We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 19 December 2011

ĐĨA XÔI ĐẬU XANH


http://titonhito0809.files.wordpress.com/2010/11/img_9778.jpgChợ Chồm Hổm - như cái tên người ta đặt cho nó - ở lề đường đông đảo nhộn nhịp xe cộ này bị công an phường khóm theo lệnh trên dẹp đuổi miết mấy lần mà không được. Trước kia còn thời Việt Nam Cộng Hòa, cái chợ này cũng họp lai rai nhưng người thưa thớt, lèo tèo, khoảng dăm chục mỗi buổi sáng rồi đến trưa là tàn. Nhưng từ ngày Sàigòn sụp đổ, người ở các nơi túa đến, chẳng ai bảo ai mà ngôi chợ cứ thế đông dần. Số người họp từ một trăm, bây giờ người ta đã thấy cả mấy trăm. Lều vải khung tre che đỡ làm cái mặt hàng, từ vài chục bây giờ đếm không xuể.


 
Nguyên do là vì những người bị mất nhà, bị đuổi đi kinh tế mới, ở những vùng khỉ ho cò gáy, chó ăn đá gà ăn muối, nước phèn hoặc sình lầy, chỉ thấy trên trời dưới đất mà đất khô cằn, không có nước, không nhà cửa, không dụng cụ, không gì ráo trọi thì làm sao sống được, bèn lẳng lặng trốn về thành phố, sinh nhai ở ngôi chợ Chồm Hổm này cho qua ngày đoạn tháng.
 
Người ta đặt cho chợ cái tên đó vì chẳng có tên gì để gọi là một lẽ, lẽ thứ hai người buôn bán và khách đến mua, đến ăn vài thứ quà vặt thường xuyên bán ở đây đều phải ngồi chồm hổm mà bán, mà ăn, mà mua, nếu không đứng lom khom. Chợ họp bất hợp pháp ở ngay ngã ba hai con đường, bị đuổi lên đuổi xuống, ai có gan rinh ghế dài, ghế ngắn ra cho khách ngồi? Một tiếng la lớn “Công an tới, Công an tới!” là mọi người sợ xanh máu mặt, cha con bà cháu quơ vội hàng hóa, rau  trái thồn đại vào mấy cái bao bố chạy thục mạng vô mấy con hẻm trốn chui trốn nhủi kẻo mất hết vốn liếng lại đi ở tù, ở đó mà lỉnh kỉnh bày ghế dài, ghế ngắn cho sang.
 
Trước kia việc bố ráp có thưa thưa nhưng từ ngày nghe đâu có chỉ thị tận ngoài Hà Nội, ra lệnh cho công an địa phương phải “quét sạch” các thành phố, nhất là hai nơi Sàigòn và Hà Nội để khỏi làm bẩn mắt khách du lịch nước ngoài hoặc những ngoại kiều “đông đô-la” đến đầu tư hay những vịt kìu rửng mỡ du dâm du hí, về kiếm bồ nhí vốn rất sầm uất, có mặt khắp hang cùng ngõ hẻm chưa nước nào trên hành tinh này qua mặt được . Xích lô đạp và xe ba bánh trước kia lởn vởn khắp nơi trên các nẻo đường để kiếm ăn, bây giờ có lệnh cấm cả trăm con đường không được đạp xe vào. Lớ ngớ quên là bữa đó cả gia đình cháo cũng không có mà húp.
 
Đạp xích lô, đạp xe ba bánh là công việc nặng nề của đàn ông, của anh Chín, anh Năm đàn cò, anh Cần Lé chứ chị Chín, từ ngày “giải phóng”, chị có gánh xôi chè coi ra cũng kiếm được bữa rau bữa cháo cho đàn con sáu đứa, đứa lớn nhất, con Tiểng, hai mươi tuổi, phụ mẹ nấu xôi, ninh chè thay vì được đi học ở trường như thời còn “ngụy”. Chị Chín thường ngồi ở chợ Chồm Hổm từ sáng đến trưa, khoảng hai giờ chợ vãn khách thì chị đi bán rong các hẻm hết gánh mới về. Có bữa quá ế vì trời mưa hoặc mát trời chẳng hạn, chị Chín phải lần mò vào các nhà quen mời chào ăn dùm. Chị cầu bán lấy vốn, kẻo chè xôi để lại bữa sau thì hư mà tối đó không có tiền mua gạo và đậu.
 
Hồi đó anh Chín là trung sĩ pháo binh, đơn vị cơ động nên anh đi khắp hai vùng III và IV chiến thuật. Anh dẻo miệng, nhậm lẹ, ai nhờ gì cũng được và có số đào hoa nên đi đến đâu anh có bồ ở đó, mặc dù cấp bậc chỉ là trung sĩ quèn. Hồi đóng ở Mỹ Tho có mấy tháng mà anh tán ngay được chị Hợi, còn con gái mới chết chứ, gái quá lứa lỡ thời thì đúng hơn, bạn bè anh mấy anh hạ sĩ, trung sĩ và cả thượng sĩ nữa biết được thèm nhỏ nước miếng, ước ao cái địa vị của anh. Nhưng chị Chín được cái may không biết, nếu chị biết, chắc chị phải nhảy xe đò xuống ngay Mỹ Tho rồi ra sao thì ra.
 
Qua lâu rồi, hồi đó, anh Chín nhớ mỗi tháng chỉ giữ lại đủ tiền ăn còn bao nhiêu nhờ ông Sĩ quan Tài chánh đơn vị về Sàigòn trao cho chị Chín để chị lo đàn con. Chị Chín và mấy đứa con được cấp nhà trong khu gia binh ở Hạnh Thông Tây Gò Vấp, chợ búa gần mà trường học cho trẻ nhỏ cũng tiện. Với số lương trung sĩ của chồng, chị Chín phải tần tiện khéo léo lắm mới đủ. Mỗi đầu tháng nhận tiền lương, chị ra ngay chợ Xóm Mới kéo bao gạo trăm ký và vài tỉn nước mắm, vài ký đường cho chắc ăn. Số tiền còn lại, chị để lai rai đi chợ mua rau cải và ít tôm cá rẻ tiền cho lũ con. Thế là xong.
 
Đôi lúc chị cũng muốn tìm cách buôn bán phụ chồng nhưng mấy đứa con còn nhỏ quá chị không nỡ bỏ liều chúng ở nhà để ra cuối chợ đầu đường kiếm thêm chút đỉnh. Nhưng cũng chính vì vậy mà chị có vẻ nhàn nhã thư thái như mấy bà vợ Sĩ quan trong đơn vị. Mỗi buổi tối chị lại còn đến học một lớp Bình Dân Giáo Dục , tổ chức ngay trong trại gia binh do Sĩ quan Tâm lý chiến Bộ Chỉ Huy Pháo Binh biệt phái phụ trách mà không phải trả một phí khoản nào. Bút giấy, sách học nhà trường cũng cấp phát lại còn khuyến khích vợ các cấp nên đến những lớp buổi tối như thế để bổ túc văn hóa. Hồi lấy anh Chín, chị Chín đọc không thông, viết không thạo, ấy vậy mà chỉ sau vài ba lớp, mỗi lớp bốn tháng, chị đọc báo suông sẻ, viết được lá thư có đầu có đuôi và làm được những bài toán đố giản dị. Trông chị mỗi ngày mỗi phây phây ra làm lần nào về phép thăm nhà, anh Chín cũng kêu lên: “Má bầy trẻ dạo này đỏ da thắm thịt quá hén!” làm má chị hồng lên và y như rằng, chị lại cấn thai.
 
Chẳng bù cho bây giờ, “cách mạng” lên nói là tranh đấu cho người nghèo nhưng chị Chín thấy gia đình chị cơ cực hơn bao giờ. Có cả con Tiểng và hai đứa em nó phụ để xôi xôi, nấu chè, rửa chén rửa muỗng, đãi đậu  ngâm gạo rồi chị đi bán mà quần quật từ sáng đến tối, không lúc nào ngơi nghỉ, có ngày thiếu cả bữa cơm trưa nhưng gánh chè xôi của chị chỉ đủ phụ anh Chín đắp đổi qua ngày, ăn bữa nay lo bữa mai. Aáy là phải kể hai vợ chồng cùng khoẻ, nếu một người bị bệnh nằm đó là lôi thôi to ngay.
 
Thường thường, tối mịt chị Chín mới về đến nhà. Nào đã xong, chị ăn quấy ăn quá với đàn con bữa cơm tối để còn bắt tay nấu xôi chè cho ngày mai. Bữa ăn có khi có anh Chín, có khi không vì anh Chín bắt được mối trễ, phải còng lưng đạp hoặc khiêng vác những đồ vật nặng cho người ta, kiếm chút cháo cho vợ con rồi mới về nên nhiều đêm về tới nhà anh mệt thở dốc. Con Tiểng dọn cơm ra cho anh, chỉ một mình anh ăn, chán phèo! Càng chán khi anh thấy món ăn trên mâm cơm mỗi ngày mỗi đạm bạc thêm. Trước kia khi còn là trung sĩ “nguỵ”, anh có bia “Quân Tiếp Vụ” uống dài dài, nhâm nhi với mấy con khô mực hoặc miếng chả cá, hai ba thằng bạn dám làm cả két mười hai chai luôn.
Thứ đó bây giờ đối với anh Chin có vẻ quá xa tầm tay với. Những người có thân nhân ở nước ngoài thỉnh thoảng gửi tiền về giúp đỡ thì may ra còn dám mơ ước, chứ anh Chín, xị đế pha xá xị cũng chưa dám huống hồ là bia. Bia bây giờ dành cho những nhà giầu mới, những “tư bản đỏ” như tiếng lóng của dân chúng gọi những cán bộ Cộng Sản giầu có, nhất là những cán bộ mới từ Bắc vào Nam làm việc sau ngày 30-4-1975.
 
Trong những nhà giầu mới chị Chín thường đến nài nỉ ăn dùm chè xôi những hôm chị ế có chị Viêm, vợ của anh Trưởng đồn Công an Phường chị ở, Phường 4.
 
Vốn là một bần cố nhiều đời, chữ nghĩa dốt đặc, Viêm được kết nạp vào Đảng Cộng Sản và được đề bạt nắm nhiều chức vụ quan trọng từ cấp Huyện xuống cấp Xã ở miền Bắc là vì Viêm tuyệt đối trung thành với Đảng, với cấp trên. Hồi cải cách ruộng đất, lúc Viêm mới khoảng hơn hai mươi tuổi, Viêm đã cùng với mấy tên cuồng tín trong xã lôi cả cha mẹ, họ hàng và những nông dân lương thiện ra đấu tố, ghép cho họ là địa chủ phản động mặc dù những người này, kể cả cha mẹ y chưa từng bao giờ có lấy vài sào tư điền. Sở dĩ y phải làm vậy vì đội của y nói cấp trên muốn kích thêm vài nấc để có thêm nạn nhân trong những cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc cho đủ tiêu chuẩn các bậc thầy Nga-Tàu đòi hỏi. Hàng vạn nông dân vô tội bị hàm oan, bị chết, bị tù đày hoặc bị mất quyền công dân, tan cửa nát nhà, nhục nhã cay đắng. Có nhiều cán bộ CS trung kiên đang làm việc thì mất chức, đi tù, có khi chết nữa.
 
Từ khi được điều vào Nam, nhìn thấy của cải trù phú của dân chúng ở miền Nam, vợ chồng tên Viêm loá mắt. Chưa từng nhìn thấy những cái TV “chạy đầy đường”, cái tủ lạnh, máy lạnh, bếp ga, nồi cơm điện và ngay cả những đồ dùng trong phòng vệ sinh ở trong Nam, vợ chồng tên Viêm rất thích những món đồ dân dụng này, tìm mọi cách vơ hốt của cải của lương dân được gán cho tội danh “tàn dư Mỹ - Nguỵ”, để gia đình y hưởng thụ cho bõ những năm nằm rừng nằm rú, đói khổ, bệnh hoạn kinh hoàng ở biên giới Lào - Việt.
 
Giầu xổi nên kênh kiệu mặc dầu cái lốt quê mùa ít học không giấu nổi ai, mụ Viêm thường lên mặt kẻ cả với dân chúng trong Phường mỗi khi người dân gặp mụ, nhất là khi có việc phải xin xỏ ân huệ với chồng mụ.
 
Chị Chín biết thân biết phận vợ lính “nguỵ” rã ngũ, chẳng dám chơi trèo mặc dù trong thâm tâm chị nghĩ, xưa kia chị đâu có hơn tôi, ngay lúc này chồng chị hét ra lửa mửa ra khói, quyền sinh sát trong phường một tay, ai không vừa lòng chồng chị thì chỉ có nước đi tù hoặc bán xới đi nơi khác, nhưng con người chị đâu có hơn gì tôi? Chẳng qua thời thế bắt phải thế. Nghĩ vậy nhưng chị Chín đâu dám nói ra cho ai hay. Thời buổi này, chị phải dè mồm giữ miệng lắm lắm, chị dặn cả anh Chín, kẻo tai hoạ đến không lường được.
 
Do ngẫu nhiên, căn nhà lụp sụp của vợ chồng anh Chín lại ở gần xịt với căn nhà vợ chồng mụ Viêm, coi như láng giềng, tuy hai cảnh sống hoàn toàn khác biệt. Nhà mụ Viêm đầy đủ, sang trọng, dư thừa bao nhiêu thì nhà chị Chín thiếu thốn, nghèo xơ nghèo xác bấy nhiêu.
 
Căn nhà mụ Viêm vốn trước kia là của một ông Giáo sư Đại học chế độ Cộng Hòa miền Nam đã về hưu. Sau ngày 30-4-1975, gia đình ông vượt biển tìm tự do, Đảng tịch thu toàn bộ, nay cấp phát cho gia đình thủ trưởng công an Viêm. Nói là căn nhà thì không đúng vì nó là một biệt  thự lầu, gần một chục phòng lớn nhỏ trên dưới, có nhà phụ cho người làm, có ga-ra để xe, chung quanh đất rộng mênh mông rợp cây ăn trái. Nhiều buổi tối đạp chiếc xích lô về, thấy nhà mụ Viêm đèn sáng rực, con cái trửng giỡn, kẻ ăn người làm tấp nập, nhìn lại căn nhà lá tồi tàn, tối tăm, dơ bẩn của mình, vợ con đang hì hục thổi xôi nấu chè đặng mai đi bán, anh Chín thấy tủi thân. Dù trước kia ở khu gia binh nhưng anh Chín cảm thấy rất thoải mái. Sự chênh lệch giữa kẻ giầu người nghèo, giữa Sĩ Quan và lính không đến nỗi quá rõ ràng và phũ phàng như trong chế độ Cộng sản hiện tại.
 
Khoảng một năm trước ngày Cộng Sản cưỡng chiếm miền Nam, vợ chồng anh Chín góp nhóp và vay vỏ thêm bạn bè mua được căn nhà này cho con cái và nhờ vậy, nay mới có chỗ đụt nắng, che mưa.
 
Sớm tối trông thấy nhau, hơn nữa những đứa con vợ chồng mụ Viêm hay sang chơi với đám con chị Chín nên riết rồi hai gia đình cũng thành khá thân. Chị Chín là người rất khéo, anh Chín lại dẻo miệng và hết sức lễ độ nhún nhường vì vậy dù nghèo đói, dù đàn con không đủ ăn, anh chị vẫn kiếm những món quà lớn nhỏ, khi thì cây thuốc lá Marlboro hay Salem mà tên Viêm rất thích, khi vài ký đường trắng hay đĩa xôi, thố chè đặc biệt đem sang biếu để gọi là lấy chỗ làm ăn đi lại. Vợ chồng tên Viêm như nắng hạn gặp mưa rào, dù đã giầu có dư dả nhưng không từ chối một thứ gì, chẳng riêng của anh chị Chín mà của bất cứ người dân nào trong Phường. Máu tham nhũng đào khoét, coi của dân như của Đảng, coi của dân như của mình đã ăn sâu từ hơn 50 năm nay trong các thành phần “cách mạng” lớn nhỏ nên hễ có dịp là một điếu thuốc từ bác phu xe ba bánh cũng không từ, tích luỹ làm giầu để trở thành những tư bản đỏ. Một người bạn cùng quân ngũ với anh Chín ngày xưa, anh Phòng, thoát được sang Gia Nã Đại năm 1975 cùng với gia đình, bây giờ làm ăn khá giả về thăm Quê Hương, có tìm đến thăm vợ chồng anh Chín và tặng chút quà. Trong lúc chuyện trò, Phòng bảo Chín:
“Tụi tao ở nước ngoài có tự do dân chủ, đủ mọi thứ tự do và làm ăn cũng mát mặt thực nhưng không phải hái ra tiền như bà con mình còn ở Việt Nam nghĩ đâu. Cuộc sống khó khăn chung cho mọi người vì kinh tế trầm trệ toàn thế giới. Về đây một tháng đi khắp nơi, gặp đủ thành phần, tao chỉ thấy các ông cán bộ bây giờ là sung sướng, giầu có thôi. Bọn Việt Kiều như tao chắt bóp được dăm, ba ngàn mua vé máy bay về thăm quê hương đã tưởng là sang lắm, nhưng khi gặp dân thương mãi thành phố và cán bộ, thấy họ nói từng trăm ngàn, từng nửa triệu đô-la, từng mấy trăm đến ngàn cây vàng chứ không phải cò con như rất đông Việt Kiều chỉ có cái mã bề ngoài.”

Alexandria Huynh :17 tuỗi, cử nhân Mỹ gốc Việt tỵ nạn cs

Em Alexandria Huynh, mới 17 tuỗi, cử nhân Mỹ gốc Việt tỵ nạn cs, nhập học tiến sĩ với học bỗng toàn fần ở đại học Harvard  
 
 
Trường Đại Học Cal State L.A. cho Vietnamese Daily biết em Alexandria Huynh, một sinh viên gốc Việt vừa ra trường năm nay được trường đại học danh tiếng Harvard nhận vào học chương trình tiến sĩ y khoa với học bổng toàn phần ở tuồi 17.

Em Alexandria Huynh vào đại học lúc mới tuổi 13 qua chương trình dành cho các sinh viên vào đại học sớm trước tuổi (University’s Early Entrance Program), em Alexandria Huynh mới ra trường năm nay với bắng cử nhân sinh học hạng ưu. Cal State L.A. còn cho biết Alexandria Huynh là một sinh viên ra trường với bằng cử nhân trẻ nhất từ xưa đến nay của trường.

Em Alexandria Huynh không chỉ được trường Harvard chấp nhận vào học chươnh trình tiến sĩ mà còn có các trường danh tiếng khác như Đại học Yale và Đại học Pennsylvania cũng chấp nhận em.

Em Alexandria Huynh sẽ vào học ở Harvard mùa thu này với một học bổng toàn phần. Đây là niềm hãnh diện và tự hào của người Việt tỵ nạn cs khắp nơi.
 
Du Lê

Bài Xem Nhiều