We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 2 November 2012

Nhìn Nước Việt Mà Muốn Khóc : Tham Nhũng Đọc Tài Gì Cũng Không Sống Thọ Quá 80


Viếng thăm Nghĩa Trang Gallipoli tại Thổ Nhĩ Kỳ


Trong chuyến đi thăm Thổ Nhĩ Kỳ cuối năm 2009 vừa qua, khi từ Istanbul đến thị trấn Canakkale, chúng tôi phải đi ngang eo biển Dardanelles để từ phần đất Âu Châu đi sang phần đất Á Châu của xứ này, Trong khi chờ đến giờ có chuyến phà để di chuyển qua eo biển, đoàn du lịch chúng tôi được đưa đi thăm công viên quốc gia Gallipoli, một thắng cảnh nổi tiếng, nơi có tượng đài và nghĩa trang tử sĩ ghi dấu trận chiến khốc liệt ngay tại địa điểm này trong kỳ đệ nhất thế chiến 1914-1918.


Trong trận thế chiến này, Thổ Nhĩ Kỳ, dưới vương triều Ottoman, đã tham chiến theo phe Đức. Nhờ ở địa thế, Thổ Nhĩ Kỳ hoàn toàn kiểm soát thủy lộ duy nhất nối liền Hắc Hải (Black Sea) với Địa Trung Hải (Mediterranean Sea) qua eo biển Bosporus phía Hắc Hải, vào biển Marmara hoàn toàn nằm trong lãnh thổ xứ này, rối tới eo biển Dardanelles thông sang Địa Trung Hải. Để đoạt quyền kiểm soát thủy lộ này, quân đồng minh, phần lớn gồm các nước Anh, Úc, và Tân Tây Lan, đã từ hạm đội tấn công lên bộ tại địa điểm mang tên Gallipoli trông xuống eo biển Dardanelles. Trận chiến đẫm máu kéo dài hơn 1 năm, từ 1915 đến 1916 thì quân Thổ Nhĩ Kỳ không giữ nổi và phải rút lui. Tổng kết, cả hai bên số thương vong lên tới nửa triệu người, chia đều mổi bên bị thiệt hại trên dưới 250,000 thương binh tử sĩ.



Sau khi chiến tranh chấm dứt, Thổ Nhĩ Kỳ, vì thuộc phe thua trận, nên đã bị quân đồng minh chiếm đóng mãi đến năm 1923 nước này mới hoàn toàn đẩy được các đoàn quân viễn chinh ngoại quốc ra khỏi xứ để giành lại độc lập. Chính quyền Thổ cho thu thập và nhận dạng hài cốt các tử sĩ trong trận chiến Gallipoli để chôn cất trong một nghĩa trang với nhiều tượng đài kỷ niệm.


Chúng tôi đến nơi và được dẫn đi coi một mãnh nghĩa trang nhỏ ở phia ngoài. Có nhiều mảnh đất nghĩa trang nhỏ như vậy ở ngay sát bờ biển với mỗi nơi từ vài chục tới vài trăm mộ phần. Rất tiếc vì không có đủ thời giờ nên chúng tôi không được vào xem khu chính của nghĩa trang ở phía trong với hàng ngàn ngôi mộ từ đỉnh đồi trải dài xuống gần mặt biển màu nước trong xanh. Cảnh đẹp thiên nhiên yên tĩnh lộng gió thật là chốn yên nghỉ thích hợp cho các chiến binh, tại chính nơi trước kia họ đã từng chiến đấu và đã gục ngã.

một góc khu nghĩa trang



Sơ lược mô hình trận chiến Gallipoli



Có nhiều tượng đài xây cất quanh 1 nhà bảo tàng nhỏ trưng bày các di tích của trận chiến: quân phục, vũ khí, hình ảnh các trận đánh, các di vật tìm được của các chiến binh của tất cả các quốc gia tham dự.



tượng đài chiến sĩ trận vong



trưng bày trong viện bảo tàng



Một điều khiến chúng tôi ai nấy đều hết sức ngạc nhiên là nghĩa trang này chôn cất không những chỉ các quân sĩ Thổ Nhĩ Kỳ mà còn cả quân nhân của các quốc gia phe đồng minh, nghĩa là phe địch, như Anh. Pháp, Ý, Úc, Tân Tây Lan, … nửa. Không những thế, những mộ phần được chôn xen lẫn nhau, không hề phân biệt là quân Thổ hay quân đồng minh, với tên họ, quốc tịch và các chi tiết khác, nếu lý lịch không rõ thì ghi là vô danh. Có một tượng đài trên đó có khắc trích đoạn một bức thư của tổng thống Thổ Nhĩ Ký Mustafa Kemal gửi vào năm 1934 cho 1 quả phụ, mẹ của một quân nhân Úc đả tử trận trong trận chiến này.


Nguyên văn trìch đoạn bức thư như sau:


Those heroes that shed their blood and lost their lives …

You are now lying in the soil of a friendly country, therefore rest in peace.

There is no difference between the Johnnies and the Mehmetes to us where they lie side by side here in this country of ours…

You, the mothers who sent their sons from far away countries, wipe away your tears … Your sons are now lying in our bosom and are in peace. After having lost their lives on this land, they have become our sons as well.

Ataturk, 1934


Xin tạm dịch:


Những con người hùng đã đổ máu và đã hy sinh tính mạng …

Các bạn hiện đang nằm trên mảnh đất của một quốc gia thân hữu; vì vậy, xin hãy yên nghỉ.

Với chúng tôi, không có sự phân biệt nào giữa những người mang tên John (chiến binh Anh, Pháp, Úc, …) và những người mang tên Mehmetes (chiến binh Thô Nhĩ Kỳ) đang cùng nằm cạnh bên nhau nơi đây trên xứ sở của chúng tôi.

Cùng quý vị, những bà mẹ đã gửi con đến đây từ những quốc gia xa xôi, xin hãy lau nước mắt …

Các con của qúy vị hiện đang nằm trong lòng chúng tôi và đang yên nghỉ. Sau khi đã bỏ mình trên mảnh đất này. họ cũng đã trở thành những đứa con của chính chúng tôi vậy.

Ataturk, 1934


Ataturk có nghĩa là “Cha già dân tộc”, danh hiệu được dân chúng Thổ Nhĩ Kỳ tôn xưng với Muspafa Kemal, người đã giành lại nền độc lập cho Thổ Nhĩ Kỳ sau đệ nhất thế chiến, đã đưa ra và thực hiện những cải cách chính trị và văn hóa rất sáng suốt và là tổng thống đầu tiên của nước Thổ (1923-1938) sau khi vương triều Ottoman bị đào thải (1).


Bức thư của Attaturk đã khiến cho nhiều người đọc phải xúc động. Thông thường, chỉ có người chiến thắng mới có lòng tha thứ, bao dung dối với kẻ địch đã thất trận. Ngược lại ở đây, Thổ Nhĩ Kỳ là nước thua trận, nhưng họ đã bỏ qua mối thù để cho nắm xương tàn của những kẻ thù cũ thuộc nhiều quốc gia khác nhau có được nơi an nghỉ vĩnh viễn cùng chung chỗ với những chiến sĩ đã nằm xuống của họ. Thật là cao thượng! Và có lẽ chỉ duy nhất ở Thổ Nhĩ Kỳ mới có chuyện một nước xây đài kỷ niệm trận chiến mà nước đó lại là kẻ thua trận. Nhưng tạo dựng nên nghĩa trang này, người Thổ không còn là kẻ thua trận nữa, và mãi mãi họ đã khiến cho du khách đến thăm phải tỏ lòng cảm phục vì cái tinh thần nhân đạo, mã thượng và hành động cao cả này.


* * * * * * * * *

Trông người lại nghĩ đến ta! Thăm nghĩa trang Gallipoli ở Thổ Nhĩ Kỳ, tôi không khỏi nghĩ tới Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa của miền Nam Việt Nam chúng ta. Đây là nơi yên nghỉ của hàng chục ngàn chiến binh Việt Nam Cộng Hoà đã nằm xuống trong trận chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc.

Sau tháng 4, 1975, khi đã cưỡng chiếm được miến Nam, người Cộng Sản Bắc Việt đã bắt đi tù đầy, lao động khổ sai những quân, cán, chính của miền Nam, đã thu vét tài sản của dân chúng miền Nam qua những đợt đổi tiền, đánh tư sản, đuổi đi kinh tế mới … Hành hạ người sống chưa đủ, Cộng Sản miền Bắc còn trả thù đến cả người chết. Với nghĩa trang quân đội Biên Hòa, việc đầu tiên là chúng giật sập pho tượng Tiếc Thương ngay phía ngoài nghĩa trang, 1 công trình điêu khắc đầy nghệ thuật, rồi chúng cho đập phá toà Nghĩa Dũng Đài. Toàn thể khu nghĩa trang được giao cho quân đội quản trị, có nghĩa là trở thành khu quân sự, thường dân không còn được tự do lai vãng, viếng thăm, nói tóm lại, mục đích là để cho nghĩa trang trở thành một nơi hoang phế, những ngôi mồ trở thành vô chủ, dần dần sẽ bị cỏ cây chen lấn, qua thời gian sẽ không còn dấu vết gì nữa.


Người cùng trong một nước mà đối xử với nhau một cách tàn tệ như vậy, xem ra chỉ có ở bọn cộng sản, vốn bản chất bất nhân, tự xưng là anh ‘hùng’ nhưng chính ra chúng chỉ là những anh ‘hèn’. Với hành động triệt hạ nghĩa trang, môt nơi linh thiêng mà bất cứ con người văn minh, có giáo dục nào cũng phải tôn trọng, những người cộng sản Bắc Việt đã xử xự như những quân rừng rú man rợ, như thế có khác gì những kẻ thua trận, vẫn tỏ ra e sợ những quân nhân VNCH khi họ còn sống cũng như ngay cả khi họ đã lìa trần.

* * * * * * * * *

Ở trong nước, Cộng Sản đã cố tình hủy diệt Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà, cho tới nay vẫn được coi như là một biểu tượng của QLVNCH. Mãi đến nhiều năm sau, sau khi đã phải thi hành chính sách đổi mới, theo đuôi tư bản chuyển sang kinh tế thị trường để tự cứu, tới giữa năm 2007, Cộng Sản Việt Nam mới chuyển Nghĩa Trang Quân Đội sang cho chính quyền dân sự tỉnh Bình Dương quản trị. Vì không còn nằm trong khu vực quân sự nữa, cho nên việc thăm viếng, tu sữa các ngôi mộ trong nghĩa trang có thể bắt đầu thực hiện được.


Nhiều người tự hỏi thế còn ở hải ngoại, có ai còn nghĩ tới và nghĩ gì về vụ Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà? Một vị tai to mặt lớn trong cộng đồng, giáo sư tiến sĩ Nguyễn Xuân Vinh, chủ tịch Tập Thể Chiến Sĩ, trong 1 buổi phỏng vấn của Phiến Đan tháng 7, 2007 đã cho biết ý kiến của ông như sau: “Theo tôi chúng ta sẽ đóng góp vào sự trùng tu nếu CSVN chấp nhận những yêu cầu sau: Giữ tên Nghĩa Trang QĐ VNCH với tấm bia trước cổng như một di tích lịch sử chiến tranh Việt Nam với hàng chữ ‘Nghĩa Trang Quân Đội VNCH 1961-1975’. Dựng lại tượng Thương Tiếc như một di tích chiến tranh của miền Nam Việt Nam. Và cho thân nhân tử sĩ được dựng Bức Tường Đen khắc tên những người đã hy sinh và khoảng để cho những chiến sĩ vô danh bên trong khu NTQĐ này”.


Nhà văn Phong Thu trong nhóm Quốc Gia Nghĩa Tử Heritage đã đặt câu hỏi rất chí lý với ông giáo sư tiến sĩ về ý kiến của ông rằng: «Kính thưa giáo sư, ông là người học cao hiểu rộng, xin hỏi ông rằng chúng ta có gì để mặc cả với cộng sản? Hay ông lại để đó cho nghĩa trang tiếp tục xuống cấp, hư hỏng, và nhiều người vào cất nhà, lấn đất, trâu bò dẫm đạp lên mộ phần, hay cộng sản san bằng và bán cho nước ngoài? Nếu các ông có điều kiện ắt có và đủ để cộng sản tuân theo ý của các ông thì ai sẽ đứng ra trả giá và đối thoại với họ? Và nếu cộng sản cho phép chúng ta làm theo ý giáo sư thì người về Việt Nam trùng tu có phải tiếp xúc với chính quyền cộng sản không? Hay họ tự ý muốn làm gì thì làm như kiểu anh hùng ở hải ngoại? Họ có bị chụp mũ là thân cộng, làm tay sai, là con “KÊN KÊN” chuyên moi xác người chết ăn, hay bán đứng xác cha anh cho cộng sản không?»


Không thấy ông giáo sư trả lời những câu hỏi này. Nhưng tôi biết ông cũng đủ trí khôn để tự hiểu rằng những gì ông tuôn ra chỉ là nhửng điều viển vông, lấy tư cách gì, uy thế gì mà đòi hỏi cộng sản được, đâu có dễ dàng như khi ông múa bút trên bàn giấy để “cử nhiệm” người này người kia vung vít trong cái gọi là “Tập Thể Chiến Sĩ” hoàn toàn hữu danh vô thực. Câu trả lờỉ của ông trong bài phỏng vấn chỉ là biểu hiện cho cái thái độ “sống chết mặc bay” của một kẻ chuyên “ăn tục nói phét” để thỏa mãn cái tính háo danh, theo thời mà thôi.


Khi có tin Nghĩa Trang Quân Đội được dân sự hóa dưới sự quản trị của tỉnh Bình Dương, tổ chức Quốc Gia Nghĩa Tử Heritage tại Hoa Kỳ đã cử mấy người về VN để thu xếp và đã thực hiện được một phần nhỏ trong việc trùng tu nghĩa trang này. Thiện chí này đã bị một số người, trong đó có ông nhà văn “nhớn” ở San Jose, không những đã không khuyến khích và tiếp tay mà lại còn đang tâm phá đám, bày ra kế hoạch có quy củ lắm. Thoạt tiên là làm áp lực khiến cho tổ chức Quốc Gia Nghĩa Tử phải phân hóa làm đôi, rồi toa rập với nhau vu cáo nhóm Quốc Gia Nghĩa Tử Heritage là “những con kên kên thời đại”, “đi về Việt Nam van xin Cộng Sản”, “bán đứng nghĩa trang”, … Trong khi đó thì chính họ lại cũng gửi người về Việt Nam, đi cửa sau giao thiệp với các giới chức địa phương hòng giành giật công trạng, những mong dây máu ăn phần. Đúng là hành động bỉ ổi gây ra do lòng đố kỵ, ghen tức của một anh có thói quen hay lên mặt dạy đời, làm gì cũng muốn đứng trên thiên hạ, muốn được độc quyền thành tích, không được như vậy thì giở trò phá đám một cách bất lương.


Nghĩa Trang Quân đội Biên Hòa là cái gai trong mắt quân Cộng Sản Bắc Việt cho nên chúng quyết tâm nhổ đi cũng là chuyện dễ hiểu. Nhưng ở hải ngoại này mà còn có những người coi chuyện trùng tu nghĩa trang này như là một cơ hội để khoe khoang cho thoả mãn tính háo danh hòng mong tên tuổi được nhắc nhở tới thì thật đáng buồn, đáng hổ thẹn. Như cặp bài trùng ở San Jose gồm cái ông được nhà văn Phong Thu ban cho cái danh hiệu là “người Lãnh Đạo tập thể bằng Bằng Cấp” và cái ông được nhà văn Sơn Tùng mỉa mai là “người ‘khôn ngoan’ sống nhờ vào tiền xã hội của Mỹ” (trong cuốn “Làm người, làm văn, làm loạn”, xuất bản năm 2000).


*** Những tài liệu về vụ Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà và nhóm Quốc Gia Nghĩa Tử Heritage đã được lưu trữ đầy đủ trong Trang “TroiNam.net”, mục “Giọt lệ tri ân” ***


* * * * * * * * *


Đi coi Nghĩa Trang tại Gallipoli, Thổ Nhĩ Kỳ, rồi nhìn lại Nghĩa Trang Quân Đội ở Biên Hoà, tôi thấy thật là tủi nhục cho cái dân tộc vẫn tự hào là có bốn ngàn năm văn hiến. Tuy nhiên, nhìn cho kỹ thì thấy ở hải ngoại này không chỉ rặt là những phường có thói tự tôn, khoe mẽ, nhưng tâm địa lại thực sự hèn mọn.


Có người như thi sĩ Cao Tần, tức nhà văn Kiều Phong Lê Tất Điều, trong bài thơ “Mai mốt anh về” năm 1977, đã viết những câu:


Nếu mai mốt bỗng đổi đời phen nữa

Ông anh hùng ông cứu được quê hương

Ông sẽ mở ra nghìn lò cải tạo

Lùa cả nước vào học tập yêu thương

Cuộc chiến cũ sẽ coi như tiền kiếp

Phản động gì cũng chỉ sống trăm năm

Bồ bịch hết không đứa nào là Ngụy

Thắng vinh quang mà bại cũng anh hùng

(Mai mốt anh về, thơ Cao Tần, 1977)

Ý tác giả muốn nói là một mai nếu cứu được quê hương thoát nạn Cộng Sản, ông sẽ dạy cho người Cộng Sản bài học yêu thương, sẽ không trả thù, sẽ không khinh rẻ, sẻ coi người chiến bại như là anh em bè bạn. Ý thơ thật chan chứa tình người, lời thơ phóng khóang, cho thấy cái tâm trong sáng cuả tác giả.


Còn nữa! Trong khi nhà thơ Cao Tần di tản được vào ngày mất nước cuối tháng 4 năm 1975, không phải chịu cái cảnh đầy đọa trong ngục tù Cộng Sản thì trái lại một thi sĩ khác, Tô Thùy Yên, đã phải đi cải tạo lao động trên 10 năm trời, trong đó có 7 tháng liền bị kiên giam đơn độc, chân bị cùm giữa 4 bức tường câm lặng. Sau khi được thả về, Tô Thùy Yên có 2 bài thơ dài được truyền tụng với những câu trích ra như sau:


Ta về như lá rơi về cội

Bếp lửa nhân quần ấm tối nay

Chút rượu hồng đây xin rưới xuống

Giải oan cho cuộc biển dâu này

(Ta Về, thơ Tô Thùy Yên)


Những ai hôm trước từng gây tội

Hãy lắng tâm tha lấy lỗi mình

Tự tại thời gian chôn chính nó

Đời lên lại mãi tựa bình minh

Sẽ lo chẳng những cho người sống

Lo cả cho người khuất mặt kia

Quen lạ bạn thù chung giấc ngủ

Chung lời thương tiếc khóc trên bia

(Mùa Hạn, thơ Tô Thùy Yên)


Từng bị đầy đọa qua sự tàn bạo của con người Cộng Sản, từng trải qua sự khắc nghiệt của rừng sâu núi thẳm, Tô Thùy Yên khi trở về đã nhận thức được rằng chính lòng thương yêu, chứ không phải sự thù hận, mới là cứu cánh của cuộc đời người. Những câu thơ của Tô Thùy Yên đã thực sự thấm vào tâm hồn người đọc vì phải có một tâm hồn cao cả như thế nào mới có thể “quen lạ bạn thù chung giấc ngủ”. Cũng như Cao Tần, khi ông viết “cuộc chiến cũ sẽ coi như tiền kiếp, phản động gì cũng chỉ sống trăm năm”.


Bức thư của Tổng Thống Thổ Nhĩ Kỳ Mustafa Kemal, những câu thơ trên của các thi sĩ Việt Nam Cao Tần và Tô Thùy Yên, cần đem đến rao giảng cho những người Cộng Sản trong nước, nhất là ở hải ngoại này cho các ông Toàn Phong, Giao Chỉ để cho tâm hồn hai ông bớt bị vẩn đục trong những ngày còn lại gần cuối cuộc đời.


Đỗ Văn Minh

Ngày 5 tháng 2, 2009


(1) Xin được kể thêm ở đây về sự nghiệp của Mustafa Kemal để hiểu tại sao ông được dân chúng Thổ Nhĩ Kỳ tôn vinh là Ataturk, người “cha già của dân tộc”.



Bên trong nhà thờ Do Thái với vị mục sư

Trong đệ nhất thế chiến, Mustafa Kemal là Trung Tá trong quân đội Thổ Nhĩ Kỳ, dưới vương triều Ottoman tham chiến theo phe Đức. Sau khi chiến tranh chấm dứt và phe Đức bị thua trận, nưóc Thổ bị quân đồng minh các nước chiếm đóng với sự hợp tác của 1 chính quyền Thổ do đoàn quân chiếm đóng tạo dựng tại Istanbul. Để chống lại, Mustafa Kemal đã triệu tập một đại hội toàn quốc, lập ra 1 chính phủ đối đầu với chính phủ do quân đồng minh chỉ định và mở ra cuộc chiến tranh giải phóng quốc gia mà ông được bầu làm lãnh tụ. Cuộc chiến kéo dài từ năm 1919 đến năm 1922 thì quân Thổ đánh bại liên quân Pháp, Ý, Hy Lạp và trận đại thắng này đã khiến cho toàn thể quân đồng minh phải rút ra khỏi lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ. Rồi hiệp định Lausanne năm 1923 đã công nhận nền độc lập của Thổ Nhĩ Kỳ.



Chế độ vương quyền Ottoman lập tức bị huỷ bỏ để thay thế bằng một chế độ cộng hoà, dân chủ, có quốc hội và tổng thống. Mustafa Kemal được bầu làm Tổng Thống đầu tiên của xứ này. Ông đưa ra những cải cách theo đường lối tây phương, và mặc dầu 95% dân Thổ theo Hồi Giáo, Hồi Giáo không được coi là quốc giáo, luật Hồi Giáo được thay thế bằng 1 bộ luật đời thường, các tu sĩ Hồi Giáo không được phép tham dự vào các hoạt động chính trị, phụ nữ được quyền bình đẳng với nam giới, không phải đeo mạng che mặt, được mặc âu phục và được quyền đi bầu. Ông cũng cho thay chữ viết theo lối Ả Rập (Arabic) bằng mẫu tự La Tinh (Latin) và cho dùng lịch theo dương lịch (Gregorian Calendar). Vì vậy, Thổ Nhĩ Kỳ vẫn là 1 quốc gia Hồi Giáo, nhưng không phải là thứ Hồi Giáo quá khích. Trong suốt thời gian hơn nửa tháng du hành qua nhiều miền trên nước Thổ Nhĩ Kỳ, tôi không hề thấy 1 phụ nữ Thổ nào đeo mạng che mặt. Đến xứ Hồi Giáo nhưng tôi chỉ nhận thức được là đang thăm xứ có cái tôn giáo này khi hàng ngày đến giờ cầu nguyện là nghe âm vang giọng đọc kinh xướng lên đồng loạt, lúc đầu chưa quen nghe khá chướng tai.`

Cũng vì Hồi Giáo không phải là Quốc Giáo cho nên tại Thổ Nhĩ Kỳ có nhiều tôn giáo khác, kể cả Do Thái Giáo. Tại các thành phố lớn như Istanbul, Ankara, Izmir, có khá nhiều nhà thờ Thiên Chúa Giáo. Tại Izmir, chúng tôi được đưa đến thăm 1 nhà thờ Do Thái Giáo và trên đường đi Ephesus, chúng tôi đã ghé viếng House of Virgin Mary, được coi như 1 thánh địa của Thiên chúa Giáo, hàng năm có rất đông tín đồ đến hành hương. Những năm 1967 và 2006, các giáo hoàng La Mã khi công du Thổ Nhĩ Kỳ cũng đã đến thăm thánh địa này.


Lối vào House of Virgin Mary

Bức tường bên ngoài gắn đầynhững mảnh giấy ghi lời cầu xin của các khách hành hương

0 comments:

Post a comment

Bài Xem Nhiều