We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 28 December 2011

Truyện phiếm: Nền Y Khoa XHCN

Truyện phiếm: Nền Y Khoa XHCN(Khuyết Danh)

Sinh nhật lần thứ bốn mươi của tôi, vợ tôi bảo năm chẵn nên làm mấy mâm cơm mời bạn bè tôi đến nhà lai rai chúc mừng. Tôi vốn không uống được bia rượu nhưng có món thịt bò xào hành tây mà tôi ưa thích, lại có bạn bè hàn huyên, vui quá thành ra uống tới năm cốc bia Hà Nội. Cuộc nhậu bắt đầu từ lúc năm giờ chiều, mãi đến tám giờ tối mới kết thúc. Tiễn bạn bè ra về xong, tôi leo ngay lên giường, định sẽ lấy giấc ngủ vùi lấp cơn say chếnh choáng trong người. Nhưng quái sao cổ họng tôi có cái gì vương vướng, tôi khạc nhổ ầm ĩ cả nhà nhưng vẫn không khỏi. Hay là hóc xương gà?

Vô lý, hóc xương thì phải đau chứ! Chợt tôi nghĩ đến cái chết ung thư vòm họng của ông chú tôi mà bủn rủn hết cả người. Ông chú tôi lúc đầu cũng thấy cổ họng vương vướng, ông lười không đi khám đến khi đau phát sốt, ông mới đi bệnh viện thì mới hay mình bị ung thư vòm họng giai đoạn cuối, ông nằm viện được đúng ba tuần thì ra đi. Không khéo dòng họ tôi trước đây có người bị ung thư vòm họng rồi di truyền lại cho thế hệ sau cũng nên. Nghĩ đến đây, tôi quyết định phải đi khám ngay để nếu có bị di truyền, phát hiện sớm chạy chữa còn cứu được.

Ban đêm, bệnh viện công không khám bệnh, chỉ trừ những trường hợp cấp cứu; tôi đi xe máy ra đường Giải Phóng, nơi có hàng chục phòng khám tư nhân san sát bên nhau. Tôi vừa dừng xe thì đã thấy nhiều người từ vỉa hè lao ra mời chào tôi vào khám bệnh với những lời hết sức hấp dẫn, có giáo sư, tiến sĩ khám; nhanh rẻ, chính xác; có máy siêu âm màu; xét nghiệm có kết quả ngay... Tôi ngước mắt nhìn các bảng hiệu quảng cáo và dắt xe vào một phòng khám có đề giáo sư, tiến sỹ; đằng nào thì cũng mất tiền, bác sỹ khám mất hai mươi lăm ngàn, tiến sỹ khám mất ba lăm ngàn, giáo sư mất bốn mươi ngàn, tốn hơn mươi mười lăm ngàn nhưng chắc ăn hơn. Tôi đi đến chỗ một nữ nhân viên thu tiền và đề nghị được khám giáo sư Hào, cô bảo tiếc quá giáo sư Hào vừa đi công tác chiều nay. Tôi lại bảo không có giáo sư thì tiến sỹ khám, cô lại nói tiến sỹ Mạnh hiện đang mổ cấp cứu trong bệnh viện. Tôi bực tức quay ra, đi tìm một phòng khám khác.

Nghe tôi đề nghị được giáo sư hoặc tiến sỹ khám, ông chủ phòng khám vốn là chủ đề vỡ nợ nay quay sang mở phòng khám tư, chân tình nói với tôi rằng duy nhất phòng khám của ông là có thuê giáo sư, bác sĩ thật, còn tất cả các phòng khám kia, họ chỉ treo cái biển có giáo sư, tiến sỹ khám nhưng là treo đầu dê, bán thịt chó; thậm chí nhiều lúc chỉ là y sĩ khám chứ cũng chẳng có bác sĩ vì theo ông giải thích, những ông chủ phòng khám đều phải đi thuê tất tật, từ nhà, y bác sĩ, máy móc nên phải chắt bóp từng đồng, tiền đâu mà thuê giáo sư, tiến sỹ? Phòng khám của ông có giáo sư, tiến sỹ thật nhưng họ chỉ khám ban ngày, ông bảo tôi yên tâm, ông sẽ bảo một bác sỹ đa khoa có tiếng đích thân khám cho tôi.

Thấy ông chủ có vẻ thật thà, tôi đồng ý nộp hai lăm ngàn và được một nhân viên dẫn lên tầng hai bảo tôi ngồi chờ, khi nào bệnh nhân bên trong đi ra thì hãy vào. Tôi ngồi đợi gần nửa tiếng thì cửa phòng mở, một cô gái mặt non choẹt nhăn nhó ôm bụng đi ra. Tôi vội vã bước vào, nghe thấy ông bác sĩ nói với một cô ý tá:
- Mẹ kiếp mới mười sáu cái tuổi đầu mà đã ễnh bụng ra, lúc làm tình thì rên rỉ sung sướng, còn khi nạo thai thì rống lên như lợn bị chọc tiết...
Nhìn thấy tôi, ông bác sỹ hỏi tôi khám gì? Tôi nói khám họng, ông bảo tôi ngồi vào ghế. Tôi tưởng một bác sỹ khác sẽ khám cho tôi nhưng người khám vẫn chính là ông, tôi thắc mắc:
- Tôi khám họng chứ có khám”phụ khoa” đâu?
Ông bác sĩ nói, giọng lanh tanh:
- Tôi là bác sĩ đa khoa, cái gì chả khám được, nào há mồm ra!

Tôi kiên quyết không cho ông khám và đề nghị để bác sĩ chuyên khoa Tai - Mũi - Họng khám. Thấy có tiếng ầm ĩ, ông chủ phòng khám chạy nên giải thích cho tôi, rằng bác sĩ Quang đây là bác sĩ đa khoa có tiếng ở Hà Nội, cứ yên tâm đúng bệnh, đúng thuốc, vài ngày là khỏi. Tôi đề nghị trả lại tiền cho tôi đi khám chuyên khoa, ông chủ phòng khám lên giọng:
- Tiền thu rồi không trả lại, chúng tôi có bác sĩ khám, anh không khám là lỗi tại anh chứ không phải chúng tôi.

Tôi giận dữ ném cái hoá đơn thu tiền vào mặt ông chủ phòng khám rồi hầm hầm đi xuống. Rút kinh nghiệm, lần này tôi tìm đến đích danh phòng khám chuyên khoa Tai- Mũi- Họng. Sau khi nghe tôi trình bày về triệu chứng, bảo tôi há mồm ra, ông bác sĩ hí hoáy ghi cho tôi một loạt các phiếu: xét nghiệm máu, nước tiểu, phân; điện não tâm đồ; siêu âm ổ bụng; nội soi dạ dày. Tôi hỏi ông tôi chỉ khám có mỗi họng, sao lại phải làm nhiều thứ thế, ông bảo phải làm tổng hợp để có kết luận chính xác căn nguyên của bệnh, vì trong thực tế bệnh nọ nếu để lâu không chữa rất hay xọ sang bệnh kia. Giải thích xong, ông bác sĩ bảo tôi sáng mai nhịn ăn, nhịn uống để đến làm các xét nghiệm và siêu âm.

Sáng hôm sau tôi đến phòng khám, một nhân viên dẫn tôi đi lấy máu, nước tiểu; lấy xong cô cầm ra, đưa cho một thanh niên phóng xe máy đi thuê xét nghiệm tại một bệnh viện công. Rồi cô nhân viên lại dẫn tôi sang một phòng khám tư nhân khác để điện não tâm đồ; rồi lại một phòng khám khác để nội soi.

Mười giờ, tôi có đủ mọi kết quả xét nghiệm, điện não tâm đồ, siêu âm, nội soi. Ông bác sĩ hôm qua đọc các kết quả xong, kết luận tôi bị viêm họng, họng sưng có mủ và ghi cho tôi một đơn thuốc gồm tám loại. Dặn dò phải ra đúng cái hiệu thuốc Hoàn Mỹ mà mua mới có thuốc mà ông kê, không những thế thuốc ở đấy không có thuốc giả, đảm bảo chỉ uống năm ngày là bệnh khỏi hoàn toàn.

Tiền xét nghiệm, điện não tâm đồ, nọi soi, siêu âm hết bốn trăm ngàn đã làm tôi giật mình nhưng khi trả tiền cho đơn thuốc tôi còn thót tim hơn, những sáu trăm tám lăm ngàn. Tôi thốt lên thành tiếng:
- Chỉ là viêm họng thôi sao nhiều tiền thế?
Cô bán thuốc không thèm nhìn tôi, đáp:
- Bác sĩ kê toàn thuốc của Mỹ, Pháp, thuốc này uống mới có chất lượng chứ ham rẻ uống thuốc nội có đến mục thất cũng không khỏi.

Tôi cắn răng móc ví trả tiền, cô bán thuốc ở hiệu bên cạnh nhìn thấy tôi nhăn nhó, cười hỏi tôi có ngửi thấy mùi hoa hồng không? Tôi bảo làm gì có hoa hồng mà ngửi? Cô cười ngặt ngẽo như thể tôi đang cù nách cô.

Uống xong năm ngày thuốc mà cổ họng vẫn không thấy hết vương vướng, tôi lại ra phòng khám tư hôm nọ để bác sĩ khám lại. Vẫn ông bác sĩ về hưu bữa trước đi làm thêm khám cho tôi, ông bảo mua tiếp thuốc theo đơn cũ, uống năm ngày nữa. Người tôi mệt mỏi, chẳng còn hơi sức để phi xe đến cái hiệu thuốc Hoàn Mỹ nữa, tôi tạt ngay vào một hiệu thuốc trên đường Minh Khai để mua. Tôi móc sẵn ra sáu trăm tám mươi lăm ngàn, nhưng mà lạ chưa, chỉ hết có bốn trăm mười lăm ngàn, ông bán thuốc có khuôn mặt rất phúc hậu còn bảo một số thuốc như thuốc ngủ, thuốc bổ, thuốc hạ sốt có thể chẳng cần phải dùng đến cho đỡ tốn tiền.
Thêm bốn ngày uống thuốc nữa trôi qua, họng tôi vẫn vương vướng. Tôi cầu trời khấn phật cho ngày thứ mười cuối cùng, cái họng của tôi trở lại bình thường nhưng khốn khổ cái thân tôi, bệnh cũ chưa khỏi thì bệnh mới đã xuất hiện. Chả là uống quá nhiều kháng sinh mạnh nên mồm tôi bị nhiệt, hễ cứ ăn cái gì vào, nhất là nước mắm thì buốt đến tận xương tủy. Người tôi bắt đầu ngây ngấy sốt. Vợ tôi tức tốc gọi điện về quê bảo cậu em mang lên một cân bột sắn thứ thiệt để tôi uống cho khỏi cái bệnh” lở mồm, long móng”.

Ngày thứ mười một, vẫn vương vướng, tôi quyết định đi khám bệnh viện công. Tôi đến bệnh viện lúc tám giờ thì đã thấy gần trăm người đang ngồi chờ khám ở phòng bảo hiểm, tôi xếp sổ vào ô, đợi đến gần mười giờ vẫn chưa đến lượt. Thấy một người đến sau tôi đã khám được, tôi bổ theo bà ta hỏi bí quyết, bà giơ ngón tay ra đêm đếm, tôi hiểu ý đi lại ô xếp sổ, lấy cuốn y bạ, kín đáo kẹp vào đó một tờ năm mươi ngàn, chỉ ba phút sau, tôi có số vào phòng khám. Đến phòng khám số 1, lại phải chờ đến lượt. Tôi nghĩ mình đã bồi dưỡng cho cô ghi số rồi thì thế nào họ cũng ưu tiên cho tôi nên tôi bảo với cô y sĩ ngồi ở ngay cửa phòng khám rằng tôi tôi đang rất bận, tôi đã nói với cô ghi số rồi, cô có thể cho tôi vào khám trước được không? Cô hất hàm:
- Đợi theo thứ tự!
Tôi đi ra nhà vệ sinh, rút một tờ năm mươi ngàn nữa kẹp vào sổ y bạ rồi quay lại phòng khám. Sau khi đã đút tờ năm mươi ngàn vào túi áo Blu, cô y tá dịu dàng bảo tôi đợi một tí, ghi xong cho một bênh nhân, cô cầm cuốn y bạ của tôi dẫn thẳng đến phòng ông trưởng khoa cách đó ba phòng.

Nhìn thấy tấm biển đeo trên ngực ông trưởng khoa có đề học vị tiến sỹ, tôi đã mừng thầm, cuối cùng thì nguyện vọng được tiến sỹ khám của tôi cũng thấu được đến trời cao qua những lần tôi cầu khấn. Ông trưởng khoa hỏi tôi, tôi kể lại toàn bộ diễn biến từ lúc ăn nhậu đến khi đi khám tư, uống hết mười ngày thuốc mà vẫn chưa khỏi. Ông bảo tôi há mồm ra, tôi há, ông chiếu đèn xem xét. Xem xong họng, ông xem đến cái đơn thuốc mà tôi đã uống:
- Toàn những loại thuốc tốt nhất thế giới mà vẫn không khỏi à? - Ông bác sĩ có vẻ trầm ngâm, ngước nhìn tôi một lúc, ông hỏi:
- Nhà anh có ai bị tiền sử bị ung thư vòm họng không?

Tôi choáng váng, phải cố hết sức tôi mới không bị ngã lộn cổ xuống đất. Mãi một lúc sau tôi mới cất nổi lời, kể với ông về trường hợp ông chú tôi. Nghe xong, bác sỹ ghi cho tôi một loạt các xét nghiệm, chụp chiếu. May mắn làm sao, do có sự phòng xa nên sáng nay tôi đã nhịn ăn cháo và uống nước, như vậy là có thể thử máu, nước tiểu được ngay mà không phải đợi đến sáng mai. Rút kinh nghiệm, cứ đến cửa phòng nào là tôi lại kẹp vào cuốn sổ y bạ tờ năm mươi ngàn, và dù có hàng chục người đang xếp hàng chờ trước tôi thì tôi vẫn được tiếp đón theo đúng tinh thần lương y như từ mẫu và được ưu tiên khám trước. Cũng có một vài ông, bà già khó tính thắc tại sao tôi đến sau mà lại được vào trước thì được giải thích rằng tôi là trường hợp cấp cứu, hoặc là thương binh.

Đầu giờ chiều tôi đến lấy kết quả xét nghiệm, chụp chiếu rồi quay lại phòng bác sĩ trưởng khoa. Xem kết quả xong ông ân tình bảo tôi có lẽ tôi bị ung thư vòm họng giai đoạn đầu. Mặt tôi tái mét, bác sĩ khuyên tôi nên bình tĩnh, cũng may mà phát hiện sớm, mổ ngay thì không sao, chứ để lâu thành di căn thì vô phương. Tôi khẩn thiết nhờ ông trưởng khoa trực tiếp mổ cho tôi, ông bảo ông bận lắm, ngoài làm ở bệnh viện, ông còn phải tham gia giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Tôi nhìn ra cửa, chỉ sợ cô y sĩ ban sáng lại dẫn một người bệnh vào nữa nhưng vẫn cửa đóng, không có tiếng gõ cửa, cũng không thấy ai thập thò, tôi rút ví lấy ra năm tờ một trăm ngàn đưa cho ông, gọi có chút bồi dưỡng ban đầu, mong ông trực tiếp mổ cho, nếu được toại nguyện sau này sẽ có bồi dưỡng chính thức, xứng với công lao và trí tuệ của ông. Lúc đầu ông trưởng khoa từ chối nhưng thấy tôi nhiệt tình, lại còn nói rằng tôi đã từng nghe đến tên tuổi ông là một bác sĩ nổi tiếng, ai mà được ông chữa bệnh, mổ thì thần may mắn luôn mỉm cười; cái đoạn này tôi cố bịa ra, song hiệu quả lại có thật, ông cầm tiền bỏ vào ngăn kéo bàn rồi hứa sẽ xếp lịch hội chuẩn và trực tiếp mổ cho tôi.
Tôi xiết chặt tay ông, lòng biết ơn vô bờ vô bến.

Tôi về nhà, thần chết treo lơ lửng trên đầu, chưa lúc nào tôi lại ham sống sợ chết như lúc này. Vợ tôi thuộc vào loại xinh xắn, còn quá trẻ, thua tôi những mười lăm tuổi, chúng tôi mới có một đứa con trai mười tám tháng tuổi; tôi chết đi, nhất định nàng sẽ đi bước nữa. Cứ nghĩ đến cảnh một thằng đàn ông khác đến ngôi nhà này chung sống với nàng, tim tôi lại nhoi nhói. Ngôi nhà trị giá hai tỷ ba trăm triệu này do chính đôi bàn tay tôi làm nên trước khi tôi cưới nàng và có lẽ nàng đồng ý lấy tôi phần vì tôi có một chút học thức, khá đẹp trai và phần vì tôi có sẵn ngôi nhà này. Đất đai ở Hà Nội đang vào thời điểm đắt đỏ, một công chức có nằm mơ cũng chẳng có nổi hai mươi mét vuông đất chứ đừng nói ngôi nhà bốn tầng, diện tích sàn bảy mươi mét vuông như của tôi. Hồi tôi mua mảnh đất này chỉ có năm trăm ngàn một mét vuông, cả thảy là ba tư triệu hai trăm ngàn đồng, ông chủ bớt cho ba trăm ngàn để tôi lấy lộc; chỉ hai năm sau, cơn sốt đất lên cơn giật đùng đùng, có người trả tôi một tỷ, rồi tỷ rưỡi, tỷ bảy nhưng tôi không bán, quyết định gom góp chút vốn liếng cuối cùng và vay thêm ba trăm triệu để xây nhà. Tôi phải kiệt sức, mất gần ba năm làm thuê, dịch thuê tiếng Anh, đánh quả mới trả hết nợ nhà. Thế rồi trong một lần khiêu vũ, tôi gặp nàng. Nàng mặc bộ váy mỏng màu thiên thanh, ngay từ cái nhìn đầu tiên, tôi đã bị nàng hớp mất hồn. Phải lấy hết can đảm, tôi mới dám đi lại mời nàng nhảy điệu Tănggô. Người nàng áp sát người tôi, nhất là cặp vú nở nang của nàng thỉnh thoảng lại cọ cọ vào ngực, làm tôi ngất ngây cứ tưởng mình đang ở thiên đường. Xong điệu nhảy, tôi mời nàng ra bàn uống nước, qua tâm sự mới biết nàng quê ở Thái Bình, đang là sinh viên năm thứ tư trường đại học Ngoại ngữ, nàng có ước mơ ra trường tìm được việc làm ở thủ đô. Biết tôi còn độc thân, có nhà riêng, có việc làm ổn định, nàng rất có cảm tình với tôi. Thế rồi duyên số trời xe, đám cưới của tôi và nàng được tổ chức trước ngày nàng ra trường hai mươi ngày.

Tôi đã phải lìa xa cõi đời, mất nàng, mất cả ngôi nhà này ư? Đau buồn và nuối tiếc quá! Chợt một ý nghĩ vụt ra trong đầu tôi, theo Luật hôn nhân mới, tài sản trước khi kết hôn của ai thì sau khi ly hôn vẫn thuộc quyền sở hữu của người ấy; nếu ly hôn thì ngôi nhà này vẫn hoàn toàn là của tôi, nhưng nếu tôi chết đi thì nó lại thuộc quyền thừa kế của vợ. Phải rồi tôi sẽ ly hôn để phòng khi có đi theo ông chú thì tôi sẽ viết di chúc thừa kế lại duy nhất cho thằng con trai tôi; trong bản di chúc, tôi sẽ nói rõ, ngôi nhà chỉ để ở chứ không được bán nếu con tôi chưa đủ tuổi công dân và mẹ nó nếu chưa đi lấy chồng khác có thể về chung sống với con nhưng không được sở hữu ngôi nhà; đặc biệt khi đi lấy chồng sẽ không được đưa người chồng mới về ở ngôi nhà này.

Sau khi nghe tôi nói, bệnh tình của tôi khó mà qua khỏi, nếu ca mổ thành công, tôi cũng chỉ kéo dài thêm sự sống tối đa năm năm nữa, tôi muốn ly hôn, nhận nuôi con để giải phóng cho nàng càng sớm càng tốt để nàng có điều kiện tìm kiếm cho mình một người chồng mới xứng đáng với nàng; nàng đã khóc nức nở. Nàng khóc vì thương tôi, khóc vì tấm lòng hy sinh của tôi và khóc cả cho thân phận nàng còn trẻ mà đã phải goá bụa.

- Không! - Nàng thổn thức - Em không thể bỏ mặc anh trong lúc này.

Sự quan tâm và tấm lòng thuỷ chung của nàng đã làm tôi rơi nước mắt, tôi đành phải xuống giọng nói với nàng để tôi suy nghĩ lại, nhưng trong thâm dù tôi rất yêu nàng, mong muốn được sống mãi mãi bên nàng nhưng tôi không thể ích kỷ, giết chết cuộc đời của nàng.
Tôi nói với nàng là thế nhưng chẳng kịp để suy nghĩ, ông bác sĩ trưởng khoa đã gọi điện thoại di động cho tôi biết tuần sau ông phải đi công tác nước ngoài gấp, hộ chiếu đã làm xong nhưng đã trót hứa với tôi nên ngay ngày mai tôi phải đến bệnh viện, sáng hội chuẩn, chiều mổ ngay.

Mọi thứ tôi đã chuẩn bị sẵn sàng nhất là tiền. Để tập trung cho ca mổ tôi đã trù liệu hai mươi triệu chẵn; tám triệu cho tiền thuốc và viện phí, năm triệu bồi dưỡng cho ông trưởng khoa như đã hứa, bốn triệu bồi dưỡng cho kíp mổ, số còn lại bồi dưỡng cho y tá, y sĩ kẻo không có, mỗi khi tiêm cô lại ngoáy cho một cái thì đau lắm như nhiều người kể lại.

Ngày mai tôi sẽ lên bàn mổ, lẽ ra tôi phải bình tĩnh, tự tin nhưng vì phải uống quá nhiều thuốc kháng sinh mạnh, vì tốn quá nhiều tiền và quá sợ chết nên người tôi gày rộc đi như các xác ve, tinh thần tôi hoảng loạn. Đã thế đài báo ngày mai có gió mùa Đông Bắc, nhiệt độ xuống 12 độ C; trời lạnh chắc là mổ xong, hết thuốc mê sẽ đau buốt lắm!

Quả nhiên đêm đó gió mùa Đông Bắc đổ về ầm ầm, mặc dù chăn ấm, nệm êm, vợ ôm chặt nhưng tôi vẫn cảm thấy hình như tất cả cái lạnh trong trời đất đang lùa vào từng thớ thịt của tôi. Sáng hôm sau, tôi vốn rất nhạy cảm với thời tiết nên vừa bước ra khỏi giường, tôi đã sổ ra một tràng:
- Hắt, hắt xì hơi! Hắt xì xì hơi!

Có cái gì đó trăng trắng bắn ra khỏi mồm và tự nhiên họng tôi hết vương vướng. Tôi quỳ xuống tìm kiếm vật đã cứu sống tôi thoát khỏi lưỡi hái của tử thần.
Chúa ơi, thì ra đó là một mẩu gân bò dai nhách!  

Nghèo và Hiểm Họa Của Nghèo


ChữNghèo (Bần) và Nghèo Hèn (Bần Tiện, Bần Cùng) đã có từ ngàn xưa chứ không phải đời nay mới có. Cái nghèo đã gây ra biết bao thảm cảnh xã hội nhưng nó cũng là nguồn cảm hứng cho bao “ca khúc đoạn trường” như “Les Misérables” (Những Kẻ Khốn Cùng) của Victor Hugo mà Hồ Biểu Chánh đã mô phỏng theo với “Ngọn Cỏ Gió Đùa”…rồi “Gánh Hàng Hoa” của Nhất Linh đã làm cho chúng ta rơi lệ. Mở lại kho âm nhạc của Miền Nam trước 1975, biết bao nhiêu ca khúc khóc than cái nghèo còn được lưu truyền và hát đi hát lại cho tới ngày hôm nay, trong nước cũng như hải ngoại, chẳng hạn như: “Kiếp Nghèo” của Lam Phương với những lời than van:
“Đời nghèo lòng nào dám mơ tình chung”
Và lòng chỉ thầm mong:
“ và một ngày mai mưa không nghe tiếng khóc trong đêm dài”
Rồi Phạm Đình Chương với “Xóm Đêm”:
“Đường về canh thâu”
“Đêm khuya ngõ sâu như không màu”
“Qua phên vênh có bao mái đầu”
“Hắt hiu vàng ánh điện câu” (*)
Và “Phố Buồn” của Phạm Duy với hình ảnh thê thảm:
“Nhìn vào khe song trông anh ốm yếu ho hen.”
Sau nữa, cái nghèo còn là khởi nguyên hay trở thành “chính nghĩa” của những cuộc “cách mạng” long trời lở đất khi giai cấp nghèo khổ có tổ chức dám đứng lên lật đổgiai cấp bóc lột. Lenin nói rằng “Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh”.
Trước hết chúng ta thử tìm hiểu xem cái nghèo từ đâu tới.
-Nghèo là do Ông Trời, Thượng Đế khiến thế
Những người tin theo Thuyết Định Mệnh hoặc tín đồ của Thần Giáo tin tưởng rằng Giàu, Nghèo là do Trời Đất, Thượng Đế an bài. Nếu đã do Thần Linh Tối Thượng an bài rồi thì không thể cải sửa được. Điều đó có nghĩa là hễ nghèo thì nghèo suốt đời, đời con, đời cháu vẫn cứ tiếp tục nghèo không sao ngóc đầu lên được. Lý thuyết và niềm tin này không đúng bởi vì có khá nhiều người nghèo, do nỗ lực bản thân, do may mắn, do đổi thay của xã hội mà trở nên giàu có. Cũng có khá nhiều người đang giàu có, do ăn chơi phung phí, gia đình đổ vỡ, do đam mê rượu, gái, cờ bạc, xì-ke ma túy, quản trị tài chính kém cỏi hoặc do thời thế đổi thay mà trở nên nghèo rồi trở thành ăn mày “homeless” vô gia cư. Hình ảnh này dễ thấy ở Hoa Kỳ.Lý thuyết và niềm tin dựa vào Thần Quyền để giải thích nguyên do của cái nghèo, ngoài sự phỏng đoán rất vu vơ lại còn nguy hiểm ở chỗ - vì không thể cải sửa được cái nghèo cũng như thân phận cho nên chỉ còn cách cầu nguyện, van vái và đôi khi “mặc kệ người nghèo” bởi vì “số kiếp” của nó như thế thì mặc nó như thế.Theo Ấn Độ Giáo, giai cấp cùng đinh (Untouchables) sinh ra từ bàn chân của ThượngĐế cho nên phải chấp nhận cuộc sống nghèo hèn và làm những nghề nhơ bẩn mãi mãi.
-Nghèo bẩm sinh, nghèo tự nhiên
Khi ông bà nghèo thì cha mẹ nghèo. Cha mẹ nghèo thì con cái nghèo. Tục ngữ Việt Nam có câu “Con vua thì lại làm vua. Con sãi chùa lại quét lá đa”. Chắc chắn con của một ông đạp xích-lô, hoặc hành nghề “cửu vạn” (**) hoặc con của một cô gái đangở đợ, gánh nước mướn chui rúc ở những khu bùn lầy nước đọng, nghĩa trang, hè phố…là phải nghèo rồi mà nghèo từ trong bụng mẹ lận. Những em bé này có thể không bao giờ được cắp sách đến trường vì còn phải phụ với cha mẹ kiếm miếng cơm manh áo, chân thì đi đất, mặt mày lem luốc, thèm khát từng món đồ chơi, cái kẹo và có khi không có bạn để chơi vì nghèo quá “ai chơi với mình”? Chính vì sợ hãi cái nghèo mà người đời đua nhau làm giàu, trước hết để ngoi lên, sau cho con cháu sau này đỡ khổ. Gần đây một nữ tài tử điện ảnh nổi tiếng của Hoa Kỳ tuyên bố rằng cô cần phải để lại cho con ít nhất 50 hoặc 60 triệu đô-la thì cô mới yên tâm! Đấy, người ta sợ hãi cái nghèo đến như vậy đó.
-Nghèo tại mình
Nghèo không phải hoàn toàn tại số mà do thuở nhỏ chỉ mê “chơi games”, biếng học, lớn tí nữa thì tụm năm túm ba tán dóc, tập tành hút thuốc lá, uống rượu, phá làng phá xóm, không chịu làm ăn, ngại khó ngại khổ…cho nên nghèo là cái chắc. Trong một gia đình, anh chị em giàu có, học hành nên người mà mình thì nghèo “rớt mùng tơi” đâu phải cha mẹ muốn thế mà chỉ vì cái bệnh lười biếng mà ra. Ngoài ra, thế giới ngày hôm nay đang ở vào kỷ nguyên Toàn Cầu Hóa, chủ nhân các đại công ty được tự do thuê mướn nhân công ngoại quốc. Trong lãnh vực điện tử, cáchđây vài năm, các công ty lớn của Hoa Kỳ đã thuê một lúc cả chục ngàn kỹ sư điện tử Ấn Độ. Lý do: Gía rẻ và người Ấn Độ rất giỏi về lãnh vực Programmer (viết các software) khiến các kỹ sư trẻ Mỹ mới ra trường không sao kiếm được việc làm. Vậy thì: Toàn cầu hóa có nghĩa là tự do cạnh tranh và cạnh tranh khốc liệt. Nếu công nhân trong nước- kể cả kỹ sư- nếu không tiếp tục trau giồi kỹ năng - đến một lúc nào đó kiến thức (tay nghề) tụt hậu, các công ty, vì lý do cạnh tranh, phải mướn nhân công giỏi từ ngoại quốc…thì công nhân trong nước thất nghiệp. Khi đã thất nghiệp, xin việc mà không ai mướn, lúc đó nghèo đói chỉ trong gang tấc. Xin nhớ cho thế giới ngày hôm nay đầy rủi ro, bất trắc chứ không “êm đềm phẳng lặng” như những thập niên trước. Giàu nghèo biến nhanh như “giấc mộng kê vàng”.
-Nghèo vì chủ nhân bóc lột
Bóc lột ở đây có nghĩa là chủ nhân, dù thu lợi rất nhiều nhưng lại trả lương công nhân với giá không cân xứng. Dưới thời Pháp thuộc, các chủ đồn điền cao-su, hỏa xa, nhà máy, hầm mỏ v.v..đều do Thực Dân làm chủ và đã bóc dân ta một cách thậm tệ giống như nô lệ, khiến đời sống của công nhân muôn vàn thống khổ với những câu ca dao còn truyền lại của người vợ có chồng đau ốm như sau:
“Thương chồng nấu cháo đường xe”
“Nấu canh tà-vẹt nấu chè bù-loong”
Ngày nay, Chủ Nghĩa Thực Dân không còn, nhưng tệ nạn bóc lột công nhân vẫn chình ình ra đó, và ở khắp mọi nơi trên thế giới. Với đồng lương gọi là “đồng lương chết đói” thì vợ con nheo nhóc, giật gấu vá vai, nghèo đói là chuyện đương nhiên.
-Nghèo là vì lạm phát, vật giá gia tăng
Khi vật giá leo thang tức lạm phát thì nông dân, chủ nhân các hãng xưởng, xí nghiệp, người cung cấp dịch vụ như taxi, hớt tóc, nhà hàng, siêu thị, luật sư, bác sĩ,bảo hiểm v.v.. còn có thể tăng giá thành sản phẩm hoặc tăng giá bán đề bù lại -nhưng người quân nhân, công nhân các hãng tư, viên chức chính phủ lấy gì để tăngđây? Họ chỉ còn cách kêu nài tăng lương mà vũ khí duy nhất là đình công. Ở các nước khác thì tôi không rõ, tại Hoa Kỳ, ngoại trừ quân đội thì không được phép đình công, chống đối hay nói xấu chính phủ, còn từ nhân viên cảnh sát, nhân viên cứu hỏa, giáo chức, công nhân hỏa xa, phi trường, ngân hàng - nghĩa là tất cả mọi nghành - đều được phép và được quyền biểu tình, đình công đòi tăng lương. Xin nhớ cho, lạm phát tức vật giá leo thang là một trong những yếu tố tệ hại gây bấtổn xã hội và làm cho hằng triệu công nhân, viên chức bỗng trở nên nghèo khó trong chớp nhoáng. Để bảo đảm đời sống cho công nhân viên chức, nhiều quốc gia có qui định xét tăng lương định kỳ, nhưng tỷ lệ tăng đó không thấm vào đâu so vớiđà gia tăng rất tự nhiên của vật giá. Tại Hoa Kỳ, tôi còn nhớ ở thập niên 80-90, một bữa ăn sáng no bụng, ngon miệng tại Mc Donal's là 2.15 đô-la, nay là 4.75 đô-la tức tăng hơn 200%. Còn một ổ bánh mì thịt tại các tiệm Việt Nam từ 1đô-la, nay là 2.75 đô-la tức tăng 250%. Điều này cho thấy đời sống khó khăn của người dân Hoa Kỳ.
-Nghèo là vì đất nước không tạo đủ công ăn việc làm
Các quốc gia chậm phát triển vừa ra khỏi thời kỳ nô lệ, chiến tranh hoặc theo chính sách bế quan tỏa cảng đều không tạo đủcông ăn việc làm cho người dân. Khi khu vực kỹ nghệ, dịch vụ và nông nghiệp không thu hút lực hết lượng lao động thì số dư thừa biết làm gì đây? Họ đành cam lòng làm các công việc như lau chùi, quét dọn, khuân vác, đạp xích-lô, ở đợ,buôn gánh bán bưng, mò cua bắt ốc, bươi móc các đống rác…Tóm lại đều là những nghề “nghèo hèn” không bảo hiểm sức khỏe, không tương lai, không gì hết…để sống qua ngày. Hình ảnh rõ nét nhất của một xã hội nghèo khổ là: trẻ em lang thang ngoài đường phố trong giờ học, thanh niên thiếu nữ tụm năm túm ba ở quán cà-phê tán dóc hay chờ đợi mánh mung, ăn mày đầy các quán ăn, ông già đạp xích-lô, phụnữ gánh gồng, đàn ông sửa “bút bi”, cụ già gần 80 tuổi ngồi vá xe đạp v.v..Dĩnhiên những hình ảnh này làm chúng ta đau lòng và chắc chắn không được thiện cảm của thế giới.
-Nghèo vì bất công xã hội
Khi một chính quyền ưu đãi và dành độc quyền khai thác tài nguyên quốc gia, hoặc làm chủ các công ty huyết mạch của nền kinh tế cho một thành phần nào đó thì công nhân bị bóc lột, điều kiện lao động tồi tệ và đất nước không tiến lên được vì không có cạnh tranh, tự tung tự tác mà không ai dám kiểm soát. Đó là trường hợp của Nam Dương với Tổng Thống Suharto - con cưng của Hoa Kỳ và Tây Phương trong Chiến Tranh Lạnh (Cold War), nổi tiếng khát máu vì đã giết khoảng nửa triệu và bỏ tù khoảng 1.5 triệu đảng viên Đảng Cộng Sản và các nhà đối lập Indonesia. Sau 32 năm trị vì với bàn tay sắt của quân phiệt và tham nhũng, đã bị dân chúngđứng lên lật đổ, đốt phá các cửa hàng của Hoa Kiều vì đất nước nghèo đói, thất nghiệp, khủng hoảng tài chính năm 1998. Sau khi bị lật đổ, người ta mới khám phá ra đất nước Nam Dương đã bị lũng đoạn bởi gian thương Hoa Kiều, mọi nguồn khai thác tài nguyên và các đại công ty trọng yếu của quốc gia đều nằm trong tay con cháu của Suharto và phe nhóm. Tài sản của Suharto ước tính từ 15-35 tỉ đô-la. Ông bị truy tố ra tòa vì tội tham nhũng 571 triệu đô-la viện trợ và tội diệt chủng. Nhưng vì thế lực của phe nhóm quá mạnh, cho nên chính quyền mới đành phải chấp nhận giải pháp “quản thúc tại gia” vì lý do sức khỏe cho đến khi ông mất vào năm 2008.
Hậu quả của cái nghèo
Cái nghèo đưa đến những hậu quả vô cùng tệ hại. Chúng ta tạm liệt kê một số nhưsau:
-Bần cùng sinh đạo tặc. Không dám vơ đũa cả nắm bởi vì một số người dù nghèo, nhưng do thấm nhuần đạo lý, nề nếp gia đình, vẫn giữ gìn phẩm hạnh, nép mình trước cảnh phồn vinh của xã hội trong tinh thần “ Đói cho sạch, rách cho thơm”. Thế nhưng tuyệt đại đa số thì không vậy. Vì nghèo nên sống chui rúc, thiếu vệ sinh từ đó đẻra bệnh tật. Vì thiếu dinh dưỡng nên thân thể gầy còm, nhỏ thó, tính tình cau có, ăn nói thô lỗ tục tằn, dễ nóng giận. Vì nghèo nên thường hay gây gổ, cãi lộn, mắng chửi nhau sinh ra bạo hành, ly dị. Nếu nghèo biến thành đói thì không chuyện gì không dám làm… từ cắp vặt, gian dối, lừa đảo, buôn gian bán lận…cho đến cướp của giết người chỉ trong gang tấc. Cái tệ hại hơn nữa là từ nghèo mà thành túng. Từ túng thiếu sinh ra trộm cắp và nhất là phá hại của công. Tất cả các hành vi phá rừng, phá núi, xâm phạm các nơi bảo tồn sinh thái, săn bắt trái phép thú hiếm quý, vào chùa ăn trộm chuông đồng, tượng Phật…đều xuất phát từ căn bệnh nghèo đói mà ra.
-Cái nguy hiểm nhất của bệnh nghèo là con cái thất học hay bỏ học. Vì thất học cho nên không công ăn việc làm từ đó các em trở thành miếng mồi ngon cho các băng đảng và các trùm buôn lậu ma túy. Theo phóng sự điều tra của một số hãng truyền hình lớn ở Hoa Kỳ- dù không phải tất cả, nhưng một số gia đình nghèo ở Palestines, Iraq, Afghanistan… là đối tượng dễ tuyển chọn nhất cho các vụ đánh bom tự sát. Bởi vì gia đình nghèo, cho thằng con đi ôm bom tự sát thì được 5000 đô-la và được phong “thánh tử đạo”. Ngay tại Hoa Kỳ hoặc Pháp, Đức cũng vậy, các khu vực nghèo khó đều có tỷ lệ tội phạm xã hội và băng đảng rất cao, đồng thời đẻ ra những tổ chức tôn giáo cực đoan.
-Nghèođói dễ bị dụ dỗ và những gì gọi là “tinh thần” đều trở nên phù phiếm. Vợ con tôi đang không có gạo ăn đây thì Quốc TổHùng Vương, văn hóa dân tộc có ý nghĩa gì? Chính vì thế mà đối tượng mà các tôn giáo ngoại lai nhắm tới để cải đạo người Việt Nam là các thành phần nghèo khó. Và khi kế hoạch cải đạo trở nên có hệ thống và được ngoại bang hỗ trợ thì sự cảiđạo có thể diễn ra hàng loạt, từ đó đưa tới thay đổi cấu trúc xã hội rồi tiến tới xung đột văn hóa, xung đột chính trị và nếu không khéo sẽ đưa tới chia cắt đất nước. Thường thường những kẻ tân tòng dễ bị đầu độc để trở thành kẻ thù của chính đất nước mình. Hiện nay điều làm người Hoa Kỳ đau đầu là: Chính những công dân Hoa Kỳ cải đạo sang Hồi Giáo sau đó lại gia nhập các tổ chức khủng bốquốc tế rồi quay sang kêu gọi giết hại chính đồng bào mình. Rồi cuốn sách “The Son of Hamas” của một thanh niên Hồi Giáo, du học Hoa Kỳ, cải đạo sang Ki-tô Giáo, tố khổ Tổ Chức Hamas mà cha của mình là thành viên cao cấp - đã làm điên đầu người Palestines. Thế nhưng dù một số đông người Mỹ da trắng và Thổ Dân Da Đỏ đã cải đạo sang Phật Giáo, nhưng không thấy hoặc chưa thấy một tín đồ Phật Giáo tân tòng nào gia nhập các tổ chức thù nghịch với Hoa Kỳ và kêu gọi giết hại người Hoa Kỳ. Và họ cũng chẳng bao giờ kêu gào hoặc đấu tranh để đòi hỏi một vị thếchính trị cho cộng đồng Phật Giáo. Cái tốt lành, cái thiện của Phật Giáo nằm ởchỗ đó, không biết người Hoa Kỳ có nhìn thấy không?
-Nghèo thì thường đi đôi với hèn. Người đời thường nói “nghèo hèn” và bị người ta khinh khi. Cùng là công dân với đầy đủ quyền hạn ghi trong hiến pháp nhưng tiếng nói của người nghèo như tiếng kêu trong sa mạc, chẳng ai buồn nghe, trong khi tiếng nói của tài phiệt thì “có gang có thép”, bởi vì “Tay mang túi bạc kè kè. Nói khuếch nói khoác người nghe ầm ầm”. Khi đất nước có chiến tranh, thường con nhà giàu, hoặc có thế lực, trốn quân dịch bằng cách du học để con nhà nghèo chết thế trên chiến trường...từ đó gây bất công rồi bất mãn rồi đi tới bạo loạn.
Làm thế nào để chữa bệnh Nghèo?
Hiện nay thế giới đặc biệt là Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) và Liên Hiệp Quốc rất quan tâm tới vấn đề nghèo đói của nhân loại. Một số quốc gia đã được viện trợhoặc cho vay với lãi xuất thấp để thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo. Chúng ta không phải là chính quyền cho nên chúng ta không bàn tới những kế hoạch có tầm vóc quốc gia để phát triển kỹ nghệ, thương mại, nông nghiệp, ngư nghiệp, dầu khí, tìm kiếm thêm thị trường quốc tế để tạo thêm công ăn việc làm cho dân chúng. Chúng ta cũng không bàn tới những chương trình xã hội nhằm trợ cấp cho những gia đình nghèo khó, đồng bào sắc tộc, những cụ già neo đơn, cô quả cô độc…mà chúng ta nói tới nghĩa vụ của người Phật tử làm thế nào để góp phần vào việc chữa trị căn bệnh nghèo khó.
Là người con Phật, chúng ta hiểu rằng chư Phật và chư vị Bồ Tát thị hiện ở đời là nhằm cứu độ chúng sinh. Trong Kinh Hoa Nghiêm Đức Phật dạy rất rõ, “Hằng thuận lợi ích chúng sinh là cúng dường chư Phật.” Do đó, song song với việc tu học, chúng ta phải đặt công việc cứu độ chúng sinh, tức công tác thiện nguyện lên hàng đầu. Mà chúng ta phải làm công việc đó trong tinh thần hoan hỉ, khiêm tốn, bất thối chuyển. Chất liệu nuôi dưỡng tinh thần đó chính là Hạnh Nguyện Từ Bi. Trong nước thì tôi không rõ, tại hải ngoại, trong các dịp lễ lớn hoặc đại hội của Phật Giáo, sau nghi thức chào cờ thường có giây phút rất linh thiêng gọi là “Phút Nhập Từ Bi Quán”. Vì không phải là ban tổchức và cũng không quen biết nhiều với quý thầy cho nên tôi không rõ trong “Phút Nhập Từ Bi Quán” này quý thầy, quý ni, quý Phật tử làm gì? Phải chăng đây là “Phút mặc niệm” của thế tục? Hay giây phút im lặng, đình chỉ mọi suy nghĩ “Chỉ quán”? Hay giây phút “Thiền Định”? Theo giáo lý của nhà Phật, Từ Bi Quán phát xuất từ Ngũ Đình Tâm Quán mà “Quán” tức là suy nghĩ cẩn thận, thông suốt, hiểu rõ. Vậy thì “Phút Nhập Từ Bi Quán” không phải là giây phút để cầu nguyện hay hướng về Phật, mà qua qua lời giáo huấn của Chư Phật, chúng ta hướng về,nghĩ tới muôn loài chúng sinh - tức những người khác ta - bằng tâm lượng từ bi. Theo nghĩa này, nếu chúng ta dùng tâm từ bi mà quán xét thì:
-Khi chúng ta no, chúng ta nhớ nghĩ tới người đói.
-Khi chúng ta ấm, chúng ta nhớ nghĩ tới người đang giá lạnh.
-Khi chúng ta mặc quần nọ áo kia, chúng ta nhớ nghĩ tới người túng thiếu.
-Khi chúng ta giàu, chúng ta nhớ nghĩ tới người nghèo.
-Khi chúng ta đang ở nơi chốn bình yên, chúng ta nhớ nghĩ tới bao chiến sĩ đang xảthân nơi biên ải, nơi hải đảo xa xôi.
-Khi chúng ta có quyền thế, chúng ta nhớ nghĩ tới bao dân lành vì có họ ta mới có ngôi vị ngày hôm nay như Vua Lý Thánh Tông lúc nào cũng thương dân như con cái của mình.
-Khi chúng ta được học hành, chúng ta nhớ nghĩ tới người không may mắn được cắp sáchđến trường.
-Khi chúng ta được khai mở trí tuệ, chúng ta nhớ nghĩ tới người không được biết tới những tư tưởng và giáo lý cao thượng.
-Khi chúng ta vui vầy cùng con cháu, chúng ta nhớ nghĩ tới những trẻ em côi cút.
Bằng sự quán chiếu đó, bằng tâm lượng đó, bằng tinh thần đó, chúng ta đến với người nghèo khó. Chắc chắn chúng ta không thể chuyển đổi ngay được cái nghèo, nhưng chúng ta an ủi, chia xẻ, cảm thông với họ. Qua công tác thiện nguyện, chúng ta làm cho người nghèo ấm lòng, không cảm thấy cô đơn hay mặc cảm để rồi từ đó họvững tin, cố gắng vươn lên trong tinh thần đạo đức và trọng pháp. Ngày xưa ông Châu Trí nghèo quá, đêm tối phải đốt lá đa lên để học, Phạm Ngũ Lão phải làm nghề đan sọt, Chử Đồng Tử không có cả cái khố mà mặc… đều nên người và trởthành những nhân vật lẫy lừng trong lịch sử. Vậy thì chúng ta không bao giờ có ý nghĩ khinh thị người nghèo khó, và đừng nghĩ rằng họ không bao giờ “ngóc đầu” lên được. Hãy đến với họ và giúp họ một cơhội.
Ngoài ra, cũng đừng bao giờ nghĩ rằng chúng ta có thể dửng dưng trước sự nghèo đói của người khác. Theo giáo lý Hoa Nghiêm của nhà Phật thì trong vũ trụ này, không có vật gì có thể đứng một mình mà vạn hữu liên quan mật thiết với nhau, “tất cả là một và một là tất cả”. Trong từng sát-na cái giàu đang từng giây từng phút tác động vào xã hội và cái nghèo cũng đang từng giây từng phút ảnh hưởng tới văn hóa, chính trị và xã hội. Khi số lượng nghèo trở nên nhiều quá thì xã hội lâm nguy. Vậy thì giúp đỡ người nghèo khó ngoài việc xiển dương Tâm Đại Bi của nhà Phật, chúng ta còn góp phần bảo vệ sự ổn định của xã hội và cuộc sống của chính chúng ta.
Vậy thì bạn ơi !
-Hãy đến với người nghèo khó bằng hạnh nguyện của Thường Bất Khinh Bồ Tát, bằng lòng nhân đạo, bằng tâm Từ Bi, bằng hạnh nguyện cứu khổ của Mẹ Hiền Quán Thế Âm và bằng tình huynh đệ, nghĩa đồng bào.
-Những quán cơm xã hội, quán cơm từ thiện, quán cơm thiện tâm, quán cơm lao động, quán cơm tình nghĩa, những cửa chùa rộng mở để tặng “sĩ tử” những bữa cơm chay trong mùa thi tuyển vào đại học, những học bổng, những buổi khám bệnh miễn phí, những buổi phát quà cho đồng bào ở Kampuchia, cho các em ở buôn làng xa xôi... đều là sự thể hiện tấm lòng cao cả nói trên.
-Thếnhưng chúng ta vẫn cần có thêm những “tấm lòng vàng” khác, những ông tỷ phú Cấp Cô Độc sẵn lòng cùng quý ni, sư dấn thân vào lãnh vực khó khăn này. Là người con Phật chúng ta làm trước, hy sinh trước, chứ không chờ đợi hoặc phê phán người khác. Rõ ràng, bằng trí tuệ, bằng nỗ lực của chính con người chứ không dựa vào Thần Linh, chúng ta góp phần chuyển hóa nghiệp lực để cùng nhau kiến tạo một đất nước tuy chưa giàu lắm nhưng đẹp và có tình người. 

Đào Văn Bình
(*) Nghèo quá không đủ tiền mở một compteur điện riêng mà phải “câu điện” từ hàng xóm. Vì nhiều người cùng “câu” một lúc cho nên điện yếu, ánh đèn trở nên vàng vọt, hiu hắt.
(**) Phu khuân vác

Tôn giáo Việt Nam và cộng sản Hà Nội

 
Lenin dạy đồng chí đảng viên của ông: Tôn giáo là á phiện của quần chúng. Do đó phải bài trừ tôn giáo để thay thế bằng “xã hội chủ nghĩa Mác-Lê” vào lòng tin của quần chúng. Mao Trạch Ðông diệt tôn giáo bằng cách thành lập tôn giáo quốc doanh và thẳng tay đàn áp, cấm đoán. Cộng sản Hà Nội học thuộc nguyên tắc hành động của quan thầy Trung Quốc. Tuy nhiên, Việt Nam gặp nhiều trở ngại trong việc thực hiện vì hai lý do. Thứ nhứt, dân tộc Việt Nam có lòng tín ngưỡng rất sâu đậm về Trời Ðất, Chúa, Phật, Thánh thần, niềm tin đó ghi vào tâm trí của người Việt. Thứ hai, dư luận quốc tế ngày nay hướng về sự tiến hóa của nhân loại trên con đường tự do, dân chủ và tôn trọng nhân quyền, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng.

Thật vậy, sự bang giao quốc tế từ thế kỷ hai mươi bước sang thế kỷ hai mươi mốt các quốc gia trở thành cường quốc, thường công khai khuyến cáo hay ngấm ngầm kêu gọi phải tôn trọng nhân quyền. Mọi sự viện trợ tài chánh, quân sự, văn hóa đều kèm theo điều kiện phải nới rộng nhân quyền. Truyền thông báo chí luôn luôn chỉ trích gắt gao mọi sự vi phạm nhân quyền trên thế giới. Thậm chí dư luận còn công khai xếp hạng các quốc gia nào vi phạm nhân quyền nặng nhứt. Ủy Hội Quốc Tế Nhân Quyền tổ chức đại hội thường niên cho phép đại diên các quốc gia có diễn đàn công khai tố cáo những vi phạm với bằng chứng của nhiều chế độ độc tài gian ác.

Trong lúc cộng sản Hà Nội chủ trương diệt tôn giáo nhưng bề ngoài cũng phải tỏ ra có thiện chí, đặc biệt đối với Hoa Kỳ, vì sợ Bộ Ngoại Giao đưa Việt Nam trở lại danh sách các nước phải đặt biệt lưu ý (Countries of Particular Concerns) theo đề nghị của một số dân biểu, nghị sĩ Mỹ. Vì vậy mà Hà Nội giả vờ tham gia vòng đối thoại Mỹ-Việt thứ 16 về vấn đề nhân quyền tại Washington hai ngày 9 và 10 tháng 11 vừa qua. Tại đây Mỹ khuyến cáo Việt Nam phải tôn trọng nhân quyền và yêu cầu ngưng sách nhiễu các nhà bất đồng chính kiến. Sau khi ghi nhận sự khuyến cáo, Hà Nội khẳng định vấn đề nhân quyền có tiến bộ ở Việt Nam. Nhưng một tuần sau, ngày 18-11-2011, Hà Nội đàn áp dã man giáo dân Thái Hà đến nỗi tùy viên đại sứ quán Mỹ, ông Michael Orana tuyên bố rất “ngỡ ngàng” về thái độ trở mặt nhanh chóng của Hà Nội, khi ông Orana đến thăm các linh mục, tu sĩ, và giáo dân Thái Hà.

Nói về tín ngưỡng của người Việt Nam, nhìn qua người ta thấy làng xã nào cũng có Ðình thờ Thần, Miễu thờ Thánh hay vong hồn linh thiêng, Chùa thờ Phật, Thánh đường thờ Chúa. Nhiều nơi có thánh thất Cao Ðài, Phật Giáo Hòa Hảo. Ðó là chưa kể đạo Dừa ở cồn Phụng, Bến Tre, đạo Nanh, đạo Vuốt, đạo Nhỏ... ở các tỉnh Châu Ðốc, Long Xuyên. Tín ngưỡng của quần chúng còn thể hiện qua thầy Pháp lên đồng chữa bệnh, đôi khi bệnh ngặt nghèo hết phương cứu chữa, người dân quê tuyệt vọng bước ra sân “cắn có kêu trời” xin cứu giúp, sự hy vọng cuối cùng chỉ còn biết miệng ngậm cỏ của đất gởi lời van xin cho Trời. Tất cả đều chứng minh lòng tín ngưỡng của người Việt Nam bất diệt.

Cộng sản Hà Nội mới vào Nam bắn chết nhiều giáo dân Công giáo trên đường Trương Minh Giảng đang xuống tòa tổng giám mục Sài Gòn ủng hộ Ðức Cha Nguyễn Văn Thuận. Sau đó công an chiếm trọn Thánh Thất Cao Ðài Tây Ninh, theo tin đồn trong thánh thất có chôn giấu súng đạn. Công an bắt hết tu sĩ đồng thời trú ngụ luôn tại đó một thời gian dài. Mãi cho đến khi tìm được tín đồ chịu theo nhà nước và một số công an trá hình, thành lập ban trị sự. Từ đó Cao Ðài Tây Ninh bị “quốc doanh” hóa gần như hoàn toàn. Công An bắt ông đạo Dừa cầm tù cho đến chết, hết giáo chủ đạo không còn!

Nói về Hòa Hảo, nhà cầm quyền Hà Nội bắt ông Nguyễn Văn Lía, một tín đồ Hòa Hảo thuộc hàng lãnh đạo, đánh ông gẫy sườn, kêu án 5 năm tù, và ông Trần Hoài Ân lãnh 3 năm tù ở. Phát ngôn viên tòa đại sứ Mỹ tại Hà Nội ông Beau Miller tuyên bố với đài BBC: “Hoa Kỳ lo ngại về phán quyết án tù đối với hai tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo này và yêu cầu Việt Nam trả tự do cho hai ông Lía và Ân”.

Ðối với Phật Giáo Hòa Hảo mối thù cộng sản Hà Nội giết Giáo Chủ Huỳnh Phú Sổ vẫn là thù “bất cộng đái thiên”. Hà Nội biết rõ điều đó nên ngay lúc còn chiến tranh đã móc nối nhiều kẻ phản bội để thay thế ban lãnh đạo nhưng không thành, bởi lẽ Giáo Hội Hòa Hảo thu gọn ở các tỉnh miền Tây nên tín đồ biết nhau gần hết, những kẻ phản bội Ðức Thầy bị vạch mặt, chỉ tên dễ dàng. Xâm nhập không được thì chỉ còn nước thẳng tay đàn áp. Tín đồ bị đánh đập mang thương tích trầm trọng, bị tù đày, chết chóc.... Bao nhiêu năm qua, cộng sản Hà Nội chưa diệt được tôn giáo Hòa Hảo và sẽ không bao giờ diệt được bởi vì mối hận thù giết thầy còn đó lại chồng chất thêm bao nhiêu oán hờn do sự đàn áp dã man lâu nay.

Song song việc bắt giam Giám Mục Nguyễn Văn Thuận, Hà Nội bắt giam các vị lãnh đạo Phật Giáo Việt Nam Thống Nhứt, cố Ðại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang, Ðại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ. Ðồng thời cho công an và đảng viên giả dạng thầy tu xâm nhập, lập chùa kết thành một thứ Phật Giáo “quốc doanh”. Công tác quốc doanh hóa Phật Giáo tương đối dễ dàng bởi lẽ hệ thống tổ chức của Phật Giáo không chặt chẽ. Do đó, Phật Giáo bị phân hóa nhưng vẫn bất diệt vì Ðại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ còn đang lãnh đạo, đặc biệt còn có Phật Giáo Việt Nam Thống Nhứt ở hải ngoại.

Xét về Công Giáo “quốc doanh” thì phải công nhận có vài tên công khai xé rào, hoặc nội tuyến theo một đường dài bởi lẽ muốn trở thành linh mục Công Giáo phải trải qua sáu niên học còn phải chịu thử thách nhiều điều mới được nhận chức nên vấn đề nội tuyến gặp khó khăn nhiều. Không phải ai cũng có thể tự xưng linh mục. Hai tên quen thuộc tay sai đắc lực của cộng sản được dư luận biết đến nhiều là linh mục Phan Khắc Từ, biệt danh là “linh mục đổ rác”. Sự kiện linh mục Từ chọn nghề theo xe đổ rác thay vì phục vụ trong một họ đạo đủ nói lên thái độ và xu hướng, tư tưởng của ông trong thời Ðệ Nhị Cộng Hòa. Và linh mục Trương Bá Cần (tên thật trong đảng là Trần Bá Cương) khôn ngoan nắm giữ giáo xứ Vườn Xoài tại Sài Gòn để có nơi rao giảng và hoạt động. Dĩ nhiên, hãy còn nhiều linh mục tỏ vẻ tiến bộ, trí thức khuynh tả, ngã về phía xã hội chủ nghĩa như hai LM. Chân Tín và Nguyễn Ngọc Lan. Tuy nhiên họ là những người trí thức có tri thức khi biết mình sai lầm, tự nhận và sửa sai, thay đổi lập trường, khác với một vài ông thiên cộng hay ủng hộ nhà nước để hưởng chế độ “Xin Cho”. Những hạng linh mục đó là thiểu số không đáng kể. Tưởng cũng nên nhắc đến một số đông tu sĩ tự ghép mình trong khuôn khổ tu hành theo sát quan niệm “đạo và đời”, hai thế giới riêng biệt nên không hề dám nói ngược, hành động ngược ý nhà cầm quyền nhân danh việc đời không can dự đến việc đạo cho dù của cải giáo hội bị tịch thu, họ cho đó là quyền của nhà nước, tu sĩ giáo dân bị đánh đập vô cớ, trong lòng họ xót thương nhưng không dám phản đối.

Dù sao Công Giáo vẫn là một cái gai đau nhức đối với nhà nước cộng sản. Bởi vì giáo dân chưa phải là đa số trong quần chúng nhưng là những công dân luôn luôn vâng lời, nghe theo tu sĩ lãnh đạo. Sức mạnh quần chúng là ở chỗ đó. Mỗi khi giáo sĩ kêu gọi xuống đường là có hàng ngàn người, hàng trăm ngàn nếu cần. Cái gai nhà nước muốn nhổ không được là do đó.

Tóm lại ba tôn giáo nhà nước cộng sản muốn tiêu diệt hay quốc doanh hóa theo kiểu Tàu Cộng không được là Hòa Hảo, Phật Giáo Việt Nam Thống Nhứt và Công Giáo.

Ngược lại một ngày nào áp lực của sự đàn áp làm dân không còn chịu được, ngày nào nhà nước tỏ ra quá hèn nhát cho phép giặc Tàu hà hiếp dân mình quá đáng, và ngày nào sự bất công lan tràn đến mức độ Chúa Phật cũng bất bình thì các tôn giáo sẽ đồng thanh hợp lực phản đối công khai, cùng nhau xuống đường hàng ngàn, hàng trăm ngàn người, liên tục.... Chừng đó dư luận quốc tế xôn xao, bàn tán và ủng hộ sẽ dẫn đến kết quả là bộ chính trị cộng sản Hà Nội sẽ bị quét sạch, trả lại tự do dân chủ nhân quyền cho đồng bào.

Tự do không ai cho, không tự nhiên mà có, nó là kết quả của sự hy sinh can đảm, của sự đoàn kết một lòng đòi cho bằng được dân chủ, tự do nhân quyền với bất cứ giá nào như ở Tunisia, Ai Cập, Lybia, Syria và những nơi nào nữa. - 

Võ Long Triều


Bài Xem Nhiều