We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Saturday, 31 March 2012

TƯỜNG TRÌNH LỄ NGHÊNH ĐÓN THI HÀI NGƯỜI ANH HÙNG CHẾT CHO QUÊ HƯƠNG TÂY TẠNG TỰ DO



Kính thưa qúy Liệt Vị Tôn Trưởng Đồng Hương quan tâm,


Như đã thông báo, hôm nay thứ sáu ngày 30/03/2012 tai Dala Latma Temple. Mcleod Ganj Dharamshala, có buỗi lễ nghinh đón thi thể Người thanh niên Tây Tạng tự thiêu phản đối chính sách cai trị dã man của cộng sản Tàu đối với người dân Tây Tạng khi có sự hiện diện của Hồ Cẩm Đào tại New dehli ngày 26 tháng 03 vừa qua.

Từ mờ sáng đã có từng đoàn người lũ lượt kéo về Latma Temple hàng ngàn người giăng tay trên đoạn đường xe quan tài sẽ đi qua.


Buổi lễ kéo dài hơn 3 tiếng đồng hồ với trùng điệp người tham dự sau những nghi thức tưởng niệm cầu nguyện, những lời kêu gọi “Side-by Side” cùng nhân dân Tây Tạng, được vang dội tiếng đáp lời. Cái chết lẩm liệt của thanh niên yêu nước đã làm rúng động trái tim nhân loại. Cái chết làm muôn vạn người cúi đầu.


Đoàn đại biểu Chính Phủ Tây Tạng lưu vong và những khách mời danh dự lần lượt đến chiêm bái trước linh cữu. Có những cụ gìa tóc bạc phơ qùy lạy, trong ràn rụa nước mắt,

đúng như lời người xưa thường nói “Anh Hùng không có tuổi”.

Chúng tôi Lê Chân phóng viên Phong Trào Liên Minh Việt Nam Tây Tạng cũng đã lạy người 3 lạy trước quan tài.



Với  nổi xót xa những giọt nước mắt chảy ngược giòng, tôi đang khóc cho Người hay khóc cho chính tôi, dân tộc Việt Nam trang sử oai hùng đâu thiếu những anh hào nữ  kiệt.

Hơn nữa thế kỷ qua bất hạnh cho Tổ Quốc tôi phải rơi vào tay tập đoàn vong nô bán nước đã hủy diệt và băng hoại tinh thần bất khu ất của tiền nhân.


Nhưng  tôi tin mãnh liệt trong giòng máu kiên cường của dân tộc luôn  tìềm ẩn trong những trái còn tràn trề nhiệt huyết. Dân tộc Việt Nam đã có biết bao Anh Hùng đi vào lịch sử.


Hỡi tuổi trẽ Việt nam hãy cùng nhau làm nên lịch sử hôm nay.

Trong buổi lễ chúng tôi cũng nhận thấy có những  quốc Kỳ của những quốc gia hỗ trợ Tự Do Tây Tạng hiện diện hôm nay gồm có. Hoa Kỳ, Australia, Nam Hàn và Việt Nam Tự Do cờ vàng 3 sọc đỏ.



Tôi lạy Em người Anh Hùng tuổi trẻ

Giờ anh linh siêu phách tận niết bàn

Một cái chết vô cùng vĩ đại

Để muôn đời lưu lại tuổi tên



Tuổi trẻ ơi! Người con dân nước Việt

Tổ quốc đang cần tấm gương dũng liệt

Dân tộc đang quằn đau rên xiết

Dậy, dậy đi Nước Việt đã mất rồi.



 Mcleod Ganj ngày 30/03/2012



Lê Chân Phóng Viên Phong Trào Liên Minh Việt Nam Tây Tạng

Video Lễ Nghênh Đón Thi Hài Người Anh Hùng Tây Tạng Chết Cho Quê Hương

Video 1: Lễ Nghênh Đón Thi Hài Người Anh Hùng Tây Tạng Chết Cho Quê Hương




Video 7: Lễ Nghênh Đón Thi Hài Người Anh Hùng Tây Tạng Chết Cho Quê Hương


DẬY, DẬY ĐI


Việt Nam ơi! Bên kia biển trời,

Đồng bào ta tang thương một đời.

Giặc Tàu đang tràn sang biên giới,

Nga chiếm rồi chiến lược Cam Ranh.



Mỹ cạnh tranh xây lò nguyên tử,

Cuộc thi hùng bá chủ Biển Đông.

Bầy sói dữ thi nhau banh xé,

Trên thân mệnh của Mẹ Việt Nam.



Quê hương ơi! Quyền lợi bạo cường,

Sao dân tôi trả bằng máu xương?

Đồng bào ơi! Tổ quốc tang thương,

Bùng bùng lên cứu lấy Quê hương.



Tỉnh dậy đi hỡi ai say ngủ!

Giặc tràn vào tứ phía phủ vây.

Núi thây, biển máu đến rồi đây,

Hồn núi sông rền vang tiếng "Dậy!"



Dậy dậy đi! Hỡi người dân Việt!

Dậy dậy đi! Trái tim tâm huyết!

Vạn con người thét tiếng Hy Sinh,

Vì non sông hiến dâng thân mình.



Ai cũng sống một lần rồi phải chết,

Khác nhau chăng chết để sống muôn đời.

Vì non sông ta trổi dậy đáp lời,

Việt Nam ơi! Tổ quốc trong tim tôi.



LÊ CHÂN

Để được sống có tự do và trách nhiệm...


Mỗi năm, cứ đến mùa chay của Kitô giáo thì tôi lại nghiệm ra một điều: càng kiêng cữ thì càng thèm! Cuộc sống không chỉ đơn giản chỉ có “ba cái lăng nhăng nó quấy ta” như cụ Tú Xương đã phải “xưng thú” với bà tú. Như sóng biển khơi trùng trùng điệp điệp, trừ được cái này thì cái khác lại trồi lên.
Đa số những kiêng cữ của tôi đều gắn liền với sức khỏe. Vì muốn sống khỏe, sống lâu và nhứt là để khỏi phải trở thành gánh nặng cho người thân và xã hội, tôi thấy mình thành công một cách dễ dàng trong việc đối đầu với những cái “lăng nhăng”. Cũng may, nhờ tiến bộ của khoa học, tôi được giải tỏa khỏi nhiều sự thèm khát mà lâu nay tôi cứ phải kìm hãm. Chẳng hạn như trứng gà. Trước đây tôi cứ phải “đấu tranh tư tưởng” mỗi khi nhìn thấy trứng. Nay những khám phá mới lại bảo rằng tôi có quyền ăn “thả giàn” mà chẳng phải sợ “mỡ máu” (cholesterol xấu) gia tăng dẫn đến các bệnh về tim mạch. Khi biết có “quyền” thì tự dưng không cần ăn “phụ trội” tôi vẫn thấy bớt thèm.
Mới đây, trên báo mạng “Calitoday”, tôi lại được giải thoát thêm khỏi một mặc cảm khác khi đọc được một bài viết về ích lợi của rượu bia. Từ hơn 20 năm nay, cũng vì lý do sức khỏe, tôi đã thề thốt bỏ rượu bia và tôi đã thành công. Nhưng ý chí của tôi đã không thể đè bẹp được sự thèm khát trong tôi. Thấy bạn bè chén chú chén anh mà tôi thấy nóng ran cả người. Nhấp vài giọt vẫn thấy ngon và có khi còn ngon hơn cả cái thời còn sung sức. Nhưng nghĩ đến những tác hại của rượu chè, tôi lại đành nhìn bạn bè để cười trừ và xin được “tha” cho.
Bài báo mà tôi đọc được trên Calitoday viết rằng nếu uống chừng mực thì rượu bia mới có ích lợi cho sức khỏe. Theo bài báo, những nghiên cứu mới cho thấy cường độ đặc của xương cao hơn ở những người uống từ một đến 2 lon bia mỗi ngày, nhứt là bia làm bằng lúa mạch. Kết quả nghiên cứu cũng chứng minh rằng nguy cơ bị nhồi máu cơ tim giảm đi 31 phần trăm nơi những người uống bia chừng mực, trong khi nguy cơ này lại tăng cao ở những người uống quá nhiều.
Cũng theo kết quả nghiên cứu, bia ngăn ngừa và làm giảm việc cấu thành sạn thận đến 40 phần trăm, bởi vì calcium trong bia sẽ giúp cho xương được cứng hơn và không gây sạn trong thận.
Điều đáng chú ý là bài báo khẳng định rằng bia có tác dụng chống lão hóa. Dựa vào một thống kê so sánh 11 ngàn phụ nữ lớn tuổi thì những vị uống một lon bia mỗi ngày có trí óc trẻ hơn đến 18 tháng tuổi so với những người không uống bia.
Ngoài ra, lại càng là một tin mừng hơn khi bài báo viết rằng bia giúp giảm nguy cơ bị ung thư, tiểu đường, tăng trưởng chất bổ trong cơ thể, giúp chống liệt não, giảm bệnh cao huyết áp và nhứt là gia tăng tuổi thọ...
Theo bài báo, kết quả trên đây dựa vào sự tổng hợp của hơn 50 nghiên cứu tại Hoa kỳ cũng như nhiều nước Âu châu. (x. Calitoday 23/3/2012)
Thời buổi khoa học này, người ta luôn “nói có sách mách có chứng”. Tôi tin tưởng ở những kết quả nghiên cứu khoa học. Nhưng tôi cũng thú nhận rằng gần đây, tôi bắt đầu ngờ vực về tính thuyết phục của khoa học. Chỉ riêng về bệnh tật và thuốc chữa trị, hôm nay người ta bảo thế này, ngày mai người ta lại nói ngược lại. Những lý thuyết khoa học đã từng ngự trị cả thế kỷ nay lại bị lung lay. Đừng nói gì đến thuyết tiến hóa mà cho tới nay nhiều nhà khoa học tên tuổi vẫn chưa chịu chấp nhận (x. John Ashton, in six days, why scientists choose to believe in creation), ngay cả thuyết tương đối của người được bầu là nhà khoa học vĩ đại nhứt của thế kỷ 20 là Albert Einstein nay cũng bị đặt lại vấn đề (x. Lê Tất Điều, Ngày tàn của một ảo ảnh, Việt luận, 24/2/2012). Tưởng vững như bàn thạch và sẽ vĩnh viễn ngự trị trong không gian khoa học và cách suy nghĩ của con người, nay thuyết này xem ra đang bị đào thải. Sở dĩ có chuyện “động trời” này là vì mới đây Tổ chức Nghiên Cứu Hạt Nhân Âu Châu gọi tắt là CERN (European Organization for Nuclear Research) có trụ sở gần Geneve, Thụy sĩ, đã chứng minh được rằng những hạt vi mô “Neutrinos” đã có thể vượt qua tốc độ ánh sáng. Như vậy “lệnh cấm tuyệt đối” của Einstein không cho bất cứ vật thể nào trong vũ trụ được phép vượt qua tốc độ của ánh sáng đã bị đánh đổ và do đó thuyết tương đối được xây dựng trên “lệnh cấm” này cũng bị lung lay.
Các lý thuyết khoa học xem ra cũng giống như sóng biển. Lý thuyết này xuất hiện, chi phối cách suy nghĩ và nghiên cứu khoa học một thời gian rồi...chết. Lý thuyết kia lại trồi lên và đảo lộn những lý thuyết đến trước. Vũ trụ vật chất vẫn mãi mãi là một bí ẩn mà trí khôn con người xem ra không thể nào múc cạn.
Cái thế giới thuần vật chất là vũ trụ vẫn mãi là một bí ẩn đã đành, mà cái tiểu vũ trụ vừa là vật chất vừa là tinh thần là con người lại càng phức tạp và không ngừng vượt khỏi tầm tay với của chính trí khôn con người hơn. Khoa học càng tiến bộ thì châm ngôn “dủ học dủ ngu” lại càng đúng. Thành ra, tự cho mình có thể chọc thủng được bức màn bí ẩn của con người và giản lược mọi sinh hoạt của con người vào chiều kích khoa học là một thái độ ngạo mạn, nếu không muốn nói là ngu xuẩn.
Tôi có ý nghĩ ấy khi đọc được bài tiểu luận của chuyên gia tâm thần học Tanveer Ahmed được đăng trên báo The Sydney Morning Herald số gần đây. Theo tác giả, ngày nay, những nỗ lực tìm kiếm những nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đều đặt nền tảng trên ý niệm cho rằng kinh tế học cũng là một bộ môn khoa học giống như vật lý và sinh hóa học, nghĩa là cũng có thể cân lường, đong đếm...Cái nhìn này cũng lại xuất phát từ quan niệm cho rằng mọi sinh hoạt của con người cuối cùng đều giản lược vào hoạt động trong não bộ. Người ta cho rằng từ tình yêu, ý thức, đến ý thơ, niềm tin tôn giáo, cuộc sống xã hội... xét cho cùng cũng chỉ là một chuỗi những hoạt động của “gen” và các tế bào não. Giản lược những cảm xúc và tâm tình cao quý nhứt trong con người thành những bản năng hoàn toàn như nơi thú vật tưởng là chuyện “cường điệu” nhưng lại là cái nhìn trổi vượt về con người trong đầu thế kỷ 21 này. Phim ảnh, báo chí không ngừng cổ võ cho quan niệm xem mọi sinh hoạt của con người đều được quyết định từ trong bào thai. Không thiếu cái giọng điệu cho rằng “cứ 4 đứa trẻ sinh ra thì có một đứa mang sẵn trong người cái “gen” không chung thủy”; có những người “bẩm sinh” là kẻ giết người (natural born killer)...Có sống đạo đức được cũng là do “gen” di truyền. Mà có phạm tội ác thì cũng chỉ là do bẩm sinh. Phân tách cho đến cùng, trong con người chẳng có tự do và trách nhiệm gì cả!
Sở dĩ có cái nhìn giản lược như thế là vì một phần do ảnh hưởng của thuyết tiến hóa, do những khám phá về hệ “gen” di truyền trong con người. Trong 2 hoặc 3 thập niên vừa qua, cuộc nghiên cứu về não bộ và tác động của não bộ đối với cách hành xử của con người đã trở thành một trong những ngành nghiên cứu hàng đầu. Chúng ta biết rằng trong não bộ có trên 100 tỷ tế bào thần kinh và mỗi một tế bào lại liên kết với hàng ngàn tế bào bên cạnh. Chúng ta cũng biết đến nhiều trung tâm chức năng khác nhau trong não bộ, mỗi trung tâm có trách nhiệm và bổn phận khác nhau.Thần kinh học là ngành có nhiều khám phá kỳ thú nhứt. Không có một tuần lễ qua đi mà các nhà khoa học không loan báo một khám phá mới liên quan đến thần kinh hệ. Chính vì vậy mà hiện nay nhiều sinh hoạt khác của con người cũng bắt đầu gắn liền với hai chữ “thần kinh”. Muốn làm những quyết định kinh tế tốt thì cần phải quan tâm đến hoạt động của não bộ. Ngay cả một số triết gia cũng liên kết hai chữ “đạo đức” với thần kinh hệ.
Tưởng hai chữ “thần kinh” chỉ giới hạn trong giới hàn lâm và nghiên cứu. Nay người ta cũng áp dụng nó vào việc soạn thảo các chính sách chính trị, kinh tế và xã hội. Pháp là quốc gia đầu tiên trên thế giới đã thành lập nguyên một bộ chuyên áp dụng những hiểu biết của khoa thần kinh học vào việc soạn thảo các chính sách. Tại Anh quốc, một trong những việc đầu tiên mà thủ tướng David Cameron thực hiện khi lên cầm quyền là thiết lập Đơn vị nhận thức về hành xử (Behavioural Insight Unit), tức một nhóm chuyên gia đặc trách về việc soạn thảo chính sách dựa trên những khám phá của môn thần kinh học. Tại Hoa kỳ, tổng thống Barack Obama dường như cũng chạy theo khuynh hướng ấy để đề ra các chính sách về xã hội.
Theo ông Ahmed, nỗ lực không ngừng để tìm hiểu và đào sâu bản chất con người là điều đáng ca ngợi. Nhưng sẽ là điều nông nổi khi xử dụng khoa thần kinh học và thuyết tiến hóa để tìm hiểu sự sống con người hay đề ra chính sách xã hội.
Tác giả viết rằng những ai muốn xử dụng khoa học để giải quyết những vấn đề thực sự của con người thường phải giản lược chúng thành những vấn đề “kỹ thuật”, nghĩa là như một bài toán mà giải đáp đều có thể tìm thấy nếu theo đúng một quy trình.
Tác giả kết luận: “Khi tiến trình này được áp dụng cho con người, dù là trong kinh tế, sức khỏe tâm thần hay những ứng dụng thời thượng của khoa thần kinh học, thì kết quả không thể tránh khỏi là con người bị xem như đi thụt lùi.” (x. The Sydney Morning Herald, 10-11/3/2012)
Dĩ nhiên, “thụt lùi” từ con người xuống hàng súc vật. Sau năm 75, người Việt nam chứng kiến cái bước “thụt lùi” ấy rõ rệt và đau đớn hơn ai hết. Câu nói đầy mỉa mai “người xuống làm súc vật để cho súc vật lên làm người” hẳn đã diễn tả được cái thực trạng ấy một cách bi thảm. Những kẻ tự cho mình có sứ mệnh “giải phóng” đã dựa vào thuyết tiến hóa được tiếp thu một cách ngu xuẩn và chủ nghĩa vô thần được tuyên xưng một cách cuồng tín để tước đoạt nhân phẩm của người đồng bào ruột thịt của mình. Kết quả của bước “thụt lùi” ấy là gì nếu không phải là điều mà tác giả Hà sĩ Phu gọi là “cuộc tổng khủng hoảng về nhân cách”, luân thường đạo lý bị bứng khỏi lòng người, ý thức về thiện ác hoàn toàn bị xóa bỏ, tính tham lam và độc ác được khuyến khích đến mức tối đa...Những người trong nước còn có chút ý thức về thiện ác cứ phải gào lên đến khàn cổ để báo động về tình trạng “tụt hậu nhân cách”, “xuống cấp đạo đức”...Quả thực, cái phần “người” trong “con người” hầu như đã bị xóa sạch để nhường chỗ cho phần “con”, tức thú tính.
Ở những ngày trước kỷ niệm ngày 30 Tháng Tư “Đen”, làm sao mà tôi không nghĩ đến cái “lỗ hổng đạo đức” ấy trong xã hội Việt nam hiện nay. Bởi vì nó không chỉ là cái “lỗ” nữa nó đã trở thành một “vực sâu không đáy” nuốt trôi đi không biết bao nhiêu tư cách con người.
Riêng tôi, sống những ngày “chay tịnh” để chuẩn bị mừng Lễ Phục Sinh, tôi cảm thấy phải ý thức hơn về “nhân phẩm”, tức tư cách con người của mình. Tôi tin như Kinh Tin Kính rằng con người vẫn mãi mãi là một “huyền nhiệm” mà chẳng có “thước đo” nào có thể vừa và cũng chẳng có bộ môn khoa học nào có thể khám phá và hiểu cho đến cùng. Với tôi, cũng chẳng có khám phá khoa học nào quan trọng cho bằng sự kiện nhân cách, địa vị và phẩm giá con người được tôn trọng và ghi chép trong Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Nhân cách hay phẩm giá cao cả của tôi mang lại cho tôi tự do và đồng thời cũng đòi hỏi tôi phải có trách nhiệm. Với tôi, mục đích của chay tịnh, tức tiết độ trong cách ăn uống, phục sức và nhứt là suy nghĩ và đối nhân xử thế, là để giúp tôi quý trọng chính mình, được sống có tự do và trách nhiệm hơn, bởi vì sống là tiến tới chứ không phải “thụt lùi” trong nhân cách.
Đến tuổi này, liệu có “muộn màng” để thấy rằng được làm Người là một Ân sủng?
Chu Thập

Chủ Đề 30.4: XIN CỨU CHÚNG TÔI RA KHỎI HỎA-NGỤC


XIN CỨU CHÚNG TÔI


RA KHỎI HỎA-NGỤC (CH15)


(Câu chuyện của những người Việt Nam tranh đấu dành tự do)
Nguyên tác: DELIVER US FROM EVIL
Tác giả: THOMAS A. DOOLEY, M.D., 1956
Dịch giả: Trần Tú Uyên
"Câu chuyện lịch sử kể lại những kinh-nghiệm dị-thường của một vị Quân-Y-Sĩ Hải-Quân Hoa-Kỳ sống giữa những nạn nhân Việt-Nam bị Cộng-Sản khủng-bố."
Chương XV: Chính Sách Cải Tạo Tư Tưởng Của Cộng Sản. (Phần 1)
Thiếu nhi Việt Nam không có tuổi thơ. Hay nói cách khác, tuổi thơ của các em bị cướp đi mất trước khi kịp lớn lên. Tuổi thơ chưa kịp đến, các em đã trở thành chín chắn và dày dặn , và ... các em cũng rất là gan dạ.
Một số các em tạm trú và làm việc cho chúng tôi trong trại hàng nhiều tháng trời. Các em chỉ khoảng chừng tám đến mười tuổi, có em lớn nhất là khoảng mười hai tuổi, mà đã phải làm những công việc của người lớn, ngoại trừ những trách nhiệm khi các em có thể xin thuốc lá vì các em còn hút thuốc lá như người lớn.
Mỗi một người y tá quân đội của tôi có khoảng chừng sáu hay bẩy em phụ tá cho họ. Cái phù hiệu danh dự là chiếc nón Hải Quân mầu trắng. Các em ngày đêm đeo theo tôi như một đoàn tùy tùng, và đôi khi làm cho tôi mất tự nhiên. Các em có thể dắt tôi đến thăm một bà già yếu ớt không đủ sức đi ra khỏi lều, hoặc là đưa tôi đến thăm một người đàn ông tàn phế. Các em đi làm những chuyện vặt cho tôi, tìm kiếm những đồ vật mà tôi cần, nấu nước nóng cho căn lều bệnh. Thỉnh thoảng các em còn giặt giũ quần áo cho tôi, thế nhưng trong những trường hợp đó các em có thói quen giặt quần áo của tôi dưới ruộng lúa và tôi không tán thành việc đó. Và đôi khi các em cưỡi xe vận tải của tôi chỉ để vui đùa giống như là ... trẻ con.
Trong những tháng ngày tôi sống trong những khách sạn Hải Phòng, các em cũng tìm đến ngủ ngoài hiên cửa phòng của tôi. Các em thường làm liên lạc viên khi có những người tỵ nạn mới đến và cần sự giúp đỡ cấp thời.
Bất cứ giờ khắc nào mà ông Ham, hay những nhân viên chính quyền Việt Nam, cần gặp tôi, ông chỉ cần nhận ra một em bé với chiếc "nón hải quân", hoặc là một em bé đánh giầy, và nói với em rằng "tìm Bác Sĩ Mỹ."
Khi có một trong những người phụ tá của tôi phải xuôi Nam, chúng tôi thường có một bữa tiệc tiễn chân nho nhỏ. Do đó, vào ngày chính thức tiễn đưa, "Quan Hai", hay là Lieutenant, sẽ ủy thác cho người phụ tá của ông ta là "Quan Một" hay là Ensign trong quân ngũ Hải Quân. Cái lon "Quan Một" gắn trên cổ áo ông ta và cái cảm giác quan trọng của ông ta tăng lên mà người ngoài nhìn vào cũng có thể cảm thấy điều đó. Tôi hy vọng rằng Phòng Nhân Viên của Hải Quân Hoa Kỳ sẽ hiểu khi họ nghe về sự tuyển mộ bất bình thường của tôi.
Việt Minh (tức là Việt Gian Cộng Phỉ. Từ đây dịch giả gọi là Việt Gian Cộng Phỉ cho chính xác) chú trọng đến sự "tuyên truyền" của họ vào trẻ em, và vị thành niên, với những bài tuyên truyền dài tràng giang đại hải để các em bé này mang những lời tuyên truyền đó về tuyên truyền trong gia đình. Lần đầu tiên tôi mới từng chứng kiến những hậu qủa của lớp học "Học Tập Cải Tạo" của Cộng Phỉ vào một buổi chiều tháng Mười Hai, và cũng là một điều vô cùng tàn nhân mà tôi chưa từng bao giờ thấy ghi chép trong lịch sử của nhân loa.i.
Sau khi thiết lập xong những vùng kiểm soát trong ngôi làng ở Hải Dương, Bọn Việt Gian Cộng Phỉ đến thăm một ngôi trường làng và bắt bẩy em bé ra khỏi lớp học và mang ra ngoài sân trường. Các em bị trói ngoặt cánh tay về phía sau lưng. Rồi sau đó chúng mang một vị giáo viên trẻ tuổi với cánh tay cũng bị trói ngoặt về phía sau lưng. Và bây giờ thì lớp học "Cải Tạo Tư Tưởng" bắt đầu.
Với giọng nói lớn và đủ để những em bé khác còn may mắn ở trong lớp học có thể nghe rõ, bộ đội Cộng Phỉ kết tội các em là "phản động". Một "người yêu nước" đã báo cho công an là vị giáo viên này đã tụ họp một lớp học bí mật vào ban đêm, và chủ đề của lớp học là về tôn giáo. Họ còn dám đọc giáo lý nữa.
Bộ đội Cộng Phỉ kết tội bẩy em bé là "âm mưu phản động" bởi vì các em đã giám nghe những lời giảng dậy về giáo lý của vị giáo viên này. Để trừng phạt tội này, chúng sẽ tước bỏ nhĩ quan của các em để không bao giờ còn có thể nghe được những lời lẽ giảng dậy của ma qủy.
Sau khi "tuyên án", hai tên bộ đội Việt Minh đến từng em một, và một tên giữ chặt đầu em bé vào giữa hai bàn tay của hắn. Còn tên khác thì dùng hết sức lực của người lớn mà đóng chiếc đũa vào mỗi cái lỗ tai. Chiếc đũa đâm toạc vào lỗ tai và xé thủng màng tai. Tiếng kêu khóc thảm thiết rợn người, của giọng trẻ thơ chưa kịp vỡ tiếng, vang dậy ra khắp làng.
Với hai lỗ tai bị hai chiếc đũa đâm thủng, các em bé lăn lộn dưới sân trường và gào khóc thảm thiết với sự chịu đựng đau đớn thê thảm. Vì haiy cánh tay đã bị trói ngoặt về phía sau lưng, các em không thể nào rút được hai chiếc đũa ra khỏi lỗ tai. Các em chỉ còn cách lúc lắc cái đầu và vặn vẹo với hy vọng rằng hai chiếc đũa sẽ rơi ra. Cuối cùng thì các em cũng đã làm cho hai chiếc đũa rơi được ra khỏi lỗ tai bằng cách chà đầu xuống mặt đất.
Đối với vị giáo viên thì phải ngăn ngừa ông ta không được dạy học nữa. Sau khi bị bắt buộc phải chứng kiến những hành vi tàn bạo đối với học sinh của ông ta, vị giáo viên phải gánh một hình phạt còn ghê rợn hơn như thế cho chính ông ta. Một tên bội đội Cộng Phỉ giữ đầu của vị giáo viên trong khi đó thì một tên bộ đội khác dùng chiếc kìm sắt kẹp lưỡi của nạn nhân và kéo dài ra ngoài. Tên thứ ba dùng dao găm cắt đứt đầu lưỡi của vị giáo viên. Máu trào ngược vào cuống họng và phún ra từ lỗ mũi của nạn nhân xuống mặt đất. Vị giáo viên không thể la hét được một tiếng nào vì máu trong lưỡi đã trào đầy cuống họng. Khi những tên bộ đội Cộng Phỉ buông tay ra, ông ngã lăn ra mặt đất và ói ra máu; mùi máu tanh tưởi tràn ngập cả sân trường.
Trong sự đau khổ cùng cực và không lối thoát, thì chỉ có cái chết là con đường giải thoát. Cả vị giáo viên và học trò của ông đã không được chết mà họ bị sống với cuộc đời tàn phế và đau khổ dưới tận cùng vực thẳm của điạ ngục trần gian.
Khi cái tin tàn bạo này truyền qua những bức màn tre của ngôi làng, mọi người đều phối trí kế hoạch bỏ đi tỵ nạn, và không bao lâu sau vị giáo viên và học trò của ông đã có mặt ở căn lều số 130 ở Trại La Pagode.
Chúng tôi đã tận sức chữa trị cho các nạn nhân, dù sao khả năng y khoa của con người cũng chỉ có giới hạn. Tôi đã khâu hai lớp da lưỡi lại với nhau để khép kín lớp thịt bị cắt đứt. Nạn nhân đã bị mất rất nhiều máu, bởi vì chúng tôi không có hệ thống truyền dẫn chất dinh dưỡng cho nên chúng tôi chỉ có thể nuôi nạn nhân bằng thức ăn lỏng bằng miệng. Vị giáo viên không ăn được gì cả, dù là cơm. Đối với các em bé nạn nhân, ngăn ngừa vết thương trong hai lỗ tai khỏi bị làm độc là điều cần thiết hơn cả. Thuốc penicilline đã ngừa được vấn đề làm độc, thế nhưng không có gì có thể mang lại được nhĩ quan cho các em.
Mục đích của quyển sách này không phải là để làm cho độc gỉa ghê tởm hoặc là để nhấn mạnh vào vấn đề ghê rợn của sự tra tấn hành hạ của Cộng Sản. Tôi chỉ thành khẩn muốn cho độc giả thấy được sự thật về số phận của những người dân ở vùng Tam Giác Sông Hồng Hà. Và lẽ công bằng đòi hỏi, ít nhất, là những sự bạo tàn của Cộng Sản mà chúng tôi đã chứng kiến ở Hải Phòng phải được ghi chép lại cho hậu thế.
Vào lúc nửa đêm một ngày gần lễ Chúa Giáng Sinh, tôi bị đánh thức dậy bởi tiếng gõ của phòng khách sạn. Hai em bé trai hối hả hỏi tôi có thể đi theo các em ngay lập tức. Tôi tưởng rằng các em đến từ trại tỵ-na.n, và có chuyện ở đó cần sự giúp đỡ của tôi. Thế là tôi liền nhanh nhẹn thay quần áo và chạy ra xe cam nhông. Trong khi tôi đang lái xe hướng về phía đường lớn thì các em hướng dẫn tôi rẽ vào con đường bờ ruộng giữa hai ruộng lúa. Tôi không hiểu các em muốn tôi đi đâu, nhưng các em tỏ vẻ nghiêm trọng và chỉ đường cho tôi lái quanh co thêm vài trăm thước đến một túp lều rơm.
Tôi cong lưng xuống bước luồn qua phiến cửa rơm thấp, và trước nhất là nhận ra bên trong tối mù, kế đến là ngạc nhiên với sự rộng lớn bên trong túp lều. Một ngọn đèn dầu leo loét trong góc lều và gần đó những bóng người qùy gối gồm một ông lão, bà lão, và nhiều em bé trai đang lâm râm đọc kinh cầu nguyê.n.
Họ chào đón "Bác Sĩ Mỹ" bằng cách chắp tay trước ngực và cúi đầu theo phong cách của người Á Đông. Sau đó tôi nhận ra một người đàn ông nằm trên tấm nệm rơm với khoảng tám hay chín khúc tre kết thành cái cáng thô sơ. Nét mặt ông ta nhăn nhó, thống khổ, và môi ông ta nhúc nhích cầu nguyện mà không phát ra được âm thanh.
Tôi nhẹ tay kéo cái mền dơ bẩn phủ trên người ông, và phát hiện ra cơ thể ông ta đầy rẫy những vết bầm tím từ trên vai xuống đến đầu gối. Bụng ông ta bị sưng cứng lên và cái bìu giái ông ta bị sưng lớn bằng trái banh football. Bắp đùi ông bị cong méo một cách gớm ghiếc. Đây là một hình ảnh ghê rợn nhất trong đời tôi chưa từng thấy. Chỉ với ý tưởng chạm vào người ông ta cũng đủ cảm thấy gớm ghiếc. Một hình ảnh vô cùng ghê sợ mà không bút mực nào tả xiết.
Tôi mất bình tĩnh vì kinh hãi và cảm thấy buồn nôn trước hình ảnh ghê tởm, không kềm chế được cơn ói mửa và tôi bỏ chạy ra ngoài. Bên trong chiếc lều rơm tôi vừa mới được chứng kiến một kiệt tác của phương pháp tra tấn khủng bố của Cộng Sản. Đứng giữa trời, tôi nôn mửa cho đến không còn gì trong bụng. Tôi thành thật biết ơn những người bên trong căn lều rơm vì họ đã không theo tôi ra ngoài; tôi nghĩ rằng nếu có thì họ cũng sẽ thông cảm cho tôi kể cả bệnh nhân.
Tôi không biết là thời gian đã trải qua bao lâu để tự lấy lại bình tĩnh, nhưng cuối cùng thì tôi đã có đủ can đảm và sự quân bình về xúc cảm và trở lại căn lều cỏ để săn sóc cho “cơn ác mộng của nhân loại” này. Thế nhưng tôi không phải là thần thánh mà chỉ là một bác sĩ quân y tầm thường. Để săn sóc cho sự đau đớn của ông, tôi chỉ có thể cho ông một mũi thuốc morphine. Cho cái bụng sưng cứng của ông, tôi không thể làm được gì nhiều cho ông, bởi vì lớp da bên ngoài không bị đứt ra nhiều hơn ba hay bốn chỗ. Tất cả đều là nội thương, các mạch máu đều bị vỡ tung ra ở dưới da và tạo thành những vết bầm tím đã ngả mầu vàng-tím. Tôi xuyên một mũi kim tiêm (kim chích) vào bìu dái của ông để tháo máu độc đã hoà vào với nước vàng cho chẩy ra ngoài. Sau khi ông bớt đau đớn một chút thì tôi gắn cái ống và bao dẫn nước tiểu vào bọng đái để ông có thể đi đái ra ngoài bao. Ngoài ra, tôi còn có thể làm gì được nhiều hơn như thế nữa?
Tôi hỏi bà lão là bộ quỷ Sa Tăng đã xâm chiếm mảnh đất này hay sao mà chuyện bất hạnh gì đã xảy ra cho con người đáng thương này. Bà cho tôi biết rằng người đàn ông đó là anh/em trai của bà, ông là một linh mục Công Giáo, từ Giáo Xứ Vĩnh Bảo, chỉ cách khoảng ở ngay bên kia Bức Màn Tre và không cách xa Hải Phòng hơn mười ký lô mét.
Vùng này mới bị lọt và vòng kiểm soát của Việt Gian Cộng Phỉ chỉ có khoảng chừng bẩy tháng và người Quốc Gia chưa bị hoàn toàn “tẩy não” và “cải tạo” đời sống theo Cộng Phỉ. Các linh mục vẫn còn được phép dâng Thánh Lễ hàng ngày, như chỉ được dâng Thánh Lễ vào khoảng thời gian từ sáu đến bẩy giờ sang. Đây cũng là khoảng thời gian mà đa số các nông dân mới bắt đầu ra ruộng làm việt buổi sáng và, dưới điều luật mới của Việt Gian Cộng Phỉ đặt ra, đó cũng là thời gian mà dân trong Giáo Xứ phải tập họp ở sân đình để “học tập” về “lao động vinh quang” mỗi ngày kể cả ngày thường và ngày nghỉ.
Như thế có nghiã là họ không có thể đến dự Thánh Lễ của cha xứ dù là ngày thường hay ngày Chúa Nhật. Do đó có một số người vẫn dám liều lĩnh để thờ phượng Chúa, và vị linh mục can đảm 57 tuổi đã dâng Thánh Lễ vào buổi chiều. Dĩ nhiên là bọn Việt Gian Cộng Phỉ biết chuyện và chúng quyết định tuyên án cho vị linh mục này là “cần được học tập cải tạo tư tưởng.”
Buổi chiều tối ngày hôm trước, cán bộ Cộng Phỉ đến tìm vị Linh Mục khi đang dâng lễ trước bàn thờ Thiên Chúa, và kết tội ông là “hội họp bí mật” và ra lệnh cho ông ngưng Thánh Lễ. Ông trả lời với thái độ quật cường là không có cửa địa ngục nào có thể cản trở được ông giảng dạy lời của Thượng Đế. Và thế là cán bộ Việt Gian Cộng Phỉ bắt ông đưa đi và cho ông “học tập cải tạo tư tưởng” như thế này: chúng trói ông lại và treo hai chân ông lên trên xà ngang trên mái nhà, để lộn ngược đầu ông gần xuống mặt đất nền nhà, sau này ông nói, “ Thỉnh thoảng tôi phải chống tay xuống đất để khả dĩ có thể làm giảm bớt áp xuất ở hai chân.”
Với những cây roi bằng tre, cán bộ Cộng Phỉ bắt đầu đánh liên tục để cho “ma qủy xuất ra khỏi người ông”. Chúng liên tục thay phiên nhau đánh đập ông trong nhiều giờ đồng hồ. Chúng chủ tâm đánh vào những bộ phận nhậy cảm trên cơ thể ông để gia tăng sự đau đớn. Vị linh mục nói, “Thật là vô cùng đau đớn.” Quả thực là vô cùng đau đớn lắm vậy.
Sauk hi đánh ông thỏa thuê, chúng bỏ ông trong trạng thái treo ngược như thế cho đến sang ngày hôm sau, các cậu bé giúp lễ đã tìm được ông và các em cố tìm mọi cách cởi trói và mang ông xuống. Các cậu bé này chỉ khoảng chừng tám đến mười tuổi, và các em chạy đi tìm cha mẹ, đang bị “cưỡng bách học tập chủ nghiã Cộng Sản”, và họ đồng bật khóc thổn thức khi nghe hung tin.
Các vị phụ huynh chỉ dạy cho các em bé phải làm gì xong rồi chào tạm biệt, và họ biết rằng lời chào tạm biệt bây giờ cũng có thể là lời chào vĩnh biệt suốt đời. Các em bé sắp xếp và cộng những ống tre lại với nhau để có thể xử dụng như cái cáng khiêng bệnh nhân và có thể nổi trên mặt nước như cái bè. Các em khiêng vị linh mục và để ông nằm trên đó khiêng ông đi vòng theo đường hẻm phía sau làng. Các em dấu vị linh mục ở chỗ khuất cạnh bờ song chỗ biên giới của hai vùng Quốc Gia và Cộng Phỉ. Chờ cho đến khi trời tối, các em cẩn thận và nhẹ nhàng hạ chiếc bè xuống nước, và ba em bé mỗi bên chèo chiếc bè ra giữa dòng nước và từ đó chiếc bè tự trôi theo dòng nước về phía Quốc Gia. Hơi lạng của nước song có lẽ giúp cho vị linh mục được dịu cơn đau đớn nhiều hơn bất cứ loại thuốc men nào. Các em đã xoay trở được để đưa ông băng qua song đến vùng Quốc Gia mà không bị Cộng Phỉ phát giác. Đến khuya ngày hôm đó, các em đã mang được vị linh mục đến cái chòi lá của chị/em gái của ông. Sau đó thì các em lập tức đến kiếm tôi.
Sau đó, tôi đến thăm bệnh vị linh mục này mỗi ngày và cho ông thuống kháng sinh và morphine. Thật là huyền diệu phi thường, vị linh mục đã sống; thể chất của ông mạnh khỏe đã đành, nhưng thực tế không thể chối được là đức tin vào Thượng Đế đã chữa cho ông lành bệnh.
Không lâu sau đó khi ông đã hồi sức đủ để có thể mang đến trại tỵ nạn “de la Pagode”. Mặc dù vẫn còn tật nguyền, ông đã bắt đầu dâng lễ hàng ngày và dạy giáo lý cho các trẻ em; trên thực tế, trong thời gian giúp đỡ trong trại tỵ nạn Cộng Phỉ, ông đã là một giáo sĩ thường trực của trại.
Hoặc giả tôi phải để ông tự ý khi ông nhất định muốn trở về làng. Hoặc gỉa thế gian đang cần nhiều “thánh tử vì đạo”, tôi nghĩ co; lẽ vùng Vịnh Bắc Việt đã được cung cấp qúa mức. Lần sau, bọn Việt Gian Cộng Phỉ sẽ giết ông chết là cái chắc. Tôi biết là đừng nên phán đoán cả một hệ thống chỉ vì một vài người trong đó làm sai. Thế nhưng, theo như tôi biết thì Cộng Sản là thế đó. Cộng Sản là cái thảm họa cực kỳ ghê tởm đã thống trị gần hết Á Đông. Từ tháng Mười Hai cho đến ngày cuối cùng, cứ mỗi tuần đều có khoảng hai hay ba lần xảy ra những hành vi bạo tàn như vậy. và những công vụ cứu cấp mà tôi thi hành mỗi đêm đã đưa tôi đi từ một chuyện kinh hoàng này đến chuyện kinh hoàng khác.
Khoảng thời gian đầu của tôi ở Hải Phòng tôi đã bị điên đầu không phải chỉ vì nhân số người tỵ nạn gia tăng mà là cái bản chất bạo tàn của Cộng Sản. Nhiều trường hợp bạo hành có vẻ liên quan đến vấn đề tôn giáo. Càng ngày tôi càng hiểu rõ thêm là những sự trừng phạt này có liên hệ đến vấn đề tín ngưỡng của con người đối với Thượng Đế. Linh mục và tu sĩ là những mục tiêu thông thường của sự khủng bố của Cộng Sản. Hình như linh mục và tu sĩ không bao giờ học được bài học "Học Tập Dân Chủ," theo như ý muốn của Cộng Sản. Điều đó có nghiã là linh mục và tu sĩ cần phải được "học tập cải tạo" một cách khốc liệt hơn những người khác. Điều khó khăn nhất ở thế gian nay là mang một người mà cuộc đời của họ đã hiến dâng cho niềm tin ở Thượng Đế và uốn họ lại để bắt buộc họ phải từ bỏ đức tin. Trong thực tế, sự kiện đã chứng minh rằng không có gì có thể chinh phục được đức tin ở Thượng Đế.
Tín đồ Đạo Thiên Chúa có nhiều cách biểu lộ sự sùng đạo mà họ thốt ra ngoài miệng một cách thông thường, thí dụ như "Chúa Giê Su, Mẹ Mary và thánh Giu Se," và "xin Chúa thương xót chúng tôi." Thế nhưng Cộng Sản lại ra lệnh cho các tu sĩ phải thay thế vào đó bằng những khẩu hiệu mới, thí dụ như "tăng gia sản xuất", và "chiến tranh nhân dân". Hoặc giả là những từ ngữ thường hay nghe trong cuộc xâm lăng Bắc Việt là "căm thù."
Cộng Sản đã hoàn chỉnh cái kỹ thuật tra tấn hành hạ của chúng, chúng đả thương để tạo một sự đau đớn trên cơ thể và đòn kế tiếp là đả thương vào tâm não của nạn nhân. Khi nùa xuân đdến trên Vịnh Bắc Việt và mùa mưa đã qua, Tôi nghi có thể thiên nhiên sẽ làm cho vạn vật thay đổi. Thế nhưng tôi đã sai lầm, Ngày Chủ Nhật Đầu tháng Ba, linh mục Lopez của Hội Truyền Giáo Đạo Thiên Chúa Phi Luật Tân (Philippine Catholic Mission) mời tôi đến thăm một "người bệnh," là một linh mục Việt Nam mời vừa trốn thoát khỏi vùng Việt Minh.
Chúng tôi đi bộ băng qua cái sân rộng ngổn ngang và vào đến khu cư trú. Trong căn phòng phía sau có một ông lão nằm trân đống rơm dưới sàn nhà, đầu ông phủ mờ một lớp mủ và có tám cái lỗ đầy mủ và sưng lên ở chung quanh đầu ông và trên trán.
Tôi đã đoán được câu trả lời trước khi đặt câu hỏi. Vị linh mục đặc biệt này cũng đã bị trừng phạt về tội "phản động." Bản Án mà ông phải gánh chịu là bản phóng tác "mão gai" của Việt Gian Cộng Phỉ (Communist version of the Crown of Thorns), mà một lần đã cắm lên đầu Đấng Cứu Thế mà vị linh mục đã giảng đạo.
Tám cái đinh cắm vào đầu ông, ba cái đinh cắm hàng ngang trên trán, hai cái ở phía sau sọ, và ba cái đinh cắm ngang đỉnh đầu. Những cái đinh đủ lớn để cắm sâu vào xương sọ của nạn nhân. Khi những hành vi không tưởng này hoàn tất, Việt Gian Cộng Phỉ bỏ mặc cho vị linh mục chết dần với những vết thương trên đầu. Vị linh mục bò lết từ nhà thờ đến cái chòi rơm gần đó, và được gia đình này rút những cây đinh ra khỏi đầu ông. Sau đó thì ông được mang đến Hải Phòng để xin giúp đỡ về thuốc men. Khi ông đến Hải Phòng, hai ngày sau, thì vết thương đã bị thêm sự làm độc phụ thuộc.
Tôi rửa da đầu của ông, cạy lớp máu mủ đọng bên ngoài, và cắt những bọc mủ để dẫn mủ ra ngoài vết thương. Tôi cho vị linh mục những liều thuốc peniciline và tetanus oxide nặng và trở về với công tác thường ngày. Ông lão đã thoát khỏi cái chết. Một ngày nọ tôi trở lại để thăm bệnh, thì ông ta đã biến mất. Cha Lopez nói với tôi là ông tà đã trở về thế giới bỏ quên ở phía sau "bức màn tre." Có nghiã là ông ta trở lại với những kẽ đã hành hạ và tra tấn ông ta. Tôi lo nghĩ là chúng đã làm gì với ông ta.
Linh mục và tu sĩ không phải là nạn nhân duy nhất của những hành vi tàn bạo của Cộng Sản. Có một ngày nọ có một bà cụ đến lều khám bệnh với miếng vải cuốn chặt vai bà theo hình số "tám". Chúng tôi gỡ miếng vải ra và tìm thấy hai cái xương cổ vai của bà đã bị gẫy. Bà nói rằng trên đường đến trạo La Pagode bà đã bị Việt Gian Cộng Phỉ chận lại vì tội âm mưu "rời bỏ ruộng đất," và đã đánh vào vai bà bằng báng súng trường, và ra lệnh cho bà trở về nhà. Hai khúc xương bị gẫy làm vai của bà bị sụp về phía trước và làm cho bà cảm thấy đau đớn cùng cư.c. Tuy nhiên, bà cũng vẫn xoay sở để trốn đi được. Với thuốc men săn sóc, và những liều thuốc bổ, bà cũng đã lành bệnh.
Ý tưởng đau lòng luôn luôn hiển hiện trong tôi: "Trời ơi! cứ mỗi một người thoát được đến đây, thì có cả hàng trăm hàng ngàn người không trốn thoát được."
(Còn tiếp)

Chủ Đề 30.4: Quốc Hận!


Nước đã mất, nhà đã tan, gia đình ly tán! Ý nghĩ nầy in sâu vào trong trí não của những người đang lênh đênh trên biển cả, trong những chiếc thuyền nhỏ bé mong manh, phú thác mạng sống của mình cho vận mệnh rủi may, những mong thoát khỏi ngục tù của những người cộng sản từ miền Bắc, đang xây cất trên toàn cõi quê hương yêu dấu.
Trên đuờng trốn chạy, lìa bỏ quê cha đất tổ, đã có hàng trăm ngàn người vùi thây trong biển cả, trong bụng cá, trong bàn tay sát nhân của bọn hải tặc khát máu. Cũng có những người vuợt thoát bằng đuờng bộ, xuyên qua ngã Cambochia, Lào, và cũng không ít người đa chết đói vì lạc đuờng, hoặc bị giết bởi bọn Miên cộng, Lào cộng. Số còn lại, hơn 2 triệu người đã đến được bến bờ tự do với hai bàn tay trắng, và có rất nhiều người bỏ lại sau lưng những người thân yêu trong gia đinh, dòng họ. Hầu hết những thuyền nhân đó đã nói với các phái đoàn tiếp nhận định cư của các nước: “Thà chết trên biển cả còn hơn sống trong chế độ của Việt cộng (tạm dịch: Rather die on the high sea than live under the Vietnamese communist regime). Điều đó đã nói lên cái ý chí liều chết để đi tìm TỰ DO.
Thảm cảnh đó đã làm cho thế giới bàng hoàng, xúc động. Họ đã gọi những người trốn chạy khỏi quê hương nầy bằng một biệt danh, mà trong lịch sử loài người chưa từng có: “BOAT PEOPLE” (Thuyền Nhân).
Thảm cảnh đó khởi đầu vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, ngày mà bọn cộng sản Việt Nam, từ miền Bắc, đã bất chấp hiệp định Paris 1973, với sự trợ giúp của khối cộng sản quốc tế, đã tấn công và chiếm lãnh miền Nam, nước Việt Nam Cộng Hòa, với sự hững-hờ của thế giới không cộng sản.
Cái hận đã mất nước và cái hận đã bị đồng minh phản bội, đưa đến cảnh nước mất nhà tan, gia đình phân cách, chia ly, đã tạo nên sự thống hận trong lòng người dân Việt kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Từ đấy, chúng ta, những người Việt hải ngoại và kể cả đồng bào quốc nội, gọi ngày 30 tháng tư hàng năm là NGÀY QUỐC HẬN.
Không có từ ngữ nào để diễn tả ngày đó chính xác hơn từ ngữ Ngày Quốc hận. Nó diễn tả không những đúng về mặt hiện thực mà còn đúng về mặt tâm linh. Ngày đó, đời sống của những con người Việt Nam trên toàn quốc đã bị thay đổi một cách toàn diện, từ tốt đẹp biến thành cùng khổ; từ tương lai trong sáng trở thành tăm tối, không có ngày mai. Trong lòng mỗi người đều bị đè nặng bởi nỗi niềm u uất, căm phẫn vì đang bị một lũ người vong bản, tay sai của ngoại bang, dốt nát, tàn ác cai trị bằng chánh sách vô nhân nhứt trần gian. Đời sống của người Việt Nam không hơn không kém gì với đời của một con vật: ngoan ngoãn thì được cho ăn, bằng không thì bị bỏ đói cho đến ngày tàn tạ.
Trong lòng mỗi con dân Việt, ai mà không nhớ đến ngày 30 tháng tư, ngày đổi đời đó? Tuy nhiên, mỗi người nhớ đến nó một cách khác nhau.
Cái nhớ sâu sắc nhất, không bao giờ quên là tuổi thanh niên đã bị hủy hoại trong các nhà tù gọi là trại “cải tạo”. Những ruờng cột của Quốc Gia đã bi kềm hãm trong ngục tù khổ sai, ăn không đủ no, bệnh không thuốc chữa. Bọn người ác độc lợi dụng sức người hom hem yếu đuối đó, bắt họ đi làm muớn, làm thuê, làm những việc khổ sai, chúng lấy tiền bỏ vào những cái túi tham không đáy. Những người tù “cải tạo” đó, bị hành hạ không những trên thể xác, mà cả tinh thần của họ cũng bị dày vò cả ngày lẫn đêm, bằng những lời chửi bới,hăm dọa, kể cả những đòn thù bằng đánh đập, biệt giam trong những thùng sắt ngột ngạt, nóng bỏng khi nắng lên, không cho nước uống, và còn nhiều truờng hợp đem người chống đối bọn chúng ra xử bắn tại nơi đông người. Những hành động nầy, bọn cai tù tàn ác, gọi là những bài “học chính trị”, do “Bác” và Đảng chủ trương đối với những người sa cơ, thất thế.
Những người tù lương tâm đó là ai?
Họ là những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã xả thân mình để bảo vệ phần đất miền Nam của Tổ Quốc, giữ gìn an ninh cho người dân miền Nam được sống một đời sống thanh bình, an cư lạc nghiệp.
Họ là những công chức phục vụ cho chánh quyền Việt Nam Cộng Hòa, để xây dựng một quốc gia hùng mạnh phú cuờng, có phần trội hơn so với các nước lân bang như Phi Luật Tân, Tân Gia Ba, Thái Lan, Đại Hàn, Đài Loan.
Họ là những nhà tư bản đã góp công xây dựng nền kinh tế phồn thịnh cho nước Việt Nam Cộng Hoà.
Họ là những người trong ngành giáo dục, đã tận tụy và miệt mài với trách nhiệm mở mang trí óc cho những thanh thiếu niên, mong xây dựng nên một thế hệ kế tiếp, văn minh, thông thái hữu dụng cho quốc gia.
Những người tù lương tâm nầy đã bị buộc tội là đã phục vụ cho chánh quyền trước, đã giúp đỡ cho “Ngụy Quân, Ngụy Quyền” chống phá lại “cách mạng của nhân dân” (sic).
Ngoài những người đã bị bắt đi làm tù “cải tạo”, những người dân thuờng sống tại các đô thị cũng bị đày đọa không kém. Họ đa bị ép buộc đi đến những nơi hoang dã, thâm sơn cùng cốc, mà bọn cầm quyền ác ôn là “nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” (hiện giờ là cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam), gọi là “vùng kinh tế mới”. Nơi đây chỉ với hai bàn tay trắng, không thể nào tìm được cách sinh nhai. Sau khi đuổi họ đi vùng kinh tế mới, “nhà nước” đã tịch thu tất cả tài sản, cơ ngơi của họ để phân phát cho những cán ngáo (ngố), đã có công với “nhà nước” trong việc cưỡng chiếm miền Nam.
Ở nông thôn, không còn ai có quyền có ruộng đất, dù rằng những mảnh đất do ông cha từ nhiều đời trước để lại cho con cháu. Tất cả ruộng đất đều quy về “hợp tác xã”. Người nông dân canh tác trên những mảnh đất ruộng vuờn đó, được thu hoạch do quyết định của bọn đầu sỏ xã ấp, bằng một chính sách gọi là “bảng chấm công”. Ai nịnh bợ hay theo phe chúng thì được chia nhiều hơn. Do vậy, đời sống của người ở nông thôn thiếu thốn rất trầm trọng, có nơi đã có người chết vì đói, mà điều nầy chưa hề xảy ra trong lịch sử của miền Nam Việt Nam.
Tóm lại, sau khi bọn cuờng bạo cộng sản Việt Nam nhờ súng đạn của Trung cộng, của Liên sô, đã cưỡng chiếm được nước Việt Nam Cộng Hòa, thì toàn thể trên 26 triệu người dân miền Nam, bị cướp giựt một cách trắng trợn, không khoan nhuợng, bị nhốt trong một nhà tù vĩ đại, đó là quê hương của mình, bị đày đọa vô cùng tàn ác, sống như một con thú không hơn không kém.
Tình cảnh của người dân Việt Nam hiện nay, năm 2012, đã qua 37 năm, không khác gì ngày bắt đầu cuộc đổi đời 30 tháng 4 năm 1975. Có khác chăng là lối sống giàu sang, xa hoa, trụy lạc của những “cán bộ” Việt cộng và gia đình họ. Còn người dân ngày càng bị đàn áp mạnh mẽ hơn, bằng những thủ đoạn, bằng những xảo thuật nghề nghiệp, gian manh hơn, ác độc hơn.
Đã là người Việt Nam thì không ai có thể quên, trong lòng ai cũng đang âm ỉ một nỗi hận. Những kẻ nào quên đi là họ cố ý bị “bịnh quên” để đổi lấy những đồng tiền dơ bẩn, đẫm ướt máu của đồng bào quốc nội. Họ đã quên đi ơn nghĩa của quốc gia cưu mang họ như một người tỵ nạn. Họ đã quên đi lòng bao dung của cộng đồng tỵ nạn đã đùm bọc, giúp đỡ họ, đến khi họ thành tài, nổi tiếng, thì vì họ xem đồng tiền lớn hơn bánh xe trâu (câu nói khinh miệt của dân miền Nam), họ phủi hết đi ơn nghĩa, trở lại hợp tác với kẻ thù, tiếp tay với bọn Cộng Phỉ, đàn áp ngược lại đồng bào của mình.
Để kết luận, cầu mong tất cả đồng bào Việt Nam hãy ghi nhớ, ngày Quốc Hận 30 tháng 4, bởi vì ngày đó là ngày mang đến nỗi hận xót xa cho cả nước, chúng ta hãy tuởng niệm đến quê hương đã mất đi, tuởng nhớ và tri ơn đến những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, đã hy sinh mạng sống để bảo vệ tự do cho quê hương và đồng bào. Hãy tuởng nhớ đến những người tỵ nạn kém may mắn đã chết trên đuờng đi tìm tự do. Và quan trọng nhất là hãy làm một vài việc gì đó mà mình có thể, để góp bàn tay với đồng bào quốc nội, đập nát chế độ Việt cộng, để sớm gây dựng lại một Nước Việt Nam Tự Do Nhân Bản và Phồn Vinh, để cho ngày quốc hận trở thành không còn hận nữa, mà chỉ còn là ngày đen tối nhất được ghi lại trong lịch sử Việt Nam.
Lão Ngoan Đồng

Friday, 30 March 2012

Chủ Đề 30.4: Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm.


.

Một lá thư trần tình hay nhất thế giới



Ngày 21/4/1975, khi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, trao quyền lại cho cụ Trần Văn Hương, tôi còn nhớ rõ lời ông Thiệu nói:

“Mất một Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, quân đội còn Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu, đồng bào còn một chiến sĩ Nguyễn Văn Thiệu. Tôi nguyện sẽ chiến đấu kế bên anh em chiến sĩ”.

Lời tuyên bố của ông Thiệu đã gây cho tôi sự xúc động. Thế rồi lời tuyên bố ấy cũng đã bay theo gió, khi số lớn cấp chỉ huy trực tiếp điều hành guồng máy quốc gia đã vỗ cánh chim bay sang ngoại quốc, tìm nơi ẩn trốn an lành, bỏ mặc quê nhà, dân tộc và quân đội đang chết đuối trong cuồng phong súng đạn tơi bời, Thiếu Tướng Nam, Hưng, Hai, Vỹ, Phú. Nhắc đến đây tôi không ngăn nổi tiếng nấc nghẹn ngào.

Ôi tiếng súng nổ rền vang trên khắp lãnh thổ. Mùa hè năm 1972, nhà văn Phan Nhật Nam đã mệnh danh là mùa hè đỏ lửa. Mùa hè máu. Mùa hè cuối đầy yêu đương. Mùa hè tận cùng vực thẳm. Còn mùa hè 30/4/1975 bi thương thê thảm ngần nào? Chúng ta còn đủ ngôn từ để diễn tả tận cùng nỗi thương tâm kinh hoàng của sinh ly, từ biệt, cuống cuồng ấy không? Tin thất trận từ các Vùng 1,2,3 bay về dồn dập. Có những nơi chưa đánh đã bỏ cho địch tràn vào. Cũng có nơi quyết liều tử chiến. Thảm thương thay, cuộc rút quân hỗn loạn bi đát chưa từng có trong lịch sử và quân sử.



Đài VOA và BBC tuyên bố những tin thất bại nặng nề về phía QLVNCH khiến lòng dân càng thêm khiếp đảm. Những đoàn quân thất trận, tả tơi manh giáp, không người chỉ huy, cuống quýt chạy như đàn vịt bị săn đuổi. Tinh thần binh sĩ rối loạn hoang mang tột độ. Họ thì thào bảo nhau:

- “Tổng Thống Thiệu, Thủ Tướng Khiêm, Đại Tướng Viên đã cao bay xa chạy, còn đánh đấm gì nữa. Ông Tướng này, ông Tỉnh nọ, đã trốn đi ngoại quốc, chúng ta còn đánh làm gì”. Họ còn hỏi nhau:

- “Bao nhiêu năm chúng ta chiến đấu cho tổ quốc, hay chiến đấu cho tập đoàn tham nhũng? Hay cho cá nhân của ai đây?”



Mất người chỉ huy, những quân nhân như rắn không đầu, rối rít, tan rã. Lại có những câu hỏi:

- “Quân không Tướng chỉ huy thì sao?” Có những kẻ chủ tâm dè bỉu, thường chỉ trích chê bai:

- “Có những ông Tướng mà biết đánh giặc cái gì! Chỉ có lính đánh để các ông Tướng hưởng”.



Lời phê bình của những kẻ bất mãn hay những kẻ có tâm địa hạn hẹp, thật chẳng khác nào ếch ngồi đáy giếng. Cho dù có những vị Tướng bê bối, làm cho quân đội bị nhục, thì cũng có những vị Tướng trong sạch đức độ, lỗi lạc, tài ba, đáng cho dân quân khâm phục. Những phần tử bất mãn ấy đã vô tình hay cố ý không thấy việc tối quan hệ của sự hỗ tương, hỗ trợ, giữa các Tướng Lãnh, Sĩ Quan, và Binh Sĩ thật cần thiết cho quân đội và quốc gia như thế nào. Đối với những vị cao minh, hiểu biết giá trị hy sinh của những người tuẫn tiết, tôi trang trọng cúi đầu cảm tạ, tri ân. Có nhiều người đã nêu lên câu hỏi với tôi:


“Tại sao Tướng Nam , Tướng Hưng chết làm chi cho uổng? Tại sao các ông Tướng ấy không tiếp tục chiến đấu? Tại sao các ông không trốn sang ngoại quốc?”

Lại có người nghiêm khắc trách tôi:

“Bà thật dở. Nếu là tôi, tôi quyết liệt can ngăn không để cho các ông ấy chết. Vợ con như thế này, ông Hưng chết đành bỏ vợ con lại sao?”



Ngay cả vài vị phu nhân của các Tướng Lãnh, hoặc còn ở trong tù, hoặc đã an nhàn nơi xứ người, cũng thốt ra những lời chỉ trích tôi. Nghe những lời phê bình ấy, tim tôi đau nhói. Tôi tôn trọng sự nhận xét “theo tầm hiểu biết của họ”. Tôi ngán ngẩm không trả lời, chỉ mỉm cười lắc đầu. Nhưng hôm nay tôi phải lên tiếng. Lên tiếng để tạ ân những người đang âm thầm chiến đấu ở Việt Nam, để tạ ân những người hùng can đảm đã, đang, và sẽ tiếp tục đánh đuổi Cộng Sản cứu quê hương, để trả lời những người đã nêu lên nhiều câu hỏi đó. Tôi trân trọng xin những vị nào đã có những lời chỉ trích nên bình tâm suy nghĩ lại, trước khi phán đoán vì… những vị Tướng Lãnh bách chiến bách thắng lại lẽ nào chịu xuôi tay nhục nhã trước nghịch cảnh, trước kẻ thù? Những vị Tướng đã từng xông pha trong mưa đạn, bao lần thử thách với tử thần, với nhiều chiến công từ cấp bậc nhỏ lên tới hàng Tướng Lãnh, đã từng khắc phục gian nguy, xoay ngược thế cờ, chuyển bại thành thắng trên khắp mặt trận, lẽ nào những vị Tướng ấy chỉ nghe hai tiếng “buông súng” rồi giản dị xuôi tay tự sát hay sao?



Viết đến đây tôi mạn phép nêu lên câu hỏi:

- Thưa toàn thể quý vị sĩ quan QLVNCH. Ngày quý vị nhận lãnh chiếc mũ sĩ quan của trường Võ Bị, quý vị còn nhớ sáu chữ gì trên chiếc mũ ấy không? Sáu chữ mà quý vị trịnh trọng đội lên đầu là: “Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm”. Ngày mãn khóa sĩ quan với những lời tuyên thệ, quý vị hẳn nhớ? Cũng như những điều tâm niệm ai lại chẳng thuộc lòng? Những vị bỏ nước ra đi trước binh biến, những vị ở lại bị sắp hàng vào trại tù Cộng Sản, tôi xin tạ lỗi, vì thật tình tôi không dám có lời phê phán nào. Tôi chỉ muốn nói lên tất cả sự thật về cái chết của hai vị TướngNguyễn Khoa Nam và Lê Văn Hưng . Hai vị Tướng này đã ba lần từ chối lời mời di tản sang ngoại quốc của viên cố vấn Mỹ, cương quyết ở lại tử chiến, bảo vệ mảnh đất Vùng 4. Viên cố vấn Mỹ hối thúc, đợi chờ không được, sau cùng chán nản và buồn bã bỏ đi.

Trước đó, vào ngày 29/4/1975, lời tuyên bố của Vũ Văn Mẫu và Dương Văn Minh trên đài phát thanh Sàigòn ra lệnh tất cả người Mỹ phải rời Việt Nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ, thì chính là lúc “kế hoạch hành quân mật của hai Tướng Nam Hưng đã hoàn tất.”

Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, người thay thế Tướng Vĩnh Lộc vào những ngày giờ cuối tới tấp điện thoại về Cần Thơ. Ông Hạnh đã dùng tình cảm chiến hữu, dùng nghĩa đàn anh thân thuộc, khẩn khoản yêu cầu Tướng Hưng về hợp tác với Dương Văn Minh và Nguyễn Hữu Hạnh. Thâm tâm có lẽ ông Hạnh lúc đó muốn đò xét thái độ của hai Tướng Vùng 4 như thế nào. Nhiều lần, qua cuộc điện đàm với Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, Tướng Hưng đã luôn khẳng định:




“Không hợp tác với Dương Văn Minh. Không đầu hàng Cộng Sản. Tử chiến đến cùng”

Khi Tổng Thống Thiệu từ chức, trao quyền lại cho cụ Trần Văn Hương, và rồi vì hoàn cảnh đắm chìm của vận mệnh đất nước, trước nhiều áp lực nên cụ Hương đã trao quyền lại cho Dương Văn Minh, để rồi “ông Tướng hai lần làm đổ nát quê hương, ố hoen lịch sử này, hạ mình ký tên dâng nước Việt Nam cho Cộng Sản.” Vị Tướng Lãnh trấn thủ một vùng, tùy hoàn cảnh đất nước, và tình hình chiến sự địa phương, trọn quyền quyết định, xoay chuyển thế cờ, không cần phải tuân lệnh một cách máy móc theo cấp chỉ huy đầu não đã trốn hết, thì còn chờ lịnh ai? Phải tuân lịnh ai? Tóm lại, lúc đó lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh và lời kêu gọi của Nguyễn Hữu Hạnh đã không được Tướng Nam và Tướng Hưng đáp ứng.



Viết đến đây, tôi xúc động lạ thường. Tôi nghẹn ngào rơi lệ nhớ đến một số sĩ quan binh sĩ đã bật khóc khi nghe lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh. Anh em đã ôm lá cờ tổ quốc, ôm khẩu súng vào lòng nức nở. Có những chi khu trưởng và những đồn trưởng nhất định không chịu đầu hàng. Họ đã tử thủ đến viên đạn chót. Và viên đạn chót dành để kết liễu đời mình. Cấp bậc của những anh em ấy không cao, chỉ chỉ huy khu nhỏ, hay một đồn lẻ loi, nhưng tinh thần tranh đấu của anh em cao cả và oai hùng thế đấy.

Trong khi Sàigòn bỏ ngỏ đầu hàng thì Cần Thơ vẫn an ninh tuyệt đối. Kế hoạch hành quân đã thảo xong. Vũ khí lương thực đạn dược sẵn sàng. Tất cả đều chuẩn bị cho các cánh quân di chuyển, sẽ đưa về các tuyến chiến đấu. Kế hoạch di quân, phản công, và bắt tay nằm trong lịnh mật quân hành đó. Vùng 4 có nhiều địa thế chiến lược, có thể kéo dài cuộc chiến thêm một thời gian. Bởi lúc đó, cho đến ngày 29 tháng 4 năm 1975, chưa có một đồn nào, dù ở quận lỵ xa xôi hẻo lánh ở Vùng 4 đã lọt vào tay giặc Cộng.

Nhưng, Cần Thơ, sáng ngày 30/4/1974, dân chúng nhốn nháo hoang mang. Đã có một số binh sĩ bỏ ngũ. Tại thị xã, cảnh náo loạn đáng buồn chưa từng có đã xảy ra. Từng nhóm đông đảo bọn ác ôn và thừa nước đục thả câu đã ra tay cướp giật tài sản ở các cơ sở Mỹ, và ở những nhà tư nhân đã bỏ trống, bất chấp tiếng súng nổ can thiệp của cảnh sát duy trì an ninh trật tự công cộng. Chúng cướp giật, đập phá, hò hét như lũ điên. Chắc chắn trong số này có bọn Cộng Sản nằm vùng có ý đồ gây rối loạn áp đảo tinh thần binh sĩ.



Lúc ấy Tướng Nam và Tướng Hưng vẫn còn liên lạc với các cánh quân chạm địch. Nhiều cánh quân nồng cốt được đưa về thị xã Cần Thơ để bảo vệ Bộ Chỉ Huy Quân Đoàn, nằm chung quanh vòng đai Alpha. Từ 2 giờ đến 4 giờ chiều ngày 30 tháng 4, giờ đã điểm. Đúng theo kế hoạch lệnh hành quân bắt đầu. Nhưng hỡi ôi, khi liên lạc đến các cấp chỉ huy của các đơn vị thì mới hay họ chưa biết tý gì về kế hoạch, chưa rục rịch chi hết, ngoài việc thay đổi các cuộc bố trí từ sáng đến giờ phút này.

Tìm kiếm Đại Tá an ninh, người đã lãnh nhiệm vụ phân phối phóng đồ và lệnh hành quân mật đến các đơn vị, thì mới vỡ lẽ ra vị sĩ quan này đã đưa vợ con tìm đường tẩu thoát sau khi ném tất cả mật lệnh vào tay vị Đại Úy dưới quyền. Ông này cũng đã cuốn gói trốn theo ông Đại Tá đàn anh, cho có thầy, có trò. Các phóng đồ và lệnh hành quân mật cũng đã biến mất. Thiếu Tướng Nam và Thiếu Tướng Hưng tức uất không sao tả nổi. Tôi không ngăn nổi tiếng nấc nghẹn ngào khi hồi tưởng lại vẻ bối rối của Thiếu Tướng Nam và sự đau khổ thất vọng của Hưng. Những đường gân trán nổi vòng lên, răng cắn chặt, biểu lộ sự đau đớn và chịu đựng kinh hồn. Người đập tay đánh ầm xuống bàn khi thấy kế hoạch sắp xếp thật tinh vi bị kẻ phản bội hèn nhát làm gãy đổ bất ngờ. Hưng ngước mắt nhìn tôi như muốn hỏi:

“Có đồng ý đem con lánh nạn không?”

Tôi cương quyết từ chối. Tôi không cầu an ích kỷ, tìm sống riêng, bỏ mặc người trong cảnh dầu sôi lửa đỏ. Tôi nhất định ở lại, cùng chịu hoạn nạn, cùng liều chết. Hưng hỏi tôi:

“Thành công là điều chúng ta mong ước, nhưng rủi thất bại, em định liệu lẽ nào?”

Tôi đáp:

“Thì cùng chết! Các con cũng sẽ thế. Em không muốn một ai trong chúng ta lọt vào tay Cộng Sản”.

Và để khỏi phải sa vào tay giặc Cộng, tôi bình tĩnh thu xếp cái chết sắp tới cho mẹ con tôi, đường giải thóat cuối cùng của chúng tôi. 4g45 chiều ngày 30/4/75, Tướng Hưng rời bỏ văn phòng ở Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 4, về bộ chỉ huy phụ, nơi chúng tôi tạm trú.



Hưng không muốn chứng kiến cảnh bàn giao ô nhục sắp tới giữa Thiếu Tướng Nam và tên Thiếu Tá Việt Cộng Hoàng Văn Thạch. Năm giờ rưỡi chiều khi Hoàng Văn Thạch tiến vào Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn là lúc Hưng gọi máy liên lạc với Tướng Mạch Văn Trường, ra lệnh đưa hai chi đội thiết giáp tới án ngữ ở dinh Tỉnh Trưởng để bảo vệ Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn 21 mới về đóng nơi đây. Sau đó Hưng tiếp tục liên lạc với các đơn vị đang tiếp tục chạm súng ở các tiểu khu. Đồng thời Hưng mời Tướng Mạch Văn Trường cùng các đơn vị trưởng ở chung quanh vòng đai thị xã Cần Thơ về họp. 6g30 chiều, khi các vị sĩ quan vừa ra đến cổng, có một toán thân hào nhân sĩ quen biết tại Cần Thơ đang chực sẵn, gồm khoảng 10 người. Họ xin gặp Tướng Hưng, với tư cách đại diện dân chúng thị xã, yêu cầu:



“Chúng tôi biết Thiếu Tướng không bao giờ chịu khuất phục. Nhưng xin Thiếu Tướng đừng phản công. Chỉ một tiếng lệnh của Thiếu Tướng phản công, Việt Cộng sẽ pháo kích mạnh mẽ vào thị xã. Cần Thơ sẽ nát tan, thành bình địa như An Lộc. Dù sao, vận nước đã như thế này rồi, xin Thiếu Tướng hãy vì dân chúng, bảo toàn mạng sống của dân, dẹp bỏ tánh khí khái, can cường…”.



Nghe họ nói, tôi cảm thấy đau lòng lẫn khó chịu. Tôi cũng không ngạc nhiên về lời yêu cầu đó. Bởi mới tuần lễ trước, Việt Cộng đã pháo kích nặng nề vào khu Cầu Đôi, cách Bộ Tư Lệnh không xa, gây thiệt hại cao về nhân mạng và tài sản của đồng bào. Dân chúng Cần Thơ còn khiếp đảm. Hưng như đứng chết lặng trước lời yêu cầu ấy. Một lát sau, Hưng cố gượng nở nụ cười trả lời:

“Xin các ông yên lòng. Tôi sẽ cố gắng hết sức để tránh gây thiệt hại cho dân chúng”.

Toán người ấy ra về. Hưng quay sang hỏi tôi:

“Em còn nhớ tấm gương cụ Phan Thanh Giản? Bị mất ba tỉnh miền đông, rồi cũng vì dân chúng mà cụ Phan đã nhún mình nhường thêm ba tỉnh miền tây cho quân Pháp. Cụ Phan không nỡ thấy dân chúng điêu linh và cũng không để mất tiết tháo, không thể bó tay làm nhục quốc sĩ. Cụ Phan Thanh Giản đành nhịn ăn rồi uống thuốc độc quyên sinh”.

Trầm ngâm vài giây, Hưng tiếp:



“Thà chết chứ đâu thể bó tay trơ mắt nhìn Việt Cộng tràn vào”.

6g45 chiều ngày 30 tháng 4, Tướng Nam điện thoại cho Hưng, hỏi tình hình các nơi. Hưng báo với Tướng Nam về việc đại diện dân chúng thị xã đến yêu cầu thẳng với Hưng. Hưng cũng cho Tướng Nam biết đặc lệnh truyền tin mới nhất sẽ giao cho người tín cẩn phân phối. Tướng Nam cho Hưng hay là ông đã cho thu băng lời kêu gọi dân chúng và lời yêu cầu này sẽ cho đài Cần thơ phát thanh. Nhưng mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên. Thêm một lần nữa, sự gây đổ đau lòng. Đài Cần Thơ bị nội ứng trước đó, khoảng một giờ, viên giám đốc đài bị uy hiếp, thay vì phát thanh cuốn băng của Thiếu Tướng Nam trước, chúng thay cuốn băng có lời kêu gọi của Thiếu Tá Cộng Sản Hoàng Văn Thạch. Khoảng mười phút sau, đài mới phát thanh cuốn băng của Tướng Nam. Muộn màng rồi. Không còn níu kéo được sự tin tưởng nơi dân chúng và binh sĩ được nữa. Hàng ngũ các đơn vị đã thưa thớt lại càng thêm thưa thớt.



7g30 tối ngày 30 tháng 4, Hưng gọi tôi lên văn phòng làm việc. Đây là giờ phút nghiêm trọng nhất, không có ai hiện diện hết. Sau khi kể cho tôi nghe hết sự đổ vỡ từ trưa đến giờ phút đó, Hưng nhấn mạnh:

“Hoàng, em đã hiểu sự thất bại do các nguyên nhân sau đây: Vị Đại Tá không tuân lệnh, nên giờ chót không điều động quân về các vị trí chiến lược, trù liệu theo kế hoạch. Việc níu kéo sự tin tưởng của dân chúng và binh sĩ không thành. Lời kêu gọi trễ tràng của Tướng Nam không có tiếng vang. Cũng như lời yêu cầu của dân chúng thị xã Cần Thơ”.

Quắc đôi mắt sáng, Hưng nhìn tôi dằn giọng:

“Em phải sống ở lại nuôi con”.

Tôi hoảng hốt:

“Kìa mình, sao mình đổi ý?”

“Con chúng ta vô tội, anh không nỡ giết con.”

“Nhưng không thể để con sống với Cộng Sản. Em sẽ thay mình làm chuyện đó. Chỉ cần chích thuốc ngủ cực mạnh cho con. Chờ em một chút, chúng ta cùng chết một lúc”.

“Không thể được. Cha mẹ không thể giết con. Anh van mình. Chịu nhục, cố sống. Ở lại thay anh, nuôi con trở thành người công chính. Phú quý vinh hoa địa vị hãy đề phòng, những thứ đó dễ làm mờ ám lương tri. Nhớ, giang san tổ quốc là trọng đại hơn hết. Gắng chịu cúi lòn, nhục nhã để nuôi con và cũng nuôi luôn ý chí để có ngày còn phục hận cho đất nước chúng ta”.

“Nếu vì con, mình thương con, sao mình không đi ngoại quốc?”

Hưng đanh mặt lại, nghiêm khắc nhìn tôi trách móc:

“Em là vợ anh. Em có thể nói được câu ấy sao?”

Biết mình vụng về, lỡ lời xúc phạm đến người, tôi vội vàng tạ lỗi:

“Xin mình tha thứ. Chẳng qua vì quá thương mình nên em mới nói thế”.



Giọng Hưng thật nghiêm trang mà cũng thật trầm tĩnh:

“Nghe anh nói đây. Người ta trốn chạy được. Chớ anh không bao giờ trốn chạy. Mấy ngàn binh sĩ dưới tay, hồi nào sinh tử có nhau, giờ bỏ mặc họ tìm sống riêng mình sao? Anh cũng không đầu hàng. Bây giờ thì rút cũng không kịp nữa, vì vào mật khu mà không có nguồn tiếp liệu vũ khí, đạn dược, lương thực thì không cầm cự được lâu. Đã muộn rồi. Việt Cộng đang kéo vào đừng để anh không dằn được nổ súng vào đầu chúng, thì gây thiệt hại cho dân chúng và anh em binh sĩ. Anh không muốn thấy bóng dáng một tên Việt Cộng nào”.

Tôi phát run lên hỏi:

“Nhưng mình ơi, còn em? em phải làm gì trong lúc này?”

Nắm chặt tay tôi, Hưng nói:

“Vợ chồng tình nghĩa bao nhiêu lâu, anh hiểu em và em hiểu anh. Em tuy chỉ là con cá nhỏ nhưng biết mang ý chí kình ngư. Gắng chịu nhục. Dù phải chịu trăm ngàn sự nhục nhã để nuôi con, để phục hận cho quê hương. Cải trang, cải dạng, len lỏi mà sống. Anh tin em. Vì anh, vì con, vì nợ nước, tình nhà, em có thể chịu đựng nổi! Nghe lời anh đi. Anh van mình, anh van mình”.

Tôi không sao từ chối được trước ánh mắt van nài, trước những lời tha thiết ấy:

“Vâng, em xin nghe lời mình”.

Hưng sợ tôi đổi ý, tiếp lời thúc giục:

“Em hứa với anh đi. Hứa một lời đi”.

“Em xin hứa. Em xin hứa mình ơi. Nhưng xin cho em hai điều kiện. Nếu Cộng Sản bắt em phải sống xa con, nếu giặc Cộng làm nhục em, lúc ấy em có quyền tự sát theo mình chứ?”

Hưng suy nghĩ giây lâu, gật đầu đồng ý, và ra lệnh cho tôi:

“Em mời má và đem các con lên lầu gặp anh”.

Tôi quay đi. Ánh mắt bỗng chợt đập vào lá cờ vẫn dựng ở góc phòng. Tôi vội vàng đem cờ đến bên người. Tôi nói:

“Bao nhiêu năm chiến đấu để bảo vệ tổ quốc. Bây giờ mình hãy giữ nó”.

Chúng tôi nhìn nhau cảm thông. Hưng ôm lá cờ, áp vào mặt, đôi mắt Hưng chợt ướt. Sau cùng Hưng cũng rán đứng lên hối tôi:
“Mau mời má và mấy đứa nhỏ lên”.

Khi mẹ tôi và các con lên văn phòng, Hưng nói rõ cho mẹ tôi hiểu vì sao người phải chết và tôi phải sống. Vâng lệnh Hưng, tôi mời tất cả sĩ quan binh sĩ còn tụ họp dưới nhà lên văn phòng. Mọi người đứng xếp hàng nghiêm trang và vô cùng cảm động. Giờ phút từ biệt sanh ly giữa những người từng bao ngày sống chết bên nhau. Hưng dõng dạc nói:

“Tôi không bỏ các anh và đưa vợ con trốn sang ngoại quốc. Như các anh đã biết, cuộc hành quân chưa chi đã bị gẫy đổ nửa chừng. Tôi không phản công vào phút chót là vì dân chúng. Tôi không muốn Việt Cộng pháo kích bừa bãi, biến Cần Thơ thành An Lộc thứ hai. Tôi cũng không chịu nhục đầu hàng. Các anh đã từng cộng tác với tôi, những lúc các anh lầm lỗi, tôi rầy la. Rầy la không có nghĩa là ghét bỏ. Rầy la để mến thương nhau, để xây dựng nhau.




Mặc dầu đất nước ta bị bán đứng, bị dâng cho Cộng Sản, nhưng các anh không trực tiếp chịu tội với quốc dân. Chính những người trực tiếp nắm vận mệnh các anh, mới chính là những kẻ trọng tội. Xin các anh tha thứ cho tôi những lỗi lầm, nếu có. Tôi bằng lòng chọn cái chết. Tướng mà không giữ được nước, không bảo vệ được thành, thì phải chết theo thành, theo nước, chớ không thể bỏ dân, bỏ nước, trốn chạy, cầu an. Tôi chết rồi, các anh hãy về với gia đình, vợ con. Nhớ rõ lời tôi căn dặn: Đừng bao giờ để bị Cộng Sản tập trung các anh, dù tập trung dưới bất cứ hình thức nào. Tôi có lời chào vĩnh biệt các anh”.

Tướng Hưng đưa tay chào và bắt tay từng người một. Mọi người đều khóc. Đến bên Thiếu Tá Phương, Trung Úy Nghĩa, Hưng gởi gấm:

“Xin giúp đỡ giùm vợ con tôi. Vĩnh biệt tất cả”.



Mọi người đều đứng yên không ai nói lên được lời nào. Mẹ tôi nhào lại ôm chầm lấy người, xin được chết theo. Hưng an ủi mẹ tôi, yêu cầu mẹ tôi cố gắng chăm lo cho cháu ngoại. Hưng ra lệnh cho tất cả mọi người phải ra ngoài. Không ai chịu đi. Hưng phải xô từng người ra cửa. Tôi van xin:

“Mình cho em ở lại chứng kiến mình chết”.

Người từ chối. Nghĩa hoảng sợ bỏ chạy. Hưng quay vào văn phòng đóng chật cửa lại. Tôi gọi giật Nghĩa:

“Nghĩa trở lại với tôi”.

Tôi bảo Giêng tìm dao nạy cửa. Giêng bỏ chạy như bay. Nghĩa trở lên, đứng trước cửa chờ đợi. Có tiếng súng nổ nghe chát chúa.




Tôi đưa tay xem đồng hồ: 8g45 tối ngày 30 tháng 4 năm 1975. Ngày kết liễu cuộc đời của chúng tôi. Lê Văn Hưng, anh đã chết. Giêng run run lấy dao nạy cửa. Cửa bật ra. Nghĩa lách mình nhường tôi chạy vào phòng trước. Hưng ngả người nằm trên, nửa người nằm dưới, hai cánh tay dang ra, cong lên và giật mạnh, toàn thân run rẩy từng cơn. Đôi mắt Hưng mở to căm hờn. Miệng Hưng há ra, đôi môi mấp máy. Tôi ôm chầm lấy Hưng hỏi:



“Mình, mình ơi! Mình còn lời gì dặn dò em nữa không?”

Hưng không còn trả lời được tiếng nào. Nghĩa gào lên nức nở:

“Thiếu Tướng! Trời ơi, Thiếu Tướng!”

Giêng chạy vào phụ Nghĩa đỡ lưng và chân, tôi đỡ đầu Hưng, đặt nằm ngay ngắn trên giường. Máu tim nhuộm thắm áo trận, ướt đỏ cả tấm drap trắng. Tôi đưa tay vuốt mắt cho người. Nghĩa vẫn gào khóc:

“Thiếu Tướng! Thiếu Tướng ơi!”

Tôi bảo Giêng:

“Nói Hòa đưa Hải, Hà, Quốc lên nhìn xác ba lần cuối. Dặn Phương cho Khiết, Hoàng giữ ở cầu thang, bất cứ giá nào cũng phải ngăn chận Việt Cộng”.

Tôi đi tìm đầu đạn và đuôi đạn. Còn khẩu súng, lạ lùng thay không biết ở đâu. Đến lúc tắm rửa người, thay drap dấy máu, tôi mới hiểu. Trước khi hồn lià xác, với ý chí cuối cùng, người còn bình tĩnh nhét khẩu súng, dấu dưới nệm. Có lẽ người sợ tôi quá xúc động, quên lời hứa, tự sát theo. Bé Hải lúc ấy năm tuổi, ôm hai chân ba, khóc than, kể lể thảm thiết. Bé Hà hai tuổi, thơ ngây ôm chai sữa, lên nằm trên bụng ba, bé mở tròn đôi mắt to, ngạc nhiên không thấy ba đưa tay bế bé như mọi khi.

Nghĩa điện thoại khắp nơi tìm Thiếu Tướng Nam , không thấy trả lời. Tôi vội vã mở đặc lịnh truyền tin, lên máy gọi liên lạc với Thiếu Tướng. Lúc ra máy, chỉnh tần số, tôi chỉ nghe những giọng nói rặc mùi Cộng Sản trên các tần số thuộc đơn vị của chúng ta. Lũ Việt cộng, ngày 30 tháng 4, tràn vào nhà. Phương cương quyết chận chúng ở cầu thang. Chín giờ rưỡi, 30 tháng 4, chuông điện thoại reo vang:



“Alô, Alô, ai đây?”

“Dạ thưa chị đó à? Hồ Ngọc Cẩn đây”.

Tôi bàng hoàng:

“Anh Cẩn! Có chuyện chi cần không?”

Tôi cố gắng giữ giọng nói cho bình thường, để Cẩn không nhận biết sự việc xảy ra. Trong điện thoại, về phía Cẩn, tôi có nghe tiếng súng lớn nhỏ thi nhau nổ ầm ầm. Cẩn hỏi:

“Thiếu Tướng đâu chị? Cho tôi gặp ông một chút”. Tôi lúng túng vài giây:

“Ông đang điều động quân ngoài kia”.

“Chị chạy ra trình Thiếu Tướng, tôi cần gặp. Trung Úy Nghĩa đâu chị?”

“Nghĩa đang ở bên cạnh Thiếu Tướng. Cẩn chờ một chút nhé”.

Tôi áp chặt ống điện thoại vào ngực. Mím môi, nhìn xác Hưng rồi nhìn sang Nghĩa tôi hỏi:

“Đại Tá Cẩn đòi gặp Thiếu Tướng, làm sao bây giờ Nghĩa?” Nghĩa lúng túng:

“Cô nói Thiếu Tướng chết rồi”.

“Không thể nói như vậy được. Đại Tá Cẩn đang cự chiến với Việt Cộng”.



Trí óc tôi chợt lóe sáng phi thường. Tôi muốn Cẩn chiến đấu anh hùng. Sống anh hùng. Chết anh hùng. Tôi đưa máy lên giọng quyết liệt:

“Thiếu Tướng không thể vào được. Cẩn cần gì cứ nói. Tình hình ở Chương Thiện ra sao? Anh còn đủ sức chiến đấu không? Tinh thần binh sĩ thế nào? Địch ra sao?”

“Tụi nó dần tụi tui quá. Tinh thần anh em vẫn cao. Chị hỏi Thiếu Tướng còn giữ y lịnh không?”

“Cẩn vui lòng chờ chút”.

Tôi lại áp chặt ống điện thoại vào ngực. Cắn chặt môi suy nghĩ. Tôi hiểu lời Cẩn hỏi. Trong tích tắc tôi biết khó cứu vãn tình thế. Nhưng tôi muốn Hồ Ngọc Cẩn phải luôn hiên ngang hào hùng. Tôi quyết định:

“Alô. Cẩn nghe đây: Lịnh Thiếu Tướng. Ông hỏi Cẩn có sẵn sàng tử chiến?”

Cẩn đáp thật nhanh:

“Lúc nào cũng sẵn sàng, chớ chị!”

“Tốt lắm, vậy thì y lịnh”.

“Dạ, cám ơn chị”.

Tôi buông máy gục xuống bên xác Hưng. Nước mắt trào ra, tôi kêu nho nhỏ:




“Vĩnh biệt Cẩn. Vĩnh biệt Cẩn!”

“Anh Cẩn ơi, hồn linh anh có phảng phất đâu đay, khi tôi ngồi viết lại những dòng này, nước mắt rơi trên giấy, Anh có biết cho rằng trả lời điện thoại với anh rồi, tôi đau khổ tột cùng không? Tha thứ cho tôi!”

Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, anh đã hiên ngang hào hùng đến giờ phút chót của cuộc đời. Hiểu rõ Hưng, hiểu rõ tôi, bên kia thế giới không thù hận, chắc anh hiểu rõ tâm trạng của tôi lúc bấy giờ, hẳn anh tha thứ cho tôi?



http://www.youtube.com/watch?v=etZXRohdsKc&feature=related

Kính thưa toàn thể quý vị thuộc thân bằng quyến thuộc của Đại Tá Cẩn. Kính thưa quý vị đã đọc những giòng chữ này. Xin quý vị chớ trách tôi sao dám quyết định. Ngộ biến tùng quyền. Tướng Hưng đã chết. Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam chưa liên lạc được. Vợ người lính nghĩa quân trưởng đồn, khi Việt Cộng tấn công, chồng chị bị tử thương, chị đã thay chồng phản công ác liệt. Tôi không thể để một người như Hồ Ngọc Cẩn đưa tay đầu hàng, hạ mình trước Việt Cộng vào dinh tỉnh trưởng Chương Thiện.



11 giờ đêm ngày 30 tháng 4, 1975. Điện thoại lại reo. Lần này, chính giọng của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam :

“Alô, chị Hưng!”

Tôi vừa khóc, vừa đáp lời Thiếu Tướng:

“Thưa Thiếu Tướng…”

Giọng Tướng Nam buồn bã u uất:

“Tôi biết rồi, chị Hưng, tôi chia buồn với chị, nghe chị Hưng”.

Tôi vẫn nức nở:

“Thiếu Tướng nghĩ sao về kế hoạch đã gãy đổ?”

“Hưng đã nói với chị hết rồi hả? Đành vậy thôi. Không phải lỗi chúng ta hèn nhát hay bỏ cuộc. Sự sụp đổ không cứu vãn được vì lệnh hành quân không được Đại Tá… thi hành, phóng đồ và lệnh không tới tay các đơn vị trưởng, lời yêu cầu của dân chúng, lời kêu gọi của tôi quá muộn màng, không hiệu quả, khó cứu vãn nổi tình hình”.

Nói đến đây, Thiếu Tướng Nam hỏi tôi:

“Chị biết vụ đài phát thanh bị nội ứng chứ?”

“Thưa biết. Hưng cũng bảo tôi như Thiếu Tướng vậy. Bây giờ Thiếu Tướng định liệu lẽ nào, có định phản công không?”

“Chị quên còn dân chúng sao? Cộng Sản coi rẻ mạng dân, còn mình thì… Đàng chị thế nào?”

“Thưa Thiếu Tướng, chúng nó đã tràn đầy dưới nhà. Có vài tên định nhào lên, nhưng bị Giêng cương quyết đuổi xuống. Hiện chúng đang thu dọn tài sản”.

“Còn mấy chú đâu hết?”

“Chỉ có Nghĩa và vài ba người lính ở lại. Còn tất cả đã bỏ đi hết. Hưng đã chết rồi, tôi không màng đến tài sản. Miễn là chúng đừng đụng đến xác Hưng”

“Chị tẩm liệm Hưng chưa?”

“Thưa chưa. Vừa tắm rửa, thay quần áo xong thì Thiếu Tướng gọi tới”.

“Chị nên tẩm liệm Hưng ngay đi. Tôi sợ không còn kịp, chúng nó sẽ không để yên”.

“Thiếu Tướng còn dạy thêm điều gì không? Chẳng lẽ Thiếu Tướng chịu đầu hàng thật sao?”

Người thở dài trong máy. Người nói những lời mà đến chết tôi cũng sẽ không quên:

“Số phận Việt Nam khốn nạn thế đó, chị Hưng ơi! Tôi và Hưng đã sắp đặt tỉ mỉ, hoàn tất kế hoạch xong xuôi, còn bị phản bội giờ chót”.

Người chép miệng thở dài:

“Thôi chị Hưng ơi”.

Bỗng giọng người trầm xuống, ngậm ngùi:

“Hưng chết rồi, chắc tôi cũng chết! Chúng tôi làm Tướng mà không giữ được nước thì phải chết theo nước”.

Giọng người bình tĩnh và rắn rỏi:

“Cố gắng can đảm lên nhé chị Hưng. Chị phải sống vì mấy đứa nhỏ. Đêm nay có gì nguy cấp, nhớ gọi tôi. Nếu gọi không được, dặn Nghĩa gọi Thụy, lấy mật mã mới”.

“Dạ, cám ơn Thiếu Tướng”.

Nói chuyện với Thiếu Tướng xong, tôi bước ra lan can nhìn xuống. Dưới sân, sĩ quan và lính tráng đã đi hết. Trừ có Nghĩa còn ở lại. Cổng rào bỏ ngỏ. Gió thổi đong đưa cánh cửa rít lên những tiếng kẽo kẹt bi ai. Mảnh trăng cuối tuần 19 tháng 3 âm lịch chênh chếch soi, vẻ ảm đạm thê lương như xót thương cho số phận Việt Nam Cộng Hòa, cho trò đời bể dâu hưng phế.


Viết đến đây, tôi nhớ lại từng lời của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, của Đại Tá Tỉnh Trưởng tỉnh Chương thiện Hồ Ngọc Cẩn. Trọn đời tôi, làm sao tôi có thể quên giọng nói gấp rút của anh Cẩn, giọng trầm buồn của Tướng Nam.

7 giờ sáng ngày 1 tháng 5, năm 1975. Vừa tụng dứt đoạn kinh Sám Tỉnh Thế trong nghi thức cầu siêu cho Hưng, tôi nghe có tiếng nấc sau lưng. Quay lại, chính là Trung Tá Tùng, bác sĩ trưởng Quân Y Viện Phan Thanh Giản, Cần Thơ. Ông đến thăm Hưng lần cuối. Ông cho biết phải trở lại Quân Y Viện ngay vì Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam đã tự sát, xác còn nằm tại Quân Y Viện. Tướng Nam đã bắn vào thái dương, lúc 6 giờ sáng ngày 1 tháng 5, 1975. Cho đến chết, mắt Tướng Nam vẫn mở trừng trừng, uất hận, miệng người há hốc, đớn đau. Sau cuộc điện đàm với người, tôi đã linh cảm, biết trước chuyện gì sẽ xảy ra. Nhưng khi nghe bác sĩ Tùng báo tin, tôi xúc động vô cùng, tôi quỳ xuống, hướng về Quân Y Viện, nơi Tướng Nam còn nằm đó, cầu nguyện:



Trung Úy Nghĩa thay tôi đến viếng xác người. Trung Úy Thành, vị ân nhân can đảm đặc biệt, đến với tôi trong giờ phút nguy nan đó. Thành đã mời được Trung Tá Bia đến tẩm liệm cho Hưng. Những vị ân nhân trong cơn biến loạn ấy, trọn đời tôi xin ghi khắc ơn sâu. 8 giờ sáng ngày 1 tháng 5, 1975, các sĩ quan quân đoàn, mặc thường phục, đến viếng xác Hưng. Mầu nhiệm thay, khi gặp lại những cộng sự viên cũ, trong thoáng chốc, mắt Hưng hé mở, nhìn lên. Và từ trong đôi mắt người chết, có hai giòng lệ chảy. Mặt người chợt đỏ bừng lên.

Người khóc cho quê hương đất nước bắt đầu đắm chìm trong điêu linh. Người khóc cho đám tàn quân khốn khổ. Cho đến lúc chết, hai Tướng Nam và Hưng chỉ phân tách nguyên nhân thất bại, làm hỏng kế hoạch của hai người chớ không ai lên tiếng nặng lời trách móc vị Đại Tá kia.

Xin quý vị hiểu rõ giùm tôi. Tôi tôn trọng danh dự của hai ông, vợ con và gia đình hai ông. Trong hoàn cảnh căng thẳng của đất nước, khi lòng người mất niềm tin, hai ông cũng như nhiều người khác, thật sự đáng thương hơn đáng trách. Không hiểu hai ông có đi thoát, hay bị bắt ở lại.




Vận nước ngàn cân treo sợi tóc, một vài người dù đánh đổi cả vận mệnh cũng không nâng đỡ nổi tòa nhà Việt Nam đang sụp đổ tang thương. Nhưng, một ngày chúng ta còn mang trong người dòng máu của dân tộc Lạc Hồng, còn hít thở được khí trời, là một ngày chúng ta còn nợ nần quê hương. Đó là món nợ thiêng liêng và cao quý mà ngôn từ loài người chưa thể diễn tả được sát nghĩa, và thật đúng ý. Sao chúng ta không noi gương oanh liệt của tổ tiên, của cha ông, nối tiếp ý chí bất khuất của tiền nhân, để trang trải món nợ ân tình đó? Sao chúng ta cứ lo chê bai, công kích, hãm hại, đạp chà nhau, để rồi vô tình làm lợi cho bọn cướp nước Cộng Sản?




Đọc những gì tôi kể ở đoạn trên, những vị từng hỏi hay mỉa mai tôi, đã hiểu tất cả sự thật vì sao Tướng Nam và Tướng Hưng đã phải tự sát để bảo tồn tiết tháo. Không ai đem việc thành bại luận anh hùng. Cũng chớ bao giờ lấy tâm địa tiểu nhân để đo lòng người quân tử. Chúng ta, những người còn sống, những người Việt Nam ở trong nước hay lưu vong khắp bốn phương trời, chúng ta phải tự nêu lên câu hỏi: Chúng ta đã làm được gì cho đừng hổ thẹn với những người đã nằm xuống?.

Họ đã nằm xuống không phải là vì họ hèn nhát! Họ đã nằm xuống là vì muốn bảo toàn Sáu Chữ mà họ từng mang trên đầu: Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm.

Nếu chưa làm được gì cho quê hương, xin hãy thận trọng lời phê phán vô ý thức. Đừng vô tình, thành tàn nhẫn sỉ nhục những người dám chết cho Tổ Quốc.













Bài Xem Nhiều