We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 31 May 2012

Chủ Đề 19.6: Câu chuyện Biệt đội trưởng tình báo Thiên Nga

Câu chuyện Biệt đội trưởng tình báo Thiên Nga



WESTMINSTER (NV) - Tôi không nhớ chính xác đã nghe đến cụm từ “biệt đội Thiên Nga” từ lúc nào. Chỉ biết rằng, hình ảnh những người con gái, những người phụ nữ từng là “tình báo Thiên Nga” mà tôi được đọc, được xem qua phim ảnh, sách báo, luôn để lại trong tôi dấu ấn khá đậm.
Cũng không biết vì lý do gì. Có thể là sự ngưỡng mộ. Cũng có thể là sự tò mò. Những gì tôi được nghe về họ, cứ như một huyền thoại.
Tôi không biết chính xác lý do.
Cho đến một buổi chiều, suốt một buổi chiều, tôi ngồi nghe một cựu tình báo kể chuyện nghề, chuyện đời của một “Thiên Nga,” tôi bỗng vỡ ra nhiều điều.
Chân dung một tình báo đã trở nên “đời” hơn rất nhiều qua những lời kể của cô, cựu Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thủy, biệt đội trưởng Biệt Ðội Thiên Nga.

Cựu Thiếu Tá tình báo Nguyễn Thanh Thủy: “Ông xã tôi nói sao tôi nặng nợ với thế gian này nhiều quá!” (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

 
 Cái nghề là cái nghiệp

Xuất thân trong gia đình không có bất kỳ ai tham gia quân đội hay lực lượng cảnh sát, thế nhưng, hình ảnh nữ y tá duy nhất, Genevieve de Galard, người Pháp, “còn trẻ măng, chưa có gia đình” tham gia trong chiến tranh Ðiện Biên Phủ, được báo chí loan tải, đã đi vào tiềm thức của cô bé Nguyễn Thanh Thủy, khi ấy mới 11 tuổi.
“Tôi thích đi lính từ đó,” cô kể.
Sau khi đỗ tú tài 2 ở trường trung học Mỹ Tho, Thủy không thể theo học Ðại Học Dược bởi lý do sức khỏe. Thay vào đó, Thủy chọn trường Chính Trị Kinh Doanh Ðà Lạt, và trường Sư Phạm Công Giáo.
Tuy nhiên, khi sắp sửa tốt nghiệp thì bên cảnh sát tuyển “sinh viên sĩ quan.” “Vậy là tôi ghi tên dự thi. Lúc đó tôi 21 tuổi.” Cựu thiếu tá tình báo tiếp tục.
Bỏ ngang chuyện học ở Ðà Lạt, đầu năm 1966, Nguyễn Thanh Thủy vào Sài Gòn khởi đầu chương trình học sĩ quan cảnh sát.
Sau một năm huấn luyện, người ta muốn chọn ra năm trong số 18 cô gái được tuyển vào chương trình “biên tập viên cảnh sát” (tức những người phải có bằng đại học hoặc tú tài 2 trở lên), để vào “khối đặc biệt.” Tuy nhiên, không một cô nào muốn mình là người được chọn, ngay cả Thanh Thủy.
“Thế là, Tướng Nguyễn Ngọc Loan, tổng giám đốc Cảnh Sát Quốc Gia khi đó, ra lệnh cả 18 cô biên tập viên mới ra trường đều phải về khối đặc biệt.” Cô nhớ lại.
Sau khóa huấn luyện đặc biệt, “Biệt Ðội Thiên Nga” được thành lập vào tháng 8, 1968, từ một số người trong số 18 cô gái nói trên.
Và, Nguyễn Thanh Thủy chính là một trong những “thiên nga” đầu tiên.
Năm 1969, sĩ quan cảnh sát Nguyễn Thanh Thủy bắt đầu giữ chức vụ đội trưởng đội nữ tình báo cho đến ngày bị bắt vào tháng 5, 1975.
Biệt đội trưởng Biệt Ðội Thiên Nga năm xưa chậm rãi nhận xét: “Tên tôi, số phận tôi gắn liền với Biệt Ðội Thiên Nga nên tôi mới lãnh 13 năm tù và không ít lần tưởng mình khó thoát được lưỡi tử thần trong thời gian đó. Nhưng nếu chọn lại, tôi vẫn chọn làm tình báo bởi cho dù có những lúc khó khăn, cô độc, nhưng đây là nghề luôn luôn mới, công việc ngày hôm nay không hề giống nhau ngày hôm qua.”

‘Không nói thật, không bạn bè, không chia sẻ’


Nghe đội trưởng “Biệt Ðội Thiên Nga” kể lại những năm tháng hoạt động của mình, những cách thức tìm hiểu, móc nối, tiếp xúc, đối đầu, xây dựng, tổ chức cả một mạng lưới tình báo “thiên nga” ở khắp mọi nơi, tôi khẽ hỏi: “Làm công việc này, cô có thấy mình đã phải có một sự đánh đổi lớn không?”

Sau vài giây im lặng, cô nói: “Thì đánh đổi cho đến ngày ba tôi mất, năm 1986, lúc tôi còn ở tù, tôi cũng chưa nói rõ ràng với ba tôi là tôi làm cái gì.”
Dường như niềm u uẩn được gợi ra quá bất ngờ, sau một thoáng tư lự, người phụ nữ mà tên tuổi một thời là mối âu lo của kẻ thù, là sự ngưỡng mộ của nhiều người, chậm rãi kể về những tâm tư chưa từng giãi bày bằng giọng run run.
Không ai trong gia đình, kể cả chồng cô, biết Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thủy là một “thiên nga,” và hơn thế nữa, là người chỉ huy của những nữ tình báo trong biệt đội “Thiên Nga.”
Người cha, một thầy giáo dạy học, chỉ biết con mình là một thiếu tá cảnh sát.
Người chồng, một sĩ quan xuất thân Võ Bị Ðà Lạt, chỉ biết vợ mình làm ở khối đặc biệt nhưng không biết công việc cụ thể của vợ là gì.
Gia đình chồng chỉ biết, họ có con dâu là một sĩ quan cảnh sát, dạy học ở trường trung học cảnh sát Trung Thu.
Ngoài một số bạn học cùng khóa huấn luyện sĩ quan cảnh sát đặc biệt, và cùng ở chung đội “Thiên Nga,” không mấy ai biết Nguyễn Thanh Thủy là “tình báo,” bởi “nếu nói ra tôi sẽ mất bạn bè. Chỉ nghe nói cảnh sát họ đã sợ rồi chứ đừng nói gì là cảnh sát đặc biệt.”
Chính vì tính chất đặc biệt của nghề, người phụ nữ này dường như không bao giờ thoát khỏi áp lực nặng nề của một con người luôn phải sống trong sự khép kín, không bao giờ được nói thật, và không bao giờ có thể tìm được sự chia sẻ, đồng cảm.
Bởi, rất đơn giản: tình báo là nghề không có quyền tâm sự về công việc của mình, không bộc lộ được tình cảm của mình.
Chia sẻ những “oan ức” này, cô Hà Thị Ðông Nga, trung úy Cảnh Sát, xướng ngôn viên truyền thanh truyền hình Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát, và cũng là một cựu “Thiên Nga,” kể rằng: “Ngoài những khó khăn nguy hiểm, người làm công việc tình báo còn phải hy sinh cả tình cảm gia đình và tình cảm cá nhân. Những thiên nga hầu hết đều ở tuổi mười mấy, hai mươi mấy, ai cũng có những tình cảm riêng. Có điều tình cảm riêng đó đôi khi gãy đổ rất oan ức. Nhẹ nhàng thì một buổi chiều mình hẹn người yêu thì công tác dồn tới, hoặc mình chưa ra khỏi được điểm mục tiêu, làm sao giữ được hẹn? Mà nghề tình báo đâu chỉ một ngày một bữa, đó là công việc bất kể giờ giấc. Có thể là 11, 12 giờ đêm có thể là 1, 2 giờ sáng. Lấy lý do gì biện minh cho hành động của mình đây?”
Trung Úy Ðông Nga, tức xướng ngôn viên Hồng Nga nhiều năm làm việc tại đài phát thanh VNCR, tâm sự rằng: “Cay đắng nhất, đôi khi tình cảm gãy đổ mà mình mang một tiếng oan rất nhục nhã. Ðôi khi công tác đòi hỏi mình đóng vai một người ăn chơi trong vũ trường. Mới buổi sáng mình gặp người yêu trong tư cách là một sinh viên ngoan hiền. Ðột nhiên buổi tối, người yêu nhìn thấy mình ăn mặc rất ‘sexy’ từ trong vũ trường bước ra. Tình huống đó trả lời sao đây? Họ sẽ cho mình là người lừa dối, hai mặt. Nhưng vì công tác, không nói được, mình chỉ biết ngậm ngùi chia tay.”
Trở lại với Biệt Ðội Trưởng Thanh Thủy, cô nói: “Tôi bị đau đầu. Công việc lúc nào cũng mới mẻ. An ninh xã hội cứ biến chuyển, nên cứ phải suy nghĩ hôm nay đặt chương trình này như thế nào, ngày mai giao công việc cho cho người khác ra làm sao.
Chồng tôi làm việc ở xa, mà tôi cũng không thể nói với chồng. Tôi lại phải lo nhà, lo con.
Có nhiều lúc chồng tôi từ Ðà Lạt về bất chợt, nhưng ngày giờ hẹn với tình báo viên từ trong mật khu ra đã có rồi nên đúng ngày giờ tôi phải đi thôi.
Có nhiều khi từ cơ quan về nhà, cả đêm tôi không ngủ được. Ngày mai tôi sẽ tiếp xúc với một cán bộ cao cấp của đối phương. Tôi không biết mình phải nói cái gì, hỏi cái gì, làm như thế nào để họ chịu nói chuyện và cộng tác với tôi, bởi nếu tôi không khéo léo, tôi sẽ mất một đầu mối… Những lo lắng đó, tôi không thể nói được với bất kỳ ai.”
Cũng như một lẽ thông thường, “nói ra những điều để đề nghị khen thưởng, thăng cấp cho cấp dưới dễ bao nhiêu thì khi nói đến chuyện tình cảm lại khó bấy nhiêu.”
Người đội trưởng đội tình báo còn rất trẻ khi đó chia sẻ tiếp:
“Vì công tác, có khi mình phải dùng người của mình tạo tình cảm với đối phương để lấy tin tức. Thế nhưng khi thấy họ bắt đầu có cảm tình với nhau rồi thì mình lại phải yêu cầu người của mình dừng lại, bởi nếu không, sợ cổ sa lầy thì lại nguy hiểm. Lúc đó, thấy rất tội nghiệp, mình là người hướng dẫn họ cách tạo tình cảm, yêu cầu họ phải làm vì công tác. Bây giờ mình lại ngăn cản, chia cắt họ. Thấy tội nghiệp nhưng mình cũng đâu thể nói ra điều đó được.”
“Những điều như vậy cứ khiến mình suy nghĩ. Những điều như vậy, mình biết nói với ai.” Người phụ nữ giàu tình cảm nhưng lại phải sử dụng lý trí để giải quyết những tình huống đó thoáng trầm ngâm.
Cũng vì tính chất đặc thù của nghề tình báo là như vậy, nên “Thiên Nga” Nguyễn Thanh Thủy, người phụ nữ duy nhất mang cấp bậc thiếu tá của khối cảnh sát đặc biệt, đã khuyên con trai mình “nên chọn nghề khác” sau khi nghe con nói ý định theo nghề của mẹ: “Con hãy chọn nghề gì mà có thể nói ra cho anh em vợ con nghe được thì sẽ dễ hơn, chứ tình báo là nghề nghiệp không rõ ràng, cái gì cũng phải giấu diếm, mệt lắm.”

Người đốt hồ sơ Thiên Nga


13 năm tù là thời gian Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thủy phải trả cho chức vụ “đội trưởng biệt đội Thiên Nga” của mình.

13 năm đó là thời gian đứa con trai đầu của cô bước chân vào trường học và tốt nghiệp lớp 12 mà hoàn toàn không có bóng dáng yêu thương, vỗ về dạy dỗ của người mẹ. Và đứa con trai cũng chỉ thực sự biết mẹ mình là một “tình báo cao cấp” khi báo chí trong nước đưa tin và lý lịch vào đại học của anh bị “bôi đen.”
13 năm đó cũng là thời gian hai đứa con nhỏ khuyết tật của cô thiếu hẳn hơi ấm người mẹ, phải lớn lên trong sự chăm sóc của ngoại, sau đó là của cha, khi ông trở về từ “trại cải tạo” sau hơn sáu năm bị giam mình.
Tôi im lặng lắng nghe, và quan sát người phụ nữ đang nói chuyện với mình.
Tôi hỏi: “Cuộc sống trong tù của cô có khác gì hơn so với những người khác không, khi mang tiếng là đội trưởng biệt đội Thiên Nga?”
“Khắc nghiệt hơn.” Giọng người phụ nữ miền Tây chậm rãi đáp: “Tôi bị giam một mình, cách ly hơn một năm để thẩm vấn từ tháng 10, 1975 đến tháng 12, 1976. Năm 1981, tôi lại bị biệt giam trong phòng tối ở cơ quan X4 hơn bốn tháng.”
Bảy mươi mấy lần Thiếu Tá Thủy bị hỏi cung chỉ vì phía Việt Cộng “không tìm ra được tài liệu hồ sơ Thiên Nga.”
Ðối phương cứ quanh đi quẩn lại điên tiết nhiều lần với câu hỏi: “Tại sao làm nghề này mà chỉ có nhân viên chính thức thôi mà không có mật báo viên. Không có tình báo viên thì thật là vô lý!”
Ðể có được điều “vô lý” mà Việt Cộng khó lòng truy tìm ra được tất cả những người phụ nữ đã tham gia vào biệt đội “Thiên Nga” là bởi “ngày 29 tháng 4, 1975, chính tay tôi đã đốt toàn bộ hồ sơ, cho nên chúng không còn cái gì để mà kiểm chứng.” Người đội trưởng tiết lộ.
Thiếu Tá Thủy tiếp tục câu chuyện năm xưa. Cô cho biết, trong cơn tranh tối tranh sáng, cô đã “không ngủ được cả tuần lễ để quyết định về đội của mình, làm như thế nào để bảo toàn được bí mật.”
Cách mà đội trưởng tình báo chọn là “hủy hồ sơ trước khi mấy cô này có thể bị bắt.”
Cô lý luận: “Tôi là người biết hết mọi người, tôi lại không nói bất kỳ chuyện gì với ai, thành ra khi tài liệu bị đốt hết, mấy cô muốn khai thế nào thì khai, không có tài liệu để đối chất, nên điều đó vừa đỡ cho các chị, vừa đỡ cho tôi. Bởi tôi muốn khai gì tôi khai, tôi muốn giấu nhẹm chuyện gì là tôi giấu. Họ không nắm được bí số, ám danh của tất cả những người đó, các cộng tác viên, tình báo viên cũng vì thế mà không biết đâu mà soi ra, đối chất lại với các cán bộ điều khiển của họ.”
Làm được điều đó, đội trường biệt đội ‘Thiên Nga” cảm thấy an lòng.

Trở về với đời thường


 

Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thủy, đội trưởng biệt đội Thiên Nga, bên những hình ảnh của ngày xưa: “Nhìn lại thấy đời sao lăn lóc quá!” (Hình: Ngọc Lan/Người Việt)

 Qua những khóa huấn luyện, những ngày tháng nghiên cứu hồ sơ, cùng những trải nghiệm của chính mình, người chỉ huy tình báo “Thiên Nga” chậm rãi nói về cuộc đời, về những thật giả của công việc một người làm tình báo mà vì những phức tạp của nghề nên khi có sự đảo chánh, hay bất cứ sự thay đổi nào, mình phải chấp nhận cảnh đi tù vì những âm mưu chính trị chung.
“Mình làm mình chịu. Tôi làm hết với lương tâm và trách nhiệm với công việc, và chấp nhận sự phán xét theo pháp luật của mỗi thời cuộc. Còn thì ngoài ra, tất cả đều là con người với nhau.”

Tôi nghe tiếp câu chuyện của người sĩ quan tình báo năm nào sau khi ở tù ra, trở về nhìn ba đứa con xơ xác trong ngày 29 Tết.


Tôi nghe tiếp câu chuyện của người đội trường biệt đội Thiên Nga năm nào quăng mình vào chốn nhân gian mà mưu sinh qua từng bữa mua vay buổi sáng trả lãi buổi chiều.


Tôi nghe tiếp câu chuyện của Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thủy cùng quán cóc cà phê trở thành tụ điểm của những người sĩ quan xưa, đến tìm sự giúp đỡ bổ túc thêm hồ sơ đi Mỹ.


Và, tôi nghe tiếp câu chuyện của người tị nạn H.O bươn chải trong những ngày đầu đặt chân lên xứ người.

Tư chất của một người tình báo sẵn sàng ẩn mình dưới nhiều vỏ bọc khác nhau đã giúp người đội trưởng Biệt Ðội Thiên Nga khả năng hòa nhập và chấp nhận cuộc sống, dù như thế nào.

Chiến tranh đã qua đi. Quá khứ dần khép lại. Nhưng câu chuyện về thân phận những người đã dự phần trong những biến động lịch sử, nhất là những người làm công tác tình báo, như Biệt Ðội Thiên Nga, vẫn có điều khiến lòng người day dứt.

“Nhìn lại thấy đời sao lăn lóc quá.” Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thủy kết luận bằng gương mặt mang nhiều tâm trạng.
Biệt đội trưởng Biệt Ðội Thiên Nga cười buồn: “Ông xã tôi nói sao tôi nặng nợ với thế gian này nhiều quá!”
Âu rằng, đó cũng là tâm trạng chung của những “thiên nga” ngày xưa. Lăn lóc là vậy, nặng nợ là vậy, nhưng họ mang đầy trong lòng niềm tự hào, như lời tâm sự của Ðông Nga, tức Hồng Nga: “Không có gì hối hận, vì đằng sau những vẻ chân yếu tay mềm, những dị nghị đắng cay, mình phải gồng gánh biết bao trách nhiệm nặng nề để đạt được mục tiêu lý tưởng của mình. Ðó là điều hãnh diện.”
 Ngọc Lan/Người Việt

Thơ là súng... là mũi tên viên đạn


Thơ tôi viết là mũi tên làn đạn
Nhắm bắn vào đảng cộng sản Việt Nam
Viết cho người dân cơ cực lầm than
Cho tất cả dân oan bị cướp đất
Lời mộc mạc đơn sơ nhưng chân thật
Của dân nghèo bị bóc lột tha phương
Với ăn xin cuộc sống ở lề đường
Cho Tổ Quốc trước tai ương mất nước
Thơ tôi khóc cùng chị em lỡ bước
Phải bán thân cho quan chức mua vui
Chẳng áo quần cho ngoại quốc sờ đùi
Họ chọn lựa như củ khoai con cá
Thơ tôi thét giữa ngục tù tường đá
Máu thịt người lạnh giá trước dùi cui
Vẫn hiên ngang người yêu nước mỉm cười
Coi cái chết là nơi ta phải đến
Thơ tôi xót cùng ngư dân trên biển
Những lần đi mà chẳng bến quay về
Tàu lạ nào giết ngư phủ đêm khuya
Đảo đất Việt cống triều cho Trung Quốc
Đồng cảm với thai nhi không tiếng khóc
Không ngày sinh ngày tử đọc chung lời
Sở công an khóc với những xác người 
Khổ đau lắm mẹ ơi đừng bán máu
Thơ là súng bạn cùng tôi tranh đấu
Nhắm bắn vào đầu não bọn Việt gian
Đòi tự do dân chủ cho Việt Nam
Phải đánh đổi tự do bằng máu thịt
Cù Huy Hà Bảo (Danlambao)

Chuyện Phụ Nữ Việt Nam: Ðáng Thương Xót và Cần Ðược Bảo Vệ

Hai câu chuyện phụ nữ Việt Nam khiến mọi người phải xúc động

Hai bản tin liên quan đến phụ nữ Việt Nam khiến mọi người phải xúc động. Tin ở Mỹ cho biết cô Diane Trần bị một quan tòa ở Texas kết án một ngày tù, sau khi cô đã bỏ học nhiều lần, một bản án khiến nhiều người phẫn nộ, không riêng gì người gốc Việt Nam.

 Nếu theo luật cưỡng bách giáo dục, một học sinh trung học 17 tuổi phạm lỗi nghỉ học thì phải truy tội cha mẹ. Không hiểu sao hệ thống pháp luật không dự trù và quan tòa không nghĩ tới điều đó? Cha mẹ cô đã ly dị và cả hai bỏ đi xa, nhưng tòa án có quyền truy nã họ, trước khi bắt tội cô gái nhỏ.

Dư luận cả nước Mỹ phải cảm thương hình ảnh Diane Trần lau nước mắt khi được nhà báo phỏng vấn. Họ đã đã bày tỏ lòng cảm phục đối với cô học sinh lớp 11 vốn đã được nhà trường công nhận thuộc hàng xuất sắc. Họ đã ký kiến nghị xin xóa bản án cho cô. Cô đã làm hai công việc để giúp anh em trong lúc thiếu cha mẹ. Cô nghĩ đến người khác trước khi nghĩ đến mình. Diane Trần là tấm gương cần mẫn, hy sinh, cho tất cả các bạn trẻ Việt Nam, ở trong nước hay ngoài nước học theo.

Bản tin thứ hai cũng khiến mọi người phải xúc động, kể chuyện về hai phụ nữ ở Cần Thơ đã cam chịu nhục nhã để phản đối cường quyền cướp đất. Bà Phạm Thị Lài và con gái là Hồ Nguyên Thủy, ngụ ở phường Hưng Thạnh Quận Cái Răng đã bị cướp đất trắng trợn, không có cách nào khác phải đến mảnh đất của mình ngăn cản việc công ty đầu tư đem máy móc đến san bằng đất. Hai người phụ nữ phải tự khỏa thân để cho thấy tình trạng cùng quẫn của họ, không có phương tiện nào chống cự với cường quyền.

Bà Phạm Thị Lài, 52 tuổi nói: “Chồng tôi sức yếu thế cô, uất ức quá nên đã một lần uống thuốc sâu tự tử để phản đối. Giờ mẹ con tôi biết làm gì ngoài việc lột đồ, chịu nhục để phản đối.” Khi chiếm đất này, công ty chủ đầu tư CIC 8 chỉ bồi thường cho gia đình bà 500,000 đồng một mét vuông. Hiện CIC 8 đang chào bán đất của bà Lài với giá hơn 5 triệu đồng một mét vuông. Bà cho biết: “Ðất này gia đình tôi bỏ tiền mua để cất nhà sinh sống mấy chục năm. (Công ty) CIC 8 tự đưa giá rồi ép chúng tôi nhận tiền mà không cho chúng tôi quyền được (thảo luận giá cả theo thủ tục) thỏa thuận mua bán. Chính quyền Quận Cái Răng dùng lực lượng công an cưỡng chế đất giao cho CIC 8.”

Ðảng Cộng Sản hiện đang nhiều phương pháp cướp của cải do người dân tạo ra. Các ngân hàng trả lãi suất rất thấp cho người ký thác, rồi cho các doanh nghiệp nhà nuớc vay mà không biết bao giờ trả được. Ðó là một cách cướp tiền của dân cho các cán bộ cộng sản hưởng. Các xí nghiệp quốc doanh chiếm độc quyền không cho tư doanh cạnh tranh trong nhiều lãnh vực, khiến cho người tiêu thụ phải mua với giá cao hơn trong một thị trường có cạnh tranh. Ðó cũng là một cách cướp tiền của dân nuôi các cán bộ bất tài. Ðó là những phương pháp ăn cướp ẩn hình không phải ai cũng nhìn ra. Nhưng cướp đất của dân, bồi hoàn với giá rẻ mạt, rồi bán lại cho các chủ đầu tư, để các ông chủ này khai thác với giá trị cao gấp hàng chục, hàng trăm lần, đó là phương pháp ăn cướp trắng trợn và dễ thấy nhất. Các nạn nhân bị cướp phải nhìn ra sự thật này mà chống lại.

Nỗi uất ức của những nông dân bị cướp đất đang bùng lên, biến thành hành động. Ông Ðoàn Văn Vươn chống bọn cướp đất, đã dùng đến chất nổ để phản đối. Nhân dân ở Văn Giang, Dương Nội đang tiếp tục biểu tình phản đối chính sách cướp đất trong hoàn cảnh tuyệt vọng. Ông chồng bà Lài không dám dùng vũ khí, đã tìm cách tự tử để bày tỏ thái độ. Hai mẹ con bà Lài không có cách nào khác là phản đối bằng cách tự mình chịu nhục.

Một phụ nữ bất đắc dĩ phải khỏa thân trước công chúng là một điều ai cũng thấy đáng hổ thẹn. Hai mẹ con bà Lài, cô Thủy đã nói họ “chịu nhục để phản đối.” Nhưng tất cả mọi người Việt Nam đọc bản tin này phải tự hỏi: Ai là những kẻ đáng bị sỉ nhục? Ký giả Ông Bút, trên mạng lưới “danlambaovn” đã trả lời: “Giá như bộ chính trị đảng Cộng Sản Việt Nam có một chút liêm sỉ, vâng, một chút thôi, thì sự nhục nhã này thuộc về đảng, không thuộc hai tấm thân lõa lồ này. Ðã đang tâm ăn cướp làm gì biết liêm sỉ?”

Nhưng liệu đám lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam còn chút liêm sỉ để biết chính họ đang nhục nhã trước hai phụ nữ phẫn uất gặp bước đường cùng hay không? Nguyễn Tấn Dũng khi lên làm thủ tướng đã lập ra cả một ủy ban chống tham nhũng, rồi lớn tiếng thề nguyền nếu không diệt được tham nhũng thì sẽ từ chức. Nhưng cũng chính Nguyễn Tấn Dũng tạo cơ hội cho những vụ tham nhũng lớn nhất trong lịch sử với các công ty Vinashin, rồi Vinalines.

Tự bản chất, chế độ cộng sản không biết hổ thẹn. Năm 1956, sau vụ Cải Cách Ruộng Ðất giết chết hàng trăm ngàn người oan khuất, Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp chỉ biết ngỏ lời xin lỗi. Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường đã nói thẳng trong một phiên họp công khai: “Xin lỗi không phải là một hành động có tính chất pháp lý. Giết người rồi không thể chỉ xin lỗi rồi xí xóa đi được.”

Nói những lời đanh thép đó, giống như Nguyễn Mạnh Tường đã chỉ thẳng vào mặt Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp và nhóm lãnh đạo cộng sản mà lên án. Giết hàng trăm ngàn người, đâu có thể xin lỗi rồi xí xóa? Nhưng tất cả bọn họ đã lờ đi như không hiểu. Họ không làm gì hết ngoài việc “sửa sai.” Nhà văn Lưu Quang Vũ sau này đã viết: “Có những cái sai không thể sửa được!” Một mạng người chết, bị giết trong oan khuất, làm sao sửa sai cho sống lại được? Nếu không đưa thủ phạm ra trước công lý thì còn đâu là luật pháp và tinh thần trách nhiệm?

Khi nói thẳng đến hành động “xin lỗi” của Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp, nhắc lại đến hai lần liên tiếp, “Xin lỗi không phải là một hành vi pháp lý. Giết người rồi không thể chỉ xin lỗi mà xí xóa;” hành động của Nguyễn Mạnh Tường giống như “nhổ nước bọt” vào mặt tất cả hàng ngũ lãnh đạo thời đó. Nếu những người này biết hổ thẹn thì họ đã gượng “rửa mặt” bằng cách theo ý kiến của luật sư, bảo Quốc Hội của họ mở một cuộc điều tra, đưa một số người chịu trách nhiệm ra tòa xét xử. Nhưng chính bọn lãnh đạo cộng sản thời 1956 đã không biết xấu hổ. Họ lờ đi như tai điếc; giả bộ ngớ ngẩn không hiểu ý. Ðám con cháu họ ngày nay làm sao biết đến hổ thẹn?

Báo chí “lề phải” trong nước bây giờ hay dùng chữ “Dân Oan.” Nói theo lối Nguyễn Mạnh Tường, “Dân Oan” cũng không phải là một danh từ pháp lý. Nếu một quốc gia có pháp luật thì chỉ nói đến những nạn nhân đi kiện và những thằng ăn cướp mà thôi! Dân Oan là một danh từ phân biệt dưới là Dân kêu oan còn trên là Quan bệ làm cha dân. Cứ viết Dân Oan, Dân Oan mãi chỉ chứng tỏ thời phong kiến đang sống lại, một cách các nhà báo kín đáo sỉ nhục cả chế độ. Phạm Thị Lài, Ðoàn Văn Vươn, đồng bào Văn Giang, đồng bào Vụ Bản trở thành Dân Oan vì họ không biết kiện cáo vào đâu cả! Luật pháp về đất đai thì do bọn bù nhìn nghị gật và cường hào bầy ra phục vụ quyền lợi của các đại gia. Dùi cui, doi điện nằm trong tay cường quyền. Tòa án cũng do bọn cường quyền sai bảo nốt. Những phụ nữ như Phạm Thị Lài và Hồ Nguyên Thủy biết làm cách nào để tỏ nỗi oan ức? Ngoài cách mà nhà báo mạng Ông Bút gọi là “tụt quần lòi mặt đảng!” Khi cơn giận nổi lên mà tự thấy mình bất lực, người ta còn một cách là “văng tục vào mặt chúng nó!” Các nhà báo biết giận nhưng không dám văng tục đành quay ra “văng tục vào mặt nhau!” Các tờ Sài Gòn Giải Phóng, Phụ Nữ cùng báo Ðời Sống và Pháp Luật ở Sài Gòn đang công kích lẫn nhau, ông này chỉ mặt ông kia gọi là “Báo Lá Cải.” Có báo nào thử suy nghĩ tại sao dân oan lắm thế hay không? Dân còn chịu oan khuất cho đến bao giờ?

Hai bà Phạm Thị Lài và Hồ Nguyên Thủy cho thấy phản ứng của con người trong lúc “cùng đường,” không có cách gì khác được. Hành động của họ là một cách xỉ mắng nặng nề hơn là văng tục hoặc nhổ nước bọt vào mặt băng đảng cướp đất. Bọn ăn cướp vẫn nín lặng làm thinh. Trước sau họ vẫn học theo lối Lâu Sư Ðức đời Ðường.

Lâu Sư Ðức làm tể tướng, giống như chức thủ tướng của ông Nguyễn Tấn Dũng bây giờ. Vào thời nhà Ðường bên Tàu không có những ngân hàng hay xí nghiệp quốc doanh để xếp đặt cho anh em con cháu vào làm chủ tịch. Cũng không có “Ðoàn Thanh Niên Tôn Quân” để đưa con em vào đóng vai lãnh đạo. Con đường làm giầu duy nhất thời đó là làm quan. Sư Ðức đã cử người em trai đi trấn thủ Ðại Châu. Khi tiễn em lên đường, Lâu Sư Ðức nhắc nhở: “Ta vốn không tài cán gì mà làm đến tể tướng. Chú lại sắp sửa đi làm đô đốc Ðại Châu. Nhà mình giầu sang quá, người ta sẽ ghét. Chú nghĩ phải làm thế nào?”

Người em đáp: “Ðể anh bớt lo lắng, từ nay trở đi nếu có ai nhổ nước bọt lên mặt, em cũng cứ lờ như không biết, tự mình chùi mặt lấy là xong.” Lâu Sư Ðức dạy em: “Chính vì thế mà ta lo đấy. Người ta nhổ nước bọt đầy mặt tức là họ thù oán mình. Nếu chú lại chùi mặt đi thì chỉ khiến người ta tức thêm. Nước bọt nhổ lên mặt thì dù mình không chùi tự nó cũng sẽ khô. Sao không cứ vui vẻ coi như không có gì cả?” Ông em cúi đầu nhận lỗi: “Xin nghe lời chỉ giáo của anh!”

Bao nhiêu đoàn nông dân lớp lớp biểu tình phản kháng bọn ăn cướp đất. Mỗi biểu ngữ, mỗi lời kêu than là một bãi nước bọt nhổ vào mặt đảng Cộng sản. Bao nhiêu bạn trẻ viết lên mạng đã phỉ nhổ, nguyền rủa bọn tham nhũng cướp ngày. Người dân đang nhổ nước bọt vào mặt tất cả hàng ngũ lãnh đạo đảng và nhà nước. Nhưng đám lãnh tụ này không hề có khái niệm nào về danh dự, về trách nhiệm. Họ không hề biết xấu hổ.

Cô Diane Trần mới 17 tuổi nhưng đã có ý thức về danh dự cho nên cô đã biết chia sẻ cả sự hổ thẹn của gia đình. Khi chuyện cô ra tòa lên báo, lên đài, cô ân hận đã làm xấu mặt cả cha và mẹ; chứng tỏ cô luôn kính yêu cha mẹ. Diane Trần là một phụ nữ Việt Nam đáng kính trọng. Bà Phạm Thị Lài và cô Hồ Nguyên Thủy là những phụ nữ Việt Nam đáng thương xót và cần được mọi người bảo vệ chống lại bạo lực cường quyền. Các bạn sinh viên, học sinh đọc tin tức về những người mẹ, người chị đó, thử nghĩ mình phải làm gì để được hãnh diện làm người Việt Nam.

 Ngô Nhân Dụng
-------

Nữ sinh Diane Trần được quan tòa Mỹ xóa án vì tội bỏ học

 

Diane Tran bật khóc khi nói về gia đình mình, trên đài CBS News. Hình: CBS News/Người Việt


Một nữ sinh Mỹ gốc Việt được cho là học giỏi nhưng vì hoàn cảnh gia đình cha mẹ chia tay phải đi làm thêm để giúp bản thân và anh em, đã bỏ học nên bị một quan tòa bỏ tù vì tội khinh miệt tòa. Vụ này gây “bức xúc” trong cộng đồng Việt ở Mỹ và đã có những vận động để giúp em khỏi bị hồ sơ xấu sau này. Nhưng cuối cùng quan tòa đã xóa án cho em Diane Trần.

Luật của tiểu bang Texas về việc vắng mặt ở trường học quy định học sinh không được nghỉ quá 6 ngày trong học kỳ 6 tháng hoặc 3 ngày trong một tháng nếu không có lý do chính đáng. Chính vì vậy mà vào ngày thứ tư vừa qua, cô Diane Trần, 16 tuổi, hiện đang học lớp 11 trường Willis, Texas đã bị thẩm phán Larry Moriarty phạt giam 1 ngày trong tù và đóng phạt 100 mỹ kim vì lại vi phạm luật này.

Theo báo CaliToday News, sau khi biết rõ hoàn cảnh của cô Diane, quan tòa Moriarty cho biết ông sẽ suy nghĩ thêm về trường hợp này và có khả năng sẽ thu hồi lại việc kỷ luật cô Diane để cô có thể xóa đi tiền án tù tội trong hồ sơ cá nhân.

Ông Moriarty cũng đã từng tuyên bố rằng nếu bỏ qua cho một học sinh phạm luật nghỉ nhiều thì đám học sinh còn lại sẽ đi theo đà này. Tuy nhiên, quan tòa cũng là người có trái tim và chắc lần này thì đã động lòng ít nhiều trước câu chuyện của cô Diane. Với ước mơ trở thành bác sĩ, cô bé này đang rất lo sợ cho việc ở tù dù chỉ là một đêm sẽ gây ảnh hưởng xấu cho tương lai của mình.


Sau đây là bản tin mới nhất của ký giả Hà Giang, trích từ Người Việt Online:

Thẩm Phán Lanny Moriarty hôm Thứ Tư quyết định xóa “tội khinh miệt” mà ông đã kết án em Diane Trần, 17 tuổi, học sinh gốc Việt, lớp 11, trường Willis High School.

Trả lời phỏng vấn của Người Việt, Luật Sư Brian Wice, đại diện cho em Diane Trần, cho biết ông vừa nhận bào chữa cho Diane sáng Thứ Tư, và “rất hài lòng là Thẩm Phán Moriarty đã xóa tội khinh miệt tòa mà ông đã kết án Diane hôm Thứ Tư tuần trước!”

“Ðiều này có nghĩa là và vụ án đáng tiếc xem như không bao giờ xảy ra, em Diane sẽ không có lý lịch hình sự, và khi nộp đơn xin vào đại học, em sẽ có một hồ sơ tốt như tất cả những học sinh ngoan khác cùng lứa tuổi.” Luật Sư Wice nhấn mạnh.

Diane từng bị ra tòa một lần vì tội vắng học quá nhiều. Thẩm Phán Moriarty ra lệnh cấm cô vắng mặt lần nữa, nhưng tới khi cô lại không tới lớp, tòa gọi cô lên và bắt bỏ tù cô ngay tại chỗ.

Tại tòa, Diane Trần, đã bị tòa án của quận Montgomery, tiểu bang Texas kết án tội khinh miệt tòa, bỏ tù 24 tiếng đồng hồ, và chịu phạt $100 vì tội bỏ học hơn 10 lần trong thời gian 6 tháng, quá ấn định của Texas.

Quan tòa Moriarty. Hình: CaliToday News

Trong khi đó, một tổ chức vô vị lợi ở tiểu bang Louisiana quyên góp được hơn $95,000 để giúp đỡ Diane Trần.

Nói chuyện với phóng viên nhật báo Người Việt, ông Paul Dietzel, sáng lập viên của Anedot, công ty cung ứng dịch vụ gây quỹ qua Internet, cho biết họ đã từng gây quỹ cho nhiều tổ chức, nhưng trong trường hợp của Diane thì kết quả thật “quá sức mong đợi.”

“Chỉ trong vài hôm, chúng tôi nhận được tiền từ 18 quốc gia và 49 tiểu bang, và mới chỉ hôm qua đến nay, số tiền nhận được đã nhảy từ $50,000 lên hơn $90,000.”

Ông Dietzel kể rằng sáng Thứ Sáu, tổ chức “Louisiana Children's Education Alliance,” trụ sở tại Baton Rouge, Louisiana liên lạc với công ty Anedot nhờ gây quỹ giúp Diane, và họ nhanh chóng thiết lập website cũng như tận dụng mọi trang mạng xã hội để gây quỹ.

Theo lời ông Dietzel thì Diane đã trở lại trường, vẫn vừa đi học vừa đi làm, đang ráo riết học thi “final,” và sẽ không trả lời phỏng vấn báo chí cho đến hết ngày Thứ Năm, sau khi em thi xong.
“Diane vừa tủi thân vừa rất xúc động khi biết em đang được nhiều người tận tình giúp đỡ.” Ông Dietzel nói.

Rồi giải thích thêm, hiện “Louisiana Children's Education Alliance” đang cùng một trong những người chủ của Diane tìm cách thiết lập quỹ “trust fund,” để chuyển tiền gây quỹ cho Diane ăn học.

Trước đó, trong thông cáo báo chí gửi đi ngày 29 Tháng Năm, tổ chức “Louisiana Children's Education Alliance” công bố là chiến dịch gây quỹ giúp Diane Trần, qua website www.HelpDianeTran.com và trang mạng www.Facebook.com/HelpDianeTran “rất thành công.”

Cũng qua thông cáo báo chí, ông Charlie Davis, chủ tịch “Louisiana Children's Education Alliance” nói sở dĩ đứng ra quyên tiền giúp em vì “rất đau lòng khi biết chuyện của Diane” và “cô bé không chỉ là nạn nhân của một hệ thống giáo dục công yếu kém, mà còn là nạn nhân của một hệ thống tư pháp đã dùng cô như một trường hợp ‘điển hình’ cho những người khác!”

Trên toàn quốc Hoa Kỳ, nhiều người lên án Thẩm Phán Moriarty là “cứng nhắc” và “khắc nghiệt.”
Tại tòa, Diane khai rằng em học điểm cao, còn lấy thêm 3 lớp AP (lớp trình độ cao, chuẩn bị cho đại học), nhưng vì cha mẹ bỏ nhau bất thình lình, mẹ dọn đi tiểu bang khác, em phải vừa đi học vừa đi làm hai việc, để nuôi chính bản thân và cưu mang một người anh và một người em, nên đôi khi đã phải bỏ học vì kiệt sức.

Diane làm việc toàn thời gian ở một tiệm giặt ủi, và làm thêm tại “Vineyard of Waverly Manor,” một ngôi nhà cho thuê làm đám cưới, vào cuối tuần. Cô ở nhà với gia đình người chủ Vineyard of Waverly Manor.

Một người bạn cùng học và cùng làm chung với Diane, Devin Hill, nói: “Cô ấy làm hết việc này đến việc khác, rồi đi học, làm bài, có khi thức tới 7 giờ sáng.”

Diane nói lý do cô vắng mặt là buổi sáng mệt quá không dậy được. Có khi cô bị vắng nguyên một lớp, có khi vô kịp nhưng sau khi thầy cô đã điểm danh xong.

Tin Diane bị bỏ tù trong hoàn cảnh đáng thương đã gây xôn xao dư luận khắp thế giới. Nhiều độc giả của nhật báo Người Việt gửi emails và gọi điện thoại vào tòa soạn ngỏ ý muốn giúp đỡ em.

Ông Trần Dật, một cư dân tại Los Angeles, cho biết sau khi biết tin về Diane Trần, ông cứ băn khoăn chỉ mong ước có một tổ chức nào của người Việt Nam đứng ra nhận giúp đỡ em để ông “được đóng góp.” Ông nói với Người Việt: “Cháu Diane thật can đảm và có lòng hy sinh đáng phục. Cộng đồng Việt Nam chúng ta phải làm sao không nhiều thì ít phải giúp được cho cháu.

Ngoài ra câu chuyện này cũng khiến các bậc cha mẹ phải nghĩ nhiều hơn đến con cái khi quyết định ly dị.”

Trả lời phỏng vấn báo chí ngay sau khi em Diane bị bỏ tù, bà Mary Elliot, chủ nhân của Vineyards of Waverly Manor, nơi Diane làm việc hai ngày cuối tuần, cho biết em là “học sinh toàn điểm A,” và là “một cô gái rất ngoan.”

“Lẽ ra Thẩm Phán Moriarty phải hiểu hoàn cảnh của Diane mà không bỏ tù em.” Bà nói.

Nói chuyện với phóng viên nhật báo Người Việt qua điện thoại, bà Sharon Hill, thuộc phòng giám thị trường Willis High School, chỉ nói vỏn vẹn: “Theo luật của liên bang, bà không thể tiết lộ tin tức gì về Diane Trần” và “muốn biết gì thêm thì hỏi tòa án.”

Trong khi đó, trang mạng của Willis Independent School District đăng một thông cáo báo chí nói về trường hợp học sinh nghỉ học quá nhiều với thông điệp: “Trong những trường hợp này, sự việc hoàn toàn nằm trong tay tòa án.”

Vài tiếng đồng hồ trước khi có quyết định xóa án, nói với Người Việt qua điện thoại, thư ký của Thẩm Phán Moriarty cho biết văn phòng thẩm phán sẽ có thông cáo báo chí sau.

Đan Mạch : Hủy bỏ các dự án tài trợ cho Việt Nam vì có gian lận


Đan Mạch hủy bỏ các khoản viện trợ để giúp Việt Nam ứng phó với hiện tượng biến đổi khí hậu, và nói rằng các ngân khoản này đã bị sử dụng sai trái.
Bộ trưởng Bộ Phát triển Đan Mạch Christian Friis Bach.  Hình: Wikimedia commons - Chlordk
Bộ trưởng Bộ Phát triển Đan Mạch Christian Friis Bach. Hình: Wikimedia commons - Chlordk
Bản tin của The Copenhagen Post hôm nay loan tin là Bộ trưởng Phát triển Đan Mạch, Christian Friis Bach, đã đưa ra quyết định đó sau khi tin tức tường trình về nhiều hành động gian lận.
Bộ trưởng Friis đã cắt nguồn tài trợ cho tất cả 3 dự án giúp Việt Nam, sau khi một cuộc điều tra độc lập của công ty Price Waterhouse Coopers phát hiện ra vô số “những điểm bất thường”.
Viết trên trang web của Bộ Phát triển Đan Mạch, Bộ trưởng Friis nói rằng: “Điều quan trọng là phải hành động chống những kẻ đã sử dụng sai mục đích các quỹ viện trợ của Đan Mạch để chứng tỏ rõ rệt về hệ quả của các hành động đó. Những kẻ đã có hành động gian lận phải bị ngăn chận và trừng phạt”.
Số tiền viện trợ đó có liên quan tới một cuộc nghiên cứu về hiện tượng biến đổi khí hậu do Danida, cơ quan viện trợ của Bộ Ngoại giao Đan Mạch cung cấp. Được biết ngân khoản tiền viện trợ bị sử dụng sai trái lên tới 3 triệu 300,000 kroner, đơn vị tiền tệ của Đan Mạch.
Bộ trưởng Friis đã yêu cầu chính phủ Việt Nam tiếp tay trong cuộc điều tra này.

Giặc Tầu: kẻ thù truyền kiếp của dân tộc đã chiếm cứ Cam Ranh!



“Họ tự làm chứ chúng tôi không cho phép”; “họ” đây là bọn giặc Tầu, còn cái câu nói vừa rồi, là của Trần Tính, “phó chủ tịch UBND phường Cam Linh, Cam Ranh.


Nếu nói rằng “chúng tôi không cho phép”, thì tại sao (họ) tức bọn Tầu lại dám làm? Như vậy, có phải thực trạng tại Việt Nam đã không còn ai có một chút quyền hành gì cả. Hỏi để rồi bất cứ ai cũng có câu trả lời rồi.


“Họ tự làm”. Thế nhưng, đã có rất nhiều những người nông dân sau khi đã “tự” đổ mồ hôi, rơi nước mắt thì mới có được một khu đất, đầm như gia đình của ông Đoàn Văn Vươn, để rồi chẳng những bị bạo quyền cướp đoạt hết, mà còn phải bị cầm tù một cách oan ức!


Đau đớn vô cùng! Bởi vì gia đình ông Đoàn Văn Vươn là người Việt Nam, cho nên khu đầm đất bồi do chính gia đình ông khổ công, nhọc nhằn khai vỡ, thì phải bị “cưỡng chế” còn cái “Vùng nuôi cá được xem là lớn nhất Việt Nam là của một trong những thằng giặc Tầu tên A Xìu. Đây là những lời trong một bài viết theo “tin Việt Nam” như sau:


“Tại thành phố Cam Ranh (Khánh Hoà), vùng nuôi cá mú được xem là lớn nhất Việt Nam, người Trung Quốc không chỉ thu mua mà còn sử dụng mặt nước vịnh để nuôi các loài hải sản có giá trị kinh tế cao như: cá mú...


Điều đáng nói là tình trạng người Trung Quốc “núp bóng” nuôi cá tại một vịnh có vị trí quan trọng này diễn ra.


Hầu như mọi ngư dân và người buôn bán nào ở gần cảng Cam Ranh đều biết các đìa cũng như lồng bè nuôi cá, tôm của người Trung Quốc. Ông Đạt, một chủ đìa tại đây nói đìa nuôi tôm hùm của A Xìu nằm cạnh cảng Cam Ranh, còn phía ngoài vịnh cách đó chừng 200m là lồng bè nuôi cá mú của những người Trung Quốc khác. Mỗi lồng bè nuôi cá, tôm hùm trị giá hàng tỉ đồng.


Từ xa có thể thấy khu trại nuôi cá của A Xìu gồm những khu nhà kiên cố, có cả hàng rào, cổng cao khác hẳn với những khu trại tạm bợ của người Việt bên cạnh.


Tuy nhiên, khi đến gần thì khu trại này đóng cửa.

Lên một chiếc tàu, chúng tôi rời cảng tiếp tục đến bè nuôi của người Trung Quốc phía ngoài vịnh…”


Đó là những sự thật đã quá rõ ràng, không làm sao chối cãi. Một thằng Tầu A Xìu, thì được “tự làm”, còn một người Việt nam như ông Đoàn Văn Vươn, thì không., vì chỉ có bọn giặc Tầu mới có cái QUYỀN TỰ LÀM hết mọi thứ, còn người dân Việt, thì không, không bao giờ cả!


Và, những sự thật ấy, đã nói nói lên cho cái gọi là “Truyền thống hữu nghị Việt-Trung đời bền vững”; nhưng “hữu nghị Việt-Trung” đâu chẳng thấy, mà chỉ có giặc Tầu đã và đang làm chủ trên đất nước, chúng muốn làm gì thì cứ “tự làm” không cần phải hỏi đến chư hầu Việt Nam, vì chúng thừa biết chư hầu Việt Nam sẽ không dám đụng tới cái lông chân của chúng cả.


Đảng Cộng sản Việt Nam đã vì quyền lợi của bản thân, của gia đình và bè đảng, cho nên đã cam tâm đi làm chư hầu - nô lệ cho lũ giặc Tầu, và đã đem cả giang sơn gấm vóc, mà đã do tiền nhân của chúng ta đã dày công dựng xây bằng cả núi xương, sông máu, để đánh đổi lấy sự vinh hoa phú quý cho riêng mình!


Còn gì để nói, để rồi nghe chua xót, đắng cay cho những nỗi đau thương của những đồng bào là nạn nhân vô tội như một gia đình Đoàn Văn Vươn! Phải chi gia đình này không phải là họ Đoàn, tên Vươn; mà là họ A tên Xìu, thì đâu có cái cảnh phải bị “cưỡng chế” hết cả khu đầm và nhà cửa, lại còn phải chịu ngồi trong khám lạnh kể từ Tết Nhâm Thìn, 2012, cho đến hôm nay!


Xin mọi người, hãy nhìn thẳng vào mặt của những Tầu đã và đang có quyền “TỰ LÀM” hết mọi thứ ngay trên Quê Hương, đất nước Việt Nam, để rồi phải tự hiểu rằng, phải làm gì để tự cứu lấy giang sơn và nòi giống Việt.


Đồng bào ơi! Xin hãy cùng nhau “tự đốt đuốc lên, tìm đường mà đi”. Xin hãy đồng tâm, nhất hướng và quyết liệt để: “Đứng lên tự cứu”!


Pháp quốc, 31/5/2012

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền


--------------------------------------------------------






Người Trung Quốc nuôi cá trên vịnh Cam Ranh-VNam

Làm gì để đối phó với thương lái Trung Quốc

Vũ Hoàng, phóng viên RFA
2012-05-29
Báo chí trong nước liên tục đăng tải những thông tin cho thấy người dân tại các tỉnh miền Tây thường bị thương lái Trung Quốc ép giá, quỵt nợ và bị mắc phải những chiêu trò mà họ giăng bẫy.
RFA photo
Cảng cá Kỳ Hà, Quảng Nam

Ép giá nông dân

Tình trạng thu mua hàng nông sản, thuỷ sản của các thương lái Trung Quốc qua con đường tiểu ngạch đang diễn ra phức tạp, đặc biệt là tại các tỉnh miền Tây Nam Bộ và khu vực ĐBSCL. Thế nhưng, các cơ quan chức năng vẫn đang loay hoay kiếm tìm một giải pháp thích hợp vừa để ngăn chặn thất thoát nguồn thu ngân sách Nhà nước, vừa để bảo vệ quyền lợi chính đáng của người nông dân.
Từ nửa cuối năm ngoái, hiện tượng thương lái Trung Quốc tranh mua nguyên liệu thuỷ sản, xuống tận địa phương đặt cọc mua hàng ở các cảng cá như tại Ninh Thuận, Cà Mau, Bạc Liêu diễn ra trên diện rộng, khiến nhiều nhà máy chế biến thuỷ sản trong nước lâm vào cảnh thiếu nguyên liệu trầm trọng, nhiều hợp đồng xuất khẩu đã ký kết phải huỷ bỏ, thị trường xáo trộn. Sự việc chưa kịp lắng xuống, thì đến đầu năm nay, bà con nông dân ở Cần Thơ, Vĩnh Long lại dở khóc dở cười vì giá khoai lang tím lâu nay vẫn phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc thì nay lại bị chính những thương lái này ép giá khi được mùa, đẩy hàng loạt các hộ trồng khoai ở ĐBSCL lâm vào cảnh lỗ nặng.
Ngoài ra, là những mặt hàng khác như ớt tươi, dưa hấu, sầu riêng, khoai mì… cũng lâm vào cảnh tương tự bị thương lái Trung Quốc thao túng, “đột ngột ngừng mua” hoặc “cháo đã múc” mà không thấy “tiền trao” khiến đời sống người dân vốn đã bấp bênh càng thêm điêu đứng.
Nguyên nhân chính được ghi nhận là do đầu ra hàng nông sản của nhiều hộ dân các tỉnh miền Tây Nam Bộ và vùng ĐBSCL phụ thuộc quá nhiều vào các thương lái thu mua của Trung Quốc. Ngón nghề mà những nhà thầu Trung Quốc thường áp dụng là ban đầu, họ tỏ ra dễ dãi, trả cao hơn giá thị trường từ 5 đến 10%, đặt cọc sòng phẳng, trả tiền đàng hoàng, để lấy lòng tin người nông dân. Sau một thời gian, họ khất nợ, trả chậm và rồi khi số nợ lên con số tiền tỉ, họ tự động biến dạng. Hoặc nếu không, thì họ cũng bày ra nhiều trò như ép giá, chê bai chất lượng, thay đổi tiêu chuẩn nhập hàng…
Lỗ lã, thiệt hại vật chất người nông dân gánh chịu, không biết kêu ai, chưa kể bao nhiêu vốn liếng đã dồn vào cho vụ mùa tiếp theo giờ cũng bị chôn chân vào số nông sản ế ẩm. Tiền thì mất, mà khoai tím đến vụ thu hoạch vẫn bạt ngàn nằm phơi ngoài ruộng.
Điểm chốt lại, là do phía nông dân Việt Nam vẫn buôn bán tiểu ngạch, mọi giao dịch chỉ là trên miệng, không có hợp đồng ràng buộc và nhất là chưa được chính quyền địa phương đứng ra bảo vệ khi quyền lợi hợp pháp bị xâm phạm.
Trình bày về tình cảnh khoai lang tím tại huyện Bình Tân, Vĩnh Long, một trong những huyện đang bị ảnh hượng nặng nhất từ đợt rớt giá khoai tím thời điểm này, anh Tua, chủ nhiệm HTX Khoai Lang Thành Đông cho chúng tôi biết:
“Trung Quốc vẫn còn mua nhưng bây giờ người ta ép giá mình được thì người ta ép. Giá bên Trung Quốc về đến bao nhiêu mình không biết, nhưng giá bên đây thực tế khoảng 4,000 – 4,500/ ký. Một số lái bây giờ người ta nói là giá cả do bên Trung Quốc, chợ đầu mối bên Quảng Đông, người ta báo giá cho mình, rồi bên đây thương lái mua, rồi chi phí vận chuyển sẽ tính vào giá thành luôn.”

Lệ thuộc quá nhiều vào TQ

30166886_khoai-lang-tim-0207-250.jpgTheo ghi nhận thì một công khoai, người dân chỉ thu về được khoảng 10 đến 13 triệu đồng, trong khi tiền đầu tư một công (xấp xỉ 1,000 mét vuông) lên đến gần 20 triệu. Tính sơ sơ, mỗi công, người dân lỗ từ 7 đến 10 triệu đồng, chưa kể mặt hàng này lại khó tiêu thụ nội địa, chỉ bán được qua Trung Quốc.
Anh Tua kể rằng, năm trước khi khoai lang tím được giá nhờ bán sang Trung Quốc, đời sống bà con nông dân cũng khá hơn. Bây giờ, sự thể ra nông nỗi này, những hộ làm ăn lâu năm có kinh nghiệm, có tiền vốn thì còn trụ lại được, chỉ khổ những hộ thuê đất hoặc mới đầu tư trồng trọt là điêu đứng:
“Những hộ đã trồng lâu năm, họ không xuất giá, buôn bán với Trung Quốc từ trước tới giờ mình biết rồi, thương lái thì cứ điệp khúc “được mùa mất giá” từ trước tới giờ có rồi, nên phía mình với các xã viên không lo ngại. Chỉ lo ngại là một số người mới mở diện tích mới hoặc những người đi thuê đất ở nơi khác để trồng, thì chỉ sợ điều đó thôi.”
Điều mà anh Tua cũng như những hợp tác xã viên đang trông đợi chính là một cơ chế, giúp người nông dân thực hiện các hợp đồng mua bán bằng văn bản, vì từ trước tới nay, người dân buôn bán hàng hoá với phía thương lái Trung Quốc chỉ bằng miệng, nên khi có chuyện gì xảy ra, người dân sẽ là đối tượng chịu thiệt thòi và họ cũng không biết bấu víu vào đâu:
“Nếu mình thông qua hợp đồng thì đỡ rủi ro hơn. Vì cách thức làm ăn của mình từ trước tới giờ thông qua miệng với nhau làm ăn cho dễ. Nếu mình thông qua hợp đồng với Trung Quốc thì lúc đó sẽ yên tâm hơn. Nếu mình ký hợp đồng, thì bên mình phải cung cấp đủ số lượng, chất lượng. Bên kia cam kết với mình giá cả mua bán ra sao. Thông qua hợp đồng, nông dân có tiếng nói hơn có thể bàn với bên thương lái là giá cả thế nào hơn.”
Vẫn biết chuyện mua bán là sòng phẳng, thuận mua vừa bán, nhưng thực tế giao dịch giữa thương lái Trung Quốc và nông dân Việt Nam lại ở hoàn cảnh khác. Vì trông mong có đầu ra tiêu thụ sản phẩm, nên nhiều khi bản thân chính cơ quan quản lý địa phương cũng phải có những bước mềm mỏng, cốt sao bán được hàng mà vẫn hợp pháp. Trao đổi với chúng tôi, ông Nguyễn Văn Theo, trưởng phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long cho biết:
“Nếu mình làm quá, nó không thu mua thì kẹt cho nông dân, khó tìm đâu ra. Nên nói chung, mình cũng chỉ kiểm soát về mặt lưu trú của họ thôi. Mình cũng có nhược điểm là thương lái trong nước mình không có, nên mình đâu có dám ra kiểm sát chặt chẽ về cái này, nếu chặt chẽ thì nó kẹt cho nông dân.”

Cần chính quyền hỗ trợ

000_SAHK990409515180-200.jpg
Theo lời ông Theo, thì khó khăn lớn nhất mà phía Việt Nam gặp phải là không có thông tin gì về phía đối tác Trung Quốc, các giao dịch diễn ra rất đơn giản và không có nhiều điều kiện ràng buộc. Thường thì thương lái Trung Quốc nhờ một số đầu mối Việt Nam đặt hàng, rồi hẹn ngày giao hàng. Thương lái Trung Quốc nắm thông tin Việt Nam rất rõ, trong khi phía Việt Nam thì lại hoàn toàn mù mờ, có lẽ chính tại điều này mà thương lái của họ hoàn toàn khống chế giá cả đầu ra cho nông sản của Việt Nam:
“Trong quá trình, mình để người thương lái Trung Quốc đi sâu vào, nắm được tất cả những chi phí đầu vào, giá thành trong một ký khoai lang. Ở bên kia mình không nắm được họ bán ra bên nhiêu bao một ký. Nên họ sẽ quyết định giá cho người nông dân mình lời ở mức độ nào đó thôi, thế nên họ quyết định vấn đề giá.”
Câu hỏi đặt ra là liệu ngoài hình thức sẽ ký kết các hợp đồng mua bán trong tương lai bằng văn bản, liệu cơ quan quản lý địa phương có thêm biện pháp gì giúp đỡ người dân hay không. Ông Theo cho biết tiếp:
“Về phía huyện, UBND tỉnh đang xây dựng một thương hiệu cho khoai lang. Khi chúng ta có thương hiệu thì mới đi chính ngạch được, chứ bây giờ mình chưa có thương hiệu nên cũng khó.”
Ngoài xây dựng một thương hiệu cho cây khoai lang, hiện tại sở Công Thương cũng đang hợp tác với Trung tâm Xúc tiến thương mại thành lập một công ty thu mua nông sản khoai lang cho người nông dân và có thể đến cuối năm sẽ hoàn tất mọi thủ tục. Còn ngay trước mắt, phía chính quyền cũng chỉ có thể tạo điều kiện như giúp đỡ người dân về mặt kỹ thuật trồng trọt và đơn giản là nếu người dân có chuyên chở quá tải hàng hoá thì chính quyền cũng không phạt vạ gì cả, ông Theo nói thêm.
Mặc dù vẫn biết những rủi ro tiềm tàng khi làm ăn với phía Trung Quốc qua nhiều bài học nhãn tiền trong quá khứ, nhưng vì lợi nhuận trong ngắn hạn mà bà con nông dân lại phải đánh đổi nhiều thua thiệt trong dài hạn. Tuy rằng, Việt Nam cũng đã có Ban chỉ đạo 127 TW về chống buôn lậu hàng giả và gian lận cấp Trung ương hay Quyết định 80 của Chính phủ về tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng nhưng xem ra, mọi văn bản chỉ là trên giấy tờ, còn thực tế khó khăn của người dân lại là câu chuyện hoàn toàn khác.

Việt quốc và Việt cộng

Nhận định tổng quát:
36 NĂM VIỆT CỘNG XÂY DỰNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, VÌ SỰ NGHIỆP CỦA CỘNG SẢN QUỐC TẾ:THÀNH QUẢ VÀ TRIỂN VỌNG ?



         Trong bài viết mới đây, chúng tôi đã nhận định tổng quát “36 năm Việt quốc chống cộng vì tự do dân chủ cho đất nước: Thành quả và triển vọng”. Bài viết này chúng tôi sẽ đưa ra nhận định tổng quát “36 năm Việt cộng xây dựng xã hội chủ nghĩa vì sự nghiệp của cộng sản quốc tế: Thành quả và triển vọng”.
        Mục đích loạt bài viết này của chúng tôi là muốn cho thấy hai con đường dẫn đến hai mục tiêu tối hậu của Việt quốcViệt cộng hoàn toàn khác nhau, nếu không muốn nói là trái chiều, đối nghịch nhau. Vì trái chiều đối nghịch nên mới đưa đến một cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc-Cộng kéo dài nhiều thập niên qua tại Việt Nam vẫn chưa phân thắng bại. Bởi vì các mục tiêu tối hậu của cả hai bên đến nay vẫn chưa bên nào thành đạt. Vì sao và cuối cùng Việt quốc và Việt cộng ai sẽ thắng ai?
     Nội dung bài nhận định này, chúng tôi lần lượt trình bầy:
-       Bối cảnh du nhập và phát triển chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam.
-       36 năm Việt cộng đã xây dựng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam như thế nào, hiệu quả ra sao?
-       Thành quả và triển vọng tương lai.
-       Kết luận.

I/- BỐI CẢNH DU NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN Ý THỨC HỆ CỘNG SẢN TẠI VIỆT NAM.
II/- 36 NĂM VIỆT CỘNG XÂY DỰNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA NHƯ THẾ NÀO, HIỆU QUẢ RA SAO?
1.- Từ lý luận Marxism về xã hội xã hội chủ nghĩa (socialism society).
2.- Đến thực tế Việt cộng xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam
     36 năm qua như thế nào?
* Thực hiện “Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động”.

*Tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng như thế nào, hiệu quả ra sao?
     - Một là cách mạng quan hệ sản xuất.
- Hai là Cách mạng khoa học kỹ thuật.
-        Mục tiêu là gì?
         Là thực hiện các chủ trương, chính sách phát triển khoa học, kỹ thuật để theo kịp “Tầm cao thời đại”, để có được nhiều phát minh khoa học kỹ thuật tiên tiến vận dụng vào mục tiêu phục vụ cho mọi nhu cầu cuộc sống con người, phát triển toàn diện xã hội và đất nước; Nhất là thành quả của cách mạng khoa học kỹ thuật sẽ phục vụ cho cuộc “cách mạng quan hệ sản xuất”để không ngừng cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng xuất lao động, để chứng tỏ “Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ưu việt hơn, nên có năng xuất lao động cao hơn “Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa”.
        Nhiệm vụ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã được Lê Duẩn Tổng bí thư của Cộng đảng Việt Nam trình bầy trong kỳ họp thứ nhất của quốc hội chung của cả nước (Tháng 6-1976):
   “ Biến nền sản xuất nhỏ dựa phần lớn trên lao động thủ công, phân tán,phân công lao động chưa phát triển,năng xuất, hiệu quả và chất lượng thấp thành một nền sản xuất cơ khí hóa, tự động hóa,điện khí hóa, hóa học hóa, một nền sản xuất tập trung hóa, chuyên môn hóa,liên hiệp hóa và hợp tác hóa cao, tổ chức lại lao động theo qui mô lớn, áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến, phát huy và xử dụng hợp lý lao động và tài nguyên của đất nước…”.
        Như vậy rõ ràng là cách mạng khoa học kỹ thuật đã có một nhiệm vụ vô cùng to lớn. Đó là làm thay đổi tận gốc toàn bộ lực lượng sản xuất của xã hội, xây dựng cơ sở vật chất,kỹ thuật ban đầu của chủ nghĩa xã hội.Chính vì vậy mà cuộc “Cách Mang Khoa Học Kỹ Thuật” mới được Cộng đảng Việt Nam coi là “Then chốt” trong định thức “Đi lên chủ nghĩa xã hội không thông qua giai đọan phát triển tư bản chủ nghĩa”.Thế nhưng thực tế cuộc cách mạng này đã tiến hành ra sao, hiệu quả thế nào?
- Tiến hành ra sao?
   Mặc dầu “Cách mạng khoa học kỹ thuật” được coi là “Then chốt” song chỉ nặng về lý luận tuyên truyền có tính nguyên tắc,trên thực tế không được “Đảng” “Nhà nước chuyên chính vô sản” Việt cộng đầu tư tương xứng và thực hiện mạnh mẽ, qui mô, các chủ trương, chính sách và các biện pháp tiến hành không được tuyên truyền rộng rãi như cuộc “cách mạng quan hệ sản xuất”.
    Trên thực tế, về mặt tổ chức, Việt cộng cũng có thiết lập các viện nghiên cứu khoa học kỹ thuật các ngành (Viện Toán học, các Viện Khoa tự nhiên, khoa học xã hội…),định kỳ mở các cuộc hội thảo chuyên đề về khoa học kỹ thuật, cũng tỏ ra quan tâm phát hiện, bồi dưỡng,đào tạo các nhân tài có những phát kiến khoa học kỹ thuật trên mọi lãnh vực của đời sống xã hội…Thế nhưng….
- Hiệu quả thế nào?
     Trong suốt 20 năm đầu của thời kỳ quá độ “Đi lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”(1975-1995) thực hiện chính sách “Cải tạo và xây dựng cơ sở vật chất-kỹ thuật ban đầu của chủ nghĩa xã hội” (1975-1985) và chính sách “Đổi mới” (1985-1995) để sửa sai tiếp tục đưa đất nước “Đi lên chủ nghĩa xã hội”, người ta không thấy được thành quả đáng kể nào của cuộc “cách mạng khoa học kỹ thuật” giúp ích cho “Cách mạng quan hệ sản xuất” nói riêng, cho sự cải thiện,thăng tiến đời sống con người, xã hội và đất nước nói chung. Sự thất bại của “Cách mạng quan hệ sản xuất” và sự suy thoái tụt hậu toàn diện con người, xã hội và đất nướcViệt Nam đã cho thấy cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật cũng đã thất bại hoàn toàn.
      Thất bại vì nhiều lý do, trong đó có yếu tố đối nội là khung cảnh chế độ chính trị  xã hội độc tài toàn trị, bị bao vây cô lập với thế giới văn minh, với nền giáo dục khép kín, nhồi nhét ý thức hệ cộng sản,một chiều, trái tự nhiên, phản khoa học, nên đã không phát huy được óc sáng tạo, sản sinh được các nhà khoa học với nhiều phát minh đột phá. Vì khép kín, nên với thế giới bên ngoài, do chính sách “Đóng cửa” và bị cô lập với thế giới các nước tư bản phát triển, có nhiều phát kiến khoa học kỹ thuật tân tiến và chỉ “mở cửa” với thế giới các nước “xã hội chủ nghĩa nghĩa” hầu hết chậm tiến, đóng khung, nên đã  “tụt hậu” về mặt khoa học kỹ thuật và đã không theo kịp “tầm cao thời đại của khoa học kỹ thuật tân tiến” là hệ quả tất nhiên.
      Tuy nhiên, công bằng mà nói, trong thời khoảng này, qua bộ máy tuyên truyền khoa trương của “Đảng và Nhà ” Việt cộng, người dân trong nước được biết một số sự kiện sau đây không biết có phải là thành quả của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật trong định thức đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt cộng hay không?
    - Trên lãnh vực nghiên cứu không gian, Việt Nam đã được Liên Xô huấn luyện và đào tạo được một phi hành gia là phi công Nguyễn Tuân cho đi chung với các phi hành gia Liên Xô vào vũ trụ. Chuyến đi thành công. Thế nhưng Phi hành gia Nguyễn Tuân đi vào vũ trụ được có thể không phải là thành quả của “Cách mạng khoa học kỹ thuật” của Việt cộng mà là công huấn luyện đào tạo của Liên Xô, và thành tích cá nhân về khoa học trong chuyến đi vào không gian của phi hành gia Nguyễn Tuân ít ai được biết (dường như chỉ để nghiên cứu bèo hoa dâucủa sinh thái Việt Nam trong môi trường không gian ? nếu chúng tôi nhớ không lầm). Vì vậy thành quả này chỉ có giá trị nặng về tuyên tuyền truyền chính trị hơn là giá trị thành quả khoa học kỹ thuật nên đã được Viêt cộng khoa trương, học tập.
    - Trên lãnh vực toán học, hàng năm Việt Nam đều gửi học sinh giỏi toán đi thi toán quốc tế và đã có nhiều học sinh giật giải, đã được bộ máy tuyên truyền độc quyền nhà nước thổi phồng như môt thành tích của “Cách mạng khoa học kỹ thuật”?
    - Trên lãnh vực y khoa, một số bác sĩ có sáng kiến và đã thành trong phương pháp mỗ tim, ghép thận, gan và chỉnh hình, điển hình có Bác sĩ Tôn Thất Tùng với các trường hợp mổ tim thành công trong thời khoản này được đề cao.
    - Trên lãnh vực sản xuất công, nông nghiệp: Một số những phát kiến kỹ thuật  được tuyên truyền là đã giải quyết được những “sự cố kỹ thuật” hay “cải tiến được kỹ thuật”, nâng cao năng xuất trong các nhà máy, công, nông trường, được nhà nước phong danh hiệu “Anh hùng lao động”, cấp bằng sáng chế để góp thêm thành quả cho cuộc “Cách mạng khoa học kỹ thuật”? Thế nhưng thực tế đã có câu trả lời: năng xuất lao động không tăng, chất lượng sản phẩm kém, phương pháp canh tác nông nghiệp vẫn lạc hậu, vẫn con trâu đi trước, người cầy đi sau…(có khác đôi chút là nhiều nơi “Người” đã đươc “Trâu” kéo cầy thay người…và người nông dân đi vào con đường làm ăn tập thể, đã “làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm”mà năng xuất vẫn không tăng, cuộc sống vẫn khó khăn thiếu thốn),vẫn không cơ giới hóa được sản xuất nông nghiệp, không đưa được nền sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN,vẫn khôngáp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến, phát huy và xử dụng hợp lý lao động và tài nguyên của đất nước…”như Tổng Bí thư Lê Duẩn của Cộng Đảng Việt Nam đã “báo cáo” có tính chỉ đạo trong kỳ họp thư nhất của quốc hội chung của cả nước như đã trích đoạn ở trên (1976).
        Tất cả những thành tích điển hình qua các lãnh vực trên liệu có thể coi là thành quả của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật  hay chỉ là do tài năng, nỗ lực nghiên cứu, sáng tạo cá nhân được guồng máy tuyên truyền Việt cộng thổi phồng, đánh bóng ?
        Thực tế phải đợi cho đến sau 16 năm thực hiện chính sách “Mở cửa” (1996-2012) những thành quả khoa học kỹ thuật của thế giới văn minh, chủ yếu là từ các nước tư bản (mà Việt cộng tuyên truyền là đang rẫy chết) chứ không phải từ Liên Xô và các nước XHCN anh em (mà thực tế đã chết gần hết) mới du nhập vào Việt Nam (chứ không phải do cuộc “Cách mạng khoa học kỹ thuật” của Việt cộng đem lại) đã làm thay đổi nhanh chóng mọi mặt đời sống, kinh tế, xã hội Việt Nam….như mọi người đã biết qua phim ảnh, báo chí hay thực tế có dịp về lại Việt Nam. Một thực tế “Phồn vinh” bên ngoài đã khiến một số “Việt kiều” sau khi từ Việt nam trở về đã thay đổi lập trường, ca ngợi thán phục như là kết quả của tài “kinh bang tế thế” của Việt cộng trong khung cảnh chế độ độc tài toàn trị kiểu Việt cộng, qua con đường kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

-       Ba là cách mạng tư tưởng và văn hóa.
-       Mục tiêu là gì?
     Là thực hiện triệt để, mạnh mẽ những chủ trương, chính sách tuyên truyền, giáo dục, học tập nhằm “cải tạo tư tưởng và văn hóa” để chuyển hóa những con người Việt Nam trong xã hội cũ ( với lý luận là mang tính chất người áp bức bóc lột người,cá nhân chủ nghĩa, ích kỷ, độc ác, bất công…),và xây dựng những con người mới sinh ra trong chế độ mới, để tạo ra những con người mới xã hội chủ nghĩa (không mang tính người áp bức bóc lột người, có phẩm chất và đạo đức xã hội chủ nghĩa (?), có tinh thần “mình vì mọi người” và “ mọi người vì mỗi người”, mọi người sống chung trong tình hữu ái…).
      Việt cộng lý luận rằng “Muốn có xã hội chủ nghĩa, phải có những con người mới xã hội chủ nghĩa” với phẩm chất đại để là như thế…
    - Tiến hành thế nào?
Để thành đạt mục tiêu của “Cách mạng tư tưởng và văn hóa” theo thời gian năm tháng sau ngày 30-4-1975, trong những vùng “mới giải phóng” ở Miền Nam , Việt cộng đã:
-        Mở nhiều chiến dịch quét sạch cái gọi là “tàn dư nọc độc của nền văn hóa đồi trụy Mỹ -Ngụy”. Các nơi, trong những ngày tháng năm đầu mới “Giải phóng”, Việt cộng chỉ đạo cho những đoàn thanh thiếu niên “Cờ Đỏ” (Tiền thân của đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh) đến từng nhà tịch thu “Những sách báo phản động, đồi trụy, sản phẩm của chủ nghĩa thực dân mới” , chẳng cần biết sách đó là sách gì, nội dung ra sao. Nói là tịch thu đem thiêu hủy, song thực tế phần nhiều được cân ký bán ve chai làm bao bì đóng gói trên thi trường bát nháo lúc bấy giờ.
-        Thay thế “nền giáo dục Ngụy”: bằng nền “Giáo dục xã hội chủ nghĩa” ngay từ niên học đầu tiên sau “Giải phóng”(1975-1976), với chương trình giảng dậy và sách giáo khoa từng được giảng dậy ở Miền Bắc XHCN, có cải sửa đôi chút cho phù hợp với “Tình hình và nhiệm vụ mới” ở Miền Nam. Ban giám hiệu và các giáo viên cốt cán gốc Miền Bắc hay đi tập kết được điều vào làm công tác giáo dục bên cạnh số đông là các giáo viên (Trung học), giáo sư (Đại học) tại chỗ gốc “Dân ngụy” ở Miền Nam được học tập, bồi dưỡng qua các khóa học tập chính trị dài ngày thường tổ chức vào các kỳ nghỉ hè.
-        Mọi tầng lớp nhân dân ở mọi độ tuổi, vị trí, ngành nghề làm việc trong môi trường xã hội,các đoàn thể, các tổ dân phố… đều được tuyên truyền học tập về chủ nghĩa xã hội, về tư tưởng, đạo đức và nếp sống văn hóa mới trong nỗ lực hình thành một xã hội tốt đẹp: Xã hội xã hội chủ nghĩa!?!
-        Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, báo chí, phim ảnh “Cách mạng” được Việt cộng phổ biến rộng rãi. Bút ký “15 năm ấy” (1975-1990) của Bs Nguyễn Khắc Viện, một “Việt kiều yêu nước” đã về giúp Việt cộng sau ngày 30-4-1975,sau này đã “Phản tỉnh” muộn màng. Bút ký này phát hành nhân kỷ niệm 15 năm “Giải phóng Miền Nam” đã viết:
         “Đời sống văn hóa-tư tưởng ở các vùng mới giải phóng tất nhiên cũng trải qua những biến đổi căn bản…Những chương trình biểu diễn sân khấu và chiếu bóng hoàn toàn đổi khác: Những vở kịch sân khấu và những bộ phim cách mạng thay thế cho tất cả những gì đã tồn tại trước đó. Phải nhận rằng, trong thời gian đầu, công chúng ở các vùng giải phóng háo hức với những tác phẩm cách mạng và xã hội chủ nghĩa, qua đó họ tiếp cận với những thay đổi  xã hội và chính trị một cách dễ dàng hơn. đặc biệt trong giới trẻ.Nhưng rõ ràng những tác phẩm văn hóa-tư tưởng của chế độ mới dần dần không đáp ứng được công chúng cả về hình thức lẫn nội dung. Người ta đòi hỏi những tác phẩm phải giải đáp trúng những vấn đề phức tạp của cuộc sống đất nước và trên thế giới…”
-       Hiệu quả ra sao?
         Chẳng cần nói nhiều, nhìn vào thực tế thì ai cũng biết cuộc “cách mạng tư tưởng và văn hóa” cũng không có hiệu quả, đã thất bại. Vì sau hai thập niên tiến hành và cho đến nay vẫn không thành đạt được cái gọi là nền văn hóa mới với những “Con người mới xã hội chủ nghĩa” có phẩm chất đạo đức và nếp sống văn hóa mới theo lý luận của Việt cộng.
         Vì sau 20 năm thực hiện triệt để cách mạng tư tưởng và văn hóa của thời kỳ quá độ, đã không sản sinh được những con người mới xã hội, chuyển hóa từ lớp người cũ cũng như xây dựng từ những con người sinh ra trong lòng chế độ Việt cộng, thông qua tuyên truyền, giáo dục, đào tạo.
       Ngay cả những con người tự nhận là thành phần tiên tiến nhất của giai cấp vô sản (những đảng viên cộng sản), quy tụ thành “đội tiên phong của giai cấp vô sản(tức Cộng đảng Việt Nam) đóng vai trò lãnh đạo “cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa” để xây dựng “xã hội xã hội chủ nghĩa” trong đó có công việc xây dựng, đào tạo ra những “Con người mới xã hội chủ nghĩa”, thực tế hầu hết những con người tiên tiến nhất, giác ngộ nhất về chủ nghĩa xã hội này, là những cán bộ, đảng viên cộng sản, (ngay cả những hậu duệ là những đoàn viên thanh thiếu niên cộng sản), chính bản thân họ chưa phấn đấu đủ “Phẩm chất con người xã hội chủ nghĩa thì đã “biến chất” và bị xã hội thực tiễn lưu manh hóa ở mức độ “tiên tiến” hơn hẳn những người dân bình thường cùng bị chế độ lưu manh hóa.
       Thực tế là, ngày càng sản sinh nhiều, thật nhiều những con người không có căn bản đạo đức,tư tưởng và nếp sống văn hóa tốt đẹp. Bởi vì nền tảng là đạo đức,tín ngưỡng, tôn giáo văn hóa cũ tốt đẹp đã bị cách mạng tư tưởng và văn hóa Việt cộng phá hủy, lại không được thay thế bằng một nền tảng đạo đức, nếp sống văn hóa nào tốt đẹp hơn.
       Sự thể này đã tạo ra một thực trạng nghịch lý là, sau nhiều năm tiến hành“Cách mạng tư tưởng và văn hóa”,Việt cộng đã không những không “cải tạo” được những “con người cũ ở xã hội tư bản” Miền Nam, thành những “con người mới XHCN”. Trái lại,nhưng con người cũ này và con cháu do họ giáo dục trên căn bản đạo đức và nếp sống văn hóa cũ tốt đẹp, vẫn tồn tại trong xã hội, đã là kim chỉ nam định hướng phục hồi tư tưởng đạo đức và văn hóa truyền thống dân tộc tốt đẹp, làm nền tảng bảo tồn trong hiện tại và thăng tiến xã hội Việt Nam trong tương lai hậu cộng sản.
       Thực tế chính Việt cộng dường như cũng đã thấy được điều này,tuy không giám công khai thừa nhận, nhưng đã có những biểu hiện điển hình qua những khẩu hiệu được dán trong các lớp học, có tính đề cao nền đạo đức cổ truyền (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, Tiên học lễ, hậu học văn, ơn cha, nghĩa mẹ công thầy…)  thay vì những khẩu hiệu tuyên truyền chính trị ( về chủ nghĩa cộng sản, về “ 5 Điều Bác Hồ dậy”, công ơn “Bác và Đảng”, về tinh thần quốc tế vô sản với “Tình yêu giai cấp” bên cạnh “Lòng căm thù giai cấp” …)như nhiều năm trước đây.  
        Thế nhưng dù có nhìn thấy vấn đề, Việt cộng  vẫn không dám công khai nhìn nhận sự thất bại của cuộc “Cách mạng tư tưởng và văn hóa” đã gây hậu quả nghiêm trọng, toàn diện cho dân tộc và đất nước, di hại lâu dài về mặt đạo đức cá nhân con người và nếp sống văn hóa trong xã hội.  Do đó, chắc chắn sự cải sửa để phục hồi và thăng tiến đời sống con người trong xã hội Việt nam cũng đòi hỏi nhiều thời gian, công sức của nhiều thế hệ tương lai và phải là tương lai hậu cộng sản. Vì quá khứ sau nhiều thập niên Việt cộng thống trị đất nước, đã phá nát, phá đổ toàn diện đất nước, trong đó có diện tư tưởng và đạo đức chân chính của con người Việt Nam vốn có từ ngàn xưa. Và do đó, không thể cải sửa, phục hồi và thăng tiến con người và xã hội Việt Nam, ngày nào Việt cộng còn độc chiếm quyền thống trị nhân dân và đất nước.
         Vì làm mất nền tảng tư tưởng và đạo đức chân chính bao đời của dân tộc Việt, lại thất bại hoàn toàn trong việc thay thế cái gọi là  “tư tưởng và đạo đức, văn hóa xã hội chủ nghĩa”, nên sau 36 năm thống trị, Việt cộng đã tạo ra những con người Việt Nam mất căn bản đạo đức cá nhân, lai căng trong nếp sống đa văn hóa, tốt xấu hổ lốn, du nhập thiếu chọn lọc, hết từ  Nga, Tầu và các nước xã hội chủ nghĩa (1954-1975 trên nửa nước Miền Bắc,và từ 1975-1995 trên cả nước)  đến du nhập thêm từ các nước tư bản chủ nghĩa từ 1996 với chính sách “Mở cửa” cho đến nay.
        Nếu ai từng về thăm, sống một thời gian tại Việt Nam, hay chỉ cần xem các phim ảnh Việt Nam sau “Mở cửa” sẽ thấy rõ con người và xã hội Việt Nam ngày nay chịu ảnh hưởng nặng nề của văn hóa đa chủng hổ lốn như thế nào, được thể hiện qua lời ăn tiếng nói, cách ăn mặc, quan niệm sống, lối sống, khung cảnh sống.Qua đó, ai cũng có thể nhận ra ảnh hưởng mạnh mẽ và rõ nét nhất hiện nay đối với con người và xã hội Việt Nam có lẽ là nền văn hóa Mỹ và các nước tư bản Phương Tây. Một cách cụ thể và đơn giản, chỉ cần nhìn vào các kiến trúc và trang trí nội thất của nhiều căn nhà tại Việt Nam, nhất là tại các thành phố lớn trên ba miền, người ta thấy không khác gì lối kiến trúc và trang trí tại Mỹ. Về cách ăn mặc kiểu Mỹ, ngôn từ quen thuộc “ dé,dé, dé…” (yeah! Yeah!Yeah) bẩy tỏ vui mừng kiểu Mỹ, hay O.K được nhiều người tại Việt Nam, nhất là giới trẻ dùng thay cho từ ngữ Việt Nam “Được chứ?” để kết thúc một câu hỏi.…
        Hệ quả tốt thì ít thấy, nhưng một trong những hậu quả xấu có thể thấy được trong xã hội Việt nam ngày càng sản sinh nhiều số lượng những con người bị chế độ lưu manh hóa, Thực tế, Việt cộng đã tạo ra những con người  phẩm chất  bị lưu mamh hóalối sống hai mặt: bộ mặt người và bộ mặt máy  (bộ mặt người lộ ra khi sống thực trong chốn riêng tư với chính mình, quá lắm mở rộng với gia đình, vợ con, những người thân tín…Và bộ mặt máy sống giả tạo với người khác, trong quan hệ giao tế ngoài xã hội, tất cả nói , lập luận giống nhau như người máy, sao cho phù hợp với chủ trương, chính sách của đảng, luật pháp nhà nước…). Hệ quả là một lối sống phổ biến trong con người và xã hội Việt Nam ngày nay: sống vô đạo đức, lừa lọc nhau kiếm tiền để sống hay làm giầu bằng mọi cách, mọi giá dù bất nhân tàn ác, tùy theo vị thế xã hội, là quan quyền (cán bộ đảng viên CS…) hay dân giả, thuộc mọi giai tầng xã hội và ngành nghề kiếm sống, để có thủ đoạn tranh danh, đoạt lợi một cách phù hợp, hiệu quả…Đây chính là một nguồn gốc căn bản làm băng hoại toàn diện con người và xã hội Việt Nam và là một trong nhiều nguyên nhân gia tăng tội ác cả về số lượng lẫn tính chất tàn bạo của tội phạm hiện nay tại Việt Nam.

    Nói tóm lại: sau 36 năm xây dựng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam trong cái gọi là “Thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội không thông qua thời kỳ phát triển tư bản chủ nghĩa”, mặc dù Việt cộng luôn “Nắm vững được chuyên chính vô sản” những đã thất bại hoàn toàn cả ba cuộc cách mạng (Cách mạng quan hệ sản xuất, Cách mạng khoa học kỹ thuật, Cách mạng tư tưởng và văn hóa).
        - về “chuyên chính vô sản”, thực tế Việt cộng chỉ nắm vững được  trong 20 năm đầu (1975-1995) thực hiện triệt để chủ trương, chính sách “cải tạo và xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật ban đầu của xã hội chủ nghĩa”, và chủ trương chính sáchĐổi mới”,để cứu nguy chế độ; bước vào thời kỳ “Mở cửa” (từ sau 1995 đến nay), “chuyên chính vô sản” bị suy yếu dần, sức đề kháng của nhân dân được phục hồi, ngày càng có nhiều người dân đã dám có lời nói, hành động cá nhân cũng như tập thể,  chống lại chế độ, mạnh bạo đấu tranh đòi các quyền tự do dân chủ, dân sinh và nhân quyền qua các cao trào dân oan khiếu kiện và các cuộc xuống đường đòi quyền lợi kinh tế, chống bất công xã hội và chống giặc Tầu xâm lược, bất chấp sự đàn áp, bỏ tù của nhà cầm quyền Việt cộng như mọi người đều biết.
      - Về “Cách mạng quan hệ sản xuất” Việt cộng đã thất bại vì sau 20 năm tiến hành (1975-1995) các chủ trương, chính sách và biện pháp nhằm phá đổ quan hệ sản xuất cũ mà họ gọi là “quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa(Có tính áp bức, bóc lột) đã hình thành sau hơn 20 năm chiến tranh ở Miền Nam (1954-1975), nhưng đã không thiết lập được quan hệ sản xuất mới mà họ gọi là “quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa”.(không có tính áp bức, bóc tột) .Quan hệ sản xuất hiên nay là “Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa” hình thành sau 16 năm “Mở cửa” dù Việt cộng vẫn khẳng định tiếp tục đi lên xã hội chủ nghĩa bằng ngụy biện “Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.
      - Về “Cách mạng khoa học kỹ thuật” Việt cộng đã thất bại vì các mục tiêu của cuộc cách mạng được coi là “Then chốt” này cũng không đạt được. Nghĩa là sau 20 năm thực hiện, không có phát minh khoa học kỹ thuật nào đáng kể của cuộc “cách mạng khoa học kỹ thuật” giúp ích cho “Cách mạng quan hệ sản xuất” nói riêng (về cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng xuất lao động…), cho sự cải thiện,thăng tiến phục vụ đời sống con người, xã hội và đất nước nói chung. Sự “phồn vinh” bề ngoài về kinh tế và sự thay đổi nhanh chóng mọi mặt đời sống con người và xã hội Việt Nam ngày nay phải hiểu là kết quả sau 16 năm thực hiện chính sách “Mở cửa” (1996-2012) do đã vận dụng những thành quả khoa học kỹ thuật của thế giới văn minh, chủ yếu là từ các nước tư bản, chứ không phải từ Liên Xô và các nước XHCN anh em và càng không phải do cuộc “Cách mạng khoa học kỹ thuật” của Việt cộng đem lại.
      - Về “Cách mạng tư tưởng và văn hóa” Việt cộng cũng đã thất bại vì không những không tạo được những “con người mới và nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa” mà còn phá nát “nền tảng đạo đức và văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc”, để lại những hậu quả nghiêm trọng, toàn diện, lâu dài trên con người và xã hội Việt Nam. Sự cải sửa để phục hồi và thăng tiến đời sống con người  và xã hội Việt nam mai hậu, chắc chắn cũng đòi hỏi nhiều thời gian, công sức của nhiều thế hệ tương lai và phải là tương lai hậu cộng sản.
Thiện Ý

Bài Xem Nhiều