We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 31 January 2012

Một ngày phải khác mọi ngày

Một ngày phải khác mọi ngày 
(với nhạc nền là bản Anh là ai của nhạc sĩ Việt Khang)




Nghe









Chào một ngày đất nước tự tiêu vong
Cỗi rễ văn hiến 4000 năm trốc gốc
Tuổi teen gối đầu giường Lý An, Ngô Vũ Sâm, Trương Nghệ Mưu, Trần Khải Ca lạ hoắc
Panô giăng khắp nơi hình ảnh Củng Lợi, Chương Tử Di, Thành Long phơi phới toét miệng cười

Chào một ngày phát triển giống đười ươi
Đi trên xã tắc thấy người thua xa khỉ
Thấy lô cốt ngáng đường, thấy nước ngập tận mông, thấy thánh hiền sợ quỷ
Thấy truyền thống chống ngoại xâm co rúm lại vì ... tiền

Chào một ngày vong bản vì ... hèn
Sống chết mặc bay, túi thầy vô cảm
Ải Nam Quan nằm ngoài ranh giới Việt Nam, xưa rồi Diễm...
Nước mắt Nguyễn Trãi khóc Nguyễn Phi Khanh rơi ở tận nước Tàu

Chào một ngày bãi biển hóa nương dâu
Thác Bản Giốc rời Cao Bằng như có cánh
Thắng cảnh để lại của tiền nhân bị cháu con ghẻ lạnh
Các di tích, kỳ quan cứ mất tích đều đều

Chào một ngày hình chữ S tong teo
Tài nguyên bôxít bị đào như bọ xít
Nhôm và đôla chẳng thấy đâu chỉ thấy đất Tây nguyên rên xiết
Ô nhiễm mạch ngầm, nước sông làm nghẹt thở Chín Con Rồng

Chào một ngày long mạch bị xới tung
Máu bầm đất đỏ bazan, máu tràn ra hải đảo.
Ai cho phép Hoàng Sa, Trường Sa thành Tam Sa lếu láo
Tội nghiệp rừng cọc nhọn của Hưng Đạo Đại Vương trên sóng Bạch Đằng

Chào một ngày giống hệt cõi âm
Những xác chết anh hùng bật dậy
Máu trả máu, đầu trả đầu. Nhớ đấy !
Mãi quốc cầu vinh tất quả báo nhãn tiền

Chào một ngày soi rõ mặt anh em…

"Ngày soi rõ mặt anh em” nhất định đang đến gần.
 

nguồn internet

Diễn Hành và Hội Chợ Tết Nhâm Thìn tại Bolsa - Nam Cali


 
Ý nghĩa lá cờ vàng, cờ quốc gia Việt Nam
 
Gần đây hơn một năm nay, nhiều quận hạt trên nước Mỹ đã phát động chiến dịch vinh danh lá Cờ Vàng ba sọc đỏ, của cộng đồng người Việt định cư ở hải ngoại. Các cháu, và anh chị đã nghe thấy nhan nhản trên diễn đàn, trên báo, trên radio, về vấn đề vinh danh này. Lá Cờ Vàng là biểu tượng của Tự do, Độc lập và Dân chủ của truyền thống dân tộc Việt nam từ bao đời. Lá cờ đã thăng trầm suốt hai ngàn năm lịch sử, mà ông cha ta nhiều đời đã hy sinh xương máu để bảo vệ nó. Từ năm 1975, gần ba mươi năm Cờ Vàng vắng bóng, ngày nay Cờ Vàng đã sống lại như một hiện tượng hồi sinh.
Cờ Vàng, lá cờ Quốc Gia Việt Nam, có nền vàng và ba sọc đỏ. Màu vàng là màu quốc thổ và cũng là màu da của dân tộc Việt. Theo vũ trụ quan của người Việt, màu vàng thuộc về hành thổ và có vị trí trung ương, tượng trưng cho lãnh thổ, chủ quyền của quốc gia. Màu đỏ thuộc hành hỏa và là màu của phương Nam. Đây là biểu tượng của một dân tộc bất khuất, anh hùng, và độc lập trong cõi trời Nam, tách biệt hẳn với nước Tàu ở phương Bắc. (Trong bài Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi.) Ba sọc đỏ tượng trưng cho ba miền: Bắc, Trung, Nam. Tuy gọi là ba miền (ba sọc đỏ) nhưng có chung một nhà (nền vàng). Đó là nhà Việt Nam, mà con dân nước Việt phải biết thương yêu và qúy trọng lẫn nhau.
Vào năm 40 Dương Lịch, Hai Bà Trưng dùng “Đầu voi phất ngọn cờ Vàng” đem quân đánh Tô Định để lập quốc xưng Vương. Cờ Quẻ Ly (cờ vàng có hai sọc đỏ nằm giữa) của chính phủ Trần Trọng Kim (1945) bắt nguồn từ lá cờ vàng thời Hai Bà Trưng, cờ vàng đời Gia Long (1802), và cờ Long Tinh đời Khải Định (1916). Tiếp đến, năm 1948, Quốc Trưởng Bảo Đại đã thêm một sọc ở giữa và cho hai sọc đỏ nối liền từ cờ Quẻ Ly tạo thành lá cờ có Nền Vàng Ba Sọc Đỏ. Ba sọc đỏ này có hình Quẻ Kiền (Quẻ Càn) tượng trưng cho trời Nam, tức là nước Việt Nam chúng ta.
Tuy bắt nguồn từ đời Hai Bà Trưng, lá cờ Vàng, cờ Quốc Gia Việt Nam đã được Thiếu Tướng Nguyễn Văn Xuân, đứng đầu Chính Phủ Lâm Thời Quốc Gia Việt Nam ký Sắc Lệnh số 3 ngày 2 tháng 6 năm 1948 với những tiêu chuẩn về lá quốc kỳ của nước Việt Nam như sau: “Biểu hiệu Quốc Gia là một lá cờ nền vàng, chiều ngang bằng 2/3 chiều dài, giữa có ba sọc đỏ, rộng bằng 1/15 chiều dọc và khoảng cách bằng nhau đi suốt lá cờ.”
Cờ Vàng, cờ Quốc Gia Việt Nam được hun đúc bằng khí thiêng trời đất, và tinh thần quật khởi của dân tộc Việt suốt gần hai ngàn năm lịch sử. Nó tượng trưng cho hồn thiêng sông núi, cho vận hội thái hòa, và cho sự thành công vĩnh cửu của giống nòi Việt Nam. Kể từ thời Hai Bà Trưng, lá cờ Quốc Gia Việt Nam đã được biến cải để có hình dạng màu sắc như hiện nay. Lá cờ có một ý nghĩa cao cả, và đã thăng trầm với lịch sử oai hùng của dân tộc Việt. Nó nhuốm khí thiêng sông núi, tượng trưng cho Dân chủ, Tự do, Nhân quyền, cho ý chí kiêu hùng của nòi giống Việt, cho thanh bình thịnh trị của muôn dân, và cho đoàn kết dân tộc trong việc giữ nước và dựng nước của tổ tiên ta.
Lá Cờ Quốc Gia Việt Nam là linh hồn của cả dân tộc Việt. Lá cờ còn, chính nghĩa còn. Lá cờ còn, tinh thần chiến đấu còn. Lá cờ còn, sự đoàn kết còn, nó là tín bài để chúng ta nhận diện giữa người Việt Quốc Gia và bè lũ Cộng Sản. Chỗ nào có cờ Quốc Gia Việt Nam, thì chỗ đó có tình thương, có dân chủ, có tự do, và nhân quyền. Trong khi chiến đấu với kẻ thù, lá cờ vàng ba sọc đỏ tượng trưng cho Chính Nghĩa Quốc Gia Tự Do. Hiện tình của chúng ta ở hải ngoại là đang trực diện sống còn với Cộng Sản tại Việt Nam, mà lá cờ Vàng là biểu tượng cho chính nghĩa ấy. Biểu tượng chính nghĩa Tự Do là lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ. Có giương cao lá cờ chính nghĩa, ta mới có đoàn kết, và thu hút được nhân tâm để áp lực bắt tập đoàn Cộng Sản Việt Nam phải qui hàng và từ bỏ chế độ Cộng Sản mà chúng đang theo đuổi.
Người Việt yêu tự do, dân chủ, ở trong nước cũng như ở hải ngoại, mỗi khi nhìn thấy Lá Cờ Vàng, là còn có niềm tin và hy vọng cho Việt Nam Tự Do trong tương lai. Trong khi Việt Nam chưa lật đổ được chế độ Cộng sản bạo tàn, và Cờ Vàng chưa chánh thức tung bay trên toàn cõi Việt Nam, nhiệm vụ người Việt hải ngoại là vinh danh lá cờ ấy. Nơi nào có người Việt Nam quốc gia, nơi đó có Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ. Tuy Quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ không chánh thức được công nhận trong nước, nhưng mọi người Việt Nam ở quốc nội đều biết rằng, đó là lá cờ tượng trưng cho nền độc lập, và tự do của Tổ Quốc, chống lại chế độ độc tài, bạo tàn của Cộng sản, phi nhân và nô lệ cho ngoại bang. Bên ngoài Việt Nam, Cờ Vàng được người ngoại quốc xem là biểu tượng của phía người Việt Nam chống Cộng Sản. Nơi nào tỏ bày lòng tôn vinh Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, nơi ấy người Việt quốc gia đã đóng góp to lớn vào công cuộc giải phóng đất nước, chống lại ách thống trị của Cộng Sản Việt Nam.
Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, mới chính là lá cờ của một quốc gia Việt Nam, để phân biệt với cờ đỏ sao vàng, lá cờ Máu của cộng sản Việt nam. Cờ đỏ của cộng sản VN gốc là cờ tỉnh Fuzhou của Trung Quốc vào năm 1933- 1934, theo tài liệu Thế giới về nước Trung hoa (1*). Trong khi cờ Vàng tượng trưng cho Tự do, Dân chủ và Nhân quyền, thì cờ Máu tượng trưng cho chết chóc, đói nghèo và tang thương cho dân tộc Việt...
Với lịch sử huy hoàng suốt gần hai ngàn năm của lá cờ Quốc Gia Việt Nam, chúng ta cầu mong Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ sẽ rợp bay khắp mọi nhà người Việt Quốc Gia tại hải ngoại, và một ngày gần đây trên khắp trời quê hương. Quốc kỳ Việt nam là biểu tượng của Hồn Thiêng Sông Núi, của Dân Chủ Tự Do, và Nhân Quyền, mà biết bao thế hệ cha ông ta đã đổ máu để gìn giữ. Lá cờ Vàng, lá cờ Quốc Gia Việt Nam đã trải qua bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, nhưng tự nó vẫn tồn tại trong lòng người Việt ở khắp mọi nơi. Nó đã đổi lấy bằng bao nhiêu xương máu cuả các chiến sĩ, và vinh nhục cuả tất cả chúng ta. Vì tiền đồ dân tộc, vì tự chủ quốc gia, nó chính là sự khát vọng cho hòa bình, và tương lai của một Việt nam sáng lạng trong cộng đồng các quốc gia trên toàn thế giới. Do đó,
-Để tưởng nhớ công ơn tiền nhân, và gần đây của Quân, Dân, Cán, Chính, đă hy sinh bỏ mình trong cuộc chiến chống cộng sản tại Việt nam;
-Để tích cực yểm trợ chiến dịch vinh danh Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của người Việt hải ngoại đang định cư trên nước Mỹ và trên toàn thế giới;
-Để duy trì sức mạnh chiến đấu, đòi tự do dân chủ và nhân quyền cho nhân dân Việt Nam, và nhắc nhở con cháu về Ý Nghĩa của ngọn cờ Chính Nghĩa- Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, cờ Quốc Gia Việt Nam Tự do. Ngày xưa chúng ta cầm súng, ngày nay cầm cờ. Để vinh danh cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, đặt niềm tin và hy vọng mới trong tương lai, yêu cầu nhà nhà treo cờ vàng, người Việt nhớ đến cờ Vàng vì đây là biểu tượng của Tổ Quốc Việt Nam mến yêu cuả chúng ta.
Chúng ta những người Việt tỵ nạn cộng sản trên thế giới, tuy sống xa quê hương nhưng được hưởng mọi quyền tự do, dân chủ và nhân quyền. Trước năm 1975, chúng ta cầm súng để chiến đấu, đối diện với kẻ thù đầy nguy hiểm. Ngày nay chúng ta chỉ cần tích cực cầm cờ để chiến đấu, để bày tỏ lòng yêu tự do và nhân bản, tôn trọng quyền làm người, vì lá cờ Vàng là biểu tượng Tự Do Công bằng, và Dân Chủ. Chúng ta đại diện cho người Việt yêu tự do, nói lên ý chí, nguyện vọng, niềm tin và ước mơ của toàn dân tộc Việt nam trong nuớc, đang bị một chính thể vô thần, độc tài đang khống chế và cai trị tàn ác.
Như chúng ta đã biết, vận mệnh của một số dân tộc chậm tiến trên thế giới, trong đó có Việt nam, đã bị cuốn theo sức ép của bàn cờ chính trị quốc tế. Dân tộc Việt nam là con dê tế thần trong hai cuộc chiến tranh, từ Pháp đến cộng sản. Hai cái hiệp định Genève (1954) và Paris (1973), đã đưa dân Việt nam lên bàn mổ quốc tế, mà hầu hết người Việt không hề hay biết đến. Năm 1975, phe tự do đã thua trận ở Việt nam, và sau đó phe cộng sản đã thua trận ở Liên xô, cái gốc rể to lớn cuả phe cộng sản. Hiện nay ở quê nhà, 80 triệu đồng bào ruột thịt đang đau khổ vì đói nghèo, tù tội và mất tự do. Ở đó nhân vị, nhân quyền bị chà đạp chính trên quê hương mình.
Hy vọng vào sự đồng tâm nhất trí đấu tranh của người Việt hải ngoại, chúng ta hãy giương cao ngọn cờ chính nghĩa, để bày tỏ một nỗ lực, một ý chí chính đáng cho tự do độc lập của dân tộc Việt nam. Đây là bước mở đầu cho tiến trình dân chủ, tự do cho quê hương Việt nam mến yêu của chúng ta. Ước mơ sau cùng của anh và tôi là: nếu chết ở đây xin được phủ lá cờ Vàng, và hy vọng rằng cờ Vàng sẽ tung bay trên khắp trời Việt nam một ngày không xa..Việt nam sẽ là một Ba Lan thứ hai, hay như các nước Đông Âu tự giải thể để tồn sinh. Việt Cộng tự nó sẽ phải triệt tiêu nhờ vào ý chí đấu tranh của chúng ta từ hải ngoại. Phải chăng đây cũng là ước vọng chung của tất cả chúng ta: các con, anh và tôi, những người Việt tha hương...yêu tự do và yêu tổ quốc Việt nam.?
 
1*(Mạng lưới http://worldstatesmen.org/China.html thấy có lịch sử lá cờ máu cộng sản Việt nam.)
Phạm đào Nguyên
 





























 

Thà chết không hàng giặc

Chết mà vì nước, chết vì dân,
Chết đấng nam nhi trả nợ trần.
(Phan Bội Châu)

Con người là một sinh vật, theo lẽ tự nhiên sớm muộn gì cũng chết, nhưng chết như một người bình thường hay chết như một anh hùng lưu danh thiên cổ còn tùy ở con người đó. Sáng ngày 30/4/1975, vị tổng thống bất đắc dĩ cuối cùng của VNCH kêu gọi toàn quân buông súng đầu hàng kẻ thù CSBV. Lời kêu gọi của vị tổng tư lệnh trên đài phát thanh đã làm cho biết bao nhiêu trái tim quân dân miền Nam rỉ máu đỗ quyên đau lòng quốc quốc với nỗi uất ức ngập tràn khiến cho hàng trăm chiến sĩ đã tự sát chứ không hàng giặc.

Số người quyên sinh chính xác không  được biết vì phe CSVN chiến thắng không bao giờ muốn làm một điều gì có ý nghĩa cho người chiến bại. Những chiến sĩ QLVNCH ngã ngựa phải mang thân phận bị đọa đày dưới sự đối xử tàn độc của Cộng sản dĩ nhiên không có khả năng ghi nhận đầy đủ tất cả những vụ tự sát trong ngày đau thương hỗn loạn đó. Với năm vị tướng và hàng chục sĩ quan cấp tá và cấp úy tự sát được kiểm chứng rõ ràng, con số khiêm nhường đó phần nào nói lên được ý chí bất khuất hào hùng của dân quân miền Nam.

Những tấm gương thà chết không hàng trong sử Việt

Tinh thần bất khuất thà chết không hàng giặc là truyền thống dân tộc có từ gần hai ngàn năm trước với tấm gương của Hai Bà Trưng. Trước sự tấn công của đạo quân xâm lăng hùng hậu do Mã Viện nhà Hán cầm đầu, Hai Bà Trưng chiến đấu, cuối cùng nhảy xuống sông tự tử ngày mùng 6 tháng 2 năm Quý Mão tức năm 43 Tây lịch. Từ đó đến nay, mỗi năm cứ đến ngày này, dân Việt khắp nơi làm lễ giỗ một cách trọng thể để nhớ ơn hai vị nữ anh hùng dân tộc.

 “Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc. Ta đã bị bắt thì có một chết mà thôi, can gì mà phải hỏi lôi thôi.” Câu nói khí khái đó của Trần Bình Trọng chúng ta ai mà không biết khi còn ngồi ở ghế học đường. Sau khi bắt được Trần Bình Trọng, tướng nhà Nguyên tìm mọi cách để khai thác thông tin, dọa nạt, chiêu dụ nhưng vô ích và chỉ nhận được câu trả lời vang danh muôn đời ấy, một trong những câu nói nổi tiếng nhất trong lịch sử chống ngoại xâm cũng như lịch sử Việt Nam. Không thể khuất phục được Trần Bình Trọng, quân Nguyên buộc phải giết ông vào ngày 21 tháng Giêng năm Ất Dậu, tháng 2 năm 1285 Tây lịch năm ông 26 tuổi.

Tháng 11 năm 1413, danh tướng Đặng Dung nhà Hậu Trần cùng Nguyễn Cảnh Dị bị Trương Phụ bắt sống khi đang tìm đường tạm lánh sang Xiêm La để tính kế lâu dài. Vì liên tục lớn tiếng chửi mắng nên Nguyễn Cảnh Dị đã bị Trương Phụ hạ lệnh giết ngay. Còn Đặng Dung cùng Trần Quý Khoáng, Nguyễn Súy và một số tướng lãnh khác bị áp giải về Yên Kinh Trung Hoa. Dọc đường, Trần Quý Khoáng nhảy xuống biển tự tử, Đặng Dung cũng lập tức nhảy xuống chết theo.

(Hình: lăng mộ Võ Tánh)
Trong cuộc nội chiến giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh, một vị tướng giỏi của nhà Nguyễn là Võ Tánh chỉ huy thành Qui Nhơn (sau là thành Bình Định). Năm 1801 sau suốt hai năm bị quân Tây Sơn bao vây đến cạn hết lương thực, thuộc cấp năn nỉ ông bỏ thành trốn thoát, ông nói: "Không thể được. Ta phụng mạng giữ thành này, nên thề với thành cùng sống chết. Nếu bỏ thành mà hèn nhát trốn lấy một mình, thì sau này còn mặt mũi nào trông thấy chúa thượng?" Sau đó ông cho người trao cho tướng Trần Quang Diệu của Tây Sơn một bức thư, xin tha chết cho quân sĩ trong thành. Ông sai thuộc hạ lấy rơm củi chất dưới lầu Bát Giác, đổ thuốc súng vào, rồi châm ngòi tự vẫn. Tiếp theo, phó tướng Ngô Tùng Châu cũng dùng thuốc độc tự vẫn. Đó là ngày 27 tháng 5 năm Tân Dậu, tức vào ngày 7 tháng 7 năm 1801.

Khi chiếm được thành, Trần Quang Diệu tỏ ra xúc động trước sự trung dũng của Võ Tánh và Ngô Tùng Châu, sai người tẩm liệm thi hài hai ông tử tế, rồi theo lời yêu cầu của Võ Tánh, không giết hại hàng binh nhà Nguyễn. Than ôi, khi đạo quân xâm lược CSBV chiếm được miền Nam, thử hỏi họ đã đối xử như thế nào với người lính VNCH đã ưng thuận qui hàng.

Trong giai đoạn đầu của lịch sử kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta, có rất nhiều tấm gương tự tử kiêu hùng. Người dân Việt lúc bấy giờ có chính nghĩa sáng ngời là chống ngoại xâm để bảo vệ quê cha đất tổ. Vì thế, họ chiến đấu với một tấm lòng cực kỳ hăng say và không sợ chết.

(Hình: tượng anh hùng Nguyễn Trung Trực ở Rạch Giá) Nguyễn Trung Trực (1839–1868) là thủ lĩnh phong trào khởi nghĩa kháng chiến chống Pháp vào nửa cuối thế kỷ 19 ở miền Nam Việt Nam
Cái chết của Nguyễn Trung Trực trong giai đoạn đầu của công cuộc kháng Pháp còn hiên ngang hùng tráng hơn khi ông bước lên pháp trường bình tĩnh vén tóc gáy và ngửa cổ cho đao phủ chém ngày 27-10-1868 ở Kiên Giang (Rạch Giá). Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn cũng thế. Noi gương tiền nhân, trước lúc bị cộng sản xử bắn ngày 14/8/1975 tại Cần Thơ, vị Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Chương Thiện dõng dạc hô lớn “Ðả đảo cộng sản! Việt Nam Cộng Hòa muôn năm!” Thật chẳng khác nào trường hợp của Nguyễn Thái Học (1902-1930) và mười hai đồng chí của ông ở Yên-bái. Bị giặc bắt xử tử, họ hiên ngang bước lên đoạn đầu đài hô lớn lên mấy tiếng "Việt Nam Muôn Năm!" cho hào khí bay cao ngất trời.

Phan Thanh Giản (1796-1867) là một ông quan đại thần nhà Nguyễn suốt đời tận tụy với non sông đất nước. Năm 1825, ông đậu Cử nhân khoa Ất Dậu. Sau đó một năm, ông đậu đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ khoa Bính Tuất niên hiệu Minh Mạng thứ 7 (1826), vào năm 30 tuổi. Ông là người miền Nam đầu tiên đậu Tiến sĩ khai khoa.

Từ đấy, ông làm quan trải qua ba đời vua là Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức. Ông được triều đình cử làm chánh sứ trưởng phái đoàn điều đình với Pháp để chuộc lại ba tỉnh miền Đông. Ngày 20 tháng 6 năm 1867, Pháp đánh chiếm Vĩnh Long (vốn đã được trao trả triều đình Huế ngày 25 tháng 5 năm 1863), yêu cầu ông gửi mật thư cho thủ thành An Giang và Hà Tiên buông súng đầu hàng. Trước sức mạnh áp đảo của Pháp về mặt quân sự, biết thế không thể giữ nổi, nên để tránh đổ máu vô ích, Phan Thanh Giản đã quyết định trao thành, không kháng cự, với yêu cầu người Pháp phải bảo đảm an toàn cho dân chúng. Thế là chỉ trong 5 ngày (20-24 tháng 6 năm 1867), Pháp chiếm gọn ba tỉnh miền Tây không tốn một viên đạn. Sau khi thành mất ông tuyệt thực suốt 17 ngày, rồi uống thuốc độc tự tử vào ngày 4 tháng 8 năm 1867, hưởng thọ 72 tuổi.

(Hình: Quan phục của tổng đốc Hà Nội Nguyễn Tri Phương do người Pháp lấy sau khi họ chiếm thành Hà Nội. Hiện vật của Bảo tàng Quân sự Pháp tại Les Invalides)
Nguyễn Tri Phương (1800-1873) là một đại danh thần Việt Nam thời nhà Nguyễn. Ông là vị Tổng chỉ huy quân đội triều đình Nguyễn chống lại quân Pháp xâm lược lần lượt ở các mặt trận Đà Nẵng (1858), Gia Định (1861) và Hà Nội (1873). giữ thành Hà Nội anh dũng chống trả đợt tấn công của đại quân Pháp. Năm 1873, Soái phủ Nam Kỳ phái Francis Garnier đem quân ra đánh úp thành Hà Nội. Quân Pháp bất ngờ đánh chiếm vòng phòng thủ bên ngoài của hai cửa phía nam, và vượt qua cầu trước khi quân trú phòng kịp bắn xuống. Đồng thời, pháo từ các pháo thuyền cũng bắn lên, khiến cho binh lính phòng thủ, do không quen với đạn pháo, bỏ chạy tán loạn khỏi thành theo cửa tây. Cùng lúc đó, hỏa lực quân Pháp cũng bắn vỡ cửa nam, và chỉ trong một giờ, quân Pháp đã treo cờ tam tài lên vọng lâu thành Hà Nội.

Con trai Nguyễn Tri Phương là Phò mã Nguyễn Lâm bị trúng đạn chết tại trận, Nguyễn Tri Phương cũng bị trọng thương. Ông được lính Pháp cứu chữa, nhưng ông khảng khái từ chối và nói rằng: "Bây giờ nếu ta chỉ gắng lây lất mà sống, sao bằng thung dung chết về việc nghĩa". Sau đó, ông tuyệt thực gần một tháng và mất vào ngày 20 tháng 12 năm 1873 (1 tháng 11 Âm lịch), thọ 73 tuổi. Thi hài ông và Nguyễn Lâm được đưa về an táng tại quê nhà. Đích thân vua Tự Đức tự soạn bài văn tế cho ba vị công thần (Nguyễn Duy, Nguyễn Lâm, Nguyễn Tri Phương) và cho lập đền thờ Nguyễn Tri Phương tại quê nhà. Tấm gương quên mình vì nước của ông được nhân dân khâm phục, kính trọng, ông được thờ trong đền Trung Liệt (cùng với Hoàng Diệu) trên gò Đống Đa với câu đối:

Thử thành quách, thử giang sơn, bách chiến phong trần dư xích địa
Vi nhật tinh, vi hà nhạc, thập niên tâm sự vọng thanh thiên

Dịch:

Kia thành quách, kia non sông, trăm trận phong trần còn thước đất
Là trời sao, là sông núi, mười năm tâm sự với trời xanh

Hoàng Diệu (1829 - 1882) là một quan nhà Nguyễn trong lịch sử Việt Nam, người đã quyết tử bảo vệ thành Hà Nội khi Pháp tấn công năm 1882, nơi Nguyễn Tri Phương tự tử theo thành chín năm trước. Từ năm 1880 đến 1882, ông đã hai ba lần dâng sớ xin triều đình chi viện để củng cố phòng tuyến chống giặc tại Hà Nội, nhưng không nhận được hồi âm từ Huế. Ông đã chỉ đạo quân dân Hà Nội tử thủ chống lại quân đội Pháp, bất chấp triều đình Huế đã chấp nhận đầu hàng. Ngày 25 tháng 4 năm 1882 (tức ngày 8 tháng 3 năm Nhâm Ngọ), lực lượng Pháp với 4 tàu chiến và 400 binh sĩ dưới quyền chỉ huy của Đại tá Henri Rivière mở đợt pháo kích tấn công. Trong tình thế tuyệt vọng, Hoàng Diệu vẫn tiếp tục bình tĩnh dẫn đầu quân sĩ chiến đấu chống lại quân Pháp dù lực lượng ngày càng yếu đi, không thể giữ được thành nữa. Cuối cùng, Hoàng Diệu đã ra lệnh cho tướng sĩ giải tán để tránh thương vong. Một mình Hoàng Diệu vào hành cung, ông cắn ngón tay lấy máu viết di biểu tạ tội cho vua Tự Đức: “Thành mất không sao cứu được, thật hổ với nhân sĩ Bắc thành lúc sinh tiền. Thân chết có quản gì, nguyện xin theo Nguyễn Tri Phương xuống đất. Quân vương muôn dặm, huyết lệ đôi hàng.” Viết di biểu xong, ông ra trước Võ miếu dùng khăn bịt đầu thắt cổ tự tử, hưởng dương 54 tuổi. Đó là ngày 25 tháng 4 năm 1882.

Nguyễn Khắc Nhu (1882–1930) là một chí sĩ yêu nước Việt Nam thời cận đại. Ông là phó chủ tịch trung ương đảng bộ của Việt Nam Quốc Dân Đảng thời kỳ trước 1930, phụ tá của anh hùng Nguyễn Thái Học. Ngày 9 tháng 2 năm 1930, ông trực tiếp chỉ huy trận đánh tập kích đồn binh Hưng Hoá và phủ lị Lâm Thao. Cuộc tập kích bất thành, bản thân ông bị trúng đạn nhưng vẫn tìm đường trốn thoát. Giữa đường ông dùng lựu đạn tự tử nhưng không chết và bị quân Pháp bắt được. Trên đường giải về trại giam, ông nhảy xuống sông tự trầm, nhưng lại bị quân Pháp vớt được và đem về giam ông tại Hưng Hóa. Tại đây, ngày 11 tháng 2 năm 1930, ông đập đầu vào tường giam tự tử để bảo toàn khí tiết, hưởng dương 49 tuổi.

Ngũ tướng tự sát của QLVNCH

Trong lịch sử chiến tranh hiện đại, biến cố 30-4-1975 và sự quyên sinh của năm vị tướng VHCH và hàng trăm quân cán chính VNCH là một sự kiện biểu hiện tinh thần bất khuất thà chết không hàng giặc vẫn còn tồn tại nơi nòi giống Tiên Rồng. Sự tuẫn tiết của chiến sĩ không phân biệt cấp bậc đền đáng ngưỡng phục như nhau nhưng cái chết của năm vị tướng được chọn như là sự tiêu biểu. Những vụ tự sát tập thể hoặc cá nhân của những chiến sĩ mũ đỏ Nhảy Dù như Thiếu Úy Huỳnh Văn Thái cùng bảy chiến sĩ tại góc đường Trần Quốc Toản và đườngTổng Đốc Phương, Chợ Lớn; Chuẩn Úy Tô Chiêu Minh, Đại Đội 204/Quân Cảnh Nhảy Dù tự sát trước cổng Trường Trung Học Đắc Lộ, Tân Việt gần căn cứ Hoàng Hoa Thám đều đáng cho chúng ta cúi đầu ngưỡng phục.

Thiếu Tướng Phạm Văn Phú (1929-1975), Tư lệnh Quân Đoàn II Vùng II Chiến thuật.

(ĐKG Phạm Thế Trung)
Thiếu Tướng Phạm Văn Phú được bổ nhiệm giữ chức vụ Tư lệnh Quân đoàn II Vùng II Chiến thuật năm 1974. Giữa tháng 4 năm 1975, trong khi lâm bệnh do áp lực căng thẳng và trách nhiệm nặng nề, tướng Phú còn bị vị tổng tư lệnh trách móc và qui tội làm thất thủ Cao Nguyên. Trong tình thế cực kỳ khó khăn này, Thiếu Tướng Phú phải đương đầu với nhiều vấn đề sinh tử có tầm vóc quốc gia vượt ra khỏi quyền hạn nhỏ bé của ông. Ông bị đổ lỗi cho việc thất thủ của Ban Mê Thuột và bị bắt buộc tuân lệnh rút quân, thậm chí đặt ông vào tình trạng bất khiển dụng vì lý do sức khỏe ngay trong ngày 14.3.1975, hai ngày trước khi Quân Đoàn II rút quân ra khỏi cao nguyên. Thiếu Tướng Phú đau lòng theo dõi các mũi tiến quân của địch như  vết dầu loang nhanh chóng thấm đỏ hết hai phần ba lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Người biết cái sinh mạng nhỏ bé của mình cũng co ngắn lại cùng với số mệnh của đất nước. Rồi khi những chiếc khăn rằn và những chiếc áo màu xanh rêu mốc đã tràn ngập khắp phố phường Sài Gòn trong ngày 30.4.1975, người chọn cái chết lưu danh thanh sử bằng cách uống độc dược để tỏ rõ ý chí bất khuất của người làm Tướng và chứng tỏ cho đối phương biết rằng họ có thể chiếm được đất nhưng không có thể quy phục được tiết tháo của những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam (1927 – 1975), Tư Lệnh Quân Đoàn IV Vùng IV Chiến Thuật.

(ĐKG Phạm Thế Trung)
Theo một bài viết của tác giả Phạm Phong Dinh, Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam là một Phật tử thuần thành ăn chay 15 ngày mỗi tháng, cố gắng tôn trọng những giới cấm, tránh phạm giới sát sanh hại vật nhưng vẫn chu toàn bổn phận của một quân nhân cầm súng chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Ông có một nếp sống thanh bạch giản dị, không vợ con, không nhu cầu vật chất xa hoa, sống đơn giản đến mức trở thành giai thoại. Khi lệnh buông súng đầu hàng được ban ra, Quân Khu IV và Vùng Bốn Chiến Thuật VNCH hầu như còn nguyên vẹn lực lượng. Các tướng lãnh chỉ huy quá ngỡ ngàng. Một mặt họ phải tuân lệnh thượng cấp nhưng một mặt tinh thần dũng tướng khiến họ khó có thể chịu đầu hàng một cách nhục nhã như vậy. Ðại cuộc không thành, thành mất thì tướng phải tuẫn tiết theo thành. Trong khi Sài Gòn bỏ ngõ đầu hàng thì Cần Thơ vẫn tương đối an ninh. Kế hoạch hành quân đã thảo xong. Vũ khí đạn dược sẳn sàng. Tất cả đều chuẩn bị cho các cánh quân di chuyển, sẽ đưa về các tuyến chiến đấu. Kế hoạch di quân, phản công, và bắt tay nằm trong lệnh mật hành quân đó. Vùng Bốn có nhiều địa thế chiến lược, có thể kéo dài chiến cuộc thêm một thời gian. Cho đến ngày 29 tháng 4 năm 1975, chưa có một đồn bót nào, dù ở quận lỵ xa xôi hẻo lánh của Vùng Bốn lọt vào tay giặc Cộng.

Phạm Phong Dinh thuật lại như sau: “Thiếu Tướng Nam lên xe đi vào Quân Y Viện Phan Thanh Giản Cần Thơ thăm những chiến hữu thương binh của người lần cuối cùng. Mối thương cảm vận nước đến hồi đen tối, chiến hữu gãy súng và thương phế binh chắc chắn sẽ bị quân địch tàn nhẫn đuổi ra nằm lê la trên hè phố bụi đất với những vết thương còn lở lói và rướm máu, đã làm cho đôi mắt của người sưng húp lên. Ðến tối Thiếu Tướng Nam quay trở về dinh Tư Lệnh nằm bên bờ con sông Cái Khế và nhận được tin Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó Quân Khu IV đã nổ súng tuẫn tiết trong văn phòng tại trại Lê Lợi. Ðến nửa đêm, Thiếu Tướng Nam trân trọng vận bộ lễ phục trắng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, với ngù vai, dây biểu chương, huy chương các loại gắn trên ngực áo, nghiêm chỉnh ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế sau bàn Tư Lệnh. Rồi người đưa súng bắn vào màng tang, đầu người gục xuống về phía trái. Ngày hôm sau, các sĩ quan còn ở lại Bộ Tư Lệnh đã đứng nghiêm chào người anh hùng rồi an táng thi thể người trong Nghĩa Trang Quân Ðội Cần Thơ.”

Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ (1933-1975), Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh.

(ĐKG Phạm Thế Trung)
Sáng ngày 30 tháng 4, Tổng thống VNCH ra lệnh cho quân đội buông súng đầu hàng. Tướng Vỹ triệu tập sĩ quan và binh sĩ dưới quyền lần cuốị Bộ Tư Lệnh SĐ5BB ở Lai Khê Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Ông tuyên bố: “Vì tôi là tướng chỉ huy mặt trận, tôi không thể thi hành được lệnh nàỵ Tôi nghĩ thân làm tướng, phần nào đã hưởng vinh dự và ân huệ của quốc gia hơn các anh em, nên tôi phải chọn lấy con đường đi cho riêng tôi." Đoạn ông bình tĩnh bước ra sân, nghiêm trang đứng dưới cột cờ của Bộ Tư Lệnh, và rút súng ra tự sát. Lúc đó là 11 giờ sáng 30 tháng 4 năm 1975.

Nguyễn Văn Hải, Cựu Thiếu tá Quận Trưởng Quận Phú Giáo, Tỉnh Bình Dương kể lại giờ phút cuối của Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ như sau:

“Khoảng hơn một tháng trước 30 tháng 4 năm 1975, Tướng Vỹ có dặn tôi hãy chuẩn bị một số người lính trung thành để đưa ông và tôi đi. Tôi đoán biết sẽ đi Vùng 4 Chiến Thuật để tiếp tục chiến đấu, vì ở đó có Tướng Hưng, Tướng Nam là những người Tướng Vỹ có thể tin tưởng được. Tướng Vỹ mỉm cười nhìn chằm-chặp vào tôi, nhắc lại y như trên một lần nữa và thêm: “Coi chừng tiêu đó Hải”. Nói xong ông quay lưng bỏ đi ngay. Câu trả lời của Tướng Vỹ đã làm tôi hoàn toàn thất vọng. Tôi có cảm giác bị bỏ rơi và nghĩ hay là Tướng Vỹ đã có trực thăng sẵn sàng bốc ông rồi. Tôi lại nghi oan cho ông lần nữa. Không đầy một phút sau, tôi giật mình vì nghe có tiếng súng nổ. Tôi thấy Đại uý Nguyên tùy viên của Tướng Vỹ chạy ra nói lớn như khóc: ”Tướng Vỹ đã tự sát rồi!”

Tôi trách Đại úy Nguyên: ”Sao anh không tìm cách dấu súng của ông Tướng trước đi!” Đại úy Nguyên trả lời: ”Tôi biết ông có 6 khẩu súng cả thảy, tôi đã dấu hết, khẩu ông dùng để tự sát, tôi không biết ông lấy ở đâu.” Viên đạn súng colt đã xuyên từ cổ lên đầu Tướng Vỹ làm ông ra đi ngay. Tôi và Trung tá Vượng đã vào chào ông lần cuối. Cả hai chúng tôi sau đó đã bị VC bắt giữ và đi tù ngay cùng chiều hôm 30 tháng 4 năm 1975. Sau này tôi có nghe nhiều người nói rằng khi tên chỉ huy VC vào căn cứ Lai Khê thấy Tướng Vỹ tự sát đã tỏ lòng khâm phục và nói: ”Làm Tướng chết theo thành như Tướng Vỹ mới xứng đáng làm Tướng”.

Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng (1933 – 1975), Tư Lệnh Phó Quân Đoàn IV Vùng IV Chiến Thuật.

(ĐKG Phạm Thế Trung)
 Ông từng là vị anh hùng tử thủ An Lộc đẩy lui sự tấn công vây hãm ròng rã suốt 68 ngày của bốn sư đoàn CSBV, vang danh quân sử Việt Nam và chiến sử thế giới và được xưng tụng là một trong những con mãnh hổ dũng cảm nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Phu nhân Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng kể lại những giây phút cuối của chồng như sau:

“Vâng lệnh Hưng, tôi mời tất cả binh sĩ còn tụ họp dưới nhà lên văn phòng. Mọi người đứng xếp hàng nghiêm trang và vô cùng cảm động. Giờ phút tử biệt giữa những người từng bao ngày sống chết bên nhau. Hưng dõng dạc nói: “Tôi không bỏ các anh và đưa vợ con trốn sang ngoại quốc. Như các anh đã biết, cuộc hành quân chưa chi đã bị gẫy đõ nữa chừng. Tôi không phản công vào phút chót là vì dân chúng. Tôi không muốn Việt Cộng pháo kích bừa bải, biến Cần Thơ thành An Lộc thứ hai. Tôi cũng không chịu nhục đầu hàng. Các anh đã từng cộng tác với tôi, những lúc các anh lầm lổi, tôi rầy la. Rày la không có nghĩa là ghét bỏ. Rày la để mến thương nhau, để xây dựng nhau. Mặc dầu đất nước ta bị bán đứng, bị dâng cho Cộng Sản, nhưng các anh không trực tiếp chịu tội với quốc dân. Chính những người trực tiếp nắm vận mệnh các anh, mới chính là những kẻ trọng tội. Xin các anh tha thứ cho tôi những lỗi lầm nếu có. Tôi bằng lòng chọn cái chết.  Tướng mà không giữ được nước, không bảo vệ được thành, thì phải chết theo thành theo nước, chớ không thể bỏ nước, bỏ dân trốn chạy, cầu an. Tôi chết rồi các anh hãy về với gia đình, vợ con. Nhớ rõ lời tôi căn dặn, đừng bao giờ để Cộng Sản tập trung các anh, dù tập trung với bất cứ hình thức nào. Tôi có lời chào vĩnh biệt các anh.” Có tiếng súng nổ. Tiếng nổ nghe chát chúa. Tôi đưa tay xem đồng hồ: 8 giờ 45 tối ngày 30 tháng 4 năm 1975. Ngày kết liễu cuộc đời chúng tôi. Lê Văn Hưng, anh đã chết.”

Chuẩn Tướng Trần Văn Hai (1929 – 1975), Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh kiêm Chỉ Huy Trưởng Căn Cứ Đồng Tâm.

(ĐKG Phạm Thế Trung)
Chuẩn Tướng Trần Văn Hai đã từng giữ các chức vụ Chỉ Huy Trưởng Binh Chủng Biệt Động Quân, và cũng từng làm Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia. Theo lời kể của Trung úy Huỳnh Văn Hoa, sĩ quan tùy viên của tướng Trần Văn Hai, trước ngày 30.04.1975 một tuần lễ, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu có phái một chiếc trực thăng xuống căn cứ Đồng Tâm đón chuẩn tướngTư Lệnh về Sài Gòn nhưng ông đã từ chối, chỉ cho vợ con về thôi. Trung Úy Hoa kể rằng sau khi nghe lệnh đầu hàng, vị tư lệnh cho họp các sĩ quan tham mưu của BTL/SĐ7 tại Căn Cứ Đồng Tâm để ban huấn thị, ngỏ lời cám ơn cùng chào từ giã, ra lịnh cho tất cả mọi người trở về gia đình thu xếp cho vợ con, tránh đụng độ với quân địch đổ máu vô ích.

Đúng 03:00 giờ chiều tại văn phòng của vị Tư Lệnh, người sĩ quan tùy viên thấy chuẩn tướng Tư Lệnh ngồi im cúi đầu trầm tư như pho tượng gỗ. Một lúc sau ông ra dấu cho người tùy viên ngồi xuống chiếc ghế dành cho khách đặt trước bàn làm việc của ông. Trung úy Hoa kể rằng chuẩn tướng Hai nói "Anh cám ơn em đã ở bên cạnh anh trong giờ phút cuối cùng này. Vận nước đã đến hồi như vậy, không thể làm gì hơn được. Là quân nhân chúng ta phải tuyệt đối chấp hành lịnh thượng cấp" và nhờ đưa lại một gói quà cho mẹ và vợ con của ông ở Sài Gòn, xong cho phép người tùy viên lui ra và chờ lệnh. Đến 06 giờ chiều, trung úy Hoa vẫn không nghe thấy vị Tư lệnh gọi nên nôn nóng trở lại văn phòng Tư Lệnh thì đã thấy Chuẩn tướng Trần Văn Hai ngồi gục đầu mê man trên bàn làm việc. Một ly rượu lớn đã cạn còn ở trên bàn. Trung úy Hoa kể: “Tôi biết điều gì đã xảy ra... Tôi cấp tốc liên lạc với tiểu đoàn Quân Y và bệnh xá Sư Đoàn. Lúc ấy còn một vị thiếu tá bác sĩ ở bệnh xá. Tôi liền trình bày nhanh qua điện thoại tình trạng của chuẩn tướng Tư Lệnh. Chờ một lúc sau, ông thiếu tá bác sĩ lái chiếc xe jeep cứu thương đến văn phòng Tư Lệnh. Chúng tôi đặt chuẩn tướng Tư Lệnh nằm trên băng-ca và chở xuống bệnh xá Sư Đoàn ngay. Lúc này ông đã mê man bất tỉnh. Tại bệnh xá, sau một hồi tận lực cấp cứu, vị thiếu bác sĩ buồn rầu báo cho tôi biết, vì thuốc độc đã ngấm vào máu khá lâu, Chuẩn tướng Tư Lệnh đã không qua được cơn nguy kịch...”

Quan niệm tự sát vì nước trong thời cổ đại

Quan niệm quyên sinh vì tổ quốc đã có từ thời cổ đại. Người La Mã  hoàn toàn chấp nhận và ca ngợi hành động tự tử vì lòng yêu nước, xem đó như là một sự thay thế  chính đáng cho sự ô danh. Trường phái triết học Stoics của Hy Lạp cổ đại được triết gia Zeno khởi xướng tại Athens trong đầu thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên cho rằng cảm xúc tiêu cực là kết quả của những sự sai lầm trong phán đoán, và một nhà hiền triết hoặc một người hoàn thiện đạo đức và trí tuệ không nên cảm xúc như vậy. Stoics chủ trương khắc kỷ và vị tha, hy sinh quyền lợi cá nhân cho tập thể. Đối với quan niệm triết học Stoics này, cái chết là một bảo đảm tự do cá nhân, một lối thoát khỏi sự hiện hữu không thể chịu đựng được nữa trên cõi đời.

Trong thời này, tự tử đôi khi xảy ra sau một cuộc bại trận để tránh bị bắt giam, bị bắt làm nô lệ hoặc bị tra tấn sau đó. Chẳng hạn như Brutus và Cassius của La Mã đã tự tử sau khi thất bại tại trận chiến Philippi. Và những người Do Thái nổi dậy đã tự sát tập thể tại Masada vào năm 74 để khỏi phải bị quân La Mã bắt làm nô lệ.

Hannibal (247 BC– 183 BC)  người Carthage được công nhận là một trong những vị tướng và nhà chiến thuật tài ba nhất trong lịch sử quân sự thế giới. Thành tựu nổi bật nhất của ông là trong trận chiến tranh Punic lần thứ hai, Hannibal đã dẫn một đội quân có voi trận từ Iberia qua 2 dãy núi Pyrenees và Alps để xâm nhập vào Bắc Ý. Hannibal đã đánh tan tác quân La Mã trong hàng loạt cuộc chiến, trong đó bao gồm những trận chiến tại Trebia , Trasimene và Cannae. Nhưng về sau, quân La Mã phản công, Hannibal bị các thế lực chính trị gây khó và bị phản bội đem nộp cho những người La Mã. Để bảo toàn danh dự Hannibal đã uống thuốc độc tự sát.

Marcus Antonius (83 TCN - 30 TCN) cũng được biết đến qua tên Anh ngữ là Mark Antony, là một chính trị gia và một thống chế La Mã. Ông là một người ủng hộ quan trọng và là một người bạn trung thành của Gaius Julius Caesar như là tướng lĩnh quân đội và là người thừa kế tài sản trở thành một người cháu thứ 2 của Ceasar. Sau vụ ám sát Ceasar, Antonius chính thức thành lập một liên minh chính trị với Octavian (Augustus) và Marcus Aemilius Lepidus, được biết đến trong lịch sử ngày nay với tên chế độ tam đầu chế II. Chế độ này bị phá vỡ vào năm 33 TCN. Bất đồng giữa Octavian và Antony nổ ra cuộc nội chiến kéo dài trong hai năm và kết thúc Cộng Hòa La Mã vào năm 31 TCN. Antonius bị đánh bại bởi Octavian tại trận thủy chiến Actium và tại trận đánh quyết định bên ngoài Alexandria. Ông buộc phải tự tử và người tình của ông, nữ hoàng Ai Cập Cleopatra, cũng tự sát ngay sau đó.

Thà chết chứ không hàng trong hai cuộc thế chiến

Aleksandr Vassilievich Samsonov (1859 – 1914)   là vị tướng chỉ huy quân sự của quân đội Đế quốc Nga, từng tham gia Chiến tranh Nga-Nhật và Thế chiến thứ nhất. Ông tự sát sau thất bại của quân Nga trong trận Tannenberg. Khi Thế chiến thứ nhất bùng nổ, Samsonov được giao quyền chỉ huy Tập đoàn quân số 2 Đế quốc Nga thực hiện cuộc tấn công vào Đông Phổ của Đức vào đầu tháng 8 nhằm làm giảm áp lực cho nước Pháp ở mặt trận phía Tây. Samsonov tấn công từ Ba Lan tiến về phía tây nam nhằm phối hợp với Tập đoàn quân số 1 của tướng Paul von Rennenkampf tấn công từ đông bắc. Tuy nhiên sự liên lạc yếu kém cùng những mâu thẫn của hai vị tướng vốn bắt nguồn từ trận Mukden trong Chiến tranh Nga-Nhật nên hai cánh quân này đã không có sự phối hợp cần thiết và sau đó đã dễ dàng bị Đức đánh bại nhờ giải mã được những công điện mật của quân Nga.

Sau khi quân Đức rút khỏi Đông Phổ, Paul von Hindenburg và Erich Ludendorff đã được đưa đến thay thế Maximilian von Prittwitz chỉ huy Tập đoàn quân số 8 Đức. Hai vị tướng này nhanh chóng lập ra một kế hoạch bao vây Tập đoàn quân số 2 Nga và đến ngày 29 tháng 8, kế hoạch này đã hoàn toàn thành công, Tập đoàn quân số 2 Nga đã bị nhốt chặt tại Tannenberg.

Samsonov tìm mọi cách để rút lui nhưng giờ đây tập đoàn quân của ông đã bị vòng vây tập đoàn quân số 8 Đức siết chặt. Vào ngày 30 tháng 8 khi trận Tannenberg kết thúc, chỉ còn 10.000 trong tổng số 150.000 quân Nga thoát được, số còn lại bị giết hoặc bị bắt làm tù binh. Đây được xem là một thảm họa của quân Nga ngay khi chiến tranh vừa bắt đầu. Choáng váng vì thất bại và không còn mặt mũi nào để báo tin về thất bại này cho Sa hoàng Nikolai II, Samsonov đã quyết định rút súng tự bắn vào đầu tại Willenberg vào ngày 29 tháng 8 năm 1914.

Trong Thế chiến II, các đơn vị Nhật Bản thường  chiến đấu đến người lính cuối cùng hơn là đầu hàng. Trong tuyệt vọng khi cuộc chiến tranh sắp đến hồi kết thúc, hải quân Nhật Bản đã gửi những phi công Thần Phong quyết tử tấn công tàu Đồng minh. Chiến thuật này mang đậm ảnh hưởng của văn hóa chiến binh hiệp sĩ Nhật vốn xem việc mổ bụng tự sát là điều cần thiết để bảo vệ danh dự và tránh sự đầu hàng nhục nhã. Quan niệm đó cũng một phần cho thấy lý do tại sao Nhật Bản đối xử tù nhân chiến tranh khá gay gắt. Trong cái nhìn của người Nhật, sự đầu hàng thay vì chiến đấu cho đến chết cho các chiến sĩ phe Đồng Minh chứng tỏ đối phương không xứng đáng được đối xử với danh dự. Chính vì lý do đó, tại mặt trận Tân Gia Ba, quân đội Nhật đã xử tử một toán phi công Úc, không phải do lòng thù hận mà trái lại, do lòng ngưỡng mộ tinh thần chiến đấu dũng cảm của toán phi công Úc đó.

(Hình: Một toán TQLC Mỹ đang làm lễ hạ huyệt có phủ cờ Nhật cho Trung Tướng Yoshige Saito sau khi đã tìm thấy thi hài ông trong một hang động trên đảo Saipan)
Trong trận tấn công đảo Saipan mở màn ngày 13-6-1944, lực lượng Hoa Kỳ nả hàng trăm ngàn đạn pháo trước khi tung hai sư đoàn TQLC và Bộ Binh đổ bộ lên đảo tạo áp lực tấn công liên tục cho quân trú phòng Nhật. Ngày 7 tháng 7, quân Nhật không còn đường lùi. Trung Tướng Yoshitsugu Saito ra lệnh cho những người lính lành lặn còn lại của ông-khoảng 3000 người-tự sát, sau đó ông cũng tự vẫn. Hàng trăm thường dân Nhật cũng tự sát trong những ngày cuối của trận chiến. Trong đó, một số nhảy xuống hai vực sâu (Suicide Cliff, Vực đá tự sát và Banzai Cliff, Vực đá vạn tuế). Những nỗ lực của lính Mỹ nhằm thuyết phục họ đầu hàng thay vì tự sát đa số không có hiệu quả.

Khi Hoàng Đế Chiêu Hòa của Nhật Bản tuyên bố đầu hàng Phe Đồng Minh ngày 14/8/1945, hơn năm trăm sĩ quan quân đội Nhật hoàng chọn lựa tự tử theo tinh thần hiệp sĩ đạo để khỏi mang lấy mối nhục qui hàng và bị mang ra xét xử.

Chỉ mấy tháng trước đó, trận đánh trên đảo Okinawa còn đang diễn ra ác liệt và kinh hoàng gây thương vong cho hàng trăm ngàn chiến binh.

(Hình: Đài tưởng niệm Nền Tảng Hòa Bình có khắc tên của 240,931 chiến binh hai bên tử trận trong trận chiến Okinawa.)
Ngày 11 tháng 6, sư đoàn 6 TQLC Hoa Kỳ đã bao vây toàn bộ quân Nhật tại một vị trí phòng thủ.Thiếu tướng Minoru Ota, sĩ quan chỉ huy cao cấp nhất ở đó của Nhật đã gửi điện tín vĩnh biệt đến Sở chỉ huy Quân đoàn 32 Nhật vào lúc 16 giờ ngày 12 tháng 6. Ngày 13 tháng 6, Ota đã cùng 6 sĩ quan tham mưu rạch bụng tự sát.

Chiều ngày 15 tháng 6, trong một hang động lớn, đại tá Kanayama, trung đoàn trưởng trung đoàn 27 bộ binh tập hợp 102 người còn lại của trung đoàn. Ông ta làm lễ đốt quân kì trung đoàn và nói: “Trong ba tháng vừa qua, anh em đã cùng tôi chiến đấu. Lòng dũng cảm, chí hi sinh, sức chịu đựng của anh em, lịch sử sẽ khắc sâu. Nay tôi nói lời cám ơn anh em đã phục vụ quên mình. Giờ đây, tôi tuyên bố giải thể trung đoàn. Từ nay trở đi, anh em không còn bị ràng buộc, tôi lãnh trách nhiệm về việc này. Riêng tôi, tôi sẽ vĩnh viễn ở lại đây. Nhưng tôi cấm anh em theo tôi. Ra lệnh cho anh em phải sống để kể lại cho hậu thế biết quân đội Nhật Bản đã anh dũng chiến đấu như thế nào ở Okinawa.” Đoạn ông ta rút gươm mổ bụng tự sát. Đại úy Sato chặt đứt đầu đại tá Kanayama theo đúng nghi thức và hô to Thiên Hoàng vạn tuế rồi chĩa súng lục vào đầu bóp cò tự sát.

Cũng trong ngày 21 tháng 6, trong chỉ huy sở của mình tại Mabumi, Tướng Ushijima và mọi người đều hớt tóc, cạo râu. Sau đó ông viết thư trình lên Thiên hoàng Hirohito báo cáo về tình hình chiến sự tại Okinawa và tạ tội không giữ được đảo. Thư được điện về Bộ tổng tham mưu quân đội Hoàng gia tại Tokyo. Cuối cùng, ông nói với đại tá Yahara: “Này Yahara, tôi và ông chắc sẽ mổ bụng tự sát. Nhưng tôi ra lệnh cho ông ở lại. Nếu ông chết, sau này còn ai có thẩm quyền để kể lại về trận chiến Okinawa này. Mặc dù sống sau khi thua trận là nhục nhã, nhưng tư lệnh của ông ra lệnh cho ông phải chịu cái nhục này. ”

Chiều ngày 22 tháng 6, tướng Ushijima và tướng Cho quỳ gối hướng về phía Hoàng cung vái ba vái và tiến hành lễ tự sát. Tướng Cho đưa cổ cho đại úy Sakaguchi chém đầu. Tướng Ushijima lấy gươm tự mổ bụng, tiếp theo đó bảy sĩ quan tham mưu cùng tự sát.

(Hình: Tượng đắp nổi của nhà điêu khắc Okinawa Kinjo Minoru mô tả sự khủng khiếp của trận Okinawa, trong đó nhiều người dân Okinawa đã bị giết hoặc bị buộc phải tự tử sau khi đã trốn trong các hang động trên đảo.)

Kết luận
Có một điều khác biệt quá rõ ràng giữa năm vị tướng QLVNCH tuẫn tiết và những trường hợp thà chết không hàng giặc còn lại trong bài này. Đó là sự an vị mộ phần xứng đáng với lăng tẫm, với đền thiêng hay đài tưởng niệm uy nghiêm. Tàn cuộc binh đao, đối phương thắng trận dành cho kẻ cựu thù sự kính trọng bằng tinh thần thượng võ. Tiếc thay, năm vị tướng và quân dân VNCH không nhận được sự đối xử nhân bản đó bởi người cộng sản chiến thắng. Nghĩa trang quốc gia của VNCH bị cố tình để cho tàn rụi với mưa gió phong sương và đi vào trong quên lãng của thời gian. Do đó, việc xây dựng một đài tưởng niệm cho năm vị tướng anh hùng đó và những tử sĩ miền Nam chỉ còn có thể trông chờ vào chính công sức của tập thể người Việt lưu vong mà thôi.

Phan Hạnh

Tài liệu tham khảo:

http://www.vietlandnews.net/forum/showthread.php/16709-T%E1%BB%95-Qu%E1%BB%91c-Ghi-%C6%A0n/page3
http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%ADn_chi%E1%BA%BFn_%C4%91%E1%BA%A3o_Saipan
http://tuonglanhqlvnch.skyrock.com/
http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%ADn_Okinawa
http://forum4.aimoo.com/aitubinhdien/SINH-VI-T-NG-T-VI-TH-N/Nh-ng-V-T-ng-Anh-H-ng-Tu-n-Ti-t-c-a-Qu-n-L-c-Vi-t-Nam-C-ng-H-a-1-14010.html
http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_military_commanders
http://www.nguyenkhoanam.com/tam_tu3.html
http://www.vlink.com/nlvnch/tvh/tvhai.html
http://hon-viet.co.uk/TuongLeNguyenVy_chetTheoThanh.htm
http://news.vnqconline.com/Lich_Su/Lich_Su_005.html
---------

http://www.lyhuong.net/uc/index.php/bandoc/1819-1819
Buy cheap web hosting service where fatcow web hosting review will give you advices and please read bluehost review for more hosting information.

BA MƯƠI SÁU NĂM QUA


Kính chào ông Lê Hiển Dương - (tiến sĩ, cựu hiệu trưởng Đại Học Đồng Tháp),
Thưa Ông, bài báo ngày đầu năm 2012 vô tình tôi được đọc là bài “GIẢI PHÓNG” Nỗi kinh hoàng của người dân Nam Việt, bài viết này là của Ông. Bài được đăng trên Hải ngoại phiếm đàm Online ngày 05/01/2012, cuối bài viết có ghi trọn vẹn tên tác giả cùng học vị và chức vụ. Học vị cùng chức vụ và nhất là qua bài viết của ông, cho tôi biết ông đã một thời là cán bộ giáo dục của nhà nước cộng sản hiện thời Việt Xã Nghĩa, còn tôi cũng xin vài dòng được nói về mình. Tôi một người tù mà các người cộng sản chiến thắng, gọi xách mé là sĩ quan Ngụy của 36 năm trước, trên bước đường tù biệt xứ đã hai lần, tôi đươc hân hạnh đi ngang qua thành phố Vinh của ông. Khi chúng tôi đọc xong bài của ông viết, tôi biết ông là người như thế nào, những gì ông suy nghĩ khiến chúng tôi mến ông, và thấy cần phải viết vài dòng xin được thưa chuyện cùng ông, những dòng chữ đậm là tôi xin phép ông được ghi lại những gì ông đã viết.

Không dấu gì ông, ban đầu sau khi đọc xong bài ông viết, tôi định cho nó qua, nhưng câu kết của ông như níu tôi lại, khiến tôi thấy nên nói chuyên với ông thì quí hơn, vì mấy khi ta gặp được người như ông. Ông Dương ạ câu kết ông viết Chẳng biết người dân Việt nam từ nay còn dùng cụm từ “trước ngày giải phóng” hay “ sau ngày giải phóng” để định mốc thời gian nữa không… Riêng tôi, tôi cảm thấy quá căm thù nhân loại bởi đã bịa ra từ ngữ “giải phóng” mà chi để dân Việt chúng tôi vì nó mà phải khổ lụy đến dường này. Câu này làm tôi thấy chúng ta tuy là kẻ Nam người Bắc, nhưng vô tình lại chung phận là nạn nhân, nạn nhân của kẻ bợm, chúng sống bằng sự lừa lọc dối trá, sự trí trá đó khiến biết bao người “sinh bắc tử nam” mất con, mất chồng, mất cha, mất anh mất em bởi họ đã vào chiến trường và không bao giờ trở về nữa”.

Đó là phần không may cho dân miền Bắc, còn miền Nam như ông thấy đó và ông đã viết “là tù đày, là cải tạo nơi rừng thiêng nước độc, là mất vợ mất con, mất nhà cửa ruộng vườn, mất bao nhiêu người thân trên biển cả và mất hết tự do dân chủ nhân quyền và mất luôn cả tổ quốc!”. Để rồi những kẻ bợm CS đó chúng đoạt lấy tất cả, những gi của người dân hai miền Nam-Bắc nước ta, từ cơ bản quyền làm người đến của cải vật chất, chúng dìm đời sống người dân cả nước xuống tận bùn đen, còn sự tồn vong của đất nước thì đang trong tình trạng treo chỉ mành. Trong những cái chúng cướp đoạt của đất nước, có cả 16 tấn vàng là số vàng thuộc tài sản quốc gia, mà chính phủ VNCH để lại, chúng đã chia chác nhau số vàng này, và cái tận cùng bỉ ổi là chúng lại tuyên truyền là chính quyền miền nam đã lấy số vàng đó. Nhưng nay tất cả người dân VN đều biết như ông viết, kẻ lấy số vàng 16 tấn không ai khác hơn là 16 tên chóp bu bộ chính trị CSVN “Giải phóng miền nam” thực sự có mang lại niềm vui, niềm hạnh phúc vô biên và cả sự thịnh vượng nữa với gia sản có thể đột ngột tăng lên cả 16 tấn vàng ròng… nhưng tất nhiên chỉ cho một thiểu số trong xã hội, chỉ chừng 16 người trong tổng số non 50 triệu dân lúc bấy giờ thôi…”, Cám ơn ông thật nhiều Ông Lê Hiểu Dương ạ, sự thực cuối cùng vẫn là sự thực.

Sau ngày 30 tháng 04 năm 75, trước khi chúng tôi bị đưa ra miền bắc để lưu đày, các “ông cộng sản” đã nói với chúng tôi về thiên đường cộng sản xã hội chủ nghĩa miền bắc như sau: Miền Bắc XHCN không có người nghèo kẻ giàu, không có nhà cao tầng, và cũng không có nhà lá, tất cả đều nhà gạch giống như nhau, ý nói kiểu nhà cư xá hay chung cư,- Không có kẻ rách rưới, mà kẻ khác thì dư thừa tơ lụa, tất cả đều bận kaki Nam định thoải mái. Miền bắc XHCN vật chất thì nhiều vô kể, không thiếu một thứ gì, còn trong Nam toàn thể dân chúng, và ngay cả trong trại, tất cả mọi người phải sống trong khó khăn thiếu thốn, đó là do tàn dư của chế độ tư bản Mỹ Ngụy để lại, rồi đây miền Bắc sẽ chi viện cho miền Nam(?). Nghe nói vậy cũng có nhiều anh em tù tin, xã hội cộng sản mà, tất cả đều bình đẳng, cái ăn, cái mặc, cái ở đều như nhau, chủ thuyết của Mác Lê, chả mong muốn xây dựng một nhà nước, một xã hội theo mô hình như thế là gì (!).

Nhưng cũng như ông nói, ông nhận ra sự thật khi vào nam, “Chúng tôi đi từ choáng ngợp này đến choáng ngợp khác, bởi đây là lần đầu tiên chúng tôi biết được thế nào là lavabo là hố xí tự hoại, bởi cả thành phố Vinh, cả tỉnh Nghệ An chúng tôi hay thậm chí cả miền Bắc XHCN lúc bấy giờ chỉ sử dụng hố xí lộ thiên, để còn dùng nguồn “phân Bắc” này để canh tác, để tăng gia sản xuất theo sáng kiến kinh nghiệm cấp nhà nước của đại tướng Nguyễn Chí Thanh”. Thì sự thật phũ phàng cũng đến với chúng tôi, khi chúng tôi vượt qua cầu Hiền Lương, trên bước đường lưu đày lên mạn ngược, lần đó qua cầu Hiền Lương là vào khoảng 10 giờ sáng, đây đất Đồng Hới nào thấy đâu nhà gạch, Quảng Bình quê ta nào thấy đâu giàu đẹp. Cả một vùng xác xơ đều khắp với những mái tranh vách đất tiêu điều, dọc đường thỉnh thoảng một vài ngôi nhà xây, đấy là những nhà gạch duy nhất mà chúng tôi thấy, nhìn kiểu dáng kiến trúc cho thấy chúng đã có từ thời Pháp. Cái nhiều mà chúng tôi thấy được trên chuyến đi là khẩu hiệu, suốt chuyến đi hai bên đường không biết cơ man nào là khẩu hiệu, đều là khẩu hiệu màu đỏ máu, chữ vàng, to có nhỏ có, dài có ngắn có, ca ngợi hết lời tình hữu nghị Việt Hoa, như răng với môi, như anh với em, tình đồng chí đời đời bền vững. Ngoài ra cũng không ít những cái suy tôn họ Hồ, họ Mao, Các Mác, Lê Nin, tất cả các chữ dao to búa lớn như vĩ đại, vô địch, quang vinh.v.v…đều được đem ra dùng tối đa.

Cũng ngay trong lần đầu diện kiến dung nhan thiên đường cộng sản đó. Xe vừa vào tới Đồng Hới, thì đậu tập trung chờ lịnh bên đường, tình cờ giờ tan trường, những trẻ học trò tò mò đứng nhìn đoàn xe bít bùng. Học sinh là mầm non đất nước, tương lai của cả một dân tộc, mà dường như những đứa trẻ này, thiếu ăn như lủ tù chúng tôi hay sao?, mà nhìn chúng gầy và xanh quá, quần áo chúng luộm thuộm rách rưới. Vậy mà chúng lại đang sống trong cái thiên đường XHCN, do đảng cộng sản quang vinh tể trị… cái khăn quàng màu máu trên cổ chúng, nói thêm một điều nữa, Chúng là cháu ngoan họ Hồ. Chúng đang học tập và theo gương Bác vĩ đại của chúng, nhưng không hiểu lý do gì mà nhìn chúng thảm quá, như phường ốm đói. Đấy ông Dương thấy không, tôi có khác mấy chi ông khi ông đặt chân vào miền Nam như ông nói, “Chúng tôi thực sự choáng ngợp khi xe qua khỏi vùng chiến sự Quảng Trị, đến Huế, đến Đà Nẵng.. rồi Nha Trang, Sài Gòn rồi về Miền Tây, đến thị trấn Cao Lãnh, đâu đâu cũng lầu đài phố xá chứ có tường đất mái tranh như ở thành phố Vinh chúng tôi đâu!”.

Ông Lê Hiển Dương mến, quê ông là Vinh, quê ngoại tôi cũng là Vinh, nhưng tôi không sống ở đó, tôi chỉ được cái hân hạnh đi ngang qua thành phố Vinh hai lần, năm 1975 trong lúc chuyển tù từ nam ra bắc. Và năm 1981 sau khi TQ đánh vùng phía bắc sáu tỉnh biên giới, chúng tôi đựơc di dần vào trong, chuyến xuôi nam bất đắc dĩ, mà nhà nước cộng sản không muốn tí nào, tôi biết chắc như thế. Họ muốn chúng tôi phải vùi thân nơi núi rừng tây bắc họ mới vui, lý do gì thì ông thừa biết phải không ông Dương, những gì ông nói ra cho thấy ông rất thành thật, vì những gì ông làm cho chúng tôi tại Vinh. Thì tại các nơi khác người dân nơi ấy cũng làm theo một cách như ông, vì đó là chính sách chung của Đảng, ông ném đá thì họ cũng ném đá, thậm chí có người xấn xổ nhổ nước bọt vào chúng tôi. Thoạt đầu thì chúng tôi khó chịu vì sự lỗ mãng của họ, nhưng khi thấy những nụ cười đểu của bọn cán binh áp tải, thì chúng tôi nhận ra ngay đấy là những gì người dân bị “make up”, hoàn cảnh chúng tôi lúc đó, không khác gì cảnh trong những thước phim tài liệu “đấu tố” cải cách ruộng đất năm nào.

Ông nói “những tháng tiếp theo đó, chúng tôi được tận mắt nhìn thấy hàng đàn hàng lủ bọn ngụy quyền ác ôn, bị sự trừng phạt của chính quyền cách mạng, của nhân dân miền Bắc và của chính chúng tôi… Số là mỗi tuần một lần, chúng tôi được chính quyền và ban giám hiệu nhà trường thông báo, vào những ngày giờ có những ô tô của cục quân pháp, chuyển tù cải tạo là những sỹ quan, ngụy quyền ác ôn của chính quyền Mỹ Thiệu đi ngang qua địa phương, để đến các trại cải tạo ở mạn ngược. Cùng với đồng bào địa phương, mỗi sinh viên chúng tôi phải chuẩn bị đầy đủ cơ số đá trứng nhặt từ đường ray xe lửa, để khi đoàn xe tù đi ngang qua, là hô hào toàn dân trút những trận mưa đá lên đầu những tên ngụy quyền ác ôn này, bởi chúng có quá nhiều nợ máu với nhân dân, với đất nước…Và sau mỗi lần trừng trị bọn ngụy quyền ác ôn đó, chúng tôi đều có hội họp, báo công và được tuyên dương khen thửơng, được kết nạp vào đoàn, được vinh dự đứng vào hang ngũ của đảng, vì đã đả thương được bao nhiêu sỹ quan ngụy quyền đó. Tất nhiên là cũng có nhiều buổi họp báo công, chúng tôi cũng bị phê bình kiểm điểm vì đã không có trường hợp thương vong nào được ghi nhận trong những vụ “tập kích” đó…”

Nay đã hơn ba mươi sáu năm, sau ngày oan nghiệt của vận nước, muốn hay không muốn chúng ta cũng phải thấy, Nam hay Bắc đều là nạn nhân của bọn cộng sản vong nô, chúng tôi không trách ông đâu Ông Dương ạ. Thứ nhất vì cái thành thật của ông làm chúng tôi mến, thứ đến là đã có người xin lỗi chúng tôi thay cho ông rồi, những người làm việc tạ lỗi với chúng tôi là những người nghèo bán hàng rong tại nhà ga thành phố Vinh của ông. Chúng tôi cảm được cái ray rứt trong lòng ông qua câu ông viết “Kết thúc 4 năm đại học với vô số những cuộc tập kích để ném đá vào những xe chuyển tù, rồi chúng tôi cũng tốt nghiệp đại học…”.Nên chúng tôi xin mạn phép gởi đến ông một đoạn ký sau đây để ông đọc, mà thấy được rằng cái thật luôn tỏa sáng và làm rung động lòng người, cũng tựa như cái thật của ông đã làm cho chúng tôi mếm.

XUÔI NAM….

…Ðoàn tàu vẫn tiếp tục lăn bánh, hướng về nam với rộn rã của tiếng bánh xe gõ nhịp trên đường ray, tấm bảng cắm bên đường cho thấy ga kế tiếp là nhà ga Vinh. Thành phố Vinh là quê ngoại của Mẹ tôi, thuở còn nhỏ Mẹ theo Ngoại nhiều lần về Vinh. Nhận xét về quê của mẹ sau bao nhiêu năm nhìn lại, trong lần ra bắc thăm nuôi tôi, Mẹ bùi ngùi nói không có gì thay đổi, tất cả vẫn như xưa, có chăng là mọi vật cũ đi theo thời gian mà thôi. Còn tôi tuy biết Vinh là quê ngoại, nhưng trong tôi, sau năm 75 trong chuyến lưu đày ra xứ bắc, tôi cũng đã qua đây vào một đêm, nhưng tình cảm lần đầu tiên đó, không phải thứ tình cảm bồi hồi nao nao, khi đi qua chốn mà mình biết đó là quê mẹ.
Ðêm đó qua đây lúc trời đã tối, nhà ga tỉnh lẻ, tôi nhìn qua vách xe, trong ánh sáng vàng đèn trứng vịt mù mờ, vài người bán hàng rong hỏi vọng vào trong xe, mời chúng tôi mua bánh. Vài anh tù vô tình trả lời họ, và thế là sau khi họ biết chúng tôi là tù miền nam, thì những viên đá nhặt từ đường ray ném tới tấp vào thùng xe, kèm theo lời chửi thô tục, nghe đâu có vài anh tù ở xe phía trước vì tò mò, thò đầu ra khỏi tấm bạt để nhìn cho rỏ, đã nhận ngay viên đá củ đậu vào đầu, máu ra ướt áo. Cán bộ sau đó qua sự việc này để mà lên lớp chúng tôi, anh ta nói do thấu triệt chính sách khoan hồng nhân đạo, mà đảng đã giáo dục, nên nhân dân chỉ ném đá mà thôi, nếu không có đảng dạy, thì nhân dân đã cắt cổ chúng tôi rồi(?).
Ðoàn xe từ từ vào ga, kinh nghiệm của lần ra, nay lần về phải cẩn trọng, chúng tôi không muốn ăn đá củ đậu. Chúng tôi giữ im lặng, không trả lời bất cứ tiếng mời mua hàng, hay tiếng gõ vào thành tàu của người mua đồ cũ… Bánh mật… mía… chuối… ai mua không?... Quần áo cũ… đồ cũ… ai bán không?... khung cảnh nhà ga ồn hẳn lên, với lời rao của kẻ mua người bán, và đặc biệt là trong toa càng lặng tiếng, thì người mua kẻ bán đứng dưới đường ray càng gào to.

Bổng quản chế áp tải tù, chúng được lịnh cho phép nghỉ giải lao, chúng í ới gọi nhau vào nhà ga để chè lá, thấy thế các người mua bán rong, vội ùa đến gần con tầu hơn, áp sát miệng vào khe hở thành toa mà rao to. Một anh mua đồ cũ, vô tình rao đúng chỗ của anh Khanh “mù” ngồi, anh Khanh xuất thân võ bị Ðàlạt và cận nặng, nên anh em thêm chữ mù sau tên anh mà gọi cho vui. Máu tếu nổi lên anh Khanh hỏi: -Có bộ đồ tù rách mua không?... Một bất ngờ và ngỡ ngàng đến với chúng tôi, thay vì là câu chửi thề, hay chuyện gì đó như ném đá, để đáp lại câu nói của anh Khanh như chúng tôi nghĩ, thì lại là tiếng reo vui thật to: -Tầu chở tù về Nam bà con ơi… sau đó qua các khe hở của vách tầu… chuối, mía được nhét vào cho chúng tôi, thật tôi không tin những gì tôi thấy. Bấy giờ buổi sáng trời vừa nắng lên khoảng chín giờ sáng, đâu phải đêm đen đâu mà không thấy những gì đang diễn ra trước mắt mình. Từ khe hở ngay chỗ tôi, tôi cũng được một cái bánh mật, bánh còn ấm nóng, đây là bánh của người dân quê xứ Nghệ, làm từ bột trộn với đường mật, gói lá chuối xong đem hấp hay luộc, đường mật mà trong nam ta gọi là đường chảy hay đường thùng.

Ăn bánh mật hơi giống như ăn bánh ếch trong nam, không ngon bằng bánh ếch, vì nó không có nhân. Nhưng quí vị ạ, miếng bánh mà tôi đưa vào miệng , tôi ngậm nó mà nghe ngọt tận tâm can, tôi không muốn nuốt vì sợ mất, mất những gì đang đến với tôi trong suy nghĩ, trong cảm xúc. Tới đây chắc quí vị nghĩ là tôi càn rở ăn nói lung tung chăng, không đâu, cảm xúc đang trào dâng trong tôi, thật ngọt ngào và ấm áp lắm. Ngày nào cộng sản tuyên truyền, gọi chúng tôi là lính đánh thuê, chúng tôi là dã thú, ăn gan uống máu người. Ðưa chúng tôi ra Bắc, chúng thật an tâm, chúng tôi mà trốn trại ư?, tai mắt nhân dân, sẽ giúp chúng bắt chúng tôi lại dễ dàng, nhưng sau đó chúng biết chúng lầm, dưới ánh mặt trời làm sao chúng che đậy mãi cái gian manh của chúng.
Và hôm nay theo thời gian, đã xóa sạch những gì cộng sản bôi bẩn chúng tôi. Từ ngay trong lòng người dân, người dân của phần đất Xô Viết Nghệ Tỉnh, mà cộng sản cai trị giáo dục họ từ những năm đầu họ Hồ du nhập chủ thuyết cộng sản vào Việt nam. Nay chúng tôi đã có chỗ, chổ chúng tôi là trong lòng những người dân nghèo bán rong, người mua đồ cũ, họ chia sẻ cho chúng tôi những gì họ có, trong nhà ga này, nhà ga Vinh, quê ngoại tôi, mà hơn năm năm về trước, họ ném vào chúng tôi bằng những viên đá xanh, to bằng nắm tay, mà họ nhặt từ đường ray. Những gì cộng sản tuyên truyền, nhồi sọ người dân quê Ngoại tôi, hay nói chung là cả miền Bắc, nay đã bị cái thật đánh gục.

Chuyến xuôi nam này, quả đúng với câu niềm vui nối tiếp niềm vui, hôm nay người dân ga Vinh họ chuyền qua khe hở vách toa tàu, những lóng mía, những quả chuối lẻ, cùng bánh mật, những thứ này là vốn liếng của kẻ nghèo, mua bán hàng rong trong sân ga. Bằng chính rổ cơm của gia đình, họ đãi chúng tôi, những người tù miền nam, mà chính quyền cộng sản gọi là Ngụy. Nguyên do đâu sự việc này xảy đến?. Lý do gì mà tình cảm, của những người nghèo cùng khổ này, dành cho chúng tôi?. Chúng tôi chưa từng gặp họ, họ ở lại Bắc, chúng tôi xuôi Nam, bao giờ biết găp lại?, rổ hàng của họ ít ỏi lắm, mỗi người chỉ dăm quả chuối, dăm lọn mía, ít bánh mật. Cái gì đã thôi thúc, khiến họ cho đi?, phải là một cái gì đó mãnh liệt lắm. Gần sáu năm trong nhà tù cộng sản tại miền bắc, trong khoảng thời gian này tôi đã nhìn thấy quá nhiều biến đổi từ mọi phía, mọi lãnh vực, từ người dân đến cán binh, cán bộ cộng sản. Những sắt máu giáo điều không còn giá trị đối với mọi người, những son những phấn tô lục chuốc hồng, cho chế độ XHCN đã lã chã rơi, lộ nguyên trạng những gì bọn chúng cố dấu. Một câu nói trong Kinh Thánh: “Những gì của César hãy trả lại cho César” thật đúng cho cả hai bên, cho chúng tôi và cho cả cộng sản.
Bọn cán bộ áp tải đã trở lại, con tàu kéo còi từ từ chuyển bánh, qua khe hở tôi dõi nhìn, những người mua bán hàng rong trong sân ga, cho đến mãi khi không còn nhìn thấy cả họ lẫn nhà ga. Trời vào trưa nắng thật đẹp, mây có che thì chỉ một lúc nào thôi, sau đó trời vẫn lại rực rỡ như xưa….

Việt Nhân

Bài Xem Nhiều