We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 13 January 2012

KHI VIỆT KIỀU BỊ BIẾN THÀNH DÂN OAN :Mày tưởng chồng mày là người Mỹ thì ngon lắm?

Văn hóa và tư cách của cán bộ nhà nước XHCN



Nhà cô LÊ THỊ THU HƯƠNG. Địa chỉ : B8/9 , đường Lương Định Của, khu phố 1, phường Bình Khánh, quận 2, thành phố Hồ Chí Minh.


Cô Hương có chồng là người Hoa Kỳ, hiện đang công tác tại Liên Hiệp Quốc; nó cũng ủi luôn còn thách thức : Bảo chồng mày có giỏi thì thưa ra Liên Hiệp Quốc xem ai chết cho biết, mày tưởng chồng mày là người Mỹ thì ngon lắm hả ,tao ủi luôn xem ai làm con cat… gì tao !


( Đó là lời của ông Vũ Hoài Phương, ông Đỗ Huy Thụy chủ tịch và phó chủ tịch UBND phường Bình Khánh, quận 2, TP HCM )

CÓ NÊN ĐẦU TƯ VÀO KHU ĐÔ THỊ  

MỚI THỦ THIÊM

QUẬN 2, THÀNH PHỐ HỒ CHÓ MINH ? 


  

          
Tập trung lực lượng, đánh chiếm, cướp nhà đất của Cô Hương Ngày 08/12/2011:
 
Nhà cô LÊ THỊ THU HƯƠNG.      Địa chỉ     : B8/9 , đường Lương Định Của, khu phố 1, phường Bình Khánh, quận 2, thành phố Hồ Chí Minh.
Cô Hương có chồng là người Hoa Kỳ, hiện đang công tác tại Liên Hiệp Quốc; nó cũng ủi luôn còn thách thức : Bảo chồng mày có giỏi thì thưa ra Liên Hiệp Quốc xem ai chết cho biết, mày tưởng chồng mày là người Mỹ thì ngon lắm hả ,tao ủi luôn xem ai làm con c… gì tao !    
 
( Đó là lời của ông Vũ Hoài Phương, ông Đỗ Huy Thụy chủ tịch và phó chủ tịch UBND phường Bình Khánh, quận 2, TP HCM )
 
 
Cô LÊ THỊ THU HƯƠNG, áo đen, đang khiếu nại tại trụ sở UBND TP HCM
 
 Dự án khu đô thị mới Thủ Thiêm theo Quyết Định 367/ TTg ngày 04/ 06/ 1996 Thủ Tướng chính phủ hợp ý Đảng lòng dân . Nhưng bị biến thành dự án cướp đất của dân nghèo ! Làm mất niềm tin của nhân dân ! Làm mất uy tín của đảng và nhà nước ! Là nguyên nhân gây mất ổn định chính trị ! Nếu không kịp thời chấn chỉnh; chắc chắn sẽ có cuộc nổi dậy !

                 Nhân Dân tố cáo không được xem xét ! Mà còn bị trù dập , bị trả thù và bị khủng bố : Đập phá nhà cửa , cho công an hù dọa , theo dõi  rồi chụp mũ : Chống đối Đảng & Nhà Nước và bêu xấu trên loa phát thanh …     

                  Đây là dự án cố tình vi phạm  Luật Pháp Nhà Nước ! Để biến thành dự án  bóc lột và dùng cường quyền cướp đất của dân nghèo ! 

              Thực tế cho thấy : Những người có chức vụ và trách nhiệm. Đã lợi dụng chức vụ , quyền hạn , tước đoạt quyền lợi chính đáng của nhân dân : 

Lấy đất của người nghèo , chia cho người giầu ! 

Lấy đất của dân ! chia cho người có chức vụ , quyền hạn ! 

Thành phố HCM và Quận 2 hành dân, vô cảm và lừa dối cấp trên , lừa đảo nhân dân , đi ngược lại chính sách của Đảng và Nhà Nước , ngang nhiên phá vỡ quy họach Khu Đô Thị Mới Thủ Thiêm ! 

Tự quyền cấp đất cho các công ty gia đình ! Cưỡng chiếm đất đai mà nhân dân đang sử dụng ! Sau đó chia cho nhau : Theo kết luận thanh tra thành phố: Lấy 169 ha chia cho 64 dự án phân lô bán nền ! Tham nhũng lớn như vậy , nhưng được che chắn , bảo vệ , bưng bít ! Nên không được dư luận , báo đài và các cấp thẩm quyền điều tra ...!
Nhà cô LÊ THỊ THU HƯƠNG.      Địa chỉ     : B8/9 , đường Lương Định Của, khu phố 1, phường Bình Khánh, quận 2, thành phố Hồ Chí Minh. Chỉ còn là đống gạch vụn và bị cướp ! Nhưng Cô vẫn còn là chủ sở hữu theo Giấy chứng nhận quyển sở hữu nhà ở và đất ở số : 3479/2000 , do UBND thành phố HCM cấp ngáy7/04/2000
 
Cho xe ủi, cào bằng nhà Cô Hương để cưỡng chiếm mà không có quyết định thu hồi đất
 
        Theo kết luận thanh tra thành phố số : 445/KL-TTTP-KLI ngày 01/10/2008 :
                  Mục III Kết luận 1/3 : Không tổ chức phổ biến công khai ranh qui hoạch đến các đơn vị và cá nhân cư trú trong phạm vi qui hoạch là chưa thực hiện Điều 3 của quyết định 13585/KTST-QH .
                  Kết luận 7 và 8 : Hiện nay đã thu hồi tràn lan tới 8 phường ( An Phú , Cát Lái, Thạnh Mỹ Lợi ) nhưng chỉ mới thu 621,4328 ha theo QĐ 1997. Theo Quyết định 367 và Công Văn 190/CP-NN ngày 22/02/2002 cho phép thu hồi 770 ha đô thị mới và 160 ha tái định cư, thuộc các phường An Lợi Đông , Thủ Thiêm , An Khánh, một phần phường Bình An và Bình Khánh. Thành phố đã làm biến mất 160 ha tái định cư tại 5 phường , để chia cho 64 dự án phân lô bán nền, nên không có đất tái định cư cho dân.
                  Kết luận 9: Hội Đồng bồi thường quận 2 không lập phương án bồi thường, hỗ trợ thiệt hại và tái định cư cho KĐTMTT là chưa thực hiện đúng Điều 32, Nghị Định số 22/1998/NĐ-CP.
 
 
 
Theo Quyết Định 367/ TTg ngày 04/ 06/ 1996 Thủ Tướng chính phủ đã quy định, dùng 160ha để tái bố trí định cư cho dân  bị giải toả để xây dựng Khu Đô Thị Thủ Thiêm !  Nếu chia cho 40.000  dân bị giải toả , sẽ được ngay con số : 160ha = 1.600.000.000 m2 , chia cho 40.000 dân bị giải toả , mỗi  đầu người  được : 40m2  . Thế nhưng Q.2 tự đặt ra , hộ nào có  100 m2  mới được đổi  nền đất !
     Bất kể nguồn gốc sử dụng đất ra sao , nếu chưa có sổ đỏ , đều bị liệt vào đất công , chỉ được đền bằng 40 % ! Hoặc bị coi là đất chiếm dụng , chỉ được đền bù bằng 30 % giá đền bù do Quận 2 và Thành Phố áp đặt !? với số tiền đền bù này , chỉ đủ để mua được 1/ 10 diện tích đất lúc trước ! Mặc dù đã sử dụng ổn định trước năm 1993 ! Thậm chí công nhận sử dụng trước năm 1975 !
                 Thủ Tướng Chính Phủ quy định : Khu đô thị mới Thủ Thiêm 930 ha , gồm 5  Phường : An Khánh, 169 ha, Thủ Thiêm 135 ha, An Lợi Đông 385 ha, tổng cộng : 689 ha, (Chỉ mới thu hồi 621 ha )và một phần phường Bình An 169 ha, Bình Khánh 226 ha.. Nhưng thành phố Hồ Chí Minh chỉ quyết định thu hồi có : 621,4328 ha qua Quyết Định số : 1997/QĐ-UB ngày 10/ 05/ 2002 . Nay UBND quận 2 lại tuỳ tiện tăng diện tích thành 7 phường ! Bất kể chỗ nào cũng mượn danh nghĩa khu đô thị mới Thủ Thiêm để thu hồi đất tràn lan , phải lên tới hàng ngàn ha  Thu hồi đất của dân mà chưa có quy họach chi tiết !? Không có quyết định thu hồi đất !     
                         Diện tích tự nhiên quận 2 : 5.020 ha  . Diện tích bán đảo Thủ Thiêm : 1.348 ha . Nay chỉ qui hoạch 657 ha làm KĐT Thủ Thiêm , còn lại gần 700 ha đã bán hết cho ai mà không còn đất tái định cư cho dân bị giải toả ?
             Như vậy KĐTM Thủ Thiêm vừa bất hợp lý và bất hợp Pháp .
            Theo lời nhận xét của Kiến Trúc Sư Nguyễn Ngọc Dũng , Uy viên Ban Chấp Hành Hội Kiến Trúc Sư  thành phố HCM : Từ trên máy bay nhìn xuống Tp HCM là hình ảnh một đống hộp quẹt nằm lung tung , không theo đường lối rõ ràng ! 

Với những gì  đang diễn ra thì thành phố đang phát triển theo hướng lệch lạc ! Theo kiểu 12 sứ quân ! Để sửa chữa được , phải mất cả thế hệ ! Tốn hao bao tiền bạc của Nhà Nước và Nhân Dân ! Phát biểu ngày 06/ 02/ 2006 .
              Cũng theo Tiến Sĩ TRẦN DU LỊCH , Viện trưởng Viện Kinh Tế : Qu trình đô thị hoá tại thành phố HCM là : Biến đất nông nghiệp thành đất hoang !?
             Giáo Sư Lê Huy Bá đưa ra cảnh báo chấn động : Trong vịng 10 tới 20 năm nữa , khi nhiệt độ trái đất tăng lên 1 tới 2 độ C , băng ở 2 cực sẽ tan , nước biển dâng lên 50 – 100 cm thì cả vng Thủ Thiêm sẽ ngập chìm trong nước và cả TP sẽ ngập !
             Trách nhiệm của người đứng đầu thành phố  tới đâu ? Trách nhiệm giám sát của Đoàn Đại Biểu  Quốc Hội , HĐND , MTTQ thành phố HCM  khi để sảy ra sai phạm nghiêm trọng này ?
 
                 
Công An nhân dân dưới sự điều động của chính quyền, đi đánh cướp nhà :
Ông : ĐẶNG QUỐC KHƯƠNG  . Việt kiều, quốc tịch CANADA
       Địa chỉ : C5/1 , Khu Phố I, phường Bình Khánh, quận 2, thành phố HCM.
Đã bị cưỡng chiếm ngày 27/12/2011
             
 Kiến nghị :  Xin cho kiểm toán và thanh tra toàn bộ việc sử dụng đất trên địa bàn Quận 2 ! Nhân dân chúng tôi sẵn lòng đóng góp , hy sinh tài sản để xây dựng khu đô thị Thủ Thiêm  ! Nhưng chúng tôi quyết tâm không để mất dù chỉ 1 xu vào túi bọn quan liêu tiêu cực và đặc biệt xin bảo vệ quyền lợi chính đáng của người thuộc diện chính sách, người dân nghèo theo đúng chủ trương của Đảng vả Nhà Nước ! 

Vì hiện nay chúng tôi đang bị cường quyền , tước đoạt tài sản ! Vì Quận 2 không cần biết và vi phạm Luật Đất Đai ! Cố tình dồn ép dân nghèo để ăn chia lợi nhuận khổng lồ với chủ đầu tư , mà chủ đầu tư toàn công ty tư nhân ! Sau đó có ý đồ sang bán lại cho các công ty nước ngoài ! 

Nếu không sớm chấn chỉnh sẽ mất lòng dân , thậm chí nhân dân sẽ nổi dậy để bảo vệ Đảng và Nhà Nước , trước thế lực của bè lũ quan liêu tiêu cực !  Trung Ương càng chậm vào cuộc thì sau nay sẽ phải mất rất nhiều tiền của để chỉnh sửa qui hoạch vì hiện nay  đã quá lộn xộn ! Nhưng cái mất lớn nhất mà khó lòng gây dựng lại được :  LÒNG  TIN  CỦA  NHÂN  DÂN   ! 

         Hiện nay việc tham nhũng đất đai ở quận 2 là rất rõ ràng , đầy đủ chứng cứ !
Nhưng tại sao không ai dám giải quyết ! 

         Thưa vì bọn quan liêu tiêu cực tại thành phố HCM và quận 2 quá lộng hành ! Chúng tạo thành một thế lực đen , cấu kết lại với nhau ! cùng nhau chia chác đất , tiền … tạo nên cảnh cùng hội cùng thuyền , làm ngơ cho nhau , để cùng hưởng lợi !  
   
         Nếu không ai dám nhận trách nhiệm giải quyết thì dễ gây hiểu làm trong nhân dân : Bao che hoặc làm ô dù cho quan liêu tiêu cực !!!

         Nhân dân chỉ mong ước  : Chính Phủ buộc địa phương phải triệt để tuân thủ Pháp Luật , Luật Đất Đai , Luật Khiếu Nại và Tố cáo và chủ trương của Đảng và Nhà Nước  :     Khi giải tỏa phải đổi nền nhà cho dân tái định cư , sắp xếp cho dân được tái định cư tại chỗ ! Vì chả lẽ xây dựng Khu Đô Thị chỉ giành cho người có chức , có quyền và có tiền!? còn đuổi dân nghèo đi khỏi nơi mà họ yên ổn sinh sống và làm ăn đã bao năm nay !? 

           Ong Vũ Hùng Việt , Trưởng Ban quản lý Khu Đô Thị Thủ Thiêm tuyên bố : Thị trường sẽ quyết định 130. 000 dân sống ở đây ! Nhưng đền bù thì tự ý áp đặt , đền 1m2 không đủ để mua 0, 1m2 !? Khiến nhân dân lâm cảnh mất nhà , mất đất !
                             
 

Nhà đất của Ông : ĐẶNG QUỐC KHƯƠNG  . Việt kiều, quốc tịch CANADA
Đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở Số; 130/2002
Chưa có quyết định thu hồi đất, hiện Ông vẫn còn là chủ sở hữu nhưng vẫn bị cưỡng chiếm ! Ông Vũ Hoài Phương, ông Đỗ Huy Thụy chủ tịch và phó chủ tịch UBND phường Bình Khánh, quận 2, TP HCM phán : Cứ đập , không cần biết nó là ai !
 
 
Người Thủ Thiêm

Năm Thìn tản mạn truyện Rồng


















Tân Mão đã qua, Nhâm Thìn đang đến. Mèo Tân Mão sắp bàn giao cho Rồng Nhâm Thìn.
Trong 12 con giáp chỉ có Rồng là con vật chưa ai thấy tận mắt bao giờ. Rồng là một loài vật xuất hiện trong thần thoại phương Đông và phương Tây. Trong cả phương Đông lẫn phương Tây, hình ảnh loài rồng đều được biểu thị cho loài linh vật huyền thoại có sức mạnh phi thường. Rồng ở các nước châu Á có nhiều khác biệt với rồng ở các nước châu Âu và châu Mỹ. Rồng Á châu được tôn thờ như thần vật. Rồng Tây phương bị coi là loài quái vật có hình tượng hung dữ nên các nước châu Âu coi rồng là biểu tượng của cái ác và sự hung dữ. Theo tự điển Larousse, rồng là một con vật hoang đường, hình rắn nhưng lại có cánh và có đuôi. Nó có hình dáng của khủng long có thêm sừng, cánh, vây lưng và có thể phun ra lửa hoặc nước… Da của nó rắn chắc, không loại vũ khí nào có thể sát thương được nhưng lại có điểm yếu nằm ở mắt và lưỡi, thường sống nơi hẻo lánh,con người ít đặt chân đến.

Theo truyền thuyết Hy lạp, có một vị thần là Achilles, dũng sĩ vô địch. Anh là con Thetis, nữ thần biển với vị vua Hylạp Pelus. Từ thưở nhỏ Achilles được tắm máu rồng nên cơ thể trở thành mình đồng da sắt, có sức mạnh vô song, nhưng chỉ có gót chân máu rồng không thấm tới nên chỗ này trở thành nhược điểm duy nhất của Achilles. Trong trận chiến thành Troy, Achilles bị trúng tên của Paris bắn vào gót chân và chết. Từ đây có ngạn ngữ ‘gót chân Achilles’ để ám chỉ một người dù có mạnh mẽ đến đâu vẫn có một yếu điểm nào đó.

Văn hóa phương Đông rất kính trọng và coi rồng là một loại thú linh. Rồng có mình rắn, vảy cá, bờm sư tử, sừng hươu và biết bay. Theo từ điển Việt Nam của Lê Văn Đức, rồng là con vật mình dài, có vảy to, miệng rộng, một sừng, chân có vấu, được sinh ra ở dưới nước nhưng lại biết bay trên mây. Người xưa tin rằng bốn biển lớn là Ðông Hải, Tây Hải, Bắc Hải và Nam Hải, mỗi nơi đều có một Long Vương ngự trị.

Rồng vừa biết trườn như rắn, lại thêm chân, thêm móng, vừa có cánh bay trên trời, vừa bơi trong nước, vừa chạy trên bộ như khủng long…Rồng có thể hút nước, phun mưa, lại khạc ra lửa, làm chủ trên mọi môi trường, trên mọi địa hình địa vật. Rồng có nhiều, loại có vãy gọi giao long, loại có sừng trên đầu là cầu long, loại có cánh bay gọi là ứng long, loại không bay gọi là bàn long… Ðặc biệt, rồng có cặp mắt lồi rất lớn, sáng quắc như lộ hào quang trông thật dữ tợn. Rồng thở ra khói, phun ra lửa hoặc nước. Miệng rồng rất rộng với nhiều răng lởm chởm chìa ra ngoài như miệng cá sấu. Về nơi ẩn thân, rồng thường ở những nơi có nước. Vì vậy mới có câu "Long đàm Hổ huyệt" hay "hang Hổ, đầm Rồng" để chỉ những địa thế âm u, hiểm trở hay chỗ náu thân của những tay chọc trời khuấy nước.Về màu sắc, có các loại Rồng xanh, trắng, đỏ, đen hay vàng. Trong số này, rồng vàng cao qúi nhất nên được dùng để tượng trưng cho Thiên Tử. Vì vậy, áo của vua được gọi là Long Bào có thêu rồng vàng bốn chân, năm móng. Huyền thoại còn cho rằng rồng đực ngậm một viên ngọc rất qúi trong miệng, do đó nhiều tranh cổ vẽ cảnh hai con rồng tranh một viên ngọc gọi là "Lưỡng Long Tranh Châu". Ðôi khi cũng có những bức tranh vẽ hai con rồng vờn mặt trăng gọi là "Lưỡng Long Chầu Nguyệt". Người ta còn phân biệt được cả Rồng đực lẫn Rồng cái bằng cách nhìn vào phần đuôi. Ðuôi rồng đực cuộn lại cứng như một cây côn dùng để làm vũ khí mỗi khi xung trận, còn đuôi rồng cái lại xòe ra như chiếc quạt.Theo ghi nhận của người xưa, rồng là một loại thần với 1.000 loài có thể ở trên trời hoặc dưới nước. Bởi vậy, rồng là con vật dễ vẽ nhất, không ai cãi được. Trong khi đó, 11 con giáp (Tí, Sữu, Dần Mão…) là có thực nên nếu vẽ sai thì ai cũng biết.

Chính vì rồng là một huyền thoại nên nó được tôn vinh lên mức huyền bí. Trong tứ linh, Long Ly Quy Phụng thì rồng đứng hàng đầu. Long là con Rồng, Ly hay Lân là con Kỳ Lân, Qui là con Rùa và Phụng là một loài chim qúi.

1. Tản mạn rồng Việt Nam

Người Việt hãnh diện là “con Rồng cháu Tiên”. Truyền thuyết kể: Lộc Tục, con vua Đế Minh, lên ngôi vua và lấy hiệu là Kinh Dương Vương. Kinh Dương Vương lấy con gái của Động Đình Quân là Long Nữ, sinh ra Sùng Lãm. Sùng Lãm nối ngôi vua xưng hiệu là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy Âu Cơ, đẻ ra một cái bọc chứa một trăm quả trứng, nở ra một trăm người con. Ngày kia, Lạc Long Quân nói với Âu Cơ:Ta là dòng dõi Long Quân, tức là Vua Rồng. Còn khanh là dòng dõi thần tiên. Cả hai ăn ở lâu với nhau e rằng không ổn. Nay được một trăm đứa con, khanh hãy đưa năm mươi con lên núi, còn trẫm sẽ dẫn năm mươi đứa xuống biển.Từ truyền thuyết này mà người Việt Nam tự hào có “long phụ tiên mẫu”.

Người Việt Nam thời xưa tin tưởng rằng Rồng và Kỳ Lân là những linh vật mang biểu tượng của Thiên Tử, mỗi khi xuất hiện là có điềm lành hoặc minh chúa ra đời để mang thái bình thịnh trị cho thiên hạ. Từ đó có tục lệ Múa Lân vào những ngày đầu năm trong dịp Tết Nguyên Ðán hay những ngày khai trương, lễ lạc, đám hỏi đám cưới …để hy vọng sẽ được may mắn, thành công phát đạt.

Trong ngôn ngữ Việt Nam, hình tượng rồng được ghép với uy quyền của nhà vua, như áo bào của vua gọi là long bào, sân điện là long đình, xe của vua là long giá, gương mặt vua là long nhan, giường vua nằm là long sàng, thân thể vua là long thể., thuyền rồng để vua du thủy, bệ rồng là ngai vua ngồi… Trong thuật phong thủy, việc tìm đất để khai phá, làm nhà, gieo vãi, nuôi trồng, hầu an cư lạc nghiệp cần xác định phương hướng, những mạch đất tốt chạy ngoằn nghoèo gọi là long mạch.

Người Á Ðông tin rằng Rồng là một linh vật mỗi khi xuất hiện thường đưa đến điềm lành cho hạ giới nên hay được dùng để đặt cho tên người hay những địa danh. Thi sĩ Lê Đình Bảng viết: “Thật bất ngờ, địa danh mang tên rồng lâu đời nhất nước ta là thủ đô Hà Nội. Số là, xửa xưa, Hà Nội mang tên Long Đỗ, cái rốn, cái bụng con rồng. Mãi đến năm 1010, Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư vầ Hà Nội và đặt tên là Thăng Long, vì theo chuyện kể, nhà vua thấy vượng khí của mãnh đất mới này bay lên, nom cứ như là một bầy rồng múa lượn, quấn quýt. Cả đến cái truyền thuyết rùa vàng ngậm gươm báu dâng Vua Lê đặng trị quốc an dân sau này cũng mang ý nghĩa tương tự. Phía hữu ngạn Sông Hồng, có Long Biên; nội vi Hà Nội có Hàm Long. Đã có Thăng Long để rồng bay lên thì phải có bãi đáp Hạ Long để để rồng hạ cánh chứ. Vịnh Hạ Long, một quần thể đảo với hàng nghìn ngọn núi đá vôi xen lẫn núi đất mang nhiều hình thù, trông tựa nghìn con rồng chìm nổi rủ nhau bơi lội tắm mát ngoài khơi. Chính vì vẽ đẹp kì vĩ ấy, Hạ Long đã được UNESCO công nhận là một trong 360 di sản văn hóa thế giới (1994). Ngoài ra, về phía Đông Vịnh Hạ Long, còn thấy Bái Tử Long là đảo Phù Long (rồng nổi), tên cũ của đảo Cát Bà và ngoài khơi tỉnh Quãng Ninh là cụm đảo Bạch Long Vĩ, đặc biệt ở núi Long Tu có loài cỏ quý chữa bá bệnh, vốn được bảo quản để làm ngự y tiến vua. Càng xuôi vào phương Nam, càng thấy xuất hiện nhiều địa danh mang tên Rồng. Ở Nam Định có chợ Rồng nổi tiếng. Ở Thanh Hóa có núi Hàm Rồng hiên ngang bên bờ sông Mã. Ở Quãng Bình có núi Thanh Long, Long Tị, Phúc Long, nơi Đào Duy Từ (1572-1634) xây lũy Trường Dục và viết nên khúc ngân “Ngọa Long Cương Vãn” thác ngụ chí khí ẩn nhẫn chờ thời khi mở cõi ở đất phương Nam.
“Chốn này thiên hạ đời dùng,
ắt là cũng có Ngọa Long ra đòi.
Chúa hay dùng đặng tôi tài,
mừng xem bốn bể dưới trời đều yên”.


Tại huyện Phú Lộc (Thừa Thiên – Huế) có núi Rồng; ở Huế có núi Kim Long ( có chùa Thiên Mụ), một thắng cảnh tầm cỡ, đặc biệt phụ nữ rất đẹp, đến nỗi vua Tự Đức đã phải dan díu làm nên câu thơ tán dương:
“Kim Long có gái mỹ miều.
Trẫm thương, trẫm nhớ, trẫm liều, trẫm đi”.


Bình Định có núi Hàm Long, Biên Hòa có núi Bửu Long, Long Ẩn; Hà Tiên có núi Dương Long. Đấy là chưa kể đến con sông Mêkông chảy qua 5 nước, khi vào Việt Nam, rẽ ra 9 cửa, gọi là Cửu Long Giang và khu vực vựa lúa của cả nước rộng hơn bốn triệu hecta là đồng bằng sông Cửu Long. Từ Sài Gòn đi các tỉnh miền Đông Nam Bộ, ta bắt gặp Long Khánh, Long Thành, Long Đất, Long Sơn, Long Điền, Long Giao (Đồng Nai- Bà Rịa-Vũng Tàu), Phước Long, Bình Long (Bình Phước); về sông nước miền Tây Nam bộ, sẽ gặp Long An, Long Định (Tiền Giang), Long Hồ ( Vĩnh Long), Long Mỹ (Cần Thơ), Long Xuyên (An Giang), Long Phú (Sóc Trăng)… nếu phải liệt kê xã, ấp mang tên con rồng, e khó mà kể xiết. Và sẽ là một thiếu sót không tha được, nếu không nhắc đến cảng nhà Rồng lịch sử, nghe đâu có xuất xứ từ đời vua Gia Long thì phải?”. (x. BGCN, tháng 1.2012).

Trong y dược học Việt Nam, theo GS TS Đỗ Tất Lợi, có nhiều vị thuốc mang tên rồng như: Ban long (rồng có đốm) là một thứ cao được bào chế từ sừng hươu có đốm. Địa long (rồng đất) được chế từ con trùn để chữa cao huyết áp, nhức đầu, sốt rét. Long y (chiếc áo của rồng) tức là võ ngoài của rắn lột xác, bào chế thành thuốc trị ghẻ và có tác dụng sát trùng ngoài da. Long nhãn (mắt rồng) là vị thuốc chế từ cùi nhãn phơi sấy khô dùng chữa bệnh suy nhược thần kinh và mất ngũ.

Trong cái nhìn và quan niệm của văn hóa Việt Nam, rồng vừa mang màu sắc kỳ bí của huyền thoại vừa lại toát ra tính đậm đà của hiện thực, đôi lúc pha trộn sự bông đùa ví von của dân gian. Có “rồng bay phượng múa”, “rồng đến nhà tôm”, “song long chầu ngọc”; đồng thời cũng có “gan rồng, mỡ phượng” và “vẽ rồng vẽ rắn”.

Con rồng là một hình tượng có vị trí đặc biệt trong văn hóa, tín ngưỡng của dân tộc Việt Nam và đã từng là biểu tượng linh thiêng liên quan đến truyền thuyết “con Rồng cháu Tiên” của người Việt. Hiện nay, hình tượng con rồng tuy không còn tính chất thiêng liêng, tối thượng nhưng vẫn được đưa vào trang trí cho các công trình kiến trúc, hội họa, chạm, khắc nghệ thuật... Dọc dài lịch sử, con rồng vẫn là một phần trong cuộc sống văn hóa của người Việt Nam.

2. Thị kiến Người Nữ và Con Rồng trong sách Khải Huyền

Sách Khải Huyền đặc tả về rồng như sau: “Rồi có điềm lớn xuất hiện trên trời: một người Phụ Nữ, mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng, và đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao. Bà có thai, đang kêu la đau đớn và quằn quại vì sắp sinh con. Lại có điềm khác xuất hiện trên trời: đó là một Con Rồng, đỏ như lửa, có bảy đầu và mười sừng, trên bảy đầu đều có vương miện. Đuôi nó quét hết một phần ba các ngôi sao trên trời mà quăng xuống đất. Rồi Con Rồng đứng chực sẵn trước mặt người Phụ Nữ sắp sinh con, để khi bà sinh xong là nó nuốt ngay con bà”. (Kh 12,1-3)

Thị kiến trình bày mầu nhiệm Giáo hội khai sinh từ Đấng Messia tại Canvê. Đức Giêsu được vinh hiển. Satan bị đánh bại tìm cách phá đổ Giáo hội trong lữ hành trần gian, nhưng Thiên Chúa luôn gìn giữ Giáo hội.

Làm nền cho thị kiến này là câu chuyện Sáng thế về sa ngã (St 3,15-16), nói đến cuộc chiến giữa con rắn, người phụ nữ và dòng dõi của bà. Khải huyền đã vận dụng hình ảnh và thần học của sách Sáng thế để dệt nên thị kiến Người Nữ và Con Rồng.

a. Người Nữ

“Người Phụ Nữ mặc áo mặt trời, chân đạp mặt trăng và đầu đội triều thiên 12 ngôi sao” là biểu tượng cho Israel. Trong Cựu ước, khi nói về Israel dân Chúa, các Ngôn sứ thường dùng hình ảnh người phụ nữ (Is 54,5-8; cf. Gr 3,6-10). Isaia đã từng ca ngợi Giêrusalem được mô tả như một người nữ được Thiên Chúa trang điểm lộng lẫy bằng vinh quang của Người. Is 66,7-9 còn loan báo Thiên Chúa sẽ cho người nữ này là Giêrusalem sinh hạ một dân mới. Lời loan báo về Đấng Messia đã được thực hiện.

Như thế, Người Nữ mà khải huyền muốn nói đến trước hết cần phải được hiểu đó là Dân Thiên Chúa đang lữ hành dương thế, mang trong thực tại hữu hình những dấu chỉ của thực tại vô hình mà chỉ có đức tin mới đạt thấu: đó là Nước Trời. Người Nữ trong Kh 12 là Dân Chúa, nhưng theo nghĩa tròn đầy, Người Nữ đó cũng chính là Đức Maria, người mẹ đã sinh hạ Con Thiên Chúa; đồng thời cũng là mẹ của dân mới (Ga 19,26-27), là hình ảnh hoàn hảo của dân Chúa và là “một nhân vị tập thể” của Dân Chúa.

b. Con Rồng

Kh 12,9 cho biết con Rồng đây chính là con rắn của Sáng thế, gọi là ma quỷ hay Satan. Cả hai từ này theo Hipri và Hy ngữ đều có nghĩa là người chống đối, kẻ quyến rũ, tên chia rẽ (diabolus). Hình ảnh con Rồng đưa ta về với trình thuật sa ngã trong sách Sáng thế. Rắn nguyên thủy ấy nay mang hình thù con Rồng, đầu đội vương miện. Bảy vương miện ám chỉ 7 ngọn đồi của đế quốc La Mã, tượng trưng cho các hoàng đế cai trị, hay cũng biểu tượng cho các thế lực đế quốc độc tài, tôn thờ ngẫu tượng và bách hại Giáo hội mà nhà thị kiến muốn chỉ tên vạch mặt ở đây. Câu 10 còn gọi nó là “kẻ tố cáo anh em Ta trước tòa Thiên Chúa”, gợi lại hình ảnh Satan tố cáo ông Gióp là người của Chúa bề ngoài mà thôi.

Như thế, thị kiến cho biết Rồng là hình ảnh tên tố cáo gian xảo, địch thủ đã bị loại, Satan đại bại bị xô nhào xuống từ trời (cf. Lc 10,18-19; Ga 12,31). Satan mang tất cả năng lực sự dữ và tìm đủ mọi cách phá hoại chương trình sáng tạo và công cuộc cứu độ của Thiên Chúa (cf. Ga 14, 29-31; Ga 16,32-33: đầu mục thế gian). Nhưng bất cứ nơi nào Thiên Chúa quyết định cứu độ, Satan không có đất sống. Nó hoàn toàn bị thảm bại bởi một người cũng là Con Thiên Chúa. Quyền lực sự dữ không còn là tuyệt đối. Con người phải có bổn phận tiêu trừ sự dữ và đấu tranh cho sự thiện. Không thể chấp nhận thuyết định mệnh khắc nghiệt và số phận phi lý.

c. Người Con

Người con đây chính là Đức Kitô như Tv 2,9 đã từng loan báo:
“Lấy trượng sắt,
Ngươi đập chúng tan tành
Và nghiền nát chúng
Như đồ sành thợ gốm”.


Tác giả nói đến việc đứa bé sinh ra và vinh thăng. Động từ dùng ở đây nói đến việc Đức Kitô chiến thắng quyền lực sự chết và được siêu tôn. Chi tiết quan trọng này giúp ta hiểu tác giả không muốn nói đến cuộc giáng sinh tại Bêlem, nhưng muốn nói đến chính việc tôn dương Đức Giêsu Phục sinh. Đức Kitô được sinh ra trong chính thập giá và Phục sinh. Tv 2 luôn được Giáo hội tiên khởi hiểu như vậy: “Ngươi là con Ta, chính Ta hôm nay đã sinh ra con” (cf. Cv 13,32-33; Rm 1,4).

Người Nữ trốn vào sa mạc, núp dưới cánh đại bàng. Hình ảnh này diễn tả sự phù hộ che chở của Chúa đối với Israel khi xuất Ai Cập (Xh 19,4; cf. Đnl 32,11; Is 40,31). Sa mạc là hình ảnh cổ điển trong Cựu ước mang nội dung phong phú về tình nghĩa giữa Thiên Chúa với con người. Đó cũng là nơi ẩn trú khỏi bách hại do quyền lực thế gian (1V 17,2; 19,3; IM 2,29).

Bà được nuôi sống cách diệu kỳ như xưa Chúa ban Manna nuôi Israel trong sa mạc. Bà ẩn náu trong thời gian 1.260 ngày = 3 năm rưỡi = bốn mươi hai tháng, là thời gian theo Daniel, Antiochus Epiphane bách hại Israel nhưng Thiên Chúa không bỏ rơi dân Người. Cũng vậy, Giáo hội trong thời kỳ gian truân thử thách và bách hại, luôn được Thiên Chúa che chở, dưỡng nuôi bằng Thánh Thể và bằng Lời hằng sống. Người không cứu Giáo hội bằng cách đưa ra khỏi thế gian. Người vẫn để Giáo hội giữa thế gian; và trong suốt dòng lịch sử của mình, Giáo hội phải đương đầu với mọi thử thách. Được cứu độ không có nghĩa là Giáo hội và mỗi tín hữu được thoát khỏi điều kiện làm người, nhưng được đặt giữa thế gian, chiến đấu với sự dữ, với niềm xác tín Đức Kitô chiến thắng hằng ở với mình và ban phần chiến thắng cuối cùng.

d. Những đọ sức trong hiện tại (12,7 – 14,5)

- Trên trời: Micae và mãng xà 12,7-18 (cuộc chiến giữa Thiên Chúa và Satan, được cụ thể hóa dưới đất). Dưới đất: Cuộc chiến giữa các quyền lực thế gian và các tín hữu.

- Hai con Thú: + Quái vật biển (13,1-10): các đế quốc độc tài bách hại.

+ Quái vật đất (13, 11-18): các ý thức hệ ngẫu thần.

- Con - Chiên và những ai trung thành (14, 1-5)

@ Con thú 1 (13,1-10)

Con Thú 1 từ dưới biển đi lên (13,1-10) giống hệt con Rồng, có 10 sừng và 7 đầu.

Dn 7 đã dùng hình ảnh 4 con vật để chỉ các đế quốc thế lực trần gian, trong đó con vật thứ tư mang 10 sừng, biểu tượng những nhà cầm quyền. Con Thú của Khải huyền tổng hợp luôn cả 4 con vật của Daniel để biểu tượng cho đế quốc Rôma độc ác và hung tợn bằng các con vật khác hợp lại.

Ý nghĩa 7 sừng được diễn bày nơi Kh 17,9-11: đó là 7 ngọn đồi La Mã tượng trưng cho 7 nhà vua, trong đó 5 vua đã chết. Hai vị kia, một đang tại chức và một vị khác sắp lên ngôi. Thêm một vị thứ 8 sẽ bị tiêu diệt. Vị này chắc chắn là Domitien mà tác giả biết rõ vì ông đã biên soạn tác phẩm vào thời này.

Một cái đầu bị tử thương, nhưng được chữa lành (Kh 13,3), gợi cho biết có lẽ đó là Nêrôn, theo như thần thoại “Nero Redivivus”.

Trong tư tưởng của Khải huyền, Con Thú biểu tượng cho đế quốc Rôma. Đế quốc này không những độc ác bách hại các tín hữu (13,7), mà còn dùng quyền hành thúc ép họ sụp lạy tà thần (13,4) và hoàng đế. Những ai do sợ hãi, tham sống mà bất trung, bị loại khỏi sách sự sống (13,8).

@ Sách sự sống

Kh 5,1 đã nói đến thị kiến cuốn sách niêm 7 ấn. Chỉ một mình Đức Kitô - Con Chiên bị sát tế - mới vén bức màn Cựu ước để ta có thể hiểu được ý nghĩa của nó, vì tất cả những gì được viết trong Cựu ước đều hướng về Đức Kitô là mạc khải tột đỉnh và viên mãn. Ngài đến để hoàn thành mọi loan báo và lời hứa trong Cựu ước. Kh 10,8 lại đề cập đến cuốn sách nhỏ, mang tầm vóc quan trọng hơn cả cuốn sách niêm 7 ấn trong Kh 5,1 vì được mở sẵn trong tay thiên thần (Kh 10,1). Hình ảnh thiên thần mang sách đó có những đặc tính quy về Đức Kitô (cf. 1,16: miệng Ngài phóng ra thanh gươm hai lưỡi sắc bén; nhan Ngài sáng như mặt trời; 1,7: Ngài đến với áng mây trời; 14,14-16: trên đám mây có người ngự xuống giống tựa Con Người; 1,15: chân Ngài giống vàng thau lò luyện…). Phải chăng quyển sách nhỏ này liên hệ đến mầu nhiệm của Thiên Chúa, tức ý định cứu độ của Thiên Chúa được hoàn tất trước khi hoàn tất lịch sử (Kh 10,7). Lúc ấy, thiên thần bay trên đỉnh vòm trời, được lệnh mang Tin Mừng vĩnh cửu được loan báo cho dân cư trên mặt đất, cho mọi dân, mọi chi tộc, mọi ngôn ngữ và mọi nước (Kh 14,6). Đó là việc loan Tin Mừng. Tin Mừng Đức Kitô. Vậy cuốn sách nhỏ kia chính là Sách Tin Mừng của Đức Kitô, liên hệ đến ý định cứu độ của Chúa đối với toàn nhân loại. Chính tác giả được mời nuốt lấy với nhiệm vụ lãnh nhận để truyền đạt trong tư cách một ngôn sứ (cf. Ed 3,11; Gr 1,10).

Bốn lần bản văn gợi lên việc Con Thú tìm mọi cách tiêu diệt các Kitô hữu. Thế nhưng mọi thử thách và bách hại kia vẫn không thể làm nao núng các tôi trung của Chúa và tách họ ra khỏi cái nhìn thân ái và che chở hứa hẹn của Người. Và đây chính là niềm tin căn bản không hề đổi thay: mọi đe dọa của quân thù, mọi hiểm nguy…, không gì có thể lay chuyển lòng tin. Tên các tôi trung được viết vào sổ sự sống của Con Chiên. Đó là ý định từ đời đời của Thiên Chúa, là chương trình cứu độ của Người. Do đó, có thể khẳng quyết, từ nguyên thuỷ sáng tạo, Thiên Chúa đã mở sách sự sống là sách của Con Chiên bị sát tế. Mọi người, bất kể màu da, chủng tộc, ngôn ngữ, thời đại nhận biết và vâng phục Thiên Chúa, Đấng sáng tạo và chúa tể mọi loài, đều khám phá tên họ được ghi trong sổ sự sống.

Nói như thế, tức chấp nhận định mệnh thuyết? Sự tuyển chọn quả là một niềm vui khôn tả, sao lại không loan báo cho mọi người? Còn những ai khước từ lắng nghe, hãy để chính Chúa giải thích vì điều ấy vượt tầm hiểu biết của con người.

@ Con Thú 2 (13,11-18)

Sau Con Thú thứ nhất tượng trưng cho đế quốc Rôma, biểu tượng cho các thế lực thù nghịch và bách hại, xuất hiện Con Thú thứ hai từ đất đi lên, có nhiệm vụ phục vụ Con Thú thứ nhất.

Con thú này có hai sừng như chiên, nhưng lại nói như Rồng. Nó làm được những dấu lạ điềm thiêng như Êlia và khắc dấu ấn cho những kẻ tùng phục trên tay, trên mặt hoặc trên trán, như các tôi tớ của Chúa được ghi dấu trên trán (7,3; 14,1). Những chi tiết ấy giúp ta hiểu được Con Thú 2 này tượng trưng cho các ngôn sứ gỉa (16,13; 19,20; 20,10) và các ý thức hệ của họ (Mt 24,24), các tư tế đội lốt chiên.

Con Thú này được mô tả từ đất đi lên, nghĩa là từ Tiểu Á, tượng trưng cho việc tôn thờ hoàng đế. Vết thương gươm đâm (13,14) gợi lên việc Nêrôn tự sát; nhưng Con Thú sống lại, đó là triều đại hoàng đế Domitien, người tự xưng là thần. Thế giới thời ấy được điều khiển bởi Con Thú ngẫu tượng này. Không ai có thể sống mà không ghi dấu nó. Trong một xã hội không có đường ranh giữa chính trị, kinh tế và tôn giáo, tình trạng các Kitô hữu rất ư là khó khăn! Sự hòa bình của đế quốc, nền an ninh của thành phố, sự thịnh vượng của đất nước…thảy đều được coi như những bảo đảm của các thần linh. Do đó, cần phải cúng tế các thần linh cho phải phép và việc tôn thờ cúng bái hoàng đế được coi như cụ thể và quan trọng nhất. Kẻ nào ngoan cố từ chối tham gia công việc tế tự này bị coi như phản động, có thể kéo lôi cả tập thể vào cơn giận của các thần linh. Do đó, ta hiểu tại sao các Kitô hữu bị kết án là vô thần và bị coi như kẻ thù của đế quốc và nhân loại, vì thế họ bị bách hại và tiêu diệt.

Một chi tiết bí ẩn khó giải thích, đó là mật mã của Con Thú mang số 666. Thời xưa, người ta vẫn thường tính giá trị của các chữ tên riêng. Tên Cesar Nero có giá trị là 666. Do đó, người ta vẫn đinh ninh số 666 là mật mã của hoàng đế Nêrôn. Có người lại giải thích cách khác: số 6 là số bất toàn, số xấu. Ba số 6 đi với nhau lại rất xấu, rất bất toàn! Ma quỷ muốn bằng Thiên Chúa, biểu tượng bằng số 7 toàn hảo. Vậy cả hai Con Thú đều thật sự thuộc về Satan, biểu tượng bằng con số 666.

e. Con Chiên và 144.000 người

Trước sự tàn ác kinh hoàng của hai Con Thú, câu hỏi được đặt ra: Ai có thể đứng vững được? Câu trả lời sẽ là giữa lòng một đế quốc bách hại bạo tàn và sự tôn thờ ngẫu tượng đang ngự trị, Thiên Chúa luôn che chở và cứu độ đoàn dân trung thành của Người. Họ là những người “trinh khiết” nghĩa là luôn trung tín với Chúa, khước từ việc thờ tà thần. Đó là những người nhờ bí tích thánh tẩy đã được ghi danh Đức Kitô và Cha của Ngài. Họ là những môn đệ trung tín bước theo Con Chiên cho đến cùng dù phải trả giá bằng chính mạng sống. Cuối cùng họ sẽ được đón nhận như những của lễ hiến tế đẹp lòng Thiên Chúa. Con số 144.000 tượng trưng cho số đông vô kể các Kitô hữu trong dọc dài lịch sử trung thành tuyên xưng đức tin và nhiệt thành làm chứng đến tử đạo. (x. Kinh Thánh Tổng Quát, Lm JB Hoàng Văn Khanh).

3. Ước mơ thành rồng

Người xưa nói rằng, cá chép vượt qua được long môn là sẽ hóa rồng. Hóa rồng là ước mơ lớn nhất của cá chép. Tuy nhiên con rắn hoang tưởng cũng mơ ước thành rồng. Con rồng bay lượn trên trời. Con rắn chỉ uốn éo thân mình dưới đất mà phóng tới. Rồng và rắn hoàn toàn khác nhau. Vậy mà có những kẻ hoang tưởng gọi rắn là địa long (rồng đất).

Ước mơ hóa thành rồng là ước mơ chính đáng. Người có thực học, mong hóa rồng trí tuệ, học cao lên hơn nữa để có tiến sĩ, giáo sư thì thật đáng trân trọng. Thế nhưng, có người muốn có học vị thơm tho mà không chịu nghiên cứu, không chịu vượt qua ba bậc như cá chép. Họ chỉ lo đi…sao chép bậy bạ công trình của người khác, rồi chạy tiền bạc vớ vẩn để được công nhận. Đó là rồng dỏm, còn tệ hơn cá chép thật. Nhật Bản và Hàn Quốc là hai con rồng bóng đá ở khu vực Đông Bắc Á. Khu vực Đông Nam Á thật sự chưa có con rồng bóng đá nào ra hồn ra vía, kể cả con rồng Việt Nam. Thoát thai từ một nền bóng đá bao cấp, các đội tuyển quốc gia Việt Nam vẫn chưa có kỷ luật chiến thuật và kỹ năng chiến lược…

Có những ông rồng hóa thành chú rắn. Ông rồng điện lực đầu tư ngoài giá thú, lỗ nặng. Ông rồng Vinashin trả nợ ná thở. Ông rồng cảng biển phát triển tứ giăng, đến nỗi năm khi mười họa mới có một chiếc tàu nhỡ tới ăn hàng. Một ông rồng cảng biển tuy tên là mây gió, nhưng không thể nương mây cưỡi gió mà bay, đến nỗi phải trả nợ hàng tháng muốn khùng! Ông rồng cầu đường vừa làm vừa câu rê. Làm rồng như vậy thà làm cà chép sướng hơn. Năm kia một tỉnh phía Nam (Tiền Giang) tổ chức lễ hội trái cây, mời mấy chục họa sĩ trang trí một con rồng dài sơ sơ 2 cây số trên đường phố. Kinh phí làm rồng hết trên 2 tỉ đồng. Lễ hội xong, con rồng mắc bệnh tay chân miệng, lở lói tùm lum, lại cản trở giao thông. Ban tổ chức bèn rao bán long thể với giá 60 triệu đồng. Con rồng hình thức chủ nghĩa ấy xin lấy mà làm răn cho đời sau. (Đồ Bì, Tuổi Trẻ Cười).

Về kinh tế, Việt Nam hơn hẳn các nước như Thái lan, Malaysia, Indonesia, Singgapore và Hàn quốc từ 40 năm về trước. Bây giờ Việt Nam vẫn là nước nghèo còn họ đã trở thành những con rồng Á châu. Việt Nam cũng muốn vươn mình trở thành rồng. Không biết đến bao giờ!!!

Trong 12 con giáp thì con rồng được xem là con vật bay cao nhất và mang nhiều khát vọng lý tưởng nhất. Rồng bay trên trời cao, không lấm láp bùn đất thế tục. Rồng lên cao ở gần trăng sao và thần thánh nên vừa mang khát vọng lý tưởng, lại vừa ôm ấp những thông điệp của thần linh. Vì thế người tuổi rồng thường chỉ thích nghĩ đến những gì cao siêu vời vợi, coi thường những gì lặt vặt của cuộc đời, sống trượng nghĩa hào hiệp, thích giúp đỡ mọi người. Người mang tuổi rồng là tuổi đại cát, nhiều may mắn hanh thông.

Tết con Rồng đang gần kề. Hy vọng năm mới Nhâm Thìn sẽ có nhiều đổi mới để con người và tổ quốc Việt Nam được nâng lên cao hơn.

Rồng là biểu tượng cho sự phồn thịnh và vương giả. Cầu chúc quý độc giả, một năm mới Nhâm Thìn nhiều sức khỏe, khang an thịnh vượng, phát đạt, thăng tiến như "Rồng gặp mây".


Lm Giuse Nguyễn Hữu An

THIÊN ĐƯỜNG MỚI :Việt Nam là xứ tự do nhứt thế giới

Việt Nam là xứ tự do nhứt thế giới

Một số người sống ở nước ngoài than phiền, thậm chí chỉ trích VN chưa được tự do lắm. Tui nghe như vậy riết, rồi giống như bị nhồi sọ, đâm ra tin thiệt, cảm thấy mình là một người VN bất hạnh. Nhưng mới đây, khi tui đi một chuyến du lịch ở Singapore, một xứ có thể nói là rất tự do, tui mới vỡ lẽ ra nhiều điều. Hóa ra người ta nói VN chưa được tự do lắm chỉ là nói xấu, xuyên tạc, hổng chừng là ganh tị nữa. Tui nói như vầy là nói có sách, mách có chứng đàng hoàng, chớ không phải nói đại, nói bừa.

Đây nè, ở Singapore, sơ ý mà liệng miếng rác xuống đường phố là cảnh sát phạt thắt họng. Hút thuốc cũng phải có chỗ, mà đâu phải chỗ nào cũng cho hút thuốc.

Những chỗ nào có cái gạt tàn thuốc ở ngoài đường to bằng cái thùng rác cao cả thước thì mới được đứng kế bên mà hút. Còn trong những nơi công cộng khác hoặc các siêu thị, tìm đỏ mắt cũng không ra chỗ dành cho người hút thuốc. Ở VN, trái lại, theo như những người bạn ngoại quốc mà tui quen, họ khen VN là tuyệt vời, muốn hút thuốc ở đâu cũng được, kể cả ở những chỗ có để bảng cấm hút thuốc.

Còn rác thì muốn liệng đâu cũng được, chẳng ai bắt bớ, hỏi tội mình gì cả, sướng ơi là sướng. Chưa hết đâu, đàn ông lỡ mắc tiểu quá trong lúc đi đường mà không có nhà vệ sinh công cộng thì cũng không có gì phải lo.

Nếu tính đi tìm nhà vệ sinh công cộng thì chắc tiêu quá vì kiếm hoài hổng ra, mà có kiếm ra được đi nữa thì chưa chắc được xài, vì có khi nó bị hư chưa được sửa chữa hoặc người trông coi bỏ đi đâu mất nên cửa toilet bị khóa lại. Vậy là huề trất. Nhưng không có nhà vệ sinh công cộng thì đã sao đâu, chuyện nhỏ.

Người VN mình vốn tính tình phóng khoáng, không thích bị gò bó trong 4 bức vách của toilet, nên thích đi toilet ở ngoài trời hơn, vừa mát mẻ, vừa khỏi tốn tiền, tạm gọi là đi “tiểu sinh thái” (nhái theo danh từ “du lịch sinh thái”). Chỗ đi tiểu ngoài trời thì thiếu gì, cứ đi đến chỗ bức tường nào có vẽ nguệch ngoạc mấy chữ “cấm không tiểu tiện” thì nhào vô mà tiểu là chắc ăn, vì chắc chắn là đã có nhiều người từng tiểu tiện nơi đây nên mới có mấy chữ như vậy.

Hơn nữa, bà con mình thích nói lái nên đọc mà hiểu ngược lại là “tiện tiểu không cấm”. Cùng lắm không thấy vách tường kiểu đó thì đứng nấp sau mấy xe tải đậu trên ven đường rồi xả ra cho sướng.

Còn khạc nhổ hả, thoải mái vô cùng. Ra đường, muốn khạc nhổ chỗ nào mà chẳng được, đừng khạc vô mình người khác là được. Thậm chí khi đi trên xe buýt, người ta cũng có thể khạc nhổ xuống sàn cũng không sao, đừng khạc trúng chân người khác coi chừng bị “đục” ráng chịu.


Chưa hết, ở những khu phố bình dân hay xóm lao động nghèo, con nít ngồi ỉa ngoài đường là chuyện thường ngày, còn người lớn thì phải chờ đến ban đêm thì mới lén lén ra lề đường hay mép đường phóng uế. Đối với những người sống lang thang đầu đường xó chợ, không nhà không cửa thì đâu còn cách lựa chọn nào khác. Thậm chí ban ngày ban mặt mà rủi mắc quá thì người lớn, kể cả đàn bà, cũng vô tư chổng mông ngồi ỉa bên lề đường, mặc cho người qua đường dòm ngó.

Cho nên, có một số lề đường mà người đi bộ không dám đi qua, một phần vì hôi thúi quá, một phần sợ bị đạp trúng “mìn dẻo” bất tử thì không biết kiếm nước ở đâu mà rửa. Nếu bà con nào có dịp đi ngang đường Nguyễn Trãi, Quận 1 (đường Võ Tánh trước đây) khúc bên hông nhà thờ Huyện Sĩ thì sẽ thấy cái món “mìn thúi” này.


Đó quý vị thấy chưa, tiểu tiện, đại tiện, khạc nhổ “sinh thái” như thế mà có ai bị bắt bớ gì đâu, thật là tự do thoải mái. Về chuyện ồn ào làm phiền hàng xóm, ở nước ngoài, bất cứ vì lý do gì cũng bị thưa cảnh sát đến lập biên bản, xử phạt. Còn ở VN ta, ở nhà mà có đám cưới hay đám ma thì tha hồ mà làm ồn ào cả xóm cũng chẳng ai thưa gởi gì cả. Thậm chí, có đám ma còn tổ chức thật là hoành tráng, thuê đến mấy dàn nhạc, cổ nhạc, tân nhạc, còn có cả mini xiếc và một nhóm lại cái (gays) tới biểu diễn văn nghệ, ca múa rùm trời.

Có lúc cao hứng, đội văn nghệ đám ma này còn chơi nổi, tràn ra ngoài đường nhảy múa theo nhạc, làm cho người đi xe qua lại hiếu kỳ dừng lại xem. Vậy là kẹt xe, nhưng chẳng ai làm gì được ai cả, thật là tự do quá cỡ.


Trong lúc đi đường, đèn xanh đèn đỏ chỉ có giá trị khi có công an giao thông đứng chần vần ở ngả tư, còn không có thì cứ tự nhiên mà đi qua. Ai hơi sức đâu mà đi tuân theo hiệu lệnh của cái đèn giao thông chết tiệt, nhứt là ở VN làm gì có camera theo dõi chụp hình đâu mà sợ.

Có lần tui đi đến một ngả tư đèn xanh đèn đỏ, đèn vừa đỏ là tui dừng xe lại liền. Bỗng có một chiếc xe Honda trờ tới, đang tính chạy qua luôn, bị tui dừng lại phía trước nên người thanh niên lái xe phải lẹ tay lách qua, vừa tiếp tục chạy qua lúc đèn đỏ vừa chửi tui “Đ.M. chạy xe gì kỳ vậy cha nội !”.

Có một lúc khác, khi tui dừng lại ở một ngả tư đèn xanh đèn đỏ không có nhiều xe qua lại lắm, nhiều người cứ tỉnh bơ chạy vượt qua luôn, còn ngoái nhìn tui như tui là người ngoài hành tinh vậy.

Có lẽ họ nghĩ rằng tui là Hai Lúa mới ở dưới tỉnh nhỏ lên Sài Gòn, hoặc họ nghĩ là tui khờ khạo, chưa biết tận dụng cái tự do của mình trong những hoàn cảnh như vậy. Còn khi sắp hàng để làm gì đó, như gởi xe, mua vé..v..v.. cũng đâu nhứt thiết phải ai tới trước thì đứng trước.

Đâu có ai treo bảng quy định người tới trước thì đứng trước, tới sau thì đứng sau. Cho nên, ai đến sau mà thiếu kiên nhẫn và mặt dầy một chút thì cứ sấn tới, rình rình xen lên phía trước. Nếu có ai đứng trong hàng cự nự phản đối thì trở xuống, ăn gian không được thì bỏ. Còn không ai nói gì thì tỉnh bơ đứng luôn, như không có gì bậy bạ cả, miễn là giả lơ, tránh nhìn lại người mà mình vừa xen vô phía trước để khỏi trông thấy “đôi mắt hình viên đạn” đang nhìn mình.


Khi tấp vào lề đường đậu xe lại, dù là xe mô tô hay ô tô, quý vị cần lưu ý là chỗ lề đường đó có ở phía trước chỗ buôn bán của người ta không, nếu không muốn gặp phiền phức. Lề đường là chốn công cộng, nhưng người buôn bán tự cho họ có quyền không cho ai đậu, ngoại trừ khách hàng của họ. Hễ ai không phải là khách hàng mà đậu lại là họ tìm cách đuổi, vì sợ khách hàng của họ không có chỗ đậu, hoặc mình đậu xe làm cản trở tầm nhìn của khách qua lại không nhìn thấy cửa hàng.

Người bán hàng lịch sự thì nhỏ nhẹ mời mình đi chỗ khác, nhưng người lịch sự thì hiếm lắm, vì “Thạch Sanh thì ít mà Lý Thông thì nhiều”. Đa số họ thường muốn đuổi mình như đuổi tà. Còn nếu mình lấy lý ra mà cãi lại không đi thì họ chửi xiên chửi xéo thậm tệ, đôi lúc còn “đốt phông lông” trước mặt mình như để xua đi sự xui xẻo mà nguyên nhân là mình gây ra. Thiệt ra ai cũng có quyền tự do của mình cả.

Người bán hàng thì tự cho mình có quyền chọn người cho đậu trên khu vực đó, còn khách đi đường cũng có quyền cãi lại, không bỏ đi chỗ khác đậu vì đó là nơi công cộng. Nhưng nếu mình là khách qua đường, liệu có nhiều thời gian và mặt dầy để đôi co ì xèo với họ ngoài đường phố hay không. Tâm lý chung thì chẳng ai muốn dây dưa hay đôi co với mấy thành phần “Lý Thông” như vậy, nên đành phải làm Thạch Sanh lẳng lặng mà đi chỗ khác cho khỏi phiền phức.


Ớ xứ người, nhứt là ở những xứ văn minh, luật là luật, không có cái kiểu gọi là rình rình “lách luật” hay du di như ở VN. Ra đường, rủi vi phạm luật giao thông, cứ thoải mái thương lượng giá phạt với cảnh sát giao thông, dĩ nhiên là không cần làm biên bản phạt vạ gì cả, đôi bên đều có lợi. Người vi phạm sẽ mất ít tiền hơn theo quy định về khoản phạt và khỏi mất công đi nộp tiền phạt ở kho bạc Nhà nước.

Còn cảnh sát giao thông thì khỏi mất công viết biên bản phạt mà còn có tiền bỏ túi riêng nữa, nhứt cử lưỡng tiện. Trong làm ăn kinh doanh cũng vậy, ai mà làm đúng quy định, khai báo đúng doanh thu và nộp thuế đầy đủ thì có mà ăn mày. Quy định Nhà nước thì phải gắt gao, kiểm soát thật chặt chẽ, nhưng phải “vô lý” một chút thì mấy cán bộ phòng thuế mới có đất sống, chứ lương công chức rẻ như bèo thì làm sao sống nổi.

Cho nên, việc người làm ăn thỏa hiệp với cán bộ thuế để trốn thuế là chuyện bình thường, đôi bên cùng có lợi. Chỉ có Nhà nước là bất lợi, nhưng Nhà nước là cái gì quá trừu tượng, còn cơm áo gạo tiền mới là chuyện thực sự sống còn. Vì vậy mà các đại gia VN trong thương mại hiện nay đều là những tay trốn thuế cỡ bự, nhưng trốn thuế có bảo lãnh ngầm vì có ăn chia sòng phẳng với các cán bộ thuế cấp cao.

Cho nên, có người ở nước ngoài nói là làm ăn ở VN khó quá, là tại họ chưa hiểu hết cái tự do thoải mái này. Ai biểu nhà kinh doanh phải làm đúng luật? Luật lệ thì thay đổi như mưa nắng, ai mà theo cho nổi, nhưng bản chất con người thì đâu dễ gì thay đổi theo mưa nắng. Vậy thì cái tự do làm ăn là biết lợi dụng ở chỗ thói quen (hay tánh tham) của con người chứ ai đi bám theo luật pháp hay quy định làm chi cho khổ thân. Nếu biết lợi dụng ở chỗ này thì muốn làm ăn thứ gì ở VN cũng được cả, còn ở nước ngoài thì bó tay bởi luật lệ, đâu có gì là tự do nữa.


Những tự do mà tui kể ở trên là loại tự do của người dân, chẳng cần có hiến pháp hay một văn kiện pháp luật nào quy định. Đó là loại tự do bất thành văn, Singapore hay Mỹ làm gì có.

Thế nhưng, dân có cái tự do của dân, còn quan chức Nhà nước cũng có cái tự do của quan chức. Hiến pháp thực ra chỉ là cái khung pháp lý, còn thực hiện thì cần có nhiều văn kiện pháp lý khác nữa, nói chung là luật, thì mới có căn cứ để khai triển. Thế nhưng, cẩn thận hơn nữa, Nhà nước còn ra các văn bản dưới luật như các Thông tư hướng dẫn để các cấp chính quyền địa phương ở tỉnh thành, quận huyện biết rõ mà thực hiện.

Nhưng không biết có biết rõ thật không, một số chính quyền địa phương đã tìm cách lách hay gọi là “vận dụng” để làm theo cách của mình, đôi lúc trở thành “luật rừng” để làm lợi cho địa phương mình, hay có thể hiểu ngầm là làm lợi cho riêng bản thân mình thì đúng hơn. Tại như vậy mà cơ quan thanh tra mới có việc làm và có đất sống.

Trừ những vụ việc bê bối hay scandals quá nổi cộm và báo chí đã lên tiếng nên đoàn thanh tra phải làm cho đúng bài bản, còn những vụ khác hầu như thanh tra chỉ tìm cách moi móc sai sót của các quan chức để chia chác quyền lợi mà thôi. Ngu sao mà đi thanh tra, moi móc để mang tiếng oán mà mình chẳng được lợi ích gì. Cứ giơ cao, đánh khẽ hoặc xù luôn các sai phạm quy định mà có bao thơ đầy tiền thì có phải là hay hơn không.

Vì vậy mà thỉnh thỏang, một số địa phương có ngân sách bị hao hụt hay thiếu hụt sao đó thì mạnh dạn tự động “đẻ” ra vài khoản thu nào đó rồi bắt dân đóng. Chỉ khi nào dân chúng than trời quá, báo chí lên tiếng thì việc làm trời ơi đó mới chịu ngưng.

Dĩ nhiên, sẽ có thanh tra đến địa phương đó tìm hiểu sự việc, nhưng không phải vụ bê bối nào cũng được xử lý đúng luật và được công bố cho dân biết mà đôi khi bị “chìm xuồng” đâu mất. Thậm chí, nếu vụ bê bối được công bố thì cũng tránh né rất tài tình, rồi thì cuối cùng cái bài bản cũ được lập đi lập lại là sẽ “rút kinh nghiệm”, chấm hết.

Trên các quốc lộ cũng vậy, một số địa phương, nhứt là khu vực phía Bắc, lâu lâu lại bày ra những trạm kiểm soát giao thông “từ trên trời rơi xuống”, chặn xe tải lại “làm luật”, nghĩa là bắt địa công khai các lái xe.

Việc chặn bắt xe trái phép như vậy kéo dài có khi vài năm, nhưng khi bị báo chí phanh phui, hỏi tới các quan chức có thẩm quyền tại địa phương, thì họ giả nai như chẳng biết gì cả, tài thiệt. Như vậy, luật thì cứ là luật trên giấy tờ, lệ thì là lệ của quan chức, tự do là như thế đó. Mà cái tự do này nảy sinh là đúng theo những gì tiền nhân đã phán: “bần cùng tất biến”.

Tui không nói là “bần cùng sanh đạo tặc “ đâu nha, mặc dù bản chất của nó cũng tương tự như thế. Chứ bà con nghĩ coi, lương công chức VN thì sống sao nổi, hổng “tất biến” thì chắc là “tất tử”. Nhưng mấy chục năm nay, có cán bộ Nhà nước nào bị chết đói đâu, trái lại nữa là khác. Tại VN, ngoài các đại gia tư nhân về kinh doanh nổi bật, còn rất nhiều đại gia chìm là cán bộ Nhà nước. Lâu lâu, khi có chuyện gì bê bối đổ bể trước công luận thì người dân mới té ngửa là những người “đầy tớ dân” khả kính ấy quả là đại gia, giàu ơi là giàu.

Bởi vậy, gần đây có nổi lên nhiều vụ trộm cắp xảy ra tại nhà các cán bộ Nhà nước cao cấp. Điều mỉa mai là những nhà của “đại gia” bị trộm viếng đều là nhà của các “hung thần” đối với bọn tội phạm, như trung tá, đại tá công an chẳng hạn. Tụi ăn trộm này thật là cao cơ.

Thứ nhứt, tụi nó biết chắc là mấy cán bộ cao cấp này thế nào cũng là đại gia có của chìm, chớ mấy chả ngu sao bỏ tiền vào ngân hàng thì lộ chân tướng là đại gia trong khi đồng lương không đủ sống. Thứ hai, mấy cha này chảnh lắm, tưởng bở mình là “ông kẹ”, thằng ăn trộm nào mà dám dẫn xác vào hang cọp.

Chính vì vậy mà mấy chả ỷ y, không đề phòng nên tụi ăn trộm mới dễ bề hành động. Hơn nữa, mấy cha cán bộ cao cấp này mà có bị trộm thì đâu phải cha nào cũng dám khai báo hết sự thật về tài sản bị mất của mình, sợ người ta biết mình là đại gia thì ăn nói sao với đồng nghiệp, với đảng ủy.

Kẹt quá không dấu được thì cùng lắm mấy chả khai mất ít đi để không ai để ý. Vì vậy, thằng ăn trộm có bị bắt và buộc phải trả lại tài sản ăn trộm thì nó cũng đâu có ngu gì mà khai thật số tài sản trộm được, phần chênh lệch dôi ra thì dấu kỹ, sau này ra tù có mà xài. Mấy thằng ăn trộm này tính toán tài thiệt.


Dó, quý vị thấy chưa, dân có cái tự do của dân, còn quan có cái tự do của quan, ai cũng được tự do cả, luật hay quy định Nhà nước cũng chẳng gò bó hay làm gì được để hạn chế. Mà trên đây là tui chỉ nói những sự việc về tự do mà ai cũng biết, đôi lúc có báo chí VN đăng tin hẳn hoi, chứ không phải tui bịa ra để lên mặt hay lấy làm hãnh diện là người VN đâu. Còn nhiều cái tự do “bất thành văn” hơn nữa mà tui biết nhưng nhiều người sẽ khó tin nên không tiện kể ra.


Có một điều tui nói ra nhưng không biết quý vị có tin tui không. Số là sau khi đi du lịch Singapore về tới VN, khi nhìn thấy trên mặt đất ngoài đường chỗ nào cũng có rác, chỗ nhiều chỗ ít, sao tui cảm thấy có một cái gì đó thật là thân thương dễ chịu. Như vậy mới là VN chứ. Ngày nào đó, khi nhìn thấy trên đường phố Sài Gòn sạch trơn, không còn thấy bóng dáng của rác rưởi nữa, có lẽ tui sẽ chép miệng than rằng : Ôi tự do, ngày xưa nay còn đâu…
 
Trường Khùng

-----
Việt Nam Xe Rác
Việt Nam tôi một xe rác lớn
Ngửi mùi hôi đã ớn tới xương
Ven đô, phố xá, con  đường
Rác tràn lan khắp, chuyện thường tình thôi!


Có ngứa cổ tha hồ khạc nhổ
Trong quán ăn, xe buýt, công viên
Dòm  tường đờm rãi đừng  phiền
Giấy lau, xương xẩu…ưu tiên sàn nhà…


Phòng vệ sinh rất là quý hiếm
Đỏ mắt nhìn chẳng kiếm đâu ra
Thằng cu ngồi đũn xả ga
Mấy bà bí quá…  chẳng tha vệ đường


Mông trắng hếu, áo quần sang trọng
Ăn lắm vào cần  phải tống  ra
Xưa nay chưa có nhà pha
Nhốt người đũn  bậy, đái …cha lề đường


Như  đàn ông mới là tiện lợi
Cạnh bờ tường, xe tải, nhà kho
Cái bầu tâm sự chực rò
Trẻ già đều thế, lo bò trắng răng…


Có khu phố mùi khai điếc mũi
Cạnh nhà thờ Huyện Sĩ Sè ghềnh
Người  phóng bậy, đái lền khên
Than ôi nước Việt có  nền văn minh…


Thỉnh thoảng đêm, một xe rác lớn
Đem đổ bừa đổ bậy đầu đường
Rác trôi xuống các đường mương
Chuột chui làm tổ, chó thường bới ăn…


Những nhà máy luôn luôn ầm ĩ
Suốt đêm ngày chẳng có lúc ngưng
Dân cư buôn gánh bán bưng
Ban ngày vất vả,  ban đêm nghe ồn


Ruồi, nhặng, muỗi hằng hà sa số
Kiếm đồ ăn, kiếm máu người xơi
Nước thì quá hiếm nước ơi!
Giếng khoan nhiều cái cũng hôi tanh rình


Ống gang dẫn nước đà quá cũ
Phải thay ngay để có nước ngon
Người dân đợi đã mỏi mòn
Nhưng Nhà nước vẫn chưa xong giấy tờ!
 

Cần xây trăm cầu tiêu công cộng
Trường tiểu học phải có cầu tiêu
Người dân cuộc sống liêu xiêu
Mà  chuyện tè đũn vẫn nhiều khổ đau!

Chớ khoe xã hội tiến mau!!!
 Xuân Vũ Trần Đình Ngọc
----
Sài Gòn: 1 Việt Kiều Mỹ Vào Khách Sạn Chết Bí Ẩn
Theo báo Người Lao Động, ngày 10/1 vưà qua, tại Sài Gòn, có một Việt kiều Mỹ thuê khách sạn để ở và được phát giác chết trên giường.
Báo NLĐ cho biết, ngày 11/1, cơ quan cảnh sát điều tra TPTPSG vẫn đang phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành điều tra nguyên nhân gây ra cái chết của ông Trịnh Lục Đức (SN 1960, Việt kiều Mỹ) tại phòng 202, khách sạn Thanh Bình ở số 169 Võ Văn Tần, phường 5, quận 3 - TPTPSG. Theo tường trình của nhân viên khách sạn, khoảng 9 giờ 40 phút ngày 10-1, sau nhiều lần gọi cửa không thấy ông Đức trả lời, nghi có chuyện chẳng lành nên nhân viên mở cửa và phát hiện ông Đức đã chết.
Tại hiện trường, ông Đức nằm chết trên giường, ở trần và mặc quần đùi, trên người không có thương tích.
Cũng theo báo NLĐ, ông Đức nhập cảnh vào Việt Nam vào ngày 28-11-2011, tạm trú tại khách sạn Thanh Bình từ ngày 6-1-2012. Theo nhận định ban đầu, có khả năng ông Đức tử vong do bệnh lý. Hiện các cơ quan chức năng đang làm các thủ tục giải phẫu tử thi nạn nhân để xác định nguyên nhân gây ra cái chết.

Bài Xem Nhiều