We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 10 August 2012

Nếu Biển Đông Không Hiến : Liệu Cộng Việt Có Muốn Làm Đồng Chí Hoa Kỳ?

Hoa Kỳ Đồng Minh Việt Nam.
 
Ảo tưởng của nhà cầm quyền Hà Nội là xây dựng một Khối ASEAN vững mạnh và thống nhất để Hà Nội lấy đó làm “trục xoay” cho ba nước MỹNga và Tàu. Giữa tháng 7-2012 cũng chỉ vì xung đột quyền lợi Hội Nghị của Khối ASEAN kết thúc bằng những lời công kích lẫn nhau. Từ đó cho thấy các quốc gia Đông Nam Á còn quá nhiều khác biệt để có thể dung hòa các tranh chấp và có thể thấy Hà Nội không mấy ảnh hưởng đến chiến lược của Hoa Kỳ.
 
Tuần lễ sau đó, trong chuyến Trương Tấn Sang công du nước Nga, Bộ Quốc Phòng nước này công khai tuyên bố họ không có nhu cầu và cũng không có kinh phí để sử dụng căn cứ Cam Ranh. Nước Nga ưu tiên bảo vệ lãnh hải, lãnh thổ và biên giới của chính mình, họ không muốn trực tiếp dính lứu đến các tranh chấp ở biển Đông.
Còn Trung cộng thì tham vọng xâm chiếm biển Đông càng ngày càng rõ hơn. Riêng tháng 7-2012, họ cho đấu thầu các khu vực khai thác dầu khí trên thềm lục địa Việt Nam. Rồi chính thức thành lập thành phố “Tam Sa”, ra mắt lực lượng đồn trú trên Biển Đông, gia tăng bắt bớ ngư dân Việt, đâm chìm tàu đánh cá Việt Nam, cho máy bay, tàu chiến, tàu đánh cá họat động ngay trong lãnh hải Việt Nam. Mới đây họ cho mở một cuộc tấn công biển người với hằng chục ngàn tàu đánh cá ào ạt xâm chiếm biển Đông.
Trước tình trạng gây chiến kể trên, nhà cầm quyền Hà Nội chỉ còn hai cách để giải quyết. Hoặc tiếp tục làm tay sai cho giặc. Hoặc quay về với dân tộc, tôn trọng tự do dân chủ, hội nhập vào thế giới tự do và trở thành một đồng minh của Hoa Kỳ.
Một nước nhỏ như Việt Nam ở cạnh một nước lớn lại luôn mang tham vọng bành trướng như Tàu thế mà nhà cầm quyền Hà Nội lại muốn làm trục quay cho các cường quốc thì “trí tuệ” của họ quả thật thiếu bình thường. Nhật Bản một cường quốc Á châu cũng xây dựng quan hệ đồng minh với Hoa Kỳ. Đại Hàn, Đài Loan, Phi Luật Tân, Nam Dương, Tân Gia Ba, Ấn Độ, Thái Lan, Tân Tây Lan, Úc đại Lợi… đều tìm thế đồng minh quân sự với Hoa Kỳ.
 
Các quốc gia nói trên làm vậy vì chính phủ các quốc gia này đặt quyền lợi đất nước quyền lợi dân tộc họ là tối thượng. Trong khi ấy giới chức cộng sản Việt Nam chỉ lo vinh thân, phì gia và làm đẹp bộ mã của đảng cộng sản một đảng đang bị nhân lọai đào thải.
Gần đây khi Hoa Kỳ thay đổi chiến lược hướng về biểnĐông bao vây Trung cộng thì một thành phần trong giới cầm quyền cộng sản công khai bộc lộ khuynh hướng bám theo người Mỹ. Những người này cố tình không hiểu chiến lựơc và chiến thuật Hoa Kỳ luôn thay đổi theo nguyện vọng và lợi ích của Nhân dân Hoa Kỳ. Khi Việt Nam chưa trở thành một đồng minh chiến lược và có uy tín với Hoa Kỳ thì mọi nỗ lực cũng chỉ giải quyết những việc trước mắt thay vì có tầm nhìn chiến lược lâu dài.
 
Bài viết này xin chia sẻ với bạn đọc về sức mạnh và nguồn gốc sức mạnh của Hoa Kỳ để chúng ta có thể hiểu và tôn trọng một cường quốc chưa bao giờ có ý định xâm lấn nước ta. Biết người biết ta để xây dựng thiện chí nhằm giao hảo có lợi cho cả Hoa Kỳ lẫn Việt Nam.
Cường Quốc Quân Sự
Hoa Kỳ là cường quốc quân sự số một trên thế giới. Thực lực của quân đội Hoa Kỳ tương đương với tổng lực của tất cả các quốc gia trên thế giới. Chiến lược quân sự của Hoa Kỳ là tự do hàng hải, vì thế nước này đã xây dựng một lực lượng hải quân có khả năng họat động bao trùm khắp các đại dương.
Hoa Kỳ ký nhiều hiệp ước đồng minh quân sự với hầu hết các quốc gia trên thế giới. Hoa Kỳ không chiến đấu vì lợi ích riêng của Hoa Kỳmà luôn chiến đấu vì lợi ích chung của nhiều quốc gia. Vì vậy khi Hoa Kỳ tham chiến họ luôn được nhiều quốc gia góp sức. Khi đánh giá về tiềm lực quân sự của Hoa Kỳ cũng cần đánh giá sự đóng góp của các quốc gia đồng minh với nước này.
 
Hoa Kỳ sử dụng ngoại giao và quân sự là để bảo vệ quyền lợi thiết thực của Hoa Kỳ. Vì thế trước tình trạng xâm lấn biển Đông của Trung cộng ngày 3 tháng 8 vừa qua, Thượng viện Hoa Kỳ đã chính thức thông qua Nghịquyết mang số 524 về tình hình Biển Đông. Nghị quyết khẳng định, Hoa Kỳ có lợi ích quốc gia về tự do hàng hải, mong muốn hoà bình và ổn định trong khu vực biển Đông. 
 
Tự do hàng hải không phải là lợi ích của riêng của Hoa Kỳmà là lợi ích của chung nhân lọai. Trung cộng chưa đánh giá đúng về hành vi xâm lấn biển Đông. Hành vi này đe dọa đến tự do hàng hải và chỉ cần lý do này Hoa Kỳcó thể chính danh khai chiến với sự ủng hộ của nhiều quốc gia trên thế giới. Trong chiến tranh chính danh là yếu tố quan trọng nhất để giành ủng hộ và chiến thắng.
Để quyết định chiến tranh Hoa kỳ luôn đánh giá rủi ro và tai hại trước khi nghĩ đến lợi ích ngắn hạn và lâu dài. Chiến tranh thường là biện pháp cuối cùng và cũng là phương cách tiến hành giải thể những chế độ chống lại tự do. Bằng những đánh giá thực tế, Hoa Kỳ không quyết giành chiến thắng bằng mọi giá như Khối cộng sản đã làm trong Chiến tranh Việt Nam.
Rút bài học từ chiến tranh Việt Nam, sau này Hoa kỳ tiến hành chiến tranh bằng cách sửa sọan dư luận, xây dựng đồng minh, đánh tập trung, đánh đúng lúc, đánh nhanh, đánh mạnh, đánh bình định và rút quân đúng lúc. 
 
Chiến lược “Không-Hải Chiến”
 
Ngày 1 tháng 8 vừa qua tờ Washington Post tiết lộ Chiến Lược “Không Hải Chiến ” (“Air-Sea Battle”) được đề xuất bởi chiến lược gia quân sự Hoa Kỳ Andrew Marshall. Bài báo nêu rõ mục tiêu của chiến lược là để đánh đổtham vọng bành trướng của Trung Hoa cộng sản và đã được đệ trình Ngũ Giác Đài 20 năm về trước.
Theo chiến lược này mở đầu trận đánh các phi cơ và tiềm thủy đỉnh tàng hình của Hoa Kỳ sẽ đánh sập hệ thống radar và phi đạn nằm sâu trong lãnh thổ Trung Hoa Lục Địa. Tiếp theo không quân và hải quân mới tấn công và cuối cùng mới tới bộ binh để bình định.
Để bảođảm chiến lược thành công, Hoa Kỳ cần xây dựng nhiều phi trường, phi đạo và hầm trú ẩn cho máy bay trên các đảo ngoài khơi Thái Bình Dương. Ngày 31 tháng 7 vừa qua, Hoa Kỳ loan báo đang nghiên cứu để đặt một phi đội thường trực gồm 12 máy bay ném bom B-52 ở Guam. 
 
Ngày 24 tháng 7, Thượng viện Phi Luật Tân đã phê chuẩn một hiệp định cho phép phía Úc Đại Lợi quy chế quân đội khách mời để giúp Phi Luật Tân củng cố năng lực quốc phòng trong bối cảnh gia tăng căng thẳng trên Biển Đông. Nước này cũng đã ký một Hiệp định tương tự với Hoa Kỳ. Hoa kỳ vừa bán các phi cơ hiện đại nhất cho Đài Loan, Nam Hàn và Nhậtđể họ tự phòng thủ và chiến đấu. Hoa Kỳ cho thăm dò việc sử dụng căn cứ Cam Ranh Việt Nam và Utapao Thái Lan.
Một số chiến thuật đánh Không Hải chiến đã được thử nghiệm trên chiến trường Trung Đông và Bắc Phi. Các cuộc chiến tại nơi đây cho thấy Hạm Đội Hoa Kỳ có khả năng phong tỏa bất cứ nơi trên lãnh thổ Trung Hoa kể cả thủ đô Bắc Kinh.
Việc tiết lộ chiến lược Không Hải Chiến cho thấy Hoa Kỳ đang sửa sọan dư lụân để đánh Trung cộng và đang tập trung quân lực chung quanh Biển Đông để tấn công 4 quốc gia còn đang bị cộng sản chiếm đóng.
 
Cường Quốc Kinh Tế
 
Hoa Kỳ là cường quốc kinh tế số một và có tiềm lực kinh tế lớn nhất thế giới. Tổng thu nhập quốc dân của Hoa Kỳ tùy cách tính lớn gấp đôi hay gấp ba lần Trung cộng. Thu nhập được phân phối khá đồng đều nhờ thế xã hội luôn ổn định. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên vẫn còn dồi dào và không bị lạm dụng khai thác. Kỹ nghệ Hoa Kỳ được phát triển đa dạng, đa năng và nếu cần thiết Hoa Kỳ có khả năng tự lực để phục vụ chiến tranh.
Theo quy luật tự do kinh doanh, Hoa Kỳ luôn phải trải qua những thời kỳ thịnh rồi suy. Kinh tế suy thóai là dấu hiệu để mỗi công dân, mỗi doanh nghiệp và chính phủ nhận ra những sai sót điều chỉnh và hướng đến một thời kỳ thịnh vượng khác. Đây chính là sức mạnh kinh tế Hoa Kỳ. Ngược lại các nước lớn không theo quy luật tự do, chính phủ can thiệp quá đáng vào thị trường đều dẫn đến sụp đổ, Liên Xô trong thế kỷ trước và Trung cộng hiện đang lâm vào tình trạng này.
Để cổ vũ kinh tế tự do Hoa Kỳ đã ký kết nhiều hiệp định song phương hay đa phương về tự do kinh doanh và họ đều tôn trọng các hiệp định này. Nhà cầm quyền Bắc Kinh ngược lại tìm mọi cách mạnh mẽ can thiệp vào thị trường quốc nội và quốc tế gây thiệt hại cho nền kinh tế quốc tế trong đó có cả Hoa Kỳ. 
 
Về kinh tế Hoa Kỳ đã chính thức khai chiến với nhà cầm quyền Bắc Kinh. Cuộc chiến kinh tế đang đến hồi khốc liệt và ngày một bộc lộ những yếu kém của cơ cấu kinh tế, chính trị, xã hội Trung Hoa. Cuộc chiến này là dấu hiệu Hoa kỳ đang công tâm và công lương trước khi chuyển sang thế công đồn, tấn công giải phóng Trung Hoa, theo đúng Binh pháp Tôn Tử để lại.
 
Cường Quốc Số Một
 
Hoa Kỳ cũng xứng đáng tự hào là quốc gia có nền khoa học kỹ thuật tân tiến nhất thế giới, một nền giáo dục hiện đại, một kỹ nghệ điện ảnh không quốc gia nào bắt kịp, khai sinh một không gian mạng tòan cầu gắn bó con người và thế giới chung quanh. Nói tóm lại ảnh hưởng của Hoa Kỳ đang càng ngày càng lan rộng. Mọi người, mọi quốc gia trên thế giới luôn hưởng lợi ích từ cácđóng góp và luôn hướng về Hoa Kỳ như một biểu mẫu để vươn lên theo kịp. Xây dựng quan hệ đồng minh với Hoa Kỳ là con đường đúng đắn đưa đất nước đi lên.
 
Sức Mạnh của hai chữ Tự Do
 
Sức mạnh của Hoa Kỳ thì dễ thấy nhưng điều gì đã tạo ra sức mạnh cho đất nước Hoa Kỳ ? Con người tự do đã tạo ra sức mạnh này.
Từ những người di dân đầu tiên cho đến những người vừa đặt chân lên Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ đều có chung một lý do: Hoa Kỳ là đất nước của tự do. Trong số những người mới định cư tại Hoa Kỳ có hằng triệu người Việt Nam vượt sóng đại dương hay băng rừng vượt suối chấp nhận mọi rủi ro, nguy hiểm, chấp nhận chết để đổi lấy hai chữ tự do.
Đến được Hoa Kỳhọ được tự do hội nhập và hưởng thụ những giá trị tinh thần và vật chất đã được tích lũy từ những thế hệ di dân đến trước. Họ được tự do hấp thu tư tưởng mới, được tìm hiểu những giá trị tinh thần và và ý thức hệ mới, được khuyến khích thụ hưởng nền giáo dục, được cổ vũ tham gia vào chính trị và quản trị xã hội, …
 
Tại Hoa Kỳ mọi người đều được xã hội khuyến khích thu nhận, truyền đạt, trao đổi những suy nghĩ, tư tưởng một cách tự do. Mỗi cá nhân trở nên tích cực trên mọi lãnh vực để tìm ra sự thực hay phát hiện những điều mới mẻ.Kiến thức của họ truyền đạt, chuyển hóa, tích lũy và biến thành kiến thức của Hoa Kỳ nói riêng và của nhân lọai nói chung. Rõ ràng sức mạnh của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ xuất phát từ trí tuệ công dân và được vun bồi trong một môi trường chính trị tự do. 
 
Nói tóm lại chính nền văn hóa yêu chuộng tự do của người Mỹ đã đưa Hoa Kỳ lên hàng cường quốc số một và vai trò này sẽ còn tiếp tục tồn tại. Nói rõ hơn sức mạnh của Hoa Kỳ xuất phát từ hai chữ Tự Do. Xin xem bài “Người Trí Thức Đưa Đất Nước Đi Lên” và“Viễn Tượng Việt Nam: Tự Do, Tri Thức Và Phát Triển” người viết đã mở rộng đề tài này.
ThếGiới Tự Do
Từ phương cách suy nghĩ nêu trên, các chiến lược gia Hoa Kỳ bằng mọi cách luôn khuyến khích, cổ vũ, thiết lập và xây dựng một Thế Giới Tự Do. Thêm một quốc gia tự do là bớt đi những rủi ro do nghèo đói, chiến tranh, bạo lọan, khủng bố, … Thêm một quốc gia tự do là thêm lợi ích về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội … không phải chỉ riêng cho quốc gia này, mà cho cả Hoa Kỳ và Thế Giới.
 
Trứơc khi tham dự Hội Nghị ASEAN tại Pnom Penh, Ngoại trưởng Hoa Kỳ bà Hillary Clinton đi một vòng các quốc gia Á Châu: Mông Cổ, Nhật, Việt Nam, Lào và Cam Bốt. Tại Mông Cổ bà cho biết: “Dân chủ và nhân quyền không phải chỉ là giá trị của quốc gia chúng tôi, mà còn là quyền lợi đương nhiên của mỗi người sinh ra trên thế giới này”.Bà giải thích chiến lựơc cốt lõi của Hoa Kỳ là hỗ trợ cho dân chủ và nhân quyền. Bà cho biết đây không phải là giá trị của Hoa Kỳ mà là giá trị chung của nhân lọai.
Bà gởi một tín hiệu đến nhà cầm quyền cộng sản Bắc Kinh và Hà Nội, rằng họ chỉ là thiểu số và chiến lược của Hoa Kỳ là bằng mọi cách giải phóng các quốc gia còn đang bị cộng sản chiếm đóng. Mang lại tự do cho thế giới là chiến lược mục tiêu thực hiện lý tưởng và lợi ích của Nhân dân Hoa Kỳ.
 
Tại Việt Nam bà Clinton đã thu xếp để gặp giới chức cầm quyền cộng sản trong ấy có cả Nguyễn Phú Trọng. Bà kêu gọi họ hãy tôn trọng dân chủ và nhân quyền, đừng đeo đuổi các cường quốc vì họ chỉ vì quyền lợi quốc gia họ. Hãy tôn trọng dân tộc, quay về với dân tộc, sức mạnh của Việt Nam thể hiện từ sự đồng thuận dân tộc Việt Nam. Phương cách để tìm đồng thuận dân tộc chính là tôn trọng nhân quyền và thực thi dân chủ. Phương cách này là căn bản tạo nên sức mạnh của Hoa Kỳ và nhân danh chính phủ Hoa Kỳ bà sẵn sàng giúp nhà cầm quyền Việt Nam tôn trọng nhân quyền và thực thi dân chủ.
Tiếc thay lời nói của bà Clinton không lọt vào những tai những kẻ vốn bản chất độc tài. Ngày 14 tháng 7, Hà Nội huy động thiết giáp đe dọa giáo dân Giáo điểm Con Cuông. Ngày 30 tháng 7, thân mẫu của blogger Tạ Phong Tần lấy thân mình làm ngọn đuốc sống đánh tiếng cùng thế giới tình trạng vi phạm nhân quyền tại Việt Nam. Ngày 5 tháng 8, Hà Nội lại cho an ninh bắt những người biểu tình yêu nước và tệ hại hơn đã sử dụng truyền hình truyền thanh để bịa đặt vu khống cho những người biểu tình yêu nước.
Mặc cho thế giới lên án vi phạm nhân quyền, ngày 7 tháng 8 vừa qua, nhà cầm quyền Hà Nội dự định mở phiên tòa xử ba thành viên Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do Điếu Cày Nguyễn văn Hải, Anh Ba Sài Gòn Phan Thanh Hải và Tạ Phong Tần. Cách hành xử của giới cầm quyền cộng sản làm xa cách thêm với quần chúng Việt Nam, xa cách thêm cả với Hoa Kỳ và thế giới tự do.
 
Tình hình Biển Đông mỗi ngày một nóng hơn, các giải pháp ngoại giao xem ra không còn hiệu quả, giải pháp chiến tranh mỗi lúc một rõ hơn, một cuộc chiến có thể xảy ra bất cứ lúc nào, một cuộc chiến mà nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam không còn khả năng chủ động kiểm sóat và sẽ là một cuộc chiến thuận lợi cho dân tộc Việt Nam đứng lên giành lại tự do.
 
Dân Chủ hay Cộng Hòa
 
Các chiến lược của Hoa Kỳ thường xây dựng trường kỳ và chiến thuật có thể thay đổi tùy theo theo kết quả của các cuộc bầu cử. Mang lại tự do cho các quốc gia đang bị cộng sản chiếm đóng là chiến lược. Còn phương cách hành xử với các giới chức cầm quyền cộng sản chỉ là chiến thuật.
Vì vậy vào tháng 11 sắp tới nếu đảng Dân chủ tiếp tục cầm quyền thì chiến thuật vẫn sẽ tiếp tục được khai triển. Riêng với giới chức cầm quyền Việt Nam bà Hillary Clinton sẽ tiếp tục sử dụng bàn tay sắt bọc nhung, bà cho đảng Cộng sản nhiều cơ hội để bày tỏ lập trường theo Tàu hay quay về với dân tộc và hội nhập thế giới tự do.
Còn nếu đảng Cộng Hòa thắng cử thì chiến lược của Hoa Kỳvẫn không thay đổi. Những kinh nghiệm trước đây cho thấy phương cách hành xử của họ với bạo quyền cộng sản sẽ cứng rắn hơn.
 
Đồng Minh của Dân Tộc Việt Nam
 
Chính phủ Hoa Kỳ luôn phân biệt rõ ràng tập đòan cầm quyền cộng sản Việt Nam và dân tộc Việt Nam. Họhiểu rõ Việt Nam là một dân tộc yêu chuộng tự do, một dân tộc với hằng triệu ngườiđã hy sinh để bảo vệ tự do cho nhân lọai, một dân tộc luôn đấu tranh để giành lại tự do, một dân tộc luôn xem Hoa Kỳ như một đồng minh chiến lược.
Hoa Kỳ cũng hiểu rõ cũng như các dân tộc từng bị cộng sản chiếm đóng, người Việt sẽ đứng lên giành lại tự do, xây dựng một thể chế dân chủ và Việt Nam sẽ là một đồng minh xứng đáng của Hoa Kỳ trong Thế Giới Tự Do.
 
Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi
9/8/2012
 
----
 

Biển Đông không phải là Biển Đen


James Holmes
05-10-2011
Quan điểm cho rằng Mỹ nên bỏ mặc Đông Nam Á cho Trung Quốc là đặt không đúng chỗ. Châu Á không phải là một Georgia khác, theo James Holmes.

Vài tháng trước, trên tạp chí Foreign Policy, một đồng nghiệp của tôi là Giáo sư Lyle Goldstein đã so sánh Biển Đông (nguyên văn: Biển Hoa Nam) ngày nay với cuộc chiến Nga – Georgia năm 2008. Tóm lại, ông ấy vẫn giữ quan điểm, rằng Mỹ thật dại dột khi đặt cược uy tín vào một đồng minh chiến lược cấp ba xa xôi và yếu kém, nằm cạnh bên một đất nước hùng mạnh hơn nhiều lần vốn đang thèm khát lãnh thổ và sự phụ thuộc chính trị. Chính quyền Bush đã dồn dập dành cho Tbilisi “sự quan tâm cấp cao và các cố vấn quân sự“, để rồi chỉ thốt ra mỗi tiếng ‘rên rỉ’ khi Moscow ra lệnh cho các lực lượng thiết giáp đè bẹp quân đội Georgia và xâm chiếm phần lớn đất nước láng giềng này. Uy tín của Mỹ đã bị tổn hại nặng nề khi nước này không thể đảo ngược kết quả. Đứng về phía Georgia rõ ràng là một sự thất bại trong việc liều lĩnh chính sách ngoại giao.
Ông Lyle đã vẽ ra một bức tranh u ám. Nếu các nhà lãnh đạo Mỹ chú ý đến lời khuyên của ông, họ sẽ từ bỏ gần như tất cả các cam kết ở Đông Nam Á, nơi mà ông mô tả là một khu vực có tầm quan trọng không đáng kể, cạnh bên một nước Trung Quốc ngày càng hùng mạnh. Ông cho rằng “Đông Nam Á chẳng có chút ý nghĩa nào trong sự cân bằng quyền lực toàn cầu“. Nếu không thì Washington có nguy cơ phải chịu thất bại ngoại giao mới mà không đạt được lợi ích nào có thể hiểu được.
Cũng như chính quyền Bush không có “ham muốn gì khi đánh liều một cuộc xung đột lớn hơn với Moscow về một đất nước thuộc lợi ích chiến lược bên rìa“, chính quyền Obama sẽ không, thực ra là không nên ràng buộc vận mệnh của mình với các nước Đông Nam Á yếu kém. Điều này sẽ thêm vào lời cảnh báo chống lại sự ủng hộ các nước bạn bè nhưng “không quan trọng” vốn đang đấu tranh ở thế bất lợi. Mỹ không nên cố gắng thực hiện các nỗ lực hão huyền nhằm đảo ngược tình hình. Tốt hơn là nên giũ bỏ những vướng bận không cần thiết trong khi hợp tác với Bắc Kinh để chống cướp biển và khủng bố trong khu vực, với hy vọng xây dựng một mối quan hệ tin cậy trên biển.
Nếu đây là một lời khẩn cầu thẳng thắn để Washington tránh bị vướng vào những tranh chấp lãnh hải phức tạp đang gây bất ổn chính trị khu vực, tôi sẽ ủng hộ ngay lập tức. Như người phương Nam chúng ta thường nói, Mỹ không “quan tâm” đến việc ai sẽ kiểm soát đảo, san hô hay đảo đá nào, miễn là cường quốc kiểm soát chúng tôn trọng tự do hàng hải theo đúng luật pháp thông thường và thỏa thuận. Do vậy, vấn đề tranh luận giữa các quan chức Mỹ đó là, mối quan tâm duy nhất của Hoa Kỳ trong chủ đề tranh cãi này là tự do hàng hải đi qua các vùng biển trong khu vực và thấy những cuộc cãi vã về lãnh thổ được giải quyết mà không phải dùng đến vũ lực.
Nhưng vẫn chưa rõ liệu Trung Quốc có tôn trọng luật biển hoặc kiềm chế sử dụng vũ lực hay không. Nước này liên tục tuyên bố “chủ quyền không thể chối cãi” ở các vùng biển và không phận quốc tế nằm trong những đường nào đó trên bản đồ Biển Đông. Trung Quốc cũng nỗ lực ngăn chặn những hoạt động bay, giám sát quân sự, và khảo sát quân sự ở những khu vực chung, như các nước ven biển có thể thực hiện ở “những vùng lãnh hải” của họ.
Vùng lãnh hải này là vành đai biển 12 dặm ngoài khơi, nơi mà chính phủ ở các nước ven biển thực hiện đầy đủ quyền thực thi pháp lý. Các quốc gia ven biển không có quyền thống lĩnh những vùng biển xa hơn, ngay cả khi luật pháp quốc tế cho họ đặc quyền thực thi pháp lý đối với nguồn tài nguyên nhiên nhiên ở vùng biển và đáy biển cách bờ 200 dặm (xa hơn nếu địa hình dưới nước cho phép). Washington hoàn toàn đúng khi chống lại sự xâm lấn lén lút của Trung Quốc dựa trên quyền của các nước đi biển.
Sự tương tự của Biển Đen không làm thay đổi điều này, chủ yếu vì các động lực ở đó hoàn toàn khác biệt so với những gì phổ biến ở Biển Đông ngày nay. Theo tôi, tình huống phải vượt qua ba cuộc kiểm tra về sự tương đồng giữa Nga – Georgia thì mới phù hợp. Thứ nhất, phải đưa một nước lớn đấu với một nước nhỏ về lợi ích ngoại biên của Mỹ. Thứ hai, sự bất đối xứng trong sức mạnh quân sự phải tới mức mà bên mạnh hơn có thể thực hiện một việc đã rồi, chế ngự đối thủ yếu hơn trước khi Mỹ và cộng đồng quốc tế có thể tập trung quyết tâm và vũ lực để can thiệp. Và thứ ba, khoảng cách từ các lực lượng Mỹ tới nơi xảy ra xung đột phải xa tới mức Washington không thể triển khai lực lượng kịp thời để tạo ra một sự khác biệt. Quân đội Mỹ sẽ thiếu các căn cứ ở phía trước để sắp xếp và duy trì vũ khí gần chiến trường. Thật may, Biển Đông hoàn toàn không không đáp ứng bất kỳ cuộc kiểm tra nào như thế này.
Trước tiên, cân nhắc sự chênh lệch về sức mạnh giữa Trung Quốc và các nước láng giềng nhỏ hơn. Rõ ràng là Trung Quốc áp đảo bất kỳ quốc gia Đông nam Á nào trong một cuộc đấu nhau một chọi một, và với sự cách biệt khá lớn. Chẳng hạn, Chính phủ Philippines đã quyết định gia tăng gấp đôi ngân sách quốc phòng của nước này, lên tới 2,5 tỷ USD. Quân đội Mỹ sẽ tiêu tốn cỡ đó vào con tàu sắp tới, tàu khu trục có tên lửa điều khiển, loại Arleigh Burke. Ngược lại, Trung Quốc dành 91,5 tỷ USD trong năm nay, theo các con số chính thức, và con số này có thể ít hơn so với thực tế. Số tiền chi tiêu này nhiều gấp 36 lần ngân sách của Philippines. Một dữ kiện khác: gần đây Lực lượng Tuần duyên Hoa Kỳ đã chuyển tàu tuần tra, loại Hamilton, năm 1967, cho phía Philippines. Con tàu tuần tra này đã trở hành niềm tự hào của Hải quân Philippines, thay thế con tàu khu trục hộ tống, được chế tạo cho Hải quân Mỹ thời Đệ nhị Thế chiến. Điều này cho thấy rõ sự yếu kém của Manila trên biển. Không có gì phải ngạc nhiên khi các nhà lãnh đạo Philippines đã phải viện đến hiệp ước phòng thủ chung Mỹ – Philippines với hy vọng dụ dỗ Washington ủng hộ các tuyên bố lãnh hải của họ. Họ cần sự giúp đỡ.   
Đơn giản là lực lượng vũ trang Philippines không thể đọ với những hạm đội mà các cơ quan giám sát hàng hải của Trung Quốc triển khai, huống hồ gì những hạm đội viễn dương ở các xưởng đóng tàu mà Hải quân Trung Quốc hiện đang đóng. Giáo sư Goldstein đã đề cập đến phần nhiều thực tế là Bắc Kinh dựa vào “các tàu tuần tra không vũ trang” do các cơ quan phi quân sự triển khai “để thực thi các tuyên bố chủ quyền của nước này ở Biển Đông“. Đây “rõ ràng là một dấu hiệu” rằng Trung Quốc “không muốn leo thang thành xung đột vũ trang“. Tất nhiên, Bắc Kinh không muốn leo thang, biến các tranh chấp lãnh thổ thành xung đột quân sự. Điều mà một chính phủ ôn hòa muốn phát triển mà không có chiến tranh, hoàn thành các mục tiêu đã đề ra mà không gặp phải hậu quả ngoài ý muốn kèm theo chiến tranh là gì? Bằng cách triển khai những con tàu để bảo vệ các tuyên bố của mình, Bắc Kinh ra hiệu thực tế là, đơn giản nước này đang thực hiện chính sách chủ quyền trên biển. Nước này muốn gắn các tuyên bố với tính hợp pháp. Nhưng nếu các nước Đông nam Á kiên quyết phản đối, chắc chắn là Trung Quốc sẽ cử các tàu của Hải quân Trung Quốc tới thực thi ý muốn của họ. Như cựu Thủ tướng Singapore, ông Lý Quang Diệu dự đoán, “đằng sau những con tàu tuần tra nhỏ này là hải quân viễn dương” nếu các cơ quan thi hành luật của Trung Quốc không thể hoàn thành nhiệm vụ.
Đây không phải là một kịch bản phi thực tế. Sự chênh lệch giữa Trung Quốc và các nước láng giềng không lớn tới mức như giữa Nga và Georgia. Tbilisi chỉ có một mình trong thế bế tắc với Moscow, trong khi các nước Đông Nam Á, được xem như một khối, có nhiều nguồn lực to lớn. Chẳng hạn như Việt Nam có quân đội không thể coi thường và đang mua sắm nhiều tàu ngầm loại Kilo của Nga cho hải quân nước này. Khả năng chống lại sự bắt nạt của Trung Quốc từ Việt Nam ngày càng tăng. Nếu Bắc Kinh giữ thói ngoại giao trịch thượng trong khi cố thực thi luật lệ của Trung Quốc ở các vùng biển tranh chấp thì nước này có thể tạo ra một “cộng đồng lợi ích” giữa các chính phủ Đông Nam Á. Nếu các nước nhỏ thấy lợi ích chung bị đe dọa ở Biển Đông, họ có thể hợp sức để tạo ra một đối trọng trước các tham vọng của Trung Quốc. Liệu các nước láng giềng của Trung Quốc có đoàn kết vì sự nghiệp chung hay không, phụ thuộc rất nhiều vào việc liệu Bắc Kinh có gia tăng chính sách “ngoại giao nụ cười”, không đe dọa, hoặc “chiến dịch lấy lòng” trong khu vực, thay thế cho vẻ mặt dọa dẫm mà nước này thường chường ra trong những năm gần đây. 
Điểm rộng hơn là Đông Nam Á giữ vai trò còn quan trọng hơn cả lợi ích cận biên đối với Mỹ. Sự tương phản này hầu như không lộ rõ hơn giữa Biển Đông nằm ở vị trí chiến lược với Biển Đen hẻo lánh. Biển Đen có thể đúng là một vùng biển chết đối với chính sách của Mỹ. Điều này dường như nằm ngoài suy nghĩ của Goldstein, người cho rằng tự do hàng hải “đã trở thành một trụ cột chính trong chính sách của Mỹ tại khu vực” và rằng điểm được cho là mấu chốt này “trên thực tế khá là vô lý”. Nhưng tự do của các vùng biển này không phải là một khái niệm mới lạ nào đó. Nó đã là một trụ cột của chính sách ngoại giao Mỹ trong nhiều thập niên qua. Trang web của Bộ Ngoại giao Mỹ đã chỉ ra một cách hữu ích rằng Chương trình Tự do Hàng hải có từ thời Carter hồi cuối những năm 1970. Kể từ đó, các chính quyền kế tiếp nhau thuộc cả hai đảng chính trị đều từ chối “đồng ý với những hành động đơn phương của các nước khác nhằm hạn chế các quyền và sự tự do của cộng đồng quốc tế về hàng hải, việc bay trên các vùng trời và việc sử dụng các vùng biển khơi có liên quan khác”. 
Ngăn cản các quốc gia ven biển khỏi việc vây chiếm các phần của chung toàn cầu, gây hại cho tự do trên biển, chẳng thể là vô lý. Chương trình Tự do Hàng hải “hoạt động trên một một lộ trình bộ tam, bao gồm không chỉ những thể hiện về ngoại giao và sự quyết đoán về hành động của các đơn vị quân đội Mỹ mà còn cả những tham vấn đa phương và song phương với các chính phủ khác trong một nỗ lực nhằm thúc đẩy sự ổn định hàng hải và tuân thủ luật pháp quốc tế. Bộ máy quân sự và ngoại giao Mỹ thường phản đối các tuyên bố quá thể, luôn có một cách để củng cố luật pháp quốc tế theo thời gian nếu không có đối thủ. Bộ Ngoại giao đã nhiều lần đưa ra phản đối với các chính phủ vi phạm. Các đơn vị Hải quân Mỹ đã chủ ý vượt qua những giới tuyến được vẽ sai trên bản đồ, phát đi một thông điệp rằng Washington phản đối những giới tuyến đó. 
Nếu tự do hàng hải gần đây mới trở thành một vấn đề nóng bỏng ở Biển Đông thì đó là bởi vì những xác nhận của Trung Quốc về “chủ quyền không thể chối cãi” đối với gần như toàn bộ vùng biển này là một điều khá mới mẻ. Chỉ trong năm 2009, Trung Quốc đã gửi một bản đồ lên Liên Hợp Quốc mô tả các tuyên bố chủ quyền trên biển của họ. “Đường 9 đoạn” được vạch ra trên bản đồ bao gần như trọn Biển Đông. Trong năm 2010, các quan chức Trung Quốc hiển nhiên gọi vùng biển đó là một “lợi ích quốc gia cốt lõi” – một lợi ích mà Trung Quốc sẵn sàng sử dụng vũ lực để giữ gìn. Ngoại trưởng Hillary Clinton đã nhanh chóng phản ứng rằng Washington có một “lợi ích quốc gia” về tự do hàng hải qua các vùng biển trong khu vực. Nhưng bà Clinton chỉ nhắc lại các mục tiêu chính sách của Mỹ đã được định rõ từ hàng chục năm trước. 
Thật khó để mà phóng đại tầm quan trọng của Biển Đông đối với chiến lược hàng hải của Mỹ. Chiến lược Phối hợp Hải lực Thế kỷ 21 năm 2007, thông điệp quyền lực nhất của các cơ quan hàng hải Mỹ về cách thức họ nhìn nhận môi trường chiến lược và dự định hưởng ứng điều đó, chỉ rõ khu vực Tây Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương (trong đó có Vịnh Ba Tư) là những sân khấu trung tâm để sử dụng sức mạnh cứng của Hải quân Mỹ. 
Biển Đông nằm giữa đường nối giữa hai sân khấu này. Nó là một cửa ngõ không chỉ cho tàu buôn mà còn cả cho các hải quân, tạo thuận lợi về diễn tập chiến lược của các lực lượng Mỹ. Quân đội Mỹ được triển khai chủ yếu dọc các rìa phía đông và phía tây của lục địa Á Âu, ở Bahrain, Nhật Bản và Guam. Các lực lượng vượt biển phải “di chuyển nhịp nhàng” giữa hai đại dương, tập trung đương đầu với các sự kiện bất ngờ nảy sinh ở một hoặc hai nơi này. Nếu bị chặn một lối đi qua Biển Đông, quân Mỹ sẽ buộc phải đi vòng xuống phía nam, quanh các quần đảo Indonesia và Philippines. Sự lanh lẹ của cường quốc hải quân Mỹ ở sân khấu lớn “Indo – Thái Bình Dương” sẽ phải chịu cảnh tương tự, làm giảm tính hiệu quả chiến lược của Mỹ. 
Thứ hai, vẫn có một câu hỏi để mở rằng liệu Bắc Kinh có phô sức mạnh để làm mất tinh thần các nước láng giềng nhanh tới mức đặt Mỹ vào một sự việc đã rồi. Goldstein dường như có quan điểm nước đôi về sức mạnh hải quân Trung Quốc. Một mặt, ông mô tả Hải quân PLA là yếu đuối tới mức nước này phải tái bố trí các tàu ngầm cùng cùng nhiều tài sản khác tới Biển Đông nhằm tránh các lực lượng Mỹ – Nhật đóng quân ở phía bắc. Mặt khác, ông ngụ ý rằng Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc gần như vô địch. Một Trung Quốc với quân đội như vậy có thể thắng thế ở Đông Nam Á trước khi người ngoài có thể can thiệp. Thế là sao? Điều chắc chắn đúng là các khả năng “chống tiếp cận” mà PLA đang xây dựng sẽ tỏ ra khó chịu cho bất cứ đối thủ nào của Trung Quốc. Các tư lệnh PLA có thể đổi hướng các vũ khí như các tên lửa chống tàu phóng từ ven bờ về phía hải quân các nước Đông Nam Á trong khi ngăn chặn các nỗ lực can thiệp vào khu vực của Mỹ, Ấn Độ và các cường quốc bên ngoài khác. Số lượng các lựa chọn của Bắc Kinh tăng lên nhiều lần khi sức mạnh quân sự Trung Quốc lớn mạnh. 
Nhưng cùng lúc đó, sự tăng cường lực lượng của hải quân và quân đội Trung Quốc vẫn còn là một việc đang được tiến hành, trong khi Bắc Kinh phải đối mặt với rất nhiều thách thức to lớn dọc bờ biển châu Á. Từ bắc tới nam, Trung Quốc phải xoay xở với bế tắc hạt nhân Bắc Triều Tiên, với việc Mỹ tiếp tục đẩy mạnh sự hiện diện ở Nhật Bản, các tranh chấp lãnh thổ với Nhật Bản ở Biển Đông Trung Quốc, nền độc lập thực tế của Đài Loan, mớ bòng bong Biển Đông, các đe dọa nhằm vào tàu thuyền trên Eo biển Malacca, và các lợi ích ngày càng lớn ở Ấn Độ Dương. Không một vị tư lệnh khôn ngoan nào lại phân tán lực lượng dù muốn hay không. Nếu PLA cố gắng làm tất cả mọi thứ, ở khắp mọi nơi, họ có thể phải kết thúc mà chỗ nào cũng chỉ làm được rất ít. Các lực lượng vũ trang của Trung Quốc chỉ có thể thống trị được Biển Đông nếu các tư lệnh sẵn sàng tập trung mọi tài sản của họ tới đó. Nhưng họ làm thế với một rủi ro rất lớn đối với các lợi ích của Trung Quốc ở những nơi khác thuộc “các vùng biển gần”. Đối mặt với rất ít thách thức ở Biển Đen, Nga đã có sự tập trung cao độ chống Georgia, một sức mạnh trên bộ nằm ngay bên cạnh mà họ có thể đè bẹp trước khi người ngoài kịp can thiệp. Bối cảnh chiến lược này sẽ không cho phép Trung Quốc có được sự xa xỉ đó.  

Và thứ ba, các lực lượng Mỹ vẫn tiếp tục bám trụ ở Đông Bắc Á, giúp họ tác động đến các sự kiện một cách dễ dàng hơn so với Biển Đen. Như Goldstein đã chỉ ra, thực hiện một hành trình cứu viện tới Georgia sẽ đặt hậu cần Mỹ trước những yêu cầu khắc nghiệt nếu không muốn nói là không thể thực hiện được. Cũng chính xác là các thành trì của Mỹ ở Nhật Bản nằm trong tầm bắn của hàng trăm tên lửa đạn đạo Trung Quốc và các chiến đấu cơ chiến lược. Sức chống đỡ thời chiến của các căn cứ này ngày càng đáng nghi. Thế nhưng, các biện pháp trả đũa luôn có sẵn. Chẳng hạn, các đồng minh đang lắp đặt các hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo trên các tàu chiến Aegis. Chúng có thể tăng cường sức mạnh cho các căn cứ quân sự bằng những cách đơn giản (dù đắt tiền) chẳng hạn như xây dựng các nhà chứa kiên cố cho máy bay và tàu thuyền. Nói tóm lại, các chính khách và tư lệnh hải quân Mỹ có trong tay nhiều lựa chọn hơn so với Trung Quốc ngày nay hơn là với Nga năm 2008.
Tóm lại, sự tương đồng Nga – Georgia có nghĩa như một sự chỉ dẫn cho chính sách của Mỹ về Biển Đông. Goldstein đúng ở chỗ Mỹ không có lợi ích rõ ràng trong những tranh chấp lãnh hải và không nên để bị lôi kéo vào. Nhưng Washington cũng không thể cho phép Bắc Kinh thiết lập quy tắc rằng các nước lớn có thể sửa đổi hay hủy bỏ luật pháp quốc tế bằng cách tán thành. Tự do hàng hải không phải của người Trung Quốc để nước này ban ra hay giữ lại. Nếu nó tách rời khỏi khu vực, để mặc cho Trung Quốc đi đường của họ, Mỹ sẽ có nguy cơ hóa ra mặc nhận trong một tiền lệ nguy hiểm. Nước này có thể để mất quyền tự do thao diễn chiến lược cùng với vị thế là một nước bảo đảm các lợi ích chung toàn cầu. 
Goldstein kết luận bài viết của ông bằng cách viện dẫn học thuyết “Cây gậy lớn” của Theodore Roosevelt, kêu gọi chính quyền Obama “dịu giọng” qua “ngoại giao mềm dẻo, thiết thực và kín đáo” ở Đông Nam Á. Đúng là như vậy, “Theodore Roosevelt” là một người tin tưởng nhiệt thành với chính sách ngoại giao đằng sau hậu trường. Nhưng đối với ông ấy, vung cây gậy lớn có nghĩa là khéo xử sự trong khi chẳng nhường gì cả về mặt nguyên tắc. Điều này cũng có nghĩa là ủng hộ chính sách ngoại giao Mỹ bằng nhiều nguồn dự phòng về sức mạnh quân sự, chứng kiến hải trình của “Great White Fleet” (*) năm 1907-1909, một hành động đã được thiết kế để ngăn không cho Đế quốc Nhật tạo ra một khu vực mà họ muốn kiểm soát trên biển ở Tây Thái Bình Dương. Tự do ở các vùng biển là nguyên tắc không thể thương lượng đối với Roosevelt, và điều đó phải được tiếp tục cho đến ngày nay. Cây gậy lớn của ông là một kim chỉ nam tuyệt vời đối với chính sách ngoại giao Mỹ, chứ không phải theo cách mà Goldstein muốn khuyên chính phủ làm theo. 

Tác giả: ông James Holmes là phụ tá giáo sư chiến lược ở Trường Cao đẳng Hải chiến Hoa Kỳ. Bài viết này thể hiện quan điểm của riêng tác giả.
Ảnh: Hải quân Mỹ
Trúc An dịch từ The Diplomat
(*) Ghi chú của BTV: “Great White Fleet” là tên của hạm đội chiến đấu Hải quân Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Theodore Roosevelt, do những chiếc tàu chiến này được sơn màu trắng nên có tên “White Fleet”. Những con tàu này có mặt khắp nơi trên thế giới, thường là những chuyến viếng thăm, thể hiện thiện chí của Mỹ, nhưng đôi khi những chiếc tàu này còn hộ tống các viên chức ngoại giao Mỹ, khi đến nói chuyện với những nước “cứng cổ”, có tham vọng bành trướng trên biển. Trên bờ, các viên chức ngoại giao thể hiện thiện chí của Mỹ (củ cà rốt), nhưng ở dưới biển là những chiếc tàu chiến của “Great White Fleet” đang đậu, với ngụ ý rằng, nếu “cứng cổ” thì sẽ bị ăn gậy!
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

0 comments:

Post a comment

Bài Xem Nhiều