We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 6 June 2012

Chủ Đề 19.6: BIỂN MẶN

BIỂN MẶN


VÀO ĐỀ – Kính thưa quý Thầy cô, quý anh chị, cùng các bạn trẻ, cứ mỗi 2 năm một lần, Đại Hội Thụ Nhân Thế Giới (ĐHTN/TG) được tổ chức ở một quốc gia nào đó, như năm 2012 tổ chức tại Paris Pháp quốc, tôi muốn đi tham dự để sống lại những kỷ niệm thời Sinh viên, mặc dù mới có năm đầu, nhưng rất hãnh diện được nhận là SV/Dalat. Viện Đại Học Dalat tuy không nổi tiếng như các Đại Học chuyên khoa trên Thế giới: Howard, Cambridge … Nhưng chuyên khoa Trồng Người (Thụ Nhân) cuả Cố Đức Ông Nguyễn Văn Lập rất thành công, hàng trăm, hàng ngàn Cựu SV/Dalat có mặt khắp nơi trên Thế giới, mang tình thương đến những người kém may mắn, và tiếp tục công tác trồng người của Đức Ông cho các thế hệ con cháu mai sau. Rất tiếc không đi tham dự ĐHTN/TG năm 2012, để có dịp gặp gỡ tâm sự với các anh chị, nên cố gắng viết một bài, gởi Đặc San ĐHTN/TG xem như có mặt trong Đại Hội Thụ Nhân Thế Giới, cùng chung vui với các anh chị
Kính chúc ĐHTN/TG 2012 thành công tốt đẹp
SỰ THẬT
Muốn viết một bài cho thích hợp với cảnh sum họp, vui vẻ của ĐHTN/TG nhưng không dễ, vì đã rời Viện Đại Học Dalat quá sớm, nên không biết gì hơn ngoài chuyện lính. Lần trước đã có dịp nói đến đấm đá trên chiến trường, nhưng người lính không phải chỉ biết có đấm đá nhau thôi, lần nầy xin phép được chia xẻ tình cảm riêng tư, để thấy con tim người lính vẫn biết yêu thương, biết hẹn hò, như bao nhiêu người khác, nhưng vì nhiệm vụ phải tạm gát qua một bên.
Sau 30 tháng 4 năm 1975 đến 2011 đã 36 năm qua, những người lính VNCH còn sống sót, cũng đã già nua theo năm tháng, trên chính quê hương, hay tha phương nơi xứ người, ai ai cũng có những câu chuyện vui buồn đời lính, nói hoài không hết, mỗi ngày đi qua là một câu chuyện vui, hay buồn không thể quên, mặc dù các câu chuyện đó không đáng giá gì, đối với những người khác.
Trong bài nầy, người viết muốn chia xẻ vài câu chuyện vui buồn có thật trong đời lính, với các anh chị Thụ Nhân (A,B,C) Dalat, và bạn bè từng vào sinh ra tử trên chiến trường, khắp 4 vùng chiến thuật, để bảo vệ Quê hương thanh bình, cùng là “Huynh Đệ Chi Binh” mình chung đời lính.
Sau Tết Mậu thân chiến trường khốc liệt, càng khốc liệt hơn, cs bắc việt dốc hết toàn lực đưa vào miền nam, nào bộ đội, súng đạn, xe tăng, trọng pháo… đêm từng đêm, ngày lại ngày, người anh em bên kia chuyến tuyến tấn công, pháo kích, phục kích, rình mò, tìm đủ mọi phương cách, lấy đi mạng sống của người lính VNCH, đang ra sức bảo vệ Miền nam tự do. Bao nhiêu bạn bè đã vĩnh viễn chia tay, mới buổi sáng cười nói bô bô, trưa lại gói trong chiếc poncho vì đạp phải mìn vc, giăng bẩy khắp nơi, trực thăng tải thương đưa về Quân Y Viện, lo việc tẫm liệm, trước sự ngơ ngác, tiếc thương của đồng đội, những giọt nước mắt chưa kịp trào ra khỏi vành mi, đã có lệnh súng đạn, ba lô lên đường hành quân, chưa biết ngày nào đến phiên mình, đó là sự thật
NGƯỜI VỢ SẮP CƯỚI
Buổi sáng thức dậy trể, mặt trời đã lên cao, ngồi một mình trong lô-cốt nhìn ra cánh đồng lúa xanh tươi, như sắp trổ bông, đầy sức sống, tự nhiên Binh ngố thấy mình cũng lâng lâng yêu đời, yêu người, muốn có cuộc sống an vui, hạnh phúc bên gia đình, cha mẹ, người thân, nghỉ đến một giấc ngủ thật bình yên, không nghe tiếng súng nổ bên tai, không cần ai canh gác. Một giấc mơ thật bình thường, đơn sơ như vậy, nhưng đối với người lính không phải “Muốn là đươc”
Binh ngố có người vợ sắp cưới, cô nữ sinh khá duyên dáng, em như một bông hoa miền sông nước mênh mông
“Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới
Nước bao vây cách biển nửa ngày sông
Khi trời trong, gió nhẹ sớm mai hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá …”
Tế Hanh
Cổng trường giờ tan học, không thiếu những chàng trai, công tử thời đại. lắm tiền bạc, xe cộ bóng loáng theo đuổi, đưa đón, song Binh ngố có phần thắng thế hơn các công tử, được cô em gật đầu, hai bên cha mẹ đã đồng ý, không những đồng ý mà còn hối thúc nhanh nhanh, bên nhà trai muốn sớm có cháu nội bồng bế, nối giỏi tông đường. Bên nhà gái trông có người rinh quả bom nổ chậm là thấy vui rồi, em đừng giận, vì các cụ xưa thường bảo: “con gái lớn trong nhà, như quả bom nổ chậm”, hai bên đã kết sui gia, em không đòi hỏi cao sang, chỉ chờ Binh ngố quyết định, xin mấy ngày phép, rồi chọn ngày lành tháng tốt, đưa nàng về dinh, mọi việc đều suông sẻ, không có gì xảy ra.
Lúc còn là Sinh viên tương lai rực rỡ, tha hồ dệt mộng, sẽ đưa em về chân trời “tím ngắt, xanh dzờn, hay vàng rực rỡ …” nào đó, hoặc “một túp liều tranh 2 quả tim vàng” vẫn thấy hạnh phúc yêu đời. Bây giờ là lính, cuộc đời quá ngắn ngủi, sống nay chết mai, không muốn người vợ cuả mình, phải chít vành khăn sô, trở thành góa phụ, khi tuổi còn thanh xuân, qua nhiều đêm dài suy nghĩ, mình phải hy sinh, không vì ích kỷ cá nhân, làm khổ người khác, cô em không biết chuyện gì đã xảy ra, hay là giận hờn, ghen tương, hiểu lầm, … nên tìm cách gặp Binh ngố hỏi cho ra việc, nhưng cô em không dễ gì gặp.
Các anh chị cũng thừa biết cuộc tình nào không có nước mắt, và nhất là cuộc tình tan vỡ không do giận hờn, không bị một ngăn cách nào, không phải tại anh, cũng không phải tại em, … Người ta thường bảo khi chia tay, thiệt thòi lớn cho người con gái, nhưng không, ở đây sự thiệt thòi lớn nhất lại là người trai thời chinh chiến, vừa bị áp lực trên chiến trường, vừa quyết định hy sinh tình cảm riêng tư, buồn quá đi thôi!
Có lần Binh ngố chịu không nổi, tính về đầu thú với em, chọn một ngày cuối tuần đẹp trời, Binh ngố quyết định trở lại thăm ba má em, đồng thời gặp lại em xin dơ hai tay đầu hàng vô điều kiện. Cô em đi học xa nhà phải ở trọ, cuối tuần mới về, thường thì tuần nào cô cũng về, nhưng tuần nầy cô không về, có lẽ là sự sắp xếp của “ông tơ bà nguyệt”, Binh ngố đành chấp nhận chia tay thật sự, xem như có duyên mà không nợ, cũng là lời tâm sự với người vợ không cưới ngày xưa, mong được sự thông cảm, đồng thời xin tạ lỗi cùng ba má em.
Nay được biết gia đình em đã định cư tại Hoa kỳ, nếu chồng em đọc bài nầy chắc là giận anh dữ lắm, giận anh sao không chịu rước em về dinh, để chồng em phải rước, cho anh gởi lời thăm chồng em, chỗ quen biết. Vợ anh cũng nhắc đến em, vì là bạn bè học chung lớp có khuôn mặt hau hau giống nhau, nhiều người lầm tưởng là 2 chị em ruột. Vợ anh còn tâm sự: nghe em nói chồng sắp cưới của em là Sinh viên, học ở Dalat, … tường ông nào, té ra là ông! Nếu như vợ anh đọc được bài nầy, sẽ trách em lắm, sao không rước của nợ giùm bà! Thôi nhé em, xem như không có gì xảy ra
LY CÀ PHÊ
Đang miên man về cuộc đời, nhớ cha mẹ, nhớ bạn bè, thèm một ly cà phê, Binh ngố lấy cây súng M16, lau sơ qua, rồi lang thang xuống phố, phố ở đây là xóm nhỏ dưới chân đồn, khu vực phía bắc đồi hoàn toàn mất an ninh, khu vực phía nam tương đối có an ninh, tuy vậy mình phải mang cây súng cho chắc ăn, dọc theo lối đi có năm ba quán hàng, quán cà phê mọc lên, các em trong quán cà phê trông cũng đẹp gái, hấp dẫn, thuộc hạng nghiêng thùng đổ nước, quán nào cũng đầy lính tráng, Sĩ quan, Hạ sĩ quan. Binh ngố cũng muốn bước vào để tìm ly cà phê đỡ buồn, nhưng lại nhớ bài học từ quân trường, đây là nơi việt cộng không bỏ qua cơ hội tốt, cài người vào các quán cà phê “mỹ nhân kế”, để lấy tin tức, thói quen các Sĩ quan, sơ đồ bố trí súng nặng, v.v. … chờ dịp tấn công diệt gọn phe ta.
Tuy ngố, nhưng Binh ngố rất tĩnh táo vụ nầy, các em thấy tân binh mới ra trường lè phè, có lẽ không thèm để mắt tới, còn mình cứ vờ như chỗ không người, không thấy gì, cứ tiếp tục đi, đi trên con đường gần đến cuối xóm, qua khỏi quán cà phê chừng vài, ba trăm met, thấy có bà già ngồi trên võng nhai trầu, nhìn ra đường trông giống mẹ mình quá, mẹ mình ngày nào cũng nhìn ra ngõ để trông thằng con trai độc nhất, là nguồn hy vọng, an ủi, cuối cùng của đời bà.
Binh ngố tấp vô chào hỏi, chuyện trò cho đỡ nhớ mẹ, một hồi lâu bà cụ rủ ở lại ăn cơm với bác cho vui, mình cố từ chối cho ra vẻ, chứ về trại làm gì, ngày nào không có công tác thì cứ nghỉ chơi thỏai mái, bà nhường võng cho nằm nghỉ chờ cơm nước.
Binh ngố xin phép ra sau nhà đi vệ sinh, cốt là để quan sát sơ qua nhà cửa, vườn tược, nhân sự trong nhà, không khéo lọt vào ổ phục kích cuả việt cọng thì toi mạng. Đi một vòng thấy nhà tôn dựng đơn sơ trên nền nhà gạch, bị sụp đổ vì bom đạn chiến tranh, không thấy heo, bò, rơm rạ, như vậy nhà nầy không làm ruộng, nhìn cảnh nhà điêu tàn, nhưng có lẽ trước đây thuộc loại khá giả, nhìn trong nhà thấy có mình bà nên không lo lắng.
Nằm trên võng ngó ra giàn khổ qua phía trước sân, bà cụ hái ít rau và khổ qua, nấu cơm, làm rau xong bà cụ dọn lên bàn, mình vội đứng dậy, xen xái giúp bà một tay, để ăn cho ngon miệng, thấy bà dọn lên ba cái chén, ba đôi đủa, Binh ngố giật mình, cả buổi chỉ thấy có 2 bác cháu, bay giờ sao lại có ba cái chén, ba đôi đủa, là nghĩa gì ?
Không lẻ có việt cọng ở dưới hầm chui lên ăn cơm với mình sao, mình phải đối xử thế nào đây? Hay “dĩ đào vi thượng sách” thấy mình lo lắng không được tự nhiên. Bà cụ cười nói, chờ em nó về cùng ăn cho vui. Lúc nầy mình mới hết lo, hỏi lại bà cụ
- Em đi làm ruộng về phải không bác ?
- Không, nó ở ngoài quán cà phê
Bà trả lời vừa xong, thì thấy cô em xuất hiện ở đầu sân, nở nụ cười thay lời chào. Lúc nầy Binh ngố lại lúng túng hơn là thấy việt cọng dưới hầm chun lên. Nếu có ai nói Binh ngố sợ vc ít, mà sợ gái thì nhiều cũng không sai! Binh ngố hỏi bà cụ: – Con gái bác?
Phải, bác có mấy đứa con từ Sàigon, và thị xã về mở quán cà phê ở phía dưới đó, con có ghé quán cà phê của em uống chưa?
- Dạ thưa chưa
Qua bữa cơm rau mắm đơn sơ, bà cụ đứng lên trước, cô em không vội rời nâm cơm, ra quán cà phê, mà vẫn ngồi cà kê dê ngỗng, cô em hỏi
- Anh đã uống ca phê đâu chưa ?
- Chưa
- Anh không thích cà phê à
- Thích chứ
- Vậy em chế anh ly cà phê uống thử nhé
Bà cụ đun nước xong, cô em chế cho ly cà phê. Thật tình Binh ngố không phải dân sành uống cà phê, không hút thuốc lá, nên không biết cà phê ngon hay dở như thế nào, thậm chí cà phê Tùng ở Đàlat, nghe nói ngon lắm mà mình cũng không phân biệt được ngon dở.
Nếu uống cà phê có bạn bè, hoăc có người ngồi bên cạnh tâm sự, xem như cà phê có hương vị đậm đà, thơm ngon thế thôi, chẳng hạn như hôm nay. Trở về đồn mang theo hương vị cà phê vừa uống, suy nghĩ mông lung, nếu cô em là binh vận cuả vc, đưa về đây hoạt động, thì các Tiểu đoàn ở đây có nhiêu sĩ quan lớn nhỏ, đẹp trai phong độ, còn Binh ngố mới ra trường không mang lon lá gì, thì làm sao cô em biết mình là sĩ quan. Suy nghĩ miên man một hồi, thôi chuyện bên lề cuộc đời xếp qua một bên, mình không lui tới quán cà phê là xong chuyện, nghĩ ngợi chi cho mệt trí. Thế là Binh ngố không xuống xóm uống cà phê, như các bạn trong Tiểu đoàn, thường ngày nghỉ là ở các quán cà phê, mọi việc đều trôi qua, nhưng con tim lại không chịu buông tha, những hình ảnh “các cô em đi qua đời anh”, từ xa xưa lại hiện về, nào là tình học trò, cùng ở chung nhà trọ, nào tình đồng hương trên xứ lạ, Thành đô, nào là cô bạn rủ mình bỏ học đi chơi v.v. và v.v. Nhưng giờ nầy có ai biết mình đang làm gì, ở đâu, sống chết ra sao không ?
Thế là gần một tuần, sáng đi hành quân chiều về nghỉ, ngày nào không hành quân thì đi ra, đi vào lô cốt, chứ không có sách báo đọc, không có radio nghe ca nhạc buồn thật.
Thấy anh lính dưới xóm đi lên, tòng teng cái xách nhỏ, vừa cười vừa bảo:
- Ông thầy có quà.
- Của ai vậy ?
- Ông thầy gở ra xem thì biết.
Không nói thì cũng biết là của cô em cà phê, chứ còn ai vô đây!
Một lần quà, hai lần quà, rồi cứ thế… thấy sự nhiệt tình cuả cô em, Binh ngố không thể dối mãi con tim rằng cô ấy là việt cộng, nên hỏi thăm hàng xóm, biết gia đình em là nạn nhân cuả cs, chị em kẻ vào sàigòn, người lên tỉnh đi làm, đi học. Thế là Binh ngố bắt đầu đi uống cà phê khòi trả tiền, mà còn được trả công “lên xuống đồi”, bội hậu, tuy được hưởng mọi ưu tiên, kể cả tình yêu cũng cho không, biếu không, nhưng Binh ngố không lợi dụng, lâu lâu mới đi một lần, lạ thật càng lâu gặp mặt, càng giận hờn, thì tình yêu càng nóng bỏng, vậy thì tội gì lên xuống hoài cho cô em xem thường, đặc biệt không lợi dụng bậy bạ, do vậy vẫn giữ được tình thương yêu, kính trọng nhau. Trong những món quà cô em gởi cho có bản nhạc “BIỂN MẶN” cuả Trần Thiện Thanh, phần điệp khúc cũng nói lên được tình cảm cuả cô em cà phê mới quen.

ĐK:
Người yêu tôi, tôi mới quen mà thôi
Lúc dừng quân trên vùng vừa tiếp thu
Vùng hoang vu bóng dừa bờ cát dài
Gió lên từng chiều vàng nàng xõa tóc trên biển xanh
Người yêu tôi hay khóc trong chiều mưa
Lúc màu xanh biển mặn đục sắc mây
Bảo yêu anh em muốn chuyện đôi mình
Như màu xanh biển tình trong ngày trời xinh rất xinh
.
Tôi đến lại đi,
Xa vắng đời tôi chiến chinh lâu dài
….
Cũng do chiến tranh nay đây mai đó, cô em có tìm đến thăm một vài lần, rồi mất liên lạc. Ngày nay nếu có dịp gặp, ôn lại chuyện xưa chắc là vui lắm, kể cả người vợ chưa bao giờ cưới
TUỔI GIÀ
Nói về chuyện tình yêu cuả lính, dài dài chưa hết, vì còn hơi thở là còn biết yêu,
Lúc tuổi trẻ tình yêu nặng về đôi lứa
Lúc tuổi về già tình yêu nặng Quê hương, Dân tộc
43 năm kể từ ngày vào lính theo lệnh tổng động viên 1968 sau Tết Mậu Thân, nay không còn ngố, mà trở thành người lính già, gọi là người lính già cũng đúng vì đến giờ nầy chưa cầm trong tay tờ giấy giải ngũ, nên vẫn còn trăn trở với Quê hương, Dân tộc, chứ không phải ham hố nuối tiếc gì thời quá khứ.
Có bài thơ thay cho mối tình già, xin gởi quý anh chị đọc cho vui:
THƯƠNG VỪA … CHƯA ĐỦ
Thương sao cho đủ thì thương
Kẻo oan cho kẻ còn vương nợ đầy
Phong sương, tóc bạc vai gầy
Tha phương mong mỏi có ngày đoàn viên
Hỏi ra mới biết láng giềng
Đêm đêm thao thức nổi riêng một mình
Thu về lá úa lặng thinh
Đi đâu em nhớ cho mình đi theo
Vượt sông, vượt suối trèo đèo
Hướng về Cố quốc buồn teo
Bạo quyền đàn áp đói nghèo
Ngư dân mất biển neo tàu chờ ai??
Làm trai cho xứng nên trai
“Cứ quanh xó bếp ai thời thương dân”
Lỡ mai anh quyết dấn thân
Hậu phương em có tảo tần đi thăm …!
nlg
TẠ ƠN THAY LỜI KẾT
Đời lính không có tương lai, nghèo rớt mồng tơi, gia tài chỉ vỏn vẹn chiếc ba lô, ngoài cái poncho vừa làm nhà ở, che mưa gió, lúc chia tay cuộc đời, cuộn tròn thân xác, làm hành trang đi vào lòng đất mẹ. Tuy nghèo khó, nhưng không bị đời bỏ rơi, cảm ơn các anh chị văn nghệ sĩ, cảm ơn các em gái hậu phương, và nhất là cảm ơn người vợ lính, đã biết lính là nghèo khổ, yêu lính là chấp nhận thương đau, chấp nhận làm góa phụ nuôi con, gánh vác công việc gia đình bên chồng, ấy vậy mà các chị không bỏ mặc chúng tôi lăn lóc với đời, vẫn đến với chúng tôi chia xẻ nỗi cô đơn, buồn vui đời lính, biết nói gì đây ngoài lời tạ ơn sâu xa các chị.
Tạ ơn Trời đất, tạ ơn người
Lính chiến vào đời tuổi đôi mươi
Bỏ lại sau lưng bao kỷ niệm
Yêu thương rộn rã tiếng nói cười …
Chiến trường lửa đạn, vang rền nổ
Tuổi trẻ lên đường, chẳng ưu tư
Lớp lớp người đi, vào sương gió
Bảo vệ Quê hương, ấm tình người
Võ Văn Rân

0 comments:

Post a comment

Bài Xem Nhiều