We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Sunday, 12 February 2012

Di Sản “ác chủ ” HCM : ĂN CƯỚP ĐIỀU TRA VỤ CƯỚP

 ĂN CƯỚP ĐIỀU TRA VỤ CƯỚP

Kính thưa quý vị,
Kính thưa quý thân hữu, quý chiến hữu cùng quý Niên trưởng,
Xưa nay “kẻ cắp già mồm” đã là quá lắm. Vậy mà nay thời đại “mừng đảng, mừng xuân, mừng đất nước”, tên ăn cướp lại được “nhà nước pháp quyền, dân chủ triệu lần” chỉ định làm trưởng ban điều tra vụ cướp do chính hắn điều quân chỉ huy. 

Đó là Đại tá “công an còn đảng còn mình” Đỗ Hữu Ca, giám đốc CA Hải Phòng. Trong vụ bom Sa Điện Tiên Lãng vừa... chưa qua, Đại CaCa (Đại tá Công An Đỗ Hữu Ca - xin viết tắt cho gọn) đã đích thân chỉ huy trận đổ bộ Đầm Vươn mà có người so sánh với cuộc đổ bộ cuả quân đội Đồng Minh lên bờ biển Normandie hồi Thế chiến ll; và cho rằng người Mỹ tự hào có Đại tướng Eisenhower người hùng Normandie, thì Việt Nam ta cũng đâu chịu thua vì nay có Đại tá Caca là anh hùng Norman... đầm.

Cùng là đổ bộ cả, chỉ khác ở chỗ: Tướng Mỹ đổ bộ Normandie để giải phóng nước Pháp khỏi tay Phát Xít Hitler, trong khi CaCa ta đổ bộ Normangđầm để cướp đất anh em nhà Đoàn Văn Vươn.

Cướp xong lại lên Đài truyền hình nhà nước khoe:” Vụ việc hôm ấy tuy bắt không được đối tượng nhưng trấn áp được đối tượng. Phải nói rằng việc hiệp đồng tác chiến cực kỳ hay. Tôi bảo không có cuộc diễn tập nào thành công bằng cuộc diễn tập lần này. Một là anh em cơ động dùng thuyền để tiếp cận là chưa bao giờ có trong giáo án, đã phải dùng thuyền nan để chèo vào, bí mật áp sát mục tiêu đấy. Đánh mũi trực diện nghi binh ra làm sao. Rồi là tác chiến vòng ngoài, vòng trong thế nào. Tôi nghĩ là rất hay, có thể viết thành sách” (trích VOV.VN). “

Đến khi nghe phong thanh chuyện ủi sập nhà ở hai tầng của hai gia đình anh em họ Đoàn có mòi bị kết tội phá hoại tài sản của dân thì Đại Caca khẳng định đó là cái chòi chứ không phải nhà.

So với những chuyện Vinashin, Bô Xít, Tiền Polymer, đánh chết người vô tội như ngóe, cướp đất, cơ sở tôn giáo, bắt nhốt người yêu nước, hàng trăm ngàn dân oan vì bị cướp đất nhà, và bao nhiêu nỗi oan khiên khác, vụ cướp đầm của Đoàn văn Vươn chẳng là gì cả. Nhưng vì chuyện có nổ súng, và quân phe ăn cướp bị thương, khiến thiên hạ làm rùm beng lên e “tạo tiền lệ xấu”, nay thượng cấp phải “điều tra làm rõ vụ việc”.

Nạn nhân vì quá tay chống lại ăn cướp phải đi tù, còn ăn cướp đang phây phây, chỉ có mấy tép riu thì “ngưng việc, kiểm điểm”; và đang chờ kết quả Đại CaCa cầm đầu đám cướp điều tra vụ cướp.

Đất nước này còn gì để “phản biện trung thành” nữa không? Hay ông đ...ếch cần biết, cứ “tiếp tục bám trụ... vào đảng”


----------
Hiếm và Tốt

Một ông nhà giàu nọ bị bệnh nan y sắp chết, bác sĩ Tề nói muốn sống thì phải thay nội tạng. Ông ta lập tức bay ra chợ đen nội tạng bên Trung Quốc. Đầu tiên, ông ta vào tiệm bán tim.Tại đây, tim các loại có đủ cả. Nào là : tim bác sĩ, tim nông dân, tim công nhân, tim luật sư, tim thầy giáo… nhưng mắc nhất trong cửa hàng là một trái tim cộng sản. Ông ta liền hỏi chủ tiệm : - Sao tim này mắc dữ vậy, bộ nó tốt lắm hả ? - Cái này hổng phải nó tốt mà là nó hiếm. - Sao hiếm ?
- Ây dà, nị hông thấy sao ? Cả triệu thằng cộng sản mới có 1 thằng có tim đó chớ. Vậy là nó hiếm rồi. Hàng hiếm đó , mua đi !
Ông nhà giàu mua trái tim cộng sản. Sau đó , qua tiệm bán bao tử. Ở đây cũng có đủ loại: bao tử lính, bao tử dân nghèo, bao tử dân giàu…nhưng mắc nhất là bao tử của quan chức nhà nước cộng sản. Rút kinh nghiệm tiệm bán tim, ông ta hỏi chủ tiệm : - Cái này nó hiếm nên mắc phải không ? - Cái này hổng hiếm nhưng mà nó tốt ! - Tốt ra sao ? - Tốt lắm chứ ! Xi măng, sắt thép, tiền bạc, mỡ thối, mỡ bẩn gì, kể cả sĩ diện và lương tâm bỏ vô nó cũng tiêu hóa hết. Tốt lắm đó, mua đi ! Ông nhà giàu mua cái bao tử đó. Cuối cùng, chỉ còn tiệm bán não. Ở đây cũng có đủ loại não như 2 tiệm trước, nhưng mắc nhất cũng là não của người cộng sản. Lần này ,vừa thấy cái não mắc nhất đó, ông ta nói ngay : - Lấy tôi cái này, cái này mắc vậy chắc vừa hiếm lại vừa tốt ?
- Nị khéo chọn ghê !  Cả mấy triệu thằng cộng sản mới có 1 thằng có não, mà nó ít khi xài tới lắm nên còn mới !  Còn tốt ở chỗ là mỗi khi nó động não suy nghĩ tức là nó sắp có tiền !
Sưu Tầm
  --------

Thơ Trần Mạnh Hảo: Gió Tiên Lãng

 
 
Kính tặng anh em người anh hùng khởi nghĩa Đoàn Văn Vươn


lần đầu trong thời cộng sản
một người nông dân
bắn vào chính quyền
đã chiến thắng

Đoàn Văn Vươn
gió Tiên Lãng thổi anh ra khắp nước
lấy mạng sống giữ ruộng vườn
khi chính quyền thành bọn cướp
từ thân phận con lươn
anh nổ súng trước
để được làm con người
đất của dân máu và nước mắt
sao cướp ngày đến cướp mồ hôi ?

chính quyền đối thoại với dân bằng súng
cướp nhà cướp đất quen rồi
vụ cướp đầm tôm xã Vinh Quang, Tiên Lãng
súng của dân đã cất lời
cả nước bênh người nông dân liều mạng
lịch sử bừng hoa cải gió xuân ơi

ông thủ tướng phải về Hải Phòng
tháo ngòi nổ
nông dân bị đẩy tới chân tường
trời tích bão nén cuồng phong phẫn nộ
tiếng súng bắn vào chính quyền Đoàn Văn Vươn
lại thành cơ may cứu chế độ
trả lại dân ruộng vườn
trả biển lại cho lòng dân sóng vỗ

Đoàn Văn Vươn
anh phải bắn để còn chân lý
chứng tỏ mình còn là người
khi lòng dân biến thành vũ khí
chính quyền sao nhốt được gió trời ?

Đoàn Văn Vươn
không ai nhốt được lịch sử
không ai bỏ tù được quê hương
gió Tiên Lãng dựng biển bờm sư tử
gió hoa cà hoa cải gió tình thương…

Sài Gòn 14/02/2012
Trần Mạnh Hảo
 (Danlambao)

Nguyễn Tấn Dũng giơ cao đánh khẽ


 Ông Ðoàn Văn Vươn đã thắng một hiệp đầu. Phải nói, giới nông dân Việt Nam đã thắng một hiệp đầu. Muốn biết kết cục ra sao, phải chờ xem hồi sau mới rõ.
Ba chục năm nay trên toàn quốc đã xẩy ra hàng ngàn vụ nông dân biểu tình ôn hòa chống việc cướp đất, cướp ruộng của họ. Ðây là lần đầu tiên một vị thủ tướng của đảng Cộng Sản phải đích thân ra trước công chúng nhận các lối lầm của chính quyền và hứa hẹn các phương pháp giải quyết một vụ cướp mồ hôi nước mắt của dân. Từ thời cải Cách Ruộng Ðất mới có một hành động công khai nhận lỗi như vậy. Nhưng cũng như lần trước, khi ông Nguyễn Tấn Dũng họp báo, ông vẫn đổ lỗi cho cấp dưới làm sai chứ không hề nhắc tới nguyên nhân sâu xa gây ra những sai lầm chồng chất. Nguyên nhân chính, là chế độ độc tài đảng trị khiến cho những nỗi oan ức của người dân không thể nào được nói lên trước khi quá muộn. Nếu gia đình ông Ðoàn Văn Vươn không bị đẩy đến chân tường phải dùng vũ khí kháng cự, thì chắc đến giờ này không ai biết đến nỗi uất hận của họ; các quan chức Hải Phòng và Tiên Lãng có thể đang ăn mừng chia nhau “quả thực” sau khi vụ cướp đất thành công. Hành động táo bạo vì cùng quẫn của ông Ðoàn Văn Vươn bất ngờ gây thành dư luận phẫn nộ trong nước, tin tức được loan đi khắp thế giới! Vì thế một ông thủ tướng cộng sản phải đích thân xuất hiện giải quyết dù nội vụ chỉ liên can đến một gia đình, về quyền sở hữu 40 mẫu đất.
Ðây là một bài học cho tất cả các nông dân Việt Nam có dịp rút kinh nghiệm. Người ta không thể cúi đầu chịu đựng oan khiên nhục nhã mãi được. Can đảm đứng lên bảo vệ quyền lợi của chính mình thì những thế lực đen tối dù lớn trùm khắp thiên hạ cũng phải lùi.
Nhưng, cuối cùng thì ông Nguyễn Tấn Dũng đã giải quyết những gì trong cuộc họp báo hôm qua? Rất ít. Rất mơ hồ. Và hời hợt.
Ðặc điểm thứ nhất: Rất ít, vì tựu trung ông Nguyễn Tấn Dũng vẫn chỉ hô toàn những khẩu hiệu quen thuộc như đọc trong báo Nhân Dân, và chỉ nói đến vài việc cụ thể. Thứ nhất là rút lại các quyết định thu hồi đất của ông Ðoàn Văn Vươn vì làm sai luật. Thứ hai là điều tra, truy tố những người tổ chức phá nhà ông Ðoàn Văn Vươn. Và sau cùng là truy tố ông Vươn về tội “giết người” cũng như việc chống lại nhân viên công lực.
Rút lại các quyết định cũ thu hồi đất vì làm sai luật, có nghĩa là sau này vẫn có thể sẽ thu hồi nhưng làm sao khéo léo, đúng luật hơn. Mà luật đất đai, như chính ông Nguyễn Tấn Dũng thú nhận, đã sửa đi sửa lại bao nhiêu lần, muốn bẻ cong theo hướng nào chẳng được? Vì thế mới có chuyện sẽ truy tố gia đình ông Ðoàn Văn Vươn, với chỉ thị cho tòa án địa phương (gọi là “kiến nghị”) hãy “xem xét tình hình tiết giảm nhẹ” tội. Chắc chắn sẽ có một vụ mặc cả với gia đình họ Ðoàn, để họ chịu một số điều kiện nếu muốn được tòa án “nương tay!” Ông Nguyễn Tấn Dũng chỉ thị cho cấp dưới truy tố ông Ðoàn Văn Vươn với tội “giết người,” một tội có thể đưa tới án tử hình, trước khi các cơ quan tư pháp thụ lý! Với cái án tử hình treo trên đầu, chắc ông Ðoàn Văn Vươn sẽ phải suy nghĩ rất nhiều về các điều kiện họ đưa ra!
Ðiểm thứ hai là những giải pháp của ông Nguyễn Tấn Dũng cũng rất mơ hồ. Không hề có một quyết định nào về tội trạng của những người cầm quyền ở huyện, ở thành phố ngoài việc ngưng chức một số người bị tiếng xấu nhiều nhất. Những điều ông Nguyễn Tấn Dũng yêu cầu, từ nhóm lãnh đạo Hải Phòng cho xuống dưới đều là “kiểm điểm rút kinh nghiệm sâu sắc” và “làm rõ trách nhiệm”. Tức là không hề có một cuộc điều tra nào từ cấp trung ương để nghiên cứu các nguyên ủy sâu xa, về các hành động của cấp địa phương, trong khi vụ này đã kéo dài năm, bẩy năm trời. Không hề có ý kiến gì về việc lợi dụng cả quân đội, đem lính tráng, súng ống đi phụ tay với công an và du đãng trong việc cướp đất, phá nhà. Có quân đội bị lôi dính vào việc cướp đất, nhưng trong cuộc họp báo của ông Nguyễn Tấn Dũng đông đủ bá quan mà lại thiếu đại diện của Bộ Quốc Phòng!
Trao việc kiểm điểm về cho các cấp chỉ huy cấp dưới, có nghĩa là quý vị đứng đầu Hải Phòng, Tiên Lãng sẽ đóng vai trọng tài thổi còi một trận đá bóng mà chính họ cũng đóng vai cầu thủ. Người ta biết trước kết quả: Sẽ không ai bị kết tội cả. Ông thủ tướng “giơ cao đánh khẽ” vì vẫn hết lòng bảo vệ địa vị và quyền lợi những người đồng đảng với ông ở Hải Phòng, những người đã bảo đảm cho ông đắc cử đại biểu Quốc Hội! Rồi sẽ có một ít người nhận đã phạm sai lầm. Sẽ được chuyển từ công tác này sang công tác khác; có khi lại được đưa về trung ương hưởng những suất ngon lành hơn! Vì họ đã được che chở bằng một cái mộc do chính ông Nguyễn Tấn Dũng trao cho.
Vì trước khi các “đồng chí” ngồi xuống kiểm điểm với nhau, ông thủ tướng đã hết lời khen ngợi họ rồi! Chắc để họ yên tâm, không đứa nào phản thùng! Trong cuộc họp báo, trước khi tuyên bố các quyết định ông Nguyễn Tấn Dũng đã hát “mào đầu” với những lời ca ngợi nồng nàn đối với đám lãnh đạo huyện Tiên Lãng và thành phố hải Phòng. Hãy nghe “mèo khen mèo” như thế này: “Trong những năm qua, cấp ủy, ủy ban nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng đã quan tâm lãnh đạo chỉ đạo thực hiện công tác quản lý nhà nước về đất đai, không ngừng nâng cao hiệu quả sử dụng đất nói chung và đất bồi ven biển nói riêng, góp phần phát triển kinh tế xã hội khá nhanh và toàn diện, bảo đảm quốc phòng an ninh, trật tự an toàn xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân.” Với những thành tích được ông thủ tướng đề cao “tuyệt vời” như vậy, họ thiếu gì lý do để “xá tội” cho nhau? Ông còn không quên “hoan nghênh việc lãnh đạo thành phố Hải Phòng nghiêm túc kiểm điểm, nhận khuyết điểm, trách nhiệm và đã lãnh đạo, chỉ đạo cần thiết đối với vụ việc này”. Làm như ông không hề biết việc ông phó chủ tịch Ðỗ Huy Thoại nói rằng vụ cướp đất là “đúng pháp luật,” việc đập phá nhà ông Vươn là do “dân chúng bức xúc” nên (lái xe ủi đất) tới phá! Một nhà bình luận trên mạng đã hỏi: Thành ủy Hải Phòng chỉ phải rút kinh nghiệm! Thế thì ông Vươn liệu có được phép “rút kinh nghiệm” một cách đơn giản như thế không, về những hành động đề kháng của gia đình ông? Ông Vươn có thể tự bào chữa về tội danh “giết người” lấy lý do phải tự bảo vệ trước cuộc tấn công vũ bão của bọn quan lại tham ô hay không?
Cuối cùng, cuộc họp báo của ông Nguyễn Tấn Dũng chỉ nói đến những chuyện hời hợt, bồng bềnh nổi bên trên, không hề nói đến những căn nguyên sâu xa, thấu đáo, của biến cố Ðoàn Văn Vươn. Một nguyên nhân làm hàng vạn nông dân phẫn uất là chủ trương không cho người dân có quyền sở hữu trên mảnh đất mà họ đổ mồ hôi khai khẩn, trồng trọt. Căn nguyên lớn hơn, là một chế độ không cho dân được tự do bầu cử, không có quyền tự do phát biểu, báo chí không được tự do điều tra và thông tin. Chế độ như vậy thì phải đẻ ra tham nhũng, lạm quyền, không cách nào tránh được. Chính nó gây ra bao nhiêu nỗi oan ức, mà việc cướp đất của nông dân chỉ là một hiện tượng nổi bật. Chính nó đẻ ra một thứ Quốc Hội bù nhìn, khiến một đại biểu vùng Tiên Lãng như Nguyễn Tấn Dũng không hề biết đến những cảnh oan trái mà người dân chịu đựng từ bao nhiêu năm qua, cho tới khi súng nổ. Cũng giống như hồi đảng cộng sản nhận lỗi về cải cách ruộng đất, Nguyễn Tấn Dũng không hề nói đến lỗi lầm của chính mình cũng như của cả đảng cộng sản.
Một đảng viên cộng sản trong nước đã nhận xét biến cố Ðoàn Văn Vươn là một tiếng chuông thức tỉnh cho đảng Cộng Sản Việt Nam. Ðể họ nhìn thấy rõ “tất cả sự thối nát, hiếp đáp dân chúng của các cấp chính quyền”. Và “Người dân sẽ phẫn uất, và sẽ có nhiều vụ như ông Ðoàn Văn Vươn diễn ra trong cả nước.” Quả thật, một người “liều mạng” tiên phong như Ðoàn Văn Vươn sẽ làm gương cho tất cả các nạn nhân khác, đã đau khổ trong quá khứ cũng như trong tương lai. Ðài phát thanh quốc tế của Pháp đã ghi nhận: “Cái tên Ðoàn Văn Vươn từ nay đã đi vào lịch sử.”
Một bài học khác cho các nhà nông Việt Nam rút kinh nghiệm là cuộc phản kháng của nông dân Trung Quốc tại Ô Khảm (Wu kăn), tỉnh Quảng Ðông, vào Tháng Chín năm ngoái, đã hoàn toàn thắng lợi. Làng Ô Khảm, đúng tên gọi dịch là Vũng Quạ, vốn là một vùng đầm lầy ven biển, được nhiều thế hệ nông dân rút nước mặn, đắp bùn biến thành đất ruộng, không khác gì vùng đất mà gia đình Ðoàn Văn Vươn đã đổ mồ hôi khai khẩn, với một đứa con gái đã hy sinh. Chính quyền địa phương cũng cướp đất, nhưng họ làm ăn lớn hơn, 250 mẫu tây đất, đem bán làm đất công nghiệp. Dân Ô Khảm không ngăn cản được, nhưng cuối cùng vẫn nổi dậy đòi bồi thường xứng đáng. Chắc họ cũng không “nổi loạn” nếu không vì vụ ông Tiết Cẩm Ba (Xue Jinbo), một người đại diện của dân bị công an giữ lại, rồi chết trong đồn công an. Việc thường dân bị giữ rồi chết trong đồn công an đã xẩy ra nhiều lần ở Việt Nam, hầu như thường xuyên; nhưng dân Quảng Ðông họ không chấp nhận. Họ biểu tình, tấn công trụ sở đảng cộng sản, tấn công đồn công an, đốt xe công an biệt kích; rồi kéo năm, bẩy ngàn người (làng có 20,000 dân) lên huyện, trương biểu ngữ xanh đỏ rợp đường. Ở Trung Quốc có 180,000 vụ nông dân phản đối việc cướp đất ruộng trong năm 2010. Tại Ô Khảm, sau ba tháng dân biểu tình không nghỉ, chính quyền Bắc Kinh phải can thiệp, đứng ra thỏa hiệp, bắt các quan chức địa phương phải nhượng bộ nông dân.
Trước khi ông Nguyễn Tấn Dũng đích thân giải quyết vụ cướp đất của Ðoàn Văn Vươn, chắc ông cũng đã nhận được những tín hiệu từ Bắc Kinh về vụ Ô Khảm. Ðồng bào nông dân của chúng ta, nhờ các mạng lưới trong nước, chắc cũng đã nhận được các tín hiệu từ các nông dân Ô Khảm. Một thông điệp “Dậy Mà Ði” được họ truyền đi trên mạng kêu gọi: “Hãy thức dậy, bà con ơi! Nếu bây giờ chúng ta không đoàn kết thì chúng nó sẽ đem bán hết đất đai của tổ tiên chúng ta, cho đến thước đất cuối cùng! Nếu không đoàn kết ngay, con cháu chúng ta sẽ hết đất để sống!”
Tất nhiên, người dân Ô Khảm chỉ nói đến việc các tham quan bán đất của người Trung Hoa cho những người Trung Hoa khác. Ở Việt Nam, tình trạng còn có thể bi đát hơn: Cướp đất của dân bán cho người ngoài!

 Ngô Nhân Dụng

THIÊN ĐƯỜNG MỚI :Việt Nam đổi mới !!!

HIỆN TƯỢNG NGƯỜI BẮC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CHIẾM HỮU TOÀN BỘ PHỐ XÁ THƯƠNG MẠI QUAN TRỌNG Ở SAIGÒN – KHỐNG CHẾ MỌI LÃNH VỰC TRỌNG YẾU Ở MIỀN NAM.

Cho dù núp dưới cái hào quang chiến thắng “đánh Tây, đuổi Mỹ” – cho dù che giấu, lấp liếm, giải thích thế nào chăng nữa – thì dân miền Nam (gồm cả Nam lẫn Bắc theo chế độ Tự Do) vẫn thấy một sự thật. Sự thật đó là người Bắc XHCN tràn ngập, chiếm hữu toàn bộ phố xá thương mại trọng yếu của Sàigòn. Làm sao nói khác được khi đi một vòng quanh Sàigòn. và các khu phố sầm uất nhứt, vào những hiệu buôn lớn để mua hàng hay hỏi han chuyện trò thì thấy toàn là người Bắc Cộng sản – từ cô bán hàng đến bà chủ ngồi phía trong – cũng toàn là người của xã hội chủ nghĩa miền Bắc. Các tiệm buôn lớn trước 75- như các tiệm vàng Nguyễn thế Tài, Nguyễn thế Năng, Pharmacie Trang Hai, tiệm Émile Bodin của bầu Yên, nhà hàng Bồng Lai, Thanh Thế, Nguyễn văn Đắc, Phạm thị Trước. Hiện nay, một số đã đổi bảng hiệu hoặc xây cât lại. nhưng đều do người miền Bắc XHCN làm chủ. Các cơ sở khác như nhà hàng ăn lớn, tiệm phở, công ty thương nghiệp, dịch vụ lớn, những tiệm buôn bán dồ nhập cảng v. v. cũng đều do người Bắc XHCN chiếm giữ. Tuy không có con số thống kê chính xác nhưng tự mình đi đếm hàng trăm tiệm buôn sang trọng quanh các khu phố lớn ở Sàigòn thì khám phá ra được chủ nhân là người Bắc XHCN (Tất nhiên là vợ con, thân nhân cán bộ lớn). Những gái Bắc XHCN bán hàng là con cháu của chủ nhân người Bắc CS (do các cô tự nói ra). Các cô chiêu đãi viên trên phi cơ VNHK đều là người Bắc thân nhân hay con cháu cán bộ – dĩ nhiên – vẻ mặt lạnh lùng, hách dịch với người Việt  Nam  và khúm núm lịch sự với khách ngoại quốc. Cán bộ, công nhân viên trọng yếu – cũng đều là người Bắc – trừ một số cán bộ gốc miền  Nam  tập kết – theo đoàn quân viễn chinh vào đánh chiếm miền  Nam  - thì cũng kể họ là người XHCN miền Bắc.
Hệ thống quyền lực từ trên đến dưới – từ Trung ương đến địa phương – từ Tỉnh thành đến quận lỵ, thị trấn, làng xả gần – đều do đảng viên người miền Bắc XHCN – nắm giữ. Những công Ty dịch vụ có tầm cở, những công Ty thương mại sản xuất lớn – điển hình là một công Ty vận tải và du lịch có đến 6000 xe hơi đủ loại, chủ nhân cũng là người Bắc XHCN. Từ chính trị đến văn hóa, từ giáo dục đến truyền thông, từ nhà cầm quyền cai trị đến chủ nhân cơ sở thương mại, sản xuất – cũng do người miền Bắc XHCN nắm giữ.
Đó là sự thật trước mắt ai cũng thấy. Còn những vàng bạc, kim cương, đô la, tài sản tịch thu, chiếm đoạt được trong các cuộc đánh tư sản, cải tạo công thương nghiệp – nhà cửa của tù cãi tạo, của dân bị đuổi đi kinh tế mới, những tấn vàng của VNCH để lại, những lượng vàng thu được từ những người vuợt biên bán chánh thức – tài sản những người thuộc diện tư sản – toàn bộ tài sản nầy từ Saigòn đến các Tỉnh miền Trung, miền Nam – được đem đi đâu? – Không ai biết.
Thông thường – những của cải nầy phải được sung vào công quỹ – để làm việc công ích như các ông cộng sản thường rêu rao bằng những mỹ từ đẹp đẻ. Thế nhưng – sự thật trước nhứt – là các ông đem chia chác nhau. Chia nhau một cách hợp hiến và hợp pháp theo Luật pháp XHCN (Đọc Đất đai-Nguồn sống và Hiểm Họa của Tiến sĩ Nguyễn thanh Giang). Ông lớn lấy tài sản lớn. Ông nhỏ – nhà cửa nhỏ. Có ông cán bộ trung cấp chiếm hữu đến 4, 5 căn nhà. Ở không hết… đem cho công Ty ngoại quốc thuê. Điều phổ biến nhứt là các ông cán bộ nầy – vì lo sợ cái gì đó – bèn đem “ bán non” những căn nhà đó lấy tiền bỏ túi trước. Một căn nhà của một viên chức tù cãi tạo đã sang tay đến 3 đời chủ. Nhà cửa thuộc diện tù cải tạo là dứt khoát phải tịch thu – không ngoại lệ. Những trường hợp con ruột có hộ khẩu chánh thức còn được phép ở lại – là những biện pháp vá víu. Chủ quyền căn nhà nầy là Nhà nước XHCN.
Không chỉ có những người thuộc diện cải tạo công thương nghiệp, tù cải tạo, vượt biên mà người dân thường có nhà cửa phố xá đều bị “ giải phóng” ra khỏi nhà bằng nhiều chánh sách: Đuổi đi kinh tế mới, dụ vào hợp tác xã tiểu công nghiệp, mượn nhà làm trụ sở, cho cán bộ vào ở chung (chủ nhà chịu không nổi… phải bỏ đi), đổi tiền để vô sản hoá người dân, khiến họ bắt buộc phải bán tất cả những gì có thể bán để mua gạo ăn, cuối cùng chịu không nổi, phải bán nhà với giá rẻ bỏ, để vô hẻm ở, ra ngoại ô hoặc về quê… Cán bộ hoặc thân nhân cán bộ miền Bắc XHCN tràn vào “mua” nhà Saigòn với giá gần như cho không… và bây giờ là chủ những căn nhà mặt tiền ở Saigòn.
Mang xe tăng T. 54, cà nông Liên xô, AK Trung cộng, đẩy hàng hàng lớp lớp thiếu niên “xẻ dọc Trường Sơn” bằng máu, nước mắt và xác chết… vào xâm chiếm miền Nam. Chiêu bài là “giải phóng” nhân dân miền Nam – nhưng sự thật khó chối cãi được – là vào để chiếm đoạt tài sản, đất đai, của cải, đuổi dân Saigòn (gồm cả người Nam lẫn Bắc theo chế độ Tự Do) ra khỏi Thủ Đô bằng nhiều chánh sách khác nhau – để bây giờ chính các ông đã trở thành những nhà tư bản đỏ triệu phú, tỉ phú đô la, vàng bạc kim cương đầy túi – những ông chủ công Ty có tầm vóc, những địa chủ đầy quyền lực. Trương mục ở nước ngoài đầy nhóc đô la. Con cái du học ngoại quốc. (Trường hợp con Thủ Tướng CS Nguyễn tấn Dũng đang du học Mỹ là trường hợp điển hình). Như vậy hành vi nầy gọi là gì? Trong những lúc canh tàn rượu tỉnh – một mình đối diện với lương tâm thuần lương của mình – các ông tự gọi mình đi.
Đến thời “mở cửa” – cơ hội hốt tiền còn nhiều hơn gấp bội. Tư bản ngoại quốc ồ ạt đầu tư, khai thác dầu khí, thâu đô la Việt kiều về thăm quê hương – đô la khách du lịch ngoại quốc, bán đất cho Công Ty ngoại quốc xây cất cơ xưởng, cấp giấy phép các công Ty ngoại quốc, các dịch vụ đấu thầu xây cất cầu cống, làm đuờng xá, xây cất đại công tác. Những món nợ kếch xù từ Ngân hàng thế giới, từ quỹ tiền tệ quốc tế – những món nợ trả đến mấy đời con cháu cũng chưa dứt. Những đại công tác nầy mặc sức mà ăn, no bóc ké. Nhiều công trình vừa xây cất xong đã muốn sụp xuống vì nạn ăn bớt vật liệu. Một thí dụ điển hình: Một bệnh viện gần chợ “cua” Long Hồ – quê hương của Phạm Hùng – nước vôi còn chưa ráo đã muốn sụp. Hiện đóng cửa không sử dụng được.
Hiện tượng người Bắc XHCN khống chế toàn bộ, làm chủ nhân ông mọi lãnh vực, chiếm hữu nhà cửa, phố xá thương mại ở những khu thương mại quan trọng nhứt – là một sự thật không thể chối bỏ. Cán bộ lớn đã trở thành những nhà tài phiệt đầy quyền lực – những ông chủ lớn giàu có nhứt lịch sử. Trong khi dân chúng miền quê – nhứt là miền  Nam  - ngày càng nghèo khổ, thất nghiệp kinh niên. Khoảng cách giàu nghèo càng lớn – đời sống cán bộ và dân chúng càng ngày cách biệt. Giàu thì giàu quá sức. Nghèo thì nghèo cùng cực.
Nhà văn – bác sĩ Hoàng Chính – gọi thời kỳ sau 75 là thời “Bắc thuộc”:
- “Năm Bắc thuộc thứ 2: Lưu vong tại quê nhà trong cái đói lạnh.
- Năm Bắc thuộc thứ 6: Cầu cho em nhỏ 10 tuổi đầu đủ cơm ăn giữa bầy thú hát điên cuồng chuyện thù oán.
- Năm Bắc thuộc thứ 12: Trong ngục thất quê hương ấy, có những bộ xương thôi tập khóc cười. “
Miền Bắc XHCN đem quân xâm chiếm miền  Nam  để khống chế nơi đó bằng sự đô hộ hà khắc và tinh vi.
“Một chuyến đi về…”
image
BaoMai
Lời người viết:  Đây không phải là một phóng sự hay một bài nghiên cứu xã hội với những phương pháp khoa học của nó – mà chỉ là những điều vụn vặt mắt thấy tận nơi, tai nghe tận chỗ – ghi lại môt cách trung thực.
Tôi thấy bộ mặt Saigòn đổi mới với: Những khách sạn 5 sao, 4 sao lộng lẫy. Đổi mới với những nhà hàng “ vĩ đại “ trên các tuyến đường du lịch. Với những trung tâm “giải trí” sang trọng, quý phái cở câu lạc bộ Lan Anh. Với những vũ trường cực kỳ tráng lệ như vũ trường New Century Hànội. Với những trường Trung học tư thục mang tên Mỹ, giáo sư Mỹ, chương trình học của Mỹ, giảng dạy bằng tiếng Mỹ- học sinh phải trả học phí bằng tiền Mỹ – 600US$ đến 1000US$ /tháng. (Giai cấp nào đủ sức trả học phí nầy cho con? )
image
Tôi cũng hiểu rằng các nơi nầy là nơi ăn chơi của vương tôn công tử “đỏ”, các nhà giàu mới – thân nhân các quyền lực đỏ đứng đàng sau, các quan chức đỏ đô la đầy túi. Họ đến đây để “giải trí”, uống rượu, đánh bạc, cá độ và tìm gái.
image
vũ trường ăn chơi nổi tiếng của dân Hà thành, New Century
Uống chơi vài chai rượu ngoại VSOP, XO là chuyện thường. Mỗi đêm có thể tiêu hàng ngàn đô la Mỹ cũng không phải là điều lạ. Trong khi lương tháng của một thầy giáo Trung học trường công không đủ để trả một chai rượu XO. Vụ MPU18 cá độ hàng triệu  US $ đã bị phanh phui là một thí dụ cụ thể. Vũ trường New Century bị Công an đến giải tán vì các công tử và tiểu thư con các quan chức lớn nhảy đã rồi… “ lắc” suốt đêm. Vài hôm sau – đâu cũng vào đó…
image
Tôi cũng thấy Sàigòn- người, xe và phố xá dầy đặc, nghẹt thở – vài tòa cao ốc mọc lên vô trật tự – ở xa xa, có cái trông giống như chiếc hộp quẹt. nhà cửa mặt tiền hầu hết đều lên lầu nhiều tầng. Kiến trúc hiện đại. Vật liệu nhập cảng đắc tiền. Nhà trong hẻm – phần lớn cũng lên nhiều tầng cao nghệu. Có nhiều khu xây cất bừa bãi, nhô ra thụt vào như những chiếc răng lòi sĩ vô duyên. , lấn chiếm ngang ngược đất công hoặc lề đường…
Tôi thấy Sàigòn bị ô nhiểm trầm trọng với hằng triệu tiếng động cơ, ngày đêm đinh tai nhức óc và 3.000.000 chiếc Honda – phun khói mịt mù – chưa kể đến xe hơi.
image
Và hệ thống cống rảnh lạc hậu. mỗi khi trời mưa lớn – nước rút không kịp, ứ đọng tràn ngập nhà cửa. Hệ thống đổ rác còn lạc hậu. không đáp ứng nổi nhu cầu thải rác của 8.000.000 dân nhun nhúc như kiến. Sàigòn đầy dẫy những hàng ngoại do công ty ngoại quốc sản xuất tại chỗ. hàng lậu của Trung quốc tràn vào vô số kể. Máu kinh tế Việt  Nam  bị loảng ra. Nhưng chế độ xã nghĩa im thin thít chịu trận, không dám một lời phản kháng. Một chiếc xe Honda nhãn hiệu Trung quốc giá khoản chừng 1000 đô la Mỹ. chưa kể hàng Trung quốc lậu thuế, rẻ mạt. Thuốc lá và bia – bia nội, bia ngoại – có đủ. Nhậu và hút là 2 cái mốt bình dân thời thượng nhứt ở Sàigòn. Đảng viên, cán bộ – giai cấp thống trị – nhậu. Già nhậu, trẻ nhậu… con nít cũng tập tành nhậu. Hút thì khỏi nói. Giai cấp cán bộ răng đen mã tấu bây giờ là giai cấp nắm thống trị – đã lột xác – không còn quấn thuốc rê, bập bập phà khói mịt mù nữa – mà lúc nào cũng lấp ló một gói 3 con 5, Craven A, trong túi. Lãnh đạo hút, cán bộ hút, dân chúng hút – thậm chí con nít 9, 10 tuổi ở đồng quê cũng phì phà điếu thuốc một cách khoái trá. Các hãng bia và thuốc lá ngoại quốc đã tìm được một thị trường tiêu thụ béo bở. Cán bộ lớn cũng âu phục cà vạt hẳn hoi, xe hơi bóng loáng. nhưng bộ răng hô, mái tóc bạc thếch, và nước da mốc mốc, cũng không dấu được nét thô kệch của một anh nhà quê lên Tỉnh.
image
Ngang ngược của Công an chìm tại NTĐB
Tôi còn thấy Sàigòn với hiện tượng “tiếm công vi tư” lộng hành, ngang ngược của Công an đến độ dân chúng quen thuộc, xem là một chuyện đương nhiên như chuyện hối lộ đã trở thành cái lệ bất thành văn trong chế độ xã nghĩa. Chiếm đoạt một nửa công viên, xây nhà gạch dùng làm quán cà phê. Chưa thỏa mãn – ban đêm còn dọn thêm bàn ghế trên sân cỏ của phần công viên còn lại và thắp đèn màu trên mấy chậu kiểng cho thêm thơ mộng. Ông chủ bự nầy chắc chắc không phải là dân thường. Ông lớn nầy xem công viên như đất nhà của ông vậy. Ai có dịp đi ngang qua mũi tàu – nơi gặp gở của 2 đường Nguyễn Trải và Lê Lai cũ, ngang hông nhà thờ Huyện Sĩ – thì rõ.
image
Còn nhiều, rất nhiều chuyện lộng hành chiếm đất công, lấn lề đường nhan nhãn ở khắp Saigòn. Chỉ đưa ra vài thí dụ cụ thể: Một công thự tại vườn Tao đàn (có lẽ là nhà cấp cho viên Giám đốc Công viên Tao đàn) – mặt tiền ngó vào trong – mặt hậu nhìn ra phía đường Nguyễn Du (Taberd cũ) – bèn có màn trổ cửa mặt sau nhà, xây thêm phía sau thành 2 căn phố thương mại mặt tiền ngó ra đường Nguyễn Du, trị giá mỗi căn, nhiều trăm ngàn Mỹ kim – ngon ơ! Tương tự như vậy – ở góc đường Thành Thái và Cộng Hoà cũ, trước sân nhà của ông Hiệu Trưởng trường Quốc gia Sư Phạm trước 75 – phố thương mại, quán xá la liệt chiếm mất mặt tiền. Ngang ngược và lộng hành nhứt là 2 căn phố thương mại bên hông trường Trương minh Ký, đường Trần hưng Đạo, chễm chệ xây lên ngay bên góc phải sân trường như thách đố dân chúng. Còn trên lề đường khá rộng trước câu lạc bộ CSS cũ, bây giờ là câu lạc bộ Lao động – nhiều gian hàng thương mại bán quần áo, giày vớ thể thao, buôn bán ầm ỉ, náo nhiệt suốt ngày.
Công an chiếm đất công, xây nhà tư. Công viên, lề đường trước nhà dân là đất riêng của Công An. Công an sử dụng làm chỗ gửi xe, bịt kín cả lối đi vào nhà. Không ai dám hó hé. Im lặng là an toàn. Thưa gửi là dại dột. Mà thưa với ai? Tất nhiên là phải thưa với công an. Không lẽ công an xử công an? Tướng CS Trần Độ phản ảnh còn rõ rệt hơn: “Xã hội Việt  Nam  ngày nay là một xã hội vô pháp luật mà phần đầu tiên gây ra là Đảng. Không thể nào chống tham nhũng được vì nếu Đảng chống tham nhũng thì Đảng chống lại Đảng sao? “ (Nhật ký “Rồng rắn” của Trần Độ).
Nón cối, nón tai bèo, dép râu, áo chemise xùng xình bỏ ngoài chiếc quần màu cứt ngựa của người cán bộ CS ngơ ngác khi mới vào Sàigòn – đã biến mất.
Cũng không còn thấy những chiếc áo dài tha thướt của những cô gái đi dạo phố ngày cuối tuần trên các đại lộ Lê Lợi, Lê thánh Tôn, Tự do những ngày trước 75 nữa. Thay vào đó là một đội ngũ phụ nữ – mũi và miệng bịt kín bằng “khẩu trang”, găng tay dài đến cùi chỏ, cỡi Honda chạy như bay trên đường phố.
image
Tôi còn thấy những người nghèo khổ chở trên chiếc xe thồ, những thùng carton và bao túi Ny long, chồng chất lên nhau cao ngất như sắp đổ xuống… những bà cụ già, những cậu bé tuổi đáng được ngồi ở ghế nhà trường, những anh phế binh cụt tay, cụt chân, lê lết trên một miếng ván gổ… đi bán vé số (một cách ăn xin trá hình)
image
Bộ mặt Sàigòn “đổi mới” bằng những khách sạn lộng lẫy, những câu lạc bộ thời thượng, những phố xá thương mại sang trọng, những hiệu kim hoàn lóng lánh kim cương, những nhà hàng ăn vĩ đại, những vũ trường cực kỳ tráng lệ, những biệt thự đồ sộ nguy nga mới xây bằng vật liệu ngoại đắt tiền. trang trí cây cảnh như một mảng vườn Thượng uyển của vua chúa ngày xưa, những xe hơi bóng loáng nhởn nhơ trên đường phố – nhiều người chóa mắt. choáng váng, cho là “Việt  Nam  bây giờ tiến bộ quá”. Riêng Phó thường dân tôi tự nghĩ : Như vậy có phải là tiến bộ không? Sự tiến bộ của một nước cần phải nhìn về nhiều mặt: Mặt y tế và giáo dục, mặt đời sống vật chất và tinh thần của dân chúng.
image
Lợi tức đầu người của Việt  Nam  - theo thống kê của báo The Economist – bằng: 555 US $ năm 2007 (Hà Nội bốc lên 730  US  $) chỉ hơn Lào và  Cambodia  chút đỉnh. So với các nước láng giềng: Thái Lan: 2.550  US $ – Phi luật Tân: 1.040  US $ – Nam Dương: 1.160.US$. Tân gia Ba 24.840 US$. (The Economist World, năm 2007 – p. 158, 176, 238) – Việt  Nam  còn lẹt đẹt đàng sau rất xa. Và trước bộ mặt thay đổi choáng ngợp nầy – nếu đặt câu hỏi: Ai là chủ nhân của những xe hơi, khách sạn- vũ trường, những thương hiệu lớn, những biệt thự lộng lẫy kia? – thì câu trả lời không sợ sai lầm là của cán bộ đảng viên (tại chức hoặc giải ngủ) hoặc con cháu thân nhân của họ. Và ở thôn quê – giai cấp giàu có bây giờ là ai? giai cấp địa chủ là ai? Có phải do của cải của ông cha để lại hay do sự kinh doanh tự do, mua bán làm ăn mà có??
BỘ MẶT THÔN QUÊ MIỀN NAM
Có nhìn tận mắt, nghe tận nơi, mới hình dung được khuôn mặt miền Nam sau 32 năm dưới chế độ cọng sản. Để được trung thực – người viết ghi những điều thấy và nghe – không bình luận – tại những nơi đã đi qua. Thôn quê miền  Nam  - những làng xóm gần tỉnh lỵ quận lỵ đã có điện. Những làng xã xa xôi hẻo lánh vẫn còn sống trong sự tăm tối. Đường sá có tu sửa phần nào. Đường mòn đi sâu vào thôn xóm được lót bằng những tấm dalle lớn (đường xóm Cái Nứa, Cái Chuối xã Long Mỹ, VL), xe Honda và xe đạp chạy qua được. “Cầu tre lắt lẻo”, cầu khỉ được thay thế bằng cầu ván, cầu đúc (vật liệu nhẹ). Cầu tiêu công cộng trên sông các chợ quận (Cáibè, Cái răng) nay không còn thấy nữa.
image
Nhà cửa dọc theo bờ sông Cần Thơ – chen vào những nhà gạch ngói, nhà tôn – còn nhiều nhà lá nghèo nàn. Tương tự như vậy – dọc theo bờ sông Long Hồ – một số nhà gạch nhỏ mới cất. xen kẻ những mái lá bạc màu. Vùng Trà ốp, Trà Cú (Vĩnh Bình), chợ Thầy Phó (Vĩnh Long) nhiều nhà gạch mới xây nhưng vẫn không thiếu nhà lá, nhà tôn. Đường mòn chạy sâu vào thôn xóm vẫn còn đường đất lầy lội vào mùa mưa nước nổi.
image
Hai bên đường xe chạy từ Mỹ Tho, Cao Lãnh, Châu Đốc, Hà Tiên, Rạch Giá, Cần Thơ. Nhìn chung – có một sự thay đổi rõ rệt. Nhà cửa, hàng quán dầy đặc, động cơ ồn ào, người ta chen chúc. Cảm giác chung là ngột ngạt, khó thở. Những vườn cây xanh um bên đường đã biến mất hoặc thụt sâu vào trong, không còn thấy nữa. Không còn vẻ đẹp thiên nhiên ngày nào của vườn xoài cát sai hoằng, mát mắt vùng Cái Bè, An Hữu, vườn mận Hồng Đào chạy dài hàng mấy cây số ở Trung Lương.
Dưới sông – từ kinh Vĩnh Tế chảy dài ra sông Tiền Giang – hai bên bờ toàn là nhà sàn, phía sau chống đỡ sơ sài bằng những trụ cây tràm. Mỗi nhà hoặc 2, 3 nhà đều có cầu tiêu tiểu bắc phía sau.
image
Tắm rửa giặt giũ, múc nước lên uống, phóng uế – cũng cùng trên một dòng sông. Không có gì thay đổi. Làng Chàm còn gọi là chà Châu Giang cũng còn đó. Cũng nghèo như trước. Những chiếc ghe vừa dùng làm nhà ở, vừa là hồ nuôi cá. Basa, cá điêu hồng v. v. ở dọc bờ sông khá dài. Dường như ngành nầy hoạt động khá mạnh. Dọc trên những nhánh phụ lưu của 2 con sông Tìền và sông Hậu – người ta không còn thấy bóng dáng của những cô gái thướt tha trong chiếc áo bà ba và chiếc quần lãnh Mỹ A, chèo ghe tam bản, bơi xuồng như thời trước 75 nữa. Hỏi một ông già tên Ph. tại Cái Răng, được trả lời: “ Đi lấy Đại Hàn, Đài Loan hết rồi ông ơi! “ Tôi hỏi thêm: “ Các cô gái có nghe nhiều người bị gạt bán vào ổ mại dâm, nhiều cô gái bị chồng bắt làm lao động khổ sai, bị ngược đãi, đánh đập. các cô gái nầy không sợ sao ông? – “ Biết hết – mấy cổ biết hết, báo Tuổi trẻ đăng hàng ngày. Nhưng cũng có những cô có chồng Đại Hàn, cho tiền cha mẹ xây nhà gạch. Cô khác thấy vậy ham. Phần nghèo, phần không có việc làm kinh niên. Họ liều đó ông. Biết đâu gặp may. “Câu chuyện gái Việt lấy chồng Đại Hàn, Đài Loan hiện không ai là không biết.
image
Tờ Tuổi trẻ – số ra ngày mùng 1 Tết năm Đinh Hợi – trong bài: “ Nỗi đau từ những con số”- có nói đến số phận của 65.000 phụ nữ đang làm vợ những ông chồng Đài Loan già, tàn tật đui mù, làm vợ tập thể cho cả gia đình cha lẫn con. Cũng do tờ báo nầy: “Tại một tổ chức kết hôn lậu, hàng chục cô gái đang “bày hàng” để 2 ông Hàn quốc tuyển chọn làm vợ và 118 cô gái khác đang nằm, ngồi, lố nhố chờ đến lượt mình “ Và cũng do tờ Tuổi Trẻ số phát hành ngày 25-04-2007, viết: “Hơn 60 cô gái, tuổi từ 18 đến 20 từ miền Tây Nam bộ lên Sàigòn để dự tuyển. Các chàng rể Hàn Quốc được quyền soi xem kỹ, chú ý đến cả từng vết thẹo trên thân thể cô gái. Dich vụ môi giới hôn nhân lậu có chiều hướng gia tăng. Chỉ trong vòng nửa tháng mà Công An đã phát hiện 3 vụ môi giới hôn nhân trái phép ở quận 6, 10 và Tân Bình với gần 400 lượt cô gái hiện diện. Thậm chí – những cô gái được xe ôm chở tới địa điểm dồn dập gây náo loạn cả xóm”.
Người viết có lần lang thang trên đường Nguyễn tri Phương tìm quán ăn cơm trưa, có chứng kiến tại chỗ: Từng cặp trai gái lố nhố xếp hàng đôi trước cửa một trường học, để lần luợt vào trong. Hỏi một người trung niên lái xe Honda ôm, được anh trả lời: ‘ “Đó là những người con gái đi lấy chồng Đài Loan và Đại Hàn. Hàng bên trong là những đang làm thủ tục xuất ngoại theo chồng. Hàng bên ngoài là những người đang vào ký giấy hôn thú sau khi đã qua các cửa ải môi giới và thủ tục tuyển lựa”. Tôi nhìn kỷ các cô gái nầy tuổi rất trẻ khoản chừng 18 đến 20, đứng cặp với những anh Tàu già sồn sồn- có một người tàn tật. Không thấy có thanh niên trẻ. Nhìn cách ăn mặc và nghe họ nói chuyện – tôi đoán chừng họ đến từ miền Tây Nam Bộ. Đây là tổ chức môi giới chánh thức có giấy phép hành nghề.
Song song với tổ chức chánh thức, còn có một tổ chức “ môi giới hôn nhân lậu”- sự thật là một tổ chức buôn người, chuyên đi dụ dỗ trẻ em và gái, nói gạt là đi bán hàng hay đi làm việc tại các cơ xưởng ngoại quốc nhưng là để bán thẳng vào các ổ mại dâm ở Kampuchia, Thái Lan, Ma Cau để nơi đây huấn luyện trẻ em làm nô lệ tình dục, các cô gái làm điếm, hoặc bán cho người Tàu bỏ tiền ra mua nô lệ. Tất nhiên là phải có sự tiếp tay che chở ăn chia của Công An. Nói là lậu nhưng thật ra là nhan nhãn xảy ra hằng tuần – thậm chí hằng ngày trước mặt dân chúng tại các quận Bình Thạnh, quận 11, Sàigòn.
image
Cho dù chánh thức hay lậu, hậu quả cũng gần giống nhau. Chánh thức thì có giấy phép, có công an làm thủ tục, chánh phủ thu tiền lệ phí. Lậu thì lén lút với sự che chở của Công An. Hậu quả gần giống nhau. Nhiều cô gái về làm vợ mấy tên Đài Loan, Đại Hàn bị ngược đãi, đánh đập tàn nhẫn – ban ngày làm nô dịch, ban đêm phục vụ tình dục rồi bán vào động mại dâm lấy tiền gở vốn lại. (Trại cứu giúp nạn nhân của cha Hùng ở Đài Bắc là một bằng chứng) Còn lậu thì bán thẳng vào ổ điếm. Biết bao nhiêu thảm cảnh, biết bao nhiêu bi kịch thương tâm làm rúng động lương tâm nhân loại.
image
Cựu Quốc Trưởng Sihanouk không giấu được nỗi xót xa trước thảm cảnh người phụ nữ Miên làm vợ mấy thằng Tàu, lên tiếng kêu gọi họ trở về nước. Không thấy Việt  Nam  nói nửa lời!
Những cô gái nầy có biết những thảm kịch đau thương, những sự hành hạ, ngược đãi, đánh đập. nầy khi lấy chồng Đài Loan, Đại Hàn không? Có bị cưỡng bức, bị dụ dỗ hay tự nguyện? Cha mẹ có đồng ý hay cản trở? Nguyên nhân nào đã thúc đẩy họ dấn thân vào con đường hiểm nguy, tương lai mù mịt?
Trừ những trường hợp bị dụ dỗ qua đường dây buôn người – những người con gái này thật sự là họ TỰ NGUYỆN. Họ còn phải vay tiền mua sắm, ăn diện, hối lộ để được giới thiệu. Nhưng nguyên nhân nào thúc đẩy họ đi lấy chồng Đài Loan, Đại Hàn?
image
Có thể có nhiều nguyên nhân phức tạp. Phó thường dân tôi chỉ đưa ra vài nhận định thiển cận như sau: Quá nhiều chương trình ngăn chống lũ lụt, chương trình công nghiệp hóa, đô thị hoá bừa bãi, không được nghiên cứu cẩn trọng, đất đai canh tác bị thu hẹp, Dân số gia tăng. Khối lượng đông đảo người miền Trung, Bắc XHCN tràn vào. Nông dân miền  Nam  thiếu đất canh tác. Các cô gái miền Tây quẩn bách vì không có việc làm kinh niên – cuộc sống vô vọng mịt mờ – có nhiều trường hợp bị thúc đẩy vì cha mẹ mắng nhiếc, đay nghiến khi so sánh con gái mình với cô con gái làng bên có chồng Đại Hàn mang tiền về xây nhà gạch cho cha mẹ. Và cũng vì hấp thụ một nền giáo dục của chế độ CS (sinh sau 75) – những người trẻ tuổi không có ý niệm về luân lý đạo đức cũ. thang giá trị bị đảo lộn nên họ không đặt nặng danh dự, sĩ diện như thời trước. Do vậy – khi bị dồn vào đường cùng họ đành đánh liều nhắm mắt đưa chân. Nhưng động lực chánh là nghèo.
NGHÈO.
Là nguyên nhân chánh đưa đẩy các cô gái miền Tây Nam Bộ đi lấy chồng Đại Hàn và Đài Loan… để hy vọng thoát khỏi cảnh đời cơ cực, vô vọng không lối thoát. Thế nhưng tại sao đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) – vựa lúa nuôi sống cả nước – sau 32 năm dưới chế độ CS lại trở nên nghèo như vậy – nghèo hơn cả đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) ? Theo tiêu chuẩn nghèo từng vùng của Tổng cục thống kê Việt Nam  - thì tỷ lệ ĐBSCL năm 1998: ĐBSCL: 37%. ĐBSH: 29% . Năm 2002: ĐBSCL: 13 %. ĐBSH: 9%. (Nhà x. b Thống kê – Hànội, trang 13 – LVB trích dẫn) Dù theo tiêu chuẩn nào: tiền tệ (tính bắng tiền hay bằng gạo) – mức sống (bao gồm lương thực, nhà ở, mức sống văn hóa) – ĐBSCL vẫn nghèo hơn ĐBSH – bởi lẽ khi nghèo về lương thực – thì khó có thể giàu về nhà ở và đời sống văn hoá.
image
Đó là cái nghèo mà anh Lâm văn Bé đã nhìn qua những con số có giá trị của những chương trình nghiên cứu thống kê khoa học. Và sau đây là cái nghèo miền  Nam  qua cái nhìn tận mắt, nghe tận nơi của người viết: Cái nghèo ở Việt  Nam  bao gồm cả thành thị lẫn thôn quê là cái nghèo thiếu trước hụt sau, ăn bữa sáng lo bữa chiều – cái nghèo của một nông dân, nhà dột nát. khi trời mưa lúc ban đêm, không có chỗ để nằm phải tìm một góc nhà, phủ cái mền rách lên người ngồi run cằm cặp, trước từng cơn gió lạnh buốt lùa vào căn nhà trống hốc… Cái nghèo của một người đi mượn tiền, mượn gạo. tới ngày hẹn không tiền trả. Cái nghèo của một thanh niên thất nghiệp, cha bị lao phổi không tiền mua thuốc nằm ho sù sụ, mẹ bơi xuồng đi bán bắp nấu không đủ gạo cho một đàn con 4 đứa, mũi dãi lòng thòng đang bốc đất cát chơi ngoài sân.
image
Hình minh họa gái miền Nam
Tục ngữ bình dân có câu: Ít ai giàu 3 họ, khó 3 đời. – Có. Tôi quen biết ông Sáu S. làm nghề chày lưới. ở sông Long Hồ. Đời con là anh Tư Te tiếp nối nghề nầy: nghề đi nhủi tép. Và trên bờ sông Long Hồ năm nay (2007) tôi thấy vợ chồng một cậu thanh niên tên M. vừa cặp xuồng vào bến, đem miệng nhủi còn dính đầy rong rêu phơi trên mái nhà lá đã nhuộm màu thời gian bạc thếch. Hỏi thăm thì té ra là con của Tư Te. Đời ông nội – nghèo! Đời cha nghèo! Đời cháu cũng nghèo! Khó 3 đời đó. Cộng Sản đổi đời cho người giàu thành nghèo – không đổi đời cho người nghèo thành giàu. Người nghèo vẫn tiếp tục nghèo. Nói chung thì nông dân Việt  Nam chiếm 85% dân số mà đất không đủ để canh tác – còn công nghiệp không có khả năng biến nông dân thành thợ thuyền. trong khi dân số lại gia tăng quá tải. Cho nên thất nghiệp không thể tránh. Nghèo là hiện thực. Tiến sĩ Lê đăng Doanh trong một bài phổ biến trên mạng, viết : “Nông dân đã nghèo, đất đã kém đi, nhưng mỗi năm thêm 1 triệu miệng ăn, lấy đâu ra mà ăn. Lao động vất vả mỗi ngày trên 8m2 đất thì lấy gì mà giàu có được? “
image
MIỀN NAM – 36 NĂM DƯỚI CHẾ ĐỘ C. S.
Kinh tế Việt  Nam  - trong đó có miền  Nam  - có chút tiến bộ – so từ thời kỳ bao cấp đến thời kỳ mở cửa. Nhưng chỉ là tiến bộ với chính mình. Đối với các nước khác trong vùng thì còn lẹt đẹt, cầm lồng đèn đỏ… Và điều quan trọng là sự phát triển nầy có đem lại phúc lợi cho dân chúng qua sự tái phân lợi tức quốc gia, để tài trợ các chương trình y tế, giáo dục (hiện nhiều người nghèo không có tiền đóng học phí bậc Tiểu học cho con) – các chương trình tạo công ăn việc làm, phát triển nông nghiệp, xây dựng hạ tầng cơ sở hay không? Hay là phát triển bằng những con số báo cáo rổng tuếch? Lợi tức tạo được đã bị cả hệ thống của những con virus tham nhũng đục nát cơ thể. Và hiện tại – muốn phát triển công nghiệp – nhà cầm quyền địa phương – theo lệnh Đảng – mở rộng khu công nghiệp, khu du lịch, đã quy hoạch lấy đất, phá mồ phá mả, chiếm nhà dân một cách bạo ngược. Lòng dân phẩn uất, kêu la than khóc. Oán hận ngút trời xanh! (19 Tỉnh miền  Nam  biểu tình khiếu kiện trước trụ sở quốc hội 2 Sàigòn). Như vậy có gọi là phát triển không?
KẾT LUẬN
- 36 năm nhìn lại: Người ta thấy miền Bắc đã “giải phóng” dân Sàigòn ra khỏi đất đai, nhà cửa của họ. Họ phải rút vô hẻm, ra ngoại ô hay về quê bằng nhiều chánh sách khác nhau. “Giải phóng” miền ĐBSCL ra khỏi sự trù phú do thiên nhiên ưu đãi từ nhiều thế kỷ. “Giải phóng” quân nhân, viên chức chế độ cũ ra khỏi nhà, để đưa họ vào các trại tù cải tạo hoặc đẩy họ ra biển… “ Giải phóng” phụ nữ miền Tây, để họ được tự do đi làm “vợ nô lệ”, đi làm điếm ở Kampuchia, TháiLan.
- 36 năm nhìn lại: Người ta thấy Việt  Nam  trở lại thời kỳ mua bán nô lệ như thời Trung cổ. Phụ nữ Việt  Nam  bị bán đấu giá trên E-bay  Taiwan  website (2003) – bị trưng bày trong lồng kính, cũng để bán đấu giá như một con súc vật ở Singapour (2005). Chỉ trong năm 2005 – có khoản 400.000 phụ nữ và trẻ em bị bán ra ngoại quốc. (Theo UNI CEF – LHQ và Bộ Tư Pháp Việt  Nam )
- 36 năm nhìn lại: Mượn lời nhà báo Claude Allegre, báo L’expresse ngày 29-8-2002: “Người ta không thể cho qua một cách im lặng những Khơ me đỏ, những trại tập trung ở  Cambodia  và những cuộc tàn sát man rợ ở đó. Và Việt  Nam  không được biết đến như là một chế độ nhân đạo hơn. Dưới cái cớ là dân tộc can đảm nầy đã chiến thắng các siêu cường quốc – người ta đi đến chỗ quên đi một nền độc tài đẫm máu đang thực thi trên xứ sở “
- 36 năm nhìn lại: Miền Bắc XHCN rõ ràng đã thiết lập một nền đô hộ miền Nam – khắc nghiệt, tinh vi hơn cả thời Pháp thuộc.
Và điều quan trọng trên hết là Việt  Nam  đang đứng trước hiểm họa mất nước. Một trí thức Việt  Nam  lên tiếng cảnh cáo: “ Việt  Nam  đang đứng trước hiểm họa mất nước. Mất cả đất đai, sông núi và dân tộc. Việt  Nam  sẽ trở thành một tỉnh lẻ của Tàu. (Trích Người việt hải ngoại – Nguyễn văn Trấn)

*Tác giả viết “Thư giãn” sửa lại “Giải trí” và “32 năm” sửa lại “36 năm

 http://www.hennhausaigon2015.com/?p=15192

“Lãnh Tụ Vượn”

Truyện ngắn “Lãnh Tụ Vượn” dưới đây, chúng tôi không có hàm ý ám chỉ bất cứ nhân vật nào, chúng tôi muốn nói đến những nhân vật được gọi là phản kháng, mà Việt Tân truy phong là anh hùng, là ái quốc là không chấp nhận im lặng để hưởng thụ mà dấn thân cho Quê hương tổ quốc, có thật đúng như thế không? Xin đừng quên Hoàng minh Chính, một nhân vật được xem là lẫy lừng chống đối đảng cộng sản, đã ngang nhiên cho hồi sinh đảng Dân chủ của ông ta với sự hợp tác nồng nhiệt của cựu sinh viên du học Nguyễn tiến Trung. Tuy nhiên, theo ông Huỳnh văn Tiếng, nguyên uỷ viên Thường vụ Đảng Dân chủ Việt Nam từ năm 1944 đến năm 1988, thì:
1-"Bản thân ông Chính đã bị khai trừ khỏi Đảng Dân chủ từ lâu; khi không được sự đồng tình của số đông cựu đảng viên ông không có quyền và không đủ tư cách đứng ra khôi phục Đảng".
2-"Đảng Dân chủ hiện nay mà ông Hoàng Minh Chính lên tiếng 'khôi phục' thì về bản chất đã khác Đảng Dân chủ từng tồn tại từ năm 1944 đến 1988".
Như vậy,  ông Hoàng minh Chính khôi phục đảng Dân Chủ là bất hơp lệ!. Cũng xin đừng quên, chế độ cộng sản là chế độ độc đảng, nhưng ông Hoàng minh Chính “khôi phục đảng Dân Chủ” mà  ông ta vẫn bình yên như vại!
            Sự việc không ngừng ỏ đó, nghĩa là dù ông Hoàng minh Chính lập đảng bất hợp pháp ông vẫn được gian quyền cộng sản cho phép đến nước Mỹ để gọi là chửa bịnh. Có chửa bịnh thật không ? –Thưa không, mục đích của ông Chính là đi thi hành nhiệm vụ đánh lừa nhiệt tình chống cộng của những người Việt Quốc Gia tỵ nạn cộng sản ở hải ngoai và những người Việt căm hờn cộng sản ở trong nước. Nhiệm vụ đó là tập họp, phân công và chỉ định các chức vụ cho các thành phần chống cộng đặc biệt là ở hải ngoại. Bởi vậy khi hoàn thành công tác, ông Hoàng minh Chính trở về vẫn bình yên, tiền trợ cấp cho “lão đồng chí Hoàng minh Chính vẫn không thiếu một xu”, đám tang vẫn linh đình ê hề quan viên và vợ con thân nhân vẫn tiếp tục sống trong căn biệt thự sang trọng, Trần Độ cũng thế. Nguyễn Hộ thì thế nào?. Kính xin quý vị xem tấm hình tư gia của “nhà phản kháng Nguyễn Hộ” tiếp kiến Nguyễn tiến Trung để biết và thấm thía thêm những lời ai điếu của Việt Tân tuyên dương những nhà ái quốc của họ. Có lẻ những người tỵ nạn cộng sản ở Orange County ngán ngẫm hình ảnh và những sự vụ liên quan đến” nhà phản kháng Bùi kim Thành”. Đành rằng  với tầm nhìn khác thì sự  vụ gọi là phản kháng của các nhân vật nầy không phải là hoàn toàn không hữu dụng cho người tỵ nạn chúng ta. Nhưng sự kiện nào thì chừng mực ấy, không thể chỉ cần chút ít hữu dụng mà biến kẻ từng là tội đồ, máu uất hận của dân Việt còn nguyên tươi trên tay họ, những bữa ăn sang trọng, biệt thự tráng lệ và ưu quyền cho con cháu họ, cùng những biệt đãi của gian quyền cộng sản dành cho cá nhân họ sau khi chết vẫn còn y nguyên trạng mà lại biến họ thành bậc sĩ phu, thành anh hùng, thành nhà ái quốc. Lương tâm của những kẻ làm trò hề đạo diễn nầy có còn không?
Viết đến đây, chúng tôi không thể không bất bình và xót xa cho những bậc anh hùng thật sự như 19 Liệt sĩ kháng chiến Quốc Gia đền Nợ nước ngày 2.01.1985 :
1- Nguyễn văn Thừa, 40 tuổi, Trung sĩ 1 địa phương quân tiểu khu Ba Xuyên.
2- Đào tấn Linh, 37 tuổi, Thiếu úy Thủy Quân Lục Chiến.
3- Nguyễn quang Tường, 49 tuổi, sĩ quan Trung tâm Huấn luyện Quang Trung.
4- Lê long Hồ, 31 tuổi, sinh viên đại học Nha khoa Sàigòn.
5- Lê chí Nghĩa, 52 tuổi, trung đội trưởng, trung đội biệt kích thám sát quận Trảng Bàng.
6- Trần thế Hoài, 54 tuổi, sĩ quan hành chánh, tài chánh, Gò Vấp.
7- Nguyễn ngọc Tâm, 47 tuổi, Đốc sự hành chánh quốc gia.
8- Hồ thái Bạch, 58 tuổi.
9- Huỳnh vĩnh Sanh, 63 tuổi.
           10- Lê quốc Quân, 43 tuổi.
           11- Lê quốc Tài, 40 tuổi,( hai chiến sĩ Tài và Quân đều là bào đệ của ông Lê quốc Túy).
12- Hồ thái Khương, 55 tuổi, đại úy sư đoàn 25 BB.(bào đệ ông Hồ thái Bạch).
13- Võ văn Kỳ, 36 tuổi, hạ sĩ địa phương quân, tiểu khu Ba Xuyên.
14- Nguyễn thành Phước, 29 tuổi, sinh viên đại học Nha khoa Sàigòn.
15- Huỳnh phát Trung, 37 tuổi, địa phương quân, tiểu khu Hậu Nghĩa.
16- Ngô duy Ân, 60 tuổi, chức sắc ban giáo lễ tòa thánh Tây Ninh.
17- Nguyễn tất Đắc, 40 tuổi, trung úy Biệt Động Quân.
18- Nguyễn hoàng Long, 50 tuổi, đại úy Biệt Động Quân.
19- Dương thế Cuộc, 42 tuổi, đại úy Pháo binh sư đoàn 25 BB.
Ngày 08.01.1985, gian quyền thảo khấu CSVN hành quyết liệt sĩ Trần văn Bá.
Biết bao anh tài đã bị sát hại thủ tiêu hay đang bị đày đọa trong ngục tù cộng sản hoặc đang nguy nan lẫn trốn những bẩy rập ác quyền cộng sản như: Trần nguyên Hưng, Tô văn Huơn, Hoàng đình Mỹ, Nhan văn Lập, Trần ngọc An, Thạch Sanh,  Nguyễn Bình, Nguyễn phi Long, Nguyễn văn Thạch, Lý Vĩnh, Cao văn Hùng, Trần văn Phương, Thái văn Au, Đặng bá Lộc, Nguyễn văn Hậu, Nguyễn văn Cầm.( tất cả các Liệt Sĩ và chiến sĩ trên đều thuộc Mặt Trận Thống Nhất Các Lực Lượng Yêu Nước Việt Nam). Và như Đức Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ Đệ V Tăng Thống GHPGVNTN, Linh Mục Nguyễn Văn Lý, cô Phạm Thanh Nghiên, ông Trương minh Nguyệt, nhà báo Điếu Cầy, Bà Bùi Minh Hằng, cô Huỳnh Thục Vy, kỷ sư Đỗ Nam Hải, và mới nhất là nhạc sĩ Việt Khang, danh sách còn dài lắm….nhưng Việt Tân chỉ xác nhận những người “phản kháng có giấp phép” (license)  của cộng sản là :”đã không chấp nhận im tiếng để hưởng bổng lộc suốt đời còn lại, nhưng đã can đảm đứng thẳng theo tiếng lương tâm !
Cuối cùng, cá nhân chúng tôi tuy rất kính trọng những giòng thơ viết từ đáy vực uất hận trong tập thơ “Hoa Địa Ngục” của Ngục Sĩ Nguyễn Chí Thiện, nhưng chúng tôi rất tiếc ông đã hiện diện trong buổi họp “phân công” dưới bảng hiệu  “Tiểu Diên Hồng” do cộng sản cấp giấy phép cho ông Hoàng minh Chính được hành nghề “phản kháng” từ trong nước đến tại Bắc California để triệu tập chủ tọa và phân công bổ nhiệm chức vụ, công tác cho những nhà “phản kháng” và “Dân chủ” tại hải ngoại. Cũng như thế, chúng tôi rất tiếc Bà Trần Khải Thanh Thủy có chân trong tập đoàn Việt Tân.

    Tống phước Hiến
 Dưới đây là hình ảnh các nhà “Dân chủ, Phản Kháng được Việt Tân cung kính ngưỡng mộ rằng là “ không chấp nhận im lặng để suốt đời hưởng bổng lộc”
     1/ Nguyễn Hộ
             Căn biệt thự của Nguyễn Hộ sau khi đã bị  đồng đảng cộng sản “giam cầm”. Căn biệt thự nầy cũng là nơi tiếp nhà “ Dân chủ trẻ sinh viên du học ngoại quốc Nguyễn tiến Trung.


                               
   Từ trái qua:Trần Khuê,Nguyễn Hộ,Nguyễn Tiến Trung    Nguyễn Hộ và Võ văn Kiệt
    bên trong biệt thự của Nguyễn Hộ                                    sau vườn nhà Nguyễn Hộ

    
     Một hình khác:Nguyễn Hộ và Võ văn Kiệt                    Nguyễn Hộ thời hét ra lửa
      trong khu nhà Nguyễn Hộ

                  
   Nguyễn Hộ thời mửa ra khói    Nguyễn Hộ thời chống đảng      Nguyễn Hộ thời suy tư!

2/ Hoàng minh Chính :
                               
        Hoàng Minh Chính [đưa tay chào] Bác sĩ Nguyễn Xuân Ngải [bên cạnh, ở giữa]         đón tiếp tại phi trường San Francisco lúc 5:25 giờ chiều ngày Thứ Ba 30-8-2005 

                           
             Đám táng Hoàng Minh Chính có Hoa hậu và Á Hậu đến
                           để làm gì, không ai hiểu!

                                       
           Có cả nhà "phản kháng Dân Chủ" Bùi kim Thành cầm "cờ hiệu'


http://quehuongvaphannguoi.blogspot.com/

Con Mẹ Hàng Xóm


Hắn tên là Cui, Đặng văn Cui. Thứ ba, nên người ta gọi là Ba Cui. Và vì nước da hắn ngâm ngâm, nên sau này khi đi lính quốc gia, bạn đồng đội đặt cho hắn biệt danh “Cui Đen”. Không phải để phân biệt với thằng Cui khác, mà là để cho dễ nhớ ! Bởi vì tiếng “Cui” một mình vừa cộc lốc, tối nghĩa, vừa khó nhớ nữa !
Thật ra, hồi đi làm khai sanh, ông già hắn đặt tên hắn là “Qui”, nghĩa là “Về”, vừa văn vẻ lại vừa nhắc nhở năm đó ông đưa vợ con trở về quê làm ruộng sau một thời gian dài “bôn ba bá nghệ” ở Sài Gòn Chợ Lớn. Nhưng không biết tại vì ông phát âm không rõ hay tại vì ông chánh lục bộ lãng tai mà tiếng “Qui” trở thành “Cui” trong sổ bộ !

Thành ra, trong gia đình và trong xóm người ta gọi hắn là “Qui”, còn trong trường và sau này khi ra đời, hắn vẫn mang cái tên “Cui” cứng ngắt đó và thường bị người ta hỏi “Cui là gì ?”.
Coi vậy chớ tên “Cui” có vẻ như là cái tên... “tiền định”, bởi vì rất hạp với con người và tánh tình của hắn. Con người hắn không đến nỗi quá cục mịch nhưng, thật tình, cũng không có nét gì thanh tú hết ! Người gầy gầy,nước da đen đen như người Miên, mắt lộ, gò má cao, môi mỏng dánh, giọng nói thì nhọn hoắt. Vậy mà trong cử động đi đứng, hắn lại rất lanh lẹ, không... ù lì chút nào. Còn tánh tình thì cứng cỏi, thẳng răng, gan góc... như cây dùi cui !
Hồi đó – cái thời còn là lính quốc gia – hắn đánh giặc hăng lắm. Khi lâm trận, mặt nào địch bắn rát nhứt là có Cui Đen phóng tới. Làm như hắn không biết sợ là gì. Vậy mà suốt cuộc đời “binh nghiệp” của hắn, chưa bao giờ hắn bị thương ! Bạn đồng đội nói: “Chắc thằng Cui Đen nó có vô bùa !”.
Hắn đánh giặc “hết mình” như vậy, không phải tại vì hắn có lý tưởng này lý tưởng nọ hay có ý thức chánh trị gì gì, mà tại vì hắn nghĩ rất đơn giản: “Nhà ai nấy ở. Mắc mớ ông cha gì tụi nó mà tụi nó kéo vô đánh mình ? Rõ ràng là tụi nó muốn đánh chiếm xứ mình để đô hộ như tụi Tàu tụi Tây hồi đó. Mẹ bà nó ! Phải đánh chết cha tụi nó hết !”.
Đánh giặc “chết bỏ” như Cui Đen vậy mà Trời không thương. Cho nên mới có ngày 30 tháng tư năm 1975...
... Được lịnh đầu hàng, hắn tức muốn ói máu ! Hắn cắn chặt môi, chĩa súng lên trời bắn như điên. Bắn hết đạn, hắn liệng súng vào đống binh cụ. Trước khi quay đi, hắn nhìn lại võ khí, ánh mắt câm hờn dịu xuống. Hắn nhìn với cái nhìn của người đàn ông nhìn cô nhân tình lần cuối, nhưng hắn lại đưa tay lên trán chào như hắn chào người đồng đội vừa vĩnh viễn nằm xuống nơi chiến trường... Trong đời đánh giặc của hắn, hắn đã từng chào như vậy. Nhưng lần này hắn nghe như hắn đang chào vĩnh biệt một cái gì to lớn hơn, một cái gì quan trọng hơn, một cái gì quí giá hơn người lính cộng hòa chết trận. “Cái gì đó” hắn không định nghĩa được nhưng hắn cảm nhận được. “Cái gì đó” cũng bất thần lảnh một viên đạn vào đầu, cũng ngã gục xuống không kịp trối. Nhưng, trong “cái gì đó”, hắn thấy rõ có hắn, có vợ con hắn, có bà con hắn, có đồng bào hắn nữa. Xưa nay, Cui Đen không biết khóc. Nhưng bây giờ, bỗng nhiên hắn nghe hai mắt mình xót xót...
Một người bạn trong đơn vị chở Cui Đen về nhà bằng Honda.
Nhà Cui Đen ở gần chợ Bà Chiểu, trong một hẻm ngắn nhưng rộng, xe hơi vào được. Đó là loại phố trệt, có sân trước sân sau, và tường rào cao cỡ đầu người. Cui Đen, vợ và hai con nhỏ, ở căn cuối cùng trong hẻm. Vợ chồng hắn ở đó từ thời chưa có con, nên cả hẻm đó đều biết hắn. Ở đây, người ta gọi hắn là “Ba Cui”.
Ba Cui bước vào sân thấy cửa nhà đóng im ỉm. Mở cửa vội vã, thấy đồ đạc còn y nguyên, kể cả chiếc xe đạp của hắn. Hắn bước nhanh vào trong, vừa bước vừa gọi lớn: “Lựu ! Lựu à ! Mẹ con em đâu ? Anh về đây nè !”. Im lặng. Im lặng kéo dài ra tới sân sau. Căn nhà bỗng như rộng minh mong... Trong cái trống vắng đó, Ba Cui nghe như muốn ngộp thở. Hắn trở ra nhà trước, kéo ghế ngồi. Bỗng hắn để ý đến một tờ giấy trắng xếp hai nằm dưới cái gạt tàn thuốc. Lấy lên xem, thì ra là thơ của vợ hắn. Thơ viết vắn tắt: “Em và hai con di tản theo anh Sáu. Anh ở lại, nhớ nhìn kỹ Thẩm Thúy Hằng để mà sống. Em Lựu”. Đọc câu đầu, hắn nghe yên tâm vì anh Sáu – anh vợ hắn – là trung tá hải quân. Đọc câu sau, hắn “xì” một tiếng, bỏ lá thơ lên bàn rồi lấy tay vỗ lên đó nghe một cái bốp, miệng lẩm bẩm: “Đến nước này mà còn viết móc lò móc chảo !”. Nói như vậy, bởi vì Ba Cui vốn mê đào hát. Hắn cắt hình mấy cô minh tinh trong mấy tờ báo Tết, lộng vô khuôn kiếng treo đầy tường. Người mà hắn thường ngắm say mê nhứt là Thẩm Thúy Hằng !

Ba Cui đốt điếu thuốc, vừa hút vừa nhìn quanh. Rồi theo thói quen, mắt hắn dừng lại ở khuôn hình người minh tinh mà hắn ái mộ. Cặp mắt quá đẹp ! Cái mũi quá đẹp ! Nụ cười quá đẹp ! Bỗng hắn nghĩ: “Chẳng lẽ trong cái chộn rộn sanh tử của mấy ngày này mà Lựu còn nghĩ tới chuyện con nít như vậy à ?”. Một lúc lại nghĩ: “À ! Mà xưa nay Lựu đâu có ghen về vụ này !”. Rồi hắn lại nhìn chầm chầm khuôn hình, miệng lẩm nhẩm: “Nhớ-nhìn-kỹ-Thẩm-Thúy-Hằng... Tại sao phải nhìn kỹ ? Mà tại sao để-mà-sống ? Và tại sao lại gạch đít trọn câu này ? Chắc Lựu muốn nói gì đây !”. Hắn đứng lên, bước lại gần để nhìn. Nhìn một lúc, rồi tò mò, hắn nhắc khuôn hình xuống, lật xem phía sau: trên miếng gỗ ép dính bụi có nhiều dấu tay nho nhỏ. Hắn chạy xuống bếp lấy con dao rồi cạy bật mấy cây đinh gài miếng gỗ ép. Miếng gỗ được lật ra, dán dính ở mặt trong bằng băng keo là ba lượng vàng. Ba Cui đứng ngẫn ngơ, quên mất điếu thuốc trên môi đang cháy dở !
Sau ngày 30 tháng tư là chuỗi dài... bận rộn ! Đi mết-tinh. Rồi họp rồi hội rồi học tập. Rồi họp rồi hội rồi học tập nữa. Khi tàm tạm yên, kiểm điểm lại thì những người trong hẻm không có ai đi di tản hết. Thành ra Ba Cui phải nói trớ là vợ con hắn về dưới quê “sống dễ thở hơn”.
Thời gian sau, lần lần người trong hẻm đổi nghề. Có lẽ cho hạp với thời cuộc, với cái gọi là “đổi đời” mà Nhà Nước cách mạng lúc nào “lên lớp” cũng nói. Cho nên thấy thầy Trân nghỉ dạy tiểu học ở phường Sáu, thầy giáo đó bây giờ... “tháo giày” đi làm thợ hồ. Thấy bác Năm thợ bạc bây giờ ngồi bán chuối chiên ở đầu ngõ. Thấy ông thầy chích hạ bảng “Y tá có bằng cấp” rồi sơn viết lại “Hớt tóc bình dân”. Thấy bà Ba “thớt thịt” nghỉ bán thịt heo ở chợ Bà Chiểu, tối ngày nằm nghe băng nhạc cải lương, để chồng con chạy áp-phe tuốt trong Chợ Lớn. Thấy ông “Chánh Ký” chuyên cho mướn xe ba bánh bây giờ bán hết dàn xe rồi ra đứng nấu mì cho thằng con có tiệm cà phê ở ngang hông chợ... vv.
Còn Ba Cui thì đi đạp xích-lô !
Một hôm, trong lúc đạp rề rề trước nhà thương để đón khách, Ba Cui bị xe bộ đội chạy loạn đụng gãy chân mặt. Hắn phải mang băng bột cả tháng. Lúc nào xê dịch cũng phải chống hai cây nạng gỗ. Hắn tức lắm ! Khi người trong hẻm qua thăm, hắn thường cầm cây nạng gõ vô ống băng bột cốp cốp, để nói: “Mẹ bà nó ! Hồi đó đánh giặc, tụi nó không bắn được tôi bị thương. Bây giờ yên rồi, tụi nó cũng ráng đụng cho tôi gãy chân, tụi nó mới nghe ! Quân chó chết !”.
Hồi còn ở nhà thương, khi nhận hai cây nạng gỗ, hắn cặp hai bên nách rồi chĩa thẳng về phía trước như hai cây súng. Mắt hắn trừng lên, hắn bắn bằng miệng: “Pằng ! Pằng ! Pằng ! Pằng !...”. Cho... đỡ tức ! Sau đó, hắn gỡ bỏ hai gù cao su của đầu nạng, để mỗi lần hắn chống đi có tiếng côm cốp khô khan sắc bén. Hay khi hắn nói chuyện, hắn gõ đầu nạng xuống mặt gạch nghe cành cạch. Cho... đỡ tức !
Hôm đi cắt băng bột, Ba Cui nói với đôi nạng gỗ: “Tụi bây chịu trận với tao bữa nay nữa là... lễ tất !”. Nào dè, sau khi cắt băng, chân mặt bây giờ ngắn hơn chân trái, mà chỗ xương gãy lại cong cong, thành ra chân bị thương đó bây giờ không còn chống chỏi mạnh như xưa nữa. Hắn tức giận, quăng cặp nạng vào góc tường, chửi lớn: “Mẹ bà nó ! Gia tài có cặp giò để đạp xích-lô mà bị như vầy thì còn làm ăn khỉ gì được ?”. Cô y tá nói nhỏ: “Tại số anh xui. Hôm đó anh nhập viện nhằm ca của ông bác sĩ ngoài đó...”. Hắn lầm bầm: “Mẹ bà nó !”. Rồi lò cò lại góc tường lượm đôi nạng lên chĩa thẳng về phía trước, miệng bắn lớn: “Pằng ! Pằng ! Pằng ! Pằng !...”. Mà lần này, hắn bắn đến ba bốn đợt nhưng sao vẫn chưa nghe hả tức ! Bỗng hắn thèm có khẩu M16 để hắn... ria một hơi...
Về sau, Ba Cui sắm thùng đồ nghề rồi ngày ngày đạp xe ra góc đường gần Ủy Ban Nhân Dân ngồi sửa xe đạp. Và lúc nào cũng có đôi nạng gỗ, bây giờ đầu dưới có bịt sắt ! Cho nó... oai !
... Thầy Hai Khuê ở khít vách Ba Cui, hồi thời trước làm thơ ký kế toán cho một hãng buôn ở Chợ Cũ, sau thời gian đổi nghề đi đan mây tre chắc chịu không nỗi nên... bán nhà. Người chủ mới là đàn bà, cỡ tuổi Ba Cui, con người thanh tú, “coi được lắm”. Cô ta ở một mình. Làm việc ở đâu không biết, nhưng ngày nào cũng thấy đi thấy về bằng chiếc xe Vélo-Solex. Vì vậy, trong hẻm gọi cô ta là “cô Hai Sô-lết”.

Cô Hai không giống người trong xóm. Thời buổi này mà cô ta vẫn ăn mặc như hồi đó, vẫn áo dài màu in bông trang nhã quần hàng trắng ống thon thon. Vẫn chút phấn chút son chút dầu thơm loại “xịn”. Cho nên người trong xóm cũng ngại, không muốn gần, mặc dầu thấy cô Hai Sô-lết cũng dễ thương, gặp ai cũng chào cũng hỏi. Riêng Ba Cui thì thẳng thừng: “Con mẹ này... Tôi coi không vô ! Cái thứ đàn bà ở một mình mà tối ngày son phấn... tôi nghi lắm”. Cho nên, gặp cô ta mấy lần mà hắn chẳng hỏi thăm xã giao một tiếng. Chỉ gật đầu lấy lệ rồi đi luôn !
Một buổi tối, tên công an phường đi xe Honda tới nhà cô Hai Sô-lết với một anh bạn. Họ và cô Hai chào hỏi nhau, giọng điệu chứng tỏ họ đã quen thân nhau từ lâu. Ba Cui nằm trên ghế bố đặt ở phòng khách – hắn ngủ ở đây cho nó mát – nghe cái lối chào đón của “con mẹ hàng xóm” mà phát ghét. Hắn lầm bầm: “Mẹ bà nó ! Tao nói có sai đâu ! Cái thứ này... xài không được !”
Bên kia, chắc họ bày biện ăn uống ở ngoài sân nên Ba Cui nghe rõ mồn một:
- Biết bà chị neo đơn nên chúng tôi có mang đến thịt quay và phá lấu đây này.
- Các anh bày vẽ. Hồi trưa, ở cơ quan, em đã bảo đừng mang gì hết. Em có bia nè. Em có tôm khô củ kiệu nè. Em có cua rang muối nè.
- Đấy ! Đồng chí thấy không ? Tôi đã bảo là chị Tâm chu đáo lắm mà đồng chí không tin.
- Ấy ! Đây là lần đầu, tớ cũng phải có cái gì để ra mắt bà chị chứ !
- Mình là người nhà với nhau hết, mấy anh đừng khách sáo. Em không thích đâu.
- Vâng ! Thế thì cho tôi xin bà chị. Lần sau sẽ nghiêm túc hơn.
Nằm bên nây, Ba Cui vừa lắng nghe vừa suy nghĩ: “Con mẹ này ghê lắm chớ không phải vừa. Thằng công an mà còn gọi bằng chị thì không phải thứ cóc cắn đâu. Theo cách nói chuyện của con mẻ thì con mẻ vô ra cơ quan Nhà Nước như đi chợ. Vậy là người của tụi nó rồi”. Nghĩ đến đó, hắn có ngay một thái độ: “Mẹ bà nó ! Mình phải coi chừng. Trong hẻm này toàn là dân ngụy không mà con mẻ chen vô đây làm gì ? Phải có ý đồ gì đó ! Mình phải cho lối xóm biết mới được”.
Sau đó, cứ năm bảy hôm là cô Hai Sô-lết có nấu nướng ăn nhậu với bọn công an. Rồi công an kéo theo công an. Họ nói năng cười cợt như chỗ không người. Cả xóm đều biết. Cho nên mọi người đều dè dặt lẩn tránh cô Hai Sô-lết. Chỉ có Ba Cui là làm ngược lại. Trước đây, hắn không thèm chào một tiếng. Bây giờ thì hắn nghĩ: “Mình phải làm cho nó thấy là mình biết nó là ai. Mình phải đương đầu với nó để cho nó thấy rằng mình không sợ nó, mặc dầu nó là bà chằn hay ông kẹ gì gì. Mẹ bà nó ! Phải như hồi đó, tao ria cho một trận là chết cha hết !”.
Cho nên, có hôm, nghe Ba Cui nhái giọng nửa Bắc nửa Nam của “tụi giải phóng” để hỏi cô Hai Sô-lết – hỏi trổng:
- Thế nào ? Tốt chứ !
- Dạ... Cám ơn anh. Cũng tàm tạm.
- Chà... Dạo này thấy... béo ra đấy !
- Em thấy em cũng vậy, hà.
- Có chứ ! Cứ ăn nhậu mãi là phì ra thôi !
Bỗng cô Hai nhìn thẳng vào mắt Ba Cui, nghiêm giọng:
- Anh Ba à ! Mình ăn cây nào mình rào cây nấy, chớ anh !
Hắn phun nước miếng xuống đất, khoát tay rồi chống nạng cành cạch đi vô nhà. Thiếu chút nữa là hắn phun thẳng vào mặt con mẹ hàng xóm đó ! Cho bỏ ghét !
Càng ngày, cô Hai Sô-lết càng tiếp đãi “tụi nó” thường hơn, đông hơn và nhiều thành phần hơn. Có cả cán bộ đến bằng xe hơi có tài xế nữa ! Ngoài việc ăn uống – hình như chủ nhà có tài nấu nướng nên lúc nào cũng nghe “thực khách” hết lời khen ngợi thán phục – không biết họ có... “làm gì” nữa không ? Ba Cui nhiều lần cố ý rình nghe nhưng chẳng thấy có gì khả nghi hết. Nhưng, đối với Ba Cui, nguyên cái sự ăn uống cười đùa thân mật thoải mái của “tụi nó” cũng đủ làm cho hắn “tức con mắt”. Còn con mẹ hàng xóm thì hắn dứt khoát: cái giống gì mà hắn... hửi không vô ! “Cái giống” đó cõng rắn cắn gà nhà, mở ngỏ đưa đường cho tụi ngoài đó vô xâm chiếm thống trị miền Nam rõ ràng mà nói là “đi giải phóng”. Mẹ bà nó !
Một đêm đó, cũng gần khuya, trong lúc bên kia, hai tên công an và gia chủ còn chuyện trò, bên nây Ba Cui tắt đèn nằm trên ghế bố nghĩ vẩn vơ chờ giấc ngủ, thì nghe tiếng xe hơi chạy vào thắng gấp trước nhà cô Hai. Hắn lẩm bẩm: “Giờ này mà còn kéo tới nữa ! Thiệt... cái lũ này...”. Nhưng sao không có tiếng mở cửa đóng cửa xe mà lại nghe có tiếng chân người phóng xuống. Vậy là thuộc loại xe “gíp” chớ không phải xe nhà. Lại nghe tiếng súng khua và tiếng lên cò lách cách. Ba Cui phóng nhanh lại cửa, lắng tai nghe. Giọng quen thuộc của tên công an phường vang lên:
- Này ! Các đồng chí làm gì thế ?
Một giọng lạ, nghiêm nghị:
- Hai đồng chí hãy ngồi yên. Con này, đứng vào góc tường kia !
Tiếng cô Hai la: “Ối !”. Có vẻ đau. Tên công an la lên:
- Này ! Nhẹ tay chứ đồng chí. Có vấn đề gì thì ta hãy từ từ giải quyết. Loạn à ?
- Ừ ! Loạn ngay trong phường của đồng chí mà đồng chí còn hỏi nữa à ? Đồng chí hãy ngồi xuống ! Còn con này, quay mặt vào tường, đứng yên ! Không, tao bắn nát óc !
Rồi ra lịnh cho đồng bọn vào lục soát trong nhà xem “có tên nào ẩn nấp trong ấy hay có cất giấu vũ khí không” và “phải cảnh giác”.
Không khí bên đó có vẻ căng thẳng. Tên công an thấp giọng:
- Chị Tâm đây là người của Thành ủy. Chắc đồng chí lầm người rồi.
Không nghe trả lời. Ba Cui đoán bọn mới tới là bộ đội và “thằng xếp” này có vẻ coi thường hai tên công an.
Một lúc sau, nghe:
- Báo cáo đồng chí: không phát hiện gì cả.
- Tốt ! Hai đồng chí ra ngoài.
Im lặng. Rồi lại nghe giọng “thằng xếp”:
- Các đồng chí có biết con này là ai không ?
Ngừng một chút. Chừng như để cho câu nói tiếp theo có hiệu lực hơn, bởi vì “thằng xếp” gằn từng tiếng:
- Người ta biết nó là Trần thị Tâm, nhưng tên thật của nó là Nguyễn Kim Hoa. Nó được bọn ngụy cài vào hàng ngũ của ta từ ngày giải phóng. Chính nó bao lâu nay bí mật đưa tin cho lũ phản động đang ẩn nấp ở vùng biên giới để chống phá cách mạng. Ác ôn như thế đấy !
Lại ngừng một chút, rồi tiếp:
- Bây giờ thì hai đồng chí về đi, để chúng tôi xử lý vụ này. Sáng mai chúng ta sẽ nói chuyện sau.
Một lúc, có tiếng Honda của bọn công an rồ máy rồi chạy ra ngõ. “Thằng xếp” ra lịnh:
- Con này ! Đi ngay !
- Anh cũng phải để tôi dọn dẹp mấy thứ này vô nhà rồi tắt đèn đóng cửa chớ !
- Ừ ! Nhưng khẩn trương lên !
Bên này, Ba Cui chống hai tay lên cửa, đầu gục xuống. Hắn cắn môi kềm xúc động. Hắn nghe ân hận vô cùng: “Cô Hai là người của mình mà lâu nay mình khinh miệt cổ như đồ phản quốc ! Còn đòi phun nước miếng vào mặt cổ nữa ! Mẹ bà nó ! Mình tệ quá ! Bây giờ làm sao xin lỗi cổ đây ?”. Trong đầu hắn bỗng hiện lên hình ảnh của cô Hai Sô-lết. Bây giờ, sao hắn thấy cô Hai đẹp quá, cao cả quá, rắn rỏi quá. Cô vẫn giữ nguyên nét ngụy, từ cái áo cái quần tới chút phấn chút son. Cô vẫn tự trọng chớ không làm ra vẻ lam lũ theo... thời trang cách mạng. Cô đáng phục quá ! Bây giờ mới hiểu câu nói “ăn cây nào mình rào cây nấy” của cô Hai. Phải rồi. Cô phải “rào” cho kỹ để rút tỉa tin tức cần thiết cho “Kháng Chiến Phục Quốc”, vậy mà mình đã nghĩ rằng cô là phường bợ đỡ chánh quyền ! Thiệt là bậy !
Bên kia, giọng cô Hai Sô-lết nghe rất bình tĩnh:
- Rồi. Tôi xong rồi.
- Mang gì thế kia ?
- Bao quần áo, bàn chải đánh răng, khăn, lược. Nè ! Anh xét đi !
- Thôi ! Được ! Lên xe !
Xe rồ máy, sang số de rồi lùi ra hẻm.
Bên nây, Ba Cui bỏ tay xuống, lắc đầu thở dài. Bỗng, một tiếng nổ chát chúa, tiếp theo là tiếng xe đụng vào tường rào rầm rầm rầm rồi im. Ba Cui giựt mình, đứng thẳng người lên, lắng tai nghe. Tiếng người xôn xao ngoài hẻm:
- Xe bộ đội nổ ! Xe bộ đội nổ !
- Nó đụng tường rào nhà bác Năm !
- Có ai sao không ?
- Có ai bị gì không ?
- Anh chị Năm với mấy đứa nhỏ có sao không ?
- Không ! Không có sao ! Tụi này đang ngủ trong nhà.
Ba Cui định mở cửa chạy ra coi nhưng nghĩ lại :“ Trong hẻm nầy, chỉ có mình mình là lính ngụy. đứng xớ rớ ở đó nguy hiểm .“ Bên ngoài vẫn nghe xôn xao :
- Đứa nào chạy kêu công an coi bây ! Trời ơi !
- Lấy đèn pin rọi coi !
- Rọi đây nè ! Mầy rọi ở đâu vậy ?
- Sao không thấy ai nhúc nhích hết vầy nè !
- Thấy ghê quá !
- Mầy rọi vô giữa coi ! Cứ ria ria ngoài nầy thì thấy khỉ gì được. Thằng... nhát gan quá mậy !
- Đưa đèn đây tao rọi coi.
- Trời ơi ! Cô Hai Sô-lết chết banh xác trong nầy nè !

Ba Cui bỗng thở hắt ra, gục đầu vào tường, không nghe rõ gì gì nữa. Làm như tiếng nổ vừa rồi làm cho hắn lùng bùng lỗ tai. Kinh nghiệm chiến trường cho hắn biết đó là tiếng nổ của lựu đạn, loại lựu đạn mà hồi thời còn “đánh giặc chết bỏ” hắn vẫn thường dùng để diệt địch. Bây giờ, cô Hai đã dùng nó để nói lên tiếng nói cuối cùng. Một-tiếng-nói-cuối-cùng...
Hình ảnh cô Hai Sô-lết lại hiện về trong đầu Ba Cui, thật rõ, thật đẹp, nhưng thật hiên ngang, thật oai hùng, thật vĩ đại. Trong bóng tối, hắn bỗng đứng nghiêm, trịnh trọng đưa tay lên trán chào. Xưa nay, hắn không biết khóc. Vậy mà bây giờ hắn bật khóc ! Không biết nước mắt ở đâu mà tuôn ra nhiều như vậy ?
Mặc dầu một chân ngắn một chân dài, Ba Cui vẫn đứng thẳng, trong tư thế chào vĩnh biệt người đồng đội vừa tử trận, đứng lâu thật lâu...

Tiểu Tử

Bài Xem Nhiều