We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 21 May 2012

36 NĂM VC XÂY DỰNG XHCN: VÌ SỰ NGHIỆP CỦA CỘNG SẢN QUỐC TẾ:THÀNH QUẢ VÀ TRIỂN VỌNG ?


Nhận định tổng quát:
36 NĂM VIỆT CỘNG XÂY DỰNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, VÌ SỰ NGHIỆP CỦA CỘNG SẢN QUỐC TẾ:THÀNH QUẢ VÀ TRIỂN VỌNG ?


http://haylentieng.org/bua-liem-2-300x283.jpg         Trong bài viết mới đây, chúng tôi đã nhận định tổng quát “36 năm Việt quốc chống cộng vì tự do dân chủ cho đất nước: Thành quả và triển vọng”. Bài viết này chúng tôi sẽ đưa ra nhận định tổng quát “36 năm Việt cộng xây dựng xã hội chủ nghĩa vì sự nghiệp của cộng sản quốc tế: Thành quả và triển vọng”.
        Mục đích loạt bài viết này của chúng tôi là muốn cho thấy hai con đường dẫn đến hai mục tiêu tối hậu của Việt quốcViệt cộng hoàn toàn khác nhau, nếu không muốn nói là trái chiều, đối nghịch nhau. Vì trái chiều đối nghịch nên mới đưa đến một cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc-Cộng kéo dài nhiều thập niên qua tại Việt Nam vẫn chưa phân thắng bại. Bởi vì các mục tiêu tối hậu của cả hai bên đến nay vẫn chưa bên nào thành đạt. Vì sao và cuối cùng Việt quốc và Việt cộng ai sẽ thắng ai?
     Nội dung bài nhận định này, chúng tôi lần lượt trình bầy:
-       Bối cảnh du nhập và phát triển chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam.
-       36 năm Việt cộng đã xây dựng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam như thế nào, hiệu quả ra sao?
-       Thành quả và triển vọng tương lai.
-       Kết luận.

I/- BỐI CẢNH DU NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN Ý THỨC HỆ CỘNG SẢN TẠI VIỆT NAM.

II/- 36 NĂM VIỆT CỘNG XÂY DỰNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA NHƯ THẾ NÀO, HIỆU QUẢ RA SAO?

         Khoảng một năm sau ngày xâm chiếm được Miền Nam, một cuộc mít-tinh ăn mừng chiến thắng vào dịp Lễ Lao Động Quốc Tế 1-5-1976.Một lễ đài lộ thiên được dựng lên trước cổng Dinh Độc Lập Sài Gòn(sau đổi là Dinh Thống Nhất ), với đầy đủ các lãnh tụ hàng đầu của Cộng Đảng và nhà nước Việt Nam (Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Tôn Đức Thắng, Phạm Hùng…) và của cái gọi là Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam (MTDTGPMN) với Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (CPCMLTCHMNVN) vốn là công cụ quân sự và chính trị của Cộng đảng Việt Nam (Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Định, Huỳnh Tấn Phát…). Trong bài phát biểu tại cuộc mít-tinh này, Tổng Bí Thư Cộng Đảng Việt Nam lúc đó là Lê Duẩn đã mạnh miệng nói đại ý rằng: “đảng Cộng sản Việt Nam, người tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, nhất định sẽ xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam sau 15 đến 20 năm nữa”.
      Thế nhưng bây giờ đã hơn 36 năm qua kể từ ngày cưỡng chiếm được Miền Nam thống nhất đất nước, Lê Duẩn và hầu hết các lãnh tụ hàng đầu Cộng Đảng Việt Nam đã đi vào lòng đất, còn Việt cộng đã “xây dựng xã hội chủ nghĩa” như thế nào, hiệu quả ra sao?

1.- Từ lý luận Marxism về xã hội xã hội chủ nghĩa (socialism society).
            Karl Marx và F. Angel những triết gia người Đức đã hình thành nền triết học duy vật, trên đó Marx đã xây dựng chủ nghĩa cộng sản, nên còn gọi là chủ nghĩa Marxist (Marxism).
         Theo lý luận Marxism (duy vật lịch sử): Từ khi con người xuất hiện trên hành tinh này đã trải qua 4 hình thái xã hội có tính tổ chức từ thấp đến cao: Xã hội cộng sản nguyên thủy (Primitive communism society: không giai cấp, chưa có tư hữu, chưa có nhà nước), xã hội chiếm hữu nô lệ (The slave-owning Society) bắt đầu có giai cấp, có tư hữu,hình thành giai cấp thống trị), xã hội phong kiến (Feudalism Society)xã hội tư bản (Capitalism Society:có nhà nước tư sản ngày một hoàn chỉnh).
        Tính giai cấp, tính tư hữu và tính nhà nước đã phát triển ngày một cao độ trong hai hình thái xã hội sau cùng này, tạo ra mâu thuẫn đối kháng đã là tiền đề cho một cuộc cách mạng vô sản, thông qua đấu tranh giai cấp để tiêu diệt giai cấp, để  hình thành hình thái xã hội sau cùng của loài người không còn giai cấp: “xã hội cộng sản hiện đại hay tiên tiến”(Modern or dvanced communism Society), phát triển qua hai giai đoạn: “Xã hội xã hội chủ nghĩa”(Socialism Society:còn giai cấp, còn nhà nước, nhưng được cải tạo từng bước, dưới sự lãnh đạo duy nhất của một Cộng đảng, mệnh danh là đội tiên phong của giai cấp cống nhân hay vô sản, thông qua một nhà nước “chuyên chính vô sản”, quyền tư hữu hạn chế và tiêu vong dần, mọi người lao động theo năng lực, hưởng theo sức lao động bỏ ra…) tiến tới “Xã hội cộng sản chủ nghĩa”(Communism Society) viên mãn là “Thiên đường Cộng sản” trong một thế giới đại đồng(không biên giới quốc gia,không còn giai cấp, không còn bộ máy nhà nước, mọi quan hệ xã hội vận hành tự động, mọi người lao động tự giác, làm theo hết năng lực và được thỏa mãn mọi nhu cầu. Vì lúc đó tài hóa xã hội dư thừa có thể thỏa mãn được mọi nhu cầu vật chất cũng như tinh thần của mọi người, của toàn xã hội, mọi người đều sống ấm no, hạnh phúc trong tình hữu ái như thiên đường nơi trần thế: Thiên đường cộng sản!?!)
      Thế nhưng thực tế ra sao, đến nay thì mọi người đã biết: Liên Xô, nước đầu tiên, sau hơn 70 năm xây dựng xã hội chủ nghĩa đã sụp đổ (1917-1991), kéo theo sự sụp đổ toàn hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu để cùng chuyển thể qua xây dựng “xã hội tư bản chủ nghĩa”.(Capitalism society). Việt Nam là một trong bốn nước gọi là xã hội chủ nghĩa còn sót lại thì thực tế ra sao? Họ đã đang xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa như thế nào, hiệu quả ra sao?

2.- Đến thực tế Việt cộng xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam 36 năm qua như thế nào?
     Như mọi người đã biết, chỉ một năm sau ngày chiếm đoạt được Miền Nam (30-4-1975) bằng vũ lực, vi phạm trắng trợn Hiệp Định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình cho Việt Nam, Việt cộng đã giải tán các công cụ quân sự và chính trị một thời là MTDTGPMN và CPCMLTCHMNVN, thống nhất đất nước và đưa cả nước “Đi lên xã hội xã hội chủ nghĩa”. (The socialism society)
     Trên thực tế, theo nhận định của chúng tôi, Việt cộng đã tiến hành công cuộc xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa theo một tiến trình và cách thức thưc hiện giống y như Liên Xô kể từ khi Cộng đảng Liên Xô giành được chính quyền vào năm 1917.
     Theo đó, một cách tổng quát, Cộng đảng Việt Nam đã họp Đại Hội IV (1976) cũng đưa ra một “Thời kỳ quá độ đi lên xã hội chủ nghĩa” với chủ trương “ Đi lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”, thực hiện  bằng chính sách “Cải tạo và xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật ban đầu của chủ nghĩa xã hội ”. Chính sách này thực hiện qua hai kế hoạch ngũ niên (1975-1985) bị thất bại, Cộng Đảng Việt Nam đã họp Đại Hội VI (1986) đưa ra chủ trương “Đổi Mới” tương tự như Liên Xô đưa ra chủ trương và thực hiện chính sách “Kinh tế mới” sau khi bị thất bại. Qua hai kế hoạch ngũ niên (1985-1995) thực hiện chủ trương “đổi mới” bằng chính sách sửa đổi vá víu không hiệu quả, Cộng đảng Việt Nam đã họp Đại Hội VIII (1996) đưa ra chủ trương “đi lên chủ nghĩa xã hội thông qua kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, thực hiện bằng chính sách “Mở cửa” với bên ngoài.Chủ trương chính sách này được thực hiện qua ba kế hoạch ngũ niên (1996-2010) và sau Đại Hội XI (2011) Cộng đảng Việt Nam vẫn đưa ra nghị quyết tiếp tục thực hiện chủ trương, chính sách này.
     Sau đây chúng tội sẽ trình bầy chi tiết về nhận định tổng quát trên đây qua tiến trình và cách thức  Việt cộng thực hiện những chủ trương, chính sách trong “thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội”.

Thời kỳ quá độ “ Đi lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” (1975-1995):
        
         Liên Xô sau khi đảng Cộng sản Bolsevick Nga, dưới sự lãnh đạo của Vladimir Lenine làm Cách Mạng Tháng 10 năm 1917 thành công, lật đổ được chế độ Nga Hoàng,  đã thiết lập “Nền chuyên chính vô sản” cưỡng ép những tiểu quốc lân bang trong vùng thành Liên Bang Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Xô viết, gọi tắt là Liên Xô. Ngay sau đó, Lenine và Cộng đảng Bolsevick Nga đã dùng “Chuyên chính vô sản” quyết tâm đưa Liên Xô “Đi lên chủ nghĩa xã hội không thông qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”.
 (Đây là chủ trương của V. Lenine và Cộng đảng Liên Xô, khác với lý luận kinh điển của chủ nghĩa Marxism:rằng vào thời điểm chủ nghĩa tư bản phát triển đến tột cùng trên phạm vi toàn cầu, mâu thuẫn giữa giai cấp tư bản và giai cấp vô sản (tức công nhân) không còn điều hòa được nữa, trở thành “mâu thuẫn đối kháng” (một mất một còn)với toàn xã hội(với mọi giai cấp). Đây là “Tình thế cách mạng chín mùi”, cách mạng vô sản nổ ra nhất định thành công để sau đó “Đội tiên phong của giai cấp vô sản” tức các đảng Cộng sản ở mỗi nước sẽ lãnh đạo toàn dân tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa để xây dựng thành công “Xã hội xã hội chủ nghĩa”. Nghĩa là tiền đề cho sự xây dựng thành công “xã hội xã hội chủ nghĩa”là phải thông qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩ theo K. Mar, nên sau này mới có thuật ngữ chính trị Chủ nghĩa Marx-Lenine với ý nghĩa như là sự kết hợp luận lý về phương cách đi lên chủ nghĩa cộng sản tuy có khác, nhưng vẫn thống nhất về mục tiêu hiện thực lý  tưởng cộng sản chủ nghĩa).
       Sau khi cưỡng chiếm được Miền Nam, triệt tiêu chế độ Việt Nam Cộng Hòa (30-4-1975), Cộng đảng Việt Nam đã cho bầu quốc hội chung cho cả nước (25-4-1976), đổi danh xưng chế độ “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” thành “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.Đại Hội IV Cộng đảng Việt Nam (Tháng 12-1976) cho đổi tên “Đảng Lao Động Việt Nam” thành “Đảng Cộng sản Việt Nam” và ra nghị quyết đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc “Đi lên chủ nghĩa xã hội không thông qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” bắt chước giống như Liên Xô.( Dù tiền đề hai nước có khác: Liên Xô chủ nghĩa tư bản bước đầu phát triển đã hình thành được đội ngũ giai cấp công nhân – Việt Nam chủ nghĩa tư bản mới manh nha ở Miền Nam, cả nước công nghiệp còn ở thời kỳ lạc hậu,giai cấp công nhân chưa hình thành được đội ngũ và năng lực để đóng vai trò “Giai cấp vô sản lãnh đạo cách mạng”, nên cái gọi là “Đội tiên phong của giai cấp vô sản Việt Nam” Cộng đảng Việt Nam mới bao gồm phần đông nòng cốt là những trí thức tiểu tư sản như Trường Chinh Đặng Xuân Khu(gốc con địa chủ), Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp…Và cơ quan lý luận của Đảng mới đẻ ra luận điểm về “Giai cấp công nhân liên minh với giai cấp nông dân và nhân dân lao động nghèo”là nòng cốt của cách mạng Việt Nam…)
   Vậy trên thực tế Việt cộng đã thực hiện thế nào?
   
* Thực hiện chính sách“Cải tạo và xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật  của chủ nghĩa xã hội ” (1975-1985)
         Vận dụng lý luận của chủ nghĩa Marx-Lenine, để tiến hành công cuộc  “Đi lên chủ nghĩa xã hội ” tại Việt Nam, nghị quyết Đại Hội IV của Cộng đảng Việt Nam đã đưa “Đường lối chung của Cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước”(1) như một định thức chỉ đạo: “Nắm vững chuyên chính vô sản,phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: Cách mạng quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học kỹ thuật, cách mạng tư tương và văn hóa, trong đó cách mạng khoa học kỹ thuật  là then chốt…”(2).
    Việt cộng đã thực hiện định thức này ra sao? hiệu quả thế sao?
              
* Thực hiện “Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động”.
    -Lý luận.
      *Theo gương Liên Xô, Việt cộng lý luận rằng, muốn xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, điều tiên quyết là phải “nắm vững chuyên chính vô sản”(hay độc tài vô sản), để củng cố vai trò thống trị độc tôn, độc quyền của đảng Cộng sản Việt Nam, thông qua một chính quyền mệnh danh “Chính quyền chuyên chính hay độc tài vô sản”(Proletarian dictatorship). Nghĩa là một “Chính quyền độc tài của giai cấp vô sản hay giai cấp công nhân”(the dictatorship goverment of the proletariat) mà theo lý luận của chủ nghĩa Marx-Lênin là giai cấp nòng cốt thực hiện cuộc “Cách mạng xã hội chủ nghĩa” để xây dựng “Xã hội xã hội chủ nghĩa”, vì lợi ích của giai cấp công nhân (vô sản), dưới sự lãnh đạo của “đảng Cộng sản”, được coi là “Đội tiên phong của giai cấp công nhân”, qui tụ một thành phần ưu tú của giai cấp công nhân (vô sản) có đạo đức xã hội chủ nghĩa (?),tính vị tha, phục vụ nhân dân và xã hội quên mình, có năng lực lãnh đạo, ý thức giác ngộ giai cấp cao và tinh thần đấu tranh cách mạng vô sản triệt để…..(thực tế phần đông là ngụy giai cấp vô sản, hầu hết lãnh tụ hàng đầu Cộng đảng không xuất thân từ giai cấp công nhân, nhưng đã ngụy biện là đã “giác ngộ tính vô sản và đã đầu hàng về mặt giai cấp”để có tư cách lãnh đạo đảng của giai cấp công nhân, tức Cộng đảng!).
         Nhân danh và vì quyền lợi giai cấp vô sản,Việt cộng xử dụng “Chính quyền chuyên chính vô sản”làm công cụ trấn áp mọi sức phản kháng, chống đối của mọi tầng lợp nhân dân, bảo vệ vị thế độc tôn, độc quyền, đặc lợi của một tập đoàn thống trị là các cán bộ, đảng viên Cộng đảng Việt Nam.Ngụy biện rằng, trong “Thời kỳ quá độ đi lên xã hội chủ nghĩa” chỉ dân chủ với nhân dân (giai cấp công nhân liên minh với giai cấp nông dân và nhân dân lao động nghèo), cần “chuyên chính” với mọi kẻ thù của giai cấp vô sản (tư sản, trí, phú, địa, hào…và những người dân nào không tuân phục,chống lại đảng và nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa). Vì vậy, trong định thức mới ghi sau “Nắm vững chuyên chính vô sản” là phải “Phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động”. (Lưu ý về ý nghĩa từ ngữ: “Quyền làm chủ tập thể”của Việt cộng khác với “quyền sở hữu cá nhân” cũng như “dân chủ tập trung” của Việt cộng khác với “dân chủ tự do”của Việt quốc)
      Do đó, Cộng đảng Việt Nam cần “Nắm vững chuyên chính vô sản” như thế mới trấn áp được mọi phản kháng từ phía nhân dân. Đồng thời “Đảng và nhà nước ta” mới lãnh đạo, thúc ép, khuyến dụ, tuyên truyền,lừa mị được nhân dân thực hiện cùng lúc ba cuộc cách mạng để hoàn thành công cuộc xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.

- Tiến hành ra sao?
          Đ  “Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động”, sau khi chiếm được Miền Nam, thống nhất đất nước, Việt cộng đã thực hiện chính sách hai mặt: củng cố và phát triển bộ máy Đảng và bộ máy nhà nước ngày một vững mạnh,song song với tiến hành truy quét,trấn áp, tiêu diệt mọi sức đề kháng chống “Đảng và nhà nước” của mọi tầng lớp nhân dân.(Việt cộng gọi là truy quét phản động)
         Để củng cố và phát triển bộ máy đảng và nhà nước, như những công cụ và phương tiện thống trị, kềm kẹp, đàn áp nhân dân,Việt cộng đã học tập kinh nghiệm thống trị bằng bạo lực kềm kẹp, trấn áp nhân dân của Tầu cộng, lấy mô hình tổ chức đảng, chính quyền và kinh nghiệm cai trị 21 năm ở Miền Bắc (1954-1975) vận dụng vào Miền Nam mới “Giải phóng”(!) . Bộ máy đảng luôn tồn tại song hành với bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa phương, trong mọi cơ quan, ban ngành, đoàn thể; thực hiện triệt để định thức cai trị kềm kẹp “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”.
   Để truy quét, trấn áp, tiêu diệt mọi sức đề kháng chống “Đảng và nhà nước”, Việt cộng đã dùng nhà tù, súng đạn, hệ thống tòa án công lý một chiều, pháp trường, khủng bố , kết hợp với các thủ đoạn tuyên truyền lừa mị đối với mọi tầng lớp nhân dân, thực hiện khẩu hiệu “nghe thì sống, chống thì chết”.
         Thực tế là sau ngày 30-4-1975 :
-        Việt cộng đã bắt giữ tù đầy trong các trại tù khổ sai trá hình gọi là “Trại cải tạo”, hầu hết các sĩ quan quân lực và các viên chức lãnh đạo, chỉ huy các cấp, các ngành chính quyền, hành chánh Việt Nam Cộng Hòa  và các chính đảng quốc gia. Việt cộng làm việc này để cô lập, tiêu diệt một thành phần đông đảo những người ưu tú của Việt quốc mà họ cho là mầm mống có khả năng gây nguy hiểm cho chế độ.
-        Việt cộng đã  dùng hệ thống nhà tù được thiết lập thêm rất nhiều trên khắp nước để giam giữ những người đã có thái độ, lời nói hay hành động chống chế độ tự phát cá nhân hay tham gia những tổ chức chống cộng thật cũng như giả do công an Việt cộng dựng lên để gài bẫy. Và cả những tù nhân bị Việt cộng ghép vào “diện cải tạo công, thương nghiệp tư bản tư doanh” hay thuộc diện “Cải tạo nông nghiệp” phải vào tù chỉ vì có của cải giầu có (Tư sản mại bản, tư sản dân tộc, địa chủ, phú nông…..). Một số chức sắc hàng giáo phẩm thuộc các giáo hội  do hoạt động tôn giáo hay do vị thế cai quản các cơ sở tài sản lớn của giáo hội cũng đã phải vào tù, vì ý đồ Việt cộng muốn chiếm dụng, đã gài thế, gán ghép “tội phản động” để tịch thu như những tang vật.
-        Nhiều người chống chế độ bị coi là mất tích, không ai biết vì sao, kể cả thân nhân(tương tự như chế độ mật chỉ thời tiền cách mạng nhân quyền 1789 ở Pháp)  vì đã bị Việt cộng âm thầm bắt, giam giữ, rồi thủ tiêu bằng mọi cách không cần xét xử. Nhiều người khác bị xử bắn công khai nơi pháp trường, trong những vụ án “phản động” mà Việt cộng  muốn răn đe, khủng bố, nên đưa ra trước “Tòa án nhân dân” vốn là công cụ pháp lý trấn áp nhân dân, để có một bản án điển hình làm gương.
-        Để đề phòng bạo loạn từ phía quần chúng nhân dân, Việt cộng đã triệt để thực hiện chế độ hộ khẩu và công an trị để nắm từng người dân, dập tắt nội loạn từ trong trứng nước. Với chế độ hộ khẩu, Việt cộng kiểm soát được nơi ăn chốn ở, với thủ tục “Đăng ký tạm trú, tạm vắng” Việt cộng kiểm soát được mọi sự di chuyển, đi lại và hoạt động của người dân. Với hệ thống “Công an khu vực”, Việt cộng giữ vững được an ninh chính trị đến từng người dân ở từng địa phương, khu vực.
    - Hiệu quả thế nào?
          Nhìn chung, với việc thực hiện triệt để chính sách hai mặt trên, Việt cộng đã “Nắm vững chuyên chính vô sản” theo nghĩa là đã dùng bạo  lực qua các công cụ của nền chuyên chính vô sản là công an, quân đội và các lực lượng vũ trang đã trấn áp (chứ không tiêu diệt) được sức phản kháng của mọi tầng lớp nhân dân khá thành công.
      Thật vậy, trong 5 năm đầu sau khi chiếm được Miền Nam (1975-1980), Việt cộng đã thực hiện triệt để những chủ trương, chính sách và các biện pháp căn bản trên đây và đã có hiệu quả là ổn định được tình hình an ninh chính trị.Sau 5 năm kế tiếp (1980-1985), đã củng cố và phát triển bộ máy đảng và bộ máy nhà nước ngày một vững mạnh. Vì thực tế các hoạt động chống cộng của các cá nhân hay tổ chức ngày một lắng xuống .
       Trong thời khoảng này, các tổ chức và cá nhân chống cộng trong nước, nếu tồn tại được đều rút vào bí mật, không còn có những hoạt động chống cộng ồn ào, đầy khí thế như thời khoảng 5 năm đầu. Ngay cả những chính đảng quốc gia có truyền thống cách mạng đấu tranh chống ngoại xâm và chống cộng quyết liệt như Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt Cách Mạng Đảng, Nhân Xã Đảng… cũng phải thúc thủ, mai phục chờ thời cơ.
            Tựu chung  trong khoảng 20 năm của thời kỳ quá độ “ Đi lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa” (1975-1995):  Việt cộng đã thành công trong việc “truy quét phản động”, ổn định và giữ vững được tình hình an ninh chính trị, từng bước củng cố cơ cấu đảng và chính quyền các cấp, các ngành, làm công cụ tiến hành mạnh bạo các chủ trương, chính sách và biện pháp “Đi lên Xã hội xã hội chủ nghĩa” trên cả nước, dưới bảng hiệu chế độ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam”.
 (Xin xem tiếp: Việt cộng Tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng như thế nào, hiệu quả ra sao?”

Thiện Ý

0 comments:

Post a comment

Bài Xem Nhiều