We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 20 January 2012

Xuân Về Trên Xứ Việt : Khách chết ngạt trong xe nhồi, bị vứt xác xuống đường


TỘI ÁC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Lúc 16h20 hôm nay 20/1, trên Quốc lộ 1A đoạn qua Cầu Khuất (xã Thanh Hải, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam), xe khách Chiến Thắng mang biển số 18N-1269 có hành khách tên Bùi Văn Hà, sinh năm 1966 trú tại Xóm 8, xã Nam Điền, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định và con trai.
TIN LIÊN QUAN

Ông Hà cho biết xe khách nhồi nhét khách quá đông, tới khoảng 60 người trên xe (ông Hà cho biết xe này là xe 24 chỗ - PV) nên con trai ông là Bùi Văn Huấn (SN 1993) khó thở và dần lịm đi. 

Nạn nhân bị nhà xe vứt xuống đường
Không còn kẽ hở nào để di chuyển trong xe nên phải mất tới 20 phút loay hoay mà ông Hà vẫn không thể nào đưa con ra tới cửa xe để kiếm chút... không khí.
Lúc Huấn tắt thở, phụ xe, lái xe này vội tìm cách tuồn xác em qua cửa sổ rồi đuổi ông Hà xuống đường.
Lái xe và phụ xe Chiến Thắng bỏ lại hai bố con ông Hà và tiếp tục cuộc hành trình. Hành động vô trách nhiệm của tài xế và phụ lái nhà xe Chiến Thắng khiến bà con địa phương vô cùng phẫn nộ. 
Người cha vật vã bên xác con
Trời Hà Nam lúc đó mưa, gió lạnh nhưng xác em Bùi Văn Huấn vẫn chưa được đưa về quê vì chưa có tiền thuê xe. Ông Hà móc túi trong túi ngoài cũng chưa có đầy 100 nghìn đồng.
Hiện người dân đã báo công an địa phương và góp tiền cho ông Hà thuê xe đưa xác con về quê.

 http://bee.net.vn/channel/1987/201201/Khach-chet-ngat-trong-xe-nhoi-bi-vut-xac-xuong-duong-1822939/

THƯ SỐ 2: GỞI CÁC CHIẾN SỸ QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM




http://aphs.worldnomads.com/safetyhub/28976/VietnamArmy.jpg
Kính thưa quý vị,

Đại tá Phạm Bá Hoa Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận/VNCH
1. XÁC ĐỊNH VỊ TRÍ.
Xin lặp lại đoạn này trong thư gởi Các Anh hồi tháng 11/2011 để Các Anh nào chưa đọc thư đó cũng nhận ra vị trí người viết với vị trí người nhận, từ đó tiếp nhận nội dung dễ dàng hơn.

“Tôi là một trong hằng triệu Người Lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, chống lại cuộc chiến tranh do nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa gây ra. Trong bang giao quốc tế, quốc gia này đánh chiếm quốc gia kia, không có tên gọi nào khác ngoài hai chữ “xâm lăng”. Ngày cuối tháng 4/1975, bối cảnh chính trị đưa chúng tôi vào tình thế thua trận, chúng tôi bị lãnh đạo cộng sản Việt Nam đày đọa trong hằng trăm trại tập trung trong số hơn 200 trại mà cộng sản gọi là trại cải tạo. Người 5 năm, 10 năm, thậm chí 17 năm ròng rả, riêng tôi là 12 năm 3 tháng. Giờ đây, Quân Lực mà tôi phục vụ không còn nữa, nhưng linh hồn của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn nguyên vẹn trong tôi. Tôi là Người Lính thua trận, nhưng tôi rất hãnh diện vì được phục vụ tổ quốc và dân tộc với tư cách một công dân trong thời chiến tranh bảo vệ dân chủ tự do, dù chưa tròn nhiệm vụ. Giờ đây tôi đang sống xa quê hương đến nửa vòng trái đất, tôi chưa bao giờ và sẽ không bao giờ về Việt Nam, cho đến khi nào quê hương cội nguồn của tôi có một chế độ tự do và nhân quyền trong một xã hội dân chủ pháp trị đúng nghĩa”.

“Các Anh là Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam hôm nay. Chữ “Người Lính” viết hoa mà tôi sử dụng ở đây, bao gồm từ người lính đến các cấp chỉ huy, ngoại trừ lãnh đạo cấp Sư Đoàn, Quân Đoàn, Quân Chủng, Bộ Tổng Tham Mưu, và Bộ Quốc Phòng. Là Người Lính trong Quân Đội Nhân Dân, Các Anh phải có trách nhiệm bảo vệ Tổ Quốc Nhân Dân, vì Tổ Quốc Nhân Dân là trường tồn, trong khi đảng cộng sản chỉ là một giai đoạn của lịch sử, và nội dung tôi gởi đến Các Anh được đặt trên căn bản đó”.

Xin được gọi “Người Lính Quân Đội Nhân Dân” ngắn gọn là “Các Anh” để tiện trình bày.


Tôi trích một đoạn trong bài viết “Quá Khứ & Hận Thù” để Các Anh nhận ra quan điểm của tôi khi viết thư này gởi Các Bạn: “Trong paltalk tối 30/04/2010 trên Diễn Đàn Chính Nghĩa Việt Nam Cộng Hòa tại hải ngoại với trong nước, tôi đóng góp đề tài “Việt Nam, sau 35 năm xã hội chủ nghĩa”. Ngay sau 45 phút trình bày, một người xưng là “Em gái Mỹ Tho” nêu câu hỏi: “Với một quá khứ như vậy, ông có hận thù cộng sản không?” Tôi đáp: “Tôi không hận thù cộng sản, nhưng tôi không bao giờ quên quá khứ của cộng sản, vì lòng hận thù thường xuyên trói buộc sự suy nghĩ của mình, làm cho mình chỉ quanh quẩn với những ý nghĩ tìm cách trả thù. Và khi không thoát ra được sự trói buộc đó nên không thể có được suy nghĩ gì để đóng góp cho cuộc đấu tranh thực hiện một xã hội công bằng, dân chủ, tự do, cho đồng bào trên quê hương. Do cai trị bằng chính sách độc tài nên lãnh đạo CSVN luôn sợ hãi mọi người đứng lên lật đổ, nên họ sử dụng “Công An Nhân Dân” tạo cho người dân thường xuyên sống trong sợ hãi để bản thân lãnh đạo của Các Anh bớt sợ hãi. Với những ai vượt lên sự sợ hãi để giành lại quyền làm người cho đồng bào, tức khắc sẽ bị hằng trăm cánh tay cầm gậy gộc, cầm roi điện, cầm súng đàn áp nhân dân, bắt nhân dân bỏ tù, và trong nhiều trường hợp đã giết chết nhân dân mà không hề vi phạm cái gọi là pháp chế xã hội chủ nghĩa, cho dù Công An cũng như Quân Đội Các Anh đều có hai chữ Nhân Dân kèm theo tên gọi, có nghĩa là Quân Đội và Công An là của Nhân Dân, phải bảo vệ Nhân Dân.


2. CÁC ANH HÃY NHÌN LẠI.


Trong thư gởi Các Anh hồi tháng 11 năm 2011, tôi mời Các Anh nhìn lại lịch sử Việt Nam 1.000 năm bị Trung Hoa phong kiến cai trị, và lịch sử đương đại qua các góc nhìn: Biên giới, Vịnh Hạ Long, trên Biển Đông, và trong nội địa Việt Nam, dưới quyền lãnh đạo của đảng cộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Trong thư này, mời Các Anh nhìn lại những sự kiện xoay quanh nhóm chữ “quá khứ - hận thù - hòa giải - hòa hợp” mà lãnh đạo đảng với lãnh đạo nhà nước Các Anh thường sử dụng để kêu gọi Cộng Đồng tị nạn cộng sản tại hải ngoại hãy quên quá khứ để về giúp đất nước, đồng nghĩa với giúp lãnh đạo đảng với nhà nước tăng thêm khối tài sản riêng tư.

Chắc Các Anh còn nhớ ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ Tướng đảng cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) sang đất nước mà lãnh đạo của Các Anh gọi là “đế quốc Mỹ đang giẫy chết tại dinh lũy cuối cùng của chủ nghĩa tư bản” hồi tháng 6/2008 chớ. Tôi gọi “Thủ Tướng đảng cộng sản” vì Bộ Chính Trị cử ông Dũng chớ có phải vị lãnh đạo do dân bầu ông ấy vào chức Thủ Tướng đâu mà gọi là Thủ Tướng Việt Nam. Đây là tôi nói theo cách nói của tiến sĩ Lê Đăng Doanh của Các Anh chớ không phải tự tôi tưởng tượng đâu. Nhưng cũng có thể Các Anh phản bác lại rằng: “Anh nói bậy, Thủ Tướng Việt Nam là do Quốc Hội bầu ra”. Đúng là Quốc Hội bầu ông ta, nhưng toàn thể đại biểu trong Quốc Hội là do đảng cộng sản chọn trước rồi mới đưa danh sách cho dân bầu. Chẳng lẽ Các Anh lại quên bài học “Nhân Dân làm chủ, Nhà Nước quản lý, Đảng lãnh đạo” rồi sao. Vì đảng lãnh đạo toàn diện, cho nên toàn bộ hệ thống tổ chức nhà nước gồm cả các ngành các cấp và suốt chiều dọc hệ thống giáo dục đều có tổ chức đảng bên cạnh, và quyết định của tổ chức đảng là quyết định chánh thức của các cơ quan mà. Vậy là từ Quốc Hội, Nhà Nước, Tư Pháp, đều trực tiếp dưới quyền lãnh đạo của đảng, người dân phải bực mình (dường như Các Anh gọi là bức xúc thì phải) khi bị bắt buộc phải đi bầu, vì mất thì giờ vô ích.

Thêm nữa, tôi tin rằng, vào khoảng khắc nào đó khi mà Các Anh được sống với con người thật của mình, không biết Các Anh có tự hỏi: “Tại sao lãnh đạo đảng với nhà nước anh hùng Các Anh, hết người này đến người khác, cứ đến cái đất nước đang giẫy chết này hoài vậy?” Tôi tạm trả lời Các Anh nghe: “Tại vì, tên đế quốc này nó giẫy hoài chẵng những nó không chết mà nó vẫn cứ mạnh lên về mọi lãnh vực, cho nên lãnh đạo Các Anh phải quy lụy để cứu đảng CSVN mà trong đó có Quân Đội Nhân Dân Các Anh đang bên bờ vực thẳm. Nếu không như vậy thì cái đảng cộng sản và quân đội Các Anh bị phá sản từ đầu những năm 90 giống như Liên Sô, thành trì vững chắc của cộng sản mà lãnh đạo Các Anh tôn sùng đã tan rã vậy”. Tôi nói thêm cho rõ, câu “đế quốc Mỹ đang giẫy chết .... không phải do tôi đặt ra đâu, mà là bài học số 1 trong trại tập trung Long Giao hồi tháng 8/1976 do Thượng Tá Công An tên Bình từ Bộ Công An ở Hà Nội vào bắt chúng tôi phải học đó.
Không biết lãnh đạo đảng với nhà nước của Các Anh có cảm nhận nỗi nhục khi nhìn thấy Tượng Đài Nạn Nhân Cộng Sản Thế Giới tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn không nhỉ? Tượng đài này khánh thành ngày 12/6/2007 do Tổng Thống “đất nước đang giẫy chết” chủ tọa đó. Tượng đài này là biểu tượng thảm họa kinh hoàng trong thế kỷ 20 của nhân loại nói chung, và 25 quốc gia bị cộng sản cai trị nói riêng. Từ nay, oan hồn của hơn 100 triệu nạn nhân cộng sản -gồm cả nạn nhân Việt Nam thân yêu của chúng tôi đã bị quân đội Các Anh giết chết- được những thế hệ hôm qua, hôm nay, và những thế hệ mai sau tưởng nhớ. Tưởng nhớ để tận diệt chế độ cộng sản đến tận cùng gốc rễ, vì chế độ cộng sản là phi nhân tàn bạo. Hai nhóm chữ tô đậm này là lời lên án mạnh mẽ trong bài phát biểu của Tổng Thống Hoa Kỳ, dĩ nhiên là lời lên án này có đảng CSVN của Các Anh nữa đó.
Trở lại Thủ Tướng CSVN đến Houston ngày 26/6/2008. Từ sáng sớm, chúng tôi đông đảo đến mức như một rừng người với một rừng cờ vàng ba sọc đỏ cùng với cờ Hoa Kỳ dọc theo đại lộ Westheimer trước cửa khách sạn “The Westin Oaks”, nơi ông ta hội họp để xin Hoa Kỳ đầu tư vào Việt Nam. Những máy thu hình của các đài phát hình Việt Nam lẫn đài phát hình Hoa Kỳ cùng máy thu thanh của phóng viên các đài Hoa Kỳ phát thanh chương trình Việt ngữ, thu thanh tiếng Anh lẫn tiếng Việt rõ ràng từng câu: “Tự Do Cho Việt Nam - Nhân Quyền Cho Việt Nam - Cộng Đồng Tị Nạn Cộng Sản Không Cần Tòa Lãnh Sự Cộng Sản”, … . Không một câu nào đòi bất cứ điều gi cho Cộng Đồng tị nạn cộng sản tại hải ngoại cả.

Trong buổi họp tối tại khách sạn Hilton, ngoài phái đoàn của Thủ Tướng CSVN cả trăm người, số người mà ông Thủ Tướng gọi là kiều bào doanh gia khoảng “30 khúc ruột ly hương ngàn dặm bị ung thư” lẻn vào tham dự. Với chiếc bàn hình vuông, ông Thủ Tướng và ông Phạm Gia Khiêm ngồi giữa, Thủ Tướng CSVN cất lời kêu gọi: “Bà con hãy hướng về quê hương bằng mọi đường mọi nẻo, chúng ta hãy gác lại quá khứ để cùng nhau chung sức xây dựng đất nước. Làm được cái gì thì làm dù là việc nhỏ, ngay cả một tiếng nói ủng hộ cũng là đóng góp. Đừng mặc cảm quá khứ nhất là khi đất nước còn nhiều khó khăn. Khi ngồi nói chuyện với Tổng Thống Bush, tôi nghe kiều bào hô đả đảo Thủ Tướng mà thấy buồn. Chưa hẳn họ thù ghét cá nhân Thủ Tướng mà chỉ là mặc cảm với quá khứ …”

Thật ra thì nhóm chữ “hãy quên quá khứ, đừng mặc cảm với quá khứ mà về xây dựng đất nước …” không phải là sản phẩm của ông Dũng đâu, mà là Thủ Tướng CSVN nói theo lời ông Nguyễn Minh Triết đã nói trong bữa tiệc tại khách sạn Saint Regis Resort vùng Nam California ngày 23/6/2007. Nhưng câu đó cũng không phải sản phẩm của ông Chủ Tịch nước, mà ông Triết nói theo ông cựu Thủ Tướng CSVN Võ Văn Kiệt sau khi hết quyền lực, vậy mà ông Kiệt cũng bị chết bất đắc kỳ tử rồi.
Nhớ lại từ giữa những năm 70 đến giữa những năm 80, lãnh đạo Các Anh gọi chúng tôi là “cái bọn phản quốc, bọn ôm chân đế quốc, bọn đỉ điếm, bọn lưu manh cặn bả của xã hội, .....”. Giá mà bác Hồ của Các Anh còn sống đến bây giờ, không biết ông ấy nghĩ gì khi nhìn thấy cái bọn lưu manh cướp giật đỉ điếm Hồ Chí Minh nườm nượp khắp phố phường so với Sài Gòn chúng tôi thời chiến tranh, chắc bác Các Anh mừng lắm vì chính sách trăm năm trồng người của ông ấy thành công rồi! Thế nhưng từ giữa những năm 80 khi lãnh đạo Các Anh nhận thấy Cộng Đồng tị nạn giàu lên và gởi tiền về Việt Nam cùng với tuổi trẻ thành đạt trong nền học vấn văn minh tân tiến ngày càng nhiều thêm, lãnh đạo Các Anh hạ giọng gọi Cộng Đồng chúng tôi là “Việt kiều yêu nước”. Từ giữa những năm 90 về sau, lại hạ giọng lần nữa để gọi Cộng Đồng chúng tôi là “khúc ruột ly hương ngàn dặm”, .... Nhưng Các Anh có biết tại sao lãnh đạo của Các Anh lại hạ giọng như vậy không?” Mời Các Anh đọc một đoạn trong bài viết của ông Nguyễn Phú Bình, Thứ Trưởng Ngoại Giao đảng CSVN, “Chủ Nhiệm Ủy Ban Về Người Việt Nam Ở Nước Ngoài” viết ngày 11/8/2005, đăng trên trang báo điện tử với tựa bài Cộng Đồng Người Việt Nam Ở Nước Ngoài, Khơi Dậy Nguồn Lực Chất Xám Của Việt Kiều. … “Trong số gần 3.000.000 người Việt Nam sinh sống định cư ở nước ngoài, ước tính có khoảng 300.000 người được đào tạo ở trình độ đại học và công nhân kỹ thuật cao, có kiến thức cập nhật về văn hoá, về khoa học, công nghệ, về quản lý kinh tế. Trong đó có nhiều người đạt vị trí quan trọng trong các viện nghiên cứu, trường đại học, bệnh viện, công ty kinh doanh của các nước, và các tổ chức quốc tế. Tiềm lực khoa học và công nghệ của các thế hệ người Việt Nam ở nước ngoài không ngừng phát triển. Trong đó, một thế hệ trí thức mới người nước ngoài gốc Việt đang hình thành và phát triển, nhất là ở các nước Bắc Mỹ, Tây Âu, và Châu Đại Dương. Đội ngũ này tập trung ở nhiều lãnh vực khoa học chuyên ngành và kinh tế như tin học, viễn thông, điện tử, vật liệu mới, chế tạo máy, điều khiễn học, sinh học, quản lý kinh tế, ngân hàng, chứng khoán, ..v..v.. “
Chưa hết, về số tiền mà Cộng Đồng chúng tôi gởi chánh thức về trong nước trong năm 1991 là 35 triệu mỹ kim, gia tăng dần, trong năm 1999 là 1 tỷ 100 triệu mỹ kim, trong năm 2005 là 3 tỷ 800 triệu mỹ kim. Cộng chung các năm từ 1991 đến năm 2005 là 33 tỷ 803 triệu mỹ kim (Nếu tính đến năm 2010, con số đó lên đến 53 tỷ 0 trăm 34 triệu mỹ kim).
Chắc Các Anh dễ dàng nhận thấy sức mạnh về trí thức và tài chánh của Cộng Đồng tị nạn cộng sản tại hải ngoại rồi chớ? Do vậy mà lãnh đạo Các Anh luôn miệng kêu gào Cộng Đồng chúng tôi “hãy quên quá khứ để mang tiền mang vàng, tài năng, và hãy hòa giải hòa hợp để xây dựng đất nước”. Có thiệt không đây? Vì Việt Nam xã hội chủ nghĩa càng có nhiều dự án thì lãnh đạo các cấp của các Anh -chớ không phải Các Anh- càng có thêm nhiều mỹ kim, và sau khi rửa sạch đem gởi ngân hàng ở ngoại quốc để khi tháo chạy có mà thụ hưởng. Chúng tôi đâu có điên mà giúp lãnh đạo Các Anh nuôi dưỡng cái chế độ cộng sản độc tài tham nhũng để gây thêm đau khổ cho đồng bào trên quê hương Việt Nam.

Vậy mà, đến nay đã 36 năm sau khi nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa của Các Anh xâm lăng đánh chiếm nước Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi, lãnh đạo Các Anh cứ theo dụ dỗ Cộng Đồng tị nạn cộng sản quên quá khứ kinh hoàng của mình để về làm việc cho họ? Tôi nói “làm việc cho họ”, vì lãnh đạo CSVN có phục vụ đất nước dân tộc đâu mà gọi là phục vụ quê hương đồng bào. Bằng chứng: (1) Nếu phục vụ đất nước thì lãnh đạo Các Anh: Đâu có bán cho Trung Cộng 789 cây số vuông trên bộ và 11.362 cây số vuông trên biển: Đâu có đồng tình để Trung Cộng sáp nhập hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào quận Tam Sa của Tàu. Đâu có bán đất cho ngoại quốc dưới danh nghĩa kinh doanh! (2) Nếu phục vụ dân tộc thì lãnh đạo Các Anh: Đâu nỡ bán hằng chục ngàn thanh thiếu nữ ra các nước lân bang làm điếm. Đâu có đẩy hằng mấy trăm ngàn thanh thiếu nữ Việt Nam ra ngoại quốc làm vợ thiên hạ ngang qua các dịch vụ quốc doanh trá hình. Đâu có bắt vào nhà tù hằng trăm công dân dũng cảm đứng lên giành lại quyền làm người mà Hiến Pháp CSVN qui định. (3) Nếu phục vụ dân tộc thì lãnh đạo Các Anh: Đâu nở đàn áp bắt giữ thanh niên sinh viên học sinh biểu tình chống đối Trung Cộng lấn chiếm đất đai biển cả, bắn giết ngư dân. Đâu có hành hạ dối gạt hằng chục ngàn thậm chí là hằng trăm ngàn đồng bào kêu oan khiếu nại thưa kiện vì đất đai tài sản bị các loại cường hào ác bá CSVN tại các địa phương trấn lột cướp đoạt dưới những tên gọi khác nhau. (4) Và nếu phục vụ người dân tại sao tổng sản phẩm quốc gia (GDP) Việt Nam có gia tăng mà người dân ngày càng nghèo khổ như chưa thời nào nghèo khổ đến như vậy! Trong khi đại đa số người dân càng nghèo thì tất cả đảng viên hàng lãnh đạo các cấp từ trung ương xuống đến hạ tầng cơ sở ngày càng giàu thêm, giàu đến mức phung phí trong các cuộc cá độ đá banh lên đến hằng triệu mỹ kim, giàu đến mức mua xe với giá bạc triệu đô la, còn mua cả phi cơ riêng nữa chớ. Một phần của nguồn gốc khối tư bản đỏ đều gắn liền giữa kinh tế quốc doanh với các cấp lãnh đạo của Các Anh qua những chằng chịt khác nhau.


Nói đến quá khứ, bản thân tôi rất muốn quá khứ trôi vào quên lãng giúp não bộ thêm phần thư giản, nhưng không thể nào quên được! Vì cái quá khứ mà lãnh đạo Các Anh gây ra trên dãi đất quê hương, trên thể xác lẫn tâm hồn của mọi người dân Việt, nó cay đắng quá, nó tàn bạo quá Các Anh à! Đây là sự thật mà lãnh đạo CSVN không thể nào phủ nhận được. Tôi vẫn hiểu rằng, lịch sử là không thể thay đổi, nhưng có những điều sai trong lịch sử vẫn sửa được trong hiện tại, để có điều kiện hướng đến một tương lai. Nghĩa là lãnh đạo Các Anh phải làm ngược lại những gì mà họ đã làm sai từ những ngày đầu năm 1975 và sau đó, chúng tôi mới có thể quên được quá khứ. Việc sai thì không sao kể hết, nhưng tôi tóm vào 7 vấn đề sau đây, mời Các Anh đọc:


Một.
Vào ngày 30/4/1975 và những ngày trước đó, hằng chục ngàn thương phế binh chúng tôi đang trong các Tổng Y Viện và Quân Y Viện, Các Anh đã vô cùng tàn nhẫn khi quẳng Họ ra ngoài đường sau khi chiếm Việt Nam Cộng Hòa, rồi lãnh đạo Các Anh bảo “quên quá khứ” làm sao chúng tôi quên được! Bây giờ lãnh đạo Các Anh có trách nhiệm bồi thường tổn hại vật chất lẫn tinh thần cho Họ kèm thoe lời xin lỗi từ Bộ Chính trị. Đó là hành động sửa sai để cùng quên quá khứ, để tiến đến hòa giải & hoà hợp.

Hai.
Lãnh đạo Các Anh đã cướp đoạt nhà cửa ruộng vườn cùng những tài sản khác của chúng tôi dưới những nhóm chữ khác nhau để che đậy cái bản chất gian trá lọc lừa của đảng CSVN. Tài sản của chúng tôi bị lãnh đạo Các Anh chiếm đoạt, rồi bảo chúng tôi “quên quá khứ để hòa giải hòa hợp”, làm sao chúng tôi quên được! Bây giờ lãnh đạo Các Anh phải hoàn trả tất cả những tài sản ấy lại, đồng thời bồi thường thiệt hại đúng mức trên những tài sản ấy, và kèm theo lời xin lỗi từ Bộ Chính Trị. Đó là hành động sửa sai để cùng quên quá khứ, để tiến đến hòa giải & hòa hợp.

Ba.
Lãnh đạo Các Anh không thông qua một cơ quan luật pháp nào khi bắt giam ít nhất là 222.809 quân nhân viên chức cán bộ Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi, đưa vào hơn 200 trại tập trung trong mục đích vừa tẩy não vừa cho chết dần chết mòn trong các xó rừng mà Các Anh gọi là “trại cải tạo”, và hành hạ tinh thần lẫn thể xác cho đến 17 năm mới thả hằng trăm người cuối cùng, và cho đến nay lãnh đạo Các Anh trong những bài phát biểu trước đám đông vẫn gọi chúng tôi là “ngụy quân ngụy quyền”, rồi bảo chúng tôi “quên quá khứ” làm sao chúng tôi quên được! Bây giờ lãnh đạo Các Anh phải bồi thường thiệt hại vật chất lẫn tinh thần cho ngần ấy tù nhân chính trị chúng tôi, trong ngần ấy thời gian bị giam giữ, kèm theo lời xin lỗi từ Bộ Chính Trị. Đó là hành động sửa sai để cùng quên quá khứ, để tiến đến hòa giải hòa hợp!

Bốn.
Chắc lãnh đạo Các Anh không thể nào quên trong 10 năm đầu kể từ những ngày cuối tháng 4/1975, khi mà những công dân Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi không thể sống nỗi dưới sự kềm kẹp chính trị độc tài, nên phải liều chết tìm đường đến bến bờ tự do với cái giá phải trả thật khủng khiếp! Lúc ấy, lãnh đạo Các Anh sử dụng tất cả những lời lẽ xấu xa nhất để sỉ nhục chúng tôi, rồi bảo chúng tôi “quên quá khứ” làm sao chúng tôi quên được! Bây giờ Bộ Chính Trị của Các Anh phải chánh thức xin lỗi Cộng Đồng Việt Nam Tị Nạn cộng sản tại hải ngoại, để rút lại những lời sỉ nhục đó. Đó là hành động sửa sai để cùng quên quá khứ, để tiến đến hòa giải hòa hợp!

Năm.
Nghĩa trang quân đội Biên Hòa, nơi an nghỉ của hơn 16.000 người Việt Nam đã tròn bổn phận công dân với quốc gia dân tộc. Tưởng được yên bình vĩnh cửu trong lòng đất nơi đây, nhưng với bản chất vô nhân của đảng cộng sản đã “thêm một lần tàn sát thi thể Họ” qua hành động đào xới mồ mả, vừa thỏa lòng thù hận của kẻ chiến thắng do bản chất gian trá vi phạm những điều mà lãnh đạo Các Anh đã ký kết, vừa chiếm đoạt đất đai làm tài sản riêng, rồi bảo chúng tôi “quên quá khứ” làm sao chúng tôi quên được! Bây giờ lãnh đạo Các Anh phải hoàn chỉnh lại phần cấu trúc toàn cảnh như trước khi quân đội Các Anh tàn phá, kể cả tượng Thương Tiếc, kèm theo lời xin lỗi gia đình tử sĩ Việt Nam cộng Hòa từ Bộ Chính Trị của Các Anh. Đó là hành động sửa sai để cùng quên quá khứ, để tiến đến hòa giải hòa hợp!

Sáu.
Lãnh đạo các Anh sau khi chiếm được Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi, đã áp dụng chính sách cai trị độc tài, bịt mắt bịt tai bịt miệng nói chung là tước đoạt tất cả quyền căn bản của mỗi con người mà thế giới thừa nhận, rồi bảo chúng tôi “quên quá khứ” làm sao chúng tôi quên được! Bây giờ lãnh đạo Các Anh phải trả lại những quyền căn bản của con người, những quyền được sống tự do, và những quyền tư hữu cho 89 triệu công dân trên quê hương Việt Nam. Trước mắt, trả tự do cho tất cả những công dân nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã dũng cảm đứng lên đòi lãnh đạo của họ phải bảo vệ đất đai biển cả trước kẻ thù từ trong lịch sử kèm theo lời xin lỗi từ Bộ Chính Trị, và thực hiện đúng đắn những Công Ước Quốc Tế đã ký kết về quyền con người.

Và bảy.
Về vấn đề hòa giải hòa hợp. Tôi nghĩ, nhóm chữ “hòa giải và hòa hợp” phải đặt đúng vị trí của nó, vì có “hòa giải” được với nhau mới có thể “hòa hợp” được với nhau, vì từ hòa giải đến hòa hợp còn một khoảng cách nữa. Nhưng với lãnh đạo Các Anh, dù là lời nói hay lời viết, họ chỉ dùng chữ “hòa hợp“ hoặc “hòa hợp hòa giải”, mà thực chất chỉ là kêu gọi dụ dỗ Cộng Đồng chúng tôi tị nạn cộng sản hòa hợp dưới quyền cai trị của họ, chớ không có hòa giải hiểu theo nghĩa hai bên cùng thỏa thuận.

Nhưng tại sao lãnh đạo của Các Anh không hòa giải với người dân trong nước trước, vì đây là vấn đề hoàn toàn trong tầm tay của họ mà, vì:


(1)Theo tài liệu của Bộ Tài Nguyên & Môi Trường của nước CHXHCNVN phổ biến ngày 08/07/2010, chỉ riêng trong 6 tháng đầu năm 2010, có khoảng 100 đoàn dân oan từ các thành phố: Rạch Giá, Cần Thơ, Long An, Sài Gòn, Đồng Nai, Nam Định, Hà Nam, Hưng Yên, Hà Nội ... đến cơ quan trung ương đưa đơn khiếu nại oan ức vì đất đai nhà cửa bị các địa phương cướp đoạt”.

Theo bản tin AFP ngày 25/11/2011, một báo cáo về tình trạng tham nhũng trong lĩnh vực đất đai tại Việt Nam đã được công bố. Nghiên cứu này, được tiến hành theo yêu cầu của Ngân Hàng Thế Giới, sứ quán Thụy Điển và Đan Mạnh tại Việt Nam. Tài liệu nhận định tệ nạn tham nhũng đã trở nên phổ biến. Theo đại sứ Thụy Điển Staffan Herrstrom: “Có tới 86% số hộ gia đình được hỏi cho biết là họ có cảm giác nạn tham nhũng tồn tại trong lĩnh vực đất đai, 33% số doanh nghiệp nói rằng họ đã phải hối lộ để có được quyền sử dụng đất. Theo luật Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu của nhà nước nhưng người dân hoặc doanh nghiệp có thể mua, trao đổi hoặc bán giấy chứng nhận sử dụng đất. Bản nghiên cứu nhấn mạnh, việc cấp giấy sử dụng đất là một trong những nguồn gốc của tệ nạn tham nhũng”. Đại sứ Thụy Điển nói: “Thủ tục cấp giấy phép sử dụng đất rất nặng nề, cực kỳ quan liêu, tạo ra một môi trường tham nhũng sinh sôi nẩy nở”. Trong khi đó, đại diện sứ quán Đan Mạch nhấn mạnh: “Do tham nhũng, người nghèo càng nghèo hơn và người giàu càng giàu hơn. Nguyên nhân là do việc chuyển giao đất đai của một bộ phận dân chúng ở nông thôn cho các nhà đầu tư và những người gi àu có ở thành thị, với mức giá thấp hơn thị trường. Bản báo cáo nhận định, tình trạng này dẫn đến việc người dân mất tin tưởng vào chính quyền, bởi vì có hiện tượng xung đột lợi ích, nói một cách khác là các quan chức hưởng lợi, nhận hối lộ khi ra các quyết định trưng dụng, thu mua đất đai của dân nghèo, để giao cho các đối tác khác và tham nhũng đã tạo ra một sự bất ổn định xã hội thực sự. Tại Việt Nam, cho đến nay, vẫn có khoảng 70% dân số sống ở nông thôn. Việc trưng dụng đất đai, đền bù thấp đã gây ra nhiều bất bình trong tầng lớp dân nghèo ở nông thôn. Nhiều vụ xung đột, tranh chấp đất đai, thậm chí dẫn đến chết người, đã xẩy ra trong những năm gần đây”.

Vậy, lãnh đạo Các Anh hãy hòa giải bằng cách:

“(a) Hủy bỏ Luật Đất Đai và tất cả các luật liên quan, vì đây là nguồn gốc của những mánh khóe cướp đoạt từ các cấp lãnh đạo, là một trong những nguyên nhân tham nhũng kinh hoàng trong hệ thống đảng với nhà nước.
(b) Trả lại quyền tư hữu cho tất cả những ai từng là chủ hoặc người thừa kế của ruộng đất.
(c) Hoàn trả toàn bộ nhà cửa cũng như cơ sở kinh doanh thương mãi cho đồng bào mà CSVN ngang nhiên tịch thu sau khi chiếm Việt Nam Cộng Hòa, và bồi thường sở hữu chủ về thiệt hại vật chất đã sử dụng suốt thời gian tịch thu trái phép.
(d) Bộ Chính Trị chánh thức xin lỗi đồng bào vì chính sách sai lầm này”.

(2) Với những cuộc mít tinh biểu tình của tuổi trẻ Việt Nam, thể hiện tinh thần trách nhiệm của người dân thức tỉnh trong một xã hội bị CSVN bịt mắt bịt tai bịt miệng, với mục đích bảo vệ chủ quyền đất đai biển cả của Việt Nam từ trong lịch sử xa xưa, được nói lên tiếng nói dân chủ tự do và nhân quyền, nhưng lại bị bắt bỏ tù. Vậy lãnh đạo Các Anh hãy hòa giải với thành phần dũng cảm này bằng cách: “(a) Thực hiện kế hoạch bảo vệ quần đảo Hoàng Sa Trường Sa và các hải đảo trong Vịnh Bắc Việt và trong vùng Biển Đông của Việt Nam. (b) Bảo vệ ngư phủ Việt Nam đánh cá trong phần lãnh hải của mình, Hải Quân Nhân Dân anh hùng hãy tấn công các tàu lạ xâm nhập hải phận Việt Nam bắt ngư phủ và ủi chìm tàu của ngư dân Việt. (c) Hủy bỏ Điều 4 cùng lúc thực thi những điều qui định trong Hiến Pháp liên quan đến dân chủ và các quyền tự do của người dân theo Công Ước quốc tế. (d) Trả tự do vô điều kiện cho tất cả tù chính trị mà tòa án nhận lệnh từ lãnh đạo Các Anh ghép họ vào tội hình sự, và bồi thường thiệt hại về mức thu nhập của họ trong suốt thời gian giam giữ”.


(3) Với hoạt động của các tôn giáo, tại sao phải sử dụng mọi mánh khóe gian trá để cắt ra từng mảng rồi khai sinh ra những tổ chức “tôn giáo quốc doanh trong khi miệng thì nói đoàn kết?” Hóa ra đoàn kết của lãnh đạo Các Anh là chia cắt để trị, giống như thời thực dân Pháp chia Việt Nam thành Nam Kỳ Trung Kỳ Bắc Kỳ để cai trị hơn trăm năm trước. Vậy, lãnh đạo Các Anh hãy hòa giải với tôn giáo bằng cách: “(a) Giải tán các tổ chức tôn giáo quốc doanh. (b) Rút tất cả Công An lồng trong các tổ chức đó cũng như đã tung ra hải ngoại trở về ngành lo bảo vệ an toàn cho dân và dọn dẹp xã hội sạch sẽ. (c) Hoàn trả đất đai tài sản lại cho các tôn giáo và bồi thường thiệt hại vật chất từ khi tịch thu trái phép đến khi hoàn trả, hủy bỏ các văn kiện liên quan đến tôn giáo quốc doanh và tôn giáo ngoài quốc doanh.


3. KẾT LUẬN.


Nếu lãnh đạo của Các Anh hành động được như vậy với 89 triệu đồng bào trong nước, thì Cộng Đồng chúng tôi tị nạn cộng sản tại hải ngoại không có lý do gì mà không hòa giải & hòa hợp với lãnh đạo Các Anh, đồng thời cung ứng tài năng và tài chánh về tham gia xây dựng đất nước.

Về phần Các Anh, tôi mong là Các Anh đừng nhìn những sự kiện trên đây một cách vô cảm nữa. Tôi mong Các Anh tìm lại được chính mình, còn suy nghĩ hay hành động gì là tùy Các Anh.

Để chấm dứt bài này, tôi mượn vài đoạn dưới đây trích trong bài viết “Bao Giờ Mới Có Được Sự Hòa Giải Giữa Người Việt Với Người Việt” của tác giả Trần Mạnh Hảo, trình bày trong cuộc hội thảo nhà văn xã hội chủ nghĩa tại Hà Nội năm 2011:


“ ......Trong hội thảo vừa rồi, tôi là người được phát biểu sau cùng, và với thời gian cũng rất hạn hẹp. Tôi cũng không hiểu tại sao khi tôi phát biểu được khoảng mươi, mười lăm phút thì có ý kiến của Chủ Tịch Đoàn ra dấu hiệu là thời gian không còn nhiều, tôi phải rút ngắn bài phát biểu của tôi đi. Thế nhưng tôi rất quan tâm đến vấn đề hòa hợp giữa người Việt với người Mỹ bởi vì chính cái đợt William Joiner mời tôi qua Mỹ để nghiên cứu về cộng đồng người Việt, tôi đã thấy một thực tế không thể quay lưng lại được. Đó là vấn đề cách đối xử, quan hệ giữa người Việt với người Việt sau chiến tranh thì phải nên như thế nào.... Đến phần cuối cùng tôi có nói như thế này: “Thưa các bạn trẻ, trong hội trường của chúng ta hôm nay, số lượng các bạn trẻ là sinh viên khoa Văn của trường đại học Văn Hóa Hà Nội tới đây rất là đông. Các bạn là tương lai, cho tôi được đối thoại với tương lai. Tất cả những tham luận trước không đề cập đến vai trò của các bạn trong hội thảo này. Tôi muốn nói với các bạn rằng, vấn đề hòa hợp giữa người Việt và người Mỹ thì coi như đã xong, cái kết rất có hậu. Nhưng cái gánh nặng để hòa hợp hòa giải giữa người Việt với người Việt thì hình như đến thế hệ các bạn vẫn phải lo. Mà cái chuyện này nó dài, các bạn sẽ có thời gian để tìm hiểu một cách thấu đáo một cách khách quan, một cách chân thành. Nhưng theo thiển ý của tôi, bằng vào những va chạm và sự hiểu biết của tôi, thì tôi thấy để tiến tới được việc hòa hợp hòa giải giữa người Việt trong nước và người Việt ngoài nước, thậm chí cả người Việt trong nước với nhau, thì có lẽ cũng phải đặt trên những cơ sở, những nguyên tắc nào đó, những định hướng nào đó thì mới trở thành hiện thực được.


Có thể có những góc nhìn khác nhau: Góc nhìn của người ở hải ngoại, của những người trong nước, góc nhìn của những người cầm quyền, góc độ của những người không có quyền, những người bình dân, góc độ của những người trí thức…Nhưng theo thiển ý của tôi, theo sự hiểu biết rất sơ sài và ít ỏi của tôi, thì tôi nghĩ rằng có lẽ có hai nguyên tắc chính để đi tới sự hòa hợp hòa giải. Nguyên tắc thứ nhất mà tôi nghĩ rằng rất quan trọng là phải chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt thì mới có thể có sự hòa hợp hòa giải thực sự. Và nếu không chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt thì không bao giờ đi đến sự hòa hợp hòa giải cả. Đây là vấn đề khoa học, chứ không phải là vấn đề lập trường quan điểm hay tư tưởng. Nguyên tắc thứ hai mà tôi cho rằng cũng rất quan trọng, mà kinh nghiệm này thì chúng ta thấy tình hình thế giới diễn ra như bây giờ, thấy sự hòa hợp hòa giải giữa Đông và Tây Đức, và của chính nước Mỹ sau cuộc nội chiến năm 1860-1865, là chúng ta phải đặc biệt công bằng và minh bạch với quá khứ. Khi chúng ta biết chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt rồi, mà chúng ta không công bằng và không minh bạch với quá khứ, thì chắc chắn là cũng không thể dẫn đến sự hòa giải thực sự bền vững được. Có lẽ đấy là những điều căn bản nhất mà tôi tâm niệm, tôi rất là tha thiết và cũng đã trình bày điều đó trước cuộc hội thảo này.....


Điều cuối cùng mà tôi muốn nói với các bạn trẻ rằng: “Thưa các bạn, tâm hồn con người nặng gấp trăm lần thể xác. Bởi thế chúng ta phải đặc biệt coi trọng đời sống tinh thần của một dân tộc”.


Đúng ra là bài viết chấm dứt ở đây, nhưng tôi vừa nhận được bài viết ngày 1/12/2011 của Thiếu Tướng cộng sản Nguyễn Trọng Vĩnh, “Chưa bao giờ Việt Nam bị hại bởi người láng giềng hữu nghị như từ 1979 đến nay” từ trong nước gởi ra, mời Các Anh ráng thêm khoảng 3 phút nữa là đọc xong.


“Việt Nam không hề khiêu khích và xâm phạm vào đất Trung Quốc. Thế mà năm 1979, Trung Quốc huy động hàng chục sư đoàn “dạy cho Việt Nam một bài học”, giết hại dân và tàn phá bốn tỉnh của Việt Nam; đánh chiếm cao điểm 1509 trong huyện Vị Xuyên - Hà Giang của chúng ta; năm 1988, đánh đắm tàu hải quân, giết hơn 70 chiến sĩ, sĩ quan và chiếm một số bãi đá ngầm trong quần đảo Trường Sa của chúng ta. Trong đàm phán biên giới, họ ép ta làm ta mất một nửa thác Bản Giốc, dân ta cũng không được đặt chân đến Ải Nam quan nữa, tất cả ta mất hàng trăm km2 đất. Họ xóa hiệp định phân định ranh giới vịnh Bắc Bộ giữa hai Chính phủ Pháp - Thanh (do lịch sử để lại) đòi chia lại, ăn hơn của ta một phần hải phận.


“Sau khi nêu ra phương châm 16 chữ và 4 tốt với lãnh đạo ta, họ đã nghiễm nhiên đứng được trên nóc nhà Đông Dương, vị trí chiến lược xung yếu của ta, khai thác Bốc-xít, di hậu họa cho hàng triệu đồng bào ta.

Các công ty của họ thuê rừng 50 năm để trồng cây Bạch Đàn, trước tiên là chặt cây phá rừng, tạo thêm nguyên nhân gây lũ lụt cho ta. Bạch Đàn là cây ăn rất hại đất, hết hạn thuê, họ rút đi để lại cho ta hàng dãy hecta đất trống đồi trọc, vì không cây gì mọc được. Đây là một mưu kế rất thâm hiểm hại ta. Nguy hiểm hơn nữa là các công ty của họ thuê các khoảnh rừng trong đó ôm cả những đồi cao 600-700m tại các huyện Tràng Định, Bảo Lộc của Lạng Sơn và Tiên Yên của Quảng Ninh, có nơi chỉ cách biên giới Trung Quốc 700m. Họ phá rừng để trồng Bạch Đàn, phá rừng làm đường vào khu rừng họ thuê, họ làm đường xoáy trôn ốc lên đỉnh các đồi cao nói trên. 50 năm không ai kiểm soát được, họ có xây dựng công sự gì trên đỉnh các cao điểm ấy cũng không ai biết, liệu có để sau này sử dụng như cao điểm 1509 ở Vị Xuyên trước đây không?

“Ngoài việc năm 1974, đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của ta, họ tự ý vẽ một cái “lưỡi bò” rất phi pháp bao chiếm gần hết biển Đông của Việt Nam, khoanh vùng cấm ngư dân ta vào đánh cá trong hải phận của mình, bắn chết, bắt ngư dân ta, tịch thu tài sản, ngư cụ, giam giữ, phạt tiền, dùng “tàu lạ” đâm chìm tàu cá của ngư dân ta. Cậy có Hải Quân mạnh, tập trận diễu võ dương oai ở Biển Đông, uy hiếp ta, luôn tuyên bố sẽ “thu hồi” Tây Sa tức Trường Sa của Việt Nam, mà họ to mồm nhận xí là của họ.


“Họ thuê dài hạn một đoạn bờ biển ở Đà Nẵng, nói là để xây dựng “khu vui chơi giải trí”, xây nhà máy điện nguyên tử chỉ cách biên giới tỉnh Quảng Ninh 60km, nếu rò rỉ phóng xạ thì bên ta mang họa.


“Trên thượng nguồn sông Mê Kông, Trung Quốc xây một hệ thống đập trong đó có đập Tiểu Loan, chặn mất một khối nước vô cùng lớn. Nam Bộ của chúng ta ở cuối dòng sông, mùa khô đồng bằng sông Cửu Long sẽ thiếu nước, liệu còn nuôi được cá tra, cá basa nữa không? Có đủ nước tưới cho các vùng cây trái không? Vựa lúa Nam Bộ có bị ảnh hưởng không? Sông cạn, nước mặn sẽ dâng sâu vào nội địa, triều cường càng dữ, nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh liên quan sẽ sống ra sao? Trung Quốc chặn nguồn nước thượng lưu của một con sông quốc tế, thật là một kế hoạch ích kỷ, ác độc.


“Họ trúng thầu một loạt nhà máy nhiệt điện và một số công trình, họ tự do đưa ồ ạt lao động của họ vào. Thế là, trên khắp đất nước ta, từ “nóc nhà Đông Dương”, từ rừng núi tới đồng bằng, đến ven biển đã có hàng vạn người Trung Quốc rải ra, có phải là mối nguy tiềm ẩn không?


“Từ những tình hình trên, rõ ràng Việt Nam ta bị hại đủ đường, và bị o ép tứ phía. Vì đâu nên nỗi này? Nhân dân ta nghĩ gì?./.


Từ  Texas, cuối tháng 12 năm 2011 



 Phạm Bá Hoa

CHUYỆN LÒNG


(Thân mến gởi tất cả Đồng Bào Việt
Nam của tôi đang lưu lạc khắp năm châu
bốn bể.)

Tôi không thích gì chính trị
Nhưng quan tâm chuyện núi sông
Tôi cũng chẳng là thi sĩ
Nhưng hay viết kể chuyện lòng

Chuyện lòng của tôi buồn lắm
Từ ngày Bến Hải chia đôi
Nỗi buồn của tôi thăm thẳm
Từ đi tị nạn  xứ người

Bao nhiêu năm qua mài miệt
Máu hòa với mực viết thơ
Cầu xin cho dân nước Việt
Quê hương vàng lại màu cờ

Quê tôi, giặc từ Bến Hải
Tâ'n công, xâm lược miền Nam
Mậu Thân, giặc tung lưỡi hái
Giết dân ác độc, bạo tàn

Giặc nhờ Nga - Tàu tiếp sức
Bảy Lăm chiếm trọn miền Nam
Rồi đặt gông xiềng áp bức
Dân tôi oan khổ kinh hoàng !!!

Giặc dựng nhà tù khắp nước
Người tù đói, lạnh, hờn, đau
Quân Cán miền Nam buổi trước
Tù miền núi độc rừng sâu

Giặc làm đỏ ngàu xã hội
Đỏ từ cơ cấu học đường
Lịch sử dạy điều gian dối
Phá tan đạo nghĩa, kỷ cương

Bao người dân lành vượt biển
Bỏ quê, tìm bến Tự Do
Có người đi mà không đến
Có người chết lúc lên bờ ...

Ba mươi mấy năm, đảng trị
Thiếu niên trộm cướp, bụi đời
Nữ sinh kiêm nghề gái gọi
Trẻ em bới rác cầm hơi ...

Đảng tạo cả ra người mẹ
Bán trinh con gái vì tiền
Sơ sinh, chân con cha bẻ
Đặng ăn xin bởi tật nguyền

Cụ già, còng lưng, bạc tóc
Chưa vơi dòng lệ oan hờn
Thiếu nữ phơi vàng phô ngọc
Cho người chọn lựa đông hơn

Ba mươi mấy năm đảng trị
Dân tôi thành ngựa, thành trâu
Mạng dân đảng coi bé tí
Đất quê, đảng cắt dâng Tàu !

Thế mà, kiếp Hời, ở đậu
Có người quên nhục quốc vong
Tiếp tay cho loài thảo khấu
Cam tâm bôi mặt, thay lòng ...

Để thành những tên bội phản
A dua với bọn nằm vùng
Làm người hiền lương ngao ngán
Bởi trò chụp mũ, đâm lưng

Thế mà, kiếp Hời, ở đậu
Lắm người đã chẳng cùng nhau
Chung lòng làm nên bó đũa
Lại gây bao cảnh ưu sầu

Thấy cộng thì run, thì khiếp
Thấy người chống cộng thì phang
Tung ra đủ đòn khốc liệt
Vỗ tay, cộng vững ngai vàng !

Đấy, chuyện lòng tôi là thế
Buồn này, ai xẻ cùng không ???
Cảm ơn người nghe tôi kể
Nghe rồi, thương nhé, non sông !

Phục hưng, đó là bổn phận
Mà ta phải có với quê
Đừng quên đảng đang hiến đất
Đừng quên dân tộc ê chề ...

Hãy xin tuốt gươm trung chính
Cho quê hết cảnh hờn đau
Hãy xin giữ lòng kiên định
Cho ta còn ngẩng cao đầu !!!

 
Ngô Minh Hằng

Hy Vọng Cho Nước Nhà VN



http://kimchi.jcapt.com/img1/store/tinkinhte/hope_fist.jpgCác chiến lược gia Đông Phương thường tin rằng cùng tắc biến, biến tắc thông, thông tắc cữu. Thực vậy không lẽ như TT Trần văn Hương nói với Đại sứ Pháp Merillon,  đại ý rằng “Nếu Trời hại đất nước tôi thì tôi ở lại chết với đất nước.”  Hơn 36 năm VN bị nằm trong gọng kềm CS Hà nội chưa đủ hay sao mà bây giờ VN sắp phải bị Bắc thuộc lần thứ tư nữa vơi sự lấn đất, lấn biển, xâm thực lần hồi theo đà bánh trướng của quân Tàu trong đầu thế kỷ 21.
Có lẽ cái kết cụộc có hậu (happy ending) của những nhà tư tưởng Đông Phương nói đó, ánh sáng đang thấy ở cuối đường hầm VN. Có một con đường, con đường đang mở rộng để người dân Việt Nam trong ngoài nước cùng góp một bàn tay cứu nguy quốc gia dân tộc của mình, bằng nội lực dân tộc là tổng lực đấu tranh nếu cần thì chiến đấu nhờ sức mạnh của tư do, dân chủ  và nhờ thời cơ Mỹ trở lại Á châu trong đó có điểm nóng là Đông Nam Á.
 Một, đó là  bắt tay đi với Mỹ. Con đường đó là con đường của người dân Việt ở Bắc ở Trung, ở Nam và ở hải ngoại muốn. Muốn đi thẳng với Mỹ, không cần vòng vo qua ngõ Paris, Bắc kinh hay Mạc tư khoa gì nữa. Để tự vệ chánh đáng, để cứu đất nước khỏi bị quân Tàu xâm thực, VN khỏi bị Bắc thuốc lần thứ tư. Con đường đó  thuận họp vói xu thế thời đại kinh tế tư do tòan cầu  chánh trị dân chủ hoá hòan vũ và nguyện vọng của người Việt muốn bảo vệ giang sơn gấm vóc. Xu thế tư do, dân chủ tòan cầu ấy thể hiện rõ qua mùa Xuân trong thế giới Á rập.
 Người Việt  bắt tay thế nào để không bị lệ thuộc, không bị những chánh khách Mỹ thực dụng đến trơ trẽn bán đứng, thì người Việt đã có thừa với kinh nghiệm đau thương của Việt Nam Cộng Hòa. Thiết nghĩ người Việt hải ngoại có nhiểu kinh nghiệm và nhứt là ba triệu người Mỹ gốc Việt công dân Mỹ  bây giờ khác với thời VNCH chưa có,  chắc biết sử dụng thế đứng như người Mỹ gốc Do thái đối với chánh quyền dân cử Mỹ.
Không còn nghi ngờ gì nữa Mỹ đã mạnh dạn trở lại Đông Nam Á mà chánh yếu là Việt Nam. Biển Đông của VN đang bị TC giành giựt là một điểm nóng sát với con đường hàng hải của 50% hàng hoá chở băng tàu trên thế giới và 90% nhiên liệu của các nước Bắc Thái bình Dương mà Nhưt và Nam Hàn là hai nước Mỹ có đóng quân hàng chục ngàn.
Các nước Đông Nam Á coi Mỹ như lá chắn, như trọng tài trong các xung đột vùng của các nước Đông Nam Á đối vói TC trên đà bánh trướng và bá quyền. Từ nhiều năm ASEAN mong mỏi Mỹ ký Hiệp Ước Hữu Nghị và Hợp Tác với ASEAN để hiện diện trong Hội Nghị Thượng Đỉnh Đông Á (EAS) nhưng Hoa Kỳ đã từ chối vì Mỹ cấm vận Miến Điện. Bây giờ Mỹ sắp bang giao với Miến Điện vì chế dộ này đang bắt dầu tiến trình tư do và dân chủ hóa.  Sự hiên diện của Mỹ trong vùng Biển Đông và Đông Nam Á theo tuyên bố của nhiều giới chức có thẩm quyến Mỹ như TT Obama, Ngọai Trường Hillary, Tư lịnh Thái bình Dương của Mỹ, sư hiện diện này là sư hiện diện lâu dài. Chẳng những thế Mỹ còn lần đầu tiên đổ 2500 quân ở Cảng Darwin của Úc. Không nói ra nhưng ai cũng thấy Mỹ đang bao vây TC từ Nhựt xuống Đài Loan, Nam Hàn, Phi, Úc, Nam dương và Ấn độ.
Cái gì chưa chắc, nhưng cái chắc là cái lợi trước mắt và đoản kỳ cho VN là TC không dám tấn công bất thần VN trên biển cũng như trên bộ. VN có thì giờ hiện đại  hoá, tăng cường quân lực ngăn chận đà xâm  thực của quân Tàu. VN có một thời gian “hòa bình” võ trang (paix armée) so với TC.
Hai, nhưng con đường đi với Mỹ cũng có mô. Thứ nhứt,  mô từ phía Mỹ, tuy nhỏ nhưng là mô có tính nguyên tắc khó san bằng. Mỹ không đồng minh với chế độ độc tài đảng trị toàn diện. Nhưng Mỹ vẫn có thể coi là đối tác. Thêm vào đó trở ngại trung tâm trong bang giao Washington_ Ha noi là nhân quyền, chính giới chức cao cấp của Đảng Nhà Nước về ngoại giao là ông Phạm Gia Khiêm, Hà Nội đã chấp nhận coi tình trạng nhân quyền tại Việt Nam như là một vấn đề để thảo luận chứ không còn là một vấn đề nội bộ nữa.
Và chính ngọai Trưởng Hillary vào cuối năm 2011, giữa lúc Mỹ dồn dập trở lại Á châu, cũng cho Hà nội biết muốn phát triễn đối tác chiến lược với Mỹ Hà nội phải cải thiện nhân quyền.
Thứ hai cái mô từ phìa Đảng Nhà nước CS Hà nội. Mô từ phía CS Hà nội, cái mô này lớn lắm. Đi với TC thì Hà nội mất đất thấy rõ, khỏi bàn luận gì nữa. Nhưng đi với Mỹ thì sợ mất đảng.  Tự do, dân chủ, nhân quyền là quyền lực mềm nhưng rất tác hại đối với độc tài chuyên chính như chế độ CS. CS trong đó có CS Hà nội rất sợ diễn biến hoá bình của tự do, dân chủ, nhân quyền, họ coi là hủy thể, khác tinh của chế độ.
Ba, nhưng tình thế đã trở thành bất khả kháng đối với Đảng CS rồi. Công tâm mà nói chế độ CS Hà nội cũng có nhiều người thâm thù quân Tàu trong nhiều năm chiến tranh biên giới của 1000 giặc Tàu  trong lịch sử VN và và nhiều năm đánh nhau và chưởi rủa thậm tệ thòi CS Hà nội chống bọn  bàng trướng bá quyền Bắc Kinh.
Vấn đề Biển Đông là nơi CS Hà nội có thể trút mối thù dân tộc và mối thù chế độ vào CS Bắc Kinh nều có dịp thuận lợi. Nên tại Diễn Đàn Khu Vực ASEAN (ARF) khai mạc tại Hà Nội ngày 23-7 vừa qua, dại diện của Hà nội ủng hộ tuyên bố của ngoại Trưởng Mỹ, cũng Mỹ và các nước ASEAN đối đầu với TC, cùng phản bác những yêu sách của TC, ủng hộ ủng hộ  việc quốc tế hoá vấn đề Biển Đông và giải quyết các tranh chấp qua thảo luận đa phương thay vì qua những cuộc thương thuyết song phương như Trung Quốc vẫn đòi hỏi.
Dù lãnh đạo Đảng CS VN muốn duy trì chế độ độc tài đảng trị, dù phe thân TC có dẫy dụa  nhưng khó cản được tinh thần  quốc gia dân tộc của người Việt muốn giữ gìn bờ cõi, cứu nguy dân tộc trước đà bánh trướng xâm thực của TC. Áp lực của người dân và của đại đa số đảng viên và đảng bộ CS địa phương đã áp lực trung ương vào bước tiến tất yếu là phải bằng cách này hay cách khác chống lại quân Tàu. Mà sự trở lại của Mỹ là một cơ hội vừa hợp thời cơ, địa lợi và nhân hoà. 
Mỹ trở lại Đông Nam Á ít  nhứt VN, nhà cầm quyền CS có một thời gian hoà bình võ trang (paix armée)  với TC để chỉnh tăng cuờng hải lực và không lực. CS Hà nội có thỏi gian để thể nghiệm liên minh với với Mỹ . Đó là một chọn lựa rất an toàn cho giang sơn gấm vóc VN. Đi với Mỹ cái gì thì cái, chớ Mỹ không có tham vọng đất đai. Còn đi với TC tuy tình “đồng chí”, CS Hà nội cũng phải đã cà chục năm đánh nhau, chuởi nhau  vì  Anh Cả cứ chiếm đất và biển.
Và một điều CS đã biết, chính Ông Hồ Tổ sư của CS Hà nội hiện thời cũng  nói nhưng không dám làm thiệt vì trái với bản chất độc tài củả Đảng CS. Đó là chân lý “dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liêu cũng xong”. Nhứt là việc chiến đấu gìn giữ giang sơn gấm vóc, tình quân dân như cá với nước, nghĩa chánh quyền vói quốc dân đồng bào như ruột thịt, máu xương thì mới có nội lực dân tộc và phát huy thành sức mạnh triều dâng thác đổ đánh duồi ngoại bang xâm lăng, bảo vệ bờ cõi.
Đảng Nhà Nước CS Hà nội  có lý để lo ngại tư do, dân chủ -  là niềm tin, giá trị lý tưởng của Mỹ  và cũng là cảm hứng của các dân tộc bị áp bức – quyền lực tuy mềm đó diễn biến hoà bình, là hủy thế của dộc tài.
Nhưng đổi thay, tiến hoá  là qui luật của cuộc sống.  Chuyển hoá, chuyển biến  là tất yều. Lịch sử đã cho thấy không có  đảng cộng sản nào sống sót được trong cuộc chuyển hoá về dân chủ của các nước Đông Âu và thuộc Liên Xô cũ.
Không ai có thể đi ngược lịch sử lâu dài được. Nhà cầm quyền có thế dùng bạo lưc, mưu mô nắm quyền một thời gian, nhưng không tồn tại lâu được như  Tân thuỷ Hoàng, Hitler, Staline. Động lực chánh trực của lịch sử, tư tưởng và hành động tiến bộ của nhân dân sẽ vùng lên lật đổ thế lực cầm quyền phản động.  Tiêu biểu nhứt là các cuộc cách mạng  nhân dân ở các nước CS ở Đông Âu và Liên xô vào cuối hậu bán thế kỷ vửa qua./.

Tác giả : Vi Anh

Tôi không hề bị quê hương từ chối

Tôi không hề bị quê hương từ chối

Submitted by Trưởng Biên Tập on Sun, 01/15/2012 - 23:08
Phạm Thị Hoài/pro&contra
Phạm Thị Hoài: Chào anh Hoàng Ngọc Diêu, anh vừa được biết mình là một persona non grata với quê hương?

http://enews.agu.edu.vn/uploads/imgposts/u10799_t1311756594_mpuOy.jpgHoàng Ngọc Diêu: Thưa chị, tôi vừa hoàn tất một cuộc du hành kéo dài 22 giờ đồng hồ. Trong đó có gần 9 giờ bay từ Sydney về sân bay Tân Sơn Nhất, gần 5 giờ bị giữ ở sân bay Tân Sơn Nhất và gần 9 giờ đồng hồ để bay ngược lại Sydney. Sự việc bắt đầu từ lúc 11 giờ 30 sáng ngày 11 tháng 1 và kết thúc vào 9 giờ 30 sáng ngày 12 tháng 1 năm 2012. Tôi về Việt Nam lần này là để tham gia diễn thuyết một đề tài kỹ thuật chuyên ngành trong hội thảo kỹ thuật “Tetcon 2012” ở Trung tâm Thông tin Hợp tác Quốc tế Thông tấn tại TP.HCM ngày 13 tháng 1 năm 2012. Đây là một cuộc hội thảo hợp pháp, đã được Sở Thông tin Văn hoá và Ủy ban Nhân dân TPHCM cho phép. Tôi dự định sau đó sẽ tranh thủ thì giờ để ra Nha Trang thăm gia đình trong chuyến đi chớp nhoáng chỉ gói ghém trong 5 ngày này. Thế mà chuyến đi đành phải kết thúc bất ngờ ngay khi tôi vừa đặt chân xuống sân bay Tân Sơn Nhất, và tôi đành phải quay về Úc với tâm trạng của một người “lưu vong chính thức”.
Phạm Thị Hoài:Lần về thăm Việt Nam gần đây nhất của anh là cuối năm 2009, đầu năm 2010. Điều gì đã xảy ra trong vòng 2 năm này?
Hoàng Ngọc Diêu: Có một số điều đã xảy ra dẫn đến việc tôi bị từ chối nhập cảnh.
Trước hết, vào đầu năm 2010, khi tôi còn đang thăm nhà ở Việt Nam, tôi nhận được một email của anh cả tôi là Hoàng Ngọc-Tuấn, qua đó anh ấy kêu gọi tôi trợ giúp diễn đàn Talawas về một số công việc kỹ thuật vì Talawas đã bị tấn công từ chối dịch vụ và bị tin tặc phá hoại liên tục trong một thời gian khá dài. Cũng trong khoảng thời gian đầu năm 2010, tôi nhận lời trợ giúp kỹ thuật cho diễn đàn x-cafevn.org. Kể từ đó, trong suốt mấy tháng đầu năm 2010, nhiều kẻ nặc danh, đặc biệt là một nhóm tin tặc với cái tên rất Tàu: “Sinh Tử Lệnh”, đã tung lên mạng hàng loạt những vụ việc bêu rếu, đơm đặt tên tuổi và “hoạt động” của tôi. Mặc dù ngay từ đầu, tôi đã xác minh mọi việc qua cuộc phỏng vấn từ đài RFA cũng như qua một bài viết gửi đăng trên diễn đàn Talawas Tiền Vệ vào tháng 3 năm 2010, thế nhưng sau đó, suốt nhiều tuần lễ tôi nhận được hàng loạt các điện thư nặc danh có nội dung cực kỳ thiếu văn hoá, hăm dọa tôi, và điện thoại để bàn ở nhà tôi thường xuyên bị quấy nhiễu. Thế rồi những chuyện này dần dà cũng giảm xuống và chấm dứt.
Đến tháng 5 năm 2011, trên diễn đàn kỹ thuật HVAonline.net, nơi tôi sinh hoạt thường xuyên, đã nảy ra những thảo luận và phân tích các dạng mã độc (malware) và các hệ thống botnet dùng để tạo nguồn tấn công từ chối dịch vụ nhắm vào hàng loạt các trang mạng “lề trái” và cả Vietnamnet, một trang mạng tin tức chính thức của nhà nước Việt Nam. Trong khoảng thời gian ấy, tôi lại nhận được khá nhiều những lời đe doạ (công khai trên mạng và riêng tư qua thư nặc danh), nhưng tôi cho rằng ấy là những phản ứng mang tính riêng lẻ và trẻ con, cho nên tôi không quan tâm.
Không ngờ, việc giúp đỡ kỹ thuật cho trang Talawas, trang x-cafevn.org và những phân tích kỹ thuật của tôi về những loạt tấn công phá hoại bằng botnet của nhóm tin tặc “Sinh Tử Lệnh” lại trở thành những điểm chính của buổi thẩm vấn do bốn anh công an thực hiện từ 4 giờ 15 chiều cho đến 7 giờ 30 chiều vào ngày 11 tháng 1 năm 2012 tại sân bay Tân Sơn Nhất.
Suốt cuộc thẩm vấn chiều ngày 11 tháng 1 năm 2012, các anh công an luôn loay hoay buộc tôi phải công nhận rằng trang Talawas và trang x-cafevn.org là những trang có nội dung phản động, và họ yêu cầu tôi xác định tư tưởng về việc này. Về phần tôi, tôi khẳng định rằng Talawas và x-cafevn.org là những diễn đàn tự do ngôn luận. Tôi xác định rất rõ tôi là một chuyên viên kỹ thuật và đồng thời tôi là một người tuyệt đối tôn trọng quyền tự do ngôn luận, vì tôi tin đó là quyền tự do căn bản nhất của con người, loài sinh vật duy nhất biết nói trên trái đất này. Tôi không đứng về phe phái chính trị nào cả, tôi chỉ giúp đỡ những ai cần giúp đỡ về kỹ thuật, và tôi sẵn sàng hỗ trợ kỹ thuật cho những diễn đàn tự do ngôn luận. Nếu trên những diễn đàn ấy có ai đưa ra những ngôn luận thiếu giá trị, thiếu sự thật, thì hãy để cho công luận đánh giá và để cho những người khác tự do tranh luận. Khả năng chuyên môn của tôi thuộc lãnh vực kỹ thuật. Tôi không có đủ thẩm quyền cũng như khả năng chuyên môn để đánh giá những vấn đề thuộc về chính trị.
Vào khoảng 7 giờ 30 chiều 11 tháng 1 năm 2011, cuộc thẩm vấn chấm dứt, tôi được đưa ra khỏi phòng làm việc, và ngay tại cửa có hai anh công an chờ sẵn với hộ chiếu của tôi và một tấm “boarding pass” để tôi lên máy bay. Họ cho biết rằng tôi chỉ cần chờ chừng nửa giờ đồng hồ nữa là sẽ “boarding”. Lúc ấy tôi mới nhận ra rằng tôi nằm trong tình trạng “persona non grata với quê hương” như trong câu hỏi đầu tiên của chị. Chỉ có điều, tôi không tin rằng đây là “persona non grata với quê hương” mà chỉ là “persona non grata với chính quyền”, bởi vì sau đó, suốt ngày 12 và 13 tháng 1 năm 2012, tôi nhận hàng trăm cú điện thoại, tin nhắn, điện thư, thông điệp (bằng nhiều cách) từ quê hương Việt Nam, qua đó các đồng nghiệp, bạn bè và độc giả gần xa đã bày tỏ sự thất vọng và bức xúc của họ về sự kiện tôi bị từ chối nhập cảnh.
Tôi không hề bị quê hương từ chối. Phải nói là tôi bị chính quyền từ chối rất sát ván. Sau khi bay về Sydney, tôi được tin ban tổ chức hội thảo “Tetcon 2012” đã nhận chỉ thị từ công an là phải xoá bỏ hoàn toàn tên tôi và các thông tin liên quan đến tôi trên bất kỳ phương tiện nào, từ trên trang web Tetcon.org cho đến trên tờ chương trình hội thảo. Điều này làm tôi thấy rõ rằng việc từ chối nhập cảnh đã được quyết định sẵn trước khi tôi về đến sân bay Tân Sơn Nhất. Cuộc thẩm vấn trong phòng làm việc của công an sân bay chiều ngày 11 tháng 1 năm 2012 chỉ là một màn thăm dò tâm lý và câu giờ để cho mấy anh công an bên ngoài có đủ thời gian làm các thủ tục đổi vé máy bay, tự ý chuyển hành lý của tôi sang chuyến bay về Úc, và lấy sẵn giấy “boarding pass”. Cũng xin lưu ý là điện thoại di động của tôi bị yêu cầu phải tắt hoàn toàn trong quá trình thẩm vấn. Có nghĩa là thậm chí họ không muốn tôi cho thân nhân đang đợi ngoài sân bay biết tình trạng của tôi.
Khi công an chỉ thị cho ban tổ chức hội nghị xoá bỏ hoàn toàn tên tôi trên mọi phương tiện, thì tôi nghiệm ra rằng chính quyền đã không cho tôi nhập cảnh vì họ không muốn tôi xuất hiện trước đám đông với chiếc microphone trên tay.
Phạm Thị Hoài:Anh Nguyễn Hưng Quốc bị từ chối nhập cảnh hai lần, tháng 11.2005 và tháng 4.2009, bây giờ có thêm anh gia nhập chi nhánh Úc của “Câu lạc bộ những Việt kiều bị từ chối nhập cảnh Việt Nam”. Cả hai anh đều ở trong nhóm chủ trương trang Tiền Vệ…
Hoàng Ngọc Diêu: Thưa chị, đúng vậy. Tôi nghĩ Tiền Vệ cũng là một trong những lý do khiến tôi bị từ chối nhập cảnh, vì trong cuộc thẩm vấn ở sân bay Tân Sơn Nhất các anh công an có đưa ra mấy câu hỏi: “Anh đã tham gia vào trang mạng Tiền Vệ từ khi nào?”, “Anh giữ vai trò gì trong nhóm chủ trương Tiền Vệ?”, và “Ông Hoàng Ngọc-Tuấn có phải là người chịu trách nhiệm chính về nội dung của trang mạng Tiền Vệ hay không?”
Tôi đã trả lời rằng tôi tham gia vào Tiền Vệ từ đầu, tức là từ năm 2002, với trách nhiệm của một chuyên viên kỹ thuật thiết kế và bảo mật cho trang mạng. Tôi cũng xác nhận rằng anh Hoàng Ngọc-Tuấn là người chịu trách nhiệm chính về nội dung của trang mạng Tiền Vệ.
Phạm Thị Hoài:Vậy anh Hoàng Ngọc-Tuấn chắc phải đủ điều kiện trở thành thành viên Câu lạc bộ này?
Hoàng Ngọc Diêu: Thật ra anh Hoàng Ngọc-Tuấn là người đầu tiên của Tiền Vệ gia nhập chi nhánh Úc của “Câu lạc bộ những Việt kiều bị từ chối nhập cảnh Việt Nam”. Anh ấy đã bị từ chối nhập cảnh hai lần, tháng 7 năm 1992, và tháng 11 năm 1996. Cuối năm 2003, anh ấy xin visa về thăm gia đình thì được cấp, rồi được nhập cảnh, nhưng trong thời gian ở Việt Nam chỉ có 11 ngày, anh ấy đã bị công an các cấp khác nhau mời lên “làm việc” nhiều lần vì anh ấy đã tự ý truyền bá chủ nghĩa hậu hiện đại qua một cuộc phỏng vấn trên báo Thể thao & Văn hoá mặc dù khi nhập cảnh công an đã nói rõ anh ấy chỉ được phép thăm thân nhân và không được tiếp xúc với văn giới. Cuối năm 2006, anh ấy cùng vợ và các con về ăn Tết với bên ngoại, thì vẫn được nhập cảnh nhưng bị yêu cầu phải báo ngay cho công an biết số điện thoại di động anh ấy sử dụng ở Việt Nam. Trong mấy tuần lễ ở Việt Nam, anh ấy đã bị công an gọi vào điện thoại di động liên tục mỗi ngày rất nhiều lần để hỏi “anh đang ở đâu?”, “anh đang làm gì?”, “anh đang ngồi ở quán nào?, “đang nói chuyện với những ai?”… Rồi ngày cuối cùng trước khi rời Việt Nam, anh ấy bị công an mời lên để “làm việc”. Cuối năm vừa qua, vì có việc rất cần thiết trong gia đình, anh ấy có thử nhờ một đại lý du lịch xin visa để cùng vợ con về thăm bên ngoại, thì sau đó đại lý du lịch ấy cho biết rằng sứ quán nói “có thể cấp visa cho ông nhưng không bảo đảm là ông không bị cấm nhập cảnh”, tốt nhất là “ông không nên về Việt Nam vào lúc này”. Vì thế nên có lẽ anh Hoàng Ngọc-Tuấn sẽ còn là thành viên dài hạn của Câu lạc bộ này.
Phạm Thị Hoài:Nếu những trang mạng bị chính quyền Việt Nam coi là “phản động” khác bị tin tặc tấn công và cần đến sự giúp đỡ của anh, anh có sẵn lòng giúp đỡ, với cái giá là tiếp tục không được nhập cảnh Việt Nam?
Hoàng Ngọc Diêu: Như đã trả lời lúc nãy, tôi đã công khai xác định rất rõ, rất nhiều lần, ở nhiều nơi, rằng tôi là một chuyên viên kỹ thuật, đồng thời là một người tuyệt đối tôn trọng tự do ngôn luận. Tôi xin nhấn mạnh rằng việc tôn trọng tự do ngôn luận là một nguyên tắc mang tính lương tâm của bản thân tôi. Với khả năng kỹ thuật của mình, tôi nghĩ, tôi không những nên mà còn phải có trách nhiệm với việc bảo vệ tự do ngôn luận, bởi vì nếu chỉ nói mà không làm thì chẳng còn tí giá trị nào. Bởi vậy, xin trả lời một cách trực tiếp và chính xác rằng tôi sẽ làm bất cứ điều gì để bảo vệ cái nguyên tắc ấy. Tôi sẵn lòng giúp đỡ kỹ thuật cho bất kỳ diễn đàn nào tôn trọng tự do ngôn luận, bất kể diễn đàn ấy thuộc khuynh hướng chính trị nào. Còn bất cứ diễn đàn nào chủ trương đàn áp tự do ngôn luận, thì tôi không bao giờ giúp, bất kể diễn đàn ấy thuộc về một đảng phái chính trị mang nhãn hiệu mỹ miều nào đó. Cái nguyên tắc này của bản thân tôi không phải là một nguyên tắc chính trị, mà là một nguyên tắc mang tính lương tâm. Tôi không thể tự phản bội cái nguyên tắc của lương tâm tôi, và tôi sẵn sàng trả giá để bảo vệ nó.
Phạm Thị Hoài:Tin tặc không chỉ khủng bố các trang mạng độc lập. Vụ đánh sập Vietnamnet gần đây cho thấy một bức tranh rất phức tạp về hacker. Theo tiết lộ từ phía chính quyền Việt Nam, ít nhất 1/3 các trang tin điện tử chính thống của Việt Nam đã bị tấn công và hầu hết không có giải pháp an toàn hữu hiệu. Nếu có lời mời từ phía một cơ quan thuộc chính quyền Việt Nam, anh có sẵn lòng góp sức giúp chính quyền này trong lĩnh vực chuyên môn của mình không? Có một “chuyên môn thuần túy”, phi chính trị không?
Hoàng Ngọc Diêu: Nếu như có một cơ quan thuộc chính quyền Việt Nam mời tôi trợ giúp kỹ thuật, thì tôi xin trả lời hết sức giản dị như thế này: Tôi sẵn sàng giúp đỡ, nếu trang mạng của quý vị chứng tỏ có sự tôn trọng quyền tự do ngôn luận. Ngược lại, thì không.
Thật ra trong năm 2011, có ít nhất là hai nhóm kỹ thuật trợ giúp cho Vietnamnet đã liên hệ với tôi và nhờ tôi giúp ý kiến. Tôi đã sẵn sàng giúp họ trong giới hạn thông tin khá ít ỏi và hạn chế. Tôi đã giúp họ vì thấy rằng lúc ấy Vietnamnet đang có tờ Tuần Việt Nam là một tờ báo chứng tỏ đã có phần nào cởi mở về ngôn luận. Nếu họ tiếp tục mở rộng tự do ngôn luận, thì khi họ cần, tôi sẽ tiếp tục giúp, còn nếu họ khép lại, thì thôi.
Phạm Thị Hoài:Theo đánh giá của anh, công nghệ tin học của Việt Nam đang đứng ở vị trí nào trên thế giới?
Hoàng Ngọc Diêu: Theo tôi thấy, công nghệ thông tin ở Việt Nam đã phát triển rất nhanh, rất đáng kể từ khoảng 2002 đến 2006, nhưng sau đó bị chậm lại và trở nên cục bộ, tự phát và thiếu định hướng. Việt Nam có những con người hiếu học, cần cù và chịu khó, nhưng họ khó có thể phát triển vượt bậc vì còn thiếu điều kiện và vẫn bị những cái khung cơ chế và quy định kìm hãm. Cho đến nay, công nghệ thông tin Việt Nam vẫn chưa định hình cụ thể. Hầu hết chỉ là những phát triển nho nhỏ mang tính đối phó hoặc thăm dò. Vấn đề chính sách, pháp luật và thi hành pháp luật đối với tài sản trí tuệ cũng như đối với tội phạm internet vẫn rất rời rạc và mơ hồ mặc dù những việc này đã được đề cập rất nhiều lần. Có quá nhiều doanh nghiệp cũng như các ban ngành trực thuộc chính phủ vội vã ôm chầm lấy các tiêu chuẩn ISO và làm đủ mọi cách để được “đạt tiêu chuẩn” nhưng việc thực hành và duy trì tiêu chuẩn thì lại thiếu thực tế ứng dụng. Nói chung, công nghệ thông tin Việt Nam lâm vào chỗ ra nhiều quy định, theo nhiều tiêu chuẩn, và vô tình tạo ra một bức tranh rối ren thiếu định hướng, thiếu sự khai triển vững chắc và lâu dài.
Nếu so với Trung Quốc ở mảng sản xuất và gia công sản phẩm liên quan đến công nghệ thông tin thì Việt Nam còn đi sau quá xa, hầu như là mờ mịt. Nếu so với Ấn Độ ở mảng gia công nhu liệu (software) thì cũng không khác mấy với so sánh ở trên với Trung Quốc. Công nghệ thông tin Viêt Nam đứng ở đâu? Tôi nghĩ công nghệ thông tin Việt Nam chưa đứng ở đâu cả, mặc dù có rất nhiều nỗ lực của những nhóm sinh hoạt, vì các nỗ lực ấy thường mang tính đơn lẻ, rời rạc và thiếu định hướng.
Phạm Thị Hoài:Giới hacker Việt Nam nói chung đánh giá những hoạt động gây chú ý của đội quân hacker tự do mang tên Anonymous như thế nào? Anonymous có thể là một giải pháp tốt cho tiến trình minh bạch hóa một hệ thống tồn tại trên cơ sở bưng bít thông tin, như hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay, không?
Hoàng Ngọc Diêu: Thưa chị, theo tôi biết, phần lớn giới hacker ở Việt Nam có vẻ hâm mộ nhóm hacker Anonymous trên căn bản kỹ thuật. Tuy nhiên, họ lại lo ngại về Anonymous vì những đồ đoán rằng Anonymous sẽ đánh sập và phá huỷ Facebook bất cứ lúc nào. Chuyện này cũng dễ hiểu, bởi vì Facebook vẫn không phải là ngoại lệ cho “cơn sốt Facebook” đối với Việt Nam. Ở góc độ hacking để bạch hoá thì tôi lại không thấy có những ý kiến cụ thể và đáng thuyết phục trong giới hacker để có thể đưa ra kết luận khả dĩ. Thật ra, nếu Anonymous thật sự sẽ phá huỷ Facebook thì họ hoàn toàn không giúp bạch hoá mà họ lại tàn phá phương tiện bạch hoá. Việc này còn tệ hại hơn cả tình trạng Facebook đang bị ngăn cản (theo chu kỳ và theo giờ trong ngày) đang xảy ra ở Việt Nam.
Với câu hỏi của chị về việc sử dụng biện pháp hacking (như nhóm Anonymous) để làm phương tiện bạch hoá thông tin đang bị bưng bít thì tôi xin có vài nhận định cá nhân như sau:
- Việc hacking ở góc độ thâm nhập để thâu thập thông tin ngoài ý muốn của khổ chủ là việc làm không còn mang tính vẹn toàn (integrity), thậm chí, ở mức độ nào đó nó là phi pháp và vi phạm đạo đức.
- Thông tin được thu thập từ hacking khó có tính đáng tin cậy (vì có thể bị chỉnh sửa, cắt xén, thêm bớt trước khi công bố), bởi vậy giá trị bạch hoá có thể không còn trọn vẹn và khả tín nữa (ngoại trừ nhóm hacker nào đó đã có đủ uy tín và thẩm quyền được công nhận khách quan rộng rãi thực hiện việc này).
- Thông tin được công bố từ hacking có thể bị liệt vào dạng “có thể nghi vấn” (questionable). Bởi thế, chính bản thân nó làm hỏng mất tinh thần của việc bạch hoá về những gì lẽ ra phải được công bố chính thức và khách quan.
Đó là chưa kể khi một chế độ đã có thừa mánh khoé để gây nhiễu thông tin, tung hoả mù, đánh tráo thông tin, thì họ dư sức ngụy tạo những thông tin phản chứng để đối phó với bất kỳ việc bạch hoá thông tin nào. Thậm chí họ sẵn sàng sử dụng bạo lực để triệt tiêu tự do ngôn luận, đặt tuyệt đại quần chúng nhân dân vào tình trạng dù biết rõ mà không dám nói ra, hay dù biết rõ mà vẫn phải nói theo chính quyền.
Bản thân tôi cho rằng, không cần hacking, ta vẫn có sẵn vô số thông tin khác để minh hoạ một bức tranh thật và sinh động của một chế độ nào đó ở thời đại này. Đối với tình trạng bưng bít quá dài lâu của một chế độ mà ai cũng đã thấy rõ, thì việc chứng minh chế độ ấy là bưng bít e không còn cần thiết.
Tôi không có chuyên môn về chính trị, nên chỉ quan sát và suy nghĩ về xã hội từ góc độ lương tâm của con người. Tôi nghĩ một chế độ cũng giống như một con người, nếu mình đã có bản chất tốt đẹp thì mình không có gì phải bưng bít, không sợ những lời phê bình, thậm chí mình còn lắng nghe những lời phê bình để được tiến bộ hơn. Một kẻ không tốt đẹp thì mới bưng bít, mới sợ nghe phê bình, mới ra sức tự khen mình và tìm cách bịt miệng những người khác. Bởi vậy nên tôi tin điều cần thiết nhất là tự do ngôn luận, và mọi người phải hết sức bảo vệ quyền tự do ngôn luận của mình và của đồng loại. Một khi mọi công dân đều có quyền tự do ngôn luận thật sự để góp ý kiến vào việc thay đổi xã hội, thì khi ấy xã hội mới có đủ sức mạnh để thay đổi.
Phạm Thị Hoài:Cảm ơn anh Hoàng Ngọc Diêu

Hoàng Ngọc Diêu

 

Bài Xem Nhiều