We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Saturday, 30 June 2012

Thanh niên gốc Việt nhận Huy chương Kim khánh bội tinh Kim Cương của Nữ hoàng Anh

Thanh niên gốc Việt nhận Huy chương Kim khánh bội tinh Kim Cương của Nữ hoàng Anh

Thủ tướng Canada Stephen Harper, Paul Nguyễn, và Toàn quyền Canada David Johnston tại buổi lễ trao Huy chương Kim khánh bội tinh Kim Cương của Nữ hoàng Anh Elizabeth II năm 2012
 
Một thanh niên Việt Nam ở Canada dùng sức mạnh của internet để thay đổi sự kỳ thị và những thành kiến xưa nay đối với cộng đồng nơi anh sinh sống. Những cống hiến không mệt mỏi cho các hoạt động xã hội của chàng trai sinh năm 1980, Paul Nguyễn, đã mang về cho anh rất nhiều vinh dự và giải thưởng danh tiếng từ chính tay các nhà lãnh đạo cao cấp của Canada trao tặng, và gần đây nhất là Huy chương Kim khánh bội tinh Kim Cương của Nữ hoàng Elizabeth II năm 2012, vinh danh các công dân Canada có công đóng góp cho đất nước.

Lớn lên ở vùng Jane-Finch thuộc Toronto, Canada, một địa bàn khét tiếng có nhiều tội phạm với đa số cư dân nghèo khó ở đáy xã hội, năm 2004 đã Paul quyết định mở trang web Jane-Finch.com để xóa tan các định kiến không hay về khu vực anh cư trú. Paul biên tập nội dung trang web, làm ra các bản tin và phóng sự radio-video phản ánh những nét đẹp trong cộng đồng, đăng lên web, và hướng dẫn cho các cộng tác viên trẻ khác trong nhóm cùng làm. Chẳng bao lâu, kênh thông tin Jane-Finch.com cùng chủ nhân của nó trở thành câu chuyện thành công nổi tiếng khắp đất nước Canada, và câu chuyện này sẽ do chính nhà hoạt động xã hội trẻ Paul Nguyễn chia sẻ với chúng ta trên Tạp chí Thanh Niên của đài VOA hôm nay.

Paul Nguyễn: Xin chào các bạn. Tôi là Paul Nguyễn, sinh ra ở Toronto, Canada. Tôi sống trong vùng Jane-Finch. Ba mẹ tôi vượt biển tìm tự do tới Canada năm 1979. Tôi được sinh ra ở Canada vào năm 1980. Hiện tôi đang làm việc cho chính phủ. Trang web Jane-Finch do tôi thành lập là một dự án cá nhân, phi lợi nhuận. Tôi dành thời gian cho nó nhiều hơn cho công việc mưu sinh của tôi hằng ngày nữa vì tôi yêu thích việc làm xã hội này.

Trà Mi: Hiện trang web của Paul có bao nhiêu cộng sự viên tham gia?

Paul Nguyễn: Hiện chúng tôi có 6 cộng sự viên lâu năm. Nhiệm vụ chính của tôi là coi sóc bảo đảm cho nội dung trang web càng khách quan càng tốt vì tôi muốn đây là một kênh thông tin có uy tín.

Trà Mi:
Mình hiểu rằng đây là việc làm tự nguyện, nhưng các bạn có nguồn quỹ nào hỗ trợ để vận hành trang web không?

Paul Nguyễn: Trang web của tôi không nhận bất kỳ nguồn quỹ nào tài trợ. Có nhiều cơ hội có quỹ, nhưng chúng tôi nghĩ rằng nếu chúng tôi nhận tài trợ chúng tôi dễ bị ràng buộc, bị chi phối, hay bị điều khiển. Chúng tôi cố gắng vận hành một trang thông tin độc lập, khách quan. Đã 8 năm nay kể từ ngày ra mắt, trang web của tôi hoàn toàn vận hành dựa trên các nỗ lực tình nguyện. Các bạn trẻ tham gia vì họ thật sự quan tâm đến cộng đồng và muốn đóng gớp cho xã hội. Và chúng tôi có những thành viên cộng tác rất lâu dài. Đa số các cộng tác viên xuất thân từ những khán-thính-hay độc giả của trang web. Họ là những người trẻ, đa phần là học sinh hay sinh viên.

Trà Mi: Từ kinh nghiệm nào hay động lực nào mà bạn quyết định thành lập trang web này?

Paul Nguyễn: Động lực chính khiến tôi thành lập trang này năm 2004 là vì tôi sống trong vùng Jane-Finch, một cộng đồng nhỏ ở phía Bắc Toronto, nổi danh là một địa bàn phức tạp nhiều tai tiếng ở Canada. Có lẽ đây là một trong những vùng tồi tệ nhất của Canada, qua những gì thường thấy phản ánh trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Đây là khu vực đa văn hóa, đủ mọi sắc tộc, khét tiếng về các hoạt động tội phạm như tình trạng bạo lực băng đảng và súng ống. Cư dân ở đây như tôi tự nhiên trong đầu óc có ngay suy nghĩ là mọi người bên ngoài không nghĩ tốt về chúng tôi. Sinh ra, lớn lên ở đây và chứng kiến thực trạng này, tôi muốn thay đổi những hình ảnh đó. Và tôi đã tạo ra trang web Jane-Finch để cho mọi người thấy một hình ảnh khác của khu vực Jane-Finch, rằng vùng này không phải chỉ có những gì tồi tệ, tiêu cực mà thật ra có rất nhiều cái hay, cái đẹp ở đây.

Trà Mi: Vùng Jane-Finch mà bạn sinh ra và lớn lên có nhiều người Việt sinh sống ở đó không?

Paul Nguyễn: Một trong những lý do mà ba mẹ tôi dọn tới đây là vì khu vực này giá nhà rẻ và rất đông người Việt sinh sống. Đây là một vùng đất nghèo và có nhiều vấn đề xã hội.

Trà Mi: Bằng cách nào trang web của bạn trở nên thành công như thế?

Paul Nguyễn: Thành công của trang Jane-Finch.com có liên hệ rất nhiều tới đoạn nhạc video do tôi đạo diễn và sản xuất cách đây nhiều năm nhan đề ‘You Got Beef’ với phần trình bày của ca sĩ nhạc rap người Việt tên là Chuckie. Đoạn video nhạc rap này được nhiều người xem và biết đến trước khi xuất hiện các trang mạng xã hội như Youtube, Facebook, hay Twitter. Một đài tin tức ở Canada có bản tin về sự kiện này phát sóng trên toàn quốc. Và sau đó, trang web của tôi được nhiều người ghé thăm và càng lúc càng nhiều người biết đến.

Trà Mi: Làm thế nào mà trang web của bạn có thể giúp xóa đi các định kiến xưa nay về nơi mà bạn miêu tả là ‘một trong những vùng tồi tệ nhất của Canada’ này?

Paul Nguyễn: Trang Jane-Finch.com được lập ra để tạo điều kiện cho mọi người chia sẻ với nhau. Đa phần các thành kiến không hay về vùng đất này chủ yếu là qua các vụ bắn giết và nạn bạo động được các phương tiện truyền thông đăng tải. Nếu như bức tranh về vùng này qua các phương tiện truyền thông có màu đen tối thì trang web của tôi là nơi để cư dân ở đây nói về cuộc sống của mình, các sinh hoạt tích cực và các sự kiện của cộng đồng. Trang web này là một kênh thông tin cho mọi người biết đến một bộ mặt khác của Jane-Finch với những điều tốt đẹp. Qua các phương tiện truyền thông, người ta chỉ thấy những mặt xấu của Jane-Finch, nhưng qua trang web này, mọi người có thể biết rằng ở vùng này cũng có nhiều cái hay, cái đẹp, và nhiều nét tích cực.

Trà Mi: Chuyên phản ảnh những mặt tốt trong cộng đồng, làm thế nào trang thông tin này có thể giữ được tính cân bằng và không thiêng lệch?

Paul Nguyễn: Các tình nguyện viên của Jane-Finch.com cố gắng tập trung phản ánh những nét đẹp, điều hay của vùng Jane-Finch, nhưng chúng tôi không muốn trở thành một công cụ tuyên truyền vì như vậy chúng tôi sẽ đánh mất uy tín của mình. Cho nên, chúng tôi phản ánh mọi thứ diễn ra ở đây nhưng tập trung nhấn mạnh tới những nét tích cực của vùng Jane-Finch, vì báo chí ít nói về những điểm này.

Trà Mi:
Động lực nào thúc đẩy bạn trở thành một nhà hoạt động xã hội tích cực dấn thân cho các công việc cộng đồng dù bạn đang có một việc làm toàn thời gian với chính phủ?

Paul Nguyễn: Mọi việc khởi sự từ những việc rất nhỏ, từ việc tôi và một nhóm bạn muốn cùng chia sẻ công việc và quan điểm. Sau khi trang web được trình làng, nhìn vào ảnh hưởng và sức mạnh của nó (chẳng hạn như một số người đã tìm tới tôi và nói rằng tôi đã thay đổi cuộc sống của họ hay cách nhìn của họ về vùng này), tôi nhận ra rằng trang web Jane-Finch có thể là một công cụ rất hữu ích. Và chúng tôi quyết định đại diện cho cộng đồng cư dân ở đây vận động cho website này thành một công cụ để truyền tải thông điệp của chúng tôi ra bên ngoài.

Trà Mi:
Với nhịp sống bận bịu trong xã hội hiện đại-công nghiệp, như ở Canada chẳng hạn, nhiều người nhất là giới trẻ thường cảm thấy không đủ thời gian cho việc học, việc làm, đời sống, giải trí...Bạn đã xoay sở thế nào để có thể dành nhiều thời gian cho công tác thiện nguyện, phục vụ xã hội?

Paul Nguyễn: Tôi nghĩ rằng giới trẻ thật ra có rất nhiều thời gian. Giờ đây chúng ta có rất nhiều phương tiện kỹ thuật và những tiến bộ công nghệ đó giúp chúng ta nhanh hơn, dễ dàng hơn trong công việc và chúng ta có thể sử dụng quỹ thời gian của mình hiệu quả hơn rất nhiều. Chẳng hạn như tôi có thể vừa làm việc toàn thời gian vừa có thời giờ dành cho trang web xã hội của mình, vừa có thể tham gia các hoạt động xã hội khác nữa. Theo tôi người trẻ có rất nhiều thời gian để làm được nhiều việc, chỉ cần mình biết hy sinh cho mọi người hoặc biết cách phân bổ thời gian một cách hiệu quả cho những việc quan trọng và cần thiết.
​​Trà Mi: Là một nhà hoạt động xã hội thành công với nhiều giải thưởng vinh danh, bài học lớn nhất mà bạn học được cho mình là gì?

Paul Nguyễn: Tôi nhận ra rằng hoạt động tích cực trong cộng đồng không phải là con đường lúc nào cũng bằng phẳng. Trong quá khứ, chúng tôi đã gặp một số phản kháng từ một số đảng phái khác nhau vì họ không đồng tình với những gì chúng tôi làm. Họ chỉ trích và tạo ra rất nhiều trở ngại để trấn áp tiếng nói của chúng tôi.

Trà Mi: Những người không ủng hộ họ nói những điều không hay về việc làm của bạn, những mặt trái của công việc như thế đó có ý nghĩa thế nào đối với bạn?

Paul Nguyễn: Tôi cho rằng mình không nên để những phê bình tiêu cực ảnh hưởng công việc của mình. Mình nên lấy những điều đó làm động cơ thúc đẩy mình cần phải nỗ lực nhiều hơn nữa. Điều tôi muốn phản ảnh qua trang Jane-Finch là vùng này không chỉ có tội phạm mà cũng có rất nhiều người trẻ chăm chỉ, có tài mà xã hội cần phải để ý tới họ để giúp đỡ họ phát huy tối đa khả năng của họ.

Trà Mi:
Bạn nhiều lần được vinh danh cũng như nhận được rất nhiều giải thưởng khác nhau vì những cống hiến của bạn dành cho xã hội. Những giải thưởng đó có ý nghĩa thế nào với bạn?

Paul Nguyễn: Những sự ghi nhận mà chúng tôi nhận được cho trang web Jane-Finch.com quả thật rất lớn lao và tôi vô cùng cảm kích điều đó. Những sự ghi nhận này chứng tỏ công việc chúng tôi làm có tác dụng, và đồng thời cũng tiếp sức thêm cho chúng tôi tiếp tục công việc của mình.

Trà Mi: Là một nhà hoạt động tích cực, bạn nghĩ thế nào về vai trò của người trẻ trong việc dấn thân cho các công tác xã hội cũng như vai trò đóng góp của người trẻ đối với xã hội?

Paul Nguyễn: Tại Canada này, tất cả các học sinh trung học đều phải trải qua 40 giờ làm việc cộng đồng. Nhưng theo tôi, người trẻ cần phải làm hơn số thời gian bắt buộc này. Đóng góp sức mình cho cộng đồng mang lại cho người trẻ rất nhiều lợi ích. Bạn sẽ trưởng thành rất nhiều, được mở rộng tầm nhìn và sự hiểu biết của bản thân từ việc gặp gỡ và tiếp xúc với những người kém may mắn hơn mình.

Trà Mi: Vấn đề là làm thế nào để ngày càng có nhiều người trẻ dấn thân vào các công việc thiện nguyện xã hội hơn nữa. Ý kiến của bạn thế nào?

Paul Nguyễn: Ngày nay công nghệ hiện đại và sự xuất hiện của các mạng lưới xã hội như Twitter hay Facebook đã tạo điều kiện dễ dàng hơn cho mọi người tham gia vào các công tác cộng đồng hay hoạt động xã hội. Bạn chỉ cần mở một trang trên Facebook nói về các vấn đề xã hội mà mọi người cùng quan tâm là mọi người có thể cùng nhau hợp sức để tìm giải pháp cho vấn đề. Dùng như công cụ như thế giúp bạn dấn thân vào các công tác xã hội dễ dàng hơn nhiều.

Trà Mi:
Câu chuyện thành công của bạn mang thông điệp gì đến với giới trẻ người Việt ở khắp nơi?

Paul Nguyễn: Nếu bạn muốn tham gia công tác xã hội nhưng cảm thấy không có đủ thời gian, tiền bạc, hay nguồn lực để thực hiện mong muốn đó, đừng lấy đó làm cớ để thoái lui. Bạn có thể nghĩ ra một điều gì đó đơn giản thôi như trang web Jane-Finch.com của tôi chẳng hạn. Tôi xuất thân từ một vùng rất nghèo, tôi không có được những món đồ chơi xa xỉ hay các nguồn lực cần thiết khác, nhưng tôi đã tự xoay sở để có thể làm một điều gì đó cho xã hội xung quanh mình. Tôi đã tận dụng sức mạnh của internet để vươn tới mọi người. Một thanh niên nghèo sinh trưởng từ một khu vực có nhiều vấn đề như tôi có thể được nhiều người biết đến như vậy chứng tỏ tất cả các bạn đều có thể làm một điều gì đó cho xã hội, miễn là các bạn đặt tim óc của mình vào đấy.

Trà Mi: Paul có dự định gì sắp tới cho trang web Jane-Finch hay cho các hoạt động xã hội của mình?

Paul Nguyễn: Tôi dự định lập ra một trang web xã hội tương tự như trang Jane-Finch.com nhưng tập trung nói về giới trẻ Việt Nam tại Canada, giới thiệu về văn hóa, truyền thống của người Việt, hầu giúp không chỉ các bạn trẻ Việt ở đây mà cả giới trẻ thuộc các sắc tộc khác học hỏi, tìm hiểu thêm về văn hóa của người Việt.

Trà Mi: Cảm ơn Paul rất nhiều đã dành thời gian cho cuộc trao đổi này.

Vừa rồi là Paul Nguyễn, một nhà hoạt động xã hội trẻ gốc Việt tại Canada vừa được trao tặng Huy chương Kim khánh bội tinh Kim Cương của Nữ hoàng Elizabeth II năm 2012 vì những đóng góp của anh giúp thay đổi xã hội với trang web Jane-Finch.com do chính anh thành lập.

Các bạn nghe đài muốn chia sẻ quan điểm hay bình luận về câu chuyện này, xin vui lòng đóng góp trong mục Ý kiến ngay bên dưới bài đăng trên trang nhà voatiengviet.com.

Tạp chí Thanh Niên mong được đón tiếp tất cả quý vị và các bạn trên làn sóng của đài VOA trong buổi phát thanh 10 giờ tối thứ sáu và chủ nhật hằng tuần.


 Trà Mi-VOA

Tại sao vẫn chưa có « cách mạng mùa Xuân » ở VN ?

HÃY NỔI GIẬN ! ’ ‘Indignez-vous!’ hay hiện tượng Hessel ở Pháp.
Tại sao vẫn chưa có « cách mạng mùa Xuân » ở VN ?
 


Một hiện tượng bất ngờ trong sinh hoạt văn hoá ở nước Pháp : một cuốn sách mỏng của của Stéphane HESSEL, ‘Indignez-vous!’(Hãy phẫn nộ!) dự tính bán vài trăm bản, đã phá kỷlục ấn hành : trên bốn triệu cuốn và tiếp tục gây tranh luận sôi nổi. Tác giả, một ông già 93 tuổi, hô hào mọi người hãy nổi giận, hãy đứng dậy chống lại tất cả những bất công, những lộng hành của giới thống trị, tài chính hay chính trị đang đè nặng lênđầu mỗi người.


Nổi giận, theo Hessel, là điều kiện tối cần để con người còn là con người, để xã hội khỏi phá sản. Hãy dẹp thói an phận thủ thường, thụ động, hãy đứng dậy cầm vận mệnh mình trong tay ! Người ta áp bức, bóc lột anh bởi vì anh chấp nhận. Khả năng phẫn nộ là điều kiện tối cần để anh trởthành, hay tiếp tục, là người có nhân phẩm và một quốc gia không trở thành một quốc gia chết.

Người Việt có , -hay còn - khảnăng phẫn nộ hay không là câu hỏi và vài suy nghĩ vụn vặt trong bài này. Phải chăng cường độ phẫn nộ của dân Việt không đủ mạnh là một trong những lý do tại sao Việt Nam vẫn chưa có biến chuyển lớn như ở TrungĐông hay Bắc Phi ?

NHU CẦU PHẪN NỘ
Cuốn sách mỏng của S.Hessel, do một nhà xuất bản bỏ túi, Indigènes, ở Montpellier, miền Nam nước Pháp (trong khi sinh hoạt văn hóa tập trung ởParis), không một dòng quảng cáo, mới đầu bán ở những tiệm sách tỉnh lẻ, dần dần nhờ truyền miệng, trởthành một hiện tượng văn hoá xã hội, được dịch trên 30 thứ tiếng.
Hessel từ chối nhận bản quyền, và nhà xuất bản hứa sẽ dùng số tiền bán sách đểin những tác phẩm có thể giúp cải thiện xã hội.

Những tay nhà nghề trong giới ấn loát lắc đầu chịu thua : cuốn sách đứng đầu các danh sách best sellers từ gần một năm nay không phải là tác phẩm của những nhà văn ăn khách như Houellebecq, Jardin, Delerm, không phải là tiểu sử tài tử show biz, không phải sách dạy cách ăn uống cho khỏi mập, không phải là một chuyện tình ướt át, hay một tiết lộ động trời, thật hay bịa, không nói về cuộc đời tình ái náo nhiệt của DSK. Đó là cuốn sách rất khô khan của một ông già gần trăm tuổi hô hào dân chúng nổi giận, hô hào thanh niên đừng thụ động như những ông cụnon.

Hessel không phải là triết gia, không phải là nhà văn, cuốn sách rất mỏng của ông không phải là một tác phẩm lớn, nhưng cuốn“Indignez-vous” bán chạy như bánh mì, vì nó đáp ứng một nhu cầu người ta tưởng là thứ yếu : nhu cầu phẫn nộ .

Người ta mua tặng quà cho nhau nhân ngày Giáng sinh, ngày sinh nhật, trong đó nhiều người chưa hề mua, chưa từng mở một cuốn sách. Những phong trào phẫn nộ (les indignés) đã lan sang nhiều nước Âu Châu, như Hy Lạp, Tây Ban Nha (les indignalos) , hay phong trào Occupy Wall Street ở New-York, trước cửa những ngân hàng thủ phạm của cuộc khủng hoảng kinh tế làm thế giớiđiêu đứng.

Hessel là người suốt đời nổi giận. Sinh năm 1917 ở Đức, gốc Do Thái, quốc tịch Pháp đã tham gia kháng chiến chống phát xítĐức. Bị bắt giam ở nhà tù phát xít nổi tiếng Buchwall, bị kết án tử hình, ông tráo căn cước của một người tù vừa chết bị án nhẹ hơn và vượt ngục. Sau chiến tranh, ông trở thành đại sứcủa Pháp ở Liên Hiệp Quốc và tham dự việc soạn thảo bản Tuyên ngôn Nhân quyền. Về hưu, ông già Hessel là một khuôn mặt quen thuộc trong những cuộc biểu tình cho nhân quyền, biểu tình bênh vực người di dân, bênh vực Palestine mặc dầu ông gốc Do Thái. Ở đâu có phẫn nộ,có bất công, ở đó có ông già Hessel.

Sau khi cuốnIndignez-vous !trở thành một hiện tương xã hội, người ta trách tác giả chỉ xúi thiên hạ nổi giận mà không có đề nghịgì cụ thể, Hessel viết một cuốn sách mỏng khác : Engagez-vous (2) (Hãy tham gia hànhđộng!), trong đó ông đề nghị tranh đấu đòi thành lập Tổ chức Thế giới về môi sinh, và một Chính phủ toàn cầu (gouvernement mondial). Một mơ ước hão huyền ( utopie )? Tất cả những thay đổi lớn trong lịch sử, theo Hessel, đều là những utopiekhi khởi sự.

Cuốn thứ ba, le Chemin de l’Espérence(Con đường của hy vọng) (3), viết chung với nhà xã hội học hàng đầu của Pháp, Edgar Morin, trong đó hai ông già, tổng cộng 184 tuổi vạch ra con đường hy vọng để điđến một tương lai tốt đẹp hơn.

IL FAUT VIVRE INDIGNE

Hessel nối tiếp truyền thống của trí thức Zola, Camus. Emile Zola viết : Il faut vivreindigné !(phải sống phẫn nộ). Từ Zola, trí thức đích thưc là trí thức tham dự sinh hoạt xã hội, chính trị để cải thiện xã hội, không phải chỉ là những người có kiến thức. Ở Việt Nam, ngay cả kiến thức cũng không cần thiết. Trí thức chỉ cần có bằng cấp. Học gạo, học tủ, chong đèn học thuộc lòng, có xong cái bằng là trởthành trí thức, là khuôn vàng thước ngọc. Có bằng vừa vừa là trí thức vừa vừa, có bằng to hơn là đại trí thức… Trí thức vừa vừa được kính trọng vừa vừa, đại trí thức được kính cẩn tối đa.

Albert Camus nói trí thức cũng như mọi người, hơn mọi người chính bởi vì anh là trí thức, phải ghé vai gánh vác như mọi người, phải đổ mồ hôi chèo thuyền như mọi người. Khác hẳn hình ảnh trí thức ‘võng anh đi trước, võng nàng theo sau’ của người VN, có cái bằng bỏ túi là vinh hiển suốt đời, phó mặc chuyện đời cho thiên hạ.

Cuốn sách của Hessel ra đời trước khi cách mạng hoa lài bùng nổ ở Tunisie, mở đầu cho ‘mùa Xuân Ả Rập’ đang quét sạch những chế độ độc tài ở Bắc Phi và Trung Đông. Cùng một lúc, từ Đông sang Tây, thế giới đang chuyển mình, đang tìm một hướng đi mới. Đã tìm ra lối ra chưa, đã thoát khỏiđường hầm chưa là chuyện khác. Bước đầu là ý thức mình có quyền phẫn nộ, có bổn phận phẫn nộ, và sựphẫn nộ có thể thay đổi thời cuộc, có thể và đã lật đổ những chế độ độc tài đã ngự trị từ lâu và tưởng sẽ ngự trị mãi mãi, như ở Ai Cập, Tunisie, Lybie.

Trước đó vài tuần, ai dám tưởng tương Moubarak sẽ bị kết án khổ sai chung thân, ông Ali phải cuốn gói bỏ của chạy lấy người, Khadafi bị bắn chết . Trước đó vài tuần, họ nắm toàn quyền sinh sát, nắm quân đội, cảnh sát, hành pháp, lập pháp, tư pháp, nắm trọn kinh tế, tài chánh trong tay. Cái gì đã quét sạch tất cả: sự phẫn nộ của quần chúng, của những người hàng ngày chỉ biết an phận, cúi đầu .

Các chế độ độc tài không mạnh như người ta tưởng. Chỉ cần sự phẫn nộ của người dân, các lãnh tụ độc tài Trung Đông, Bắc Phi, một sớm một chiều, đã trở thành những con hổ giấy.
TỪ MIẾN ĐIỆN TỚI VN

Tại sao có cách mạng ở TrungĐông, ở Miến Điện mà ở VN chưa có “cách mạng muà Xuân”, mặc dù đã hội tụ đủ mọi điều kiện : bếtắc chính trị, khủng hoảng kinh tế, sa đọa xã hội, và ghê gớm, khẩn cấp hơn nữa, hiểm họa mất nước?

Lấy thí dụ Miến Điện. Tại sao có thay đổi ở Miến Điện? Những yếu tố hiển nhiên: Miến Điện sẽ làm chủ tịch ASEAN 2014, tinh thần quốc gia gần như cực đoan của giới quân phiệt cầm quyền (độc tài, tham nhũng không thua ai, nhưng vẫn yêu nước) thấy hiểm họa Trung Cộng trước mắt. Giới quân phiệt muốn nhích lại với Tây phương, không thểkhông nhượng bộ, không thể tiếp tục giam tại gia bà Aung Suu Kyi, khuôn mặt khả ái, khả kính của nhân quyềnở Miến.

Rất nhiều người VN lên đường chống thực dân vì lòng ái quốc, nhưng đảng Cộng sảnđã đưa VN vào quỹ đạo Nga, Hoa, nhất là Hoa, ngày nay tập đoàn lãnh đạo bắt buộc phải bám vào Trung Cộngđể sống còn, để bảo vệ quyền lợi. Bi đát hơn nữa : có muốn ra khỏi quỹ đạo cũng quá trễ. Cái thòng lọng Tầu đã xiết chặt cổ.

Đó là những yếu tố chính trị.Yếu tố văn hoá : người VN không có truyền thống phản kháng. Văn hóa VN không phải là văn hóa phẫn nộ của Stéphane Hessel. Văn hoá VN là văn hóa “một sự nhịn, chín sự lành”. Cái văn hóa “tránh voi chẳng hổ mặt nào ” giúp con voi càng ngày càng thô bạo.

Cái thói quen chịu đựng, cộng thêm với văn hoá Khổng giáo, đúng hơn là Tống nho, coi vua là con trời, hơn cả cha mẹ, và “cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy”, đã biến chúng ta thành những người thụ động.

Câu hỏi đặt ra : tại sao cách mạng ở Tunisie và Ai Cập mà vẫn không có biến chuyểnở VN. Hai dân tộc Tunisie và Ai Cập được coi là hai dân tộc thụ động nhất ở Bắc Phi và Trung Đông. Tôi nhớmột buổi trò truyện với một số người Tunisiens sốngở Paris. Tất cả đều có bằng cấp cao, theo con mắt VN,đó là những nhà trí thức. Khi tôi hỏi về tình hình chính trị ở Tunisie, không ai trả lời, lảng sang truyện khác. Sau bữa ăn, khi mọi người ra về, còn lại một người, Ahmed , ông ta cho hay là chính trị xứ ông ta nát bét, dân chủ chỉ là trò bịp, tham nhũng khủng khiếp. Tại sao vừa rồi ông ta không nói gì? Ahmed cười, hơi ngượng, nếu anh nào phát biểu bừa bãi, sẽ có đứa báo cáo tòa đại sứ và hết về nước nghỉ hè. Hai tuần sau, Bouazizi tự thiêu, ngọn lửa phẫn nộ bùng lên, gia đình tổng thống Ali bỏ của chạy lấy người. Ngọn lửa phẫn nộ vượt biên giới, tràn sang Ai Cập và Lybie.

Tại sao những dân tộc được coi là thụ động có cái khả năng phẫn nộ dữ dội nhưvậy, mà ở VN chưa có? Có một hiện tượng tạm gọi là hội chứng (syndrôme) Algérie. Lửa cháy chung quanh, nhưng Algérie chưa động tĩnh gì, vì dân Algérien đã mệt nhoài, cả về thể xác lẫn tinh thần, chỉ muốn được yên thân. Sau khi dành độc lập khỏi tay thực dân Pháp,đất nước rơi vào tay độc tài , tập đoàn của những lãnh tụ kháng chiến cũ, những người kháng chiến vì lý tưởng độc lập, tự do,công bình, nhân ái, khi nắm quyền làm ngược lại, chứng minh công thức “quyền lựcđưa tới tham nhũng. Quyền lực tối đa, tham nhũng tốiđa”. Algérie giống VN một điểm nưã: lực lượng công an cảnh sát hữu hiệu. Ở Alger, sau biến cố Tunisie, nhà nước huy động 35.000 cảnh sát bao vây, giải tán 500 người biểu tình. Một ông phẫn nộ, 70 ông cớm!

Algérie có thêm một đại họa : khủng bố Hồi giáo đã gây kinh hoàng và làm tê liệtđất nước. VN (lạy Chúa, lạy Phật) không có khủng bốHồi giáo, nhưng có đại họa khác làm tiêu tan khả năng phẫn nộ: văn hoá chu di tam tộc. Người Cộng Sản đã khôi phục cái văn hóa của thời man rợ. Anh có tội - sợmất nước là một cái tội, khóc với dân là một cái tội, nghĩ và đòi quyền sống là một cái tội - không phải chỉ có anh lãnh hậu quả, mà cả gia đình vợ con, cha mẹ, gia đình anh bị liên lụy. Anh có can đảm cùng mình, có coi nhẹ tù đầy và cái quý nhất của con người là mạng sống, anh cũng bó thay khi nghĩ tới cái vạ sẽ đổ xuống đầu những người thân. Cái văn hóa chu di tam tộc nó man rợ nhưng hiệu quả. Hiệu quả bởi vì man rợ. Ai có thể tưởng tượng điều đó ở thế kỷ21?

Những kỹ thuật đàn áp ghê rợn, điển hình là cuộc Cải Cách Điền Địa đẫm máu, vụ án Nhân Văn Giai Phẩm, những Toà án Nhân dân (!) , những trại cải tạo sau 75, đã tiêu diệt tinh thần phẫn nộ của người Việt.

SỰ MÒN MỎI CỦA LÒNG TRẮC ẨN

Bà Aung San Suu Kyi, trong bài diễn văn cách đây ít ngày ở Oslo than phiền những đóng góp cho các chương trình nhân đạo càng ngày càng giảm bớt. Bà Kyi nói: sự giảm sút đóng góp là kết quả cuả “sựmòn mỏi cuả lòng trắc ẩn ”. Thế giới sẽ đi về đâu, xã hội sẽ đi về đâu nếu không còn lòng trắcẩn?

Người ta ngỡ ngàng trước cảnh một em bé bị xe nghiến trước sự dửng dưng của mọi người ở bên Tầu. Còn VN? Những chuyện tương tự xẩy ra hang ngày. Một thí dụ, trong những thí dụ : Một bà già bị xe cán, nằm ôm cái chân gẫy, rên rỉ. Nhiều người muốn can thiệp. Người lái xe xuống xe, quát: “Đ.M. Có biết ông là ai không?” Mọi người nín khe, bỏmặc bà già nằm rên rỉ. Người kểchuyện kết luận : chưa chắc gã lái xe là ông lớn hay con cháu ông lớn.

Cònđâu là lòng trắc ẩn? Không còn trắc ẩn, làm sao có phẫn nộ?
Đó chắc chắn là cái di sản ghê rợn nhất của những năm Cộng sản. Biến con người thành thành vô tâm, vô cảm. Bịt tai, bịt mắt, bịt miệng để sống, thờ ơ trước bất công, lãnh đạm trước cái đau khổ của người khác.Những đổ vỡ về chính trị, về kinh tế có thểhàn gắn trong vài chục năm. Sự sa đoạ về con người, băng hoại văn hoá phải nhiều thế hệ mới hy vọng cứu vãn được. Nếu bắt tay cứu vãn trước khi quá trễ.Trước khi bị diệt vong.

THÁIĐỘ XẤU NHẤT LÀ SỰ THỜ Ơ

Trong bối cảnhđó, phải khâm phục những người dám bày tỏ sự phẫn nộ cuả mình ở trong nước. Những người đấu tranh cho dân chủ, cho nhân quyền, những Lê Thị Công Nhân, Cù Huy Hà Vũ, những Hà sĩ Phu, Nguyễn Đan Quế và rất nhiều người khác.

Phải khâm phục những người nông dân mất đất đã tay không đứng dậy. Phải khâm phục những giáo dân, Phật tử đã xả thân đòi tự do tín ngưỡng. Phải khâm phục những bloggers, những nhà báo, những nghệ sĩ đã có can đảm nói lên sự thực. Phải khâm phục những người đã tranh đấu cho công nhân, ở trong nước hay bị bán ra ngoại quốc.

Cái trở ngại cho họ không chắcđã là chính sách đàn áp của người cầm quyền. Cái trở ngại cho họ là sự thờ ơ, thụ động của người chung quanh. Nhiều người tiếc VN không có một người như Aung Suu Kyi. Nhưng nếu bà Kyi là người VN, có bao nhiêu người đứng sau lưng bà như dân Miến. Những Lê thị Công Nhân tranh đấu trong sự cô độc. Cái bản tính thờ ơ, cố chấp, nghi kỵ, ganh ghét của người Việt, ngay cả giữa những người hoạt động cho dân quyền ở VN, đã khiến chúng ta chưa có Aung San Suu Kyi hay Nelson Mandela.

Hessel viết “thái độ xấu nhất là sự thờ ơ” (la plus mauvaise attitude est l’indifférence) và nhắc câu nói của Jean Paul Sartre : mỗi người, với tư cách cá nhân, có trách nhiệm với xã hội ( vous êtes responsables en tant qu’individus).

Sự thờ ơ, với rất nhiều người Việt Nam, đã trở thành một đức tính, một tháiđộ khôn ngoan của những người từng trải. Người ta hãnh diện, khoe khoang cái túi khôn của mình và dè bỉu cái dại dột của người khác. Ở những nước tân tiến, những người dại dột, những người ăn cơm nhà vác ngà voi, là những tác nhân làm cho xã hội tốt đẹp hơn, công bình hơn, làm cho con người đối với nhau còn là con người.

Sống trong sự hoài nghi thường trực, với sự thờ ơ như một nhân sinh quan khả kính, với tính thụ động như một mục tiêu, lòng trắc ẩn mòn mỏi, với sự vắng bóng của phẫn nộ, bao giờ VN có cách mạng muà Xuân như ở Bắc Phi, Trung Đông, thayđổi chính trị như ở Miến Điện?

Stéphane Hessel nói nếu anh sống dửng dưng, hãy tìm một lý do để nổi giận. Lý do để nổi giận không hiếm: sự lộng hành của tài phiệt đã đưa tới khủng hoảng kinh tế, sựbất công xã hội càng ngày càng ghê rợn, môi trường bịphá hoại… Với người VN, khỏi cần tìm kiếm, những lý do để nổi dậy đếm không nổi : độc tài, nhân quyền, tự do bị chà đạp, nhân công bị bán ra nước ngoài,sống như nô lệ, phụ nữ bị gởi đi bán dâm kiếmăn, nông dân bị cướp đất, và hiểm hoạ đất nước sừng sững trước mắt.

VụHoàng Sa, Trường Sa đã gây phẫn uất trong mọi giới. Một cơn gió mới. Hy vọng sự phẫn nộ đó sẽ là động lực đưa đến thay đổi ở VN. Thay đổi hay mất nước. Thay đổi hay là chết.

TỪ THỨC
(Paris, Juin 2012)


( 1 ) INDIGNEZ VOUS. Stéphane Hessel. Ed Les Indigènes, Montpelliers, France. 2010. Phát hành: Harmonia Mundi. Bản tiếng Anh: Time For Outrage. Hardoven Editions.
( 2 ) Engagez-vous. Stéphane Hessel. Editions de l’Aube. France. 2011.
( 3 ) Le Chemin de l’Espérence. S.Hessel § Edgar Morin. Ed Fayard. Paris. France. 2011.

Vị Thánh trại Nam Hà



Mấy hôm rồi giấc ngủ vẫn chập chờn chưa quen giờ giấc thay đổi. Tiếng chim hót líu lo vào buổi sáng mùa hè Cali và sự yên tĩnh dễ chịu tương tự như vùng tôi ở bên nước Pháp. Vợ chồng cô em út đã đi làm từ lâu. Có tiếng lách cách khóa cửa. Tôi lên tiếng:
— Ba hở Ba?
— Ờ, Ba đây. Ba mới đưa hai đứa nhỏ tới trường.
Ba hay thật! 83 tuổI vẫn còn lái xe! Bước ra vườn thấy bóng dáng Ba lù khù đang kéo một thùng rác thật lớn ra sân trước, tôi lật đật chạy tới phụ nhưng Ba tôi khoát tay biểu:
—Thôi con! Ba làm quen rồi!
Tôi ái ngại nhìn theo, bùi ngùi nhớ hình ảnh thời Ba còn giữ chức vụ Tham mưu trưởng Quân đoàn 2, oai nghiêm trong bộ quân phục đính ba bông mai trắng.
Buổi trưa chỉ có hai cha con ngồi ăn cơm. Trên bàn bày ê hề thức ăn của cô em út mỗi sáng chịu khó dậy từ 6 giờ nấu nướng. Tôi ngạc nhiên vì Ba không gắp những món ngon mới nấu, Ba cứ loay hoay với hủ cá chà bông. Chắc chắn đồ ăn thừa sẽ cất vào tủ lạnh, rồi lại đổ cho đàn mèo hoang sau vườn như mọi hôm. Tôi hỏi:
— Răng Ba không ăn mấy món kia Ba?
— Con Mỹ gởi từ Sài gòn qua cả tháng mà không đứa mô ăn, ba phải ăn kẻo bỏ uổng. Hồi còn ở tù Cọng sản làm chi có được món quí như ri con!
Tôi nghĩ thầm sẽ dặn cô em bên Việt Nam đừng gởi đồ khô qua đây nữa. Nó không biết Ba vẫn luôn luôn ám ảnh về dĩ vãng hãi hùng của 13 năm tù cải tạo.Tôi tò mò hỏi:
— Hồi ở trong tù Ba ăn chi rứa Ba?
— Ba ăn sắn khô, loại dành cho súc vật ăn và bo bo nguyên vỏ của Ấn Độ viện trợ. Cực khổ lắm! Mỗi ngày đều có năm ba người chết vì đói, vì rét hay lao động kiệt sức.
— Con nghe nói tù cải tạo đói quá vô rừng thấy rắn rít chi cũng bắt ăn phải không Ba?
— Đúng rứa. Con chi cũng ăn, chỉ trừ con bù lon là không ăn thôi! Thành ra có một số người chết thảm vì ăn trúng độc.
Tôi ngạc nhiên:
— Con bù lon là con chi rứa Ba?
— A, lối nói của anh em trong tù. Ý là …bù lon đinh ốc ăn không được!
Tôi bật cười nhưng vội nghiêm lại khi chạm phải gương mặt u uẩn của Ba.
— Có ai bỏ trốn không Ba?
— Chỗ đó toàn là đá vôi. Khó trốn lắm! Trại Ba ở có một số anh em trốn thoát nhưng qua vài ba ngày sau cũng bị bắt lại.
— Họ bị đánh không Ba?
Ba tôi phẫn uất:
— Úi chầu! tụi nó đánh gần chết! Như trường hợp Linh mục Nguyễn hữu Lễ bị đánh và bác Tiếu cũng bị đánh gãy xương sườn.Tội nghiệp Bác qua tới Mỹ chưa sướng được bao lâu thì mất! Chút nữa Ba đưa con đọc cuốn “Tôi phải sống” của cha Lễ viết.
Tôi bàng hoàng nhớ tới Đại tá Trịnh Tiếu, bác nguyên là Trưởng phòng 2, quân Đoàn II, sau này bác làm Tỉnh trưởng Ban mê Thuột, là bạn thân của ba tôi và con gái bác là bạn thân của tôi. Trước ngày vượt biên, Trúc Mai tới từ giã và cho biết bác Tiếu nhất định trốn không ra trình diện cải tạo, nhưng không may cuộc vượt biên thất bại!
Nghe chuyện người đánh người, tôi bỗng nao nao buồn. Cùng một dân tộc, cùng một màu da, cùng một tiếng nói mà họ nỡ lòng nào! Ôi Cộng Sản Việt nam sao tàn nhẫn quá!

oOo

Pha ly nước trà sen bưng ra phòng khách, tôi rón rén ngồi đối diện với Ba. Bất động, ngẩng mặt nhìn vào chân không, trên gương mặt vốn cương nghị của Ba đầy những nếp nhăn tuổi lão hằn sâu biểu hiện niềm chịu đựng, nhẫn nhục và cay đắng. Đôi mắt u uẩn xa xăm dường như đang trở về quá khứ, một quá khứ ai oán của tù nhân chính trị khóc cho thân phận mình, cho đất nước và cho cả một dân tộc Việt Nam đang bị một bọn người dã man, vô lương tâm thống trị.

Tôi chợt nhớ lại khoảng năm 82 đang ở Pháp, được thư cô em bên nhà kể chuyện lần đầu tiên thăm nuôi Ba: “Em nhận Ba không ra chị ơi! Ba rụng hết răng rồi, trông Ba như bộ xương khô xiêu vẹo biết đi!” Mặc dù tôi không quên gởi quà cho Ba nhưng trong tôi vẫn áy náy mang mặc cảm mình thiếu sót bổn phận làm con, vì đã không lặn lội đường xa vạn dặm đến thăm Ba, động viên tinh thần trong lúc Ba đang ở trong tận cùng của nỗi nghiệt ngã cuộc đời. Mẹ tôi mất vào lúc Ba đang du học bên Mỹ, khi tôi tròn 13 tuổi. Cái tuổi dậy thì đầy mộng mơ nhưng đột nhiên mất thăng bằng, hụt hẫng tình mẫu tử và tôi đã đặt tất cả niềm thương yêu, ngưỡng mộ vào Ba. Cho dù đến bây giờ với số tuổi 53, mãi mãi Ba vẫn là thần tượng của tôi.

Phá tan sự im lặng, tôi mời Ba uống nước và nhỏ nhẹ khơi chuyện:
— Ba có còn nhớ hết những nhà tù của Ba không?
— Nhớ chớ sao không nhớ! Thời gian lao lý của Ba bắt đầu vào tháng 6/1975. Ban đầu chúng nhốt ở Long Khánh, sau nó đưa tụi Ba về trại Suối Máu ở Biên Hòa. Đến tháng 6/ 1976, nửa đêm tất cả bị di chuyển ra ngoài Bắc ở tỉnh Yên Báy. Có lần nhóm Ba đi làm trong rừng, gặp một vài người cũ hồi xưa kiểu như Tri Huyện, Chánh Tổng, Địa Chủ, quan chức chính quyền quốc gia trong liên hiệp Pháp thời trước, nay vẫn còn bị quản thúc trên núi. Họ kể bọn Cộng Sản độc ác đến nỗi khi họ lao động được 1 hay 2 năm, trồng cây, trồng chuối khá rồi thì tụi nó bắt di chuyển đi nơi khác và bắt đầu làm lại. Cái vòng luẩn quẩn ấy đã mấy mươi năm rồi. Họ uất hận và đau buồn lắm! Họ than thở: “Chúng tôi cứ tưởng các ông ở trong đó ra đây giải phóng chúng tôi. Chớ ai ngờ bây giờ các ông cũng bị lâm vào hoàn cảnh này thật là bi đát không khác gì chúng tôi!”
— Sau đó Ba bị đi đâu?
— Tháng 6/79 Trung quốc rục rịch chuẩn bị cho tụi Việt Cộng bài học, do đó các trại tù bị di chuyển về trại Nam Hà, vùng rừng núi tỉnh Hà Nam Ninh. Trại này gọi là trại Ba Sao. Trại Nam Hà do công an bộ nội vụ quản lý. Chế độ vô cùng khắc nghiệt, cuộc sống hết sức bi thảm. Đúng là địa ngục trần gian! Ngày mô cũng có vài người chết. Khiếp đảm lắm! Những người nào may mắn có đức tin chỉ biết thành tâm cầu nguyện vì đó là nơi bám víu duy nhất để sống và nuôi hy vọng.
Tất cả các tôn giáo đều cầu nguyện. Gồm có đủ các vị lãnh đạo tinh thần như Cao Đài, Hòa Hảo, Công giáo, Phật giáo. Sau gần một tháng khẩn cầu thì tối 12/12/1979 có một vị Thánh giáng cơ vào buồng 1, tức là buồng của Thủ tướng Lộc, Phó chủ tịch Thượng Viện Hoàng xuân Tửu, Linh mục Nguyễn văn Minh, Bộ trưởng Lê ngọc Chấn. Vị thánh là cụ Phan đình Phùng, danh hiệu Tùng La.
Cảm giác hồi hộp thích thú như hồi còn bé được nghe kể chuyện siêu hình thần bí, tôi rời chỗ xích tới ngồi gần Ba hơn. Tôi nôn nóng:
— Hay quá! Cầu cơ à! Thánh viết chi rứa Ba?
— Thánh cho thơ:
Đông phong thúc dục cảnh sầu thương
Chạnh bấy lòng dân khó liệu lường
Trắc ẩn khuyên ai đừng ngán nổi
Có buồn có khổ rạng đài gương
Sau đó Cụ cho luôn thơ bằng chữ Nho:
Trì trì bộ bộ bộ trì trì
Cử bộ thời lai hữu hỉ kỳ
Nguyên phụ cao bồi tư hóa dục
Thanh phân thiên tảI tụng hòa vy.


Tôi ngẩn người ra:
— Con không hiểu chi hết!
— Ý Cụ dạy là phải chậm từng bước, ơn trên đang lo lắng cho mình. Còn đây là bài Cụ cho về vấn đề cuộc đời là một sự vay trả:
Vay trả cuộc đời thói đổi thay
Bể dâu riêng khóc hận vơi đầy
Tay khoanh há dễ ôm hờn tủi
Mặt ngoảnh đành cam chịu đắng cay
Hay dở biết nhìn khi phải tỉnh
Đảo điên trông thấy lúc cần say
Mày râu giữ trọn nguyền sông núi
Bay thỏa sức bằng đợi gió mây

Cụ dạy bài thơ này thuộc về loại thuận nghịch đọc. Đọc ngược cũng được.
Mây gió đợi bằng sức thỏa bay
Núi sông nguyền trọn giữ râu mày
Say cần lúc thấy trông điên đảo
Tỉnh phải khi nhìn biết dở hay
Cay đắng chịu cam đành ngoảnh mặt
TủI hờn ôm dễ há khoanh tay
Đầy vơi hận khóc riêng dâu bể
Thay đổi thói đời cuộc trả vay.


Tôi ngạc nhiên bày tỏ niềm thán phục:
— Tuyệt quá! Thơ đọc được cả hai chiều!
Thấy tôi hăng say theo dõi câu chuyện, Ba sôi nổi kể tiếp:
— Hồi ở trại Yên Báy chật lắm! Phải nằm nửa người thôi, nằm nghiêng nghiêng với nhau vì không có chỗ. Khi về trại Nam Hà cũng chật nhưng may nằm vừa sát. Mỗi phòng có khoảng 100 tù nhân. Ba nằm gần anh Dương ngọc Bảo, cựu đại tá tham mưu trưởng bộ chỉ huy tiền phương quân đoàn 4 và anh Đàm Quang Yêu, cựu Đại tá tư lệnh biệt khu Quảng Đà. Phòng có hai tầng, tầng trên là ván gỗ. Ba lựa ngủ tầng dưới ciment vì Ba sợ rệp, nhưng nền ciment thì lại bị lạnh lắm! Ba ở buồng 8, thành khẩn khấn nguyện xin Thánh Tùng La soi sáng cho biết tương lai bản thân mình sẽ được trở về quê hương hay là sẽ bị ngã gục trong lao tù Cọng sản. Sáng ngày khi trại tù mở cổng, anh Hoàng xuân Tửu ở buồng 1, là Phó chủ tịch Thượng Viện, đưa bài thơ có ghi dưới hàng chữ “Cho Đại tá Bình hiện đang khấn nguyện ở buồng 8”. Anh kể anh thưa với Cụ: “Con biết anh Bình. Vậy con xin nhận bài thơ này. Sáng ngày lao động con sẽ đưa lại cho anh Bình”.

Tôi nôn nóng:
— Ba còn thuộc không Ba?
Gương mặt Ba rạng rỡ, say sưa ngâm:
Huế xinh Huế đẹp đất thần kinh
Ấp ủ bao năm một khối tình
Dâu bể tang thương cùng tuế nguyệt
Hẹn ngày tái ngộ với Hương Bình

Anh Tửu kể thêm: Cụ giải thích Cụ dùng chữ “khối tình” có ý là tình nhà, tình nước, tình dân tộc. Ba đọc xong lòng cảm thấy vui mừng và phấn khởi vô cùng, chứa chan hy vọng và tin tưởng ở tương lai. Hàng tháng ngày rằm hay mồng một hoặc lúc nào thuận tiện thì anh em tất cả có thành tâm cầu nguyện là được ngài giáng cho thơ, tùy theo sở nguyện của cá nhân hay tập thể. Đặc biệt những bài thơ Cụ cho Ba thường có chữ Hương Bình.
Ngày sau trở lại chốn Hương Bình
Sông núi bấy giờ thật đẹp xinh
Cay đắng không quên điều trọng nghĩa
Gian nan giữ trọn mối thâm tình
Tinh thần thanh thản cùng câu sách
Tâm trí nhẹ nhàng với cuốn kinh
Huyền diệu lẽ Trời là thế đó
Niềm vui tất cả chẳng riêng mình


— Chắc ai cũng xin Cụ cho biết có hy vọng ngày về!
— Đúng như rứa. Cụ giáng thơ:
Thu thiên sương giáng động tây phong
Trục phất nam sơn xuất khí nồng
Nguyệt khuyết tàn vân tà ngọc thố
Đãi thời luyện dực điểu phi thông

Sau này về được rồi thì mới nghiệm lời Cụ cho rất linh ứng. Ngọc thố là con thỏ. Người Tàu gọi mão là thỏ. Đa số anh em được về năm mão, trong đó có Ba.
— Cụ cho tất cả bao nhiêu bài thơ hở Ba?
— Cho chung hơn cả ngàn bài. Tùy theo sở cầu, sở nguyện của mỗi người thì Cụ cho. Phần Ba được khoảng trăm bài. Ba có ghi lại những bài còn nhớ. À, một chuyện đặc biệt: Anh Nguyễn văn Hiểu làm tòa lãnh sự Mỹ ở Nha Trang, anh đã đi theo tàu Thương Tín qua đảo Guam nhưng anh tranh đấu để đòi về. Ngờ đâu Việt Cộng nó cũng nhốt anh ở trại Nam Hà. Ban đêm khi anh em cầu nguyện, thường thấy anh ngồi lâm râm một góc. Sau này mới biết té ra anh cũng đang khấn Cụ, xin Cụ cho biết tương lai. Anh được Cụ giáng thơ:
Chưa hiểu được mình khó hiểu ai!
Nhọc công thở vắn với than dài
Khá khen con tạo đành đưa đẩy
Trách bấy hóa công khéo đặt bày
Lỡ bước sa cơ hay dối trá
Chồn chân thất thế nếm chua cay
Ăn năn sám hối điều sai trái
Có lúc chim lồng sổ cánh bay


Sáng ngày đi lao động anh được người ta đưa thơ Cụ cho anh. Anh vui mừng lạy Cụ quá trời! Hay ở chỗ anh này tên Hiểu nhưng chưa hiểu được người. Chưa hiểu được mình khó hiểu ai!
— Có ông nào hỏi chuyện vợ con không Ba?
— Có chớ! Một ông giám đốc khấn nguyện xin Cụ cho biết vợ anh hiện đang ở bên Pháp, sau này anh được tái ngộ hay không? Cụ cho thơ:
Xa xuôi khó nổi tỏ lòng nhau
Kẻ luống nhớ thương kẻ dãi dầu
Lan quế sớm hôm còn nghĩa nặng
Trúc mai năm tháng đượm tình sâu
Ươm hoa hoa cũ càng thêm sắc
Ủ nhụy nhụy xưa vẫn đượm màu
Nhắn với lang quân niềm trọn vẹn
Có ngày gió Á gặp mưa Âu.


Nhận thơ, anh mừng quá bái lạy bốn phương cảm tạ Trời Đất. Tinh thần anh lên làm các bạn tù cũng vui lây.
Tôi thắc mắc:
— Khi cầu cơ bộ không ai sợ bọn ăng-ten báo cáo sao Ba?
— Sợ chớ răng không sợ! Nhưng mà mình canh chừng tụi nó ngủ mới dám cầu. Có một vị Tuyên úy trình với Cụ hiện bây giờ ăng-ten trong trại rất nhiều, hễ hở ra là tụi nó báo cáo. Cụ hạ bút ngay:
Đông đến mang theo giá lạnh về
Tháng ngày mưa gió liệu mà che
Súng rền đất Bắc nghe chan chát
Gió giật phương Nam thấy lập loè
Lao lý vẫn không quên nghĩa cả
Đắng cay càng mãi nặng tình quê
Mặc ai tráo trở đời đen bạc
Giấy rách nhưng ta giữ lấy lề.


— Chuyện Cụ giáng cho thơ có được phổ biến không Ba?
— À, Ba có hỏi Cụ: “Sau này con được về con sẽ kể chuyện Cụ giáng xuống giúp bọn con, con xin thỉnh ý Cụ?” Cụ dạy: “Cứ nói, nhưng với người thiện tri thức có học mình nên nói. Còn với kẻ phàm phu tục tử đã không biết gì mình không nên. Tại sao? Là vì họ đã không hiểu mà nhiều khi họ còn báng bổ thì sẽ có tội với Trời Đất”. Cho nên Cụ dạy: “Bỉ nhơn mỗi lần giáng trần đều có cho thơ Đường. Bởi vì sao? Bởi vì âm dương cũng có chánh tà. Nhiều khi ma quỷ nó về, nó hiện vô cơ huyênh hoang, nó nói tầm bậy. Cho nên Cụ Phan đình Phùng, tức là Thánh Tùng La thì luôn luôn phải có thơ Đường. Không phải thơ Đường tức là không phải Cụ. Cụ bảo mục đích Cụ cho con cháu biết rằng: “Cuộc thế có thăng trầm, tình đời có đen bạc nhưng luôn luôn Trời Đất Thần Thánh Thần Linh vẫn ở với thế gian”.
Cụ cho bài kệ. Cụ dạy khi nào nghĩ tới Cụ hãy đọc bài kệ này:
Thiên hành kỷ quá. Thiên địa vô tư. Thậm ư huyền diệu. Nhật chiếu quang minh.
Dĩ kinh thiện ác. Củ soát dương trần. Báo ứng phân phân. Cứu thế ưu dân.
Tư phần tập đạo. Hạo hạo tự nhiên. Tâm kiên chí lập. Đáo cập thanh cao.
Chánh đạo trường tồn. Nhật nhật niệm ngôn.


oOo

Những câu chuyện thần bí như loại này chỉ có hai cách: một là tin, hai là không thế thôi. Lý do đơn giản là người trong cuộc, ngoài cuộc nghe kể lại hoặc chứng kiến đi nữa cũng không có cách nào giải thích sao cho có lý. Cũng vì lý do ấy cho nên người ta còn có lý luận rằng: “Tin có thì có, không tin thì không”. Nhưng nói cách nào đi nữa tôi cũng ấm ức trong lòng, nhớ chuyện Mục Liên Thanh Đề được đem ra bàn cãi: Người mẹ tên Thanh Đề ác độc bị đày xuống địa ngục. Người con là ngài Mục Liên tu hành chứng quả A La Hán, có nhiều thần thông khác người như lên trời, xuống đất, nghe thấy vạn dặm xa, nghe được tiếng nói của các loài khác như quỷ, thần, thú vật…nên được mệnh danh là đệ nhất thần thông. Ngài cất công đi tìm mẹ và cuối cùng ngài tìm thấy mẹ đang bị cực hình trong chín tầng địa ngục A -tỳ đói khát, ma quỷ đang hành tội. Ngài đã khóc hết nước mắt vì thương mẹ, ngài liền dùng thần thông dâng lên mẹ bát cơm cứu mẹ, nhưng cơm vừa tới miệng bà Thanh Đề tự nhiên biến thành lửa, mẹ ăn không được còn đau khổ hơn! Ngài cầu cứu Phật nhưng biết ác nghiệp của bà Thanh Đề quá nặng không cứu được, Phật bảo: “Con hãy chờ ngày Chư Tăng sau ba tháng an cư kiết hạ, xin Chư Tăng cầu nguyện thì mới cứu được mẹ con”.
Ngài làm y theo lời Phật dạy và sau đó người mẹ thoát được địa ngục.
Tôi cảm thấy câu chuyện vô lý. Chư Tăng có quyền năng gì thắng được luật nhân quả!? Tôi đặt nghi vấn có biết bao nhiêu Phật tử đã tin mù quáng vào câu chuyện này chỉ vì ông bà mình tin thì mình tin theo!
May thay một anh bạn Phật tử đã lý giải thế giới tâm linh bằng tuệ giác một cách rất là khoa học. Trước hết anh trình bày về hiện tượng vật lý. Nếu cả ngàn người đi trên một cái cầu không đồng nhịp thì nó không sao, nhưng cũng ngàn người đó cùng bước đồng nhịp thì tạo năng lượng làm cầu sụp đổ. Điều này giải thích nhờ chú nguyện của Chư Tăng đông đảo và thanh tịnh sau 3 tháng nhập thất là trợ lực bên ngoài, cọng với Phật tánh sám hối là trợ duyên nên bà Thanh Đề thoát được địa ngục.

Tôi suy luận qua câu chuyện của những người tù Cộng Sản. Khi những người tù đói, rét, tinh thần bị hành hạ thì chỗ dựa duy nhất của họ là cầu khẩn ơn trên. Sức mạnh tư tưởng, niềm tin tập trung vào quán niệm tâm linh của họ mạnh hơn gấp bội ngày xưa. Chính năng lượng khổng lồ này đã đi đúng tần số.
Tôi cố ôn lại bài học lịch sử nhưng chỉ nhớ mơ hồ. Tôi hỏi:
— Con nhớ Cụ Phan đình Phùng đậu Tiến sĩ và chống Pháp, nhưng con quên chi tiết rồi.
— Thời đó Tây lập Vua Đồng Khánh. Tụi quân triều đình đông quá trời và còn có cả Tây hỗ trợ, trong khi trên núi ăn uống vô cùng cực khổ, Cụ bị kiết lỵ. Nhiều lần Cụ bảo: “Thôi bây giờ anh em cứ yên tâm . Để tui ra nộp mình cho nó yên đi”. Anh em khóc quá trời! Thành ra Cụ phải ở lại Cụ gánh. Hoàng Cao Khải phái người đưa thơ lên núi năn nỉ Cụ về làm quan nhưng Cụ nhất quyết với non sông, chống Tây tới giọt máu cuối cùng. Cụ anh hùng khí phách như rứa mới hiển Thánh chớ đâu phải ai chết cũng hiển Thánh!
— Khi Ba được qua Mỹ rồi, Cụ còn giáng cho thơ không Ba?
— Còn chớ ! Thường thì phải trên năm người Cụ mới giáng xuống. Hồi mới qua Mỹ, anh em bên Pháp, Texas qua đây tụ họp với nhau mỗi năm cầu Cụ. Có năm Cụ giáng ở nhà mình nì.
— Lúc còn ở trong tù có bài nào Cụ cho biết Ba được qua Mỹ không Ba?
Mắt Ba sáng lên:
— Có chớ.
Ngày mai tươi sáng chẳng còn xa
Bỉ thái xưa nay thấy đó mà
Tươi sáng huy hoàng rồi sẽ đến
Mịt mù u tối cũng dần qua
Bền lòng có lúc đền ơn nước
Vững chí bao phen trả nợ nhà
Thử thách gian nguy nào sá kể
Đường về quê cũ rợp cờ Hoa
Hồi đó anh em suy đoán chữ cờ Hoa là nhờ Mỹ can thiệp, anh em mừng quá trời ! Mà đúng thiệt! Sau này Mỹ ký kết nên anh em được qua Mỹ theo diện H.O.
Ba nhìn đồng hồ và nói:
— Áo quần sấy khô rồi, để Ba đi lấy vô.
Tôi theo Ba ra vườn. Năm nay Ba dựng thêm một cái chòi nhỏ chứa áo quần cũ. Ba không bao giờ chịu vô Shopping như tụi con gái của Ba. Ba khoái mua đồ chợ Trời mỗi cái 1 đô, rồi giặt sạch treo lủng lẳng trong chòi giống một gian hàng chợ Trời. Mỗi lần có ai đi Việt Nam, Ba đóng thùng gởi về quê cho bà con nghèo. Ba chui vào chòi, lôi ra mấy cái áo len đưa tôi:
— Con coi thử cái mô mặc được thì đem về Pháp mà mặc. Hồi ở tù ngoài Bắc lạnh quá trời! Ba bị ho hoài. Ba cứ tưởng bỏ xác ngoài nớ rồi chớ!
Tội nghiệp Ba lúc nào cũng bị ám ảnh bởi ngục tù Cộng sản! Tôi ngán ngẩm cầm mấy cái áo lỗi thời, không dám làm Ba buồn, nói “dạ, cám ơn Ba” nhưng định bụng trước khi trở về Pháp sẽ đem vô nhét lại trong garage, nơi có hơn chục thùng đồ cũ của Ba.
May mà Ba sống chung với con rể cũng là nạn nhân tù cải tạo, hoàn toàn thông cảm căn bịnh “số nhiều” của ông già vợ.
Ba ngồi bệt dưới tấm thảm, lui cui xếp đống áo quần của cả nhà. Ba hớn hở nói:
— Ngày ni Ba làm mấy chuyện lặt vặt cho xong. Mai Ba bận đi chùa. Ba phụ tá phần nghi lễ và là huynh trưởng Phật tử.
Tôi vừa phụ vừa hỏi chuyện:
— Năm ngoái Ba bị mổ bướu gan, chừ đỡ chưa Ba?
— Lành rồi. Người Mỹ tốt thiệt! Tiền thuốc men, bịnh viện họ cho hết không tốn lấy một xu. Hồi ở tù một chai thuốc đỏ cũng không có! Bịnh là chết!
Nhắc đến chữ “chết”, Ba chợt nhớ ra, nhìn thẳng vào mặt tôi và nói với giọng bình thản:
— À, Ba dặn con Út rồi, khi mô Ba mất thì thiêu và đem về làng mình. Ba muốn được gần gũi ông bà tổ tiên.
Tôi nao nao xúc động. Ba thường tỏ lòng biết ơn người Mỹ, hết lời khen ngợi các nước yêu chuộng tự do vô cùng nhân đạo, tôn trọng nhân quyền, tín ngưỡng nhưng Ba vẫn muốn gởi nắm xương tàn trên đất nước Việt Nam.

Lê Khánh Thọ(France)

Friday, 29 June 2012

CẢI TỔ KINH TẾ VIỆT NAM: LẤY VẢI MỚI MỸ VÁ VÁY ĐỤP MÁC-LÊ MỤC NÁT


CHÚ THÍCH ĐẦU:
 
NHỮNG BIỆN PHÁP CHÍNH TRỊ TÀI CHÁNH (Mesures de Politiques Financìeres) mà Ngân Hàng Nhà Nước VN mới đưa ra và được gọi là những Biện pháp Cải tổ Kinh tế Việt Nam đang tụt giốc trầm trọng. Chúng tôi đã viết 3 bài nhằm thẩm định những Biện pháp Chính trị Tài chánh này:
*          Bài 1 ngày 16.06.2012: GIẢM LÃI SUẤT: TĂNG TỐC TỤT GIỐC KINH TẾ VIỆT NAM VÀO HUYỆT ?
*          Bài 2 ngày 21.06.2012: GIỮ LÃI SUẤT CAO: MƯU THU TIẾT KIỆM CỦA DÂN VÀ HỆ QUẢ TÀN PHÁ KINH TẾ VIỆT NAM.
*          Bài 3 ngày 28.06.2012: THU MUA NỢ XẤU: MOI TỪNG XU CỦA QUẦN CHÚNG ĐỂ CỨU TIỀN TỈ CỦA GIỚI GIẦU
            Những BIỆN PHÁP CHÍNH TRỊ TÀI CHÁNH này quy tụ vào Thị trường Tài chánh mà cái GIÁ của Vốn là LÃI SUẤT. Những người trách nhiệm Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam có lẽ đã học thuộc lòng những bài học từ Mỹ, Tây… về cái Thị trường này và những Biện pháp tác động lên cái Giá LÃI SUẤT để ảnh hương lên LƯỢNG VỐN thả ra lưu hành hay thu nó lại. Bài học Tài chánh học được ở Mỹ ở Tây, nhưng khi áp dụng ở Việt Nam y chang như Mỹ và Tây, thì tầm tác động có thể mang đến hệ quả khác hẳn. Những lý do sau đây khiến việc áp dụng những nguyên tắc Tài chánh Âu, Mỹ lại không tác động lên Thị trường giống như ở Mỹ và Tây:
      Tại Mỹ và Tây, nền Kinh tế là Tự do và Thị trường thực sự, trong khi đó tại Việt Nam đó là mô hình Kinh tế gọi là Thị trường, nhưng do Nhà Nước nắm chủ đạo dưới những chữ trá hình “định hướng XHCN “, hay nói toẹt ra đó là Kinh tế vẫn do Chính trị độc tài nắm giữ theo kiểu Mác-Lê cũ rích. Thị trường Tài chánh tại Âu, Mỹ là Thị trường Tự do cạnh tranh thực sự, do đó cái LÃI SUẤT, Giá của Thị trường Tài chánh, vẫn trọng sự cạnh tranh, chứ không cứng nhắc do Độc tài Chính trị quyết định.
=>       Tại Âu, Mỹ, nắm chủ động Kinh tế là Tư doanh và những quyết định sử dụng LƯỢNG VỐN đầu tư theo đúng nguyên tắc LỢI NHUẬN TỐI ĐA cho xí nghiệp. Trong khi đó, tại Việt Nam, nắm chủ động Kinh tế là Nhà Nước qua hệ thống những Tập đoàn Kinh tế quốc doanh do những người của đảng điều hành. Những người nắm chủ động Kinh tế này quyết định LƯỢNG VỐN đầu tư không theo nguyên tắc LỢI NHUẬN TỐI ĐA, mà theo THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ phục vụ cho túi riêng cá nhân khi nắm được quyền điều hành Kinh tế Nhà Nước.
Nhìn sự khác biệt giữa hai nền Kinh tế như vậy, chúng ta thấy việc áp dụng thuộc lòng bài học về NHỮNG BIỆN PHÁP CHÍNH TRỊ TÀI CHÁNH TỪ Âu, Mỹ cho Việt Nam sẽ mang đến những hệ quả tàn hại cho Kinh tế Việt Nam. Chúng tôi ví quyết định của Ngân Hàng Nhà Nước VN mới đây như việc lấy miếng VẢI MỚI Âu, Mỹ để vá chiếc VÁY ĐỤP Mác-Lê đã mục nát. Muốn cải tổ thực tình mô hình Kinh tế Việt Nam, trước hết phải vất bỏ chiếc váy đụp mục nát Mác-Lê đi và dùng vải Âu, Mỹ may toàn diện một chiếc váy mới. Sau đó mới có thể sử dụng NHỮNG BIỆN PHÁP CHÍNH TRỊ TÀI CHÁNH học được từ Âu, Mỹ.


BIỆN PHÁP CHÍNH TRỊ TÀI CHÁNH (1):
GIẢM LÃI SUẤT: TĂNG TỐC TỤT GIỐC KINH TẾ VIỆT NAM VÀO HUYỆT ?

  
Từ cuối năm 2011 và nhất là đầu năm 2012, Ngân Hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Hội những Nhà Đầu tư đều lên tiếng thôi thúc Việt Nam cũng như Trung quốc phải Cải tổ tận căn nguyên mô hình Kinh tế đang tụt giốc trầm trọng đà phát triển của hai nước. Tìm hiểu căn nguyên của tụt giốc Kinh tế, chúng tôi đã viết nhiều bài nói rằng đó chính là THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ phát sinh và lan tràn như giòi bọ trong Cơ chế chủ trương độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế. Cải tổ tận căn nguyên, tức là dứt bỏ chủ trương Cơ chế như vậy. Nếu Cơ chế vẫn còn chủ trương độc tài Chính trị nắm độc quyền Kinh tế thì giòi bọ vẫn lan tràn ăn ruỗng Kinh tế. Nếu không dứt bỏ Cơ chế, thì tất cả những biện pháp Chính trị Kinh tế (Politiques Economiques) chỉ là vá váy đụp hời hợt.
Chúng tôi chờ đợi việc cải tổ mô hình Kinh tế Việt Nam xem có đi vào tận căn nguyên hay không. Trong tuần này, chúng tôi đọc được Bản Tin về việc hạ Lãi suất ngân hàng ở Việt Nam như biện pháp Chính trị Kinh tế cứu vãn việc tụt giốc. Theo phân tích tình trạng khủng hoảng Kinh tế không những tại Việt Nam mà còn toàn cầu, chúng tôi thấy rằng việc giảm Lãi suất của Việt Nam không những không phải là biện pháp cứu nguy Kinh tế, mà còn đạp thêm ga để chiếc xe Kinh tế mục nát CSVN đang tụt giốc lao nhanh hơn vào tử huyệt.
 

Tình trạng mục nát, tụt giốc Kinh tế hiện nay.
 
Bản Tin của VietBao tuần này tóm tắt tình trạng mục nát, tụt giốc Kinh tế trầm trọng của Việt Nam. Bản Tin viết:
“HANOI — Kinh tế khủng hoảng, dân cạn tiền tới mức nước mắm cũng không mua nổi.
Trang báo chuyên về kinh doanh VEF loan bản tin nêu rõ trên tựa đề: “Kinh doanh sụt giảm: Từ ôtô đến nước mắm.”Bản tin VEF cho biết, hàng tồn kho đang là mối đe dọa lớn nhất đến các DN. Vấn nạn lan tràn từ các ngành công nghiệp lớn như ô tô, xe máy đến những mặt hàng thiết yếu như… nước mắm. Sản xuất kinh doanh đang bế tắc và kinh tế chưa thể sớm thoát khó khăn.
“Trao đổi mới đây, ông Cao Sỹ Kiêm, Chủ tịch Hiệp hội DN nhỏ và vừa nhấn mạnh, vấn đề khó khăn nhất của các DN hiện nay là bí đầu ra. Bây giờ với nhiều mặt hàng thiết yếu người dân cũng không có tiền mua.”
Thê thảm là  nước mắm cũng ứ đọng.
Bản tin VEF ghi nhận từ Hiệp hội nước mắm Nha Trang cho biết, các DN sản xuất nước mắm tại Nha Trang cũng đang phải giảm sản xuất. Cho dù phải thắt chặt chi tiêu, người tiêu dùng cũng phải mua nước mắm cho bữa ăn hàng ngày. Vậy mà trên thực tế, mặt hàng này cũng không tránh khỏi tình trạng tiêu thụ giảm sút. Tại Nha Trang, có nhiều DN nước mắm phải sản xuất cầm chừng từ đầu năm đến nay, nguyên nhân không gì khác là sức tiêu thụ chậm, sản phẩm ứ đọng.
Bản tin cho biết, theo bản khảo cứu của Ngân hàng HSBC, kinh tế VN đang cọ cụm, vì chỉ số PMI đã thấp hơn 50 điểm. Con số trên 50 điểm là tăng.
Bản tin viết, Chỉ số PMI (nhà quản trị mua hàng – Purchasing Managers Index) tháng 5/2012 do Ngân hàng HSBC công bố cho thấy điều kiện kinh doanh của ngành sản xuất tại Việt Nam vẫn đang xấu đi. Theo báo cáo này, chỉ số PMI ngành sản xuất đã giảm từ mức 50 điểm vào tháng 3 xuống còn 49,5 điểm vào tháng 4 và tiếp tục giảm xuống còn 48,3 điểm trong tháng 5/2012.
HSBC cho biết, những DN tham gia khảo sát cho rằng, nhu cầu trên thị trường đã giảm khá mạnh do người dân thực hiện tiết kiệm, thắt chặt chi tiêu. Bắt đầu từ các siêu thị, doanh số giảm đi vì người dân giảm sức mua, siêu thị hạn chế nhập hàng, khiến cho các nhà sản xuất hàng tiêu dùng cũng phải giảm năng lực sản xuất, nguồn cung phải giảm nếu không muốn lượng hàng tồn kho tăng lên.
            “Hiện nay, tình trạng sản xuất đang giảm được ghi nhận ở hầu hết các ngành hàng từ dệt – may, giấy, da giày, nhựa, ô tô, xe máy, thép điện tử… Ngành dệt may, dù bước vào mùa cao điểm trong năm nhưng phần lớn các DN vẫn đang gặp khó khăn trong việc tìm kiếm đơn hàng. Hiệp hội Dệt may Việt Nam được biết, trước đây khi vào mùa vụ, các DN có thể thoải mái lựa chọn đối tác để làm nhưng nay thì ngược lại. Nhiều DN dệt may lớn, lượng đơn hàng giảm khoảng 5-10% so với cùng kỳ, còn DN nhỏ có thể thiếu hụt trên 10% đơn hàng.
Các ngành sản xuất khác như: xi măng, thép, ô tô, xe máy, thiết bị điện, thiết bị xây dựng… thì sản xuất đã giảm quá mạnh từ đầu năm tới nay. Nhiều ngành hàng giờ chỉ còn sản xuất chừng 50-60% công suất. Những ngành có lượng hàng tồn kho cao là đường ăn, sắt thép, xi măng, ô tô và xe máy… Đến xăng dầu cũng tồn kho là 106.000 tấn, cho dù Nhà máy lọc dầu Dung Quất đã tạm ngừng hoạt động để kiểm tra.
Thực tế đang cực kỳ bi thảm, theo lời một nhà quan sát, rằng đây là lần đầu tiên kể từ thời kỳ đổi mới, dân  nghèo tới mức không có tiền mua nước mắm. Nghĩa là thất nghiệp đã trở thành hiện tựơng quan ngại. (VietBao)
 
Trong lúc tụt giốc như vậy, CSVN hạ Lãi suất như biện pháp cứu nguy Kinh tế
 
Bản Tin của SBTN viết:
“Tin Hà Nội - Trở lại với những tin từ Việt Nam, hôm qua Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam ra lệnh cho hệ thống ngân hàng thương mại hạ lãi suất ký thác tiết kiệm mà Việt Nam gọi là lãi suất huy động, thêm 2% cũng như giảm lãi suất tín dụng nhằm kích thích nền kinh tế vượt ra khỏi trì trệ. Quyết định giảm lãi suất được đưa ra sau nhiều báo cáo nói hơn chục ngàn công ty lớn nhỏ tại Việt Nam đã nộp đơn thông báo ngừng hoạt động chỉ trong mấy tháng đầu năm nay, không kể nhiều chục ngàn công ty khác ngừng hoạt động nhưng không thông báo.
Khi loan báo giảm lãi suất ở Quốc Hội, nhân vật này biện bạch là lãi suất quá cao hiện nay không phục vụ nhu cầu tín dụng của các doanh nghiệp. Nền kinh tế Việt Nam đình đốn khắp nơi vì nhiều công ty không vay được tiền để sản xuất hoặc kinh doanh. Nhiều công ty cũng không dám vay vì lãi suất tín dụng quá cao.
Chế độ Hà Nội bị buộc phải tăng lãi suất để đối phó với lạm phát nặng nhất Á Châu theo các khuyến cáo của các nhà tài trợ quốc tế. Tổng sản lượng quốc gia GDP của Việt Nam chỉ tăng được 4% trong quý đầu năm nay, mức thấp nhất từ 3 năm qua. Dự trù nền kinh tế chỉ tăng trưởng khoảng 5.2% cho năm nay, theo lời Thứ trưởng Kế Hoạch và Đầu Tư nói với báo chí trong tuần này. Hành động hạ lãi suất của nhà cầm quyền Hà Nội tương tự như hành động của nhà cầm quyền Bắc Kinh mới đây. Bắc Kinh đã không thay đổi lãi suất suốt 4 năm qua.(SBTN) (Posted on 13 Jun 2012)
 
Từ nhận định sai lầm về tình trạng tụt giốc Kinh tế đến quyết định vá víu của biện pháp tài chánh
 
CSVN ngoài lý do căn bản tụt giốc Kinh tếcủa Cơ chế CSVN hiện hành mà chúng tôi luôn luôn nhấn mạnh trong nhiều bài viết, đó là THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ ăn ruỗng những Tập đoàn Kinh tế quốc doanh, chúng tôi muốn phân tích những lý do đang làm độ phát triển Kinh tế chỉ còn 5.2% và tình trạng tồn đọng hàng hóa sản xuất khiến các xí nghiệp, cả quốc doanh lẫn tư doanh, phải từ từ đóng cửa. Khi phân tích kỹ những lý do này, người ta sẽ thấy ngay rằng biện pháp hạ Lãi suất của CSVN chỉ là vá víu, thậm chí còn làm tăng tốc độ tụt giốc của Kinh tế VN.
           
Phân tích những lý do tụt giốc
           
            Kinh tế Việt Nam cũng như Trung quốc lệ thuộc vào xuất cảng. Tình trạng co cụm sản xuất và và hàng hóa ứ đọng tồn kho là do luật CUNG và CẦU. Chính phía CẦU là động lực cho sản xuất (CUNG). Phía CẦU lệ thuộc chính yếu vào Mãi lực tiêu thụ. Nhìn như vậy, chúng ta thấy những lý do trực tiếp sau đây làm tụt giốc Kinh tế VN và TQ:
=>       Tình trạng khủng hoảng Kinh tế của hai Thị trường lớn như Hoa kỳ và Liên Aâu làm cho Thất nghiệp tăng vọt. Mãi lực của dân chúng Hoa kỳ và Liên Aâu giảm hẳn xuống. Do đó việc đặt mua hàng Trung quốc và Việt Nam tất nhiên giảm xuống và làm cho hàng hóa TQ và VN  không xuất cảng nổi để phải tồn đọng. Thêm vào đó, Nợ công của Hoa kỳ và Liên Aâu khiến hai khối Thị trường này phải đưa ra những biện pháp tiết kiệm, nghĩa là giảm tiêu thụ. Thất nghiệp làm Mãi lực dân chúng giảm và Nợ công khiến các quốc gia phải tiết kiệm. Tất cả trong chiều hướng cắt đi phía CẦU những hàng hóa sản xuất từ Trung quốc và Việt Nam.
=>       Mãi lực dân chúng nội địa của Trung quốc và Việt Nam rất ít ỏi để có thể trợ lực cho phía CẦU nội địa. Trong khi ấy, vì muốn bảo vệ danh dự của Cơ chế, Trung quốc và Việt Nam gồng mình giữ độ phát triển và mức CUNG dồi dào. Mãi lực quốc tế giảm và Mãi lực nội địa không có, thì khó lòng giữ thăng bằng được giữa CUNG và CẦU. Do đó hàng tồn kho là hậu quả.
=>       Các Thị trường lớn Hoa kỳ và Liên Aâu nay đã ý thức rằng tình trạng Thất nghiệp tại nước họ là do hậu quả của việc lan tràn hàng hóa Trung quốc. Chính vì vậy, để bảo vệ cho sản xuất của chính mình, Hoa kỳ, nhất là Liên Aâu đưa ra những Biện pháp Bảo Hộ Mậu dịch. Đây là việc càng làm giảm thiểu đi phía CẦU nhập cảng hàng từ Trung quốc và Việt Nam.
=>       Đặc biệt Việt Nam, ngoài việc giảm CẦU do Mãi lực tiêu thụ quốc tế và quốc nội, Việt Nam còn bị hàng tồn đọng từ Trung quốc tràn xuống để giết chết sản xuất tại sân nhà. Để cứu sản xuất nội địa, các quốc gia phải ngăn cản nhập cảng hàng nước ngoài, trong khi ấy, Việt Nam bị tràn ngập hàng Trung quốc để cạnh tranh với chính hàng sản xuất nội địa.
            Phân tích những lý do gắn liền với Mãi lực và phía CẦU như vậy, chúng ta mới thấy rằng Biện pháp Giảm Lãi xuất của CSVN chỉ là vá víu, thậm chí còn làm tăng tốc độ tụt giốc Kinh tế nữa.
 
Vá víu của việc giảm Lãi suất
 
Theo Bản Tin của SBTN về quyết định giảm Lãi suất, Ngân Hàng Nhà Nước VN đã nhìn sai lầm về những lý do làm tụt giốc Kinh tế:
“Khi loan báo giảm lãi suất ở Quốc Hội, nhân vật này biện bạch là lãi suất quá cao hiện nay không phục vụ nhu cầu tín dụng của các doanh nghiệp. Nền kinh tế Việt Nam đình đốn khắp nơi vì nhiều công ty không vay được tiền để sản xuất hoặc kinh doanh. Nhiều công ty cũng không dám vay vì lãi suất tín dụng quá cao.”
Ngân Hàng Nhà Nước cố tình cắt nghĩa việc tụt giốc là thiếu vốn vì lãi suất quá cao, mà không nhìn những lý do thuộc Kinh tế, đó là việc giảm CẦU từ quốc tế đến quốc nội. Vì cố tình nhìn sai lầm về những lý do tụt giốc Kinh tế, nên Ngân Hàng Nhà nước đưa ra biện pháp Tài chánh là giảm Lãi suất, nghĩa là Giá Tín dụng rẻ để các xí nghiệp có thể vay vốn tăng sản xuất (CUNG). Những lý do làm tụt giốc Kinh tế là từ phía CẦU chứ không từ phía CUNG. Ngân Hàng đã tuyên bố một cách dõng dạc trong nhận định sai lầm của mình:
“Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam ra lệnh cho hệ thống ngân hàng thương mại hạ lãi suất ký thác tiết kiệm mà Việt Nam gọi là lãi suất huy động, thêm 2% cũng như giảm lãi suất tín dụng nhằm kích thích nền kinh tế vượt ra khỏi trì trệ.”
Như vậy, theo Ngân Hàng Nhà Nước, việc giảm Lãi xuất tín dụng là “nhằm kích thích nền kinh tế vượt ra khỏi trì trệ”.  Bài học giảm Lãi suất để giá vốn rẻ mà kích thích đầu tư sản xuất là bài học áp dụng cho những nước đã có sẵn Thị trường Tiêu thụ quốc tế cũng như quốc nội. Bài học này áp dụng cho Kinh tế Việt Nam không những không có hiệu quả mà có thể còn sai trật vì Thị trường Tiêu thụ nước ngoài mình không làm chủ được và Thị trường Tiêu thụ trong nước bị cạn kiệt Mãi lực.
 
Cái nguy hiểm của tăng vốn sản xuất (CUNG)
 
Cuộc đại Khủng hoảng Kinh tế 1929-30 là hậu quả của việc sản xuất quá nhiều sau khi các xí nghiệp thi nhau đầu tư cơ giới hóa sản xuất. Chính là khủng hỏa của SURPRODUCTION. Hàng hóa được sản xuất quá nhiều, nghĩa là CUNG tăng vọt, mà tiêu thụ yếu kém đi, nghĩa là CẦU giảm xuống.Tình trạng chênh lệch CUNG—CẦU này đã dẫn đến cơn xoáy Giảm giá (Spirale déflationniste) khiến các xí nghiệp thay vì tăng sản xuất, phải thiêu hủy đi những hàng đã sản xuất và tồn kho. Biện pháp Kinh tế mà KEYNES đề nghị cho thời này là phải làm hết cách để tăng Mãi lực Tiêu thụ (CẦU), chứ không phải là tăng sản xuất (CUNG).
Việc Trung quốc sản xuất quá nhiều đang làm Thế giới lo ngại một tình trạng giảm giá dẫn đến cơn xoáy giảm giá làm sạt nghiệp phía sản xuất.
Những lý do tụt giốc Kinh tế Việt Nam là từ phía CẦU, trong khi ấy Ngân Hàng Nhà Nước muốn cứu tụt giốc, lại hành động tăng phía CUNG, nghĩa là tăng vốn cho các xí nghiệp sản xuất nhiều thêm nữa để cuối cùng dẫn đến tình trạng hàng tồn kho chất chồng không bán được để các xí nghiệp phải hốt đổ đi trước khi đóng cửa xí nghiệp. Chúng tôi cũng xin thêm rằng phần lớn những xí nghiệp là quốc doanh. Khi mà tăng vốn sản xuất cho các xí nghiệp quốc doanh bằng hạ Lãi xuất, thì những vốn tăng thêm, thay vì sản xuất, lại thất thoát do THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ như Vinashin, Vinalines… mà Nhà nước không thu lại vốn được.
 

 

BIỆN PHÁP CHÍNH TRỊ TÀI CHÁNH (2):
GIỮ LÃI SUẤT CAO: MƯU THU TIẾT KIỆM CỦA DÂN VÀ HỆ QUẢ TÀN PHÁ KINH TẾ VN
 
Từ cuối năm 2011, CSVN bị quốc tế thôi thúc phải cải tổ mô hình Kinh tế từ căn nguyên. Chúng tôi đã viết nhiều bài cho thấy rằng việc cải tổ từ căn nguyên đòi phải dứt bỏ cái Cơ chế chủ trương độc tài Chính trị nắm Độc quyền Kinh tế bởi vì chính cái Cơ chế làm phát sinh và lan tràn THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ tàn phá mọi sinh hoạt Kinh tế. Nhưng cho tới nay, CSVN vẫn khăng khăng giữ lấy Cơ chế như vậy để thu vét tiền bạc cho riêng đảng. Họ chỉ đưa ra những BIỆN PHÁP  CHÍNH TRỊ TÀI CHÁNH (Politiques Financìeres) nhằm vá víu mô hình Kinh tế cũ như vá váy đụp.
Những ngày gần đây, trong khuôn khổ những BIỆN PHÁP CHÍNH TRỊ TÀI CHÁNH, Ngân Hàng Nhà Nước đưa ra biện pháp như Giảm Lãi Suất đã giữ quá cao trong một thời gian dài, rồi biện pháp thu mua nợ xấu. Tuần trước, ngày 14.06.2012, chúng tôi đã viết về biện pháp thứ nhất: GIẢM LÃI SUẤT: TĂNG TỐC TỤT GIỐC KINH TẾ VN VÀO HUYỆT ? (xin phổ biến lại kèm dưới đây  liền sau bài này). Tuần này, 21.06.2012, chúng tôi viết về biện pháp thứ hai: GIỮ LÃI SUẤT CAO: MƯU THU TIẾT KIỆM CỦA DÂN VÀ HỆ QUẢ TÀN PHÁ KINH TẾ. Tuần sau, 28.06.2012, chúng tôi sẽ viết về biện pháp thứ ba: THU MUA NỢ XẤU: MOI TỪNG XU CỦA QUẦN CHÚNG ĐỂ CỨU TIỀN TỈ CỦA GIỚI GIẦU !
Trở lại Biện pháp Tài chánh thứ hai GIỮ LÃI SUẤT CAO: MƯU THU TIẾT KIỆM CỦA DÂN VÀ HỆ QUẢ TÀN PHÁ KINH TẾ mà CSVN đã giữ trong một thời gian dài làm bại hoại Kinh tế, chúng tôi muốn phân tích những khía cạnh sau đây:
=>       Hệ quả tàn phá Kinh tế hiện hành
=>       Biện pháp chống Lạm phát hay mưu toan thu góm Tiết kiệm của Dân
=>       Trách nhiệm phá sản Kinh tế là thuộc Nhà Nước
 
Hệ quả tàn phá Kinh tế hiện hành
 
Trong một thời gian dài, CSVN đã cố tình giữ Lãi suất thiệt cao. Tình trạng phá sản Kinh tế lúc này là hệ quả của chủ trương giữ lãi suất thiệt cao ấy. Tình  trạng phá sản Kinh tế  được những Bản Tin sau đây phổ biến:
Bản Thin thứ nhất:
“CSVN TUỘT HẠNG VỀ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH 2012
“Tin Hà Nội - Trong cuộc họp với giới đầu tư ngoại quốc trước khi có cuộc họp giữa kỳ về tình hình tài trợ giúp Việt Nam thoát nghèo, bản phúc trình của Ngân Hàng Thế giới nói CSVN tụt 8 hạng, chỉ xếp hạng 98 trên tổng số 183 nước được xếp hạng về Môi trường kinh doanh 2012. Nước Việt Nam là nước duy nhất tại Á Châu bị tụt hạng về môi trường đầu tư 2012. World Bank cảnh cáo cần cải thiện môi trường đầu tư nếu không muốn giới đầu tư ngoại quốc lũ lượt bỏ chạy.
Nam Dương từ vị trí 20 trong năm 2010 đã lên hạng 9 trong bảng xếp hạng năm 2011. Mã Lai từ vị trí 21 leo lên hạng 10. Hai ví dụ này cho thấy tình hình và chính sách đầu tư tương phản giữa Việt Nam với các nước khác trong khu vực. Bản tin chính thức của Bộ Kế Hoạch và Ðầu Tư CSVN nói trong 4 tháng đầu năm 2012, chỉ có khoảng 4 tỉ đô la đăng bộ từ giới đầu tư ngoại quốc, giảm gần 48% so với năm ngoái.(SBTN -- Posted on 14 Jun 2012)
Bản Tin thứ hai:
“NHIỀU NHÀ ĐẦU TƯ NGOẠI QUỐC BỎ CHẠY KHỎI VIỆT NAM
“Tin Hà Nội - Không những các vụ đầu tư mới mỗi ngày mỗi giảm nhanh, các công ty ngoại quốc đã đầu tư sản xuất tại Việt Nam còn tìm đường chạy qua những nước khác. Một bản phúc trình của Cục Đầu Tư Nước Ngoài thuộc Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư Hà Nội mô tả tình trạng èo uột trong việc thu hút vốn FDI trong 5 tháng đầu năm 2012 với kết quả chỉ có 82 lượt dự án tăng vốn với tổng vốn tăng thêm 1.2 tỉ đô-la, giảm 48% so với cùng kỳ năm 2011 của các công ty đang hoạt động sản xuất tại Việt Nam.
Trong khi đó, các nước trong khu vực như Singapore, nếu doanh nghiệp mở rộng sản xuất vẫn được hưởng ưu đãi như dự án ban đầu. Vì thế nhiều doanh nghiệp FDI đã chọn địa điểm đầu tư cho dự án mới ở nước khác, ngay cả việc dời nhà máy ở Việt Nam đi cùng với dự án mới. Một báo cáo của Phòng Thương Mại Âu Châu tại Việt Nam tức EuroCham mới đây nói gần 1/3 doanh nghiệp trong cuộc khảo sát này đang cân nhắc giảm đầu tư. 28% doanh nghiệp tìm cách giảm đầu tư tổng thể tại Việt Nam. Khảo sát này được cho là khá quan trọng, vì thông qua đánh giá của hơn 750 doanh nghiệp Châu Âu đang làm ăn tại Việt Nam là thành viên của EuroCham. Theo nhận định của Phòng Thương Mại Mỹ tại Việt Nam nói việc mất khả năng cạnh tranh của Việt Nam so với các nước láng giềng có thể dẫn đến mất các dự án FDI hiện hữu cũng như mất hàng triệu việc làm tại Việt Nam. Chính sách hấp dẫn đầu tư ngoại quốc hay thay đổi trong khi lạm phát cao, luật lệ tròng tréo mù mờ tạo cơ hội cho quan chức vòi vĩnh hối lộ.
Trong khi đó điện thì chập chờn hay bị cắt vào mùa hè, đường giao thông vừa thiếu vừa nhỏ. Đã vậy, các kỹ nghệ chính cần rất nhiều kỹ nghệ phụ trợ nhưng Việt Nam lại không khuyến khích những hoạt động cần thiết này, nhất là dịch vụ Internet bị tường lửa của đảng CSVN gây cản trở.(SBTN -- Posted on 14 Jun 2012)
Bản Tin thứ ba:
“NỬA TRIỆU CÔNG NHÂN BỊ ẢNH HƯỞNG VÌ HÀNG DỆT MAY & GIẦY DA CỦA VN XUẤT CẢNG SANG ÂU CHÂU GIẢM NHANH
“HÀ NỘI.-Đài phát thanh quốc tế Pháp trích thuật một nguồn tin từ Việt Nam cho biết đã ba tháng liên tiếp, hàng dệt may của Việt Nam xuất cảng sang châu Âu liên tục giảm, và tình hình này còn có thể kéo dài đến năm 2013. Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam, đơn hàng từ châu Âu đã giảm khoảng 20%, và hiện có khoảng nửa triệu công nhân ngành này hoặc bị mất việc, giảm lương, hoặc phải làm việc khác.
Bên cạnh đó, tình hình xuất cảng các mặt hàng da giày lại càng ít sáng sủa, vì lệ thuộc nhiều vào thị trường châu Âu. Trong cuộc phỏng vấn với đài quốc tế Pháp, ông Diệp Thành Kiệt, Phó chủ tịch Hiệp hội Dệt May Thêu Đan có văn phòng ở Sài Gòn cho biết hiện nay những quốc gia nhập cảng hàng dệt may và da giầy của Việt Nam đang gặp phải những khó khăn về tài chánh và kinh tế, nên việc họ giảm chi tiêu hay không còn chi tiêu như trước nữa là điều có thể hiểu được.
CS Việt Nam xuất cảng sang Âu châu nhiều nhất là hai mặt hàng này cho nên bị ảnh hưởng nặng. Tuy nhiên ông Diệp Thành Kiệt cho biết ông không có con số chính xác về các doanh nghiêp dệt may và da giầy nào của Việt Nam phải đóng cửa, nhưng theo chiều hướng giảm tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, ông ước lượng có thể có đến 47,000 doanh nghiệp đủ loại mặt hàng phải đóng cửa.(SBTN -- Posted on 19 Jun 2012)
 
Biện pháp chống Lạm phát hay mưu toan thu góm Tiết kiệm của Dân
 
Đặc biệt trong những năm 2010-2011, vật giá leo thang máy và Lạm phát tăng phi mã tới hai con số (23%). Việt Nam là nước đặc biệt trong khu vực có Lạm phát cao như vậy. Nhưng Nhà Nước, để bịt mắt Dân, đã cố tình cắt nghĩa Lạm phát bằng những lý do có tính cách thời cuộc chung cho mọi nước như: lý do Khủng hoảng Tài chánh/Kinh tế Thế giới, lý do xăng dầu lên cao, lý do cách mạng hoa nhài làm mất ổn định tại Bắc Phi và Trung đông gồm những nước sản xuất dầu thô… Nhưng tại sao, với những lý do chung chung này, Việt Nam lại có Lạm phát tăng cao đặc biệt hơn các nước khác trong vùng ? Chúng tôi đã viết nhiều bài cắt nghĩa Lạm phát cao đặc biệt của Việt Nam với những nguyên do sau đây:
1)         Đứng về phương diện lưu hành vốn: Vì THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ, số vốn Nhà Nước đổ ra quá nhiều cho các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh. Vốn đổ ra nhiều như gió thổi vào nhà trống vậy. Số vốn lưu hành nhiều làm Lạm phát tăng vọt.
2)         Đứng về phương diện hiệu quả sản xuất Kinh tế thực: Nếu số vốn đổ ra cho các Tập đoàn Kinh tế quốc doanh có được tương đương hiệu lực sản xuất Kinh tế, thì lượng hàng hóa, dịch vụ sản xuất đi song song với số vốn lưu hành, Lạm phát sẽ không tăng. Nhưng khi vốn lưu hành tăng vọt, mà sản xuất hàng hóa và dịch vụ lại tụt giốc, thì khoảng cách Vật giá khơi rộng.
3)         Đứng về phương diện Tiền tệ: Nhà Nước lấy quyền độc tài để định giá Tiền tệ và cho lưu hành Tiền tệ. Khi Ngân sách Nhà Nước thiếu hụt và để có vốn cung cấp cho những Tập đoàn Kinh tế quốc doanh, Nhà Nước có thể phát hành và cho lưu hành Tiền mới in ra mà không cần phải qua chu trình sản xuất Kinh tế thực. Đây là Lạm phát tiền tệ. Trong những năm qua, CSVN đã nhiều lần phá giá đồng bạc Việt Nam.
Trước tình trạng thiếu hụt Ngân sách và dự trữ ngoại tệ không đủ để trả nhập siêu trong vòng một tháng, Nhà Nước CSVN phải nghĩ đến moi thu số vốn tiết kiệm từ Dân chúng. Nhà Nước đã tung ra những biện pháp sau đây:
=>       Kiểm soát chặt chẽ lưu hành ngoại tệ trong nước, thậm chí cả những nhập nội ngoại tệ.
=>       Nhà nước cấm cản tư nhân buôn bán vàng lá và dành quyền thương mại này cho Nhà nước.
Cả hai biện pháp trên đây nhằm kiểm soát và thu lấy số vốn tiết kiệm của người Dân. Chính trong mục đích muốn thu lấy vốn tiết kiệm của người Dân, mà Ngân Hàng Nhà Nước đưa ra BIỆN PHÁP TÀI CHÁNH: TĂNG LÃI SUẤT THIỆT CAO. Việc tăng Lãi suất này được Nhà Nước mỵ dân tráo trở cắt nghĩa là chống Lạm phát, nhưng thực chất là nhằm khuyến dụ người Dân đem vốn tiết kiệm gửi vào Ngân Hàng cho Nhà Nước để có thể Nhà Nước phá giá đồng bạc Việt Nam nhằm ăn cướp vốn tiết kiệm ấy. Nhưng Dân chúng Việt Nam không còn tin tưởng ở một Nhà Nước chuyên môn mưu mô cướp dựt nữa, nên đã không ồ ạt ham Lãi suất cao mà nộp Tiền tiết kiệm cho Nhà Nước. Nhà Nước giữ LÃI SUẤT CAO trong một thời gian khá dài  nhằm lừa đảo thu tiết kiệm của Dân.
 
Trách nhiệm phá sản Kinh tế là thuộc Nhà Nước
 
Giữ LÃI SUẤT CAO trong một thời gian khá dài nhằm lừa đảm tiết kiệm của Dân, nhưng Dân khôn hơn Nhà Nước CSVN, nên không bị mắc lừa. Ngược lại Biện pháp Tài chánh giữ LÃI SUẤT CAO lại vận trở lại mang hệ quả tàn hại cho Kinh tế mà Nhà nước đứng chủ đạo qua những Tập đoàn Kinh tế quốc doanh, để rồi từ đó hệ quả lan tràn phá sản sinh hoạt Kinh tế cả nước. Đó là tình trạng phá sản Kinh tế mà chúng tôi đã trích dẫn ra ở phần đầu bài này qua những Bản Tin phổ biến.
Trách nhiệm việc phá sản Kinh tế Việt Nam như nói ở phần đầu là do BIỆN PHÁP TÀI CHÁNH cố thủ giữ LÃI SUẤT CAO của Nhà Nước. Không phải là chính chúng tôi dùng lý luận của riêng mình để khẳng định cho Nhà Nước trách nhiệm ấy, mà chính Ngân Hàng Nhà Nước đã phải tự thú tội của mình trước Quốc Hội.
Bản Tin của SBTN viết:
“Tin Hà Nội - Trở lại với những tin từ Việt Nam, hôm qua Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam ra lệnh cho hệ thống ngân hàng thương mại hạ lãi suất ký thác tiết kiệm mà Việt Nam gọi là lãi suất huy động, thêm 2% cũng như giảm lãi suất tín dụng nhằm kích thích nền kinh tế vượt ra khỏi trì trệ. Quyết định giảm lãi suất được đưa ra sau nhiều báo cáo nói hơn chục ngàn công ty lớn nhỏ tại Việt Nam đã nộp đơn thông báo ngừng hoạt động chỉ trong mấy tháng đầu năm nay, không kể nhiều chục ngàn công ty khác ngừng hoạt động nhưng không thông báo.
Khi loan báo giảm lãi suất ở Quốc Hội, nhân vật này biện bạch là lãi suất quá cao hiện nay không phục vụ nhu cầu tín dụng của các doanh nghiệp. Nền kinh tế Việt Nam đình đốn khắp nơi vì nhiều công ty không vay được tiền để sản xuất hoặc kinh doanh. Nhiều công ty cũng không dám vay vì lãi suất tín dụng quá cao.
Đây là lời tuyên bố TỰ NHẬN TRÁCH NHIỆM của Ngân Hàng Nhà Nước đã tàn phá Kinh tế Việt Nam bằng biện pháp tài chánh GIỮ LÃI SUẤT QUÁ CAO trong một thời gian dài vậy.
 

 
BIỆN PHÁP CHÍNH TRỊ TÀI CHÁNH (3):

THU MUA NỢ XẤU: MOI TỪNG XU CỦA QUẦN CHÚNG ĐỂ CỨU TIỀN TỈ CỦA GIỚI GIẦU !
 

Từ cuối năm 2011 và nhất là những tháng đầu của 2012, chúng tôi chờ đợi những quyết định cải tổ Mô hình Kinh tế XHCN tận căn nguyên mà Ngân Hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Hiệp Hội những Nhà Đầu tư thôi thúc hai Mô hình Kinh tế XHCN Trung quốc và Việt Nam phải làm. Theo chúng tôi, tận căn nguyên ở đây là phải bỏ chủ trương Độc tài Chính trị nắm Độc quyền Kinh tế. Đây là việc khó khăn cho độc đảng cầm quyền vì hai lý do chính:
=>       Nếu tách rời Chính trị Nhà nước ra khỏi Kinh tế, thì những người cầm quyền không còn chỗ mà Tham nhũng, Lãng phí, nghĩ là “có tiếng mà không có miếng !”
=>       Nếu chủ trương thực sự Dân chủ hóa Kinh tế cho dân chúng, thì dân chúng sẽ giầu lên và dân chúng đòi buộc Dân chủ hóa Chính trị.
Chính vì những khó khăn này, mà đảng CSVN chỉ đưa ra những biện pháp thoa bóp hời hợt căn bệnh mà chúng tôi gọi là cách thế vá váy đụp cho Mô hình Kinh tế. Trong những tuần gần đây, chúng tôi đã viết về hai biện pháp Tài chánh của Ngân Hàng Nhà Nước với những hậu quả của nó lên Kinh tế: (i) GIẢM LÃI SUẤT: TĂNG TỐC TỤT GIỐC KIN TẾ VN VÀ HUYỆT; (ii) GIỮ LÃI SUẤT CAO: MƯU THU TIẾT KIỆM CỦA DÂN VÀ HỆ QUẢ TÀN PHÁ KINH TẾ VN (Chúng tôi đăng kèm hai bài viết này dưới đây).
Hôm nay, chúng tôi viết về BIỆN PHÁP CHÍNH TRỊ TÀI CHÁNH thứ ba: MUA NỢ XẤU:MOI TỪNG XU CỦA QUẦN CHÚNG ĐỂ CỨU TIỀN TỈ CỦA GIỚI GIẦU.
 
Bản Tin về quyết định Mua Nợ Xấu
 
Chúng tôi xin trích lại Bản Tin sau đây của Mặc Lâm:
“Mua nợ xấu” ai là người hưởng lợi?
Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok
2012-06-14
Mới đây Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã đăng đàn trước Quốc hội cho biết là NHNN đang phối hợp với các bộ ngành để thành lập một công ty mua bán nợ quốc gia, trước mắt là xử lý hơn 100 ngàn tỷ nợ xấu của các ngân hàng thương mại. Mặc Lâm có thêm chi tiết sau đây.
Thống đốc Nguyễn Văn Bình cho biết kế hoạch mua nợ xấu có mục đích lành mạnh hóa bảng cân đối tài sản của các ngân hàng thương mại và từ đó giúp cho ngân hàng yếu kém có thêm vốn để tháo gỡ sự ngưng trệ lưu chuyển giòng vốn hiện nay.
Sự thúc bách của viễn cảnh phá sản Thực ra những trình bày của Thống đốc Nguyễn Văn Bình có thể hiểu sâu hơn nếu nhìn lại tình trạng phá sản của hơn 73 ngàn doanh nghiệp và hàng chục ngàn doanh nghiệp khác đang có nguy cơ. Mặc dù cho tới lúc này chưa có ngân hàng nào chính thức tuyên bố phá sản khi tình trạng suy nhược của rất nhiều ngân hàng thương mại đã được báo động.
Theo báo cáo mới nhất của Trung tâm Nghiên cứu và Chính sách (VEPR) cho biết thì tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng thương mại cao gấp 3 tới 4 lần số liệu mà ngân hàng nhà nước công bố.
Tỷ lệ phần trăm số nợ xấu mà VEPR đưa ra giao động từ 8,25 cho tới 14% trong khi đó Thống đốc Nguyễn Văn Bình cho biết tính tới cuối năm thì số nợ xấu là 3,6%. Con số chênh lệch quá lớn này gây lo ngại cho giới đầu tư vì nợ xấu phản ảnh trung thực tình trạng tài chánh của một quốc gia.
Kế hoạch mua nợ xấu là cách ngăn chặn sự phá sản hàng loạt của ngân hàng và sự phá sản đó chắc chắn sẽ kéo theo khủng hoảng tài chánh vốn là con dao bén có thể hạ gục một nền kinh tế bất kể nó lớn cỡ nào. Hai lĩnh vực bất động sản và chứng khoán được đánh giá là đang có những món nợ xấu chiếm tỷ trọng rất lớn trong tình hình hiện nay
VEPR cho biết tính toán vừa nêu dựa trên 41 ngân hàng thương mại và không tính tới hai con nợ lớn hiện đang thoi thóp là Vinashin và Vinalines cũng như hàng chục doanh nghiệp nhà nước khác có tình trạng tài chánh yếu kém tương tự.
Kế hoạch mua nợ xấu là cách ngăn chặn sự phá sản hàng loạt của ngân hàng và sự phá sản đó chắc chắn sẽ kéo theo khủng hoảng tài chánh vốn là con dao bén có thể hạ gục một nền kinh tế bất kể nó lớn cỡ nào. Hai lĩnh vực bất động sản và chứng khoán được đánh giá là đang có những món nợ xấu chiếm tỷ trọng rất lớn trong tình hình hiện nay và những di hại của chúng đang đè trên vai nhiều ngân hàng do trước đây chạy theo lợi nhuận đã tung tiền cho vay bất kể giá trị các món thế chấp có bền vững hay không.
 
Những câu hỏi đặt ra để phân tích
 
Phân tích về Biện pháp Tài chánh MUA NỢ này khá dài và đòi thời gian, nên chúng tôi chỉ nêu ra đây những câu hỏi :
1)         Thời bắt đầu Khủng hoảng Tài chánh 2007/08, TT.BUSH chỉ cứu AIG (American International Group) mà không mua nợ để cứu Ngân Hàng LEHMAN BROTHERS. Quan điểm của TT.BUSH như thế nào về việc mua nợ ?
2)         Năm 2010, Ngân Hàng Trung ương Liên Âu mua một số nợ xấu cho Hy Lạp, Tây Ban Nha, nhưng Đức phản đối. Tại sao vậy ?
3)         Những Ngân Hàng tư nhân Việt Nam phần lớn thuộc những nhóm ưu đãi của đảng CSVN. Mua nợ cho những Ngân Hàng này để cứu những nhóm thuộc đảng hay sao ?
4)         Ngân sách Nhà nước thiếu hụt. Mua nợ của Ngân Hàng bằng tiền thuế của Dân ? Những cuộc “Occupy Wall Street “…  là trong ý hướng phản đối việc lấy tiền dân để cứu giới giầu.
 
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Nguồn: VietTUDAN

Bài Xem Nhiều