We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 7 February 2012

Những vấn đề của chúng ta: VẤN ĐỀ HOÀ GIẢI VÀ HOÀ HỢP DÂN TỘC.

Những vấn đề của chúng ta:
VẤN ĐỀ HOÀ GIẢI VÀ HOÀ HỢP DÂN TỘC.


·       ĐẶT VẤN ĐỀ:
       Vấn đề “Hoà giải và hoà hợp dân tộc” đã được đăt ra từ lâu, có lẽ là từ khi cụm từ này xuất hiện trong văn bản Hiệp Định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam ngày 27-1-1973. Thế rồi, cụm từ “hoà giải và hoà hợp dân tộc” sau này tại hải ngoại đã được dùng như một trong những nhãn hiệu của “nón cối”, để một số kẻ dùng như vũ khí tấn công đối phương mỗi khi có mâu thuẫn cá nhân cũng như tập thể, không chỉ liên quan đến mâu thuẫn về quan điểm và phương thức chống cộng giữa hai khuynh hướng chống cộng bảo thủ cực đoan và cấp tiến, mà còn được được lợi dụng mỗi khi có mâu thuẫn vì tư thù cá nhân không liên quan gì đến vấn đề chống cộng.  Vì vậy, mặc nhiên “hoà giải và hoà hợp dân tộc” đã như một “húy kỵ” khiến những ai mỗi khi viết lách phải thận trọng khi phải xử dụng cụm từ này.
       Cuối Tháng 3 năm 1992 gia đình chúng tôi đặt chân đến Thành phố Houston theo diện đoàn tụ gia đình (vì không có chương trình HO nào dành cho tù nhân “phản động” ). Khoảng vài tuần sau, tôi bắt đầu viết lại tài liệu đã khởi thảo và phổ biến bí mật từ trong nước năm 1977 và được dùng làm tài liệu học tập cho Mặt Trận Nhân Quyền Việt Nam thành lập cũng vào năm này (Tài Liệu Nghiên Cứu Lý Luận: Việt Nam Trong Thế Chiến Lược Quốc Tế Mới). Tháng 4 năm 1995, tài liệu này được ấn hành lần đầu và lần lượt được ra mắt tại Thành phố Houston, Dallas Tiểu bang Texas, New Orleans Tiểu bang Louisiana. Một trong các vị được chúng tôi ký tặng sách thuộc hàng ngũ lãnh đạo chống cộng hàng đầu theo khuynh hướng bảo thủ cực đoan trong Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Houston & Vùng Phụ Cận lúc đó là Cố Đại Tá không quân Việt Nam Cộng Hòa Trần Ngọc Đoá đã ghé tai tôi nói nhỏ “ Này, tôi nghe nói sách của luật sư đưa ra chủ trường Hoà giải và hoà hợp với Việt cộng phải không?”. Tôi có thưa lại rằng: “Đại tá mới chỉ nghe nói, vây bây giờ Đại tá hãy đọc đi xem tôi có chủ trương hoà giải hoà hợp với Việt Cộng hay không?”.
     Sở dĩ có thắc mắc này, là vì trong Phần cuối Chương II của tập tài liệu tôi viết (Việt Nam Lạc Quan Tin Tưởng Hướng về Tương Lai), có “Luận Bàn Về Một Giải Pháp Toàn Cuộc Cho Vấn Đề Tương Lai Dân Tộc Việt Nam”, trong đó có “Thử Đề Nghị Một Giải Pháp Toàn Cuộc” (Xin xem tài liệu đính kèm bài viết này) với ba bước tiến đền nền “Dân Chủ Nhất Nguyên Dân Tộc”. Mặc dầu chúng tôi đã lưu ý đến tính nhậy cảm của cụm từ này, đã phải khẳng định rằng Việt Nam không có vấn đề “Hoà giải và hoà hợp dân tộc, mà chỉ có vấn đền hoá giải mâu thuẫn trong hàng ngũ lãnh đạo dân tộc”.

        Vậy thì, Hoà giải và hoà hợp dân tộc là gì và vì sao người Việt Quốc gia cho đến nay vẫn kiến quyết chống lại hoà giải và hoà hợp dân tộc ? Việt cộng có thực tâm muốn hoà giải và hoà hợp dân tộc hay không? Đó là nội dung bài tham luận hôm nay của chúng tôi.

I/- HOÀ GIẢI VÀ HOÀ HỢP DÂN TỘC LÀ GÌ?

      Trước hết để trả lời câu hỏi hoà giải và hoà hợp dân tộc là gì, chúng ta cần hiểu ý nghĩa chung và ý nghĩa riêng của những từ ngữ trong cụm từ này.
      Về ý nghĩa chung hoà giải là giải quyết mâu thuẫn một cách hoà bình để đi đến sự hợp nhất trong hoà bình. Nếu mâu thuẫn ấy là mâu thuẫn trong lòng một dân tộc, thì hoà giải và hoà hợp dân tộc là mâu thuẫn ấy cần được giải quyết một cách hoà bình để đi đến sự hợp nhất dân tộc trong hoà bình, tức hoà hợp dân tộc.
        Từ ý nghĩa chung, đi vào ý nghĩa riêng của hoà giải và hoà hợp dân tộc Việt Nam: Đó là giải quyết một cách hoà bình mâu thuẫn phát sinh từ cuộc nội chiến Ý Thức Hệ Quốc-Cộng tại Việt Nam và tồn tại trong lòng dân tộc việt Nam cho đến hôm nay, để đi đến hoà hợp dân tộc.
       Trong ý nghĩa riêng này cũng cần được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp của cụm từ “hoà giải và hoà hợp dân tộc”. Theo nghĩa rộng là giải quyết hoà bình mâu thuẫn trong lòng dân tộc giữa những người Việt Nam theo ý thức hệ quốc gia và những người Việt Nam theo ý thức hệ cộng sản. Theo nghĩa hẹp là giải quyết hoà bình mâu thuẫn trong lòng dân tộc giữa hàng ngũ lãnh đạo trong cuộc chiến tranh quốc - cộng vừa qua (1954-1975) cho đến hôm nay.
        Theo nhận định của chúng tôi, sau 36 năm chấm dứt cuộc chiến tranh ý thức hệ quốc – cộng, nghĩa rộng của cụm từ “hoà giải và hoà hợp dân tộc” không còn giá trị thực tế. Vì thực tế nhân dân hai Miền Bắc Nam đã tự hoá giải mâu thuẫn một cách hoà bình bằng chính thực tiễn sinh động đã giúp tất cả nhận thức được thực chất của cuộc chiến tranh quốc-cộng hôm qua chỉ là một cuộc chiến do ngoại bang thực hiện thông qua những chính quyền công cụ bản xứ, xô đẩy nhân dân hai miền vào một cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn, bằng những chiêu bài lừa mị, đã tàn phá tan hoang đất nước, phân hoá dân tộc, để lại di hại nghiêm trọng, toàn diện và lâu dài cho đất nước.
        Như vậy thực tế nay chỉ còn tồn tại trong lòng dân tộc ý nghĩa hẹp của cụm từ “Hoà giải và hoà hợp dân tộc”. Nghĩa là chỉ còn tồn tại mâu thuẫn trong hàng ngũ lãnh đạo dân tộc thuộc hai phe Quốc-Cộng. Muốn hoà giải và hoà hợp dân tộc thiết tưởng chỉ cần “hoá giải mâu thuẫn về lãnh đạo dân tộc”. Đó là mâu thuẫn giữa những người cộng sản lãnh đạo dân tộc theo con đường độc tài toàn trị, độc đảng độc quyền thống trị, với những người quốc gia lãnh đạo dân tộc theo con đường dân chủ pháp trị, đa nguyên đa đảng. Do đó “hoà giải và hoà hợp dân tộc” chính là giải quyết mâu thuẫn này một cách hoà bình để đi đến hoà hợp dân tộc toàn diện.
       Tất cả ý  nghĩa riêng theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp  của cụm từ “hoà giải và hoà hợp dân tộc” nghe có vẻ tốt đẹp, nhưng tại sao lại bị người Việt quốc gia cự tuyệt? Phải chăng người Việt Quốc Gia chống cộng vì hiếu chiếnnên không muốn “Hòa giải và hòa hợp dân tộc?

II/- VÌ SAO NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA CHO ĐẾN NAY VẪN CHỐNG LẠI HOÀ GIẢI VÀ HOÀ HỢP DÂN TỘC?
    Câu trả lời thật minh bạch: Người Việt quốc gia sở dĩ cho đến nay vẫn kiên quyết chống lại “hoà giải và hoà hợp dân tộc kiểu Việt cộng”, chứ không chống mà còn luôn mong muốn “hoà giải và hoà hợp dân tộc” theo đúng ý nghĩa chân chính của cụm từ này.
    Thật vậy, ai cũng biết là dầu muốn dầu không cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc- Cộng tại Việt Nam kéo dài trong nhiều thập niên qua cho đến nay vẫn chưa chấm dứt đã làm phân hoá dân tộc. Cuộc chiến ấy xuất phát trước hết từ sự mâu thuẫn do sự bất đồng trong hàng ngũ lãnh đạo dân tộc Quốc- Cộng về mô hình chế độ chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội thực hiện cho đất nước.Chính mâu thuẫn này đã đưa đến xung đột qua cuộc chiến tranh quốc cộng (1954-1975) do Việt cộng phát động nhằm giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực. Nhưng thực tế cho thấy, bạo lực đã không giải quyết được mâu thuẫn này, dù phe Việt cộng đã giành được quyền thống trị trên cả nước và đã có cơ hội thực hiện mô hình chính trị, kinh tế, văn hoá xã hội theo cộng sản chủ nghĩa 36 năm qua(1975-2011) và trước đó trên một nửa nước Miền Bắc Việt Nam (1954-1975)
         Thực tế cũng đã khẳng định mô hình cộng sản chủ nghĩa là không tưởng, gây hậu quả tai hại toàn diện và lâu dài cho đất nước. Và chính Việt cộng cũng đã nhận thức được điều này để bước vào con đường “đối mới” từ năm 1986 để cứu tập đoàn thống trị độc quyền là đảng Cộng sản Việt Nam, chứ không vì lợi ích của Dân tộc, Đất nước. Do đó, mặc dầu thực tế Việt cộng đã và đang từng bước đi theo mô hình “kinh tế thị trường tự do theo định hướng tư bản chủ nghĩa”, nhưng vẫn ngụy biện “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, để cố bám lấy cái vỏ “Xã hội chủ nghĩa” để tiếp tục xử dụng kỹ thuật “chuyên chính vô sản” độc chiếm quyền thống trị cho cái đảng cũng mang nhãn hiệu giả tạo là đảng Cộng sản sản Việt Nam( Vì hơn ai hết người cộng sản Việt Nam đều biết rằng làm gì có một đảng Cộng sản Việt Nam với phẩm chất theo đúng lý tưởng Cộng sản Chủ nghĩa, và cũng biết không thể và không bao giờ thực hiện được mô hình “Xã Hội Chủ Nghĩa” theo chủ nghĩa cộng sản không tưởng. Thực tế cái gọi là “Đảng Cộng Sản Việt Nam” đã và đang xử dụng các bảng hiệu “Đảng Cộng Sản Việt Nam” và  chế độ “Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” theo kiểu gian thương “Treo đầu dê, bán thịt chó”). Nghĩa là tập đoàn lãnh đạo cộng sản Việt Nam hiện nay vẫn không “đổi mới” mô hình chính trị phù hợp là chế độ dân chủ đa nguyên, vốn là mục tiêu tối hậu mà người Việt Quốc gia đã chiến đầu kiên trì trong nhiều thập niên qua để thành đạt. Mục tiêu tối hậu này đã được thực tế ngày một khẳng định giá trị hiện thực và cho thấy chân lý thuộc về ai, Việt quốc, hay Việt cộng, ai đúng ai sai? Và rằng: Chiều hướng mới không thể đảo ngược, dân chủ tất thắng độctài các kiểu trên phạm vi toàn cầu, trong đó có kiểu độc tài toàn trị cộng sản tại Việt Nam.
        Đây chính là mâu thuẫn căn bản giữa Việt QuốcViệt cộng và là nguyên nhân cơ bản làm phân hoá dân tộc. Việt cộng khi phát động chiến tranh dù xâm chiếm được Miền Nam của Việt quốc, song vẫn không giải quyết được mâu thuẫn trong lòng dân tộc, mà còn khoét sâu mâu thuẫn này. Vì vậy, hơn ai hết người Việt quốc gia mong muốn giải quyết mâu thuẫn này một cách hoà bình. Nhưng thực tế vẫn phải chống lại “hoà giải và hoà hợp dân tộc kiểu cộng sản”. Theo đó, họ chỉ đơn phương kêu gọi người Việt quốc gia hãy quên quá khứ, quên hận thù, đừng chống cộng nữa, mà hãy hợp tác toàn diện với nhà cầm quyền chế độ độc tài toàn trị cộng sản hiện nay, để xây dựng phát triển đất nước.
       Như vậy chỉ là sự áp đặt một chiều, không có sự hoà giải vì Việt cộng không chính thức đưa ra phương cách cụ thể để Việt quốcViệt cộng giải quyết mâu thuẫn căn bản một cách hoà bình, để đi đến hoà hợp dân tộc, mà chỉ “đánh tiếng” hay ngầm thuyết phục lôi kéo một số cá nhân Việt quốc về nước “hoà hợp” với chế độ. Nghĩa là Việt cộng chỉ tiến hành “một chính sách chiêu hồi người quốc gia hợp tác toàn diện, vô điều kiện với chế độ”. Do đó, người Việt quốc gia không chấp nhận được, vì đó là điều nghịch lý khi cái đúng phải qui thuận cái sai, chính nghĩa quốc gia phải qui thuận ngụy nghĩa cộng sản.

III/- VIỆT CỘNG CÓ THỰC TÂM MUỐN HOÀ GIẢI VÀ HOÀ HỢP DÂN TỘC HAY KHÔNG?
        Câu trả lời khẳng định là không, cho đến lúc này Việt cộng vẫn không có thực tâm muốn “hoà giải và hoà hợp dân tộc” theo đúng ý nghĩa chân chính của cụm từ này, mà chỉ xử dụng nó như là chiêu bài tuyên truyền lừa mị, đánh động tình tự dân tộc, để lối kéo những người Việt quốc gia hay là những người Việt Nam không cộng sản trong cũng như ngoài nước, hãy quên quá khứ, quên hận thù, đừng chống cộng nữa, “hoà hợp”“không hoà giải” (giữa Việt cộng Việt quốc), để xây dựng đất nước (mà thực chất là để củng cố quyền thống trị độc quyền, độc tôn và độc tài của đảng Cộng sản Việt Nam).
       Vì sao Việt cộng không có thực tâm “hoà giải và hoà hợp dân tộc”? – Là vì cho đến lúc này Việt cộng vẫn tự tin một cách sai lầm rằng, với khoảng ba triệu đảng viên cộng sản chia nhau quyền thống trị đất nước, nắm trong tay quân đội, công an và các lực lượng võ trang bảo vệ vững chắc nền “chuyên chính vô sản”, có uy thế quốc tế, trong khi không có lực lượng đối trọng nào trong nước cũng như hải ngoài đe doạ được sinh mạnh chính trị của chế độ…Và vì vậy Việt cộng thấy “không cần hoà giải và hoà hợp với ai” mà chỉ muốn chiêu hồi người Việt quốc gia bằng chiều bài “hoà giải hoà hợp dân tộc” lừa mị mà thôi.
       Thực tế trong quá khứ, Việt cộng đã từng chỉ dùng “hoà giải và hoà hợp dân tộc” như một chiều bài lừa mị khi xử dụng cụm từ nay lần đầu tiên trong bản Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình Việt Nam ngày 27-1- 1973 liên quan đến cái gọi là “Hội Đồng Quốc Gia hoà giải hoà hợp dân tôc ba thành phần”. Nhưng rồi sau đó, như mọi người đếu biết, “Hội Đồng Quốc Gia hoà giải hoà hợp dân tộc” không bao giờ có ở Miền Nam,Việt cộng đã vi phạm trắng trợn bản hiệp định này khi dùng bạo lực thôn tính Miền Nam, trước sự làm ngơ của những bảo đảm quốc tế.
        Chúng ta hay cùng đọc lại Khoaûn (a) ñieàu 11 Hiệp Định Paris 1973 đã ghi Ngay sau khi ngöng baén, hai beân Mieàn Nam Vieät Nam seõ hieäp thöông treân tinh thaàn hoaø giaûi vaø hoaø hôïp daân toäc, toân troïng laãn nhau vaø khoâng thoân tính laãn nhau ñeå thaønh laäp Hoäi Ñoàng Quoác Gia Hoaø Giaûi vaø Hoaø Hôïp Daân Toäc goàm ba thaønh phaàn ngang nhau...”.
      Thực tế, trong quá khứ, Việt cộng cũng đã không quan tâm đáp ứng những giải pháp có tính hoà giải hoà hợp dân tộc được đề nghị từ một số cá nhân hay doàn thể người Việt Quốc gia, trong đó có đề nghị của chúng tôi về một “Giải pháp toàn cuộc cho vấn đề tương lai dân tộc Việt Nam”. Giải pháp toàn cuộc này chúng tôi đã trình bầy chi tiết trong tập Tài Liệu Nghiên Cứu Lý luận: Việt Nam Trong Thế Chiến Lược Quốc Tế Mới ấn hành lần đầu tháng 4 năm 1995 và giữ lại trong lần tái bản tháng 4 năm 2005. Đại cương chúng tôi đề nghị một giải pháp ba bước tiến đến nền Dân Chủ Nhất Nguyên Dân Tộc:
·       Bước một: Triệu tập “Hội Nghị Hoá Giải Mâu Thuẫn Về Lãnh Đạo Dân Tộc”.
·       Bước hai: Triệu tập “Hội Nghị Thống Nhất Toàn Lực Quốc Gia”
·       Bước Ba: Hình thành chế độ Dân Chủ Nhất Nguyên Dân Tộc.
(Đính kèm theo bài viết này:Toàn bộ chi tiết của Giải Pháp Toàn Cuộc Cho Vấn Đề Tương Lai Dân Tộc Việt Nam trình bầy trong Phần IV Chương II, Tài Liệu Nghiên Cứu Lý Luận: Việt Nam Trong Thế Chiến Lược Quốc Tế Mới)

IV/- KẾT LUẬN:
       Hoà Giải và Hoà hợp Dân tộc theo đúng ý nghĩa chân chính của cụm từ này, vốn là ước nguyện chung của người Việt Quốc Gia ở hải ngoại cũng như người Việt Nam không cộng sản trong nước. Nhưng người Việt Quốc Gia ở hải ngoại cho đến nay vấn chống “Hoà giải và hòa hợp dân tộc kiểu cộng sản” vì đó chỉ là chiêu bài lừa mị. Thực chất Việt cộng không muốn hoà giải với Việt Quốc, mà chỉ muốn Việt Quốc hoà hợp với Việt cộng vô điều kiện; không chịu giải quyết mâu thuẫn cơ bản giữa Việt Quốc và Việt Cộng vốn là nguồn gốc làm phân hoá dân tộc, để đi đến “Hòa hợp dân tộc”.
     Nếu Việt cộng có thiện chí Hoà giải hoà hợp dân tộc” thực sự, thì họ đã có nhiều cơ hội để làm điều này, cơ hội lớn nhất là sau ngày 30-4-1975, đúng như một số lãnh đạo hàng đầu “cộng sản phản tỉnh”, tiêu biểu như Ông Võ Văn Kiệt, và nhiều người cộng sản khác đã ân hận và nuối tiếc sau này. Hoặc đã làm ngơ trước những đề nghị tương tự như đề nghị của cá nhân chúng tôi vào năm 1995 về một “Giải Pháp Toàn Cuộc Cho Vấn Đề Tương Lai Dân Tộc Việt Nam”. Tiếc rằng Việt cộng đã không đáp ứng vào thời điểm mà đa số các nhà lãnh đạo hàng đầu Việt Nam Cộng Hoà còn sống,như Hành pháp (Các vị nghị sĩ, dân biểu lưỡng viện Quốc Hội), Lập Pháp (Tổng Thống, Thủ Tướng và Nội Các…), Tư pháp Việt Nam Cộng Hoà (Các Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện…) và quân đội VNCH (Các Tướng Lãnh…)
     Thành ra đến nay, vào lúc này, một giả định nếu như Việt cộng có chính thức đưa ra hay chấp nhận đề nghị  cùng với Việt quốc thực hiện một tiến trình “hoà giải và hoà hợp dân tộc” thực sự, khả tín, thì ai, những cá nhân hay tổ chức nào phía Quốc gia sẽ có tư cách đại diện người Việt quốc gia hải ngoại tham dự ? 
       Trong bối cảnh đa đầu phân tán của các Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tại hải ngoại hiện nay, tìm được câu trả lời hiện thực, thoả đáng cho câu hỏi này không phải là dễ. Thành ra, thực tế nhất, nếu Việt cộng có thực tâm “hoà giải và hoà hợp dân tộc”, họ chỉ cần tự hoá giải mâu thuẫn căn bản Quốc- Cộng, bằng hành động thực tiễn, là tự giác thực hiện điều mà người Việt quốc gia hay là người Việt Nam không cộng sản trong cũng như ngoài nước mong muốn, đòi hỏi: là Đảng Cộng sản Việt Nam hãy tự giác từ bỏ độc quyền chính trị, dân chủ hoá đất nước. Nếu họ làm được như vậy, và chỉ cần làm như vậy, “hoà giải và hoà hợp dân tộc” khắc đến và người Việt Quốc gia ở hải ngoại sẽ ngừng chống cộng,  sẵn sàng bỏ qua quá khứ (dù hận thù khó quên), sẵn sàng tự nguyện tự giác đem tiền của, tài năng về hợp tác toàn diện với chính quyền của dân, do dân và vì dân để phục vụ đất nước, chứ nhất định không phục vụ cho chế độ độc tài toàn trị cộng sản hiện nay hay bất cứ chế độ chính trị độc tài  không cộng sản nào khác hình thành sau này.

Thiện Ý

HOÀ GIẢI hay HOÁ GIẢI

Xin đóng góp ý kiến với đồng nghiệp Nguyễn Văn Thắng:
1/ Việt Cộng chỉ muốn HOÁ GIẢI chứ không muốn HOÀ GIẢI.
2/ Giữa người Việt TRONG NƯỚC và người Việt HẢI NGOẠI chẳng có vấn đề gì cần phải HOÀ GIẢI.
3/ Nếu bọn Việt Cộng nếu thực lòng muốn Hoà Giải với người Việt Hải Ngoại, nói riêng, với dân tộc Việt Nam , nói chung, hãy tức khắc giải tán đảng Cộng Sản Việt Nam và xoá bỏ ngay tất cả những tàn tích của Cộng sản như: Cờ Máu, các tượng đài, hình ảnh,  các tên đường phố, tên thành phố mang biểu tượng của cộng sản v.v...
LDS
 
HOÀ GIẢI hay HOÁ GIẢI (1) ?


         
Sau khi cưỡng chiếm được miền Nam, bọn Cộng San Hà Nội đã áp đặt một chế độ độc tài chuyên chính vô sản trên toàn quốc Việt Nam. Các chính sách vô cùng độc ác và tàn bạo như “Học Tập Cải Tạo” để cho đi tù không cần xét xử hàng trăm ngàn quân nhân, công chức của Việt Nam Cộng Hoà, các cán bộ, các đoàn viên của các đảng phài chính trị và cả các văn nghệ sĩ miền Nam, “Kiểm kê tài sản” để cướp đoạt tài sản của các các giới doanh thương cũng như các công kỹ nghệ gia, “Khu kinh tế mới” để cướp nhà, cướp của và xua đẩy những người này ra khỏi thành phố. Chưa hết, thấy nhiều người vượt biên bỏ nước ra đi, chúng cho “Vượt biên bán chính thức” để vừa thu được vàng, vừa tống xuất được bọn người Việt gốc Hoa và các thành phần mà bọn chúng cho là ăn bám xã hội nhưng không có lý do gì để bỏ tù hoặc bắt đi “học tập cải tạo”.
Với những chính sách vô cùng độc ác và tàn bạo trên, bọn Cộng Sản Hà Nội hy vọng rằng sẽ vô hiệu hoá được tất cả các thành phần chống đối chúng hoặc có thể trở thành đối nghịch để đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh lên Xã Hội Chủ Nghĩa, một Thiên Đường mà bọn chúng tin tưởng rằng, nếu không hơn thì ít nhất cũng phải bằng các nước tiền tiến nhất thế giới.
Nhưng thực tế đã ngược hẳn lại, sau hơn 10 năm thống trị miền Nam và sau hơn 30 năm thống trị miền Bắc, bọn Cộng Sản Hà Nội đã đưa cả một đất nước giầu có về tài nguyên cũng như nhân lực, cả một dân tộc có tiếng là thông minh, cần cù và chịu khó thành một đất nước điêu tàn, một dân tộc ngu dốt và nghèo khổ nhất thế giới. Chính vì vậy mà năm 1985, bọn Cộng Sản Hà Nội đã phải noi gương quan thầy của chúng là Trung Cộng, nới lỏng một vài lãnh vực, nhất là lãnh vực kinh tế như cho phép dân chúng làm kinh doanh nhỏ và xã hội như cho phép những người có thân nhân ở ngoại quốc được nhận qùa cáp, tiền bạc của thân nhân gửi về để cứu vãn phần nào sự nguy khốn của chế độ.
Không những thế, bọn Cộng Sản Hà Nội còn giả vờ cởi trói văn nghệ để cho một số người trong đó có cả một số tay sai của chúng viết bài phê bình cán bộ, viết truyện chỉ trích nhà nước để tạo nên một bầu không khí cởi mở và một thứ văn nghệ chống đối gỉa tạo gọi là “Văn chương phản kháng”. Chúng cho cán bộ ra ngoại quốc ca tụng người Việt hải ngoại, những người mà trước kia bọn chúng gọi là những thành phần đĩ điếm, trộm cắp, là có khả năng cao, có tiềm năng lớn cùng khích động lòng yêu nước của người Việt hải ngoại và kêu gọi hãy quên đău thương, hận thù để cùng nhau xây dựng đất nước, đưa dân tộc ra khỏi tình trạng lạc hậu, nghèo đói. Điều này đã làm cho một số người Việt hải ngoại, ngay từ năm 1995, không hiểu vì nhậy cảm dễ tin hay vì hậu ý riêng hoặc vì muốn làm cò mồi cho bọn chúng, đã dám kết luận rằng”Hai mươi năm trước đây, chúng ta là những kẻ thua cuộc trong thời chiến. Ngày nay, năm 1995, chúng ta đã trở thành những kẻ thắng cuộc. Chúng ta không nên bỏ lỡ cơ hội này.”  
“Chúng ta không nên bỏ lỡ cơ hội này” nghĩa là thế nào? Phải chăng họ muống chúng ta “hãy quên hận thù”, ‘hãy hoà hợp, hoà giải” với bọn Cộng Sản Hà Nội?
Làm sao chúng ta có thể quên được hận thù, làm sao chúng ta có thể hoà hợp, hoà giải với cướp của giết người? bọn bán nước, hại dân? Ngay nhà văn Tô Hải, một người đã đi theo Cộng Sản, một người suốt đời đã sống dưới chế độ Cộng Sản Hà Nội cũng đã phải than rằng”
“Làm sao có thể hòa giải-hòa hợp với hàng vạn gia đình, con cháu họ khi cha ông họ bị cướp sạch ruộng đất, nhà cửa, bị đấu tố rồi giết hại bằng đủ kiểu dã man như thời Trung Cổ bởi những Đoàn, Đội Cải cách ruộng đất cơ chứ?...........
Làm sao có thể hòa giải với hàng triệu gia đình , sau chiến thắng Điện Biên, phải bỏ hết của cải, nhà cửa, xưởng máy "di cư"vô Nam để tìm tự do. Những người ở lại, thì mất hết sau các đợt cải tạo tư sản, cải tạo nhà đất, bị tịch thu từ cái máy may đến cửa hàng không quá 3 mét ở các phố hàng Đào, hàng Ngang, hàng Trống.... và nhiều nhà hơi cao, cửa hơi rộng cũng vị tịch thu hoặc bố trí cho thành phần cốt cán vào ở cho đến nay cũng cấm đòi lại………
 Làm sao hòa giải với con cháu những người văn nghệ sỹ, trí thức bị đi tù không án, không thời hạn, thậm chí ra tù cũng chết dần chết mòn cả thể xác lẫn sự nghiệp, dù hôm nay có đền bù một cái giải thưởng này nọ kèm theo tí tiền còm nhưng không một lời xin lỗi!!  Tớ không tin con cái, cháu chắt họ thôi căm thù đâu!
Làm sao có thể hòa giảỉ với hàng triệu gia đình có cha, ông là sỹ quan phía "bên kia" bị đánh lừa bằng những lời hứa hẹn kiểu ông Trần văn Trà "Người Việt Nam không ai thắng ai thua, Chỉ có Đế Quốc Mỹ là thua thôi!", đã hồ hởi (?) đi "học tập mang theo lương thực 10- 20" ngày để rồi bị đi mút mùa ở các trại cải tạo nơi rừng sâu nước độc, để ỏ nhà vợ con bị xua đi kinh tế mới... và không ít người đã mất xác cho đến nay, bao gia đình vẫn phải về tìm hài cốt ở những nơi chồng, cha họ đã từng bị "học tập", dưới danh nghĩa "khúc ruột ngàn dặm" một cách đắng cay và mai mỉa...
Làm sao có thể hòa giải-hòa hợp với những người phải bỏ nước ra đi, sống ở quê người, những người bị làm mồi cho cá mập đại dương, cho lũ cướp biển, bỏ lại tất cả của cải ,nhà cửa, xe cộ cho mấy ông cán bộ lấy làm chiến lợi phẩm ? Cho đến tận hôm nay, mỗi lần về "du lịch thăm quê" nhìn ngôi nhà mình, cửa hàng mình, xưởng máy mình nay đã trở thành "của riêng" của mấy ông cán bộ cs đang làm chủ hợp pháp có đầy đủ giấy đỏ, giấy hồng mà chỉ dám đi qua mà chửi đổng?.........
Và còn hàng ngàn, hàng vạn thứ chủ trương, hành động gây thù, gây oán ngàn đời không rửa sạch nữa, xảy  ra suốt hơn 60 năm tớ sống và làm việc trong kinh hoàng và sợ hãi thường trực nữa.....
Cho nên tớ mới nghĩ rằng: CHỈ KHI NÀO, NHỮNG KẺ GÂY NÊN THÙ HẬN NHÌN RA LÀ MÌNH CÓ TỘI THÌ MAY RA SỰ HẬN THÙ MỚI ĐƯỢC DẦN DẦN ĐƯỢC NGUÔI NGOAI”.
Có người cho rằng bọn Cộng Sản Hà Nội muốn “Hoà Hợp, Hoà Giải”. Thật ngây thơ và ngu xuẩn! Làm sao chúng chiụ hoà hợp hoà giải khi mà bọn đang nắm quyền trong tay, đang ăn trên ngồi trốc? Hoà hợp hoà gỉa gì mà chúng vẫn bấu víu vào chủ nghĩa Mac Lê? Hoà hợp hoà giải gì mà chúng vẫn chủ trương độc tài đảng trị? Hoà hợp hoà giải gì mà chúng vẫn giam giữ cả ngàn người chỉ vì họ bất đồng chính kiến với chúng hoặc chỉ vì họ đã phổ biến một vài bài báo đòi hỏi nhân quyền, công lý hoặc tỏ bầy những nguyện vọng chính đáng của dân tộc như tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, tự do báo chí, tự do lập hội v.v… ? Vậy mà nói: “Chúng ta không nên bỏ lỡ cơ hội này?” Vậy thì phải bắt lấy cơ hội này để làm gì? Phải chăng họ muốn chúng ta, những người đã bị bọn Cộng Sản Hà Nội cướp đoạt hết tài sản và đẩy lên rừng, ra biển với hai bàn tay trắng, nay lại đem tiền của trở về hợp tác với bọn chúng? Lời kêu gọi này cũng chẳng khác gì lời kêu gọi “Hãy xóa bỏ hận thù” và Hoà hợp hoà giải” của bọn Cộng Sản Hà Nội và một số tay sai , trở cờ hoặc cò mồi trước đây đã từng được cổ xúy rầm rộ qua các phong trào như “Ủy ban xây dựng và tái thiết VN” trước đây của NBC, NVT, “Kế hoạch hóa dân chủ VN và giải pháp chính phủ Liên Hiệp” của Stephen Young, của các nhón như “Thông Luận”, “Hợp Lưu” v.v…và vài cá nhân như Phó bá Long, Lê Xuân Khoa, Nhật Tiến, Thụy Khê, Khánh Trường v.v…
Thực ra thì chiêu bài ”Xóa bỏ hận thù” hay “Hoà hợp hoà giải” đã được bọn Cộng Sản Hà Nội dùng đi dùng lại nhiều lần, nhưng mỗi lần ở mỗi hoàn cảnh khác nhau và chủ đích khác nhau.
Năm 1945, để cướp chính quyền từ tay chính phủ Trần Trọng Kim, bọn Cộng Sản Hà Nội lúc bấy giờ được gọi là Việt Minh đã kêu gọi mọi tầng lớp nhân dân, mọi đảng phái chính trị, mọi tôn giáo phải đoàn kết để làm một cuộc cách mạng dân tộc. Nhưng sau khi cướp được chính quyền, thay vì hoà hợp, hoà giải với các đang phái quốc gia, chúng đã hoà hợp hoà giải với thực dân Pháp để tiêu diệt tôn giáo và các đảng phái chính trị, nhất là Việt Nam Quốc Dân Đảng, một đảng phái quốc gia có thực lực nhất. Chính Đức thày Huỳnh Phú Sổ cũng vì qúa tin vào lời đường mật của bọn chúng nên đã bị bọn chúng thủ tiêu trên đường đi đến phó hội với bọn chúng.
Năm 1954, sau khi ký Hiệp Định Genève chia cắt Việt Nam, bọn Cộng Sản Hà Nội lại một lần nữa kêu gọi đoàn kết khi tiếp thu miền Bắc và cho các đàn em như Nguyễn Bảo Hoá (Tô Nguyệt Đình), Phạm Văn Huyến, Tôn Thất Dương Kỵ v.v… thành lập :Phong Trào Hoà Bình” ở miền Nam để chuẩn bị cho cuộc tổng tuyển cử vào  năm 1956.
Năm 1967, bọn Cộng Sản Hà Nội lại cho các tay sai thành lập một phong trào khác lấy tên là Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc, Dân Chủ và Hoà Bình để chuẩn bị cho cuộc tổng công kích vào năm 1968.
Năm 1973, sau khi Hiệp Định Paris được ký kết, bọn Cộng Sản Hà Nội lại cho thành lập một lực lượng thứ ba với chủ trương “Hoà Hợp Hoà Giải Dân Tộc” để chuẩn bị cho cuộc cưỡng chiếm miền Nam vào năm 1975.
         Gần đây, trước sự Trung Cộng cưỡng chiếm biên giới và lãnh hải của Việt Nam cũng như sự bất mãn của dân chúng vì sự lộng quyền của chính quyền địa phương, nhất là bọn công an, chúng lại cho bọn tay sai, nằm vùng ở hải ngoại đưa ra chiêu bài “hãy xoá bỏ hận thù để đoàn kết chống giặc Tầu xâm lược” mà một trong những kẻ to mồm nhất là Bác Sĩ Nguyễn Thị Thanh ở Canada. Bà Thanh nói: “Chính vì vậy trong bức thư gởi CĐNVHN trước tôi nói rằng hiện tại đối với chúng ta, việc chống CSVN là việc nhỏ, việc chống giặc xâm lăng là việc lớn, vì nó sẽ giúp đi đến mọi thành công ước muốn một khi quốc gia được độc lập, thì dễ có dân chủ, tự do, đa đảng đa nguyên. Còn ra việc chống chính thể CSVN thiếu dân chủ tự do đa đảng đang chỉ là việc nhỏ bất chiến tự nhiên thành sớm hay muộn”.    
Thử hỏi chúng (bọn Cộng Sản Hà Nội) có chính quyền, có quân đội, có vũ khí trong tay, sao chúng không chống mà lại kêu gọi chúng ta, những người Việt hải ngoại trong tay chẳng có gì để chống ?
Bởi vậy cho nên chúng ta có thể kết luận rằng chiêu bài “Xoá bỏ hận thù, Hoà Hợp Hoà Giải” của bọn Cộng Sản Hà Nội bây giờ được đề ra cũng không ngoài mục đích để hoá giải những nỗi khó khăn, những sự oán hận của dân chúng đang dâng cao chứ thực tâm chúng chẳng bao giờ chúng hoà hợp hoà giải hay đoàn kết gì cả. Không những thế, chúng còn luôn luôn gây căm thù, gây chia rẽ để dễ trị vì đó là chính sách của bọn chúng. Thực vậy, cứ mỗi lần bọn Cộng Sản Hà Nội đưa ra một chiêu thức nào đó, là y như rằng cộng đồng người Việt hải ngoại của chúng ta lại chia ra làm hai phe: phe ủng hộ và phe chống đối khiến cộng đồng chúng ta đã chia rẽ lại chia rẽ thêm.
Tóm lại, bọn Cộng Sản Hà Nội chỉ muốn chúng ta. những người Việt Quốc Gia chống Cộng, quên đi hận thù để chúng dễ dàng dẹp tắt những bất mãn của người dân đang manh nha nổi dậy và hoá giải được tất cả những gì bất lợi cho chúng, để chúng dễ dàng dụ dỗ những thành phần ngây thơ, nhẹ dạ nhưng có khả năng, có tài chánh, về nước để chúng dễ bề cướp đoạt. Thật đáng thương cho những tên trí thức ngu muội, giờ phút này mà vẫn còn u mê, tưởng rằng bọn chúng (Việt Cộng) có thực long muốn hòa hợp, hoà gỉai. Chính Tạp Chí Cộng Sản do cơ quan Lý Luận và Chính Trị của Trung Ương Đảng Cộng Sản VN trong số phát hành vào tháng 5 năm 1990 đã viết: ” Đổi mới không phải là đổi hướng đi về phiá XHCN, mà là làm cho mục tiêu ấy được thực hiện hiệu qủa bằng những quan niệm đứng đắn về chủ nghĩa xã hội, những hình thức , bước đi và biện pháp thích hợp”.
Thực ra thì đối với chúng ta, những người đã từng sống dưới chế độ Cộng Sản, nhất là những người đã từng bị Cộng Sản bỏ tù, chúng chẳng thể nào lừa bịp được chúng ta một lần nữa. Nhưng đối với những thành phần di tản tức những người chưa từng nếm mùi cộng sản, nhất là những thành phần trẻ, sinh sau, đẻ muộn lại có lòng yêu nước, thương nòi thì lại không phải là điều khó khăn đối với bọn chúng. Đây là điều mà chúng ta cần phải cẩn trọng, đừng vì qúa hăng say, đừng vì qúa căm thù mà vô tình xô đẩy họ về phía cộng sản.
Để kết luận bài này, xin nhắc lại lời của nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn viết trong bài “Vài nét về văn học Trung Quốc sau Cách Mạng Văn Hóa” đăng trong Đặc San CVA Bắc Cali năm 1993 như sau: “Phê phán khuyết điểm để sửa đổi chế độ Cộng Sản là một việc làm vô vọng. Chỉ có xóa bỏ chế độ đó mới thật sự giải quyết được vấn đề của con người”. Cố Tổng Thống Nga Boris Yeltsin cũng nói:”Cộng sản không thể nào sửa chữa được, mà cần phải đào thải nó”. Cựu Tổng Thống Nga và hiện là Thủ Tướng cũng nói:”Kẻ nào tin những gì Cộng Sản nói là không có cái đầu. Kẻ nào làm theo lời Cộng Sản nói là không có trái tim”.

Chú thích
(1). Bài này được viết vào năm 1995 và đã được đăng trong Đặc San Chu Văn An Bắc  Cali dưới bút hiệu Lê Nhân. Nay xin bổ túc và để tên thật.
(2). Bọn VC là bọn lưu manh mất dậy. Bọn chúng có tên nào chết, bọn chúng có thể để cho người Việt chúng ta tới phúng điếu, chia buồn và lậy lục trước linh cữu của bọn chúng. Nhưng không bao giờ chúng lại ngu muốn mang vòng hoa tới phúng điếu, chia buồn và nghiêng mình chứ đừng nói là lậy lục trước linh cữu của người Việt Quốc Gia chúng ta dù là đã quay về và bưng bô cho chúng tới mức nào.
Ông Kỳ mang vòng hoa tới phúng điếu và lậy lục cái xác thối tha Võ Văn Kiệt. Nay nếu để cho thân nhân ông Kỳ mang xác ông Kỳ về VN làm tang lễ, chẳng lẽ bọn chúng lại không cử người mang vòng hoa tới để chia buồn đáp lễ trong khi ông Kỳ đã mốt bao công lao và bỏ hết cả liêm sỉ để kêu gọi xoá bỏ hận thù, hoà hợp hoà giải cho chúng.
Đó là cái lý do tại sao chúng không cho phép thân nhân của ông Kỳ mang xác của ông kỳ về chôn tại VN.

Lê Duy San

Cậu bé bán thuốc lá dạo ở VN trở thành nhà khoa học tài giỏi ở Mỹ

Ảnh :GS. TS. Trương Nguyện Thành
Một nhà khoa học thành danh ở Mỹ với nhiều công trình nghiên cứu và hằng trăm bài viết được đăng trên các tạp chí khoa học quốc tế xuất thân từ một cậu bé bán thuốc lá dạo ở chợ Gò Vấp, Sài Gòn. Câu chuyện của Giáo sư-Tiến sĩ Hóa học Trương Nguyện Thành hiện đang giảng dạy tại trường đại học Utah, Hoa Kỳ, là niềm hãnh diện của người Việt trên trường quốc tế và là tấm gương đáng khâm phục để giới trẻ Việt Nam noi theo.
Năm 11 tuổi, cậu bé Thành đã bắt đầu bươn chải, dãi dầu mưa nắng để kiếm tiền phụ mẹ nuôi 9 anh chị em sau khi cha mình bị liệt bán thân. Ngày ngày, sau giờ tan trường từ giữa trưa đến tận 9, 10 giờ đêm, cậu bé rong ruổi với thùng thuốc lá trên vai đi bán dạo quanh bến xe lam chợ Gò Vấp. Năm 1976, khi Việt Nam mở chiến dịch đưa cư dân ra các vùng kinh tế mới xa xôi, hẻo lánh, gia đình Thành chuyển xuống Lái Thiêu xoay sở tậu được một miếng ruộng nhỏ và một cặp trâu. Ở tuổi 15, Thành bỏ nghề bán thuốc lá dạo để chuyển sang đi cày thuê cuốc mướn. Việc học của cậu bé bị cản trở và chi phối rất nhiều bởi công cuộc mưu sinh vất vả hằng ngày, nhưng ý chí quyết tâm theo đuổi con đường học vấn để đổi đời đã vun đúc trong lòng cậu bé từ rất sớm.
Tiến sĩ Thành chia sẻ:
“Tôi có tư duy thích học, những lúc rảnh rỗi, tôi thường lấy sách đọc. Chỉ có môn toán là tôi học được vì không đòi hỏi tập trung nhiều. Cứ rảnh là tôi ngó qua một cái rồi để cái đầu tôi làm việc. Tôi được sự dạy dỗ của ông nội và ba tôi. Họ thường khuyên rằng học vấn là con đường ngắn nhất để đưa một người không có gì tới thành công.”
Tới năm học lớp 12, con đường học vấn của cậu bé nghèo, lam lũ bắt đầu rẽ bước ngoặt, xuất phát từ một đáp án dí dỏm của Thành trước câu hỏi của thầy đố các học sinh giỏi. Ấn tượng trước sự thông minh của Thành, người thầy đã soạn đưa cho cậu bé một số sách để tham khảo.
Giáo sư Trương Nguyện Thành kể lại:
“Năm 1979, Việt Nam lần đầu tiên tổ chức kỳ thi toán toàn quốc. Thầy tôi có đem mười mấy cuốn sách cho tôi mượn, bảo tôi đọc cho biết rồi tới dự lớp thầy dạy cho các học sinh giỏi dự thi toán. Tôi rất cảm động trước nghĩa cử này. Mỗi tối sau giờ làm ruộng, tôi đốt đèn dầu đọc sách từ 9 giờ tới 12 giờ đêm. Thời điểm đó, ở Việt Nam, hạnh kiểm là vấn đề khá quan trọng. Hạnh kiểm tôi tương đối xấu nên cô hiệu trưởng không cho tôi đi thi học sinh giỏi toán. Ông thầy lén đưa tôi đi theo đội tuyển, may quá tôi thi đậu. Tỉnh Bình Dương lúc đó chọn khoảng 30-40 em học sinh giỏi toán lên trên tỉnh học chuyên toán trong 3 tháng. Sau 3 tháng, họ tuyển lại lấy 5 em. Tôi cũng may mắn lọt vào trong 5 em đó. Cũng vì thế, ba tôi nhận ra rằng tôi có tiềm năng. Từ lúc đó, ông khuyên tôi nên nghỉ đừng đi cày thêm mà tập trung học. Và từ đó, ông tìm cách cho tôi ra nước ngoài.”
19 tuổi, sau khi thi đậu vào đại học Bách Khoa, chàng thanh niên Trương Nguyện Thành vượt biên sang Mỹ. Sau 1 năm ở trung học với những khó khăn bước đầu về ngôn ngữ, anh từ giã gia đình bảo trợ người Mỹ để bắt đầu cuộc sống tự lập ngay từ năm thứ nhất đại học. Để trang trải sinh hoạt phí trong thời đèn sách, phần đông các bạn trẻ ở đây thường phụ việc ở nhà hàng, tiệm giặt ủi, hay đi giao báo. Riêng trường hợp của Thành, anh tìm đến một người thầy và xin được theo chân làm việc trong phòng thí nghiệm để bắt đầu công việc nghiên cứu ngay từ năm đầu đại học, một công việc thường bắt đầu ở bậc cao học. Số tiền kiếm được đủ trang trải các khoản chi phí hết sức tiết kiệm hằng ngày. Còn học phí của anh chủ yếu nhờ các khoản vay từ nguồn quỹ dành cho sinh viên và các phần học bổng của chính phủ. Sau 4 năm đại học, anh ra trường với bằng cử nhân hóa học cùng với 4 văn bằng phụ về lý, toán, công nghệ thông tin, và thống kê.
Tốt nghiệp đại học, anh đi thẳng vào chương trình tiến sĩ. Trong thời gian nghiên cứu hậu tiến sĩ, anh dành được học bổng của Qũy Khoa học Quốc gia dành cho các tiến sĩ trẻ có tiềm năng vì lúc tốt nghiệp tiến sĩ, anh đã có 16 bài nghiên cứu trong khi trung bình một tiến sĩ khi ra trường xuất bản chừng 4-5 bài nghiên cứu. Năm 1992, anh về làm Giáo sư hóa cho trường đại học Utah. Một năm sau, anh được chọn là 1 trong những nhà khoa học trẻ nhiều triển vọng của Hoa Kỳ, với giải thưởng 500 ngàn đô la cho công tác nghiên cứu. Năm 2002, anh được cấp bằng Giáo sư Cao cấp, tức bậc cao nhất trong 3 cấp Giáo sư của Mỹ.
Những yếu tố nào giúp một cậu bé lam lũ, nghèo khó từng bán thuốc lá dạo, cày thuê cuốc mướn ở đáy xã hội Việt Nam lột xác, đổi đời thành một nhà khoa học danh tiếng tại Mỹ?
Giáo sư-Tiến sĩ Trương Nguyện Thành cho biết:
Người đó có tiềm năng trời phú. Thứ hai, có môi trường giúp họ phát triển. Thứ ba, người đó có nhận thức được rằng mình có cơ hội đó hay không.
Tiềm năng chỉ là khả năng, muốn đạt được thành công đòi hỏi phải có môi trường để phát triển. Môi trường không cho phép người đó phát triển, thì cũng không làm được. Điển hình là người Việt ở Mỹ hay ở nước ngoài thành công rất cao, thế nhưng tại sao ngay tại Việt Nam không có những ngôi sao như vậy?
Khi tôi bước chân vào trung học ở Mỹ, có một cậu vượt biên cũng giống trường hợp như tôi, đi một mình, được một gia đình Mỹ bảo lãnh. Cậu ta cũng ở gần nhà tôi. Khi tới Mỹ, tôi và cậu ấy có cùng một cơ hội như nhau. Tôi cố gắng hơn, tôi vào đại học. Còn cậu ta làm việc cho một hãng gà Tây, kiếm tiền liền. Một năm sau, tôi về lại làng thăm ba mẹ nuôi và ghé thăm thằng bạn. Công việc nó làm chỉ đứng móc ruột gà Tây thôi, chờ con gà chạy qua, đưa tay vào móc ruột gà ra. Nó khoe với tôi nó có được chiếc xe hơi. Còn tôi lúc đó vẫn chưa có gì. Sau 4 năm đại học, tôi trở về, anh bạn vẫn còn móc ruột gà Tây. Anh đã có được một căn hộ, có TV lớn, dàn máy xịn, xe hơi sports. Còn tôi vẫn chỉ một thùng sách quèn. Sau 5, 6 năm sau, tôi trở về, cậu bạn vẫn còn làm chỗ cũ nhưng cho biết phải đổi nghề vì đau nhức xương khớp tay do làm việc ở phòng lạnh. Lúc đó, tôi sắp ra tiến sĩ. Đó là cái điều kiện thứ 3 mà tôi muốn nói: người có tiềm năng, có môi trường, mà không nhận thức được cơ hội của mình và quyết tâm đạt được cơ hội đó. Thật sự, tôi không có xe hơi, không có bạn gái, không có tình phí, ở nội trú, ăn mì gói. Cho nên, chi phí tôi rất ít. Tôi làm việc trong phòng nghiên cứu chỉ đủ sống. Tôi ra đại học trong túi chỉ có 200 đô la, nợ nhà nước khoảng 15 ngàn đô la (mỗi năm khoảng 3-4 ngàn tiền học phí cộng với tiền phụ thêm để sống), cùng một thùng sách và một giỏ quần áo cũ.”
Thành công ở xứ người, Giáo sư Thành trở lại Việt Nam, giúp thành lập Viện Khoa học Công nghệ Tính toán TP.HCM bắt đầu đi vào hoạt động từ năm 2009. Vừa tiếp tục giảng dạy tại trường đại học Utah ở Mỹ, vừa giúp điều hành Viện nghiên cứu tại Việt Nam, Viện trưởng Trương Nguyện Thành nói về công việc của mình:
“Điều khiển một viện nghiên cứu từ xa rất khó. Cho nên, có một viện trưởng tại Việt Nam chuyên lo các vấn đề hằng ngày như làm việc với chính phủ, hợp đồng, hay mướn người. Còn tôi phụ trách chiến lược phát triển về khoa học, kêu gọi những người khác về giúp phát triển.”
Ngoài ra, cá nhân ông còn nhận bảo trợ cho các sinh viên giỏi từ Việt Nam sang Mỹ du học bằng chính nguồn quỹ nghiên cứu của ông. Đích thân Giáo sư Thành đứng ra phỏng vấn tuyển chọn người tài, và từ năm 2001 tới nay, ông đã tài trợ cho trên dưới 20 sinh viên Việt Nam sang Mỹ học tập, nghiên cứu. Trong số này có nhiều người đã trở về giúp ông phát triển Viện nghiên cứu tại Việt Nam.
Tiến sĩ Trương Nguyện Thành tâm sự:
“Thời còn đi cày mướn, lời nguyền của tôi là nếu tôi thành công, tôi sẽ đem cơ hội đó cho lại những người khác. Đó là tâm nguyện của tôi lúc còn ở đáy xã hội Việt Nam. Tôi thường nói chuyện với học trò của tôi khi họ tới cảm ơn tôi đã cho họ cơ hội. Tôi bảo họ không cần cảm ơn tôi. Điều họ có thể trả ơn tôi là đem cơ hội đó cho một vài người khác. Chính vì vậy, một số đệ tử của tôi về lại Việt Nam, giúp tôi lập Viện. Tôi gieo những hạt giống và từ đó sẽ nhân thành những hạt giống khác. Một con én không làm nên nổi mùa xuân. Tôi chỉ là người mở đường. Những người khác bước chân theo, làm cho con đường rộng ra, nhẵn thêm, dễ đi hơn.”
Giáo sư Thành nói ai cũng mơ ước thành công, nhưng chỉ có những người chịu khó nỗ lực mới tới được đích đến:
“Tôi chỉ có một lời nhắn nhủ với các sinh viên ở Việt Nam rằng trên đời cái gì cũng có giá phải trả. Nếu muốn thành công, phải chấp nhận trả cái giá đó. Thành công là một con đường đi chứ không phải là một điểm đích. Tôi không nói tôi đã thành đạt điều gì, chỉ là một con đường mà khi quay lại tôi thấy tôi đã đi được rất xa rồi.”
Con đường thành công của Giáo sư -Tiến sĩ Trương Nguyện Thành trải qua bao nhiêu năm gian nan, thử thách. Cậu bé bần cùng, lam lũ ở Việt Nam qua đến Mỹ cũng đã nếm trải bao nhiêu những thiếu thốn, khó nhọc để có được vị trí đáng nể như ngày hôm nay. Đó là nhờ sự quyết tâm vượt khó vươn lên, sẵn sàng trả giá cho con đường đã chọn.
Nguồn: VOA

Đỗ Xuân Cang một mình biểu tình tại cộng hòa Séc


Đỗ Xuân Cang một mình biểu tình. 


Câu chuyện về một người Việt Nam đang sinh sống và làm việc chỉ vì những hoạt động dân chủ ôn hòa nên bị Đại sứ quán Việt Nam trả thù bằng cách không gia hạn hộ chiếu khi hết hạn, cứ tưởng chừng như đã kết thúc. Thế nhưng, sự việc lại diễn ra hoàn toàn theo một kịch bản quen thuộc, như vẫn xảy ra hàng ngày tại một xứ sở có tên gọi ‘Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam’. Thật bất ngờ khi đọc được bài ‘Công hàm Sứ quán’ của tác giả Việt Nguyễn trên Thông Luận và Đàn Chim Việt. Thay vì mời đến để gia hạn hộ chiếu cho ông Đỗ Xuân Cang, thì tòa Đại sứ Việt Nam tại cộng hòa Séc đã chọn cách đối đầu, đẩy người dân vào chỗ cùng đường bằng việc gửi “Công hàm’ cho Sở Di trú Bộ Nội vụ Cộng hòa Séc nhằm mục đích ngăn chặn Sở Di trú Séc cấp qui chế tị nạn cho ông Đỗ Xuân Cang!
Là một trí thức, có hiểu biết và với mong muốn (ngây thơ) rằng phòng Lãnh sự sứ quán Việt Nam tại Séc sẽ hành động đúng theo pháp luật bằng cách công khai minh bạch trong chuyện thu chi các loại lệ phí và cần đối xử đúng mực với chính công dân của mình mà ông Cang đã bị tòa đại sứ tại Séc trong đó có cả ông đại sứ Đỗ Xuân Đông, người đồng hương Thái Bình, trả thù hèn hạ bằng cách tước đi quyền công dân, một trong những quyền cơ bản và tối thiểu nhất của mỗi con người.
Bức xúc trước hành vi chà đạp nhân quyền một cách thô lỗ như vậy nên ông Cang đã một mình biểu tình trước tòa đại sứ quán Việt Nam tại Praha vào ngày 16/11/2011. Hình ảnh ông Cang đội giá rét biểu tình trước tòa đại sứ giống như hàng trăm viên đạn hoa cải bắn thẳng vào bộ mặt tham nhũng và vô liêm sỉ của chính quyền Việt Nam. Than ôi! Sao sự việc này lại giống với ‘biến cố Đoàn Văn Vươn’ ở Tiên Lãng đến thế.
Thật ra những việc làm khuất tất, ăn tiền trắng trợn và công khai của các tòa đại sứ quán Việt Nam tại nước ngoài đều là những chuyện mà ai cũng biết vì đã diễn ra từ xưa đến nay.
Người Việt ai cũng rõ nhưng ít người phản ứng mạnh vì nghĩ rằng cần thông cảm với cán bộ, nhân viên đại sứ quán vì họ cũng phải bỏ tiền ra mua ghế nên họ phải thu hồi, hơn nữa ai cũng chép miệng: Nước Việt nam mình nó thế, tham nhũng là chuyện thường ngày ở huyện.
Chuyện bóc mẽ, vạch áo cho người (nước ngoài) xem lưng (bẩn) của chính quyềnViệt Nam là việc làm mà mỗi người Việt Nam còn chút lương tri và biết xấu hổ, không đành lòng. Thế nhưng với cán bộ nhân viên sức quán Việt Nam thì hoàn toàn ngược lại, họ không cần biết giữ thể diện cho đất nước và kể cả bản thân, họ sẵn sàng làm bất cứ việc gì miễn là có tiền dù đó là ‘làm tiền’ công dân mình hoặc đi buôn lậu sừng tê giác ở Nam Phi hay buôn lậu ô tô ở Ấn Độ cũng thế cả…( http://lethieunhon.com/read.php/5334.htm)
Điều thật sự gây ngạc nhiên là tại sao cán bộ sứ quán bây giờ tương đối trẻ, có ăn học đàng hoàng mà lại xử sự một cách ngu ngốc như ở tại Séc? Trước đây, những ai từng đến sứ quán Việt Nam tại các nước thì không khỏi hổ thẹn khi nhìn thấy bộ dạng của các ‘nhân viên ngoại giao’ của Việt Nam, trong họ nhếch nhác và thảm hại làm sao! Đen, lùn, lác, hô, bẩn…đủ các loại. Thôi thì cứ tạm ‘đồng ý’ với tư duy của họ rằng người Việt đều là những con cừu hay con bò để chăn dắt và vắt sữa nhưng ít ra cán bộ đại sứ quán và nhất là ông đại sứ Đỗ Xuân Đông phải có những hiểu biết tối thiểu về cách xử sự trong mối quan hệ quốc tế. Việc đại sứ quán gửi ‘Công hàm’ cho Sở Di trú Bộ nội vụ Séc là việc làm sai trái và hạ sách như tác giả Việt Nguyễn đã phân tích, thôi không nói lại làm gì, nó chỉ khiến chúng ta giật mình khi nhớ lại ‘công hàm’ của ngài thủ tướng Phạm Văn Đồng trước đây.
Điều rất đáng nói là tuy sống và làm việc tại Séc mà ông Đông và tòa đại sứ chẳng hiểu gì về Cộng hòa Séc. Cộng hòa Séc là một trong những nước cựu cộng sản khối Đông Âu đã chuyển đổi nhanh chóng và mạnh mẽ về phía dân chủ. Séc là quê hương của một con người dân chủ nổi tiếng, được cả thế giới kính trọng, cố tổng thống Vaclav Havel. Bây giờ cũng vậy, Séc luôn cổ vũ cho phong trào dân chủ trên thế giới và họ luôn sẵn sàng có những hành động cụ thể để bảo vệ các giá trị của dân chủ mà họ theo đuổi. Mới đây nhất là việc Séc đồng ý cấp qui chế tị nạn cho ông Oleksandr Tymoshenko, một doanh nhân 51 tuổi và là chồng của cựu Thủ tướng Ucraina Yulia Timoshenco và trước đó là với ông Bogdan Danilishin, cựu Bộ trưởng Kinh tế trong chính phủ của Yulia Timoshenko… việc này đã làm ảnh hưởng không nhỏ và có thể gây căng thẳng trong quan hệ ngoại giao giữa Séc-Ukraina. Chính phủ Séc biết điều đó nhưng họ sẵn sàng đón nhận mọi phản ứng bất lợi từ phía chính quyền Ukraina. Vì vậy không gì đáng ngạc nhiên và xấu hổ hơn là sau khi đại sứ quán Việt Nam tại Séc gửi ‘Công hàm’ cho Sở Di trú Séc yêu cầu không cho ông Cang tị nạn thì sau đó Sở Di trú đã gọi ông Cang đến để thông báo và cung cấp cho ông bản sao bức ‘công hàm’ của Đại sứ quán Việt Nam tại Séc gửi cho họ. Thật là nhục nhã.
Nghĩ cho cùng thì ‘rau nào, sâu ấy’, một chế độ toàn trị như Việt Nam thì ắt phải sinh ra các tòa đại sứ như ở Séc. Kể cả cơ quan chủ quản là Bộ Ngoại giao Việt nam cũng hành xử đâu hơn gì họ. Chúng ta có thể nhớ lại chuyện công nhân Việt Nam lao động tại Lybia, nếu Bộ Ngoại giao Việt Nam có một chút khôn ngoan và hiểu biết thì có lẽ giờ này hơn một vạn công nhân Việt Nam đã có thể quay lại làm việc Lybia. Tuy nhiên, điều đó sẽ không xảy ra vì chính quyền Việt Nam cho đến phút chót (của cuộc chiến tại Lybia) vẫn bám theo đuôi Trung Quốc và Nga, ủng hộ phe đại tá Gaddafi, không chịu công nhân chính quyền mới. Thử hỏi bây giờ Việt Nam ăn nói với chính quyền mới của Lybia thế nào đây?
Nếu sau vụ việc xảy ra với ông Cang mà bộ mặt nhem nhuốc của các tòa đại sứ quán Việt Nam ở nước ngoài có tồi tệ thế nào đi nữa thì cũng là hậu quả của những hành động ngu ngốc do đại sứ quán Việt Nam tại Praha- Séc gây ra. Đúng như nhận định của tác giả Nguyễn Đức trong bài viết “Những tòa đại sứ”: ‘Nếu có sự tập trung tiếng nói và chuyển tải sự thật đã xảy ra lên truyền thông quốc tế thì chính quyền Việt Nam khó có thể được ngồi yên. Các quốc gia bản xứ sẽ có nhiều lý do để không chấp nhận tình trạng công dân cuả họ bị trù úm, bị mất tự do, và bị thiệt thòi (kể cả về kinh tế) khi những công dân này đã chỉ phát biểu một cách hoà bình chính kiến cuả mình hay là đã có các hành vi đóng góp cho những giá trị lương thiện tại quê nhà’.
Lời cuối dành cho cán bộ nhân viên sứ quán Việt Nam tại nước ngoài: Hãy biết xấu hổ và biết tự trọng. Người Việt ở nước ngoài không ngu ngốc như ‘các ngài’ tưởng. Hãy nghĩ đến tương lai của mình và con cháu mình. Chế độ cộng sản Việt Nam rồi sẽ qua đi như một cơn ác mộng, các ngài biết rõ điều này hơn ai hết, đừng để đến lúc không dám vác mặt đi đâu và không dám nhìn mặt một ai.

© Đàn Chim Việt

San Francisco Biểu Tình : Đòi Hỏi Nhà Cầm Quyền CSVN phải trả Tự Do Cho Nhạc Sĩ Việt Khang

THÔNG BÁO BIỂU TÌNH


Kính gửi : Quý Hội Đoàn , Tổ chức Quốc Gia.
               Qúy Đồng hương Tỵ Nạn Cộng Sản và quý Chiến Hữu.
               Quý cơ quan Truyền Thông .
               Xin nhờ phổ biến rộng rãi.
Tham chiếu :
               Đề nghị của chiến hữu Nguyễn Phú Hội Trưởng H.O.
               San Francisco
Một cuộc biểu tình sẽ được tổ chức trước Tòa Lãnh Sự Cộng Sản VN
tại San Francisco, để đòi hỏi nhà cầm quyền CSVN phải trả Tự Do cho Nhạc Sĩ Việt Khang. Vì lòng yêu Tổ Quốc và Dân Tộc VN, Nhạc Sĩ Việt Khang đã sáng tác những bản nhạc đấu tranh chống lại bọn Tầu Cộng Xâm lược, chống bọn nhu nhược bán nước. Do đó Nhạc Sĩ Việt Khang đã bị bọn Cộng Sản VN bắt giam trước Xuân Nhâm Thìn.
Cùng với nỗi uất hận của Quê Hương Dân Tộc, trước hành động :
HÈN VỚI GIẶC, ÁC VỚI DÂN.
Một cuộc biểu tình trước hang ổ Việt Cộng tại Bắc Cali được các Đoàn thể Quốc Gia phối hợp cùng Chiến Hữu Nguyễn Phú Hội Trưởng H.O. SF

Thời gian :   11 giờ ngày 12-2-2012
Địa chỉ :       1700 California
                    San Francisco, Ca
Vậy chúng tôi trân trọng thông báo và kính mời quý vị sắp xếp thời gian đến tham dự cuộc biểu tình nói trên.
Địa điểm tập trung  vào lúc 9 giờ sáng :

1)  LĐCT Trung Tâm Văn Hóa Việt Mỹ.
     2290 Tully Rd.  

2)  Khu Hội CTNCT Bắc Cali
     775 N. 10th  ST
 
Tại địa điểm Khu Hội có 1 xe Bus 56 chỗ ngồi để đón bà con.
                                                              TM. Ban Phối Hợp.
                                                                     Mai Khuyên.

Điện thoại Liên lạc :
Khu Hội                : (408) 289-9170
Ô Cao minh Trí     : (408) 315-5977
Liên Đoàn Cử Tri   : (408) 800-5181
Lương Tâm CG       : (408) 677-7891
Ủy Ban Chống Cộng (408) 728-2017
Lời kêu gọi Asia entertainment

Bài Xem Nhiều