We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 13 December 2011

Những Người Bị “Phạt Hành Chính” Thuở A Còng Xứ Ta


http://media.nguoiduatin.vn/public/data/images/vietdung/4-2011/nguoiduatin-Doitra.jpgXin bắt đầu, lại bằng một sự vô lý “thường ngày ở huyện”: Chiếc SIM điện thoại Viettel số 01655.700.633 của tôi vừa mới dùng được ít ngày lại bị cắt nữa. Hệt như số SIM bị cắt lần trước, khi gọi đi liền nhận được lời báo của Trung tâm “bạn đang dùng dịch vụ chặn cuộc gọi” (?), Việt-teo lại chơi xấu mình rồi. Tại sao tôi lại tự chặn tuốt ráo mọi cuộc gọi đi và gọi đến của mình nhỉ, tôi điên à? Trò “ma bùn” lừa đảo khách hàng này đã tự lộ mặt vì khi gọi *101# thì được thông báo “Tài khoản của bạn đã bị khoá”! Mà đây không biết là lần thứ bao nhiêu tôi bị cắt điện thoại. Bạn bè gọi đến cho tôi nhiều lần không được, bèn đến tận nhà bảo tôi lần này phải làm cho ra nhẽ, cứ nín nhịn mãi là dung túng cho họ làm bừa.

Goodbye gian trá, welcome sự lương thiện!

Nhắc lại, sau cái vụ cắt SIM liên quan đến cuộc “Hội thảo minh triết Hồ Chí Minh” cách đây chưa lâu nhiều bạn bè đã bảo tôi “Viettel là của… đấy, ông nên goodbye hắn đi mà chuyển sang Vina hoặc Mobi”, tôi vẫn cố thử test lần cuối, quả nhiên Viettel không hề biết “nghĩ lại” như hy vọng của tôi. Dịch vụ Chăm sóc khách hàng viết tắt là CSKH đã thành Chơi s[x]ỏ khách hàng!
Tôi vốn cẩn thận, luôn nạp tiền trước khá nhiều nên lần cắt nào cũng mất từ 100.000đ đến 400.000đ có trong SIM đó (một kiểu phạt hành chính đấy). Của đau con xót, từ nay tôi không dại, không dùng SIM Viettel nữa, nhưng trước khi từ biệt cũng nên chào nhau một câu cho có đầu có cuối “ Thank you, and Goodbye!”.
Song, nói đi cũng nên nói lại một chút cho công bằng. Suốt 20 năm nay, cắt điện thoại (cả điện thoại có dây và không dây) của kẻ dám thẳng cánh “Chia tay Ý thức hệ” này đâu chỉ có Viettel? Bưu điện nhà nước, công ty điện thoại EVN và sau cùng tệ hại nhất mới là các bạn Viettel… Vậy phải có một “cha nội” nào to lớn hơn bao trùm cả mấy đại công ty ấy, buộc họ phải chống lại nguyên tắc của “kinh tế thị trường”, không tôn trọng khách hàng, không tôn trọng hợp đồng như vậy chứ? Thật thương cho Kinh tế thị trường phải đeo đẳng hoài một cái đuôi… nên chẳng thể ra người tử tế.
*
Những chuyện vô lý đùng đùng kể ra thì nhiều vô thiên lủng, nhưng chống lại sự tử tế thì câu chuyện của cô gái Huỳnh Thục Vi và gia đình mới thật điển hình.
Mồ côi mẹ, cha bị đi tù vì tư tưởng dân chủ tự do, ba chị em lớn lên nhờ tình thương của họ hàng. Nhưng vượt qua nỗi bất hạnh của tuổi thơ ba chị em như ba mầm cây vẫn vươn lên tươi tốt, với chủng tử thiện lương, rất trí tuệ và văn hoá. Trong khi biết bao gia đình sung túc gấp triệu lần thì cứ sản sinh ra những đứa trẻ vô giáo dục, vô cảm, vô lương.
Trong phong trào xây dựng cái gọi là “những gia đình văn hoá ở khu dân cư”, đáng lẽ một gia đình rất nghèo mà biết giữ lễ giáo, nết na, lại biết nghĩ đến việc chung của xã hội như thế phải được vinh danh (hay ít nhất thôi thì cũng để cho yên), nhưng người ta bao vây, dồn ép, thậm chí có đợt dùng đến cả trăm công an, chặn chốt các ngả đường khắp một vùng, đánh đập, đe doạ… rồi bắt cái gia đình nghèo ấy phải nộp phạt hành chính 270 triệu đồng, gần bằng 13 nghìn đô-la, nếu không, biết đâu người ta có thể tịch biên cái gia sản rách nát ấy để những người thanh bần kia không còn đất sống?
Nhưng, trước một đại hoạ của toàn gia đình như vậy, cô gái blogger 26 tuổi Huỳnh Thục Vy đã giữ được sự bình tâm, tự tin, tự trọng và dung thứ đến ngạc nhiên.
- Dù bị cái Ác vùi dập Thục Vy vẫn tự bồi đắp một nhân sinh quan hướng thiện trong sáng, vượt lên khỏi nỗi đau riêng: “Tôi đã lớn lên mạnh mẽ và những tổn thương không thể lấy đi trong tôi niềm yêu đời, yêu người và cả một hoài bão. Dù những ngày tháng đã qua đối với ba chị em tôi là quá nhiều vất vả và mất mát, chúng tôi – mỗi đứa đã lớn lên như những mầm non vượt qua những vùi dập để trở nên xanh tươi”. “Tôi từng nhủ thầm rằng mình phải sống với lòng nhân ái và tinh thần đạo đức. Tôi đã cố gắng không để quá khứ biến tôi thành một kẻ thiếu lòng vị tha và nhân bản”
- Bao dung, tha thứ trước cái Ác, Thục Vy nói với những người từng xử ác với gia đình mình rằng “trong lòng tôi chưa khi nào dấy lên sự hận thù quý vị”, “tôi hiểu rằng hoa Dân chủ tự do sẽ không thể nở trên cánh đồng hận thù và hẹp hòi”.
- Sự nết na, có giáo dục, rất văn hoá ấy rõ ràng là được ươm mầm từ truyền thống gia đình. Kế tục được truyền thống tốt đã là quý, nhưng Thục Vy không tự giam mình trong truyền thống, cô tự buộc mình phải từ đó mà vươn xa hơn. Thục Vy hết sức chống sự xơ cứng của truyền thống, dù là truyền thống của một gia đình, một trào lưu hay của một dân tộc:
Lệ thuộc vào những giá trị của quá khứ lâu dần sẽ trở nên xơ cứng, thiếu sức sống và thiếu năng lực vận động”, “Những người bị truyền thống trói buộc sẽ mãi mãi chỉ quanh quẩn trong hào quang le lói của quá khứ mà không thể tạo lập cho mình một lập trường độc lập và một giá trị mới mẻ”.
Thuở học trò từ thời Pháp thuộc, tôi say mê đọc cuốn Tâm hồn cao thượng (Hà Mai Anh dịch cuốn Grand Coeur của Admond de Amicis). Nhiều lần cảm động đến phát khóc. Bây giờ, trong một khí quyển đầy gió bụi, đọc những lời của cô gái Huỳnh Thục Vy, tôi lại thấy man mác trong lòng những tâm hồn cao thượng thuở xa xưa.
Nhưng trong một khí quyển quá vẩn đục, mà lời thơ Bùi Minh Quốc minh họa “cả một thời đểu cáng đã lên ngôi” thì những tâm hồn cao thượng chính là những đích ngắm mà người ta cần phải hạ gục, với tất cả quyết tâm của sự căm thù! Ví dụ, nếu có một tà giáo khẳng định sự độc quyền Chân lý, độc quyền Ái quốc, độc quyền Nhân cách thì tất nhiên họ không thể chấp nhận những lẽ phải, những lòng yêu nước, những nhân cách nằm ngoài tầm tay của họ. Vì những giá trị nhân bản kia là những đối chứng không thể bác bỏ trước những giá trị độc tôn nhưng không có thật của họ.
Trong khi ra tay khủng bố, vùi dập những nhân cách, trời xui khiến làm sao kẻ Ác lại cuỗm 3000 Mỹ kim mà những người tử tế đã góp cho gia đình Thục Vy nộp phạt (một án phạt vô lý và bất nhân), có như vậy tấn bi kịch đối chứng nhãn tiền về Nhân cách mới được trọn vẹn để lưu vào sử sách. Bi kịch Phi nhân cách chống Nhân cách.
Năm 1997 Hà Sĩ Phu tôi cũng bị một vụ phạt hành chính. Số là mấy bức thư tôi gửi ông Trần Độ, ông Hoàng Minh Chính, ông Lê Hồng Hà xuất hiện ở một số trang Web hải ngoại, tôi bị quy tôi “vi phạm luật xuất bản”. Tôi bảo tôi không gửi ra ngoài, và chẳng hề xuất bản gì cả. Tôi được người ta giải thích: bất cứ thứ gì được sao chép ra dù ít dù nhiều đều là xuất bản cả. Tôi bị tịch thu toàn bộ dàn vi tính và máy in khi ấy còn hiếm và đắt, tổng số 1900 đô la, thật là xót ruột…
Cháu Thục Vy thương mến. Chúng ta đều là những người khiêm nhường, chẳng ai dám nhận mình là cao thượng, nhưng lương thiện là điều chắc chắn. Dù cho những tiêu cực và cái Ác còn đầy rẫy, nhưng Nhân dân muôn đời vẫn lương thiện, sự gian trá nhất định sẽ bị đẩy lùi. Trẻ già ta cùng nhau tự nhủ: “Goodbye gian trá, welcome sự lương thiện” nhé. Mong cháu đọc bài này như sự chia sẻ ít nhiều của một trong rất nhiều những người bị “Phạt Hành chính” thuở A còng xứ ta.

12/12/2011
H. S. P.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

Rửa tiền trên “miền đất hứa”


Định Nguyên- Thông tin viên RFA
2011-12-12
Việt Nam được cảnh báo như là miền đất hứa cho hoạt động rửa tiền, một loại tội phạm rất phổ biến ở những quốc gia phát triển. Việt Nam đối phó như thế nào với loại tội phạm này trong thiết chế pháp luật hiện nay
AFP photo
Vàng, một phương tiện thanh toán tại Việt Nam

Thiếu sót, không hiệu quả

Tháng 10 năm 2008, công an Đà Nẵng phối hợp với công an Bà Rịa-Vũng Tàu bắt giữ hai người nước ngoài, quốc tịch Mozambique, liên quan đến việc chuyển một khoản tiền đánh cắp từ nước ngoài vào VN, thông qua hai ngân hàng thương mại Đà Nẵng và Vũng Tàu. Đây là vụ án rửa tiền đầu tiên được xác định ở Việt Nam, kể từ ngày ban hành nghị định 74/2005/NĐ-CP về Phòng Chống Rửa Tiền, 07 tháng 6-2005. 
Sủ dụng tiền mặt, thông lệ tại Việt Nam- Ảnh minh hoạ của RFA
Sủ dụng tiền mặt, thông tục tại Việt Nam- Ảnh minh hoạ của RFA

Hầu hết các quốc gia quy định: “Rửa tiền là một hành vi phạm tội mà thông qua đó, cá nhân hay một nhóm người sử dụng các công cụ và phương tiện để che giấu, nguỵ trang hay tìm cách xoá bỏ nguồn gốc thật sự của khoản thu nhập bất hợp pháp như buôn lậu, tham nhũng, trốn thuế…”. (Viện Khoa Học Thanh Tra – VN). Hành vi nầy không có gì xa lạ với những quốc gia phát triển.
Họ có những thiết chế pháp lý cụ thể, phương tiện hiện đại để dò tìm, phát hiện và xử lý loại tội phạm nầy. Nhưng ngược lại, rất khó khăn cho những quốc gia mới phát triển mà tập quán sử dụng tiền mặt là hình thức thanh toán chính trong lưu thông phân phối. Việt Nam nằm trong nhóm quốc gia nầy.
Ở Việt Nam, tôi nói không quá đáng, là thiên đường của rửa tiền
Đại biểu quốc hội VN Dương Trung Quốc
Cho đến nay, về mặt pháp luật, Bộ Luật Hình Sự 15/1999 của Việt Nam, Điều 251 quy định khá chung chung và được xem như là bước tiếp cận ban đầu, tiếp đến là Nghị Định 74/NĐCP đã dẫn trên, một văn bản dưới luật, quy định về cơ chế và các biện pháp phòng chống rửa tiền mà theo đánh giá của giới chuyên môn là “không có khả năng ngăn chận và cũng không phù hợp với thông lệ quốc tế” (tinmoi.vn).
Thậm chí, theo đại biểu QH Dương Trung Quốc:
Chúng ta có văn bản dưới luật về vấn đề điều chỉnh hiện tượng rửa tiền. Đến bây giờ hầu như không thực hiện được”. Ông nói thêm:"Ở Việt Nam, tôi nói không quá đáng, là thiên đường của rửa tiền.
Chỉ cần làm một động thái đơn giản thôi. Ví dụ, tôi có một khoản tiền tạm gọi là bất hợp pháp, thông qua tính hoạt động của ngân hàng, tôi mua một bất động sản nào đó, là một khoản chi rất là lớn. Sau đó tôi bán cho người khác thanh toán qua ngân hàng, thì ngân hàng sẽ hợp thức hóa ngay. Như thế có nghĩa là ngân hàng hiện nay chính là công cụ để rửa tiền chứ không phải là công cụ hạn chế rửa tiền
Việc ra đời của Trung Tâm Thông Tin Phòng Chống Rửa Tiền vào tháng 3 năm 2007 thuộc Ngân Hàng Nhà Nước với chức năng chính là đầu mối thu thập thông tin về những hoạt động rửa tiền sau đó chuyển giao cho cơ quan khác, công an, tư pháp …. xử lý.
Hạn chế của trung tâm, được ông Ric Power, cố vấn phòng chống rửa tiền và tài trợ khủng bố thuộc LHQ, chia xẻ trong cuộc hội thảo ngày 25/7/2008: “Tôi đồng ý các nước đang phát triển như VN thì năng lực chống rửa tiền còn hạn chế, vì thế chúng ta cần sử dụng ngay các cơ quan công an, tài chính để theo dõi bước đi của luồng tiền…” (vnmedia.vn).
Hành vi rửa tiền không vấy máu. Nhưng hậu quả của nó có thể rất khủng khiếp. Nó làm suy yếu nền kinh tế của một quốc gia và gây chết chóc cho những người vô tội, nếu đích đến của đồng tiền thông qua rửa tiền là những tổ chức khủng bố.
Chính vì thế, Lực Lượng Đặc nhiệm Tài Chính Chống Rửa Tiền (FATF) được nhóm G7 thành lập năm 1989, đến tháng 10/2001 lực lượng nầy đảm nhận thêm nhiệm vụ chống tài trợ cho khủng bố. Tiếp theo đó là Chương Trình chống Rửa Tiền Toàn Cầu (GPML) của LHQ ra đời năm 1997.
Việt Nam đã tham dự nhiều hội nghị quốc tế về chống rửa tiền, nhưng hiện nay vẫn chưa là thành viên của tổ chức GPML, mặc dù vào tháng 7/2008 đã được kết nạp vào nhóm các nước khu vực Châu Á – Thái Bình Dương về phòng chống rửa tiền (AGP – thành viên của FATF). Do vậy Việt Nam không có được sự hợp tác toàn diện và hỗ trợ đầy đủ từ các tổ chức nầy trong việc phòng chống rửa tiền ở trong nước.

Hoạt động ì ạch…

Ngày 15/11/2011, Dự Án Luật Phòng Chống Rửa Tiền được mang ra thảo luận tại Quốc Hội. Dự án luật có 5 chương, 53 điều. Các đại biểu quan tâm nhiều nhất đến kênh rửa tiền và đối tượng bị điều chỉnh của luật. Ngân hàng không phải là “ngõ” duy nhất để rửa tiền, vì “người ta” có thể vác bao tiền cả triệu đô để mua một miếng đất mà không hề bị thẩm định về nguồn gốc của tiền. Thuế của đồng tiền nầy cũng không được quan tâm.
Nếu bộ luật nầy đưa ra theo văn bản đại khái, thì nó chỉ trên giấy thôi chứ không thực hiện được trên đời sống
Đại biểu QH Dương Trung Quốc
Đại biểu QH Dương Trung Quốc cho biết thêm ý kiến về dự án luật phòng chống rửa tiền:
“Khi đưa dự án luật phòng chống rửa tiền, gắn liền với nó là chống tài trợ cho khủng bố, tôi nghĩ trước nhất đó là một luật liên quan đến rất nhiều hoạt động tài chính nên tôi không phát biểu. Nhưng khi đặt vấn đề tôi thấy hình như luật nầy nó xa rời với thực tế của Việt Nam. Bởi vì rõ ràng việc chống rửa tiền là vấn đề chung của toàn thế giới, đương nhiên Việt Nam với quá trình hội nhập chúng ta cũng phải thực hiện cam kết chung.
Đặc điểm lớn nhất của Việt Nam mà bất cứ ai đến Việt Nam cũng đều nhận ra là tập quán sử dụng tiền mặt tồn tại hết sức phổ biến và hình như đương nhiên trong đời sống xã hội. Những nước khác xuất phát từ thực tiễn tài chính đều thông qua những tài khoản ngân hàng được kiểm soát rất chặt chẽ.
Việc chống rửa tiền chủ yếu là điều chỉnh và quản lý cánh cửa rất hẹp của ngân hàng. Ở Việt Nam điều đó vô nghĩa. Trong hoàn cảnh hiện nay Việt Nam là nơi rửa tiền dễ nhất thế giới bởi không ai kiểm soát thu nhập của người dân, không ai kiểm soát nguồn tài chính trong các giao dịch tài chính, thì làm sao có thể giám sát được. Vì thế chúng tôi nghĩ rằng hình như việc cố gắng thông qua sớm dự án luật nầy là do sức ép của các cam kết quốc tế về hai phương diện là chống rửa tiền và tài trợ khủng bố. Tôi nghĩ là nội dung của dự thảo luật đưa ra không những không thực tế mà còn không hiệu quả.
Việt Nam có pháp lệnh, văn bản dưới luật mà có thực hiện được đâu. Chúng ta không nên bị sức ép của cam kết quốc tế, mà phải dựa vào thực tiễn của Việt Nam để đưa ra lộ trình thích hợp, để chúng ta thực sự điều chỉnh được việc rửa tiền và chống hoạt động tài trợ cho khủng bố. Nếu bộ luật nầy đưa ra theo văn bản đại khái, thì nó chỉ trên giấy thôi chứ không thực hiện được trên đời sống.”

Kỹ thuật lập pháp

Nếu chỉ riêng ngành ngân hàng thôi, tôi cho rằng kỹ thuật lập pháp của dự thảo có những vấn đề cần xem lại
LS Nguyễn Văn Hậu

Cơ quan tối cao về tiền tệ: Ngân hàng Trung ương- RFA photo
Cơ quan tối cao về tiền tệ: Ngân hàng Trung ương- RFA photo
Còn LS Nguyễn văn Hậu thì cho rằng:
Tôi cho rằng luật phòng chống rửa tiền nầy xuất phát từ yêu cầu cần thiết của Việt Nam, bởi vì việc phòng chống tham nhũng và phòng chống các tội phạm khác ở Việt Nam đang đặt ra những bức xúc, nhất là chống lại những khoản thu nhập lớn, những khoản thanh toán, mua bán, cất giữ không có nguồn gốc rõ ràng nó đang diễn ra rất là phức tạp.
Từ khi Việt Nam gia nhập WTO, Việt Nam cũng gia nhập vào nhiều tổ chức quốc tế khác. Vậy sự ra đời của luật này tôi cho là có tính kế thừa nội dung nghị định 74 về phòng chống rửa tiền và luật hóa các điều ước quốc tế liên quan.
Nhưng tôi thấy trong luật nầy còn có nhiều điều cần góp ý. Ví dụ, bên cạnh đó phải ban hành luật phòng chống khủng bố nữa. Thứ hai, là chúng ta chỉ mới bàn đến vấn đề của ngân hàng thôi, nhưng các biện pháp liên quan đến quyền cơ bản của công dân, như quyền bí mật riêng tư trong dự thảo luật chưa xây dựng”
Về việc giao cho ngành ngân hàng soạn thảo luật phòng chống rửa tiền, thì LS Hậu có ý kiến:
Tôi nghĩ nếu giao riêng cho ngành ngân hàng soạn thảo luật nầy thì sẽ không bao quát hết. Phải nên giao cho liên ngành, thí dụ như ngoại giao, công an, một số ngành thanh tra và một số ngành khác, phải có cái nhìn tổng hợp về luật pháp Việt Nam. Nếu chỉ riêng ngành ngân hàng thôi, tôi cho rằng kỹ thuật lập pháp của dự thảo có những vấn đề cần xem lại
Trước thềm WTO, các nhà chuyên môn đã có khuyến cáo về chuyện rửa tiền một khi VN hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới. Hơn 4 năm sau, dự án luật phòng chống rửa tiền mới được đặt lên bàn của ngành lập pháp VN để xem xét. Có thể chưa muộn. Nhưng nếu bỏ sót đối tượng bị điều chỉnh và không bao quát hết các ngõ ngách tinh vi của luồng tiền bẩn, thì vẫn theo ý kiến của các nhà chuyên môn, luật chỉ mới đáp ứng về cam kết của VN đối với các tổ chức quốc tế liên quan, còn trên thực tế vẫn chưa giải quyết được vấn đề.http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/vn-money-laundering-12122011152500.html

Cách mạng tại châu Á : Phải chăng hương sen lan tỏa chậm hơn hương nhài?

2011 : Cách mạng Hoa Sen tại châu Á

Lãnh tụ đối lập Miến Điện Aung San Suu Kyi phát biểu tại Rangoon ngày 10/12/2011 trong lễ kỷ niệm 20 năm được trao giải Nobel hòa bình.
Lãnh tụ đối lập Miến Điện Aung San Suu Kyi phát biểu tại Rangoon ngày 10/12/2011 trong lễ kỷ niệm 20 năm được trao giải Nobel hòa bình.
REUTERS/Soe Zeya Tun


Giới báo chí thường hay thi vị hóa, hình tượng hóa các cuộc cách mạng trên thế giới. Làn gió cuộc cách mạng hồi mùa Xuân 2011, được ví von là cách mạng Hoa Nhài, đã thổi bay một vài chế độ độc tài, toàn trị trong thế giới Ả Rập và ở châu Phi. Tại châu Á, làn sóng dân chủ hóa, tuy lan tỏa chậm, được gọi là cuộc cách mạng Hoa Sen, cũng đã gặt hái được những thành công, đặc biệt là trường hợp của Miến Điện.

Từ cuối năm ngoái đến nay, đất nước Miến Điện đã chứng kiến nhiều thay đổi ngoạn mục : Tổ chức tổng tuyển cử, cho dù phương Tây coi đây là một trò hề, lãnh đạo đối lập, giải Nobel Hòa bình Aung Sann Suu Kyi được trả tự do, tập đoàn quân sự cầm quyền tự giải tán và một chính phủ “dân sự” được thành lập mặc dù Tổng thống và các thành viên chủ chốt trong chính phủ này là cựu tướng lĩnh. Khoảng 200 tù chính trị được thả, chính quyền ban hành luật biểu tình, luật đình công, thừa nhận quyền lập công đoàn, bãi bỏ một số chính sách kiểm duyệt báo chí, Tổng thống Miến Điện khẳng định đã lắng nghe ý kiến của người dân khi quyết định đình chỉ việc xây dựng một con đập do Trung Quốc tài trợ…
Đương nhiên, con đường đưa Miến Điện tới đích dân chủ hóa thật sự vẫn còn dài. Đất nước này còn chịu ảnh hưởng nặng nề của Trung Quốc và hiện vẫn có từ 500 đến 1.600 tù chính trị bị giam cầm.
Giới phân tích tỏ thái độ thận trọng nhưng đồng thời cũng thừa nhận là xu hướng cải cách tại Miến Điện là không thể đảo ngược được.
Ông Jim Della-Giacoma, giám đốc dự án Đông Nam Á, thuộc tổ chức International Crisis Group, được AFP trích dẫn, nhận định: “Những nhượng bộ nhỏ nhoi mà chúng ta đã nhìn thấy nằm trong đà chuyển đổi rộng lớn cho thấy là các cuộc cải cách quan trọng sẽ diễn ra trong tương lai”.
Bà Bridget Welsh, chuyên gia phân tích chính trị tại Đại học Quản trị Singapore (Singapore Management University) khẳng định rằng ngoài trường hợp Miến Điện, xu hướng mở cửa cũng đã xuất hiện tại một số quốc gia vốn được coi là những nước khép kín nhất khu vực châu Á. Bà dự báo: “Nếu như tiến bộ đã xuất hiện tại những góc tối nhất của nền dân chủ thì điều chắc chắn là tiến bộ sẽ hiện diện tại những nơi có ánh sáng”.
Trong cuộc bầu cử hồi tháng Năm vừa qua, Đảng Nhân dân Hành động (PAP), cầm quyền ở Singapore từ nửa thế kỷ qua, thu được tỷ lệ phiếu bầu ủng hộ thấp nhất kể từ khi quốc đảo này giành độc lập, trong khi đó số đại diện của phe đối lập tại nghị viện đã tăng gấp ba, cho dù chính quyền nước này vẫn áp dụng chính sách hạn chế các quyền tự do chính trị.
Tại Malaysia, hồi tháng Bẩy, hàng ngàn người đã biểu tình ở thủ đô Kuala Lumpur để đòi cải cách bầu cử. Các cuộc biểu tình đã bị trấn áp mạnh mẽ, thế nhưng Thủ tướng Najib Razak buộc phải thông báo hủy bỏ đạo luật về an ninh quốc nội (ISA), vốn được áp dụng từ khoảng 50 năm qua và cho phép giam giữ người mà không cần xét xử. Sắp tới, nhiều đạo luật hạn chế hoặc vi phạm các quyền tự do của công dân cũng sẽ được xóa bỏ.
Giải thích về những thay đổi tại châu Á, chuyên gia Ernest Bower, thuộc Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế và Chiến lược (Center for Strategies and International Studies – SCIS) cho rằng “các chính phủ này tiến hành cải cách để tiếp tục nắm quyền” chứ không phải để chia sẻ quyền lực với phe đối lập và bảo đảm tiến trình thay đổi chính trị.
Thế nhưng, tại châu Á, vẫn còn nhiều nơi mà hương sen chưa lan tỏa tới. AFP nêu trường hợp của Trung Quốc, Việt Nam và Bắc Triều Tiên. Những nước này tiếp tục củng cố chế độ độc đảng lãnh đạo, trấn áp giới ly khai, tăng cường kiểm soát các phương tiện truyền thông và người dân.
Lo ngại ảnh hưởng của cuộc cách mạng Hoa Nhài trong thế giới Ả Rập lan sang Trung Quốc, đặc biệt qua internet, từ đầu năm nay, chính quyền Bắc Kinh đã tiến hành chiến dịch bắt giữ, giam cầm các nhà ly khai. Trong tháng Hai, an ninh Trung Quốc đã thẳng tay giải tán các cuộc tụ tập theo lời kêu gọi được đăng trên internet, đến từ các tổ chức ẩn danh. Từ đó đến nay, giới ly khai Trung Quốc bị bịt miệng. Tuy vậy, giáo sư Hồ Tinh Đẩu, ở Học viện Công nghệ Bắc Kinh vẫn tỏ ra lạc quan: “Làn sóng dân chủ rất cao … và Trung Quốc sẽ phải theo phong trào này”.
Câu hỏi mà giới quan sát đặt ra là những thay đổi, cải cách ở châu Á sẽ diễn ra theo nhịp độ nào? Phải chăng hương sen lan tỏa chậm hơn hương nhài?

Đức Tâm

http://www.viet.rfi.fr/auteur/duc-tam

“Chỉ Có Người Mỹ Bại Trận”

 “Chỉ Có Người Mỹ Bại Trận”
Vòng hoa cho các anh hùng tử sĩ Nam, Bắc quân mỗi dịp Noel về tại nghĩa trang Arlington National – Washington D.C. Hoa Kỳ.
Bài đọc suy gẫm:   “Chỉ Có Người Mỹ Bại Trận” tức “Xây dựng lòng yêu nước từ bài học của người Mỹ và người Nhật” của Phạm Hoài Nam. Hình ảnh chỉ có tính cách minh họa.
Ai cũng biết chỉ có lòng yêu nước mới có thể giúp cho dân tộc VN thoát ra khỏi bế tắc hiện nay và để được sống đúng với nhân phẩm con người. 
Sự khác biệt về giàu nghèo, có hãnh diện về đất nước của mình hay không – chủ yếu là do lòng yêu nước mà ra.  Cũng vì lòng yêu nước mà từ đầu thế kỷ 18, đã có những phong trào trí thức người Nhật tìm cách thoát khỏi quỹ đạo văn hóa của người Trung Hoa, đứng đầu là hai nhà tư tưởng Ogyo Sorai và Motoori Norinaga.
Lòng yêu nước đã thúc đẩy người Nhật đi khắp bốn phương học hỏi những tinh hoa của thế giới trở về tạo ra cuộc cách mạng Minh Trị Duy Tân để bắt kịp các nước Tây Phương và thoát được thân phận nô lệ.
-Lòng yêu nước đã khiến cho người Nhật phải biết nhẫn nhục chịu đựng, cố gắng làm việc để vươn lên từ đống tro tàn.
-Lòng yêu nước đã thúc đẩy người Nhật đồng lòng chung sức đương đầu trong cơn khốn khó như cuộc động đất vừa mới xảy ra tại Sendai vào đầu năm nay.
-Lòng yêu nước đã nhắc nhở người Nhật phải luôn luôn gìn giữ thể diện dân tộc…
Và chính lòng yêu nước đã tạo ra một nước Nhật vĩ đại…
Sự khác biệt giữa đất nước chúng ta và nước Nhật cũng chính từ sự khác biệt về lòng yêu nước. Cùng là một nước ở Á Châu, diện tích, dân số, tài nguyên gần như nhau nhưng một nước thì giàu có và được cả thế giới kính nể, còn nước kia thì ngược lại…
Làm sao để xây dựng lại lòng yêu nước? Đây là câu hỏi mà những ai còn có chút quan tâm đến đất nước đều phải ưu tư suy nghĩ.
Trước khi trả lời câu hỏi đó, thiết nghĩ chúng ta phải đặt câu hỏi: tại sao lòng yêu nước của người Việt Nam suy sụp?. Phải chăng nó phát xuất từ hệ lụy của một nền văn hóa yếu kém, những chế độ chính trị khắt nghiệt, những chính sách cai trị thất nhân tâm và những đổ vỡ liên tục của niềm tin!!!.
Lòng yêu nước và niềm hãnh diện dân tộc có mối liên hệ mật thiết với nhau. Người ta không thể hãnh diện về những gì mà mình không yêu thương và cũng rất ít ai có thể yêu thương những gì mà mình không hãnh diện.
Người Việt Nam ngày nay không còn mấy ai hãnh diện về đất nước và dân tộc của mình, ngoài những yếu tố nêu trên, có thể vì trong chính con người Việt Nam của chúng ta, theo quan điểm của người viết, đã thiếu sót một phẩm cách vô cùng cần thiết – đó là tinh thần hào hiệp mã thượng.
Hãy nhìn lại suốt chiều dài lịch sử của đất nước, chúng ta có được bao nhiên tấm gương của tinh thần này, chúng ta chỉ có lập rồi phá chớ không có tiếp nối, và sau mỗi lần lật đổ một triều đại hay một chế độ là những cuộc giết hại công thần, thanh trừng đẫm máu, những sự trả thù tàn bạo, “nhổ cỏ phải nhổ cho tận gốc” chưa đủ mà có khi còn phải “tru di tam tộc” và nó tiếp tục như thế từ đời này sang đời khác.
Tinh thần hào hiệp mã thượng không phải chỉ thiếu sót ở người lãnh đạo mà càng rõ nét hơn trong những sinh họat tập thể của người Việt Nam, càng đứng trước những thử thách thì khuyết điểm này của người Việt Nam càng hiện ra rõ hơn.
Trong phạm vi ngắn gọn của bài viết này, người viết chỉ có tham vọng rất khiêm tốn là hy vọng rằng qua bài học về lòng yêu nước của người Mỹ và Nhật chúng ta có thể rút được vài điểm nào đó để tìm cách xây dựng lại lòng yêu nước của người Việt Nam.
     Bài học từ lòng yêu nước của người Mỹ
A. Cách đối xử giữa người thắng trận và người bại trận sau cuộc Nội chiến
Nước Mỹ chỉ mới lập quốc được có 235 năm, một đất nước rất trẻ so với nhiều nước khác trên thế giới trong đó có nước VN, nhưng người Mỹ có cả ngàn lý do để họ hãnh diện về đất nước của mình. Từ những người đầu tiên viết ra bản hiến pháp xác nhận một chính quyền thật sự vì dân và do dân, trong đó quyền tự do là quyền thiêng liêng không thể tước đoạt, cho đến vị Tổng thống đầu tiên George Washington, mặc dầu có công lãnh đạo dành lại độc lập từ người Anh, nhưng vẫn một mực làm đúng 2 nhiệm kỳ như hiến pháp đã quy định, cho đến một Abraham Lincoln cam đảm bãi bỏ chế độ nô lệ dù phải trả giá bằng cuộc nội chiến, cho đến một Franklin Roosevelt chấp nhận mọi thử thách đứng về phía chính nghĩa để chống lại chế độ Phát xít cho dù chiến tranh xảy ra bên kia bờ Đại Tây Dương, cho đến một Ronald Reagan quyết tâm khôi phục lại lòng tự tin của người Mỹ sau cuộc chiến VN bằng lòng yêu nước mãnh liệt của mình…. Và vô số những tấm gương khác, từ đủ mọi thành phần trong xã hội. Trong bất cứ thời đại nào, người Mỹ không bao giờ thiếu những con người giàu lòng nhân ái như John Rockefeller, như Bill Gate, như Warren Buffett, như Steve Jobs (vừa mới qua đời)… Họ là những người vượt qua khỏi biên giới hạn hẹp của quốc gia, của màu da chủng tộc, chủ nghĩa…để nghĩ đến nỗi bất hạnh của người nghèo khổ trên toàn thế giới.
Trong lịch sử của nước Mỹ, biến cố gây ấn tượng mãnh liệt nhất, có lẽ là cách mà tổ tiên của họ đã đối xử với nhau sau cuộc Nội chiến Nam-Bắc chấm dứt vào năm 1865.
Vào ngày 7/5/1975, có nghĩa là chỉ có 1 tuần sau khi quân đội Miền Bắc chiếm được Miền Nam, trong lễ ăn mừng chiến thắng tướng Trần Văn Trà đã nói trước mặt mọi người: “Trong cuộc chiến này, cả Miền Bắc và Miền Nam đều chiến thắng, chỉ có người Mỹ bại trận”.
Không biết vô tình hay chủ ý, câu nói này tương tự như lời phát biểu của Tướng Ulysses Grant sau khi tướng Lee tuyên bố đầu hàng và Tướng Grant đã ghi lại trong quyển hồi ký của mình “Personel Memoir of U. S. Grant”: “Trong cuộc chiến này, chỉ có nước Mỹ chiến thắng, chớ không có ai thắng ai thua. ”
Hai câu nói hình thức gần giống nhau nhưng ý nghĩa lại khác nhau hoàn toàn: Tướng Grant nói thật lòng mình để xoa dịu nỗi đau khổ của người bại trận sau cuộc nội chiến kéo dài bốn năm. Trái lại câu nói của tướng Trần Văn Trà là câu nói mị dân, nằm trong mục đích tuyên truyền của chế độ để gạt tất cả những quân dân cán chính của VNCH, tin vào chính sách “khoan hồng của Đảng”, tin rằng chỉ có 10 ngày “học tập”, nhưng sau đó ra đi không biết ngày trở lại và mãi đến hôm nay sự trả thù như thế vẫn chưa chấm dứt.
Tướng Robert Lee đang ký văn bản đầu hàng, hình dưới là 2 vị tướng bắt tay nhau với lòng kính trọng.
Có một điểm đặc biệt là trong cách thể hiện lòng yêu nước của người Mỹ đều có chan chứa tinh thần hào hiệp mã thượng.  Nói về tinh thần hào hiệp mã thượng của người Mỹ, cựu thủ tướng Tony Blair của Anh, trong quyển hồi ký “The Journey” mới xuất bản gần đây đã viết như sau:
“Trong phẩm cách của người Mỹ có tinh thần mã thượng hào hiệp, được hun đúc qua nhiều thế kỷ, phát xuất từ tinh thần khai phá biên cương để lập nghiệp, và nhiều đợt di cư của các sắc dân khắp thế giới đổ về đây, từ cuộc chiến đấu để dành độc lập, đến cuộc nội chiến, từ nhiều biến cố lịch sử, cũng như những sự kiện tình cờ. Tất cả đã làm thành một nước Mỹ vĩ đại.
Cái tinh mã thượng hào hiệp này, không có nghĩa là người Mỹ tử tế hay thành công hơn những dân tộc khác. Nó chính là cảm nghĩ của họ về đất nước của mình. Chính lòng nhiệt tình đối với xứ sở đã phá bỏ được những ngăn cách về màu da, giai cấp, tôn giáo hay quá trình trưởng thành. Lý tưởng của người Mỹ là những giá trị đạo đức mà họ ấp ủ. Lý tưởng này gồm có tự do cá nhân, tôn trọng luật pháp, dân chủ. Nó cũng nằm trong quá trình thành đạt của mỗi cá nhân: hễ giỏi là được trọng dụng, phải tự làm lấy và nếu siêng năng chịu khó tất sẽ thành công. Song có lẽ điểm quan trọng nhất phải nói là mọi người Mỹ đều ao ước duy trì cho được những giá trị trên và ráng bảo vệ những giá trị đó. Họ coi những giá trị đó là ưu tiên hàng đầu cho cá nhân mình, sau đó là cho đất nước. Chính những giá trị đạo đức này giúp cho nước Mỹ cương quyết sẵn sàng đương đầu với khó khăn thử thách. Vì những lý tưởng đó mà binh lính Mỹ chấp nhận hy sinh. Vì nó mà mọi người Mỹ, dù giàu sang hay nghèo hèn đều sẵn sàng đứng nghiêm trang chào khi bản quốc ca “The Star-spangled Banner” được trỗi lên. Dĩ nhiên là những lý tưởng đó không phải lúc nào cũng thực hiện được, song mọi người Mỹ đều cố gắng thực thi cho bằng được. ”(1)
Nếu cuộc nội chiến Quốc-Cộng vừa qua đã để lại hệ lụy phân hóa kéo dài đến ngày hôm nay, thì sau cuộc Nội chiến Nam-Bắc Mỹ đã làm cho người Mỹ yêu nước hơn, đoàn kết hơn và hãnh diện về đất nước của mình nhiều hơn.
Họ hãnh diện không phải chỉ vì bãi bỏ được chế độ nô lệ, đúng với nguyện vọng mà tổ tiên họ đã đề ra trong Bản Tuyên Ngôn Độc Lập: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng”, mà còn hãnh diện vì tinh thần hào hiệp mã thượng được thể hiện bởi người chiến thắng lẫn người chiến bại sau khi cuộc chiến kết thúc.
Không có một hình ảnh nào đẹp hơn hình ảnh tướng Robert E. Lee gặp tướng Ulysses S. Grant tại Thị Xã Appamatox, thuộc tiểu bang Virginia ngày 9 tháng 4 năm 1864.
Ulysses S. Grant (trái) và Tướng Robert E. Lee
Trước đó một ngày, tướng Lee chỉ còn trông chờ vào chiến thắng của một tướng trẻ can trường, để hy vọng tìm cách xoay chuyển được tình thế, nhưng khi hay tin tướng Gordon đã bị đánh bại, mọi hy vọng của Tướng Lee coi như tiêu tan. Quân của tướng Lee tại tiểu bang Virginia đang bị bao vây tứ phía, tiến không được mà lùi cũng không xong. Binh sĩ đã kiệt sức, lương thực đã cạn, đạn dược đã hết và nguồn tiếp tế cũng bị cắt đứt. Trong tình huống đó ông không còn chọn lựa nào khác là phải triệu tập bộ Tham mưu và nói thật ngắn gọn: “Tôi sẽ đến gặp tướng Grant, cho dù điều đó quá nhục nhã đối với tôi” (nguyên văn câu nói của ông: I will go and see General Grant and I would rather die a thousand deaths). Ngay lập tức ông đích thân soạn một lá thư gởi tướng Grant để yêu cầu sắp xếp một buổi gặp mặt càng sớm càng tốt vì ông không muốn hy sinh thêm bất cứ một sinh mạng nào nữa. Tại địa điểm hẹn gặp nhau, tướng Lee đến trước bằng ngựa với một sĩ quan tùy viên, hiên ngang trong trong bộ quân phục màu xanh dương, bên hông mang kiếm, thể hiện khí phách của người anh hùng dù bại trận vẫn không khuất phục. Khoảng nửa giờ sau tướng Grant, đại diện cho quân đội chiến thắng Miền Bắc tới. Ông mặc quân phục như một người lính bình thường, giày và quần vẫn còn dính bùn, không đeo kiếm. Hai người chào nhau, và tướng Grant tiếp tướng Lee thân mật như giữa một người Mỹ với một người Mỹ, chớ không phải giữa một người chiến thắng với kẻ chiến bại. Với ông làm nhục một người bại trận dù với bất cứ lý do gì cũng là làm nhục nước Mỹ. Sau này ông thú nhận là lúc đầu ông phải nói chuyện dài dòng với tướng Lee, nhắc lại những kỷ niệm xưa khi hai người cùng chiến đấu chung với nhau trong trận chiến Mexico, lý do là vì ông rất ngần ngại và thực sự hổ thẹn khi phải nói với Tướng Lee về chuyện đầu hàng. Cuối cùng chính tướng Lee là người đã nêu ra mục đích của buổi gặp mặt, và yêu cầu tướng Grant đích thân thảo bản văn kiện đầu hàng. Thật sự thì văn kiện đầu hàng Tướng Grant đã soạn sẵn trước khi đến điểm hẹn và tự tay trao cho tướng Lee xem lại. Đọc qua xong, lần đầu tiên gương mặc của tướng Lee tươi hẳn lên khi biết rằng binh sĩ dưới quyền ông được trở về nguyên quán sinh sống như một người dân bình thường, không phải chịu bất cứ một hình thức trả thù nào. Ông nói: “Điều này có một tác động rất tốt đối với tất cả mọi người, đặc biệt là sẽ giúp rất nhiều cho người của chúng tôi. “
Tuy nhiên ông có thêm 2 yêu cầu:
1/ Cho phép binh sĩ của ông được mang ngựa, lừa về quê quán để sử dụng trong nông trại, vì không giống như quân đội miền Bắc, đây là tài sản của riêng họ mang theo khi gia nhập quân đội.
2/ Ông đang giam giữ hơn một ngàn tù binh quân đội miền Bắc và không còn lương thực cho họ, ngay cả binh sĩ của ông cũng đang đói.
Cả hai yêu cầu này của tướng Lee đều được tướng Grant đồng ý ngay lập tức. Riêng yêu cầu thứ hai, tướng Grant ra lệnh cung cấp ngay cho các tù binh và binh sĩ miền Nam 25, 000 khẩu phần ăn.
Tướng Grant hỏi: “Như vậy, đủ chưa?”
Tướng Lee trả lời: “Thưa đại tướng, như vậy là quá đủ. “
Nói xong tướng Lee đứng dậy bắt tay tướng Grant, nghiêng người chào mọi người rồi bước ra khỏi phòng họp. Bên ngoài hội trường các sĩ quan và binh sĩ miền Bắc đang có mặt đều đưa tay kính cẩn chào vị tướng bại trận.
Trên đường trở về doanh trại, các binh sĩ miền Nam nghiêm chào vị tướng lãnh mà họ ngưỡng mộ, có người đã bật khóc, tướng Lee cũng không cầm được nước mắt. Về đến doanh trại, trước mặt nhiều sĩ quan và binh sĩ đang chờ đợi, tướng Lee nói: “Tôi đã cố gắng làm tất cả những gì có thể làm được. Các anh em hãy trở về quê quán bây giờ và nếu sống được như những công dân tốt như các anh em đã từng chiến đấu như những chiến sĩ thì các anh em sẽ thành công. Tôi luôn luôn hãnh diện vì các anh em. Chào tạm biệt. Thượng đế phù trợ cho tất cả. ” (Boys, I have done my best for you. Go home now. And if you make as good citizens as you have soldiers, you will do well. I shall always be proud of you. Goodbye. And God bless you all. )
Tin đầu hàng của tướng Lee lan ra nhanh chóng, tiếng súng của binh sĩ Miền Bắc vang lên khắp nơi để reo mừng chiến thắng. Ngay lập tức tướng Grant ra lệnh phải ngưng ngay tức khắc: “Quân đội miền Nam đã đầu hàng. Chiến tranh đã chấm dứt. Họ là đồng bào của chúng ta, chúng ta không được phép reo mừng trên chiến bại của họ. ”
Theo điều kiện trong văn kiện đầu hàng, ngày 12 tháng 4 là ngày quân đội Miền Nam sẽ nộp súng ống và cờ xí cho quân đội Miền Bắc. Tướng Grant giao việc này cho Đại tá Joshua Chamberlain phụ trách. Còn phía Miền Nam thì tướng Gordon nhận trách nhiệm. Ngày hôm ấy đã xảy ra một cảnh tượng hết sức cảm động. Khi các binh sĩ Miền Nam đi theo đội ngũ tới địa điểm để giao súng ống và cờ xí, Đại tá Chamberlain đã ra lệnh binh sĩ của mình đứng nghiêm chào các anh hùng bại trận đang đi ngang qua để bày tỏ lòng kính trọng. Sau này tướng Gordon đã ghi lại như sau: “Trong giây phút đó, không hề có một tiếng kèn hay tiếng trống, không một tiếng reo mừng, không một lời nói, không cả một tiếng thì thầm, không một cử động, nhưng là một sự tĩnh lặng khủng khiếp, mọi nhịp thở như ngừng lại và như thể họ đang nhìn những hồn tử sĩ đi qua” và ông gọi Chamberlain là “người sĩ quan hào hiệp nhất của quân đội Miền Bắc. ”
Sau 4 năm nội chiến đã làm 620 ngàn người thiệt mạng và hàng triệu người bị thương, các đô thị ở miền Đông Bắc Hoa Kỳ bị tàn phá nặng nề và đương nhiên cũng không khỏi những đắng cay của người bại trận. Nhưng những người lãnh đạo của bên thắng trận lẫn bên bại trận đều lấy tình dân tộc, sự bao dung rộng lượng và lòng hào hiệp để đối xử với nhau. Chính điều này đã làm cho người Mỹ vô cùng hãnh diện về xứ sở của mình.
Sau cuộc chiến, những người lãnh đạo kế tiếp của nước Mỹ vẫn làm theo tinh thần của tướng Lee và tướng Grant, họ không bao giờ bàn đến đến chuyện ai đúng ai sai, ai chính nghĩa, ai không chính nghĩa, mà chỉ nghĩ đến làm sao để hàn gắn lại vết thương của chiến tranh và xây dựng lại đất nước. Các nghĩa trang dành cho liệt sĩ bắt đầu được dựng lên ở hai miền đất nước, bên nào bên đó tự lo lấy, xấu đẹp tùy sức.
Ngày nay khi viếng thăm Nghĩa Trang Arlington ở thủ đô Washington DC, chúng ta sẽ thấy khu nghĩa trang dành cho binh sĩ Miền Bắc và Miền Nam đều trang nghiêm giống nhau và trong tất cả các bảo tàng viện khắp nước Mỹ, hình ảnh quân đội hai bên được trưng bày trân trọng như nhau, để nhắc nhở người Mỹ xem đó như một bài học cho các thế hệ mai sau.
Trên nóc Tòa Quốc Hội Hoa Kỳ hiện nay có một bức tượng phụ nữ cao 10 mét – tượng trưng cho hình ảnh bà mẹ của Miền Nam có con hy sinh trong cuộc nội chiến.
Bốn năm sau cuộc nội chiến, tướng Grant đắc cử tổng thống và làm 2 nhiệm kỳ (1869-1877), còn tướng Lee vẫn tiếp tục giữ nhiều chức vụ quan trọng trong chính phủ liên bang.
Tướng Lee dù là tướng bại trận, không giữ được chức vụ cao như tướng Grant, nhưng bù lại, càng về cuối đời, tình cảm và lòng kính trọng của người Mỹ dành cho ông càng tăng lên, có thể nói còn cao hơn cả tướng Grant. Ngày nay tượng đài của tướng Lee có mặt nhiều nơi trên nước Mỹ và Robert Lee là tên đường quen thuộc trên một đất nước luôn luôn cố gắng lấy “lòng bao dung xóa bỏ hận thù”.
Nhận xét về con người của tướng Lee, sử gia Benjamin Harvey Hill đã viết như sau:
“Tướng Lee là một đối thủ không có thù hận; một người bạn không phản bội, một người lính không tàn ác, một nạn nhân không than khóc. Một sĩ quan không sa đọa, một công dân không làm điều sai trái, một láng giềng không chỉ trích, một người Công giáo không đạo đức giả, một con người không thủ đoạn. Ông là một Caesar không có tham vọng, một Frederick không có chuyên quyền, một Napoleon không ích kỷ và một Washington không có phần thưởng. “
(General Robert Lee is a foe without hate; a friend without treachery; a soldier without cruelty; a victor without oppression, and a victim without murmuring. He was a public officer without vices; a private citizen without wrong; a neighbour without reproach; a Christian without hypocrisy, and a man without guile. He was a Caesar, without his ambition; Frederick, without his tyranny; Napoleon, without his selfishness, and Washington, without his reward)
Thật khó có người nào được lời khen như thế, nhưng đó là con người thật của Robert Lee. Với những người lãnh đạo như thế đương nhiên quốc gia họ phải hùng mạnh.
Tưởng cũng nên nhắc lại là khi cuộc nội chiến vừa mới xảy ra, tướng Lee được đề cử chỉ huy quân đội Miền Bắc nhưng ông đã từ chối và gia nhập quân đội Miền Nam, vì ông nói rằng ông không thể phản bội lại cái nơi mà ông đã sinh ra và lớn lên.
B. Cách đối xử của người Mỹ với cựu thù Nhật Bản sau Đệ Nhị Thế Chiến.
Quả bom nguyên tử thả xuống đất Nhật Bản năm 1945.


Tướng Grant và Tướng Lee đối xử với nhau hết sức tử tế sau cuộc chiến, có thể giải thích vì là người cùng một nước, cùng hấp thụ một nền văn hóa, cùng một màu da, cùng một ngôn ngữ, và cùng nghĩ đến tương lai của đất nước Hoa Kỳ, nhưng đến trường hợp người Mỹ đối xử tử tế không kém đối người Nhật sau Đệ Nhị Thế Chiến thì chắc chắn không phải vì những lý do nêu trên. Người Mỹ hành xử như thế chỉ vì lòng hào hiệp mã thượng cố hữu mà họ đã hấp thụ từ thế hệ này sang thế hệ khác và đã ăn sâu vào máu xương. Trong lúc đó, người Nhật dù bại trận nhưng vẫn không để mất tinh thần võ sĩ đạo samurai, lòng yêu nước và lòng tự trọng của dân tộc.
Trước khi Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng, Nhật và Mỹ vẫn còn là hai nước kẻ thù không đội trời chung. Trong 4 năm chiến tranh ác liệt tại Thái Bình Dương, đã làm cho người Mỹ hy sinh khoảng 360, 000 binh sĩ và nhiều vết thương khác, nhưng điều đó không làm cho họ nuôi mối thù với người Nhật sau khi chiến tranh chấm dứt.
Hai quả bom nguyên tử rớt xuống Hiroshima và Nagasaki đã làm cho 150, 000 người chết ngay lập tức, nhưng không vì thế mà người Nhật nuôi mối căm hờn. Trái lại cả người Mỹ và người Nhật cùng hợp tác để xây dựng lại một nước Nhật từ đống tro tàn.
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, trên chiến hạm Missouri, đại diện của các nước Đồng Minh và chính phủ Nhật Bản chính thức ký văn kiện đầu hàng.
Sau khi ký xong, đại diện của Đồng Minh là tướng MacArthur đọc bài diễn văn ngắn gọn, nhưng chứa đựng tất cả tinh thần cao thượng của người Mỹ, ông kết bài diễn văn như sau: “Đây là hy vọng thiết tha nhất của tôi, và thật sự cũng là hy vọng của toàn thể nhân lọai, rằng từ sự kiện trang nghiêm này một thế giới tốt đẹp hơn sẽ hiện ra từ máu và sự chém giết nhau trong quá khứ – một thế giới sẽ phục sự cho nhân phẩm con người và để hòan thành ước nguyện cao cả nhất cho Tự do, Lòng bao dung và Sự công bằng. ”.
(It is my earnest hope, and indeed the hope of all mankind, that from this solemn occasion a better world shall emerge out of the blood and carnage of the past – a world dedicated to the dignity of man and the fulfillment of his most cherished wish for freedom, tolerance and justice).
MacArthur không phải chỉ nói như thế để xoa dịu nỗi đau khổ của người Nhật lúc đó, hay vì phép lịch sự của một nhà ngoại giao, mà ông nói thật lòng mình. Gần 6 năm cai trị nước Nhật đã chứng minh rằng ông không phải chỉ làm có thế, mà còn làm nhiều hơn thế nữa. Ông đã giúp cho nước Nhật vượt qua được cơn khốn khó, trở thành một quốc gia độc lập, tự do, dân chủ và đặt nền tảng cho một cường quốc kinh tế sau này.
Tướng MacArthur thay mặt cho người Mỹ cai trị từ ngày 15/8/1945 cho đến ngày 11/ 4/1951 với tư cách là Tổng Tư Lệnh Tối Cao của các lực lượng Đồng Minh (the Supreme Commander of the Allied Powers), nói là lực lượng Đồng Minh nhưng thật sự là chỉ có quân đội Mỹ. Ngay sau khi đặt chân đến Tokyo, MacArthur ra lệnh cho các binh sĩ dưới quyền ông không được trả thù người Nhật vì bất cứ lý do gì và ưu tiên hàng đầu của ông phải lo cho người dân Nhật qua khỏi cơn đói rách do các hậu quả của chiến tranh.
Việc chọn lựa tướng Tướng MacArthur trong vai trò này là một quyết định sáng suốt của Tổng Thống Truman và là một may mắn cho người Nhật. Trong số tướng lãnh của Mỹ lúc bấy giờ, MacArthur là người có hiểu biết nhiều nhất về văn hóa Nhật Bản, cuộc đời binh nghiệp của ông trải qua phần lớn ở Á Châu. Chính yếu tố này giúp ông dễ dàng thực hiện các cải tổ cần thiết cho nước Nhật và được người Nhật kính trọng mặc dầu truyền thống của Nhật Bản khó có thể chấp nhận ngoại quốc cai trị mình.
Thành phố Hisroshima trước và sau khi bị hứng chịu trái bom nguyên tử. Cột nấm khói sau khi nổ bốc cao tới 18 Km.

MacArthur là một trong những danh tướng lỗi lạc nhất trong lịch sử của nước Mỹ. Ông tốt nghiệp thủ khoa của trường Võ Bị West Point và cho đến ngày nay chỉ có 2 người tốt nghiệp cao điểm hơn ông. Ông tham gia cả ba trận chiến lớn: Đệ Nhất Thế Chiến, Đệ Nhị Thế Chiến và Cuộc Chiến Cao Ly. Trong bất cứ hoàn cảnh nào ông đều thể hiện là người chỉ huy can trường và bản lãnh, nhưng quan trọng hơn thế nữa ông còn là một người Mỹ kiểu mẫu, một người Mỹ mang lý tưởng của tinh thần hào hiệp, cho dù đối với kẻ thù.
Trong 5 năm rưỡi điều hành nước Nhật, MacArthur đã thực hiện những cải cách toàn diện về hành chánh, xã hội, giáo dục, cách thức bầu cử và điền địa (land reform)… Về phương diện kinh tế ông chủ trương một mô hình kinh tế tự do cạnh tranh giống như ở Mỹ và khuyến khích người Nhật tham gia vào thương trường để tạo ra một tầng lớp trung lưu.
Hiến pháp mà nước Nhật sử dụng cho đến ngày hôm nay là do MacArthur và bộ tham mưu soạn thảo. Hiến pháp mới này dựa Hệ thống của Anh (Westminster System). Trong đó những quyền tự do của con người được tôn trọng triệt để. Hiến pháp này cũng xác định là Nhật Hoàng chỉ là biểu tượng tinh thần giống như Vua hay Nữ Hoàng của Anh.
Trong thời gian từ 1945 đến 1951, với chương trình viện trợ Marshall, người Mỹ đã đổ vào nước Nhật hàng tỉ đô la, cộng với những ý kiến sáng suốt và những chương trình cải cách thiết thực của Tướng MacArthur – đã để lại một dấu ấn sâu đậm và ảnh hưởng lâu dài đối với nước Nhật. Nhờ vậy chỉ 25 năm sau chiến tranh nước Nhật trở thành cường quốc kinh tế thứ nhì trên thế giới. Dĩ nhiên kết quả này phần lớn cũng do sự nỗ lực làm việc, sự hy sinh và tinh thần của dân tộc Nhật Bản.
 Hiroshima ngày nay.
Một quyết định sáng suốt khác của tướng MacArthur trong giai đoạn này là ông chống lại việc đưa Nhật Hoàng Hirohito ra Tòa Án Quốc Tế như một tội phạm chiến tranh sau khi chiến tranh chấm dứt. Bản án này nếu xảy ra sẽ từ chung thân tới tử hình.
Điều này không những chỉ gây một chấn động tâm lý mà còn là một sỉ nhục quá lớn đối với người Nhật. Nhật Hoàng là biểu tượng tinh thần của người Nhật. Phá vỡ biểu tượng này tức là phá vỡ kỹ cương truyền thống và cấu trúc xã hội của nước Nhật đã được gìn giữ liên tục trong suốt mấy ngàn năm.
Cuối cùng sau khi rời khỏi nước Nhật, tướng MacArthur chẳng những không bị oán ghét mà còn được dân Nhật xem như là một trong những người có công lớn trong việc xây dựng nên một nước Nhật hiện đại.
Khi nắm quyền quản trị nước Nhật, MacArthur có tham vọng sẽ biến nước này trở thành một nước Mỹ lý tưởng, một nước Thụy Sĩ của Á Châu. Tham vọng này cuối cùng không thành công trọn vẹn vì người Nhật không muốn để mất hồn tính dân tộc của mình.
Một cuốn sách nghiên cứu công phu của học giả Sakaiya Taichi, có tựa là “12 người lập ra nước Nhật”. Theo tác giả, đó là 12 người có ảnh hưởng sâu đậm nhất đối với nước Nhật và tác giả sắp xếp theo mức độ ảnh hưởng của từng người từ 1 đến 12.
Đây là một cuốn sách rất có giá trị và cũng rất thích thú để đọc. Có điểm đặc biệt là trong 12 người này, không có một danh tướng có công đánh đuổi ngọai xăm, tạo những chiến tích lẫy lừng hay thống nhất đất nước. Cũng không có vị vua khai quốc công thần, ngay cả Minh Trị Thiên Hoàng (người có công lớn nhất trong cuộc Cách Mạnh Duy Tân) cũng không có tên.
12 người mà tác giả Sakaiya Taichi chọn là những người có công đóng góp về tôn giáo, tư tưởng, là những người đã làm thăng hoa giá trị tinh thần của người Nhật. Họ cũng là những đưa ra những quan niệm về chính trị, kinh tế và xã hội cho nước Nhật mà ảnh hưởng của họ vẫn còn tồn tại đến ngày hôm nay.
Trong số này chỉ có một vị tướng và là một người ngọai quốc duy nhất – đó là tướng MacArthur. Đứng thứ 10 trong số 12 người, với các tựa bài là “MacArthur: Thí nghiệm biến Nhật Bản thành một “nước Mỹ lý tưởng””.
Danh tướng Douglas Mc. Arthur , tư lệnh mặt trận phía nam, Thái Bình Dương của Hoa Kỳ trong chiến tranh với người Nhật.


Tôi nghĩ rằng chọn lựa này vô tư và hợp lý và Tướng MacArthur rất xứng đáng được như thế.
Tác giả Sakaiya Taichi phân tích tất cả những cải cách của MacArthur đã ảnh hưởng đến nước Nhật và người Nhật như thế nào.
Trong đó cũng ghi lại lời nói của MacArthur: “Nhật Bản sẽ trở thành một nước như Mỹ, nhưng nước Mỹ ở đây không phải là nước Mỹ hiện bây giờ và một nước Mỹ lý tưởng”.
Cuối cùng tác giả kết luận như sau: “Trong dòng lịch sử Nhật Bản, đột nhiên xuất hiện nhân vật thống trị MacArthur từ nước ngòai đến, một người chưa có hiểu biết chính xác về Nhật Bản, nhưng đã ôm giấc mơ biến Nhật Bản thành một nước Mỹ lý tưởng.
Những tham vọng của MacArthur có cái đã thành công mỹ mãn, có cái đã đi quá trớn. Nhưng tựu trung, chúng đã để lại ảnh hưởng mãnh liệt trong xã hội Nhật Bản cho đến ngày hôm nay”.
Sau 6 năm giúp nhiệt tình, đến khi thấy rằng nước Nhật đã “đủ lông đủ cánh” vững vàng về cả 3 phương diện chính trị, kinh tế và xã hội, người Mỹ và người Nhật ký Hiệp Ước San Francisco ngày 8/9/1951 trao trả độc lập lại người Nhật.
Người Mỹ đã giúp người Nhật vượt qua được cơn khốn khổ và trở thành một quốc gia giàu mạnh, chỉ vì là đồng loại và không phải là thù địch. Đây là nghĩa cử quá cao quý của con người. Đất nước chúng ta cũng đã từng có những cơ hội tương tự nhưng đáng tiếc là chúng ta đã không biết tận dụng cơ hội đó giống như người Nhật, người Nam Hàn, người Đài Loan hay người Do Thái!
Phạm Hoài Nam

LỄ GIÁNG SINH CÓ TỪ BAO GIỜ

Hàng năm cứ vào ngày 25 tháng 12 là chúng ta mừng Lễ Giáng Sinh, ngày Chúa Giêsu ra đời, nhưng ít ai để ý thắc mắc Chúa có thực sự sinh ra vào ngày này không hay lễ này có từ bao giờ.http://fs5.truongxua.vn/images/2009/12/19/07/44/28677a69-de1c-4c8a-8194-dc8475fff8a4.Jpeg
 

      Kinh Thánh không thấy có chỗ nào nói đến các môn đệ của Chúa Giêsu mừng Sinh nhật của Chúa. Vây thì ngày lễ nghỉ này ở đâu mà ra, và Kinh Thánh có đồng ý hoặc chấp nhận ngày lễ này không? Những câu hỏi như vậy có ý nghĩa gì khi mà mục đích của chúng ta là vinh danh mừng Chúa ra đời và đem các gia đình lại gần với nhau, chúc cho nhau được bình an và đất nước có hòa bình, dân tộc yêu thương.

 

      Diễn viên hài hước nổi tiếng của Hoa Kỳ Drew Carey trong một cuộc phỏng vấn do  Talk Show The View trên truyền hình thực hiện đã làm cho khán thính giả ngỡ ngàng khi ông khuyên mọi người phải nói sự thật về nhân vật Ông Già Noel/Santa Claus.

      -“Tôi nghĩ rằng –ông nói- cha mẹ và người lớn không nên nói cho trẻ nít là có ông già Noel / Santa Claus thực sự. Đây quả là lời nói dối đầu tiên mà quí vị đã nói với con cháu quí vị.” Ông khuyên mọi người hãy nói thiệt cho chúng biết là “ông già Noel chỉ là nhân vật chúng ta  tạo ra để có cớ mừng mùa lễ nghỉ mà thôi”.

      -“Khi chúng lên 5 tuổi –ông nói thêm- chúng sẽ nhận ra là cha mẹ chúng đã nói láo với chúng suốt cả đời chúng.”

 

      Trước đó trong cùng một năm, đài truyền hình The Arts & Entertainment đã đưa ra một chương trình về Lễ Giáng Sinh gọi là Christmas Unwrapped: The History of Christmas. Người trình diễn đã nêu câu hỏi:

      -“Trên khắp thế giới người ta mừng lễ Chúa Kitô ra đời vào ngày 25 tháng 12, nhưng tại sao Chúa Giáng Sinh lại đi đôi với việc tặng quà, và Chúa có thực sự giáng trần vào ngày tháng đó hay không? Cây Giáng Sinh / Christmas Tree ở đâu mà ra?

 

      Ngược giòng lịch sử để tìm hiểu nguồn gốc các ngày lễ nghỉ truyền thống của Tây Phương, thì thấy rằng Lễ Giáng Sinh có nguồn gốc từ những ngày lễ hội của dân ngoại là lễ mừng thần Saturn của người La Mã được phổ biến từ năm 217 BC. Khởi đầu ho ăn mừng vào dịp Đông Chí, từ ngày 17 đến 23 tháng 12.

      Như vậy cả ông già Noel/Santa Claus lẫn lễ Giáng Sinh thực ra chẳng có ý nghĩa gì đặc biệt. Santa Claus chỉ là nhân vật giả tưởng và Lễ Giáng Sinh cùng với những trang trí của nó là do từ những ngày lễ hội của dân ngoại La Mã mà ra.

      Phải chăng đó chỉ là những tập tục truyền thống cổ xưa chứ chẳng phải là những gì thực tiễn chúng ta có thể nhìn thấy được? Nếu cứ tiếp tục tham dự những lễ hội đó thì có hữu ích gì không?

 

LỄ  THẦN  MẶT  TRỜI  

 

       Nói là lễ Giáng Sinh có từ trước thời Chúa Giêsu sinh ra thì có vẻ kỳ lạ và vô lý. Nhưng Lễ Giáng Sinh /Christmas quả thực lại có liên hệ đến thời đại trước Chúa Giêsu Kito rất nhiều.

        Những chi tiết mừng lễ Giáng Sinh đều có vết tích của thời cổ Ai Cập, Babylon và La Mã. Sự kiện này thực ra cũng chẳng làm tổn thương gì danh chúa Giêsu, nhưng nó đặt thành nghi vấn về sự hiểu biết và khôn ngoan của những người mà, từ cả ngàn năm rồi, vẫn còn cho rằng cái ngày lễ hội của dân ngoại là vĩnh cửu và đang được lan truyền trên khắp thế giới là ngày lễ Chúa Giáng Sinh.

      Giáo Hội sơ khai chắc cũng rất ngạc nhiên khi thấy những tập tục xưa cổ của họ bị chúng ta ngày nay đem nhập vào lễ Giáng Sinh mừng ngày Chúa ra đời. Việc gán ghép danh Chúa Kito với ngày lễ nghỉ của dân La Mã không phải chỉ có từ nhiều thế kỷ nay đâu. Alexander Hislop đã viết trong sách của ông The Two Babylons: “Nhiều nhà văn nổi tiếng và uyên bác thuộc nhiều hệ phái khác nhau cũng công nhận rằng ‘Ngày Chúa sinh ra vẫn không thể xác định được’, và trong Giáo Hội Kito giáo, ngày lễ gọi là Lễ Giáng Sinh cũng chưa bao giờ nghe nói đến cho tới thế kỷ thứ 3, và cũng không phải tới thế kỷ thứ 4 người ta mới giữ ngày lễ này đâu.” (1959, pp.92-93).

      Còn về ngày 25 tháng 12 trở thành ngày Lễ Giáng Sinh thì thực ra các sách viết về lịch sử các ngày lễ nghỉ cho biết đó là ngày đế quốc La Mã mừng Sinh nhật thần mặt trời.  Lý do chọn ngày 25/12 là ngày sinh nhật chúa Giêsu thì sách 4000 Years of Christmas ghi: “Vì ngày đó là ngày thánh , không phải chỉ đối với dân ngoại La Mã mà cả một tôn giáo lớn ở Ba Tư / Persia tức Iran bây giờ, mà hồi đó là một trong những tôn giáo đối thủ  mạnh nhất của Kito giáo. Đạo này thờ thần Mithra gọi là Mithraism[1], tức thờ mặt trời, ăn mừng ngày mặt trời mọc trở lại, thêm sức mạnh cho họ (Earl and Alice Count, 1997, p.37).

      Không phải chỉ có ngày 25/12 là ngày vinh danh sinh nhật mặt trời, mà còn là ngày lễ hội mà các quốc gia dân ngoại vẫn giữ từ lâu để mừng những ngày sáng sủa được kéo dài ra sau thời kỳ Đông Chí là những ngày ngắn nhất trong năm. Trước Lễ Giáng Sinh lúc đó còn có ngày lễ hội thờ ngẫu tượng vào giữa mùa đông có đặc điểm là ăn uống bừa phứa và mặc sức trụy lạc, đánh dấu thời kỳ Tiền Kito Giáo từ nhiều thế kỷ trước.

MỘT KẾT HỢP NHỮNG TẬP TỤC TIỀN KITÔ GIÁO

      Lễ hội xưa cổ này với thời gian đã có nhiều danh hiệu khác nhau qua nhiều nền văn hóa khác nhau. Tại Roma, người ta gọi là lễ Saturnalia để vinh danh thần Saturn, một thần nông nghiệp của người La Mã. Lễ này đã xâm nhập vào giáo hội Roma sơ khai và được đặt tên là Christ (“Christ mass” hay là Christmas) để thâu nhận những người tân tòng mà họ không muốn bỏ tập tục này của họ đi, đồng thời để nâng cao con số giáo dân của Kito giáo.

      Những vị lãnh đạo Công Giáo ở thế kỷ 3 họ có khuynh hướng muốn tiếp cận với dân ngoại, nhưng đã bị Tertullian, một nhà thần học công giáo lúc bấy giờ phê phán một cách khá chua chát. Năm 230 khi nói về sự bất nhất của người Kito giáo, ông đã nói lên cái tương phản giữa người công giáo và dân ngoại trong việc hành đạo; người công giáo dùng chính sách co dãn mưu mẹo trong khi dân ngoại họ vẫn triệt để trung thành với niềm tin của họ. Ông viết:     

      -“Đối với chúng ta là những người xa lạ với ngày hưu lễ Sabbaths, và cả những ngày  trăng rằm lẫn ngày lễ hội mà có lúc đã được chấp nhận dành cho Chúa (coi  Cựu Ước Sách Levi 23: Nghi thức các lễ hội trong năm, hiện giờ không còn giữ nữa) như lễ Saturnalia, những ngày lễ tháng Giêng, lễ Brumalia và lễ Matronalia thì bây giờ lại đem ra thực hành; quà tặng được trao qua lại cho nhau, những tặng vật ngày đầu năm được thực hiện rất nhộn nhịp, những cuộc vui chơi thể thao và tiệc tùng được tổ chức tưng bừng. Nhưng trái lại, những người theo tà giáo lại trung thành nhiều hơn với tín ngưỡng của họ mà chẳng thèm để ý đến những lễ lạc của người Kito giáo” (Hislop, p.93).

      Thất bại trong việc cải giáo dân ngoại, những vị lãnh đạo Giáo Hội La Mã bắt đầu điều đình để đưa những hình ảnh tập tục tà đạo lên y phục của Kito giáo. Nhưng thay vì biến cải niềm tin của họ về với giáo hội, giáo hội lại bị biến đổi, hội nhập vào những tập tục không phải là Kito giáo ngay chính trong việc hành đạo của mình.

      Mặc dù lúc đầu Giáo Hội Công Giáo sơ khai đã kiểm duyệt, muốn bãi bỏ việc mừng lễ này, nhưng “nó đã xâm nhập quá sâu rộng trong dân chúng khó lòng xóa bỏ đi được. Cuối cùng Giáo Hội đành phải chấp nhận, vì nghĩ rằng nếu không thể hủy bỏ được thì phải biến nó thành lễ “Giáng Sinh” tôn vinh Chúa Kito. Một khi được gắn cho cái nhãn hiệu nền tảng là Kito giáo thì ngày lễ hội trở thành chính thức ở Âu Châu với rất nhiều dấu vết của dân ngoại mà chẳng ai còn thắc mắc nữa”. ( Man, Myth & Magic: The Illustrated Encyclopedia of Mythology, Religion, and the Unknown, Richard Cavendish, editor 1983, Vol.2, p.480, “Christmas”)

ĐÃ QUYẾT ĐỊNH THÌ CỨ LÀM

      Một số người đã thẳng thắn phản đối việc làm như vậy vì cho rằng có hại về mặt thiêng liêng. “Những vị đó đã cố gắng ngăn cản sóng thủy triều, nhưng dù có biết bao cố gắng để ngăn chặn, việc làm đó vẫn cứ tiếp tục, cho đến khi Giáo Hội hoàn toàn bị tràn ngập bởi  những tập tục dị đoan của dân ngoại. Đó là Lễ Giáng Sinh nguyên thủy, ngày lễ của dân ngoại, nó đã trở thành hiện thực không chối cãi được. Ngày tháng trong năm và những nghi lễ mà hiện vẫn còn cử hành đã nói lên  nguồn gốc của nó” (Hislop p.93).

      Nhà thần học Tertulian nói trên đã tách ra khỏi giáo hội Roma vì bất đồng chính kiến. Ông không phải là người duy nhất bất đồng với ý tưởng đó. “Vào cuối năm 245, Origen, trong bài giảng thứ 8 về sách Levi, đã khước từ ý tưởng giữ ngày sinh nhật của Chúa Kitô như là một ông vua Pharaoh”. (The Encyclopaedia Britannica, 11th edition, Vol 6, p.293, “Christmas”).

      Lễ Giáng Sinh chỉ được công nhận là ngày lễ nghĩ của La Mã vào năm 534 (ibid). Như vậy phải mất 300 năm cái tên mới cùng với những biểu tượng của Lễ Giáng Sinh mới thay thế những tên cũ và ý nghĩa của ngày lễ hội giữa mùa đông, một ngày lễ hội của dân ngoại có từ nhiều thế kỷ trước.

NGUỒN GỐC ÔNG GIÀ NOEL/SANTA CLAUS     

      Làm sao ông già Noel/Santa Claus lại xuất hiện với đầu tóc bạc phơ và bộ râu dài lê thê tới rốn? Tại sao hình ảnh thần thoại này lại được gắn liền với Lễ Giáng Sinh?

      “Santa Claus” nghĩa là sự suy đồi của Mỹ Châu, từ tiếng Đức mà ra là Sinterklaas, chữ viết ngắn lại của Sint Nikolaas, một hình ảnh do một người di dân Đức hồi sơ khai mang qua Mỹ Châu. Danh xưng này, sau được đổi lại thành St.Nicholas, tên một vị giám mục ở thị trấn Myra ở Nam Tiểu Á, một vị thánh công giáo tử vì đạo mà người Hy Lạp và Latin tôn kính vào ngày 6 tháng 12.

      Thánh Nicholas là giám mục thành Myra sống vào thời hoàng đế La Mã Diocletian trị vì. Ông bị hành quyết vì niền tin công giáo, bị tra tấn, hành hạ và bỏ ngục, cầm tù cho tới triều đại Constantine là thời kỳ tương đối dễ dãi hơn. (The Encyclopaedia Britannica, 11th edition, Vol.19,p.649, “Nicholas, St.”). Còn nhiều chuyện nữa mà người ta cho rằng có liên quan tới Christmas và St.Nicholas, tất cả những việc phải làm như là tặng quà cho nhau vào ngày trước lễ thánh Nicholas, sau này được chuyển qua là lễ Giáng Sinh (ibid). Đó phải chăng là lý do của tập tục tặng quà nhau trong dịp Giáng Sinh?

      Đến đây, chúng ta có thể đặt nghi vấn, làm sao một giám mục từ miền bờ biển Địa Trung Hải nắng ấm của Thổ Nhĩ Kỳ lại có thể liên quan tới một ông già sống ở miền cực Bắc ngồi trên chiếc xe trượt tuyết kéo bởi nhũng con nai bay lướt ở trên trời?

      Đành rằng chúng ta đã biết là Lễ Giáng Sinh nguồn gốc từ trước thời đại Kito Giáo, chúng ta cũng không ngạc nhiên thấy rằng Santa Claus chẳng là gì cả ngoài những hình ảnh được sao chép lại từ niềm tin tôn giáo của dân ngoại thời cổ xa xưa.

      Những hình ảnh tưởng tượng có tính phỉnh gạt liên quan tới ông già Santa Claus với bộ quần áo màu đỏ, mũ đỏ, có viền lông trắng, xe trượt tuyết và nai bay trên trời cũng cho thấy nguồn gốc từ miền giá lạnh xa vời ở cực Bắc. Cũng có những nguồn tin cho rằng Santa Claus có dấu vết liên hệ đến các vị thần Odin (hay Woden) và Thor ở Bắc Âu / Na Uy cổ xưa (Count, pp.56-64). Thần Odin được hình dung với bộ râu dài trắng toát, mà tục truyền rằng đã bay trên trời bằng con ngựa  8 chân Sleipnir.

      Một vết tích khác, mặc dù rất xa xưa, là Santa Claus có liên hệ tới thần Mặt Trời Saturn của La Mã và thần Silenus của Hy Lạp, bạn đồng hành và là giám hộ của thần rượu Dionysus ( William Wash, The Story of Santa Claus, pp.70-71).

 CÓ PHẢI CHÚA GIÊSU SINH RA VÀO THÁNG 12 KHÔNG ?

      Những học giả kinh thánh uy tín nghiên cứu về ngày sinh của Chúa Giêsu đã đi đến kết luận là chẳng có một dữ kiện căn bản nào cho thấy chúa sinh ra vào khoảng ngày 25 tháng 12.  Alexander Hislop nêu rõ là:

     -“Không có một chữ nào trong Kinh Thánh nói rõ ràng ngày giờ sinh tháng đẻ của Chúa cả. Những điều  đã ghi chép lại cũng chẳng ám chỉ là Chúa sinh ra vào ngày 25/12.   

     -“Lúc mà các thiên thần báo tin Chúa sinh ra cho các trẻ chăn chiên ở Bethlehem là lúc chúng đang cho chiên bò ăn ở giữa cánh đồng trống lúc đêm tối. Khí hậu ở Palestine từ tháng 12 đến tháng 2 là thời gian lạnh buốt ghê gớm, và theo tục lệ thì  thời gian đó không phải là thời gian các mục đồng ở xứ Judea canh chừng súc vât của chúng ở ngoài đồng trống, mà thực sự chậm lắm là chỉ tới cuối tháng 10 thôi” (p.91, emphasis in original).

      Ông tiếp tục cắt nghĩa là mưa thu bắt đầu rơi vào tháng 9 hoặc tháng 10 ở Judea có nghĩa là những biến cố xẩy ra chung quanh ngày Chúa ra đời được ghi trong Kinh Thánh không thể xẩy ra sau trung tuần tháng 10. Vậy ngày Chúa sinh ra có thể là vào khoảng đầu thu (p.92).

      Một sự kiện nữa yểm trợ cho ý kiến Chúa Giêsu sinh vào mùa Thu là người La Mã rất khôn ngoan và thông minh, họ sẽ không định thời gian kiểm tra dân số vào chính giữa mùa đông, lúc khí hậu rất khắc nghiệt, mà phải vào thời gian với những điều kiện thời tiết dễ chịu hơn nhiều.

      Ông Giuse là dân Bethlehem nên phải di chuyển gia đình từ Nazareth , xứ Galilee về Bethlehem cùng với vợ là Mary đang có thai sắp đến ngày sanh. Do đó không có lý do gì mà ông cùng với Mary lại làm một cuộc hành trình dài vào mùa đông giá lạnh như vầy. Theo Tin Mừng Phúc Âm thánh Luca thì Mary hạ sanh chúa Giêsu vào đúng thời gian hoàng đế La Mã là Augustine cho kiểm tra dân số trên cả nước, mà theo sự khôn ngoan chẳng ai lại lên chương trìng này vào tháng 12 giá lạnh cả.

KẾT  CỤC:  CÓ GÌ  KHÁC  BIỆT  KHÔNG?

      Kinh Thánh thì chẳng đưa ra lý do gì -và chắc chắn cũng không có một chỉ dẫn nào- để yểm trợ cho câu chuyện Lễ Giáng Sinh và Ông già Noel/Santa Claus. Nhưng lễ Giáng Sinh với ông già Noel / Santa Claus thì vẫn là một sự thực, một tập tục, một thói quen đã được chấp nhận và trở thành hiển nhiên chẳng ai thắc mắc. Christmas / Lễ Giáng Sinh là lễ kỷ niệm ngày chúa Giêsu sinh ra để cứu chuộc nhân loại. Ông già Santa Claus thì là một nhân vật thần thoại giả tưởng làm chuyện vui cho trẻ nít, câu chuyện luân lý để dạy trẻ nít biết vâng lời bố mẹ, ngoan ngoãn. Người lớn thì có dịp nghỉ thư dãn, tặng quà, kỷ vật cho nhau, gia đình xum họp trong cảnh thanh bình ấm cúng thương yêu. Ngoài những sinh hoạt êm ấm trong gia đình còn có những sinh hoạt ồn ào bên ngoài như hội hè, tụ họp ăn uống, nhậu nhẹt, nhảy đầm vui chơi…..

     Lễ Giáng Sinh đã trở thành phổ quát trong dân gian trên khắp các nẻo đường thế giới, không riêng gì cho người Công Giáo / Kitô Giáo mà cho cả những người thuộc các tôn giáo khác hoặc vô thần…Những người không phải công giáo thì coi Lễ Giáng Sinh là dịp lễ hội, nghỉ thư dãn, vui chơi, ăn nhậu thả dàn. Ở Sàigon trước 1975 (tôi không biết bây giờ dưới chế độ XHCN thì thế nào), đêm Giáng Sinh, trong khi ở trong các thánh đường,  giáo dân tụ tập lại, chăm chú dâng lễ, đọc kinh, hát những bài thánh ca mừng Chúa ra đời, thì ngoài đường phố thiện nam tín nữ áo quần bảnh bao chen chúc nhau dạo phố, xe cộ và người qua lại như trẩy hội. Tôi không hiểu họ đi đâu?, để làm gì?. Cứ đi, cứ đi…theo giòng người đi như nước chảy. Xem đèn ông sao? Xem phố phường? Xem người? Xem xe cộ chạy? Ai mà biết nhỉ? Ở hải ngoại Hoa Kỳ, sau những ngày mệt mỏi shopping để tiêu tiền, mua quà tặng, sửa soạn giáng sinh, trang hoàng trong nhà ngoài ngõ, đêm Giáng Sinh người ta vui hưởng cảnh ấm cúng gia đình trong nhà nhiều hơn. Dĩ nhiên cũng có những hội họp chè chén nhậu nhẹt ngoài qu án rượu, tiệm ăn.

      Giáng Sinh đã phổ quát đến độ nó không còn giới hạn trong phạm vi tôn giáo nữa. Họ chúc nhau một mùa nghỉ vui tươi đầm ấm và hạnh phúc. Ngày nay có những  phong trào / tư tưởng không gọi ngày lễ này là Lễ Giáng Sinh mà gọi là Mùa Lễ Nghỉ. Holidays Season. Người ta ăn chơi hưởng thụ, làm bất cứ cái gì họ muốn trong khi trong các thánh đường đèn nến sáng trưng, vẫn vang vọng tiếng hát mừng Chúa ra đời:  

 

                       
http://tonggiaophanhue.net/home/images/stories/tin/thang122010/24122010ngay.jpg 

Vinh danh Thiên Chúa trên trời

   Bình an dưới thế cho người thiện tâm

      Lễ Giáng Sinh hiển nhiên vẫn là biểu hiệu của Bình An và Hòa Bình của Chúa Cứu Thế. Đâu có gì phải chê trách, có chăng là tâm con người vẫn không có hòa bình và tình yêu thương.

Fleming Island , Florida
Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

9-12-2011

Bài Xem Nhiều