We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 12 June 2012

Những chấn động từ mồ: ĐÉO MẸ MÀY

Những chấn động từ mồ:

 hai tuyển tập anh ngữ của Lưu Hiểu Ba

Emily-Anne Owen
♦ Chuyển ngữ: Đinh Từ Bích Thúy
[Dịch từ bài điểm sách (The Independent, Thứ Sáu, 13.4.2012) cho hai quyển:
No Enemies, No Hatred: Selected Essays and Poems, của Liu Xiaobo, do Perry Link, Tienchi Martin-Liao và Liu Xia biên tập (Harvard University Press: Jan. 2012);
June Fourth Elegies, của Liu Xiaobo, Jeffrey Yang dịch sang Anh ngữ (Graywolf Press: April 2012, bilingual ed.)]


Lời giới thiệu của người dịch: Xuất bản lần đầu tiên trong Anh ngữ, hai tuyển tập No Enemies, No Hatred: Selected Essays and Poems (Không Kẻ Thù, Không Hận Thù) June Fourth Elegies (Niệm Niệm Lục Tứ) thể hiện chân dung sống thực, đầy khắc khoải của Lưu Hiểu Ba, người tự coi mình bị chôn sống “trong mồ Đảng Cộng Sản.” Được Lưu Hà, vợ ông, gọi là một nhà thơ “lúng túng và chăm chỉ,” Lưu Hiểu Ba không hẳn là một nhà thơ xuất chúng, với những lời thơ bi thương nhưng trau chuốt như Paul Célan trong “Giao Khúc Chết” (“Todesfugue”) cũng chẳng phải là một nhà tranh đấu đầy huyền thoại “oai hùng.” Là một trong những nhân chứng chủ chốt của biến cố Thiên An Môn, Lưu Hiểu Ba đã khởi xướng phong trào tuyệt thực với nhóm sinh viên trong thời điểm trước biến cố Lục Tứ như một hành động kháng cự bất bạo lực. Ông và các thân hữu đối lập đã bị chính quyền bắt giữ ngày 6 tháng 6 năm 1989. Để được thả, Lưu Hiểu Ba đã thú tội – lời thú tội của ông được truyền bá trên truyền hình, báo chí và cho đến ngày hôm nay vẫn ám ảnh ông như một hành động phản bội các nạn nhân bị chính quyền sát hại ở quảng trường Thiên An Môn. Sự chân thật tàn nhẫn, cùng với tình cảm u uất, cách diễn tả thô sơ, đôi lúc thô tục, “[Trước mọi hành động bạo tàn và vô hồn của chính quyền], tôi không còn lựa chọn nào hơn là muợn ‘câu chửi quốc gia’ của Lỗ Tấn để hét to ĐÉO MẸ MÀY!”) chính là sức mạnh nhói tim của thi văn Lưu Hiểu Ba.

Từ vị trí của dịch giả, nhà thơ Mỹ gốc Hoa Jeffrey Yang cũng có những ngập ngừng, khắc khoải tương tự. Ông Yang thố lộ:
Người dịch luôn mơ ước được đạt sự tương xứng hoàn hảo [trong bản dịch], có lẽ dịch thuật tự nó cũng là ngôn ngữ chít khăn tang, vì chính nó khóc thương đồng thời thể hiện những mất mát, khiếm khuyết… Điều đau đớn nhất cho tôi khi dịch tập thơ Niệm Niệm Lục Tứ chính là chuyện tôi không thể trao đổi [những vấn đề về dịch thuật] với Lưu Hiểu Ba hoặc Lưu Hà. Một người hiện bị án tù 11 năm, một người thì bị quản thúc nghiêm ngặt tại gia… Tôi cảm thấy xốn xang, bứt rứt khi nghĩ đến sự cô quạnh, biệt lập của Lưu Hiểu Ba trong lúc loay hoay với những lời thơ vụn vỡ của ông từ nấm mồ… Nơi tôi làm việc là một văn phòng với cánh cửa sổ và cửa chính mở rộng; tổ quốc tôi là một thể chế dân chủ với… nhiều tù nhân hơn bất cứ một quốc gia nào khác, với những nhà tù được tư bản hóa… [n]hững bức tường [ghi nỗi ô nhục] của tù nhân ở Angel Island, Guantanamo… Rồi chúng ta sẽ đạt đến những nhận thức, hòa giải nào? Không ai thực sự có chính nghĩa để phán xét. Đối thoại duy nhất mà tôi có thể có với ông Lưu là qua những bài thơ của ông, qua động từ dịch, tưởng tượng những điều ông có thể nói với tôi về một chọn lựa ngôn ngữ nào đó trong quá trình dịch thuật.
Trong sự câm lặng của cuộc đối thoại này, tôi nghĩ đến hai khái niệm về tự do… Tự do là một tư tưởng được cấu tạo bởi xã hội để kháng cự và diệt trừ mọi hoàn cảnh nô lệ… cùng lúc, theo Octavio Paz, mục đích của mọi sinh hoạt nghệ thuật không phải là tác phẩm mà chính là tự do. Chất vấn, thương lượng, là cách biến đổi rơm thành cỏ thơm, mật ong thành mặt trời, cát bụi thành lá thường xuân. Đó cũng là quá trình của mọi tang thương, của dịch thuật, của thơ
.
Từ thời điểm Thiên An Môn, cho đến nay, qua nhiều lần ra, vào khám tù, Lưu Hiểu Ba đã bị cấm không được có việc làm với mọi cơ quan nhà nước, cùng bị cấm xuất bản trong lãnh thổ Trung Quốc. Trong nhận thức này, những bài văn xuôi phản kháng và thơ elegy của Lưu Hiểu Ba, được dịch sang Anh ngữ và xuất bản ở Hoa Kỳ, quả là một nỗ lực đáng ghi nhớ, một kỳ diệu ngậm ngùi.
Đinh Từ Bích Thúy
9 tháng 6, 2012
Khi Lưu Hiểu Ba, nhà thơ và nhà hoạt động Trung Quốc, được vợ ông là Lưu Hà báo tin ông được trao tặng giải Nobel Hòa Bình năm 2010, ông đã bật khóc. Giải thưởng này, ông nói, sẽ được hiến dâng cho những người ngã xuống trong cuộc thảm sát Thiên An Môn vào năm 1989. Nhưng Lưu, 56 tuổi, đã chẳng bao giờ có dịp tuyên bố như trên trước công chúng ở buổi lễ trao tặng Giải Nobel tổ chức tại Oslo. Mòn mỏi nhiều năm tháng trong ngục tù nhà nước, ông lãnh án 11 năm vì tội “khích động sự lật đổ thế lực nhà nước”. Bà Lưu Hà vẫn còn bị quản chế nghiêm ngặt tại gia. Các bạn văn đồng khuynh hướng đối lập đã bị bắt hoặc bị đe dọa về việc du hành ra khỏi nhà. Trong một hành động bị coi là phản tác dụng, Trung Quốc đã ép buộc các viên chức ngoại giao tẩy chay Lễ Trao Thưởng Nobel. Lưu là một trong năm người được trao giải Nobel Hòa Bình nhưng không tham dự buổi lễ trong hơn 100 năm lịch sử của giải thưởng. Là công dân sinh sống trong lãnh thổ Trung Quốc đầu tiên được trao giải Nobel, ông được toàn thế giới tôn vinh qua những diễn thuyết kêu gọi sự cải cách chính trị phi bạo lực. Vai trò của ông – người tác động Linh Bát Hiến Chương, bản tuyên ngôn dân chủ trực tuyến – đã được trích dẫn làm bằng chứng tại phiên tòa kết án ông. Đối với Đảng Cộng Sản Trung Quốc, ông là một nhà đối lập nguy hiểm ​​cùng là một “nhức đầu” lớn cho nhà nước. Hình ảnh khó quên về Lưu Hiểu Ba vẫn là ảnh giải thưởng Nobel được đặt trên một chiếc ghế bỏ trống. Từ “ghế trống” (nhanh chóng bị chặn trên trang web) đã trở thành đồng nghĩa ở Trung Quốc với tình cảnh một cá nhân chống lại cả một guồng máy độc tài kinh khiếp. Và bằng cách cấm Lưu đi nhận lãnh giải thưởng của mình, chính phủ đã vô tình biến ông ta từ một nhà hoạt động ít người biết đến thành một biểu tượng quốc tế cho nhân quyền tại Trung Quốc trong ngày hôm nay.
no-enemies-no-hatred_thumb

Không Kẻ Thù, Không Hận Thù (No Enemies, No Hatred) đánh dấu tuyển tập văn chương đầu tiên xuất bản trong Anh ngữ của Lưu Hiểu Ba. Tháng Tư năm 2012 cũng đánh dấu ​​sự ra mắt của thi tập Niệm Niệm Lục Tứ (June Fourth Elegies), một ấn bản song ngữ với những bài thơ tiếng Hán của Lưu Hiểu Ba nằm song song với bản dịch Anh ngữ của Jeffrey Yang. Cả hai quyển là những tác phẩm đặc sắc, thể hiện tầm rộng, cùng sức mạnh trí tuệ và tình cảm của một nhà văn và nhà tranh đấu chính trị. Tiếc thay, Lưu có lẽ không được biết về việc xuất bản hai quyển sách này sau song sắt của ngục tù. Giáo sư Perry Link và dịch giả Jeffrey Yang nói với báo The Independent (Độc Lập) rằng họ đã không thể liên lạc với Lưu hoặc vợ của ông, vì bà hiện đang bị giám sát liên tục. Tuy nhiên, ông chắc chắn sẽ thấy thú vị bởi thời điểm lịch sử của hai cuốn sách. Vào trung tuần tháng Tư năm 2012, Trung Quốc được tuyên dương là “thị trường chú trọng” trong dịp Hội Chợ Sách Luân Đôn. Như đã được dự đoán, các tác giả lưu vong và đối lập bị loại ra khỏi danh sách mời tham dự Hội Chợ Sách trong thời điểm Trung Quốc muốn đẩy mạnh ảnh hưởng văn hóa ra ngoài lãnh thổ đại lục. Trong lúc sự phẫn nộ trước hành động này đã thúc đẩy nhà thơ Bối Lĩnh (Bei Ling) – Chủ Tịch Trung Tâm Văn Bút Trung Quốc Độc Lập – phản đối với các cơ quan truyền thông, hai tuyển tập của Lưu có thể được coi như một đền bù kịp thời. Điều đáng được nêu lên là, cả hai tuyển tập này chính là lời nhắc nhở đau thương: trong lúc Hội Chợ Sách tuyên dương văn học Trung Quốc, nhiều nhà văn trung trực nhất của đất nước vẫn còn bị bắt giữ. Có vô số những trường hợp. Từ cuối năm 2011, Trung Quốc đã ra những bản án gia tăng phần khắc nghiệt đến ít nhất là ba nhà văn và nhà hoạt động nổi tiếng. Vào tháng Giêng, Dư Kiệt, một tác giả nổi tiếng và một người bạn thân của Lưu, đã trốn thoát sang Mỹ. Trong một cuộc họp báo ở Hoa Thịnh Đốn, Dư Kiệt (Yu Jie), 38 tuổi – người đang tiến hành quá trình viết tiểu sử của Lưu Hiểu Ba – tuyên bố rằng trong những ngày trước lễ trao giải Nobel 2010, ông đã bị đánh đập tàn nhẫn bởi nhóm công an mặc thường phục. Kể từ lúc đó, ông và gia đình đã sống trong một “lỗ đen vô tận.” Câu chuyện của Lưu bắt đầu vào năm 1989 khi tác giả – lúc đó ở Mỹ – trở về Bắc Kinh để tham gia cuộc biểu tình của các sinh viên tại quảng trường Thiên An Môn. Đó chính là giây phút, như Lưu đã nêu trong lời mở đầu của bản “Tuyên ngôn cuối cùng” của ông tại phiên tòa gần đây nhất, “bước ngoặt lớn” trong cuộc đời ông. Cả hai tuyển tập in hằn nỗi đau – tưởng như cháy da của Lưu – chính vì ông là kẻ sống sót.
0604-Elegies-cover
Niệm Niệm Lục Tứ nhìn thẳng vào biến cố của năm 1989. Thi tập bao gồm lời mở đầu của Đức Đạt Lai Lạt Ma, theo sau bởi bài giới thiệu của tác giả, “Những chấn động từ mồ,” được Lưu viết vào đêm cuối cùng của thế kỷ 20. Đúng ra, 20 bài thơ qua thể điếu văn, qua bản dịch Anh ngữ tuyệt vời của Jeffrey Yang, nhà thơ và nhà xuất bản Mỹ gốc Hoa, là những chấn động của tác phẩm.
Mỗi một bài thơ là một tặng phẩm cho người chết, sáng tác liên tục từng năm, trong mọi ngày giỗ của ngày 04 tháng 6. Đó là một nghi lễ rùng rợn mà Lưu đã duy trì trong 20 năm, cho đến khi ông bị bắt trong tháng 12 năm 2009. Dưới tựa đề mỗi bài thơ là dòng ghi chú tỉ mỉ của nhà thơ về nơi nó đã được sáng tác. Bối cảnh của thơ có thể là một quán bar ở Bắc Kinh hay những giây phút trước bình minh tại một trại cải tạo ở Đại Liên. Điều này giúp người đọc gần như có thể nếm sờ được không gian và dòng thời gian của nhà thơ. Tuy vậy, điều đáng chú ý là thời gian không mang lại nhiều thay đổi. Trong một bài tiểu luận từ tuyển tập Không Kẻ Thù, Không Hận Thù, Lưu lên án sự chậm tiến, cùng sự đổ máu “đã gần như không cải tiến được gì trong đất nước bạo tàn của chúng ta.”
Trên hết, Lưu than oán chuyện hàng triệu người dân Trung Quốc đã làm ngơ cuộc thảm sát để nhận lãnh những hứa hẹn của Đảng về tiện nghi vật chất ngày càng được gia tăng. Tự do, ông chế giễu, chỉ là “một thương hiệu cà vạt,” “sự ngọt xớt của đồng tiền dùng/để tha thứ lưỡi lê.”
Một trong những lời thơ đáng nhớ của Lưu gợi cho ta thấy hình ảnh nụ cười châm biếm, nay được coi như một thương hiệu phổ quát trong nhiều bức tranh nổi tiếng của hoạ sĩ Nhạc Mẫn Quần (Yue Minjun): “nụ cười của mọi người ôi chao mà tinh khiết / le lói hào quang nhân dân tệ.” Những bức chân dung tự họa của họ Nhạc đã làm giàu cho họa sĩ; nhưng trong bức tranh sơn dầu Hành Quyết dựa trên biến cố Thiên An Môn, ta thấy bốn người đàn ông mặc quần xì líp cười ngạo nghễ trước những nòng súng của một thế giới vô tâm, trơ tráo.
yue-minjun-execution
Nhạc Mẫn Quần, Hành Quyết
Nhưng nếu những bài thơ của Lưu hàm chứa sự uất hờn, chúng cũng ấp ủ một hoài bão dịu dàng cho một thế giới khác. Hình ảnh khó quên của Thiên An Môn là một cô gái trẻ bị nghiền nát như côn trùng. Lưu thương khóc cho “một mùa xuân khác”, trong đó ông tưởng tượng cô gái nắm tay bạn trai đi nhẩn nha qua khuôn viên thành phố. Sự kháng cự trầm tịnh này – trong cách tưởng tượng những đời sống khác, tươi đẹp hơn, và những kết thúc khác cho người đã chết – chính ra mạnh mẽ gấp bội lần cách tranh đấu ồn ào, đấm ngực. Không Kẻ Thù, Không Hận Thù bao gồm một số bài thơ cùng những bài tiểu luận và diễn văn của Lưu Hiểu Ba, và các văn bản (trong đó có những bằng chứng đã được chính quyền sử dụng để buộc tội ông). Tuyển tập này – thành tích của 13 dịch giả – là một giới thiệu tuyệt vời về văn xuôi của Lưu. Lưu viết lưu loát và đầy thuyết phục về các đề tài khác nhau, từ chuyện các quan chức tham nhũng cướp đất của nông dân, vấn nạn trẻ em bị nô lệ, đến những thảo luận về Khổng Tử. Lưu có biệt tài vẽ “sát nét” chân dung Trung Quốc đương đại. Ông mô tả sự lãnh đạm tập thể của đất nước: “Không ai quan tâm cho một người đàn ông ngã bệnh trên đường phố, không ai thèm giải cứu một cô gái quê bị trượt chân rơi xuống sông.” Những nhận xét này – mặc dù được viết từ năm 2004 – sẽ rất quen thuộc với bất cứ ai hiện sống ở Trung Quốc. Mới năm ngoái, tin loan báo vụ Duyệt Duyệt (Yue Yue), một bé gái bị xe cán hai lần và sau đó bị 18 người qua đường làm ngơ trong khi bé nằm hấp hối trên đường sá công cộng. Mặc cảm tội lỗi khôn nguôi là dây xích trói chặt hai tác phẩm. Từ ngục Tần Thành Lưu đã “phản bội máu vong linh” khi viết bản thú tội. Hành động này hành hạ lương tâm ông. “Tôi đã làm được điều gì cho những nạn nhân bị thảm sát?” Ông tự chất vấn. Chính nỗi tuyệt vọng thấm thía này – tương phản với khả năng tác động cải cách, vai trò trí thức của Lưu Hiểu Ba như một trong những nhà hoạt động được nhiều sự chú ý, và tương lai Trung Quốc – đã gây ấn tượng sâu đậm nhất với người đọc. Ở một khía cạnh nào đó, tình yêu thăm thẳm mà Lưu dành cho hiền thê Lưu Hà cũng giúp ông chế ngự nỗi tuyệt vọng, ánh sáng của tình yêu này tỏa lấp lánh qua những bài thơ ông đề tặng cho vợ trong hai tuyển tập, “Chối bỏ những nhà tử đạo huyễn hoặc / anh khao khát được nằm cạnh chân em,” ông khẩn cầu. Trong ấn bản Hán ngữ của Niệm Niệm Lục Tứ, xuất bản tại Hồng Kông, người đọc thấy những bức ảnh đen trắng chụp bởi Lưu Hà bên cạnh những bài thơ của Lưu Hiểu Ba – trong số đó là một tấm ảnh có con búp bê bị trói ngồi trước quyển sách mở. Hình ảnh đó như một nhắn nhủ, khích lệ: dù sao, trong lúc này, Lưu Hiểu Ba sẽ không buông xuôi.
143-Liu_Xia_-bound-doll

0 comments:

Post a comment

Bài Xem Nhiều