We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Saturday, 11 February 2012

“Bác Hồ kính yêu của ông Bùi Tín”

“BÁC HỒ” ĐÂU PHẢI SỞ KHANH! ("BÁC" CHI? LÀ XẾP SÒNG DÊ CHÚA...LÒI ĐUÔI DÊ XỒM DÀI SOỌC)
   
Hình thằng Hồ DÊ XỒM, Xếp Sòng Dê Chúa (GOAT KING) và cô gái sơn cước ho. Nồng (?) mỹ miều. Dê Chúa ho. Hồ (Ly Tinh) đụng zô là..."chương trình thủy lợi của nường phát triển...rạt rào, đạt ngay chỉ tiêu tối (mới) cao trong 1 second...instantly, no question asked. "Bác" Hồ khi NGÁO vẫn cứ còn..."CHINH" (ô đờ li zin).

 
“Đảng ta có một “Bác Hồ”
Khiến cho cả nước tô hô sự đời.
Áo quần rách rưới tả tơi
Thằng cu, cái hĩm đứng ngồi lộ ra
“Bác Hồ” trơ cái mặt già
Đi đâu dê đó đàn bà ớn luôn
Hồ rằng tu ở trong hang
Đêm đêm tìm hóc là chàng bợ ngay
Kể sơ tên tuổi ấy người:
Tuyết Minh, Thị Lạc, ả này Lim Sam
Vợ Nga, vợ Pháp tùm lum
Vạch ra “Kách Mệnh” um tùm lá đa
Than ôi “Bác” của đảng ta
“Thần đồ nó ám””Bác” ca đại đồng!”

Thật ra “Bác Hồ kính yêu của ông Bùi Tín” không phải “tệ” như thằng nhà thơ phản động Phi Hồng của Phong Trào Xoá Bỏ Huyền Thoại Hồ Chí Minh, tức Phong Trào “No Hồ” đã làm thơ “ca tụng” như bài thơ trên.
 
Theo bài viết “Một người vợ Trung Quốc khác của Hồ Chí Minh” do một tác giả Trung Quốc viết vừa được phổ biến trên các trang mạng trong tuần qua thì:
 
“Bác Hồ đâu phải Sở Khanh
Chơi hoa rồi lại be? cành bán rao!” 
 
mà “Bác” lại là một người tình rất là chung thủy!
 
Theo bài báo thì năm Hồ Chí Minh 40 tuổi, lúc đó đang hoạt động ở Trung Quốc đuợc một đảng viên Trung Cộng là Đào Chú giới thiệu cho một nữ đảng viên CS Trung Cộng tên Lâm Y Lan. “Bác Hồ” bèn phải lòng vì “thiếm Sẩm” này giống một người yêu của “Bác” đã chết. 
 
 Khi bị bắt, trước lúc chia tay “Bác” lấy cuốn nhật ký của mình trao cho Lâm Y Lan và nói: “Anh để trái tim lại bên em, hãy nhận lấy đi!” Ba hôm sau, HCM được giải cứu. Ông hỏi Lâm Y Lan: “Đọc xong nhật ký của anh rồi chứ gì!Anh tin rằng đoá hoa lan trong trái tim anh sẽ không bao giờ khô héo”. Lâm Y Lan không ngăn được tình cảm, nhào vào lòng HCM.
 
Vào những năm 50 của thế kỷ trước, Lâm Y Lan vẫn ở một mình. Khi Đào Chú quan tâm đến chuyện hôn nhân của bà, bà mới nói vẫn còn yêu HCM. Đào Chú hỏi: “Ông ta có yêu bà không?” Bà đáp: “Ông ấy bảo tôi đợi ông ấy!”
 
Theo câu chuyện kể thì “Bác Hồ” có sang Tàu và xin với “Bác Mao” để làm đám cưới với Lâm cô nương. Khi gặp lại nhau, Lâm Y Lan có đưa trả “Bác Hồ” quyển nhật ký nhưng “Bác Hồ” đã nói:
 
“Bên mình anh không có em, rất lâu anh không còn viết nhật ký nữa, cứ để nó lưu lại nơi em làm kỷ niệm”.
 
Cũng theo bài báo thì khi Trung ương Đảng CSVN họp bàn về việc cưới vợ cho “Bác Hồ” thì “Anh Ba” tức Lê Duẫn phản đối với lý do là Bác đã tuyên bố độc thân để lãnh đạo cách mạng.
 
“Bác Hồ” không biết làm thế nào và đành viết thư cho Lâm Y Lan: “Lâm Y Lan thân yêu, chúng ta không có duyên tái hợp. Em đã nghe kể về tình yêu tinh thần của Plato chưa? Hãy để cho tâm hồn hai chúng ta mãi mãi hòa làm một”.
 
Lâm Y Lan trả lời: “Nếu là trên trời xin làm đôi chim liền cánh, nếu là dưới đất xin làm đôi cây giao cành. Trời dài, đất rộng có lúc tận, còn mối tình này không bao giờ cạn”.
Năm 1968, trước lúc lâm chung, Lâm Y Lan nhờ người gửi trả nhật ký cho Hồ Chí Minh.
 
Một năm sau, HCM qua đời, lúc hấp hối còn gọi tên Lâm Y Lan. 
*
Cách đây 10 năm, năm 2002, nhóm Câu lạc bộ Sinh viên Việt Nam ở trong nước đã phổ biến tài liệu “Cột Mốc 108 và chuyện tình của Bác Hồ”.
 
Theo tinh thần của bài viết thì “mục tiêu được đề cập chính trong bài viết này không phải là để viết về một phát hiện mới trong cuộc đời tình ái của Hồ Chí Minh. Vấn đề đây là những dấu mốc lịch sử trong những năm tháng Hồ Chí Minh đặt chân ở hai vùng biên giới phía Trung Hoa trước tháng 10 năm 1944 sau tháng đó ở vùng rừng núi Việt Nam thuộc tỉnh Cao Bằng ngày nay. Từ những luận chứng, chứng cứ mới này để người Việt trong và ngoài nước có thể đối chiếu, so sánh và cập nhật ghi nhớ trong công cuộc tranh đấu chống sự xâm lăng của Trung Cộng cũng như hành động bán nước nhục nhã của bè lũ cộng sản Hà Nội tại miền biên giới phía Bắc này.”
 
Và hiện nay, chúng đang rước hoạ diệt vong trong việc chấp thuận cho Trung Quốc khai thác quặng bauxite ở Tây Nguyên.
Theo tài liệu do Câu lạc bộ Sinh viên Việt Nam phổ biến thì, năm 1941, Hồ vào vùng Cao Bằng thuộc hang Pắc Pó để thành lập chi đội tuyên truyền ủng hộ đồng minh chống Nhật. Tại đây, “Bác” Hồ quen Nông Thị Trưng, một “nữ đồng chí” được cơ quan chi bộ phái của Trung Hoa cộng sản Đảng chọn để hầu hạ. Nông Thị Trưng (có tài liệu ghi là Nông Thị Ngát) năm đó mới 18 tuổi. Nông người Tày, rất đẹp, có duyên nhưng mù chữ và gọi “Bác” Hồ là “chú Thu”. Được huấn luyện trước đó 9 tháng để làm giao liên  cho Hồ. Tháng 9 năm 1941 cho đến tháng 10 năm 1943, “Cháu Trưng” liên tục được “chú Thu” (tức Hồ Chí Minh) liên tục huấn luyện và xóa dần mù chữ. Một chuyện tình có thể đã xảy ra giữa “cháu Ngát” và “Chú Thu” trong những năm tháng này.
 
Tháng 11 năm 1943, Pháp tổ chức càn quét an toàn khu vùng sát sườn cột mốc 108 mà Pháp và Thanh triều đã cắm mốc năm 1898 và tu bổ năm 1923. Cuối tháng 11, Hồ phải chuyển căn cứ sang vùng Khuổi Nặm cách Pắc Pó 30 km về hướng Tây Nam.
 
Tài liệu ghi rằng: “Hồ đã tặng Nông một bài thơ ghi nét chữ đẹp trên một quyển “binh thư” có nội dung như sau:   
 
“Sách này ta tặng cháu yêu ta
Tỏ chút lòng yêu cháu gọi là
Mong cháu gắng công mà học tập
Mai sau giúp ích nước non nhà!”
 
Tình cảm như vậy rất là bình thường. Nó phải nảy sinh khi cái đẹp đến và khuất phục người thanh niên đã lớn tuổi thiếu tình yêu đã lâu. Việc phản bác và công kích dữ dội những ai dám động đến đời tư của Hồ chỉ là một việc làm có thể nói là “vô tác dụng” của cộng sản Hà Nội. Bởi vì, Nông Thị Trưng sau khi về nước cùng Hồ đã vắng mặt khá lâu tại vùng biên giới này. Và Nông bỗng nhiên được ưu đãi đặc biệt và trở thành chánh án tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng mười năm sau đó. Người ta đặt câu hỏi việc gì đã xảy ra trong những năm tháng đó. Nông đã đóng góp gì mà chỉ sau 10 năm trở thành tỉnh ủy viên, ủy viên ban chấp hành trung ương và là người đứng đầu ngành hành pháp tại một tỉnh xung yếu phía Bắc như thế? Động lực nào? Bên cạnh, việc Nông và Hồ có những liên hệ gặp gỡ thân thiết xung quanh vùng có cột mốc 108 gần hang Pắc Pó là một dữ kiện rất quan trọng để chúng ta so sánh lại địa điểm hang này trước và sau 1999. Cột mốc 108 nay ở chính xác vị trí nào so với hang Pắc Pó?”
 
Như vậy, cho đến lúc này chữ “Bác” chưa hề xuất hiện trong đầu cô sơn nữ họ Nông. Theo tài liệu cho biết thì: “Giữa Nông và Hồ là tình cảm trai gái cảm mến, có chút tình ơn.”
 
Tháng 2 năm 1944, Hồ bị mất liên lạc với Trung Hoa cộng sản đảng và bị quân Tưởng Giới Thạch bắt tại Hong Kong. Tháng 9 năm 1944, Hồ được thả về nước.  Dấu ấn thời kỳ này là tháng 10 năm 1944, Hồ chưa đặt chân lại vào vùng Pắc Pó mà vẫn ở nơi cách biên giới Trung-Việt và cột mốc 108 khoảng 40 km về phía đất Trung Hoa. Chính trong thời gian “nằm chờ” này, Hồ (chú Thu) đã gặp lại Nông (cháu Ngát) tại vùng đất Trung Hoa và rất có thể ảnh hưởng tình cảm có phần sâu đậm hơn giữa chú cháu. 
 
Theo tài liệu giải thích thì:
Tài liệu  đưa ra kết luận:
 
“Chúng ta có thể biết được chính xác vị trí mà hai người đã gặp tại Trung Hoa, so sánh vị trí của nó với cột mốc 108 ở thời điểm 1944 với thời điểm hiện nay. Đó mới là vấn đề tối ưu mà quốc dân cần xem xét để xử lý, xét xử vấn đề bằng chứng phạm tội bán nước của chính quyền Hà Nội hiện nay.
Cuộc tình Nông và Hồ đã đi vào dĩ vãng. Nhưng đất đai mà tổ tiên ta đã đổ máu ra để gìn giữ, dứt khoát không một thế lực chính trị cộng sản vọng ngoại nào có thể đem ra trao đổi và đẩy nó vào dĩ vãng được. Làm như thế là đại nghịch và bất hiếu, bất trung với tổ tiên.”    
*
-Ông Móc có thấy không: theo hai chuyện tình được kể thì “Bác Hồ” đâu có phải là Sở Khanh. Ngay như Nông Đức Mạnh tôi, dù “Bác Hồ” vì “nhiệm vụ Cách mạng” đã bàn giao lại “Bầm tui là bà Nông Thị Ngát và cái bào thai trong bụng là tui” cho người khác, Bác vẫn tìm mọi cách nâng đỡ để sau này Bầm tui là Chánh Án tỉnh Cao Bằng, còn tui thì kế tục sư nghiệp Tổng Bí Thư.
 
Với bà dì Lâm Y Lan ở tuốt bên Tàu mà “Bác Hồ” vẫn còn chung tình ra rít như vậy, ông Móc có thấy không?
-Đúng lắm! Bác Hồ rất là chung tình. Bác Hồ đâu có phải như cái thằng chó đẻ Sở Khanh nó đã giở trò “bợm sỏ” với Thúy Kiều, vậy mà cái bọn xấu nó lại viết sách bảo là “Bác Hồ” giải quyết sinh lý đã đời với bà Nguyễn Thị Xuân sinh được một đứa con. Bà này “xin ra công khai” thì “Bác”  “bán cái” cho thằng Công An chó đẻ Trần Quốc Hoàn, thằng này “hưởng sái nhì” đã đời rồi siết cổ chết. Sau đó dàn cảnh là bị xe hơi đụng. Bậy bạ thiệt! Nhưng mà xin thưa ông (cựu) Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh: Tại sao tới bây giờ bọn Cộng Chệt nó mới đưa ra cái chuyện tình thơ mộng tràn đầy nhân bản “như chim liền cánh, như cây liền cành” giữa “Bác Hồ” với “thiếm Sẩm” Lâm Y Lan?
 
-Còn làm sao nữa, ông Móc. Bọn nó “lít” cái vụ này ra để rúng ép Đảng ta về cái vụ Hoàng Sa, Trường Sa và biển Đông ấy mà.
 
-Mà rúng ép cái, thưa ông Tổng Nông?
 
-Còn cái gì nữa ngoài cái vụ mà Bố Hồ của tui đã sai chú Phạm Văn Đồng ký cái công hàm dâng hai cái đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Rồi sau đó mấy lão Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười lại tiếp tục chầu hầu lão Giang Trạch Dân để xin làm Thái Thú tỉnh… Quảng Nam.
 
-Cái gì… Thái Thú tỉnh Quảng Nam?
-Thì Trung Cộng đã có tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông. Nay, Việt Nam ta xin sáp nhập để được làm tỉnh… Quảng Nam cho nó trọn bề nịnh bợ!
 
-Có thật không đấy, ông Nanh Đức Mộng? “Bố Hồ của ông” leo lẻo cái miệng: “Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải ra công giữ nước!” Nay, mấy ông lại thi đua bán nước.
 
Đúng là không có cái thời đại nào khốn nạn bằng cái thời đại Hồ Chí Minh… ché đỏ!
 
- Ơ! Ơ!… ông Móc đừng có nóng!
 
LÃO MÓC

MÀU CỜ -SẮC ÁO




Từ ngàn xưa, trẻ con hay bô lão ai cũng thích có một “lá cờ” hay một cái gì đó – một cành bông lau chẳng hạng - tượng trưng cho mình, cho “phe ta”, để “phất”. Nghĩ cho cùng thì đó cũng chỉ là một nhu cầu tự nhiên nhằm chứng minh cho thiên hạ biết mình là ai. Nói theo ngôn ngữ Phú lăng Xa hiện đại, màu cờ chính là căn cước của đảng, của dân, của nước,“identité d’un parti, d’un peuple, d’une nation”... Bề ngoài, lá cờ chỉ là một mảnh vải không hơn không kém. Nhưng màu cờ lại rất khác biệt nhau, khác biệt đến “sinh tử”. Điển hình là màu cờ đỏ sao vàng và màu cờ vàng ba sọc đỏ. Dù chỉ có đỏ với vàng, nhưng hai màu cờ nầy như nước với lữa, như dầu với nước, không thể hoà hợp nhau, cũng không thể kề cận nhau. Tuy là một mảnh vải màu, nhưng biểu tượng thật là ghê gớm, thật là mảnh liệt đến độ những ai tự xem mình phục vụ dưới màu cờ đó sẵn sàng hy sinh cả đến tính mạng để bảo vệ nó.

Trong thiên hạ từ ngàn xưa, những đoàn quân đi chinh chiến không quên mang theo lá cờ. Binh sĩ thay nhau dương cao lá cờ đó giữa trận tiền, người nầy nằm xuống tức thì có kẻ khác tiến lên giữ cho lá cờ luôn được phất cao dù biết rằng mình cũng sẽ nằm xuống. Vì thế nên tuy chỉ là một mảnh vải màu nhưng lá cờ thật vô cùng thiêng liêng. Khi xuống đường chống đối nhau trên mặt trận truyền thông, người ta hay bỏ lá cờ của đối phương xuống đất dẫm lên – nhưng không vì thế mà gọi là chống đối hạ cấp - hay xé nát, đốt cháy, che khu, bịt mông ... để biểu lộ lòng câm phẩn đối kẻ thù. Phải ngu như bò mới không hiểu được những điều hết sức tầm thường nầy.Tổ tiên ta đã đổ bao nhiêu xương máu để gầy dựng tổ quốc hôm nay chứ nào phải tự nhiên mà có. Biết bao nhiêu tổ tiên mới có được một tổ quốc, một màu cờ. Ý thức được điều đó nên trong cuộc chiến vừa qua, quân dân miền Nam đã quyết liệt bảo vệ từng tất đất để...cấm cờ! Thấy nơi nào có màu cờ máu của cộng nô là quân ta lao vào trống mái với địch, quyết không để màu cờ đó tung bay trên đất Việt ngày nào quân dân ta còn đây. Nhớ thuở quân ta đã cấm lại ngọn cờ vàng trên thành nội Huế trong sự hoan hỉ của toàn dân Nam sau bao nhiêu gian khổ và hy sinh trong cuộc chiến Tết Mậu Thân để tiêu diệt bọn chó cắn trộm xâm lược cộng sản Bắc Việt. Lần dựng cờ trên thành nội đó, có một chiến binh TQLC trong lúc hân hoan, “say men chiến thắng” đã lấy một quả đạn chiếu sáng định bắn lên thay cho pháo bông. Nhưng loay quay cướp cò thế nào mà quả đạn lại chui vào bụng soi sáng bộ đồ lòng. Dư biết mình sắp giã từ vũ khí, nhưng anh vẫn tỉnh táo tươi cưởi chào là quốc kỳ một lần cuối trước khi quị xuống trước sự ngơ ngác ngỡ ngàn thương xót của đồng đội. Màu cờ vàng lại nặng thêm bao nhiêu xương máu của quân dân ta.


Rồi vào mùa hè đỏ lữa năm 1972, quân ta lại tiếp tục can trường hy sinh để đánh đuổi bọn cộng phỉ sát nhân chạy về bên kia Bến Hải, dựng lại ngọn cờ vàng trên cổ thành Quảng Trị, bảo vệ toàn vẹn lảnh thổ và an vui cho dân Nam. Trong trận nầy, có bao nhiêu người dân bị thảm sát oan ức trên “đại lộ kinh hoàng”, và bao nhiêu chiến sĩ đã hy sinh để dựng lại ngọn cờ vàng? Màu cờ nầy lại nặng thêm ơn nghĩa của bao nhiêu chiến binh đã hy sinh vì nó. Mỗi lần nhìn lá cờ vàng là mỗi lần nghe xúc động sâu xa vì nhớ đến bao nhiêu bè bạn đã vì nó mà vong thân bỏ lại vợ hiền con thơ. Và nghe nặng trỉu trên vai mấy chữ Tổ quốc, danh dự, trách nhiệm... Chỉ có những kẻ đã từng trốn tránh và những kẻ sinh sau đẻ muộn không biết gì về cuộc chiến, về những hy sinh của bao nhiêu thanh niên trai trẻ, về bản chất và những hành động dã man của cộng phỉ Bắc Việt, nên không có bất cứ một xúc động nào khi họ đứng nghiêm chào lá quốc kỳ màu vàng. Thậm chí họ còn xem nhẹ màu cờ, đối với họ lá quốc kỳ không mang một ý nghĩa gì đặc biệt đến thiêng liêng, nên muốn làm gì nó thì cứ làm. Sống giữa thời chinh chiến mà vô tâm đến thế thì... thôi!Rồi khi đồng minh đã dã tâm dùng miền Nam như một món hàng để trao đổi với Tàu cộng mặc cho hàng trăm ngàn người Việt đã bỏ mạng trong lòng biển cả, trong lao tù cộng sản, chỉ có một số người đã may mắn thoát ra được nước ngoài sống lại cuộc đời tự do. Tuyệt đại đa số những người Việt tị nạn cộng sản nầy đều ấp ủ, tôn thờ màu cờ vàng, quyết tâm không đội trời chung với cộng nô Bắc Việt. Nhưng như thói thường, mọi việc đều có ngoại lệ : một số người tị nạn, theo thời gian, đã vội quên quá khứ, vì bản chất giá áo túi cơm hơn là vì mắc bịnh Alzheimer. Họ đã quay về hợp tác với lũ cướp của giết người; tệ hại hơn họ đã từ chối không nhìn nhận màu cờ vàng đã từng che chở họ được bình an ăn học, vui sống... Họ đã chọn con đường phản bội, phản bội lý tưởng ban đầu của họ, phản bội dân tộc. Họ là những tên phản quốc, cấu kết với Bắc Việt hiến dâng đất nước cho Tàu cộng, dìm dân tộc vào tù đày, nghèo khó. Dù khoa bẳng hay dốt nát, họ đều là những kẻ vô sĩ, vô lương đáng cho đời phỉ nhổ. Họ đã từ bỏ lá cờ vàng và tôn thờ lá cờ máu đã từng sát hại gia đình họ, đồng bào họ, và họ đã từng tháo chạy bán sống bán chết cũng chỉ vì màu cờ đó !

Những kẻ khoa bảng nầy không học được cái hào khí sáng suốt của thi hào Lamartine khi giới thợ thuyền cộng sản Paris tạo loạn – năm 1848 - và làm áp lực để chính phủ phải bỏ hai màu xanh trắng trong cờ tam sắc của Pháp, chỉ giữ lấy một màu đỏ, nhà thơ (và là bộ trưởng) Lamartine đã dứt khoát rằng màu đỏ là màu cờ của đảng phái, không bao giờ là cờ của quốc gia. Cộng sản Bắc Việt là loài vô tổ quốc, chỉ biết có đảng nên đã lấy cờ đảng làm quốc kỳ cũng là điều dễ hiểu. Khó hiểu chăng là thái độ của sĩ phu miền Nam trước kia nay lại chọn màu cờ đỏ để tôn thờ. Giới sĩ phu nầy phải là loại sĩ phu “đầu tôm”.Những kẻ ngốc nghếch, dốt nát, mù tịt về bản chất của CS, chỉ biết ăn ngon mặc đẹp, làm bất cứ gì để được thiên hạ chú ý, như cô đào Jane Fonda, có ngả theo giặc cộng cũng chẳng có gì lạ. Những kẻ đạt được chút khoa bảng thường hay sinh ra háo danh. Trong chính trường họ nhảy từ đảng nầy sang đang khác mong kiếm chút địa vị, ngụy biện rằng họ đi tìm một lý tưởng phù hợp để che đậy bản chất tiểu nhân. Trên đất Phú Lăng xa có ông họ “Mít” là nhân vật rất tiêu biểu cho hạng người nầy. Lúc thiếu thời, ông cốt là người phe hữu, nhưng sẵn sàng mò mẫm sang phe Vichy với hàng tướng Pétain để kiếm chát, trong khi bao nhiêu tuổi trẻ đều bỏ theo kháng chiến với De Gaulle. Không được gì, Mit ta lại la cà quay về với De Gaulle, nhưng không được lưu ý. Khi quốc gia sạch bóng quân thù, ông ta lăng vào chính trường và, tuy cốt là hữu phái, nhưng ông ta đã không ngần ngại theo tả phái để nắm lấy đảng xã hội, dùng nó làm phương tiện tiến thân lên tới tột đỉnh của danh vọng. Rất háo danh nhưng dư biết rằng không bao giờ được vào nằm nghỉ trong Panthéon bên cạnh những bực vĩ nhân của quốc gia, ông ta bèn tổ chức một buổi lễ đặc biệt, long trọng để với tư cách một tổng thống, ông cầm bông hồng đỏ tiêu biểu của đảng xã hội, “thênh thang đi vào” Panthéon ngay khi còn sống ! Nhìn ông mặt mày sáng rở với nụ cười mỉm chi cọp, tôi bổng nghĩ rằng chắc ông ta đang khoái chí tự nhủ : “ J’entre de mon vivant dans le Panthéon”.

Kể ra ông ta rất tự biết mình, nhưng cái háo danh đã làm ông mờ mắt nên không biết rằng hành động trên biểu lộ trọn vẹn cái bản chất “người nhỏ” của ông trước lịch sữ.Những chính khách xứ nầy có ngả theo đũ các đảng phái trong Phú lăng xa cũng chẳng ai lưu tâm, vì các đảng nầy chưa có bao giờ nhúng tay vào máu của quần chúng. Người Việt chúng ta thì lại khác, CSVN đã nhiều lần phạm tội diệt chủng. Những tên khoa bảng của phe ta luôn hợm mình là trí thức, là “lảnh đạo”... Họ theo CS cũng chẳng có gì lạ ! Họ chỉ đáng khinh. Họ học quá hóa ngu, bằng cắp đầy mình mà không qua được những tên đá cá lăn dưa CS có khi không đọc nổi tiếng mẹ đẻ. Trong lao tù tôi đã từng chứng kiến cảnh một đồng nghiệp của tôi cúi đầu vâng dạ trước một cán ngố đáng tuổi em cháu, và xưng em nghe ngọt xớt (cũng còn may là chưa nghe ai xưng con với lũ cán bộ). Nỗi khùng lên tôi đã muốn xong ra vặn hộng tên... ngụy. Tấm gương và bài học, rất sáng giá, của những Nguyễn Hữu Thọ, Dương Quỳnh Hoa, Trương Như Tản... hình như không được ai soi, không có ai học. Mới ngày nào đây, một ông thạc sĩ mà bị một nữ cán bộ CS gạt, cho xe hơi đến tận nhà đón cả gia đình đưa thẳng vào tù thay vì đưa đi vượt biên như cô ta hứa hẹn. Rõ tội nghiệp cho dân Nam khù khờ quá mức. Ông bà ta xưa nay đã dạy rồi : thiệt thà là cha dại. Mao đã có lý khi bảo là trí thức không bằng một cục phân. Chỉ cần lấy một cục phân, hóa trang đôi chút cho có phần hấp dẫn, là sẽ có vô số “trí thức” bu quanh như bầy ruồi bọ.

Cũng chẳng có gì lạ ở thời đại nầy, thời đại của danh với lợi. Trí thức cở Kissinger còn sẵn sàng nhấm mắt đóp lấy giải Nobel hoà bình xây dựng trên sinh mạng của toàn dân Việt mà chẳng chút “rùng mình”, trách gì cô đào hát J. Fonda hay các “trí thức” của ta.Nhưng thôi, chọn lựa là một quyết định tự do của mỗi người, không ai có quyền cấm cản, mọi người đều có bổn phận tôn trọng. Chỉ cá nhân chịu trách nhiệm sự chọn lựa của mình. Chúng ta chỉ có bổn phận xem họ là người bên kia chiến tuyến, cắt đứt mọi liên hệ, ghi nhớ tên tuổi họ, truyền đạt rộng rãi cho bạn bè, cho hậu bối biết và ghi nhớ để tránh, để không bị lầm lẫn, xâm nhập. Những người đó – và cả chúng ta - phải hiểu rằng hành động không treo cờ vàng, hay không hát quốc ca trong mọi sinh hoạt của nhóm, của hội, của bất cứ tổ chức lớn nhỏ nào đều biểu lộ rõ ràng sự phản bội màu cờ vàng, không có lời giải thích, ngụy biện nào có thể chấp nhận được.

Khi đã có quyết định dứt khoát xem bọn người đó là phản tặc chúng ta chẳng nên mất thì giờ “đôi chối”, hay bút chiến gì gì đó với bọn phản trắc chi cho mệt, có khi còn bị “mắc mưu CS” lừa chúng ta vào mê hồn trận nhầm đánh lạc hướng đấu tranh giúp chúng nó có thời gian âm thầm chuẫn bị đánh phá chúng ta ở một địa bàn khác mà chúng ta không kịp đề phòng.
Đông Vân Nguyễn văn Dõng.
Một ngày mùa đông 2012

Bài Xem Nhiều