We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 2 January 2012

Tin Vui:Vũ Hùng Vương chống tội phạm bị mất trộm bạc tỷ

Của dân  thì nên trả lại cho dân

Nhà tướng cảnh sát chống tội phạm bị mất trộm bạc

vuhungvuong-400x330.jpg
Thiếu tướng Vũ Hùng Vương. Ảnh GDTT
Không biết vô tình hay hữu ý và tên đạo chích dám cả gan đột nhập vào nhà ông Vũ Hùng Vương – Thiếu tướng, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát điều tra tội phạm – Bộ Công an ở Hà Nội – để “nẫng” số tiền mặt, vàng và ngoại tệ trị giá tới 1 tỉ đồng.
Tên trộm táo tợn đã lấy đi 550 triệu đồng, 9 cây vàng, 12 chỉ vàng tây, 500 USD, 500 đôla Úc, 40.000 won Hàn Quốc, 1 đồng hồ đeo tay… với tổng trị giá khoảng 1 tỉ đồng.
Nha-ong-Vu-Hung-Vuong-371x550.jpg
Ngôi nhà 3 tầng, 2 mặt tiền của thiếu tướng
Vũ Hùng Vương. Ảnh


Theo thông tin ban đầu, kẻ gian đã trèo tường rào lên lan can tầng 2, dùng xà cầy phá khóa cửa đột nhập vào nhà.
Hiện vụ trộm đang được cơ quan công an tiếp tục điều tra.
Được biết, ngôi nhà của ông Vũ Hùng Vương có 3 tầng, 2 mặt tiền, trong ngõ lớn thuộc phường Dịch Vọng Hậu.
Trong thời gian đôi tháng trở lại đây hàng loạt vụ trộm nhằm vào nhà các quan chức cao cấp từ Bắc tới Nam, trong đó có cả giám đốc, phó giám đốc công an tỉnh, cán bộ thuế, chánh án… Những vụ trộm này đều có chung một điểm là số tiền mà các quan chức này mất cắp là hàng tỉ đồng.
Các báo trong nước đều đưa tin về các vụ việc này nhưng không báo nào đặt vấn đề, quan chức Việt Nam lấy đâu ra lắm tiền như vậy?
Biên tập theo báo Người Lao Động

THÔNG BÁO CỦA TUỔI TRẺ YÊU NƯỚC VỀ VIỆC CÔNG AN CỘNG SẢN BẮT GIAM NHẠC SỸ VIỆT KHANG

THÔNG BÁO CỦA TUỔI TRẺ YÊU NƯỚC VỀ VIỆC CÔNG AN CỘNG SẢN BẮT GIAM NHẠC SỸ VIỆT KHANG

Việt Nam, ngày02, tháng 01 năm 2012
Kính thưa quý vị,
Kính thưa quý thân hữu, quý chiến hữu cùng quý Niên Trưởng,
Vào lúc 7 giờ tối ngày 23 tháng 12 năm 2011,  theo lệnh của Bộ Công An Cộng Sản Việt Nam phối hợp với công an tỉnh Tiền Giang phục kích, bao vây nhà nhạc sĩ Việt Khang tên thật là Võ Minh Trí tại số 8/10 F đường Nguyễn Văn Nguyễn Khu Phố 7, Phường 8 Thành Phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang đã bắt nhạc sĩ Việt Khang và hiện nay ở đâu không ai hay biết.
Nhạc sĩ Việt Khang đã sáng tác nhiều bản nhạc mang nặng tình quê hương dân tộc với nỗi trăn trở đối với những bất công xã hội và ưu tư trước họa xâm lược của ngoại xâm Trung Cộng. Đặc biệt trong tháng 8/2011, nhạc sĩ Việt Khang đã sáng tác hai bản nhạc "Anh là ai""Việt Nam tôi đâu", đã làm rung động bao tâm hồn mọi người dân Việt Nam trong và ngoài nước.
Nhạc Sĩ Việt Khang
Nhạc sĩ Việt Khang là thành viên của “Tuổi Trẻ Yêu Nước”  có trang nhà www.tuoitreyeunuoc.com  và www.tuoitreyeunuoc.net . Những bản nhạc của anh Việt Khang là những bản nhạc của một con dân Việt Nam yêu nước chân chính, lời nhạc của anh đã thay thế đồng bào Việt Nam cất cao tiếng nói vì quyền lợi chính đáng của dân tộc.
Sự vây bắt của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đối với nhạc sĩ Việt Khang là hành động vi phạm trầm trọng bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, việc làm trái lại với đối với nguyện vọng của dân tộc, và là bóp nghẹt tiếng nói của người dân yêu nước.
Vậy Tuổi Trẻ Yêu Nước yêu cầu nhà cầm quyền Cộng Sản tức khắc trả tự do cho nhạc sĩ Việt Khang, và mong mỏi các cơ quan truyền thông trong và ngoài nước, các hội bảo vệ nhân quyền trên thế giới lên tiếng bênh vực cho nhạc sĩ Việt Khang.
Trân trọng;
Tuổi Trẻ Yêu Nước Hà Nội – Sài Gòn

Người Dân Lãnh Đủ


Cán bộ, đảng viên CS lớn ăn theo lớn, nhỏ ăn theo nhỏ, đua nhau bóc lột người dân Việt. Người dân Việt lãnh đủ, è cổ ra trả tiền vật giá gia tăng và đóng tiền thuế để trả nợ cho các quốc doanh do cán bộ đảng viên tham ô hay làm ăn lổ lã. Điều này có thế thấy qua hai thời sự tiêu biểu rùm beng trong thời gian năm cùng tháng cạn 2011 sau đây.
Vụ thứ nhứt, ngành điện của Đảng Nhà Nước CSVN khai lổ nặng, phải tăng giá điện lên 5%. Người dân phải đóng mắc hơn cán bộ, đảng viên lãnh đạo của công ty mẹ EVN trong năm 2010 là hơn 30 triệu, cán bộ 10 mấy triệu và công nhân viên cũng cả chục triệu, trung bình 13,7 triệu đồng một tháng. Nhưng Bộ Tài chánh phát giác ra cao hơn nữa, lương trung bình các cơ quan văn phòng thuộc tập đoàn điện lực này còn cao nữa - trên 27 triệu đồng một tháng. Đó là nói lương chớ chưa nói bổng lộc, nhà ở, xe đi, nhân viên phục dịch như tài xế, thơ ký riêng, và cần vụ cho mấy lãnh đạo.
Còn công nhân trung bình 7.3 triệu một tháng. Cứ lấy lương trung bình của công nhân điện lực 7.3 triệu một tháng làm chuẩn so sánh. Ở VNCS mức lương 7.3 triệu một tháng là mức lương cao gấp ba lần so với các ngành khác. Thế mà Ô. Phạm Lê Thanh - Tổng giám đốc Tập đoàn Điện lực VNCS còn than nghèo kể khổ, cho rằng lương trung bình chỉ được 7,3 triệu - là quá ít.
Lời của Tổng Giám Đốc coi công quản điện lực cả nước VNCS này là một xúc phạm cho hầu hết những người lao động chân tay cũng như đầu óc. Nghề điện quản trị không cần phải học cao như tiến sĩ, bác sĩ, giáo sư đại học. Công nhân chỉ cần kỹ sư trưởng lưới và cán sự kỹ thuật là cao. Việc làm không có gì nguy hiểm so với các ngành kỹ thuật khác và cũng không có gì “khẫn trương” như ngành chữa lửa, không có gì nguy hiểm vì bây giờ hệ thống bảo hộ lao động rất tinh vi và hữu hiệu. Thế mà lương trung bình cao gấp ba lần các ngành nghề khác, mà còn nói ít, thì làm sao công nhân các ngành khác không buồn bực, tủi nhục.
Một cách tổng quát, công nhân lao động phổ thông nặng nhọc làm cho công trình xây cất rất nặng nhọc, cơm nước tự lo, mà tiền công chỉ có 80.000 đồng một ngày, tức 2,4 triệu đồng một tháng thôi. Công nhân lao động dệt may trên dưới 4 triệu đồng/tháng.
Công chức hành chánh có bằng đại học hiện tại lương dưới 2 triệu đồng/tháng. Nhưng bổng thì nhiều nhờ tham nhũng, hối lộ, làm khó làm khăn buộc lòng người dân phải lo lót.
Còn công chức các ngành chuyên môn như giáo dục, y tế lương cũng thế thôi cộng thêm một ít phụ cấp chuyên môn. Và hầu hết phải sống bằng tiền dạy thêm, “phụ đạo” gần như bó buộc của học sinh hay tiền lót tay của gia đình bịnh nhân khi điều trị. Một giáo sư tiến sĩ có vài ba chục năm công tác khi về hưu cũng chỉ có vài triệu. Mức lương của EVN như vậy là một mức lương không công bằng.
Ngành điện lương cao như vậy, thế mà nay viện lý do thua lổ, mai viện lẽ giá nhiêu liệu tăng, “vô tư” “ không ngừng nghỉ” nói theo kiểu CS tăng giá điện làm cháy túi người dân, lao đao các cơ sở sản xuất.
Người dân chung qui lãnh đủ. Người dân làm sao không kêu ca khi Kiểm toán Nhà nước công bố Điện lực VN hay EVN nợ hơn 200.000 tỷ, lỗ 8.400 tỷ. Điện lực là một hình thức công quản, một lọai quốc doanh, kinh doanh vì nhiệm vụ chính trị do nhà nước giao, thì khi lổ nhà nước mới bù lỗ và cho phép tăng giá điện để bù vào.
Nhưng Nhà Nước chỉ là kẻ ăn bám của dân. Cuối cùng người dân phải è cổ ra đóng thuế để Nhà Nước dùng tiền thuế của dân đóng vào ngân sách quốc gia rót qua để bù lổ cho quốc doanh.
Và vụ thứ hai, tập đòan Vanashin của Đảng Nhà Nước lỗ gần như phá sản, bị kiện ra tòa án ở Anh, sớm muộn gì ngân sách nhà nước VNCS cũng phải trả, tức từ số tiền người dân è cổ ra đóng thuế để trả cho những tham ô, mất mát, lổ lã do cán bộ, đảng viên gây ra. Tập đoàn Vinashin là công ty trách nhiệm hữu hạn với số vốn 100% là của nhà nước – tức là quốc doanh rồi. Nhà Nước xuất vốn là lấy từ ngân sách quốc gia, chánh yếu là tiền thuế của người dân.
Với số tiền khổng lồ khỏi làm mà có ăn, có quyền đó, và với thế lực bao che của TT Nguyễn tấn Dũng, cán bộ đảng viên nắm quyền mặc sức “bung ra” phình lên. Như kinh tế gia Nguyễn xuân Nghĩa phân tích, thành “mười mấy công ty con, hơn hai chục công ty cổ phần, hơn một chục đơn vị hạch toán phụ thuộc, 11 công ty liên doanh, bảy đơn vị sự nghiệp có thu, bảy đơn vị phụ thuộc, ba chục công ty cổ phần do tập đoàn này giữ tỷ lệ chi phối về vốn. Tập đòan Vinashin còn bung ra khắp nơi với đủ loại dự án, từ Móng Cái tới Cà Mau, từ Thái Bình, Nam Định đến Quảng Bình, Quảng Ngãi tới Hậu Giang, Đồng Tháp. Cán bộ đảng viên CS tự tung tự tác, nhưng núp dưới bóng tập thể theo kiểu CS nên cha chung không ai khóc, không ai bị trách nhiệm.
Tập đoàn Vinashin mất 80.000 tỷ đồng vốn. Tập đòan Vinashin lợi dụng thế nhà nước, dùng sự bảo lãnh của nhà nước VNCS để vay vốn, huy động vốn, và làm ăn với các công ty, định chế tài chánh của ngọai quốc. Tập đoàn Vinashin mắc nợ từ ba tỷ đến bốn tỷ đô la. Tập đòan bên bờ vỡ nợ vì không thanh toán nổi một khoản nợ đáo hạn đầu tiên là 60 triệu.
Chánh phủ VNCS kẹt cứng, ắt phải trả nợ cho Vinashin vì có thư bảo lãnh của chính phủ VNCS. Standard & Poor's sụt hạng tín nhiệm tài chánh của VNCS. Công ty Elliot đã khởi tố Vinashin trước Toà Thượng thẩm của Anh vào cuối tháng 11 năm 2011.
Vinashin, theo kết luận của kinh tế gia Nguyễn xuân Nghĩa, “không là trường hợp duy nhất và nạn nhân của cả bi hài kịch Tập đoàn Kinh tế Nhà nước chính là người Việt Nam.” Người Việt Nam mà kinh tế gia Nguyễn xuân Nghĩa nói ở đây là chánh yếu người dân Việt. Ông nhấn mạnh “Họ đã mất đất mà còn phải nộp thuế để nhà nước trả món nợ do một thiểu số bất lương gây ra, dưới sự bao che của đảng và nhà nước.”
Sau cùng, quốc doanh như Điện Lực (CS vọng ngọai, dùng chữ Anh Electricity, Pháp Electricité viềt tắt là EVN) và Vinashin do cán bộ, đảng viên CS cầm cán lẫn lưỡi tự tung tự tác, làm ăn lổ, mắc nợ, sau cùng người dân chung qui phải lãnh đủ, trả bằng tiền thuế hay tiền giá tăng. Còn đảng viên cán bộ thì no nứt trứng, ăn cắp của công mà Cựu Thủ Tướng Võ văn Kiệt gọi là “rút ruột công trình” và hưởng bổng lộc quá cao. Nhưng hầu hết cán bộ đảng viên CS đểu “hạ cánh an tòan” kể cả việc dùng cơ quan nhà nước, quốc doanh làm nơi rửa tiền từ công quỹ do ngân sách rót qua đưa vào túi riêng hay gởi đi ngọai quốc cất giấu cho cán bộ đảng viên, một cách vô tội vạ./.
 
Vi Anh

THIÊN ĐƯỜNG MỚI : Cháu Ngoan Bác Hồ Thích Lấy Chồng Ngoại


Tâm sự của một cô dâu Hàn Quốc: ..chúng tôi bị nhìn ngắm, thậm chí còn bị sờ mó như một món hàng. Tôi có quyền nghĩ đây là cơ thể của tôi, tôi nhịn nhục để được thay đổi cuộc đời, nhiều người cứ tưởng rằng cơ thể của tôi thuộc về sở hữu của dân tộc VN. Thế nên, họ đùng đùng nổi giận khi cơ thể của tôi bị người khác dòm ngó, chọn lựa…chúng tôi được sống trong một môi trường văn hoá-xã hội mà ở VN, tôi có nằm mơ cũng không bao giờ thấy được". (Trần Thị Nguyên)
Cháu ngoan bác Hồ thích lấy chồng ngoại.
Thật vậy, các cháu đã được giáo dục đào tạo dưới mái trường XHCN, trên cơ sở "học tập, lao động, chiến đấu theo gương đạo đức của bác Hồ vĩ đại"
Chính các cháu thuộc thế hệ "quàng khăn đỏ", đạt danh hiệu "Cháu Ngoan Bác Hồ", đã từng sinh hoạt trong đội, đoàn để rèn luyện lý tưởng Cộng sản.
Thế là cả một phong trào vùng lên làm cuộc” cách mạng đổi đời”. Cuộc đổi đời lần thứ nhất đưa đến cảnh đồng bào cả nước ăn bo bo dài dài, cuộc đổi đời lần nầy, với hàng trăm ngàn cháu ngoan của bác, đã nhận chìm nhân phẩm của người phụ nữ Việt Nam, con cháu Bà Trưng, bà Triệu, xuống tận bùn đen dưới chân của những thằng bần cố nông Đài Loan, Đại Hàn.
Đó là hình ảnh của từng đợt, hàng hàng lớp lớp, thiếu nữ VN, hàng chục, hàng trăm người trần truồng như nhộng, xếp hàng phô trương thân thể để cho mấy thằng mạt rệp Đài Loan, Đại Hàn sờ mó, ngắm nghía, móc ngoặt để chọn vợ như người ta lựa mua món đồ chơi hay mua nô lệ của những thế kỷ trước.
Văn hoá truyền thống ngàn năm của dân tộc là "nghèo cho sạch, rách cho thơm" thế mà thời đại Hồ Chí Minh chả còn cái gì là sạch, là thơm cả.
Cũng chả trách được ai, vì chính bác đã chà đạp nhân phẩm phụ nữ, xem phụ nữ như một món đồ chơi để giải quyết sinh lý, chơi chán rồi chuyền xuống cho đàn em hưởng xái nhì, trước khi đem thủ tiêu để chọn món đồ chơi khác. Con rơi, con rớt cả đàn, thì còn trách được ai nữa?
2* Hôn nhân dị tính không có gì đáng trách cả
Hôn nhân phải được đặt trên cơ sở tình yêu, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và có mục đich chung là xây dựng hạnh phúc gia đình. Bất cứ người Việt Nam nào, nam hay nữ, kết hôn với người khác chủng tộc như Đài Loan, Đại Hàn, Trung Quốc, Mả Lai ... nếu đặt trên cơ sở nầy, thì không có gì đáng phiền trách cả.
Những người đàn ông Đài Loan, Đại Hàn đa số là nông dân, ít học, quá lứa, nghèo rớt mồng tơi...không có khả năng cưới vợ bản xứ, cho nên đi tìm đến thị trường rẻ tiền, ế hàng để làm vua, làm chúa, làm ông trời con, đối với phụ nữ VN. Điều nầy, tự bản chất của nó, đã hạ danh dự và nhân phẩm của phụ nữ VN, một thứ đồ chơi rẻ tiền. Thanh niên VN phải bưng khai trầu rượu, cung kính dâng lên cha mẹ vợ để xin cưới con gái, trái lại, mấy thằng nông dân Đài Loan, Hàn quốc chỉ tung ra vài ba triệu đồng VN để mua vợ. Cha mẹ vợ và chàng rể chưa được gặp mặt nhau lần nào trước khi đám cưới. Ngay cả vợ cũng chưa có đủ thời gian để nhớ rõ mặt mũi chồng ra sao, trong đầu óc chỉ biết đến những con số về tiền bạc mà thôi.
Cái nhục nhã nhất chưa từng có trong lịch sử VN bốn ngàn năm, là việc các cô gái trần truồng đứng xếp hàng với hy vọng được chấm, và được về làm dâu xứ người.
3* Những lý do đổ vở
 
Lý do thứ nhất là sự thất vọng.
Những đàn ông nước ngoài được các tổ chức và các ông mai bà mối giới thiệu hàng, nào là gái VN có thân hình đẹp, siêng năng, chịu khó, chiều chồng hết mực...Những thiếu nữ VN thì được cho biết là, chú rể là chủ nông trại, chủ đồn điền, các bà vợ chỉ ở nhà xem phim Hàn quốc, làm đẹp, mỗi tháng chồng cho 300 đô gởi về VN, tha hồ mà mua sắm quần áo hàng hiệu...
Thực tế thì trái lại, làm thất vọng cả hai bên. Giấc mơ đổi đời tiêu tan theo mây khói. Chàng rể thì nợ vay cưới vợ không trả nổi. Ngôn ngữ bất đồng, phong tục tập quán khác nhau thì làm sao mà hiểu nhau để hợp nhau mà tạo dựng hạnh phúc gia đình.
Ở không được, về VN không được, cho nên bi kịch xảy ra.
4* Đài Loan khó, Hàn Quốc dễ
4.1. Đài Loan khó
Theo số liệu của Đài Loan, thì từ thập niên 1990 đã có 100,000 cô dâu VN. Đến năm 2004, chính phủ Đài Loan thắt chặt dịch vụ môi giới, sau những loạt các ông chồng đánh đập, tra tấn và cầm tù các người vợ VN. Quy chế mới bắt buộc những cặp Đài - Việt phải trình diện khi đăng ký kết hôn và phải trải qua các vòng kiểm tra về ngôn ngữ, hiểu biết văn hoá, hiểu biết nhau, về chênh lệch tuổi tác và tình trạng sức khỏe.
4.2. Hàn quốc dễ hơn
Cùng lúc đó, chính sách hôn nhân của Hàn quốc đã mở ra nhiều cơ hội tìm vợ cho đàn ông nông thôn hoặc những người quá lứa, cao tuổi, mà không có khả năng cưới vợ người Hàn quốc. Nắm lấy cơ hội nầy, những tổ chức và cá nhân làm nghề môi giới VN đã chuyển sang thị trường Hàn quốc.
Từ năm 2004 đến 2006, số cặp hôn nhân của năm sau tăng gấp đôi năm trước. Cao điểm vào năm 2006, với 10,130 cặp Hàn-Việt kết hôn.
Các cô gái VN chỉ cần biết OK bằng cách gật đầu là xong ngay. Đương nhiên là phải có thông dịch viên để bàn các chi tiết của đám cưới, chủ yếu là về tiền bạc.
Trước kia, Đài Loan yêu cầu các cô gái phải còn trinh, nhưng đàn ông Đại Hàn thì không quan tâm nhiều đến cái ngàn vàng ấy.
Vì không chú trọng đến chữ trinh, cho nên nhiều người vợ trẻ VN đã bỏ chồng đi làm dâu xứ củ sâm.
Thường thì báo chí chỉ đăng những vụ bố ráp bắt những tổ chức môi giới bất hợp pháp và một vài trường hợp hy hữu về những thảm cảnh của cô dâu VN ở xứ người, vì thế làn sóng gái Việt mơ có chồng Đại Hàn vẫn tiếp tục gia tăng. Hàn quốc hiện có 137,000 cô dâu người nước ngoài.
5* Bi kịch ở Đài Loan
5.1. Vợ Việt bị hành hạ dã manXem mắt, sờ mó. kiểm tra hôm trước, đám cưới hôm sau. Cha mẹ vợ chưa một lần gặp mặt và biết tên chú rể. Thân gái 12 bến nước, toàn là bến dơ.
Theo bản tin của tờ báo Quả Táo, Đài Loan và tờ Newspaper (Singapore) thì ở Đài Loan đang xảy ra một vụ án gây phẩn nộ, mà nạn nhân bị hành hạ, đoạ đày còn khổ hơn 12 kiểu khổ hình tra tấn dã man của thời đại các bạo chúa ngày xưa.
Nạn nhân là một cô dâu VN tên Đoàn Nhật Linh, 20 tuổi.
Vào tháng 4 năm 2002, cô Linh theo chồng là Liu Cheng Chi (Lưu Chánh Kỳ) 39 tuổi, về Đài Loan với gương mặt tươi cười rạng rỡ vì gia đình được nở mặt nở mày với bà con, láng giềng. Chú rể không những có nhiều tiền mà còn bảnh trai nữa.
Cô không biết rằng chuyến đi định mệnh đó bắt đầu cho một cuộc sống tủi nhục và đau khổ của đời cô.
Thực tế thì, chồng của Nhật Linh vẫn còn sống chung với người vợ cũ tên là Lin Lee Zhu (Lâm Lệ Như) 34 tuổi. Lưu Chánh Kỳ và Lâm Lệ Như đã có một đứa con gái, nhưng vì Lệ Như không có thể sinh con được nữa, mà Chánh Kỳ thì muốn có đứa con trai để nối dõi tông đường, cặp vợ chồng nầy thực hiện một cuộc ly hôn giả, để Chánh Kỳ sang VN cưới vợ về, hy vọng sẽ có con trai và có người giúp việc không công.
Hàng đêm, Lưu cùng 2 vợ ngủ chung một giường. Ban ngày, Nhật Linh phải làm việc như một Osin để phục vụ cho cả nhà. Đêm thì, Linh bị vợ chồng Lưu cưỡng bách chơi trò dâm loạn ba người trên cùng một giường.
Ba tháng sau, vợ chồng Lưu bắt đầu hành hạ Nhật Linh bằng các cực hình.
Tất cả giấy tờ của Nhật Linh, từ hộ chiếu đến giấy cư trú bị Lưu cất giữ và cấm không cho liên lạc với bất cứ ai. Bị giam trong phòng, mỗi ngày một bữa ăn và một lần đi vệ sinh.
Vì ăn chơi trác táng, Lưu bị nhiễm trùng đường tiểu, hắn nghi ngờ Nhật Linh lây bịnh cho hắn, nên vợ chồng thẳng tay dùng các hình thức tra tấn dã man, cưỡng bức Nhật Linh phải ký giấy thú nhận đã từng làm gái mãi dâm, đã bị bịnh và đã truyền bịnh cho hắn.
Linh thường bị trói, bị lấy kim đâm vào 10 đầu ngón tay, rồi nhúng những ngón tay rỉ máu vào nước muối. Hắn còn dùng gậy đánh đập dã man, dùng dao chém vào lưng, rạch thành những vết thương ngang dọc. Thậm chí, còn bắt cô nhắm mắt rồi lấy ná thun bắn vào mắt.
Suốt 7 tháng liên tục bị hành hạ, từ một cô gái thanh xuân tràn đầy sức sống, cô gầy gộc chỉ còn da bọc xương, từ 48 kg còn 20 Kg.
Tháng 2 năm 2003, Nhật Linh không còn đi đứng nổi, trên người đầy vết thương rướm máu, vợ chồng Lưu Chánh Kỳ sợ Linh chết, cả hai khiêng cô lên xe, chở đến một bãi vắng, thuộc khu nhà máy phát điện ở Đài Trung (Đài Loan) rồi vất cô xuống.
Sức tàn lực kiệt, nhưng bản năng sinh tồn và những uất hận dồn nén, cô lê lết đến một quán ăn gần đó để xin ăn.
Cảnh sát được báo tin, đưa Linh vào bịnh viện cấp cứu.
Sau một năm điều trị và chăm sóc đặc biệt, Nhật Linh đã bình phục.
Nhật Linh thuật lại:
"Sau 7 ngày liên tục, em bị bỏ đói, đến 11 giờ trưa hôm đó, ông ta lấy kéo xởn tóc em, sau đó lôi em lên xe, chở đến một cánh đồng vắng, bỏ em xuống và đưa em một chai thuốc và nói "Uống để chết nhanh, không đau", rồi hắn hái lá cây cho em ăn. Khoảng hai giờ sau, ông ta quay lại, thấy em nằm im, tưởng em đã chết. Ông ấy lấy lá cây xoá dấu bánh xe rồi bỏ đi.
Em lết đến một quán ăn gần đó, xin cơm của một người phụ nữ rửa chén. Bà ấy cho em một vắt mì, 2 trái quít một lon coca và một cái áo khoát vào người. Em ngồi ăn ngoài đường, khách qua lại tưởng là người ăn xin, họ cho em tất cả 50 đồng Đài Loan. Và em ngất xỉu. Khi tĩnh dậy thì mới biết đang ở bịnh viện.
Trước cơ quan điều tra, vợ chồng Lưu Chánh Kỳ phủ nhận hoàn toàn những hành vi phạm tội, mà còn giả bịnh tâm thần để chạy tội.
Công tố viện đã khởi tố Lưu Chánh Kỳ và Lâm Lệ Như về tội "ngược đãi người khác như nô lệ" với bản án 7 năm tù.
Bà Võ Thị Nguyên, mẹ của Nhật Linh, đang sống ở huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng nói:"Tôi hối hận lắm. Con đang học lớp 9, bắt con nghỉ học để lấy chồng ngoại, tưởng vậy là thương con, nào ngờ, mẹ đã hại con. Ngày cưới, tôi thấy trong giấy, chú rể ghi tiền cưới là 10 triệu, nhưng trong phong bì chỉ còn có 4.4 triệu, trả tiền thuê xe, thì chỉ còn 4 triệu"
Rốt cuộc, cũng chỉ vì tiền.
5.2. Giết vợ Việt để lãnh tiền bảo hiểmNgày 27-5-2007, toà án Đài Loan đã kêu án tù chung thân Lý Thái An đã cấu kết với em trai là Lý Song Toàn, giết người vợ VN là Trần Thị Hồng Sâm để lấy tiền bảo hiểm nhân mạng.
Tóm tắt sự việc.
Lý Thái An đã mua bảo hiểm nhân mạng cho vợ VN là Trần Thị Hồng Sâm với giá là
75 triệu tệ Đài Loan (Hơn 2 triệu đôla Mỹ)
Thái An dàn cảnh đưa vợ đi bằng đường xe lửa và cho em trai là Lý Song Toàn phá hoại làm cho xe lửa bị trật đường rầy, gây ra tai nạn.
Hồng Sâm được đưa vào bịnh viện Fan Liao vì bị thương nhẹ. Tại bịnh viện, Lý Song Toàn đã bí mật chích một loại nọc rắn độc làm cho Hồng Sâm bị xuất huyết nội và tử vong.
Dựa vào lời khai của y tá, vào những báo cáo của 4 viện Đại học y khoa, của bác sĩ giảo nghiệm tử thi chuyên môn đã kết luận là Trần Thị Hồng Sâm chết vì chất độc chớ không phải do tai nạn gây ra.
Y tá khai rằng Lý Song Toàn cứ lãng vãng bên cạnh bà Hồng Sâm, mặc dù y tá đã yêu cầu anh ta đi ra ngoài. Một nhân chứng là Huang Fu Lai, khai rằng Lý Thái An đã sửa soạn âm mưu từ 6 tháng trước và đã rủ ông tham gia để chia tiền, nhưng ông từ chối.
Sau đó, Huang Fu Lai bị kết án 4 năm tù treo.
Lý Song Toàn đã tự tử một nghày sau khi bị truy tố chủ mưu giết người.
Người vợ đầu tiên của Lý Thái An cũng là cô dâu Việt Nam đã chết một cách mờ ám. Trần Thị Hồng Sâm là vợ thứ ba.
5.3. Bị điên vì lấy chồng Đài LoanBẳng đi 2 năm không liện lạc, ngày nọ, gia đình chồng dẫn cô dâu về VN trả lại cho nhà gái. Từ một cô gái xinh đẹp, Hà biến thành một người xấu xí, già nua, không nói với ai một lời, cô co rúm vào một góc phòng nét sợ hải hiện trên nét mặt.
Ở làng quê, xã Trung Nhất, huyện Thốt Nốt, Cần Thơ, Hà được xem là cô gái may mắn hơn những cô khác, là Hà được có tấm chồng ở Đài Bắc, thương vợ hết mực, có cơ nghiệp ổn định.
Hà được đưa vào bịnh viện tâm thần Cần Thơ. Ở bịnh viện nầy, có không ít những cô dâu có chồng ngoại cũng bị tâm thần như Hà. Trong đó, có cô dâu tên Màu.
Bà mẹ Màu còn nhớ rõ, sau một đám cưới tập thể được tổ chức gấp rút ở Sài Gòn, người môi giới đưa cho bà 1 triệu đồng là tiền của gia đình chú rể, sau khi trừ đi các chi phí.
21 ngày sau, bà nhận được điện thoại bảo lên sân bay Tân Sơn Nhất đón con.
Lúc tĩnh táo, Màu còn nhớ, chồng lớn hơn cô 20 tuổi, làm nghề gì không biết mà ra đi từ sáng sớm, tối mịt mới về nhà.
Màu ở chung với mẹ chồng và người anh chồng làm nghề ăn xin, mình đầy ghẻ lở. Mỗi bữa ăn, mẹ chồng buộc cô phải uống một thứ thuốc gì màu đen, mùi hăng hắc. Cô không uống thì bị một trận đòn chí tử.
Người vợ cũng không thấy rõ mặt chồng mình. Cô bị nhốt suốt ngày trong phòng. Màu sống 21 ngày như thế và đâm ra hoảng loạn, phát điên.
Gia đình trở nên nghèo túng hơn kể từ khi Màu trở về. Mỗi tháng phải mua 300,000 tiền thuốc cho Màu.
Năm 2003, tưởng rằng con gái hết bịnh, gia đình tháo dây xích buộc chân cô. Một đêm, cô bỏ đi, bảo là lên Cần Thơ làm ăn. Sau đó, người nhà tìm thấy Màu đi lạc ở Đồng Tháp.
8 tháng sau, Màu sanh ra một đứa con không cha.
Gia đình đã nghèo mà còn bị rách nát hơn. Đó là hậu quả của một cuộc đổi đời. Biết trách ai đây?
Một ông Đài Loan cưới 2 vợ VN trong 4 ngày.
Hồi tháng tư năm 2004, một người Đài Loan tên Lin Ming Wei nhập cảnh VN với lý do du lịch. Nhưng sau đó, ông nhờ người mai mối tên Huỳnh Thị Nga, trong vòng 4 ngày đã nhanh chóng làm lễ cưới không hôn thú với 2 cô gái VN, cả hai đều 21 tuổi ở huyện Phong Điền, Cần Thơ.
Bị phát hiện, ông Lin Ming Wei bị phạt 10 triệu đồng vì lý do có hành động không đúng với mục đich nhập cảnh.
Câu chuyện gái Việt lấy chồng ngoại kể hoài không hết được.
Không hiểu phụ nữ VN ở thế hệ nầy nghĩ gì về hôn nhân?
Không hiểu các bậc cha mẹ ở thời đại nầy nghĩ sao về hạnh phúc của con gái?
Đạo đức VN đã đến thời kỳ thật sự bị phá sản!
6* Bi kịch ở Hàn Quốc
6.1. Cái chết của Thạch Thị Hoàng NgọcChuyện cô gái Việt lấy chồng ngoại không có gì lạ. Chuyện cô dâu Việt bị hành hạ cũng không có gì lạ vì nó xảy ra hà rầm như cơm bữa.
Chuyện lạ ở đây là câu chuyện thương tâm của một cô gái Việt mới 20 tuổi.
Cuộc mặc cả xảy ra trong 30 phút và sau đó là cuộc hôn nhân vội vã mà hai bên chưa kịp nhớ rõ mặt nhau, bất chấp quá khứ và hiện tại, cho dù người chồng bị khuyết tật hay bịnh tâm thần cũng mặc.
Ngày 9-7-2010, cô dâu VN tên Thạch Thị Hoàng Ngọc, chỉ sau một tuần đặt chân trên đất nhà chồng ở xứ Củ Sâm, thì một tin buồn bay đến tận vùng quê hẻo lánh thuộc huyện Cờ Đỏ, Cần Thơ, tin buồn làm cho gia đình và chòm xóm đều bàng hoàng không ít. Dân chúng huyện Cờ Đỏ xôn xao trước cái chết của người con gái trẻ và ngoan hiền.
Ông Thạch Sang cho biết, Ngọc là đứa con hiếu thảo, vì gia đình quá nghèo nên phải bấm bụng cho con đi, mong cho con được hạnh phúc.
Chị của Ngọc thì lấy chồng Đài Loan, em út thì đang làm thủ tục dể đi lấy chồng Đài.
Trước khi cưới, chú rể có đưa 3.8 triệu, nhưng trừ các chi phí chỉ còn 1.8 triệu. Và sau đó, chú rể Jang Du Hyo có đưa thêm 500 đô la Mỹ.
Tờ Korea Times đưa tin là sở cảnh sát cho biết một phụ nữ VN được tìm thấy đã chết trong nhà chồng vào ngày 8-7-2010.
Cô Thạch Thị Hoàng Ngọc đến Đại Hàn vào ngày 1-7-2010, không biết tiếng Hàn, cũng không biết ông chồng có tiền sử bịnh tâm thần. 5 ngày trước khi đi VN để đón cô dâu, thì Jang đã phải vào bịnh viện. 5 năm trước, Jang đã tấn công cha mẹ mình. Jang đã vào bịnh viện 57 lần để điều trị bịnh tâm thần phân liệt của mình.
Cái chết của cô Thạch Thị Hoàng Ngọc đã dấy lên nhiều nguồn dư luận khác nhau ở Hàn Quốc.
Khi ông bà Thạch Sang đến Hàn Quốc, thì một nghị sĩ là ông Han Sun Kyo đã cùng ông bà đưa xác cô Hoàng Ngọc về quê an táng.
Hội những người Hàn ở Sài Gòn quyên góp được số tiền 20,000 đô la để giúp đở gia đình nạn nhân.
Tờ Chosun Ilbo cho biết là gia đình cô Hoàng Ngọc được bồi thường 25,000 đô la.
Tổng thống Lee Myung-bak đã đích thân xin lỗi gia đình nạn nhân trong bài phát biểu trên đài phát thanh quốc gia.
Toà án Busan đã kết án 12 năm tù cho chú rể Jang Du Hyo. 3 người môi giới bị phạt một năm tù giam.
Sau đó, Đại Hàn đã ban hành những luật lệ mới về việc hôn nhân với người ngoại quốc.
6.2. Cái chết của cô dâu Kim Đồng Ông Phạm Hữu Chí, tham tán ngoại giao ở Hàn quốc cho biết, thi thể của cô Lê Thị Kim Đồng đã được hoả táng. Không có bằng chứng pháp lý để truy cứu hình sự. Và toà Đại sứ VN ở Hàn Quốc yêu cầu cảnh sát mở cuộc điều tra. Ngày giờ đưa tro cốt về VN chưa được xác định. Hội Hàn Kiều cũng đã chuyển số tiền 88 triệu đồng VN quyên góp cho gia đình cô Kim Đồng ở Cần Thơ. Cô Kim Đồng thiệt mạng sau một cuộc tẩu thoát ra khỏi nhà chồng không thành.
6.3. Cái chết của cô dâu Huỳnh Mai.
Ngày 15-8-2007, cô Huỳnh Mai, 20 tuổi, đã bị chồng Đại Hàn đánh gảy 18 cái xương sườn, bỏ chết dưới hầm nhà chồng, đã làn chấn động dư luận ở Hàn quốc và cả thế giới nữa.
Lễ trao hài cốt diễn ra tại Sài Gòn. Số tiền quyên góp ủng hộ gia đình Huỳnh Mai gồm 5,000 đô la của tổ chức Thiện Nguyện Nam Hàn, 500 đôla của các cô dâu Việt thương cảm người bạn xấu số. Hội Hàn Kiều ủng hộ 77 triệu đồng VN
Đại diện hội Hàn Kiều cho biết, một dự án xây Nhà Văn Hoá Đại Hàn để phục vụ các cô dâu lấy chồng Hàn, sẽ tập trung một tháng để đào tạo kiến thức về văn hoá xã hội, phong tục tập quán Hàn quốc trước khi về nhà chồng.
Cũng được biết là người chồng của Hỳnh Mai đã bị bắt và sẽ đưa ra toà, mà mức án giết người cao nhất là tù chung thân.
6.4. Cô dâu nhảy lầu tự tửTrần Thị Lan, 22 tuổi, quê ở quận Cái Răng, Cần Thơ. Làm đám cưới với Ha Jang Su, 36 tuổi. Lên máy bay về nhà chồng ngày 11-2-2008.
Lan ở nhà chồng chưa đầy một tháng. Cô đã nhảy từ từng lầu thứ 14 tự tử, đúng vào buổi chiều 30 Tết. Nhà gái có nhận 2 triệu trong ngày cưới.
7* Tâm sự của một cô dâu Hàn Quốc
Ngày 8-12-2010
"Tôi là một trong 40,000 cô dâu Việt trên xứ Hàn.
Dù trong hay ngoài nước, chúng tôi cũng bị báo chí và dư luận lên án "Ô nhục", "Món hàng mất giá" khinh rẻ, là những từ ngữ thuờng dùng để nói về chúng tôi.
Tôi và nhiều cô dâu khác, không được học hành đến nơi đến chốn, nhưng chúng tôi cũng còn khá hơn những chàng trai trong làng. Tôi rất sợ hãi khi nghĩ đến mình sẽ về sống chung với những thanh niên ít học, rượu chè, cờ bạc, thô lỗ người VN...Tôi cũng không muốn gia đình tôi, với thanh niên trong làng, mãi mãi là một túp lều mà cả đời lao động cũng không có thể làm cho nó khang trang hơn được.
Ai sẽ cứu vớt chúng tôi?
Lấy chồng Hàn quốc, tôi ngộ ra nhiều điều.
Dù cách thức đi đến hôn nhân không tốt, nhưng trong thâm tâm của người chồng, người vợ đều mong muốn được yêu thương.
Trước khi được chấm, chúng tôi bị nhìn ngắm, thậm chí còn bị sờ mó như một món hàng.
Tôi có quyền nghĩ đây là cơ thể của tôi, tôi nhịn nhục để được thay đổi cuộc đời. Nhưng trái lại, nhiều người cứ tưởng rằng cơ thể của tôi thuộc về sở hữu của toàn thể dân tộc VN vậy. Thế nên, họ đùng đùng nổi giận khi cơ thể của tôi bị người khác dòm ngó, chọn lựa.
Thế nhưng, nếu như khi cuộc đời của tôi bị vùi dập bởi thanh niên đồng hương (rượu chè, cờ bạc, thô lỗ) thì mọi người xem đó là chuyện bình thường.
Tôi nghĩ rằng chỉ có 10% cô dâu gặp khó khăn và chừng 200 trường hợp nguy hiểm trong tổng số 150,000 lấy chồng Hàn Quốc hay Đài Loan.
Người Hàn quốc hay Đài Loan không kỳ thị chúng tôi, con cái được no ấm, học hành và có tương lai tươi sáng. Đặc biệt là chúng tôi được sống trong một môi trường văn hoá-xã hội mà ở VN, tôi có nằm mơ cũng không bao giờ thấy được". (Trần Thị Nguyên)
8* Những vụ tìm chồng vẫn tiếp diễn
Trong năm 2009, đã có 7,249 đám cưới Hàn-Việt xảy ra tại VN. Các cô gái vẫn chưa từ bỏ cái mộng làm dâu xứ Kim chi.
Ngày 19-7-2008
Tại khách sạn Diệu Quyên, Phường 9 quận Gò Vấp, 120 cô gái VN xếp hàng cho 7 hoàng tử Đại Hàn chọn vợ.
Ngày 8-12-2008
Ở Quận 8 Sàigòn, 161 thiếu nữ và 7 đàn ông Đại Hàn bị cảnh sát ập vào bắt tại trận khi các cô đang mặc thời trang của bà Evà.
Ngày 12-2-2009
Tại một ngôi nhà ở quận Bình Chánh, 35 cô gái đang chào hàng cho một ông khách Nam Hàn tên Lee Won Ju, 38 tuổi chọn vợ.
Ngày 7-7-2009
51 cô gái Việt đang được ông tơ bà nguyệt xe duyên cho các hoàng tử Nam Hàn, tại căn nhà số 479/21/11 Hương Lộ 2 Phường Bình Trị Đông, quận Tân Bình thì bị bắt. Những cô gái được tái giáo dục rồi trả về địa phương.
Ngày 26-8-2010
Tại khách sạn Tân Bình, 17 cô gái từ 18 đến 30 đang trình diễn cho các chú Củ Sâm chọn vợ.
9* Thị trường Serbia
Ngày 8-9-2008, ông Zeljko Vasiljevic, bộ trưởng Xã Hội Serbia thông báo là hiện nay đang có 250,000 thanh niên độc thân tại các ngôi làng vùng quê xa xôi hẻo lánh, họ là những nông dân nghèo, ít học, đang có nhu cầu cưới vợ. Chính phủ đang tìm sức sống cho những vùng quê xa xôi nầy. Ông muốn tìm vợ cho họ ở Cam Bốt và VN, bởi vì phụ nữ ở 2 nước nầy biết làm ruộng.
Các ông tơ bà nguyệt VN đang ngắm nghía thị trường nầy.
10* Kết luận
Ai đã gây ra những thảm cảnh thương đau nầy cho những cô gái trẻ Việt Nam?
Chính là Việt Cộng!.
Trước hết, chương trình xuất khẩu cô dâu nầy do đảng và nhà nước CSVN thực hiện để giải quyết nạn thất nghiệp, để xoá đói giảm nghèo.
Kế đến là nhà nước đã tạo ra cái hố khoảng cách giàu nghèo quá to lớn, đưa nông dân đến tình trạng te tua rách nát, nghèo đói. Bần cùng sanh đạo tặc.
Sau cùng là chế độ nầy đã làm cho đạo đức dân tộc bị suy đồi đến cùng cực, băng hoại và phá sản.
Đó là sự thất bại của chế độ giáo dục, nói rộng ra là thất bại của “sự nghiệp xây dựng CNXH”. Bởi vì, muốn có CNXH, thì phải có con người XHCN. Đó là những người làm chủ tập thể, mình vì mọi người, mọi người vì mình. Khắc phục khó khăn, phát huy sang kiến, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng, nhưng ngoài Trung Cộng ra.
Các cháu bác Hồ phải học tập, lao đông, chiến đấu, noi theo gương đạo đức của bác.
Chiến đấu của các cháu ngoan luôn luôn ở vị thế bại trận, là bao giờ cũng nằm dưới mấy thằng bần cố nông ngoại bang. Hơn nữa, theo gương đạo đức của bác thì tiêu tùng, cháy túi.
Lời tâm sự của một cô dâu ngoại "Chúng tôi đang sống trong một môi trường văn hoá-xã hội mà ở VN, tôi có nằm mơ cũng không bao giờ thấy được" (Trần Thị Nguyên)
Một chứng minh cụ thể là các Cháu Ngoan bác Hồ đã được giáo dục, tào tạo dưới mái trường XHCN, trau dồi lý tưởng Cộng sản, thế mà còn phô trương thân thể để chạy thoát ra khỏi chế độ, dù phải chịu nhục nhã, một liều, ba bảy cũng liều, thân gái 12 bến nước toàn là bến dơ.
Trúc Giang

MÙA XUÂN TRỞ LẠI



40 New Stirring Happy New Year 2012 Wallpapers

Ngày xưa hởi, thời xuân xanh tuổi ngọc

Hai buổi tan trường mẹ đón đưa con
Giếng mắt chứa chan bao la hạnh phúc
Hoài bảo ngập hồn, nợ nước tình non
Giặc vào… cải tạo dãi dầu ba khổ!

Tủi nhục tột cùng, uất hận riêng mang
Thanh xuân theo mười bảy mùa lá đổ!

Hồn xác xơ trong lao ngục nhọc nhằn


Thư ba gởi từ trại tù Suối Máu
Sau tin về đày ải chốn Năm Căn
Ngày lao động và đêm đêm tẩy nảo
Nước độc rừng thiêng đỉa vắt muỗi mòng

Ba tù đày, nhà chỉ còn có mẹ
Đôn đáo sớm chiều cũng chẳng đủ ăn
Rừng Việt Bắc ba mõi mòn kiệt quệ
Mẹ héo hon trong năm tháng cỗi cằn

Đã mấy lần con lều thân vượt biển
Lỡ chuyến đò, giặc bắt nhốt “xà-lim”

Lo con ra tù, không còn vốn liếng

Gồng gánh gia đình vai mẹ nặng thêm

Lời mẹ dặn, con khắc ghi tâm trí:
“…Học làm người dân tốt nước Việt Nam
Phải hãnh diện cha con tù Chánh trị

Hoàn cảnh nào… không thẹn với lương tâm”

Tiên Lãnh núi rừng lạnh lùng gió Bấc

Vất vả thăm cha, tưởng mẹ qua đời
Hiu quạnh, khó khăn lo buồn nội mất
Khốn khổ chất chồng lên mẹ ba ơi!

Mùa xuân nầy gia đình mình xum họp
Mừng ba về từ địa ngục trần gian

Ôi thảm cảnh quê hương chồng lớp lớp

Biết bao người mơ vượt cảnh lầm than

Những năm dài ba sống trong đày ải

Bấy nhiêu năm, mẹ lận đận héo mòn
Trên trần thế nếu hỏi ai vĩ đại?
Không ngại ngùng con bảo:“Mẹ cha con”
 
DƯ THỊ DIỄM BUỒN

LÀNG TỴ NẠN VIỆT NAM TẠI BIÊN GIỚI VIỆT-TRUNG

Đọc để biết sự khác biệt giữa việc tị nạn bên xứ mấy thằng tàu phù nham hiểm ác độc và tị nạn bên Hoa Kỳ Canada hay các xứ văn minh khác đầy ắp nhân bản tình người ....
 
“..Đôi lúc tôi nhận được tiếng thở dài của La Minh và nói: ‘Khi chưa có chiến tranh ai cũng biết Tổ quốc mình ở đâu, còn hôm nay chúng tôi không biết mình là ai’. Vinh nói theo:‘Giấc mơ lớn nhất của tôi, chỉ cần có được danh tính thân phận mình là ai’...”


Sau tám năm (19/2/1979 ─ 21/8/1987 ). Chiến tranh Việt Nam‒Trung Quốc khởi sự từ đó cho đến thời điểm này vẫn còn tiếp diễn trên những cao điểm, tiếng súng qua lại giữa Việt Nam và Trung Quốc không hề hứa hẹn thời gian đình chiến, bởi nhà nước Trung Quốc lấy quyết định dùng giải pháp súng đạn làm tiêu chuẩn cho ân oán nợ chiến tranh.

Trung Quốc ở thời nào cũng thế, mỗi khi có chiến tranh thường đem dân làm mộc-nhân và dùng lính làm biển người, do đó đã có những làng tị nạn Việt Nam mọc lên tại biên giới phiá Nam thuộc tỉnh Vân Nam Trung Quốc. Tuy chiến tranh biên giới Việt Nam-Trung Quốc chưa yên, thế mà chúng tôi mạo hiểm, lần đầu tiên đến địa điểm đã ước hẹn trước, sáng hôm ấy ngoài trời lành lạnh sương mù, đứng tại đầu lãnh thổ Việt Nam, năm xưa thuộc tỉnh Lạng Sơn của tổ quốc thân yêu. Cũng ở địa điểm quanh đây vào ngày 21/2/1979 xuýt nữa chúng tôi bỏ mạng, vùi thây dưới lòng sông Kỳ Cùng, bởi súng đạn của Trung Quốc càn quét sâu 40km vào tận lãnh thổ Việt Nam. Gây ra biết bao cảnh điêu tàn, thảm khốc, không thể nào điểm danh từng xác chết của người dân bản làng và dân quân sống tại biên giới Việt Nam, họ chết nhiều kiểu cách khác nhau, nào là trong trong rừng, khe núi, dưới suối, trôi bồng bềnh trên dòng song Các, song Bình Nhi và đầu nguồn sông Hồng. Truyền thông Quốc tế gọi đây là cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ 3.

Thượng lưu sông Kỳ Cùng, người dân Trung Quốc gọi Sông Các

( Ảnh: GS. La Minh )
Mảnh đất này, trước đây là của Việt Nam, ngày này thuộc về lãnh thổ của tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Chúng tôi đứng trên núi cao cách làng tị nạn Việt Nam 7 cây số, nhìn về xứ sở, quê hương ẩn hiện qua sương mù, ký ức hồi tưởng nơi chào đời mà lần đầu tiên tự miệng biết gọi hai tiếng Mẹ‒Cha. Tuy đứng trên đất tổ mà lại thuộc xứ người làm sao  không khỏi bồi hồi, xót xa, lòng xao xuyến và tự hỏi: Quê hương mình đang suy nghĩ gì về phần đất đã bị mất vào tay Trung Quốc hay có ý định nào trở mình không. Một câu hỏi trong ý thức hay vô tình sỉ nhục tôi, cũng có thể sỉ nhục lớn đối với chế độ đảng cộng sản và nhà nước Việt Nam đương thời!

Trên núi cao đèo Rắn thuộc tỉnh Vân Nam, nhìn về
hướng đất nước tôi bên kia sông Bình Nhi (Ảnh: GS. La Minh)
Những năm trước 1987, nhà nước Trung Quốc quảng cáo đã chiếm lĩnh được của Việt Nam những phần đất biên giới có tầm cở chiến lược quốc gia, bộ máy truyền thông của Trung Quốc dồn dập lưu diễn tại Miến Điện, Kazakhstan, Nga, Mông Cổ và biên giới Trung- Bắc Hàn, họ đồng một luận giải theo ngôn ngữ đại Hán. "Chư hầu Việt Nam hiến dâng biên giới, Trung Quốc không từ chối". Nay họ phối trí lại cơ sở hạ tần cấp Huyện, Xã tại biên giới hai tỉnh Vân Nam, Quảng Tây. Trung Quốc làm một công trình hợp pháp về lãnh thổ biên giới, lúc ấy Việt Nam âm thầm không lên tiếng, mặc nhiên công nhận dâng hiến đất liền biên giới cho Trung Quốc, cho nên Quốc tế không có lý do nào để chỉ trích Trung Quốc hay can thiệp cho Việt Nam. Theo báo chí và truyền thông Quốc tế cũng loan tải "1979 Việt Nam hiến dâng phần đất liền biên giới, hàng ngàn dặm cho Trung Quốc".

Trung Quốc còn tuyên bố ngoại giao: "Đất liền biến giới phía Nam rộng thênh thang, có được hàng ngàn dặm nhờ Việt Nam mở rộng phong cách mới".

Trước năm 1987 Trung Quốc có những hành vi bất lương, như báo chí Trung Quốc tung ra nhiều loạt các báo cáo chủ quyền về đường biên giới, lập danh sách đặt lại tên cho những dãy núi lớn, nhỏ không bỏ sót một quả đồi nào, lập danh sách địa danh mới và còn ghi rõ khí hậu biên giới. Họ tổ chức nhiều đơn vị biên phòng đi tuyên truyền cái nhân đạo của nhà nước Trung Quốc, đôi khi còn đột nhập vào thành phố ở biên giới Việt Nam và những ngôi làng nhỏ khuyến dụ dân làng làm tình báo cho họ.

Chúng tôi đang ở "Dòng nhà làng" tại nhà Họa sĩ La Minh, đến ngày thứ tư La Minh rủ chúng tôi đi thăm Lê Văn Vinh một người bạn cùng thời thơ ấu, Lê Văn Vinh hiện ở tại ngôi làng tị nạn Việt Nam có tên "Âu nhà làng", lộ trình đường bộ khoảng 6km.

Lê Minh tay chỉ, miệng nói:

─ Âu nhà làng, lờ mờ bên núi xa xa, đó là làng của Vinh.

Thế mà chúng tôi phải trèo núi vượt suối gian nan mất hai giờ liền mới đến nơi, La Minh cho biết đi đường chim bay. Nếu đi đường Quan Công thì mất 4 giờ. "Âu nhà làng" nằm trong thung lũng của khe núi Âu, tôi đã đi qua hai làng tị nạn Việt Nam quan sát thấy có một đặt điểm chung, họ nói nhiều ngôn ngữ khác nhau như Việt, Hoa và các sắc tộc biên giới, tuy nhiên tiếng Việt là ngôn ngữ giao thiệp chính, tại làng này có 1476 người tị nạn, còn "Dòng nhà làng" dân số đến 2574 người. Chúng tôi gặp nhau trong hoàng cảnh xúc động, có ai biết trước sự hy hữu của con nguời. Trái đất này không phụ tình người, nếu có quyết định thì nơi nào cũng đến và đi đều được cả.

Sau buổi cơm trưa, chúng tôi hàn huyên trăm ngàn chuyện cũ từ Sài Gòn đến Chợ Lớn, điểm qua bạn bè, thân thuộc, gia đình và kẻ sống ở đâu, người chết nơi nào, có những lúc Minh và Vinh xúc động khóc như trẻ thơ, vì Minh, Vinh đồng nạn nhân của năm 1975, như mọi người dân miền Nam Việt Nam, nhưng không ai hiểu thấu Minh, Vinh trải qua trắng sạch sự nghiệp và biến đổi cuộc đời bần cùng vào ngày 19/2/1979 giữa chiến tranh Việt-Hoa tại biên giới.

Trước đây Lê Văn Vinh nguyên là Cử nhân Hóa, phụ giảng Đại học Khoa Học Sài Gòn, nay là bác nông phu tại "Âu nhà làng" cư ngụ hay tạm trú trong núi rừng heo quạnh, không còn dịp trở mình, tuy nhiên chỉ còn hy vọng, ngày mai con cháu sẽ hơn cha mẹ.

Còn về La Minh, trước 1975 nguyên Giáo Sư trường Mỹ Thuật Gia Định và Bác Ái, chủ của một nhà in rất lớn tại đường Hồng Bàng Chợ Lớn, tranh của La Minh thường triển lãm tại Chợ Lớn, Hồng Kông và Đài Loan. Gia phả của La Minh đã 7 đời không còn gốc ngọn người Hoa, tổ tiên của anh từ chối cháo với chao và một chữ Triều châu cũng không ngưởi ra mùi Hoa. La Minh có mặt tại "Dòng nhà làng" do tính nghệ sĩgiang hồ xúi giục, sau 1975 anh lấy quyết định bỏ quê hương đi tìm đất hội họaĐài Loan, mượn lục địa Trung Quốc làm thuyền chở cả gia đình 7 miệng ăn và mang theo hết tài sản trên ba-lô.
Cuối cùng cả gia đình của Minh gặp phải nhiều bi kích, vợ, hai đứa con trai và một đứa con gái yêu quí nhất của Minh đều nằm xuống tại nghĩa trang. Minh xếp đặt cho con trai Cả bỏ làng đi Hồng Kông hơn một năm, còn lại hai đứa con trai nhỏ. Tôi cùng Minh ra nghĩa trang thắp hương cho chị  Minh và  các cháu. ( Chương sau chúng tôi nói đến Nghĩa trang và Bỏ làng )

Lúc này tinh thần Vinh đã bình tỉnh lại và cho biết:

─ Hai năm trước giới quân sự cho xây dựng một đường chiến lược tuần tra biên giới thông qua các làng bằng những đoạn giao thông hào rất kiên cố. Cũng như các quan chức tỉnh Vân Nam, thường đưa phóng viên vào làng này để săn tin, họ nói: "Cuối năm 1970 đã có người Việt Nam trốn thoát vào Trung Quốc xin tị nạn, có vài người đã sống ở đây hơn 20 năm". Lê Văn Vinh nói tiếp: "Những người sống ở đây hơn 20 năm, thuộc vào diện "hỗ trợ" chính là viên chức Tình báo chiến lược của quân đội Trung Quốc".

Họ trà trộn vào đời sống ở đây, sinh hoạt như người tị nạn Việt-Hoa, Hoa-Việt và người dân tộc biên giới, vốn đã phức tạp về ngôn ngữ và sinh hoạt theo tập tục văn hóa từng bộ tộc để phân biệt và tìm hiểu về họ, mình phải có ít nhiều lý thú đi sâu vào sinh hoạt trong môi trường làng tị nạn Việt Nam, có thế mới khám phá được những ý đồ của nhà chức trách Trung Hoa.

Trước 1975 ở biên giới Việt-Hoa chưa hình thành làng tị nạn Việt Nam, thế nhưng cũng đã có vài trăm người tị nạn mang nhãn hiệu "hỗ trợ". Họ xuất hiện bởi những tên gián điệp người Hoa, trước khia họ hoạt động tại miềm Bắc Việt Nam, sau khi nhà nước Hà Nội phát hiện họ bị trục xuất khỏi Việt Nam, kéo theo một hệ lụy từ chối công nhận người Hoa vào quốc tịch Việt Nam.

Người Hoa ở miền Bắc về lại Trung Quốc hóa thành nghịch cảnh, dù có công hay không đối với nước Trung Quốc hiện đại vẫn bị từ chối quyền công dân, nhà nước Trung Quốc không công nhận những đứa con của Tổ quốc trở về, người Trung Quốc chỉ thừa nhận họ là người tị nam Việt Nam dù đã sống ở Trung Quốc 20 năm.

Một nghịch lý khác sau 1975, có hơn một triệu người Hoa sinh ra và lớn lên tại miền Nam Việt Nam, đã 9 kiếp tổ tiên là người Việt vẫn gọi ôm mớ là người Hoa. Thời chiến tranh Trung Quốc dùng địch vận gọi mỹ danh "Hoa Kiều Việt Nam" khi Hoa Kiều Việt Nam trở về Trung Quốc lập tức được công nhận "Người tị nhận Việt Nam" hai chữ "Hoa Kiều" hết giá trị, hiện nay trong làng nói tiếng Việt hơn 75%.

Đôi lúc tôi nhận được tiếng thở dài của La Minh và nói: " Khi chưa có chiến tranh ai cũng biết Tổ quốc mình ở đâu, còn hôm nay chúng tôi không biết mình là ai..".

Vinh nói theo:"Giấc mơ lớn nhất của tôi, chỉ cần có được danh tính thân phận mình là ai".

Chúng tôi hỏi Vinh:

Hiện nay bạn đang làm việc gì để sống và có những dự tính nào cho tương lai không?

─ Tôi vẫn lẩn quẩn công việc trang trại trong làng và lao động phụ cho công trường trồng cây Bồ Đề và Bạch Đàn, chỉ đủ nuôi cái miệng, còn đâu suy nghĩ tương lai, nếu có tiền tôi đã bỏ làng ra đi rồi, dù biết rằng không có chứng minh nhân dân cũng phải liều.

Lê Minh mặt trầm, đôi mắt hướng ra sân làng như đang thất vọng nói:

─ Tao và mày cũng như tất cả mọi người ở trong làng, không ai muốn ở đây, đi ra ngoài mới thấy không gian sống, nhưng không có chứng minh nhân dân ở đây như lao tù.

Qua một cơn mưa "Dòng nhà làng" ngập nước
Vinh cho biết:

─ Chính phủ Trung Quốc chỉ công nhận họ là "người tị nạn Việt Nam", không công nhận họ là công dân Trung Quốc. Do đó 214 làng dọc theo biên giới, vì không có quốc tịch Trung Quốc, không có bản sắc, chúng tôi sống trong vòng tròn nhỏ của làng, sống trong sự cô lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Đối với những người tị nạn, muốn đi xa để làm việc, trước nhất mua một ID giả hoặc thẻ ID với giấy phép cư trú tạm thời của người khác nhằm đáp ứng việc kiểm tra an ninh. Nếu không phải người dân Trung Quốc, chẳng có chứng minh thư, nhỡ đụng đến công an Trung Quốc là xanh mặt.

Đề cập đến đời thường của người tị nạn, có vẻ Minh và Vinh xúc động và nhạy cảm, sau một lúc im lặng ngắn ngủi, mới bắt đầu nói chuyện, các bạn tôi thường hỏi tình hình thế giới bên ngoài, nhất là những câu hỏi về hôn nhân và đất nước Việt Nam hôm nay.

Con trai của Vinh cho biết:

─ Người ta nói rằng sẽ vào làng tuyển một số nữ trẻ đi làm việc xa nhà, nhưng không đi lâu dài. Tại sao không tuyển Nam mà lại Nữ, phải chăng người Trung Quốc muốn Nữ giới ra khỏi làng bằng cách hôn nhân, nhưng người ta không biết luật pháp về quốc tịch, nó chỉ có giá trị cho thế hệ sau ( Mẹ vẫn tị nạn Việt Nam, đứa con mới là công dân của Trung Quốc ) nói chung thế hệ này vẫn tị nạn muôn năm.

Chưa hết có một quân nhân biên phòng tại Huyện cho biết: "Quốc tịch con cái của họ còn tùy thuộc vào sở hữu của những người tị nạn. Kết quả cho thấy chính sách này ưu đãi một cô gái tị nạn kết hôn với người đàn ông Trung Quốc và nếu các cô gái Trung Quốc kết hôn với một người tị nạn, trẻ em của họ vẫn theo cha làm "người tị nạn". Đây mới chính là kịch trường làm người tị nạn, cô gái kết hôn với người bản xứ được đi ra ngoài làng và tất nhiên người trai như con không thể tìm thấy đối tượng.

Chúng tôi tự động bảo nhau, lùi sâu vào trong nhà và nói chuyện bằng tiếng Hoa, bởi từ xa có những cái đầu lú nhú ở dưới núi đi lên, đó là những bộ đội biên phòng địa phương, họ đi tuần tra biên giới, tôi và Minh hiểu ý của Vinh.

Vừa thấy những tên biên phòng đi qua nhà, họ ăn to nói lớn, đó là cá tính của người Hoa miền núi, tiếng Quan thoại ồn ào: "1979 nhà nước ta qui động trên 370.850 người tại các làng tị nạn Việt Nam, tham gia lập giao thông hào và bảo vệ chiến lũ, người tị nạn có động lực cao vì họ muốn hội nhập nhiều hơn vào thế giới bên ngoài làng, thậm chí họ còn ghi danh gia nhập bộ đội biên phòng, đó cũng là một lý lẽ phù hợp với "Luật Quốc tịch Trung Quốc" thực ra các quy định này chưa trao cho người tị nạn Việt Nam".

Thời gian qua mau, nói chuyện ngày xưa chưa hết lời, đã 5 giờ chiều, tôi và La Minh xin chào tạm biệt Vinh, hẹn hôm nào gặp lại, Vinh nói:

─ Tao đề nghị 5 ngày nữa tập hợp bạn cũ tại nhà Minh, lấy cớ làm giỗ chị Minh, có thế thằng Tâm mới hội ngộ được thằng Đào, thằng Tùng, con Châu, con Ái, con Liên và chị Trang.

La Minh khẻ nói:

─ Vinh đề nghị quá hay, nhưng ai tiến hành đi loan tin.

Vinh không suy nghĩ liền nói:

─ Khi tao đề nghị thì phải thực hiện công tác này.

La Minh hỏi lại:

─ Năm ngày mà mày làm cách nào mời hết được bạn bè, hai nữa chúng nó ở rất xa.

Vinh khẳng định như đinh đóng cột :

─ Thì tao mời theo thuật bắng tên, hiện nay những làng tị nạn Việt Nam, tạm thời rải rác theo chiều dài và rộng 1350km đường biên giới do Trung Quốc chiếm được của Việt Nam vào năm 1979. Từ biên giới của Vân Nam đến Quảng Tây giáp đối diện năm tỉnh Việt Nam gồm Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và Quảng Ninh, không có khó đâu, hãy an tâm, tin tao.

Tôi cùng Minh chào Vinh, hẹn năm ngày sau tái ngộ. Chúng tôi đi theo triền núi về làng "Dòng nhà làng", trên đường đi Minh cho biết nhiều vấn đề của người Việt tị nạn tại Trung Quốc, tôi chú ý nhất là chuyện Trung Quốc tham nhũng tiền bảo trợ của Cao Ủy Liên Hiệp Quốc phụ trách tị nạn (UNHCR) cho làng tị nạn Việt Nam:

─ Nhà chức trách Trung Quốc dã tâm và lưu manh lấy hết tiền bảo trợ. Bộ Ngoại giao Trung Quốc còn thành lập một nhóm dữ liệu báo cáo giả trước (UNHCR) đại khái nội dung: "Từ năm 1978, chính phủ Trung Quốc trong tinh thần nhân đạo đã tiếp nhận 30 triệu người tị nạn Đông Dương vào Trung Quốc. Con số lớn như vậy mà không thấy người. Riêng 214 làng tị nạn Việt Nam, dù cho đào mồ cuốc mả tính luôn cả người sống lẫn ngưới chết trên đầu núi, dưới lòng suối cũng chỉ có 1,6 triệu người.

Tôi tiếp tục lắng nghe, Minh nói một sự kiện khác:

─ Nhóm dữ liệu Trung Quốc còn báo cáo hồ sơ giả tạo khác: "Hiện nay Trung Quốc đang quan tâm đến làng sóng tị nạn, chủ yếu là năm 1978-1979, Trung Quốc đang thúc đẩy Việt Nam chặn đứng người tị nạn từ Việt Nam tràn qua Trung Quốc". Thực tế người Việt tràn ra biển Đông, chứ không bao giờ tràn qua Trung Quốc, thà chết dưới chế độ tự do dân chủ đa nguyện còn hơn sống dưới chế độ cộng sản Trung Quốc, chỉ có những hệ lụy và vâng lời Trung Quốc đỏ mới ra thân danh vô Tổ Quốc. Trung Quốc còn bịp bợm hơn, tuyên bố cho hồi hương người tị nạn Việt Nam về cố quốc. Mặt trái khác cộng sản Việt Nam và cộng sản Trung Quốc cư xử với Hoa kiều hay Việt kiều không công bằng, khi còn chiến tranh Hoa kiều là cái kho kinh tế, một ngân hàng lưu trữ tài chánh cho hai đảng cộng sản Việt-Hoa. Hết chiến tranh Hoa kiều hay Việt kiều trở thành thứ phế thải bỏ vào thùng rác không tái sinh!

Trung Quốc và Việt Nam đang chơi một ván cờ, dùng người tị nạn Việt Nam trả giá quân cờ Hồi-hương theo chương trình của UNHCR, đây cũng là một cách chơi khăm của Trung Quốc đối với Việt Nam, mà không mang tiếng với Quốc tế, nhân dịp biến lực lượng quân đội Trung Quốc thành người tị nạn hồi hương, chủ yếu xâm nhập hợp pháp vào Việt Nam. Trung Quốc đã chuẩn bị từ trước có cả danh sách địa chỉ định cư và họ khạc tên người tị nạn Việt Nam ra một bên, vĩnh viễn sống tại biên giới. Theo chiến lược của Trung Quốc, họ đã bắt đầu cho bộ đội trẻ thay áo mới dân sự, mang nhãn hiệu người tị nạn Việt Nam, họ sẽ là người Việt Nam giấy nằm vùng trong lòng Việt Nam chờ thời cơ biến thành vũ khí của Trung Quốc.

Tôi nghe tin này khá lý thú liền hỏi:

─ Tin này có thực chứ và Minh lấy nguồn tin này ở đâu?

─ Trung Quốc rất nhiều ma giáo, nhất là chính trị, trước khi tạm cư trong làng, người tị nạn Việt Nam phải viết một bản tự khai, không từ bỏ một ai, và Minh có dịp hiện diện tại chiến trường với nhiệm vụ vẽ những bản đồ tiến quân của Trung Quốc, mỗi ngày tiếp cận với giới chức quân đội và dân sự. Đôi khi còn nghe tướng Lữ Chính Thao (Lu Zhengcao)tự hào về cuộc chiến tranh này.

吕正操( Lu Zhengcao ) Lữ Chính Thao
Tôi và Minh về đến "Dòng nhà làng". Tiếp tục thấy cảnh chịu đựng khốn cùng của dân làng, tôi thấy những túp lều đã cũ, bao quanh bằng phên nứa, nay đã rò rỉ tồi tàn và ẩm ướt, bếp lửa lạnh khói, chỉ cần một cơn mưa là ngập "Dòng nhà làng". Trong nhà La Minh trên rách có treo vài tranh ảnh Sài Gòn và Chợ Lớn.

Như mội ngày, đến bửa cơm, tôi dùng từng bát cơm trộn với ngô luộc, hỏi ra mới biết cả làng ba bữa một ngày hầu hết mọi người như thế cả!

Làng tị nạn Việt Nam không có bệnh xá, khi dân làng đau nặng chỉ chờ chết, bệnh nhẹ lấy cây cỏ ngoài đồng ruộng hay rừng làm thuốc trị liệu. Ngoài nghĩa trang số cột bia mộ, tương đương với số dân trong làng.
Huỳnh Tâm

*Bài viết ghi lại những sự kiện trong chuyến đi đầu tiên đến Vân Nam Trung Quốc, ngày 21/8/1987, nhưng đến nay nó vẫn còn nguyên giá trị thời sự của nó.

Bài Xem Nhiều