We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 10 January 2012

Tin Vui: Tướng công an Vẹm Phan Văn Đông chết trôi

Tướng chết trôi

Sao đi tắm biển buổi tinh sương?
Tướng tá chết trôi chuyện dị thường
Cứ tưởng da đồng không sợ lạnh
Ai ngờ xương sắt cũng phình chương
Vong thân có phải vì danh lớn
Táng mạng chưa chừng tại thuốc cương
Thác ở trùng dương chơi với cá
Còn hơn mang tiếng chết trên giường
Lý Hiểu
Virginia,  January 2012
 
 
[họa vận]
 
Tướng Vẹm chết trôi (1)
 
Hẹn hò chi với ả ăn sương
Tắm biển đêm hôm sự bất thường
Những tưởng quan ngài đang cụp lạc,
Nào ngờ ông tướng... đã sình chương!
Thuốc vào trợ hứng ham làm ẩu,
Rượu sỉn bày trò khoái kích cương!
Vùng vẫy một hồi... đi mát mẻ
Còn hơn thượng mã... ngã ra giường!
January 9, 2012
Hồ Công Tâm
 
----
 
(1) Tướng công an Vẹm Phan Văn Đông nhậu vào nổi hứng
rủ em út đi tắm biển ở Mũi Né, Phan Thiết bị sóng cuốn
 chết trôi lúc 5 giờ sáng ngày 6 tháng 1 năm 2012
 
--

Thiếu tướng công an chết đuối tại Mũi Né

Sớm 6/1, thiếu tướng Phan Văn Đông, Phó chánh thanh tra Bộ Công an và thượng tá Lê Văn Thắng, Phó chánh thanh tra Công an tỉnh An Giang, khi tắm biển tại khu du lịch Mũi Né, TP Phan Thiết đã bị sóng cuốn trôi.

Bãi biển Mũi Né.
Sau hơn 2 giờ tìm kiếm, thi thể của 2 cán bộ công an nói trên được lực lượng cứu hộ tìm thấy. Nhiều khả năng 2 nạn nhân đã gặp phải vùng nước xoáy.
Thiếu tướng Đông và thượng tá Thắng đang tham gia hội nghị công tác thanh tra ngành công an được tổ chức tại Bình Thuận trong hai ngày 5-6/1.
(Theo Người lao động)

HOUSTON :Tưởng Niệm 74 Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã hy sinh vì Tổ Quốc trong trận hải chiến với Hải Quân Trung Cộng tại Quần Đảo Hoàng Sa ngày 19-01-1974

CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA HOUSTON & PHỤ CẬN
Uỷ Ban Đấu Tranh Chính Trị
THÔNG BÁO
(Biểu Tình ngày Thứ Năm 19-01-2012 Trước Toà Lãnh Sự Trung Cộng tại Houston, nhân ngày Tưởng Niệm 74 Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã hy sinh vì Tổ Quốc trong trận hải chiến với Hải Quân Trung Cộng tại Quần Đảo Hoàng Sa ngày 19-01-1974)

Kính thưa quý đồng hương:

Ngày 19-01-1974, bảy mươi bốn Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã anh dũng hy sinh vì Tổ Quốc, trong trận hải chiến với Hải Quân Trung Cộng xâm lăng, để bảo vệ chủ quyền quốc gia trên Quần Đảo Hoàng Sa. Kể từ đó đến nay, đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước luôn luôn tiếp tục tranh đấu giành lại chủ quyền trên những khu vực địa lý thuộc lãnh thổ của Việt Nam, đã bị Trung Cộng xâm lấn; trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, và nhiều địa danh tại biên giới Việt Trung, đã bị tập đoàn lãnh đạo Cộng Sản Hà Nội dâng hiến cho quan thầy Trung Cộng.
Trong tinh thần tiếp nối truyền thống hào hùng của dân tộc Việt Nam trước nạn ngoại xâm, Uỷ Ban Đấu Tranh Chính Trị sẽ tổ chức một Buổi Tưởng Niệm Ngoài Trời, để tạo cơ hội cho đồng bào Houston và Phụ Cận, cùng Tri Ân Tưởng Niệm bảy mươi bốn Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã anh dũng hy sinh tại Quần Đảo Hoàng Sa năm 1974; và đồng thời lên tiếng đòi hỏi nhà cầm quyền Trung Cộng phải trả lại chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, và tất cả những đất đai thuộc chủ quyền của Việt Nam, theo quy định của Công Pháp Quốc Tế và chấm dứt những hành vi gây hấn trên biển Đông.
Nghi thức Tưởng Niệm Ngoài Trời và biểu tình chống Trung Cộng xâm lăng sẽ được tổ chức trước Toà Lãnh Sự Trung Cộng, địa chỉ 3417 Montrose Boulevard, Houston Texas 77006 từ 11:00 đến 02:00 trưa thứ năm ngày 19 tháng 01 năm 2012.
Ban Tổ Chức thiết tha kính mong quý đồng hương tham dự thật đông để thể hiện tinh thần đoàn kết của Người Việt hải ngoại. Ban Tổ Chức cũng rất mong mỏi có sự hiện diện của quý cựu quân nhân với quân phục, để thể hiện tình chiến hữu; đặc biệt đối với 74 đồng đội đã hy sinh vì Tổ Quốc. Xin quý đồng hương đề cử một số giới trẻ để thay mặt đồng bào Houston, lần lượt xướng danh bảy mươi bốn Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã hy sinh, trong phần Nghi Thức Tưởng Niệm.
Xin lưu ý, Ban Tổ Chức sẽ có nhiều đoàn xe khởi hành lúc 10:00 giờ sáng tại nhiều địa điểm khác nhau. Khu vực Hồng Kông 4 xin liên lạc quý ông Lê Văn Sanh 281-536-5483 và Nguyễn Thực 832-287-5408, Khu Hồng Kông 3 liên lạc ông Phạm Thông 281-701-8505; khu south 45 và Làng Thái Xuân liên lạc ông Trịnh Du 281-253-2110.
Mọi chi tiết và hỗ trợ xin liên lạc Võ Đức Quang 713-446-5554 và Đặng Quốc Việt 713-515-3129
Thay mặt Ban Tổ Chức
Võ Đức Quang
Chủ Tịch Uỷ Ban Đấu Tranh Chính Trị
                           Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Houston & Phụ Cận

Bài học quí giá


Một người ăn mày đến trước một trang viên, gặp nữ chủ nhân để ăn xin. Người ăn mày này rất tội nghiệp, cả cánh tay cũng bị cụt, tay áo trống trải đung đưa, người nào trông thấy cũng đều khẳng khái bố thí cho. Tuy nhiên, vị chủ nhân này lại không hề khách khí, chỉ ra đống gạch trước cửa nói với người ăn mày: - “Ngươi giúp ta chuyển đống gạch này ra nhà sau đi”. Người ăn mày giận dữ nói: - “Tôi chỉ có một tay, bà còn nhẫn tâm bảo vác gạch. Không muốn cho thì thôi vậy, cần chi phải trêu ghẹo người khác ?” Vị chủ nhân không chút nổi giận, cúi người xuống bắt đầu dọn gạch. Bà ta cố ý chỉ dùng một tay để chuyển, sau đó bà nói: - “Ngươi thấy đấy, không phải chỉ dùng hai tay mới có thể sống được. Ngươi có thể làm, vậy tại sao lại không làm chứ ?”.">Người ăn mày lặng người đi, hắn ta nhìn vị nữ chủ nhân với ánh mắt kỳ dị, trái cổ nhô nhọn giống như một quả trám chuyển động lên xuống 2 lượt. Cuối cùng, hắn cuối người xuống, dùng cánh tay còn lại bắt đầu chuyển gạch. Một lần chỉ có thể chuyển đi hai viên gạch. Hắn chuyển như thế đúng hai tiếng đồng hồ thì hết đống gạch. Mệt, hắn thở như bò kéo xe, trên mặt dính đầy bụi, mấy chòm tóc rối bị mồ hôi ướt dính xéo trên góc trán.
Vị nữ chủ nhân đưa cho người ăn mày một cái khăn lông trắng như tuyết. Người ăn mày đón lấy lau mặt và cổ một lượt rất kỹ, chiếc khăn lông trắng đã biến thành chiếc khăn lông đen. Người phụ nữ lại đưa cho hắn 20 đô-la, người ăn mày cảm kích nói:
- “Cảm ơn bà”.
- “Ngươi không cần cảm ơn ta, đây là tiền công ngươi kiếm được dựa vào sức lực của mình”.
Người ăn mày nói:
- “Tôi sẽ không quên bà, để cho tôi giữ làm kỷ niệm vậy”.
Nói xong, hắn cúi người chào thật thấp và sau đó lên đường.
">Qua nhiều ngày sau lại có một người ăn mày khác đến trang viên này. Người phụ nữ đó lại dẫn người ăn mày vào nhà sau, chỉ đống gạch, và nói:
- “Chuyển đống gạch này ra trước nhà, ta sẽ trả cho ngươi hai mươi đô-la”.
Người ăn mày với hai tay còn nguyên vẹn này bỏ đi, không biết là do không thèm 20 đô-la hay do điều gì khác.
Người con của người phụ nữ không hiểu, liền hỏi mẹ:
- “Lần trước mẹ kêu ăn mày chuyển đống gạch này từ trước nhà ra sau nhà. Lần này mẹ lại kêu ăn mày chuyển gạch từ sau nhà ra trước nhà. Rốt cuộc mẹ muốn đống gạch ở sau nhà hay là ở trước nhà ?”.
Người mẹ nói với con rằng:
- “Gạch đặt trước nhà hay sau nhà đều như nhau, nhưng chuyển hay không chuyển, đối với người ăn mày mà nói, thì lại không giống nhau”.
">Sau này cũng có mấy người ăn mày đến xin ăn, đống gạch đó được chuyển đi mấy lượt.
Vài năm sau, có một người rất chỉnh tề đến trang viện này. Ông ta mặc veston, mang giày da, trông chững chạc hiên ngang như những người thành công với sự tự tin và tự trọng, chỉ có điều là người này chỉ có một cánh tay trái. Ông ta cúi người xuống, nói với vị nữ chủ nhân đã có phần già đi:
- “Nếu không có bà, tôi vẫn chỉ là một kẻ ăn mày. Thế nhưng bây giờ tôi là Chủ tịch Hội đồng Quản trị của một công ty”.
Người phụ nữ đã không còn nhớ ra ông là ai, bà hờ hững nói:
- “Đấy là do chính bản thân ông làm ra mà thôi”.
Người Chủ tịch Hội đồng Quản trị một tay đã mời người phụ nữ cùng cả nhà bà dọn đến thành phố sống những ngày thoải mái. Người phụ nữ nói:
- “Chúng tôi không thể nhận sự chăm sóc của ông được”.
- “Tại sao ?”
- “Bởi vì cả nhà chúng tôi ai cũng có hai tay”.
Người chủ tịch tuy đau lòng nhưng vẫn kiên trì:
- “Thưa bà, bà giúp tôi hiểu được thế nào là Nhân, thế nào là Nhân cách. Căn nhà đó là tiền công mà bà đã dạy cho tôi”.
Người phụ nữ nói:
- “Vậy thì ông đem căn nhà ấy tặng cho người nào không còn cánh tay nào cả !”.

Sưu Tầm

Thơ NGƯỜI CHA GIÀ



NGƯỜI CHA GIÀ
http://farm4.static.flickr.com/3283/2663254852_abb71f1dba_o.jpg


Lá vàng nay đã úa
Hình ảnh người Cha già
Cặm cụi nơi bàn viết
Mong dệt bút tài hoa

Vần thơ tô điểm thắm
Tranh đấu cho Nhân Quyền
Bút thần luôn ra sức
Mong vui khắp mọi miền

Dù mỗi năm già yếu
Sức phá vẫn can trường
Mong sao loài quỷ đỏ
Không còn trên Quê hương

Bút tích thơ còn đó
Người xưa đã xa rồi
Bài thơ buồn năm cũ
Thế cuộc đời nổi trôi

Phố buồn nghe xa vắng
Tìm đâu chuỗi ngày xưa
Cha già nay đã khuất
Xuân đi đã bao mùa

Hoa đào Xuân đâu thấy
Đường khuya dáng hao gầy
Người vui Xuân, đón Tết
Riêng tôi giọt lệ đầy

Xuân về thêm nhung nhớ
Hình ảnh người Cha yêu
Mình tôi vui đón Tết
Giao thừa nỗi quạnh hiu

Thương về hình bóng cũ
Kỷ niệm xưa mờ dần
Vần thơ nào ghi dấu ?
Giọt sầu mãi chưa tan

Xuân nào thôi nhung nhớ ?
Bao giờ hết thương đau
Quê nghèo vui đón Tết
Tình Xuân thắm đượm mầu

Bài thơ Xuân con viết
Thương hoài hình bóng Cha
Thời gian nào hàn gắn
Vui Xuân mắt lệ nhòa

Nguyễn Vạn Thắng

THIÊN ĐƯỜNG MỚI : Cách Mạng Không Phải Như "Ngụy"

Ngụy!!!!




Trong ngôn ngữ thông thường miền Nam Việt Nam trước tháng tư 1975, tiếng "ngụy" nghĩa là "giả" ít thấy có ai dùng tới.
Cái gì không phải thứ thiệt, không phải thứ "chánh cống", không phải thứ "có cầu chứng tại tòa"... là người ta gọi hoạch tẹt là "đồ giả", chớ không ai gọi là "đồ ngụy" hết. Ví dụ như rượu giả, thuốc giả, vú giả, bạc giả, v.v.
Bởi vì từ ngữ hồi đó rất... thật!
Sau tháng Tư 1975, tiếng "ngụy" đã theo gót... dép râu (Xin lỗi! Chỗ này văn chương nghe chỏi lỗ tai một chút, nhưng rất... tả chân. Không thể viết "theo gót giầy" như xưa nay thường viết, vì đối tượng ở đây toàn mang dép râu cả!) quân nón cối và quân mũ tai bèo vào Nam làm cách mạng...
Sau biến cố, toàn dân miền Nam đều phải đi "học tập" ba hôm. Chính trong ba hôm đó người ta mới nghe lần đầu tiên tiếng "ngụy". Và nghe... đầy lỗ tai!
Vậy là đầu hôm sớm mai, tiếng "ngụy" được nhét vào ngôn ngữ miền Nam một cách "ngang xương", không cần phổ thông đầu phiếu! Mới đầu nghe lạ hoắc, không hiểu ý nghĩa sâu đậm của nó. Cũng chẳng có ai giải thích. Mà ví dụ có ai to gan lớn mật đặt câu hỏi thì cán bộ cũng chỉ giải thích... ngang như cua thôi!
Thành ra nhân dân miền Nam hiểu tiếng "ngụy" một cách rất... tự do, và sử dụng tiếng "ngụy" rất... rộng rãi (Được "giải phóng", có khác!). Thôi thì cái gì của miền Nam cũng đều biến thành "ngụy" ráo. Để phân biệt với "cách mạng"!.. Thằng ngụy, vợ ngụy, con ngụy, lính ngụy, chánh quyền ngụy, cơ sở ngụy, xí nghiệp ngụy, công nhân ngụy, "hàm-bà-lằng" ngụy... Và người ta nghĩ một cách rất đơn giản, rất thật thà: "Hễ thấy không có đóng con dấu ngôi sao đỏ thì cứ xếp vào đồ ngụy, là ăn chắc!".
Thật ra, khi dán cái nhãn "ngụy" lên miền Nam, "Đảng và Nhà Nước" muốn nhân dân "chủ yếu là nhân dân miền Bắc" hiểu theo định nghĩa "ngụy" là giả, "giả nhân giả nghĩa, giả đạo đức, giả yêu nước thương dân, "ngụy" là đoạt của người ta mà nói là của mình, là bịp, là láo, là phiến loạn...
Về sau, khi nhân dân cả hai miền đều... mở mắt, tiếng "ngụy" ít thấy dùng tới. Nhưng bây giờ thì mọi người đều nhận ra ai mới đúng là ngụy. Lớp ngụy trang bị rơi xuống, những ngụy ngôn bị vạch trần, thì chân tướng ngụy lòi ra rõ rệt, đến người mù cũng phải thấy!
Viết dài dòng để... "đả thông tư tưởng" trước khi vào chuyện.
Ông H là thiếu tá quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Ông làm việc ở Tổng Tham Mưu.
Ông thuộc gia đình trung lưu. Hồi 1945, cha và anh của ông đi kháng chiến rồi đi luôn ra Bắc. Từ đó, không được tin tức gì hết.
Mẹ của ông là giáo viên tiểu học, xem việc dạy dỗ trẻ con là một thiên chức. Bà thường nhắc về người cha và người anh vắng mặt, nhứt là người anh với những kỷ niệm đẹp của thời mà hai anh em còn ở chung với nhau: "Anh Hai của con thương con lắm. Đi học về là cởi trần rồi cõng con chạy cà bồng cà bồng quanh sân vừa chạy vừa hí rân như ngựa làm cho con cười hắc hắc. Mà con thì hay nhõng nhẽo với anh Hai con, đi đâu cũng bắt nó cõng hết. Còn khi nào con đòi cái gì không được, con hay vừa khóc vừa la để ba tưởng là anh Hai chọc con, ba rầy ảnh! Tội nghiệp! Những lúc thấy con sắp sửa làm trận như vậy, anh Hai con thường đưa đầu biểu con đánh nó đi chớ đừng khóc la, sợ ba rầy!". Rồi bà kết luận: "Tánh tình nó tốt lắm!".
Ông lớn lên trong vòng tay người mẹ, được giáo dục bằng tình thương, xem gia đình là căn bản, lấy đạo đức làm phương châm. Và ông giữ mãi trong lòng sự mến mộ "người anh Hai lúc nào cũng làm vui lòng em, lo lắng cho em, bảo vệ em".
Mãi đến năm 1973, mới được tin qua một người bà con rằng cha mất đã lâu và người anh bây giờ là tướng của "ngoài đó". Thật là bàng hoàng. Mẹ ông khóc hết nước mắt. Thời gian sau, bà nói: "Mẹ chỉ mong cho mau hết giặc, để anh em con về sống bên mẹ yên vui như ngày xưa. Chừng đó, mẹ mãn nguyện để theo ông theo bà...".
Mẹ ông qua đời vào giữa năm 1974, chưa kịp thấy cảnh "hết giặc" ra làm sao và chưa kịp gặp đứa con làm tướng...
Mấy hôm sau ngày 30 tháng tư 1975, ông tướng nhờ người bà con đưa lại nhà ông H. Xa cách đã ba mươi năm, nhưng hai anh em vẫn nhìn ra được nhau. Bởi vì họ giống nhau như đúc. Sau mấy giây ngỡ ngàng, họ xà vào ôm lấy nhau siết chặt. Cả hai đều không cầm được nước mắt. Bà H và bốn đứa con "ba trai một gái, đã lớn hết, hai đứa đại học và hai đứa trung học cấp hai" đứng nhìn cảnh hai anh em ôm nhau, cũng bồi hồi xúc động...
Sau đó là bữa cơm gia đình để hai anh em kể cho nhau nghe những biến thiên của đời mình, của thời cuộc. Tiếp theo là ông tướng mang hành trang lại ở với gia đình ông H, để có anh có em.
Ông bà H có hai cái nhà. Cái mà ông bà đang ở với hai con học trung học, là loại vi-la lầu có sân lót gạch và vườn cây kiểng hồ cá trang trí theo kiểu Nhựt. Nhà này do ông bà tự cất lấy hồi thời các con còn nhỏ. Về sau, ông được thuyên chuyển ra miền Trung một thời gian. Ông đem hết gia đình ra ngoài đó, để nhà cho Mỹ mướn. Nhờ vậy, mấy năm sau, ông mua thêm một căn phố nhỏ cho hai đứa con trai lớn ở, khi chúng nó vừa vào đại học.
Sau khi đi xem nhà, ông anh bảo:
- To thế thì ở làm gì cho hết? (Bây giờ ông anh nói pha giọng Bắc rất nhiều). Nguyên cái buồng ngủ thôi cũng chứa cả môt hộ bốn năm người đấy!
Hôm sau, ông H được người anh khuyên:
- Chú làm cái vườn như thế này là phí đất. Đào lên đi để trồng trọt khoai bắp cho các cháu có mà ăn. Phải biết tăng gia chứ!
Mới đầu, ông hơi phật ý. Nhưng, khi nhìn sang hàng xóm thấy nhà nào cũng đào cũng xới kể cả dải đất hẹp té nằm dọc theo chân tường rào phía ngoài đường, ông nghĩ: "Mình cũng phải làm như thiên hạ, cho yên thân".
Vậy là cha con ông hè hụi đập nạy cạy khượi, gạch, bê-tông, hồ cá... cho lòi đất rồi trỉa đậu trồng mì! Khu vườn Nhụt Bổn mà ông Bà H đã tự tay xây đắp, bây giờ tan hoang lồi lõm giống như bãi đổ... xà bần. Nhà ông H bây giờ mới thật sự mang nét cách mạng!
Ông anh "tên R" làm việc ở đâu, hỏi không bao giờ nói. Chỉ thấy mỗi sáng có xe của cơ quan đến rước, chiều đưa về. Ông H, sau khi khai lý lịch ở tòa đô chánh, tối ngày ngồi nghe tin tức qua ra-đi-ô. Bà H không dám nấu nướng trong bếp bằng lò ga. Bà sợ làm như vậy nó... ngụy quá đi, nên bà dựng ở hàng ba mấy cục gạch rồi nấu bằng than củi bằng lá khô... Bà kê cạnh đó một cái bàn thấp để chén đũa mắm muối, còn nồi niêu dao thớt thì cứ bỏ nằm lỏng chỏng dưới đất bên cái thau nhôm lớn đựng nước để dùng cho việc nấu nướng rửa ráy. Nước lấy từ ống cao su trước đây dùng tưới vườn. Nước dơ thì cứ tạt... cha nó ra sân. Bà H ngồi chồm hổm làm bếp, chổng khu thổi lửa khói bay um tùm làm đôi khi bà nhớ thời thơ ấu – bốn mươi mấy năm về trước – hồi ở dưới quê với bà ngoại, bà hay nhìn bà ngoại nấu cơm như bà làm bây giờ. Chỉ khác là hồi đó chưa có cách mạng! Ông anh có vẻ hài lòng về tác phong của bà H, nên khen: "Cô thật là sớm giác ngộ!".
Một hôm, đài phát thanh gọi các sĩ quan ngụy đi trình diện học tập. Và nói rõ: "Đem theo tiền ăn cho một tháng". Ông H lo lắng, hỏi ý kiến ông anh thì được trả lời:
- Chú cứ yên tâm đi học tập. Anh bảo đảm không sao hết.
Vậy là ông H hun vợ con, xách ba-lô lên đường, còn dặn:
- Ở nhà có bác Hai. Mẹ con bây cần gì thì nhờ bác, nghen.
Một tháng sau, không thấy ông về, bà H hỏi ông anh thì được trấn an một cách rất bình thản:
- Cô yên tâm. Vài hôm là về thôi!
Cứ thế, vài hôm rồi vài hôm... dài dài... Bà H nóng lòng, chạy đi gặp mấy bà bạn cũng là vợ sĩ quan, mới hay rằng có thể chồng đã bị chở đi luôn ra ngoài Bắc. Bà lau nước mắt, về quây quần với mấy con, ngồi đợi ông anh. Gặp ông, bà mếu máo:
- Họ chở nhà tôi đi mất rồi...
- Đi đâu mà mất? Còn tập trung cải tạo ở trong Nam chứ phải biệt xứ đâu mà mất? Đi học tập chứ đi tù đâu mà cô sợ.
- Nghe đồn trong trại khổ lắm. Nhờ anh can thiệp cho nhà tôi về. Dù gì anh cũng là tướng và cha đã hy sinh vì cách mạng.
- Cách mạng không phải như ngụy đâu cô! Không có chuyện móc ngoặc bè phái. Không có chuyện tư vị nể nang. Luôn luôn xử sự có tình có lý. Chú ấy cứ học tập tốt là về ngay thôi! Nói thế chứ... để tôi xem có làm gì được không.
Một hôm, ông anh họp các con ông H lại, khuyên:
- Ba các cháu là ngụy. Cách mạng khoan hồng gởi đi học tập cải tạo. Ba các cháu có sớm được trả về hay không là còn tùy thuộc ở thái độ học tập của ba các cháu. Và cũng tùy thuộc ở trình độ giác ngộ cách mạng của má các cháu và các cháu nữa.
- Vậy, mình phải làm sao?
- Dễ thôi! Bác sẽ giới thiệu các cháu vào đội thanh niên xung phong, nếu các cháu muốn giúp ba các cháu.
- Vô đó để làm cái gì, thưa bác?
- Để phục vụ nhân dân theo khả năng của mình. Nếu các cháu có tinh thần phục vụ cao, Nhà Nước sẽ cho điểm tốt trong việc cứu xét trường hợp của ba các cháu.
Sau một lúc bàn tính, cả bọn bốn đứa đều đồng ý... xung phong.
Bốn đứa được thâu nhận nhưng không cùng ở chung một đơn vị. Phân tán chúng nó ra, cô lập từng đứa một, để dễ theo dõi kiểm soát, tránh mầm móng phản loạn... Nhà Nước đi một nước cờ thật cao!
Chúng nó được đưa đi đào đất đắp nền ở các vùng kinh tế mới hay đi đào kinh làm thủy lợi. Lâu lâu mới về thăm nhà một vài hôm. Nhưng không bao giờ cùng về một lúc. Và đứa nào về cũng xác xơ hốc hác, tay chân ghẻ lở giống như bị đi đày! Đứa con gái trước đây học năm thứ bảy dương cầm ở quốc gia âm nhạc, bây giờ tay cứng còng, không đánh nổi một bài tầm thường của hồi đó. Bà H nhìn các con mà đứt ruột. Cho nên mỗi lần đứa nào về, bà cũng chạy lo thuốc men và nấu nướng cho ăn uống tẩm bổ. Chỉ có ông anh là hài lòng và cho rằng đó là thành quả tốt đẹp của lao động!
Một hôm, ông anh bảo người em dâu:
- Bây giờ các cháu đã có Nhà Nước lo. Cô giữ làm gì đến hai cái nhà? Đây là lúc mà cô phải chứng tỏ trình độ giác ngộ cách mạng của mình bằng cách hiến cái nhà này cho Nhà Nước để làm cơ quan phục vụ nhân dân. Như vậy, chú ấy có cơ được về sớm.
Sau vài phút suy nghĩ, bà H chỉ bằng lòng cho Nhà Nước mượn thôi.
- Ừ! Thì cho mượn cũng được, tôi nghĩ thế. Để tôi liên hệ với các đồng chí ấy xem sao.
Vậy là tuần lễ sau, bà dọn về căn phố nhỏ ở cách đó độ mười lăm phút xe đạp, nhưng thuộc về một quận khác. Sự chuyển hộ (nghĩa là dời chỗ ở, địa chỉ) không gặp khó khăn, nhờ ông anh cách mạng (Trong thời này, muốn chuyển hộ phải làm đơn xin phép nơi mình sắp dọn đến. Phải "có lý do chánh đáng" và điều này phải được chứng nhận bởi chánh quyền nơi mình đang ở!
Khi đã được chấp thuận (có ký tên đóng dấu) đương sự phải vác đơn đó về trình cho chánh quyền nơi đang ở để... xin phép được di chuyển. Khi được chấp thuận - ký tên đóng dấu- mình mới được quyền dọn đi!
Rắc rối như vậy nên lúc nào cũng có một sự giải thích rất "có trình độ": "Đằng kia có cho anh vô thì ở đây tôi mới cho anh ra. Chớ tôi cho anh ra mà đằng kia không cho anh vô thì anh... đi đâu?".
Rõ như vậy, nhưng nhiều khi vác đơn đến "đằng kia" trước, thì bị từ chối và dĩ nhiên được giải thích cũng rất "có trình độ" không kém: "Anh phải xin phép nơi anh đang ở trước rồi mới đến đây sau. Anh có được cho đi thì tôi mới nhận cho anh đến. Chớ bảo tôi nhận cho anh đến, trong lúc anh chưa được cho đi thì làm sao được? Phải có đi rồi mới có đến chớ! Dễ hiểu thôi!".
Cứ lẩn quẩn loanh quanh như vậy nên việc chuyển hộ thật là khó khăn.
Trong trường hợp chuyển từ tỉnh sang tỉnh hay từ vùng sang vùng thì khỏi nói, thật là "trần ai gian khổ"!).
Ông tướng có "động viên" một số đồng chí trẻ trong cơ quan đến phụ dọn nhà cho bà H. Và có cho mượn một chiếc xe cam-nhông-nét (cũng của cơ quan) nên việc dọn nhà cũng nhanh. Sau đó, ông anh cho bà ký tên tờ ủy quyền để ông anh thay mặt bà quản lý cái nhà lớn mà ông đang ở. Bởi vì bây giờ, bà đã chuyển hộ thì mặc nhiên ông anh trở thành chủ hộ ở ngôi nhà đó, mà muốn sử dụng cái nhà thì phải có sự ủy quyền của chủ nhà.
Mười lăm ngày sau, bà H được biết là nguyên cả tầng trệt nhà của bà đã trở thành "tổ gạo", còn ông anh thì vẫn ở một mình trên lầu. Nghe nói bà tướng có vào thăm chồng một lần, ở độ mười lăm hôm rồi trở về Hà Nội. Không hiểu sao ông tướng không có đưa bà vợ lại thăm cô em dâu. Cách mạng có khác!
Bẵng đi một thời gian dài gần cả năm, một hôm ông anh ghé nhà thăm bà H để báo tin đã tìm ra trại cải tạo của người em ở ngoài Bắc và chỉ vẽ cho bà cách thức xin đi thăm nuôi, đường đi nước bước, xe cộ vv... và nhứt là những thứ cần thiết như lương khô quần áo. Nghe như vậy, bà H đã đoán ra phần nào đời sống của chồng ở ngoài đó, nên bà rớt nước mắt hỏi:
- Sao trước đây anh không nói rõ để tôi lo cho nhà tôi có đầy đủ phải hơn không?
- Chuyện Nhà Nước, đâu nói ra được. Cô phải hiểu như thế chứ!
- Cái gì cũng che đậy. Cái gì cũng giấu diếm. Nhưng lần hồi thiên hạ đều biết hết. Bộ anh tưởng thiên hạ đui sao?
Đến đây bỗng nghe tiếng bà hàng xóm la lớn: "Đi đâu đó nữa? Mấy bữa nay tao nói mầy kê lại dùm mấy ông Táo kẻo mấy ổng sụm xuống thì không còn khỉ gì để nấu nướng... mà mầy cứ ăn rồi là xách đít đi hà!".
Giọng người con trai: "Bộ má tưởng con đi chơi hả?".
Giọng bà hàng xóm: "Chớ đi đâu mà ngày nào cũng đi, mầy nói tao nghe coi!". Giọng người con, có vẻ hảnh diện, nói rời ra từng tiếng: "Con-đi-phục-vụ-nhân-dân!".
Giọng bà hàng xóm, tức tối: "Phục vụ nhân dân! Phục vụ nhân dân! Con gái mẹ mầy cũng là nhân dân đây nè! Mầy phục vụ cho nó đi! Kẻo không chổi chà nó đơm lên đầu bây giờ!".
Ngừng một lúc, lại nói: "Cha... Lúc này nói giọng cách mạng quá há! Phải mà! Con mẹ buôn gánh bán bưng này hăm mấy năm nay nó kềm kẹp mầy quá mà! Nó nhét cho mầy ăn để mầy lớn! Nó ép mầy học để mầy khôn! Nó ác ôn quá phải hông? Nó ngụy quá phải hông? Nó giả nhơn giả nghĩa quá phải hông?"
Nghe đến đây, ông tướng nhăn mặt:
- Ăn với nói! Rõ là không có trình độ!
Rồi ông đứng lên:
- Tôi phải vào cơ quan. Bao giờ cô được phép đi thăm nuôi, gặp chú ấy nhớ bảo tôi nhắn chú ấy luôn vững tin vào sự sáng suốt của Đảng và Nhà Nước. Ta khác ngụy ở chỗ xử sự có tình có lý và lúc nào cũng khoan hồng đối với những người biết quay về với nhân dân.
Bà H làm thinh, nhưng nhìn người anh chồng chỉ có nửa con mắt!
Lúc đó, nghe tiếng thằng con trai nhà hàng xóm: "Rồi đó! Con kê lại mấy ông Táo rồi đó!". Giọng bà mẹ, vẫn còn hậm hực: "Dữ hôn! Có bao nhiêu đó mà cũng phải đợi tao nhắc năm lần bảy lượt! Thôi! Mầy đi phục vụ nhân dân của mầy, đi. Chiều, vác mỏ về, con mẹ ngụy này nó nấu cơm cho mà ăn".
Từ ngày dọn về đây, bà H đi làm ở tổ hợp may thêu gần đó. Cũng phải đi làm như thiên hạ để đừng bị để ý theo dõi, chớ thật ra bà chưa đến nỗi túng thiếu nhờ đã cất giữ nữ trang trong nhà thay vì gởi ở ngân hàng. Bây giờ, lâu lâu bà bán một vài chỉ...
Bà hàng xóm (tên là bà Năm) có cái sạp cháo lòng ở đầu ngõ. Sáng nào, bà cũng đi bộ theo thằng con trai đạp xe ba bánh chở thùng tô dĩa muỗng đũa, thùng lòng dồi gia vị, nồi cháo lớn bằng nhôm, lò dầu hôi và mấy can nhựa đựng nước rửa chén... ra cây trứng cá nằm trên lề đường Phan Đăng Lưu (tức là đường Chi Lăng hồi trước).
Ở đây, có cái sạp gỗ dựng đứng và bốn năm cái ghế gỗ nhỏ được... xiềng vào gốc cây trứng cá. Hai mẹ con mở ống khóa, hạ cái sạp rồi kê ngay ngắn dưới tàn cây. Xong, thằng con về nhà lấy xe đạp, đạp đi "phục vụ nhân dân" cho tới tối. Thành ra, đến trưa khi bán hết nồi cháo - bà chỉ bán có buổi sáng - bà thâu xếp dọn dẹp một mình ên, rồi đẩy xe ba bánh chở đồ nghề về nhà (Bà không đạp vì không biết đi xe đạp!).
Cứ vài bữa, bà lại mang biếu bà H một tô cháo lòng. Bà biết bà H là vợ thiếu tá quốc gia và chồng đi học tập nên bà hay tới lui thăm viếng để an ủi. Bà H thật cảm động. Có hôm bà nhắc chừng:
- Bà Năm cẩn thận. Có thể tụi nó theo dõi.
- Ối... Cái lũ cô hồn đó tôi đâu có sợ, cô Hai. Hồi tụi nó mới vô, bắt mình làm tờ "báo công báo tội". Tôi phát ghét nên khai là tôi tội lỗi đầy đầu bởi vì gần hai chục năm nay tôi bán cháo lòng cho ngụy ăn chớ không cho cách mạng ăn! Vậy mà có thấy thằng nào đụng tới tôi đâu, cô Hai!
- Coi vậy chớ cũng nên coi chừng, bà Năm à! Nhứt là khi bà rầy la thằng nhỏ, nói đụng chạm tới họ quá, không nên.
- Tụi nó đã coi mình là ngụy thì cứ thí mạng cùi chửi cho sướng miệng. Tội vạ gì mà nín thinh? Há?
Nói xong, bà Năm nhếch mép cười, làm như bà đang thách đố cách mạng vậy!
Khi bà H được giấy phép đi thăm nuôi chồng, bà báo tin cho bà Năm và nhờ bà Năm coi chừng nhà giùm. Bà Năm mừng rỡ, làm như ông H là người nhà:
- Dữ hôn! Tới bây giờ mới cho con người ta đi thăm nuôi. Quân ác ôn! Được rồi, cô Hai cứ yên tâm, tôi giữ nhà cho. Mà chừng nào cô Hai định đi?
- Chắc mười hôm nữa, bà Năm à. Để có thì giờ lo cho đầy đủ. Chớ gấp rút quá thì quên trước quên sau...
- Cô Hai nói phải đó. Đi ra tới ngoài Bắc chớ bộ gần gụi gì hay sao?
Ngừng một chút, bà Năm cầm tay bà H lắc nhẹ:
- Cần gì thì cứ nói nghe cô Hai, đừng ngại. Mình với nhau mà...
Bà H xúc động, lí-nhí "cám ơn" mà nước mắt chảy quanh.
Lạ quá! Chỉ có mấy tiếng "mình với nhau" mà sao nghe ấm cúng vô cùng. Nhứt là trong hoàn cảnh này, trong giai đoạn này. "Mình với nhau" là sự nhận diện của những người cùng đứng về một phía. "Mình với nhau" nói lên sự cảm thông của những người cùng cảnh ngộ, cần nương tựa vào nhau, nâng đỡ nhau để sinh tồn. "Mình với nhau" là tình người không dị biệt giai cấp. Cho nên, khi mở rộng vòng tay, bà Năm cháo lòng chỉ cần nói có mấy tiếng đó thôi là quá đầy, quá đủ...
Hai hôm trước ngày bà H khăn gói đi thăm chồng, bà Năm qua nhà đưa một lon ghi-gô được ràng chằng chịt bằng dây thun:
- Cô Hai cho tôi gởi ổng lon thịt chà bông. Tôi làm có hơi mặn để ăn cho lâu. Tôi ém chặt và ràng kỹ, cô Hai đừng lo đường xa nó sút sổ. Cô cho tôi gởi lời thăm ổng, nghen.
Bà H "cám ơn"mà có cảm tưởng như bà Năm là người trong quyến thuộc!
Trong khi đi ra cửa, bà Năm còn quay lại nói:
- Cô Hai đi yên tâm. Tụi nhỏ của cô có về chơi thì tôi lo cơm nước cho hết. Cô nhớ viết ít chữ để lại cho tụi nó biết, nghen!
Bà H gật gật đầu, nhìn theo mà thấy bà bán cháo lòng đó còn cao cả gấp mấy mươi lần người anh chồng làm tướng của cách mạng!
Đi thăm chồng về, bà H như già đi năm bảy tuổi. Mắt bà sưng húp, tóc tai rối bời, mặt mũi hốc hác. Bà Năm nhìn bà H, động lòng chảy nước mắt. Ngồi xuống bên bà H, bà Năm hỏi:
- Sao, cô Hai? Khổ lắm phải không?
Bà H mếu máo khóc, chỉ gật gật đầu chớ không nói được một lời. Bà Năm nhích lại gần, choàng tay ôm vai bà H, chửi đổng:
- Mẹ bà nó! Quân ác ôn!
Bà H bỗng quay sang ôm chầm lấy bà Năm, khóc nức nở. Vừa khóc vừa cố gắng nói, câu nói đứt ra từng khúc:
- Ảnh... ốm... đến nỗi... tôi... nhìn... ảnh... không ra...
Đến đây, bà Năm cảm động nghẹn lời. Bà chỉ còn biết vuốt vuốt lưng bà H, giống như bà đang dỗ về người em gái.
Hôm sau, bà H đội nón lá cầm cái thơ ông H viết cho người anh để gởi gắm vợ con, đi bộ về cái vi-la của bà ở quận kế bên. Bà cố tình đi bộ, vì bà nghĩ đến chồng. Đối với những gian khổ cùng cực mà chồng bà đã chịu đựng từ bao nhiêu năm nay - theo lời kể lại của ông H - thì sự đi bộ của bà không thấm thía vào đâu hết. Nhưng, khi bà đi bộ, bà tưởng chừng như bà đang chia xẻ một phần nào những khổ dịch của chồng, người tù cải tạo.
Vi-la của bà, bây giờ thấy khác trước. Tường rào đã xây lên cao. Cổng song sắt được gắn thêm lưới sắt ô vuông. Nhìn vào trong không còn tổ gạo, mà sân thì đã được tráng xi-măng lót gạch khía sạch sẽ.
Thấy có bóng người, bà H bấm chuông. Có giọng đàn bà hỏi vọng ra, giọng Bắc:
- Ai đấy?
- Dạ... tôi.
Một bà cỡ tuổi bà H bước ra hất hàm:
- Chị muốn gì?
- Thưa... Tôi muốn tìm ông R. Nhà tôi có viết cho ổng cái thơ...
- Đồng chí R à? Đồng chí ấy đã phục viên lâu rồi. Đồng chí bán nhà cho chúng tôi, xong, dọn hết về thủ đô. Thế... chị là gì của đồng chí ấy?
Bà H choáng váng mày mặt, chỉ còn kịp tỳ người vào trụ cổng để khỏi quị xuống. Tuy nhiên, bà vẫn nghe tiếng mình nói:
- Dạ... Tôi... À... Không!
Rồi câm luôn. Thấy bên ngoài làm thinh, bà người Bắc bỏ đi vào trong, nhưng vẫn nói vói ra:
- Đồng chí R hiện ở đâu, tôi cũng không biết. Thôi, chị về đi!
Phải một lúc lâu sau, bà H mới hoàn hồn. Bà đứng thẳng nhìn vào trong. Bà bỗng thấy bà đã biến thành một người khác. Một người cứng rắn hơn, lì lợm hơn. Một người sẽ dám nhìn thẳng vào mặt kẻ địch mà chửi như bà Năm cháo lòng. Ví dụ có người anh chồng đứng trước mặt bây giờ, bà sẽ xáng cho anh ta một bạt tai – điều mà trước đây bà chẳng bao giờ dám làm dám nghĩ!
Bà H vẫn đứng thẳng, nhìn vào trong. Mắt mở to, ráo hoảnh. Môi mím chặt. Tay bà vò nát cái thơ của chồng viết. Bà vò nó mà bà không hay! Bà chỉ cảm thấy một sự căm thù đang dâng lên làm bà trạo trực. Bà nghe buồn nôn!
Phải rồi! Bà muốn nôn mửa lên những giả dối gian manh mà bọn chúng nó thằng nào cũng có sẵn trong đầu. Bà muốn nôn mửa lên những lời lẽ giả nhân giả nghĩa mà bọn chúng nó thằng nào cũng có sẵn trên đầu môi chót lưỡi.
Bà muốn nôn mửa lên những thủ đoạn xảo quyệt được ngụy trang bởi những chiêu bài yêu nước thương dân, có nghĩa có tình... mà bọn chúng nó thằng nào cũng sẵn sàng hành động. Bà muốn... Bà muốn...
Bà H liệng cái thơ nhàu nát xuống đất, phun nước miếng nghe cái phụt một cách khinh bỉ, rồi cúi lượm cái nón lá bỏ rơi khi nãy đội lên đầu, đi thẳng.
Mấy năm sau, ông H vẫn "còn được cải tạo", bà H lâu lâu vẫn lặn lội đi thăm nuôi chồng, hai thằng con lớn vượt biên rồi định cư ở Úc, đứa con gái lấy chồng đánh cá ở Minh Hải, thằng con út cặp với con bạn cùng xóm mở quán cà phê vỉa hè cạnh hàng cháo của bà Năm. Còn bà Năm vẫn bán cháo lòng, lâu lâu vẫn chửi thằng con mà giống như bà chửi Nhà Nước!... 

Tiểu Tử 




CHỐNG CỘNG BẰNG MỒM

Thỉnh thoảng lên mạng, tôi đọc được những bài viết hùng hổ hoặc mỉa mai, phỉ báng và mạ lị những người bị gán cho nhãn hiệu là “chống Cộng bằng mồm”. Tác giả của những bài viết ấy đều nặc danh hoặc ký tên ma, khiến không thể trả lời trực diện được. Và vì nặc danh, ai cũng có quyền nghĩ rằng có thể đó là bọn “ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng sản” ẩn núp trong bóng tối, dưới hang ổ như loài chuột chũi, nằm rình cơ hội để chõ mõm ra chửi bới, rồi rút êm, mà không sợ bị ăn đòn công luận.

Hoặc có thể là bọn đầu sỏ Việt Cộng ra lệnh cho tay sai, nằm vùng, trở cờ, và công an mạng thực thi Nghị quyết 36 của đảng tại những cộng đồng, đoàn thể, hội đoàn, diễn đàn thân hữu ở quốc ngoại.


Hoặc có thể là một vài ngài phe ta, tuổi trên sáu, bảy bó, ở không, nghỉ việc, lãnh tiền bệnh, tiền hưu, tiền trợ cấp xã hội, hễ có dịp là mắt trước mắt sau lén bà vợ già vù về nước ôm bồ nhí, xây lâu đài tình ái tại chỗ, và sợ rằng nếu người ta lên tiếng chửi VC quá, chúng sẽ làm khó dễ, cản trở giấc mơ hồi hương cuối đời. Những ông già ham vui này, tuy vậy, vẫn còn được thông cảm hơn là bọn trở về làm ăn, buôn bán với VC.

Hoặc có thể là những kẻ chết nhát, tại những cộng đồng, loại người đứng ở giữa, ba phải, ba rọi, bầy nhầy, nửa nạc nửa mỡ, theo chủ nghĩa mackeno-ism (mặc kệ nó), sống chết mặc bay tiền thầy bỏ túi, trong số có cả cựu quân nhân, lãnh đạo tôn giáo, văn nghệ sĩ, nhạc sĩ, ca sĩ, thi sĩ, văn sĩ, họa sĩ, trí thức, bác sĩ, tiến sĩ, kỹ sư, luật sư, giáo sư, cựu sinh viên, thương gia... luôn vỗ ngực: “tôi không làm chính trị” – nhưng không hiểu từ ngữ “chính trị”, “làm chính trị” là cái gì sốt. Tôi nêu ra một số thành phần xã hội tự nhận là “tỵ nạn Cộng sản” trên, một cách chung chung như vậy, không ám chỉ một cá nhân nào, một tiểu bang nào, nhưng rơi vào ai, người đó nhột, và đừng lên tiếng trách cứ kẻo “lạy ông con ở bụi này”.


Nhân tiện, và trước tiên, vì những người ấy không hiểu, hoặc giả vờ không hiểu, “chính trị” và “làm chính trị” như thế nào, tôi xin mạo muội giải thích rằng chống Cộng, đặc biệt Việt Cộng và Tàu Cộng, bảo vệ lý tưởng quốc gia –mà biểu tượng là lá cờ vàng ba sọc đỏ – không phải là "chính trị" hay “làm chính trị”. Đó là bổn phận thiêng liêng, nhiệm vụ đương nhiên đối với quốc gia, đất nước của những người chưa quên mình là tỵ nạn Cộng sản, chưa quên ngày nào đã chạy trối chết ra ngoại quốc để năn nỉ xin định cư vì "lý do chính trị”. Còn “chính trị” theo nghĩa đảng phái, đoàn thể xôi thịt, sa lông, tranh giành ảnh hưởng, quyền lực này nọ là một chuyện khác, xin đừng cố tình lẫn lộn, nhập nhằng.


Cá nhân tôi và một số nhân sĩ thân hữu, trước đây, cũng vì viết những bài chống Cộng, đã bị bọn xấu, toàn là nặc danh tại Oregon tuần nào cũng mang ra chửi ra rả trên một tờ báo địa phương (nay đã tự xin chết vì không ai đọc, thiếu quảng cáo, nghĩa là hết tiền) và thỉnh thoảng bây giờ trên mạng. Dĩ nhiên, đối với bọn nặc danh, chúng tôi không thể hạ mình đôi co. Chúng lên án tôi "chống Cộng quá khích”, “mù quáng”, “cực đoan”, “không khoan nhượng” v.v..., chê những "đồng chí" của tôi là “chỉ biết chống Cộng bằng mồm, từ 36 năm qua, chưa thấy kết quả gì”.


Về một khía cạnh nào, tôi không lấy thế làm phiền. Trái lại, rất vui, vì tuy chê, nhưng chúng vô tình khen chúng tôi đấy thôi. Vì càng chửi, chúng càng để lộ nhược điểm: chúng đã bị thương tích trầm trọng vì ngón võ mồm – vũ khí duy nhất mà những người quốc gia tỵ nạn chúng ta còn có, sau khi chiến tranh bằng súng đạn đã ngưng.


Những bài báo của những “võ sĩ mồm” quốc gia trên khắp thế giới đã đập thẳng vào đầu con rắn dữ VC, nếu không bị giập chết, thì cũng ngất ngư, liểng xiểng. Chính vì vậy mà tuy đã tung ra hàng triệu Mỹ kim để phá hoại tập thể người Việt quốc gia tỵ nạn, thi hành cho bằng được Nghị quyết 36, mà cho đến hôm nay, VC vẫn chưa chiếm nổi một cộng đồng người Việt quốc gia tỵ nạn nào, chưa có một chủ tịch cộng đồng nào bán thân cho VC, kể cả tại California đông người Việt – nơi chúng đã bỏ ra rất nhiều tiền của, công sức, hoạt động mạnh – và chưa treo được lá cờ máu ở bất cứ nơi nào, treo lên là bị hạ xuống ngay. Hễ chúng ló đuôi ra là bị chặt liền bằng những bài báo, emails nghiêm khắc, bằng những buổi hội họp lên án sôi nổi, bằng những cuộc biểu tình rầm rộ.


Vụ Trần Trường treo hình Hồ Chí Minh và lá cờ đỏ sao vàng là một thử nghiệm thảm bại đối với VC – đã phải xếp giáp qui hàng trước sức mạnh vũ bão, và quyết tâm tiêu diệt VC và bè lũ tay sai, của tập thể người Việt quốc gia, không chỉ ở California mà còn khắp Mỹ quốc và thế giới. Những tờ báo thân Cộng, như Việt Weekly, công khai làm lợi cho VC, đều bị độc giả tẩy chay, biểu tình chống đối, không ngóc đầu lên được. Lũ tay sai khuyển mã của VC không dám xuất hiện nơi đâu, và giống như những chủ nhân VC của chúng, đi đến nơi nào cũng đều bị người quốc gia xua đuổi, nguyền rủa. Chưa kể những tên phản bội nổi tiếng, Nguyễn Cao Kỳ, Phạm Duy, Nguyễn Hữu Liêm...


Chúng ta không có súng đạn. Vũ khí của chúng ta chỉ là võ mồm. Không ai chối cãi điều đó. Chúng nó, Việt Cộng và tay sai, cũng đánh chúng ta bằng mồm, dĩ nhiên. Nhưng tại sao ta thắng, chúng thua? Vì chính nghĩa đã đành. Nhưng còn vì hai lý do chính yếu:


1) Khi đánh chúng nó, ta xưng danh tánh đường hoàng, dùng những bút hiệu được kiểm chứng, như Người Lính Già Oregon tôi đây, có người cho cả số điện thoại, địa chỉ email. Cũng giống như những ông tướng Tàu ngày xưa (rất quân tử, dù là quân tử Tàu) mỗi lần ra trận đều cho đối phương biết mình là ai trước, vì họ không đánh người dưới cơ, hoặc gốc gác cu-li, khố rách áo ôm, đâm thuê chém mướn. Còn VC và tay sai? Chúng hành động không khác chi những tên thổ phỉ, đúng hơn, quân ăn trộm bịt mặt. Như vậy, giữa chính danh quân tử và phường vô lại, công luận sẽ nghiêng về ai? Một điều đáng chú ý là khi đánh những người quốc gia, để khỏi lộ hành tung VC hoặc tay sai VC, bọn nặc danh không dám đề cập đến lập trường và thành tích chống Cộng của họ, nói chi dám tranh luận, mà chỉ bươi móc đời tư, tra vấn bằng cấp, tước vị, cố tình bôi nhọ cá nhân, đúng sai chúng không cần biết...


2) Ta đánh đúng và chúng đánh sai. Chúng bịa nhiều chuyện có tính cách cá nhân và xuyên tạc những việc làm của những nhân sĩ chống Cộng, và qua đó tiếp tục áp dụng câu cũ rích của Joseph Goebbels (1897-1945), bộ trưởng tuyên truyền Đức quốc xã, dựa trên chủ thuyết “the big lie”: “Hãy nói dối, nói dối, nói dối. Nói dối riết một ngày người ta sẽ tin là thật.” Chúng quên rằng, ở thời đại internet này tin tức đi nhanh như tên bắn và sự thật được kiểm chứng một cách dễ dàng, không như vào thời của bà mẹ Tăng Tử hay thời mà Hồ Chí Minh còn chui rúc ở hang Pắc Pó, nằm thêu dệt cho mình nhiều huyền thoại lố bịch, thời mà chúng tuyên truyền phét lác rằng, ví dụ, máy bay Mig của chúng bay lên, rồi "tắt máy phục kích trong mây, chờ B-52 đến bắn rơi cả ngàn chiếc", thời mà những bà già nhà quê và trẻ em ngoài Bắc ném đá vào những sĩ quan đi tù cải tạo, chửi là “quân giết người, hiếp dâm phụ nữ, ăn thịt trẻ con...”.


Ngược lại, chúng ta không cần phải bịa đặt, nói dối. Chỉ cần nói một phần tư (1/4) sự thật thôi về chúng, trong quá khứ cũng như hiện tại, cũng đủ thắng. Không cần phải lặp lại câu nói để đời của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu: “Đừng tin những gì Việt Cộng nói...” Tất cả sự thật nằm trên mạng thế giới, với đầy đủ tài liệu, báo chí quốc tế kèm theo dữ kiện, hình ảnh, âm thanh, video, audio... Chẳng hạn về tiểu sử, những lá thư tình và thư xin học trường Thuộc Địa, thành tích dâm ô của Hồ Chí Minh, về văn thư bán biển của lũ lãnh đạo VC trước kia, về mật ước bán đất của lũ lãnh đạo bây giờ... Đủ cả. Chỉ cần chúng ta viết bài, lên tiếng, quảng bá cho đồng bào trong và ngoài nước biết. Võ mồm đấy! Cần gì súng đạn và những căn cứ kháng chiến trên đất Thái, đất Lào của ông Hoàng Cơ Minh? Cần gì chất nổ của ông Nguyễn Hữu Chánh? Các cuộc cách mạng hoa lài, hoa sen ở Bắc Phi, Ai Cập, Lybia... đều nhờ vào những thông tin mạng. Nếu không sợ võ mồm, tại sao ở Việt Nam bây giờ, nghe nói, bọn lãnh đạo phải thành lập một biệt đội Công an Mạng chuyên truy cập lý lịch của những người chống Cộng có bài đăng trên các diễn đàn trong nước và hải ngoại, kiểm soát cư dân mạng, bắt những địa điểm cho thuê internet “đăng ký” xin giấy phép và khai báo tên khách hàng khi cần? Xử dụng võ mồm, chúng ta hãy đánh tối đa, nghĩa là chúng chửi một, ta chửi mười, theo cung cách riêng của mỗi tác giả, lịch sự hay thẳng thừng, tùy cơ ứng biến, tùy người đối diện.


Một chi tiết tôi cũng xin phép chia sẻ với quý vị và các bạn đồng lập trường: Ngoài những bài viết nghiêm chỉnh về tội ác của VC, về lý thuyết Mác-Lê mà đa số những thằng VC thất học không hiểu, hoặc hiểu mà chúng chẳng quan tâm, miễn là làm sao vơ vét, kiếm tiền nhiều chừng nào tốt chừng nấy, theo thiển ý, ta nên phổ biến thêm những bài có tính cách châm biếm, lố bịch hóa chúng, chế nhạo chúng bằng cách lôi ra ánh sáng chính con người chúng từ những hang hốc của quá khứ tối đen, tối mù, kể từ sau ngày 30/4/75 khi chúng từ rừng rú chui ra, ốm tong ốm teo, đầu đội nón cối, chân mang dép râu, răng đen mã tấu, nói ngọng, nói phét, khi chúng gọi nhà hộ sinh là “xưởng đẻ”, phòng vệ sinh là “nhà đái, nhà ỉa”, đồng hồ tự động là “cái đồng có ba cửa sổ, không người lái”, đồ lọc cà phê là “cái nồi ngồi trên cái cốc”, v.v... Còn nhiều chuyện khác nữa. Nội cái tên gọi Việt Cộng, VC, Vi Xi, Cộng Phỉ (thời cụ Ngô Đình Diệm) cũng đủ làm chúng tức điên lên (xem sách của các văn nô trong nước). Cứ viết, không sợ lỗi thời, không sợ phản ứng ngược. Phải đánh liên tục vào chính căn cứ địa đã và đang che giấu bản chất, tiềm thức, và mặc cảm của chúng.


Ý kiến này nảy sinh sau khi, một hôm, tôi chợt nghĩ đến thời gian còn trong tù. Quả vậy, bọn cai tù rất khó chịu về bức vẽ “bảy thằng VC đu một cọng đu đủ không gãy” của nhà biếm họa Hiếu Đệ, hình như đăng trên tờ Tiền Tuyến, năm 1972, và được Cục Chính Huấn in ra thành nhiều bản. Tôi không nghĩ tất cả quân nhân thời ấy đã xem, còn nhớ, hoặc để ý bức vẽ độc đáo này –bây giờ thất lạc, không thấy đâu nữa. Tranh vẽ bảy thằng VC, đứa nào cũng có hàm răng cải mả, tranh nhau đu một cọng đu đủ, ốm đói đến mức độ cọng đu đủ, vốn dễ gãy, vẫn trơ trơ, buồn cười lắm. Trong tù, ông họa sĩ bị kiểm điểm, sỉ vả đã đành, mà những sĩ quan CTCT cũng bị vạ lây: không có buổi họp nào về “sự tuyên truyền độc hại và láo khoét của Mỹ ngụy” mà quản giáo không lôi chúng tôi và bức vẽ ra chửi. Mới đây, trên những trang web có những bài hồi ký của cán binh VC cũng nhắc đến bức vẽ này. Chúng hận lắm!


Lúa ấy, tôi hơi ngạc nhiên, hỏi một bạn đồng tù, vốn là nhà văn, nhân viên Việt Tấn Xã, lý do tại sao. Anh ta đáp ngay: “Tại vì bức vẽ đúng quá, chứ còn gì. Không thằng VC nào tự nhận mình xấu trai dù nó xấu trai thật. Còn những tài tử màn bạc như Robert Taylor, Alain Delon, chẳng hạn, nếu bị vẽ như vậy, họ chỉ cười hoặc nhún vai, không tức.”


Thực thế, sau 36 năm học được cái văn minh của Miền Nam, và vơ vét tiền của, tham nhũng, hối lộ, ăn sung mặc sướng, chơi bời thỏa thích, thằng VC nào cũng trở nên mập mạp, da dẻ hồng hào, biết ngồi xe “ô tô con”, biết “múa đôi”, biết hát ka-ra-ô-kê, không dùng những chữ “xưởng đẻ, nhà đái, nhà ỉa” nữa, và muốn xóa bỏ tông tích bần cùng khố rách ngày xưa. Còn bọn lãnh đạo thì thi nhau ra nước ngoài, bắt tay những quốc trưởng trên thế giới. Nhưng cái gốc bần cố nông, răng đen mã tấu của chúng vẫn còn, không làm sao tẩy rửa được. Tuy thắt cà-vạt, đi giày láng coóng, mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao, và tuy giỏi hống hách, hà hiếp người dân trong nước, bọn này khi đứng trước bàng quan thiên hạ, trước ống kính, đứa nào cũng khớp sợ, khúm núm, mặt mày lấm la lấm lét như những thằng ăn cắp gà. Bản chất, như chúng thường nói, không bao giờ thay đổi. Chúng cố giấu biến lý lịch rừng rú và không muốn ai nhắc đến. Cho nên Nguyễn Tấn Dũng, một tên du kích giao liên xã ngày trước, bây giờ phải ngụy tạo bằng cử nhân Luật, Phan Văn Khải được trường Harvard mời đến “tham quan” năm 2005, cũng tự nhận mình là cựu sinh viên của trường, Đỗ Mười không bao giờ dám nhắc thành tích thiến heo của mình, Nông Đức Mạnh, con rơi của Hồ Chí Minh, tuyên bố giả lả rằng người Việt Nam nào cũng là con cháu của Bác Hồ. Còn Bác Hồ của chúng, nguyên chỉ là tên bồi tàu, qua Tây kiếm cơm, xin học trường Thuộc Địa để về nước làm quan, nhưng bị từ chối vì tiếng Pháp kém và thiếu bằng cấp, bỗng nhiên trở thành anh hùng cách mạng ra đi tìm đường cứu quốc. Vân vân...


Nói chi xa, chị Dương Thu Hương, một cựu chiến sĩ gái, một cựu đảng viên, một nhà văn “phản kháng” mà tôi cho là cuội "cực kỳ" – đồng lứa mấy anh Bùi Tín, Vũ Thư Hiên, Tô Hải – vì không dám chửi Hồ Chí Minh, tên tội phạm đầu sỏ VN, trong quyển “Tiểu Thuyết Vô Đề”, viết về một tên sĩ quan bộ đội đóng quân trên dãy Trường Sơn trong thời còn chiến tranh đã được chị ta “ngụy hóa” như sau: “Nhưng tôi muốn tận hưởng cảm giác êm ái giữa chăn ấm, để thấy rõ rằng tôi vẫn là tôi [...], chân đi tất thum thủm mồ hôi [...] (Người Lính Già nhấn mạnh)”. Hoặc: “Tôi khoác dây giày, khoác áo [...]” Hoặc: “Chúng tôi đi dọc theo lòng khe [...] Những viên sỏi trượt dưới đế giày làm tôi lao chao muốn ngã [...]. Hoặc: “Phía sau đám cây rùm ròa, phơi ra hai chiếc cẳng chân gầy quắt queo [của một tên lính VC], giày đã rách, bên có tất, bên không.” Xạo quá! Vào thời đó, làm sao mà một tên VC, dù là sĩ quan, có được đôi giày để mang? Sau 30/4/75, chính mắt tôi thấy, chỉ huy cũng như lính VC lếch tha lếch thếch kéo nhau vào Sài Gòn, đứa nào cũng dép râu và nón cối, áo quần luộm thuộm, nhàu nát, cố ngẩng cổ nhìn các tòa cao ốc như những thằng mán về thành. Dương Thu Hương thủ tiêu dép râu ở đâu hết rồi? Ngoài ra, tôi đọc ở đâu đó, bộ đội VC bây giờ cũng được trang bị như lính VNCH xưa kia. Cũng tốt thôi! Điều đó chứng tỏ VC cũng muốn làm đẹp, muốn văn minh như mọi người.


Nhưng chúng ta đâu cho phép, nếu chúng nó không dùng cái đẹp, cái văn minh học lóm ấy để xây dựng nền dân chủ, tự do cho đất nước, cho toàn dân Việt Nam. Cho nên, bằng võ mồm, chúng ta sẽ tiếp tục đánh vào tử huyệt, tức quá khứ bần cố nông mà một thời bọn lãnh đạo VC lấy làm hãnh diện, tôn vinh, và bây giờ lại giấu như mèo giấu c..., cũng như tiếp tục tố cáo tội ác hiện tại của chúng, như là một trong nhiều phương cách chiến đấu hữu hiệu đập tan chế độ phi nhân và, tại ngoại quốc, Nghị quyết 36 lưu manh. Rõ ràng chúng rất sợ thế võ này của ta, nên mới lớn họng chê bai, đả kích. Nhưng đường ta ta cứ đi, mặc ai nói quàng nói xiên. Ngưng đánh võ mồm, nghĩa là im tiếng, bẻ bút, chúng ta chắc chắn sẽ mắc mưu chúng nó. Và


Dù ai nói ngả nói nghiêng

Thì ta vẫn vững như kiềng ba chân

Người lính già oregon






XUÂN VỀ VỚI QUYẾT TÂM

Thương về Nam Quan và Bản Giốc!

 
 
Xuân về, nhớ Bản Giốc - Nam Quan,
 Lệ đắng chia ly mãi ngập tràn.
 Ngọn ải mây trôi, in sắc oán,
 Đầu ghềnh thác đổ vẳng lời than!
  Phi Khanh - Nguyễn Trãi vinh sông núi,
 Tầu quỷ - ma Hồ nhục thế gian.
 Thác nước còn đây, đâu ải cũ?
 Đục ngầu, bọt trắng khóc tường tan!



Hàn Giang Trần 
Lệ Tuyền
Họa bài: Xuân về nhớ Nam Quan và Bản Giốc
XUÂN VỀ VỚI QUYẾT TÂM
Xuân về đất nước chẳng vinh quang
Dân chúng khổ đau, máu lệ tràn
Đất tổ nhường dần: thác, ải, đảo
Tài nguyên bán hết: sắt, nhôm, than
Nhân dân yêu nước lâm tù tội
Quốc hội, cộng quyền, làm Việt gian
Năm mới quyết tâm nung chí lớn
Đánh cho Cộng sản phải tiêu tan
BS Phùng văn Hạnh

Chuyện tình kỳ lạ của chàng du kích

Hạnh phúc lạ kỳ của hai chị em… lấy chung chồng

(VOV) - Dường như câu chuyện về gia đình “ba vợ chồng” không chỉ "lạ" mà còn là biểu tượng của tình yêu thương, đức hy sinh, lòng vị tha mà họ dành cho nhau
Chẳng biết cái cảm giác chung chồng của những người phụ nữ như thế nào, nhưng câu chuyện về hạnh phúc kỳ lạ của “ba vợ chồng” già ở thôn An Lạc, xã Duy Thành, huyện Duy Xuyên, Quảng Nam cứ níu lấy bước chân tôi khi tìm về với xóm nghèo bên dòng sông Ly Ly này.
Chuyện tình kỳ lạ của chàng du kích
Bên dòng sông Ly Ly hiền hòa, một gia đình đã sống hạnh phúc hơn 60 năm qua. Ông lão đã 83 tuổi, sống cùng 2 bà vợ đã ngót ngét 80 trong cùng một ngôi nhà. Điều làm tôi sửng sốt khi biết, hai bà chính là hai chị em ruột.
Ông Nguyễn Văn Tư, người dẫn tôi đi men theo đường bờ sông để đến căn nhà “hạnh phúc” của cụ ông Nguyễn Văn Tại (83 tuổi, quê gốc ở Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng) với hai cụ bà Lê Thị Dân (81 tuổi) và Lê Thị Tráng 78 tuổi (quê Điện Hồng, Điện Bàn, Quảng Nam). Ông Tư kể: “Người dân ở đây ai cũng biết chuyện của ông Tại. Thật sự họ là một gia đình rất hạnh phúc mà chúng tôi phải nể phục!”. Hầu hết ai cũng biết và đều có thể kể vanh vách cho tôi câu chuyện của họ. Dường như, đối với người dân nơi đây, câu chuyện về gia đình họ không chỉ "lạ" mà còn là biểu tượng của tình yêu thương, đức hy sinh, lòng vị tha mà họ dành cho nhau.
Căn nhà cấp bốn nằm hướng mặt ra sông, dưới rặng tre mát rượi. Khi chúng tôi bước vào ngõ, cụ bà Lê Thị Tráng lụi cụi chống gậy đứng trước cửa ngóng ra hỏi: “Ai đó? Tìm nhà tui có việc chi?!”, bằng chất giọng đặc xứ Quảng. Ông Nguyễn Văn Tại giờ đã bước sang tuổi 83, tiếp chúng tôi với nụ cười hồn hậu. Mấy năm nay, ông mắc chứng lãng tai, lúc nhớ lúc quên. Thế nhưng, ông bảo: “Chi chứ chuyện lấy hai bà vợ ni, làm sao mà tôi quên được".
Ông Tại, bà Dân (trái) và bà Tráng (phải) trong ngôi nhà hạnh phúc hơn nửa thế kỷ của mình
Trong câu chuyện về mối tình đặc biệt của mình với hai chị em ruột, ông Nguyễn Văn Tại kể: “Ngày ấy, bố mẹ mai mối chứ biết chi mà tìm hiểu nhau. Chọn đúng ngày lành tháng tốt, bố mẹ tui sửa soạn mâm cau trầu sang nhà gái dẫn lễ. Hồi nớ tui làm du kích, mới 19 tuổi thôi nhưng cũng gan dạ lắm! Bả (bà Dân - PV) thương tui ghê lắm! Rồi tui về nói cha mẹ xin cuới bả cuối năm đó. Năm sau đẻ được một đứa chừ cũng hơn 60 rồi đó chú!”.
Ông cụ cười nhẹ nhàng đầy vẻ mạn nguyện. Bà Tráng, vợ hai của ông ngồi bên cạnh bổ sung câu chuyện. Ngày chị gái lấy chồng, cô bé Tráng mới được 16 tuổi. Đó là vào những năm 50 của thế kỷ trước, sau khi ông lấy vợ lần thứ nhất với người chị, sống với nhau được mấy năm thì cha mẹ bà Dân qua đời, vì ở cùng làng nên bà Dân vẫn về thăm nhà thường xuyên, rồi không bao lâu sau cô em Lê Thị Tráng cũng theo về nhà chị gái để ở.
“Chẳng hiểu sao tui cũng thương ổng lúc nào không biết! Hồi nớ chỉ biết thương vậy thôi chứ có biết chi mô!” bà Tráng (người em) cười móm mém với chúng tôi trong câu chuyện rộn ràng. Năm 1958, ông Tại cưới thêm bà Tráng. Vì ở cùng một nhà trước đó, nên chỉ làm mấy mâm cơm đạm bạc, thế rồi về sống với nhau.
Người làng An Lạc ngày ấy đã được chứng kiến một đám cưới "vô tiền khoáng hậu" khi vợ cả đội mâm trầu cau dẫn lễ, hỏi chính em gái mình về làm lẽ cho chồng. Người tò mò thì đến xem thái độ của những người trong cuộc thế nào, người cảm thông thì đến chúc phúc cho đại gia đình họ đã khiến cho đám cưới dù giản đơn nhưng cũng rất tưng bừng, tiếng cười nói, tiếng pháo nổ râm ran cả một vùng quê nghèo.
“Hồi nớ còn khó khăn lắm, lo về mà làm lụng nuôi nhau thôi chứ đâu có tính toán được chi! Tui làm được cái lều bằng tre, lấy chỗ chui vào chi ra tránh nắng tránh mưa. Bà cả thì ở nhà ngoài, bà em thì ở trong, cứ thế tần tảo mần ăn qua ngày thôi!”, ông Tại nhớ lại.
Hạnh phúc đến bách niên giai lão
Rồi những đứa trẻ cũng lần lượt ra đời. Ba ông bà sinh cả thảy được 10 người con, nhưng giờ chỉ còn lại có 6. Người con lớn nhất là ông Nguyễn Văn Tài, đã xấp xỉ 60 tuổi, người con út tên Nguyễn Văn Chút còn lại năm nay cũng đã ngoài 40 cùng các anh chị Thiếu, Lợi, Líu, Lỡ.
Hỏi ông làm sao để gia đình hòa thuận được, vì thật khó để tôi có thể hình dung "kiếp lấy chồng chung" khi bà cả, bà hai cùng sống trong một ngôi nhà. Hiểu được nỗi thắc mắc của tôi, bà Tráng cười móm mém với miếng trầu đỏ thắm, kể lại: "Ngôi nhà tranh ba gian được ngăn ô. Bà cả nằm gian ngoài, tôi nằm gian trong. Dẫu vẫn gọi "chị" xưng "em" với chị gái nhưng lúc này thân phận của chúng tôi đã khác. Ngày ngày, cả ba người cùng ăn chung mâm, cùng đi lưới cá, cùng làm lúa và cùng nuôi lũ nhỏ. Cũng có lúc chị em chung đụng, lời qua tiếng lại nhưng sau đó lại quên ngay vì dẫu thế nào cũng là chị em ruột chú à!".
Các con của ông bà cũng chẳng kể con của bà cả, bà hai gì hết, hai bà đều được gọi là mẹ. Có chút lộc hay quà biếu, họ chia đều nhau cùng tận hưởng. Ông Nguyễn Văn Tư, hàng xóm của ba vợ chồng tấm tắc nói với tôi: “Tui sống ở đây mấy chục năm rồi từ hồi giải phóng tới chừ mà chưa một lần nghe lời qua tiếng lại giữa ổng bả. Cả mấy nguời con cũng vậy, chưa hề một lần thấy họ có xích mích với nhau. Cảnh chồng chị chồng em như vầy kể cũng kỳ lạ!”.
Ông Nguyễn Văn Thắng, trưởng thôn An Lạc cho biết: “Đó là một gia đình hạnh phúc nhất mà tôi từng biết. Người ta một vợ một chồng mà còn bao nhiêu chuyện, vậy mà hai bà với một ông mà lại chẳng có chuyện chi mới lạ! Già rồi mà mỗi lần đi đám, đi hội ổng dắt hai bà theo nhìn tình tứ lắm! Tui vẫn thường lấy gia đình ổng làm gương, cùng nói với mọi người cứ nhìn vào đó mà sống cho tốt!”.
Bây giờ con cái của ông bà đã có người lên hàng lão, nhưng vẫn một mực hiếu thuận với cha mẹ. Dù gia cảnh cũng chẳng mấy khá giả, nhưng vợ chồng ông Tại và cả gia đình, con cái, cháu chắt vẫn vui vẻ, đề huề, tuơng ái lẫn nhau.
Ông nhìn tôi rồi nói: “Tui đã sống gần hết cuộc đời của một con người, đã trải qua đủ hỉ, nộ, ái, ố của trần gian và ngộ ra nhiều điều. Điều tui rõ nhất là hạnh phúc thì không bao giờ trọn vẹn. Trời cho mình cái này nhất định sẽ lấy đi của mình cái khác. Trời không cho tui tiền bạc, nhưng cho tui một gia đình hạnh phúc. Vậy là tui cũng mãn nguyện rồi! Chẳng còn mong chi nữa!”.
Bây giờ, niềm an ủi lớn nhất của ông bà là các con, các cháu, các chắt và chẳng phân biệt con bà nào, dâu hay rể, mỗi khi nhà có công việc thì cùng xúm vào giúp đỡ nhau, đỡ đần bố mẹ. Thế là vui lắm rồi. “Nhà tôi chỉ thiếu cơm, thiếu gạo chứ không thiếu tình cảm!", ông Tại chia sẻ, đôi mắt hấp háy niềm vui. Bà Tráng và bà Dân cùng nhìn chồng trìu mến, gật đầu ra chiều ưng ý lắm.
Năm nay bà Dân bị bệnh, bà Tráng và ông Tại ngày ngày vẫn lo cho từng chén cháo, từng bát nước, từng viên thuốc. Người ta vẫn thường nói “con chăm cha không bằng bà chăm ông”, nhìn cách chăm sóc lẫn nhau của ba vợ chồng ông Tại, tôi càng thấm thía câu nói ấy. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, ba con người ấy đã cùng nhau bước qua những tháng ngày gian khó, viết lên câu chuyện về tình yêu, tình chị em, nghĩa vợ chồng đẹp như trong cổ tích./.
CTV Bùi Hữu Cường/VOVonline

Bài Xem Nhiều