới của Miến Điện chỉ bắt đầu hoạt động vào tháng Giêng năm nay, sau gần năm thập kỷ tập đoàn quân sự nắm quyền với bàn tay sắt. Cuộc bầu cử Quốc hội được tổ chức lần đầu từ 20 năm qua vẫn bị nhiều nhà quan sát cho là gian dối. Hồi tháng 10, Quốc hội Miến Điện đã thông qua một luật cho phép đình công và tham gia các nghiệp đoàn.
Các nhà lãnh đạo mới của Miến Điện đã làm cho dư luận ngạc nhiên với một loạt các biện pháp cải cách chỉ trong vòng một năm qua, có lẽ là nhằm chấm dứt tình trạng bị quốc tế cô lập. Miến Điện vừa đón tiếp Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton trong chuyến viếng thăm lịch sử kéo dài ba ngày, vừa kết thúc hôm qua.
Cũng trong hôm nay, chính quyền Miến Điện đã ký kết thỏa thuận hưu chiến với một nhóm nổi dậy chủ chốt của người thiểu số.

Bài Xem Nhiều