We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 15 February 2012

Không có gì - Tin Hay Không Tin


          Sau vụ anh Ðoàn Văn Vươn ở xã Vinh Quang huyện Tiên Lãng bị cướp đất rồi bị bắt, nhiều người Việt trong nước đã đặt câu hỏi trên các mạng lưới: “Liệu vụ này có bị chìm xuồng không?” Rồi tự trả lời, “Chúng tôi chả còn biết tin vào đâu nữa!” Một độc giả khác trấn an: “Hãy tin vào đảng vào trung ương…” Nhưng có người phản bác ngay: “Các bác vẫn còn cái trung ương để tin. Em thì chẳng. Dứt khoát như thế cho nó nhanh. Còn tin vào đâu?”
Một cách cụ thể, một vị độc giả trên mạng đề nghị: “Hãy làm một cuộc trưng cầu dân ý bằng cách cho mọi người bỏ phiếu với hai khả năng (chọn lựa): Tin – Không tin.” Và vị này đoán kết quả sẽ “có đến 90 % người dân không tin vào vai trò lãnh đạo của đảng nữa.” Một vị khác đồng ý: “Tôi nghĩ… việc mất lòng tin của dân là nhãn tiền.”
Thực sự bây giờ mà đặt câu hỏi dân Việt Nam còn tin hay không tin đảng cộng sản thì hơi phí thời giờ. Ðó là một vấn đề chẳng cần nêu ra làm gì nữa, câu trả lời ai cũng biết rồi. Có thể đặt ngay một câu hỏi là “Ðảng cộng sản có còn tin vào đảng nữa hay không?” Và có thể trả lời ngay là KHÔNG. Cũng trả lời “Dứt khoát như thế cho nó nhanh!”
Hãy thử tự đặt mình vào địa vị các đảng viên và lãnh tụ cao cấp của đảng mà tự hỏi: “Nếu TIN thì TIN vào cái gì? Có cái gì để TIN hay không?” Hỏi rồi, nhìn quanh nhìn quẩn, thực tình, chẳng thấy có cái gì để tin hết! Chính họ cũng không thấy có gì để tin vào đảng của họ nữa, “Nói dứt khoát như thế cho nó nhanh!”
Trước hết, đảng viên cộng sản còn ai tin vào mục đích sau cùng của các đảng cộng sản là làm cách mạng vô sản toàn thế giới hay không? Các đảng viên cộng sản bây giờ còn tin rằng kinh tế tư bản đang rẫy chết, sắp sụp đổ như ông tổ Karl Marx đã tiên đoán trước đây hơn 150 năm hay không? Các đảng viên cộng sản bây giờ còn ai muốn nghiên cứu học tập những lý thuyết viển vông như Duy Vật Biện Chứng hay Duy Vật Lịch Sử nữa hay không?
Những giáo điều căn bản của đảng cộng sản, họ không tin, thì họ tin vào cái gì? Ngay cả những lãnh tụ cao cấp nhất trong đảng cũng chỉ chăm chắm lo làm giầu, lo củng cố địa vị cho con cháu; có ai bây giờ còn tự xưng mình là một “chiến sĩ vô sản?”
Cơn khủng hoảng niềm tin trong nội bộ đảng Cộng Sản Việt Nam đã bắt đầu ngay từ khi họ chiếm được miền Nam Việt Nam. Những đảng viên người miền Bắc thấy rõ người dân trong Nam từng có mức sống cao hơn và có nhiều quyền tự do hơn trước khi “được Ðảng giải phóng.” Những chính sách kinh tế thất bại gây ra nạn đói, cho thấy chủ trương và tài cán của các lãnh tụ là số không. Các cuộc chiến tranh với Khờ Me Ðỏ và Trung Cộng cho thấy cái gọi là chủ nghĩa quốc tế vô sản là hoàn toàn dối trá, bịp bợm. Cảnh sụp đổ của Liên Xô và khối cộng sản ở Âu Châu đã mở mắt tất cả những đảng viên vẫn còn mơ hồ. Khi đảng cộng sản quyết định “đổi mới” thì người ta đã thấy chẳng qua chỉ là trở về với những phương pháp cũ, trước bị đảng cộng sản thay đổi! Nếu còn ai tin tưởng vào đảng cộng sản thì niềm tin đó cũng chấm dứt khi người ta nhìn thấy cảnh các cán bộ từ trên xuống dưới chạy đua trên con đường biến thành tư bản đỏ. Không phải tất cả các đảng viên cộng sản đều hy vọng thành tư bản đỏ, vì chỉ có một thiểu số giành được quyền làm giầu. Những người còn lại phải bám vào đảng để sống.
Riêng đám lãnh tụ đầu đảng bây giờ chỉ còn lo củng cố địa vị mà làm giầu. Họ tìm cách học tập rồi chắp vá những mánh khóe của các chế độ độc tài khác trên thế giới, cố làm sao bảo vệ quyền hành, và bảo đảm đám con cháu sẽ còn được hưởng thụ như họ càng lâu càng tốt. Tất cả là một mạng lưới kết hợp chặt chẽ với nhau để giữ quyền và đục khoét. Ở cấp xã, cấp huyện thì tiêu biểu là xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng. Ở cấp cao hơn thì tiêu biểu là bọn những tập đoàn PMU 18, Xa lộ Ðông Tây ở Sài Gòn, Vinashin. Tất cả đều nhắm mục đích vơ vét thật nhanh, vì biết ngày sụp đổ không còn xa nữa. Leo lên ngồi được vào một cái ghế rất tốn kém, thời gian kiếm chác không biết được bao lâu, cho nên phải nhất trí vơ vét thật nhanh! Như một người dân đã viết trên mạng: Họ đầu tư thì họ phải cố thu hồi!
Tóm lại, bây giờ, đảng cộng sản cũng không còn tin vào chính nó nữa. Những bài diễn văn vẫn đề cao những chủ nghĩa lạc hậu, vẫn hô to các khẩu hiệu rỗng tuếch; chính họ cũng không còn tin lời họ nói nữa. Ngay việc họ vẫn tự gọi tên đảng của họ là đảng cộng sản đã là một điều dối trá trơ trẽn rồi. Người dân coi họ chỉ là một bè lũ Mafia.
Nhưng một hậu quả thê thảm sau hơn nửa thế kỷ cộng sản cai trị, là họ cũng phá vỡ hết cả niềm tin của mọi người dân Việt Nam. Ðảng cộng sản ngay từ đầu đã chủ trương phá các tôn giáo, vì sợ lòng trung thành với đảng bị chia sẻ. Họ hủy bỏ trật tự của các gia đình, là nơi vẫn chứa đựng các giá trị nhân bản như tình thương yêu giữa cha mẹ và con cái, niềm tin vào phúc đức tổ tiên, truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. Họ biến công việc giáo dục thành một khí cụ tuyên truyền, xóa sạch tinh thần “tôn sư trọng đạo” mà các tiền nhân từ Chu Văn An đến Nguyễn Ðình Chiểu đã xây dựng trong hàng ngàn năm. Họ bỏ mặc các giáo chức sống nghèo khổ, phải lo kiếm ăn nhiều hơn là lo giáo dục; làm mất uy tín của các thầy giáo, cô giáo, mà từ đời xưa vẫn được coi là lớp người làm gương mẫu cho thanh thiếu niên Việt Nam. Họ coi cả hệ thống tư pháp là một dụng cụ cai trị, không người dân nào tin tưởng vào luật pháp nữa. Trật tự xã hội chỉ dựa trên nỗi sợ hãi trước guồng máy công an.
Hậu quả của các chính sách cộng sản là tạo nên một xã hội bơ vơ không còn ai tin vào các giá trị tinh thần. Trước đây 30 năm, tập truyện Thằng Người Có Ðuôi của nhà văn Thế Giang đã cho thấy những thứ tội ác diễn ra lạnh lùng, ngay cả cảnh người lớn đối xử ác độc với trẻ em. Trước đây 25 năm Nguyễn Huy Thiệp đã mô tả tình trạng con giết cha, vợ bỏ chồng, anh em, bạn bè lợi dụng lẫn nhau; trong một xã hội hoàn toàn không có các tiêu chuẩn luân lý. Nhưng trong văn chương của Nguyễn Huy Thiệp cũng như Thế Giang độc giả còn thấy bóng dáng của lòng từ bi, của những khát vọng hướng về Cái Thiện. Ngày nay, đọc tiểu thuyết Xe Lên Xe Xuống của Nguyễn Bình Phương chúng ta thấy ông cực tả tình trạng trống rỗng tinh thần ở một mức độ kinh hoàng hơn nữa. Cái Thiện hoàn toàn vắng mặt. Các nhân vật trong Xe Lên Xe Xuống không quan tâm đến một giá trị luân lý nào cả. Ðộng cơ của họ khi cư xử với nhau, khi đối phó với hoàn cảnh bên ngoài, đều là do lòng tham và nỗi sợ. Họ chỉ đi tìm tiền bạc, quyền hành, và nhục dục. Họ nhìn người khác đều chỉ thấy đó là những vật có thể dùng để thỏa mãn các mục đích này. Hình ảnh duy nhất còn mang lại niềm tin trong toàn cảnh tiểu thuyết này là tình anh em ruột thịt, qua những ký ức về thời thơ ấu của nhân vật chính, khi hai anh em đối xử với nhau như những con người, không vụ lợi.
Có thể đó là một điều mà Nguyễn Bình Phương nêu lên như mầm mống để nuôi hy vọng cho một nước Việt Nam tốt đẹp hơn. Cuốn tiểu thuyết đặt trong bối cảnh cuộc chiến tranh Việt Hoa tàn khốc những năm 1979, và 1984, cuối cùng, chứa đựng một nỗi khát khao: Phải sống lại tình anh em máu mủ, như thời chúng ta còn là những đứa trẻ thơ.
Bởi vì các chế độ chính trị sau cùng đều tàn lụi cả. Các chủ nghĩa, các lý thuyết đều chỉ có giá trị nhất thời. Những người giầu có nhất, quyền lực cao nhất, sau cùng cũng sẽ bị lãng quên. Quyền hành, danh vọng, tiền bạc, khi chết không ai mang theo được. Nhưng tình tự dân tộc, tình thương yêu giữa người Việt Nam với nhau giống như tình anh em ruột thịt, vẫn tồn tại. Mọi người Việt Nam dù ở trong nước hay ở nước ngoài đều chia sẻ những nỗi nhục nhằn cay đắng của các nhân vật trong Xe Lên Xe Xuống, trong cơn hoạn nạn đất nước bị xâm lăng. Tất cả đều xúc động khi đọc tin tức về gia đình ông Ðoàn Văn Vươn. Tình đồng bào đó vượt lên trên mọi bức tường chia rẽ chúng ta, dù là tường lửa.
Bây giờ chẳng cần đặt ra câu hỏi người dân còn tin chính quyền cộng sản hay không nữa. Nhưng chúng ta có thể tin vào tình thương yêu giữa đồng bào với nhau. Mối quan tâm lớn là chính chúng ta phải xây dựng lại niềm tin giữa người Việt Nam với người Việt Nam. Bắt đầu bằng tấm lòng thành thật, bằng lời nói đúng sự thật, và thái độ sẵn sàng tin tưởng vào những người cùng thành tâm thiện chí. Chỉ có sự thật xây dựng được niềm tin.


Ngô Nhân Dụng

Dự án phá bỏ Tu viện DCCT Nha Trang

Dự án phá bỏ Tu viện DCCT Nha Trang
VRNs (10.02.2012) – Nguyên khu nhà – đất diện tích 24.638m275 tọa lạc tại số 38 đường Duy Tân (nay là 40 – Trần Phú) Nha Trang được DCCT Sài Gòn mua lại của vợ chồng Ông Van Breuseghem và Bà Minten (Quốc tịch Pháp) vào năm 1959.
Giấy bán đoạn mãi đất, nhà và đồ dùng trong nhà lập ngày 9/3/1959 (có thị thực của chính quyền sở tại và trước bạ ngày 19/3/1959) (“Giấy đoạn mãi”) xác định: “DCCT địa phận Sài Gòn – Bên mua – có quyền sở hữu chủ ngay lập tức kể từ ngày ký giấy đoạn mãi …” và “DCCT lập tại đó một nhà Dòng để chuyên lo phụng sự Thiên Chúa chớ không phải để khai thác làm lợi” (trang 3).
Từ 1959 cho đến 1978, toàn bộ khu nhà – đất này được DCCT sau khi xây lại vào năm 1965, sử dụng đúng mục đích làm trung tâm chuyên lo phụng sự Thiên Chúa, đào tạo tu sĩ DCCT, phục vụ nhu cầu mục vụ giáo dân địa phương… Có lúc sĩ số Linh mục, Tu sĩ Dòng phục vụ tại tu viện này lên đến 50 vị.
Từ năm 1978, nhà cầm quyền và UBMTTQ tỉnh Phú Khánh (nay là Khánh Hòa) đã liên tục làm việc với Tu viện đòi được nhượng lại, đòi trưng dụng tầng một để ở chung với Linh mục, Tu sĩ… nhưng Tu viện không chấp nhận vì lý do đây là cơ sở của DCCT Sài Gòn, Tu viện không có quyền định đoạt. Hơn nữa, cơ sở này đã được Đức Giám mục địa phận long trọng làm lễ dâng hiến cho Thiên Chúa. Và nữa là Linh mục, Tu sĩ không thể ở chung nhà với cán bộ…
Cuối cùng, bằng mọi biện pháp, trong đó có cả lý do “…mọi cơ sở của dân, ngay cả cơ sở UBMTTQ đều phải dời cách bãi biển 500m…” để buộc Tu viện DCCT Nha Trang phải giao Tu viện cho Nhà nước trực tiếp quản lý, sử dụng… với lời cam đoan “không sử dụng vào những việc có thể làm tổn hại tình cảm của giáo dân”.
Vậy mà sau khi “trực tiếp quản lý, sử dụng” nhà cầm quyền tỉnh đã biến Tu viện thành khách sạn Hải Yến để khai thác làm lợi trái với mục đích, dùng ngôi nhà nguyện, nơi chuyên lo phụng sự Thiên Chúa, cử hành Thánh lễ sáng, chiều phục vụ giáo dân… làm nhà ăn… xúc phạm nghiêm trọng tình cảm giáo dân…
Đến nay, theo chúng tôi được biết, Nhà cầm quyền tỉnh Khánh Hòa đang chủ trương kêu gọi đầu tư, gọi là “hợp tác liên doanh” với công ty tư nhân ở Sài Gòn thực hiện dự án “Xây dựng mới khu phức hợp: khách sạn và khu căn hộ cao cấp đạt chuẩn 5 sao…” tại số 40 Trần Phú, Nha Trang, mà mục đích cuối cùng nhắm tới là phá bỏ Tu viện DCCT Nha Trang, chuyển tài sản thuộc sở hữu của DCCT Sài Gòn cho tư nhân trực tiếp quản lý và sử dụng.
Xét về pháp lý, khu nhà – đất 24.638m275 tại 40 Trần Phú, Nha Trang ngày nay thuộc quyền sở hữu hợp pháp của DCCT Sài Gòn, 38 Kỳ Đồng từ năm 1958 theo giấy đoạn mãi và giấy phép xây dựng số 6565/HC/KT ngày 8/5/1965 của chính quyền tỉnh Khánh Hòa cấp. Do vậy mà mọi ký kết, giao nhận (nếu có) do bị cưỡng ép của người không có thẩm quyền đại diện hợp pháp của chủ sở hữu khu nhà – đất này là DCCT Sài Gòn đều là bất hợp pháp, vô hiệu. Chưa kể đến các quy định pháp luật vào thời điểm năm 1978, kể cả “chính sách quản lý và cải tạo XHCN đối với nhà – đất cho thuê ở các đô thị, các tỉnh phía Nam (ban hành kèm theo quyết định của Hội đồng Chính phủ số 111_CP ngày 14/4/1977)” mà nhà cầm quyền tỉnh Phú Khánh trước đây và tỉnh Khánh Hòa ngày nay lấy làm căn cứ, cũng hoàn toàn không quy định cho Nhà nước quyền “trực tiếp quản lý, sử dụng Tu viện, của Dòng tu thuộc Giáo Hội Công Giáo” đang sử dụng đúng mục đích.
Hiện nay, theo chỉ thị về nhà đất liên quan đến Tôn giáo (số 1940/CT-TTg ngày 31/12/2008 của Thủ Tướng): “nhà đất liên quan đến Tôn giáo mà Nhà nước đã quản lý, bố trí sử dụng, thì cơ quan, tổ chức được giao quản lý, sử dụng phải sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả, không làm ảnh hưởng đến ảnh hưởng đến tình cảm Tôn giáo của quần chúng, tín đồ…”. Và “trong trường hợp các cơ sở Tôn giáo có nhu cầu chính đáng sử dụng nhà đất đó vào mục đích Tôn giáo thì tùy từng trường hợp cụ thể, UBND Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương có thể xem xét giao nhà – đất với diện tích phù hợp; hoặc tạo điều kiện cho tổ chức Tôn giáo xây dựng cơ sở mới theo quy định Pháp luật”.
DCCT Sài Gòn khẳng định quyền sở hữu hợp pháp của mình đối với khu nhà – đất 24.638m275 tại 40 Trần Phú, Nha Trang ngày nay và đang xem xét yêu cầu nhà cầm quyền tỉnh Khánh Hòa trước mắt ngừng thực hiện dự án, giữ nguyên hiện trạng đất – nhà thuộc sở hữu DCCT Sài Gòn để thực hiện các bước giải quyết tiếp theo đúng quy định pháp luật.

Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam
http://www.chuacuuthe.com/archives/26465

Buổi chiều đánh mất


 
 
    Ở San Jose, nhưng rất ít khi hắn lái xe xuống các khu phố chính dưới downtown. Vào giờ tan sở, đường kẹt quá. Hắn phải chạy vòng vòng mất gần một tiếng đồng hồ mới tìm ra được chỗ đậu xe. Bạn hắn từ Florida sang đây dự Hội Nghị Y Sĩ, và hẹn gặp hắn chiều nay. Anh ta báo cho biết đang ở tại khách sạn Fairmont trên đường Market. Từ chỗ đậu xe, hắn phải lội bộ đến gần một cây số mới tới nơi. Giờ hẹn như thế đã trễ mất hơn một tiếng đồng hồ. Trong lòng hắn lúc nào cũng thấp thỏm không yên. Gặp được bạn rồi, hắn lôi anh ta đi liền. Trên đường về, bạn bè với nhau lâu ngày gặp lại, chuyện trò đáng lý phải rôm rả lắm, thế mà hắn cảm thấy hình như nó rời rạc thế nào ấy.
 
  Về tới nhà, đám bạn bè hắn mời đã đến đông đủ cả. Vài người ra đứng đón hắn ngoài trước cửa. Vợ con hắn đều đã bỏ đi từ hồi nào. Trong nhà chỉ còn lại đám bạn bè. Hắn cảm thấy phảng phất một cái gì đó lạ lạ trên nét mặt mọi người. Hình như họ có điều gì thắc mắc, nhưng hắn hiểu được. Có lẽ họ đang thắc mắc về sự vắng mặt của cả nhà, ít nữa là của vợ hắn. Thật ra, vợ hắn không có mặt ở nhà trong trường hợp này là một điều không tế nhị. Sự hiện diện của người đàn bà chủ gia đình trong một buổi tiếp đãi khách khứa, dù là bạn bè thân, là điều quan trọng. Chuyện thật đáng tiếc, nhưng biết làm sao hơn được. Hắn biết rất rõ chuyện gì sắp xẩy ra cho gia đình hắn, chỉ là không biết chắc vào lúc nào thôi. Hắn không tiện nói ra. Thật tình hắn muốn hủy bỏ buổi gặp gỡ này, nhưng không thể được. Mọi sự đã sắp xếp cả từ gần hai tháng trước. Bạn hắn đã qua đây. Vả lại, hắn chưa thất hứa với bạn bè hay bất cứ người nào bao giờ.
 
  Trong nhà, chiếc bàn ăn kê ngay tại gian bếp đã trải khăn sẵn. Ly chén đầy đủ. Thức ăn cũng sẵn sàng. Đồ ăn đều do đứa con gái lớn của hắn order mang về. Nó biết gu của ba nó. Không cần căn dặn, nhưng không bao giờ nó mua thứ gì ngoài ý ba. Chỉ có món cơm hến ngoài order, do một anh bạn người Huế của hắn đem đến. Hắn vội vàng kéo mọi người ngồi vào bàn và bắt đầu ăn uống, chẳng cần giới thiệu, hoặc tuyên bố lý do như thông thường trong các cuộc họp mặt thế này. Mọi người cũng không ai tỏ vẻ gì thắc mắc. Chuyện trò vui vẻ khiến chẳng còn ai quan tâm đến cái dáng bồn chồn của hắn. Bữa ăn thật ngon miệng. Nhất là món cơm hến bình dân, có lẽ vì lạ miệng, ai cũng cho là khoái khẩu. Anh bạn người Huế của hắn là sư tổ về món cơm hến này.
 
 Gần cuối bữa ăn, hai đứa cháu ngoại của hắn từ ngoài chạy vào, len qua chỗ bàn ăn. Chúng định mở cửa để ra vườn sau chơi. Hắn nạt mấy đứa cháu, đồng thời ngó ra phía phòng khách xem có thấy bóng dáng mẹ chúng không. Con gái hắn, và cũng là mẹ hai đứa nhỏ, vừa chợt tới chân cầu thang lên lầu. Nó nhìn thấy ba liền gật đầu làm hiệu. Hắn buông ly nước trên tay, chạy ra và hỏi vội:
 - Thế nào? 
 - Cô mất rồi!
 
  Câu trả lời của đứa con hắn cũng cụt ngủn như câu hỏi của ba nó. Chuyện phải đến đã đến. Biết trước nhưng khi vừa nghe, hắn vẫn cảm thấy bàng hoàng như muốn rụng rời chân tay. Hắn đứng chết lặng, đầu óc trống rỗng, một hồi sau mới nghĩ ra được câu hỏi khác tiếp theo:
 - Mấy giờ?
 - Bẩy giờ năm mươi.
 
  Hắn xem đồng hồ. Mới cách đây hơn nửa tiếng. Hắn đoán chừng là thời gian con hắn chạy xe từ nhà cô nó về báo tin cho hắn, ngay sau khi cô nó qua đời. Không hiểu sao nó không gọi phone mà lại chạy về báo tin. Nhưng hắn đã có câu trả lời ngay. Con gái hắn bảo:
 - Mẹ kêu con về đón ba. Đường núi ban đêm ba không lái xe được đâu.  
 
  Con đường đến nhà Lan, em gái hắn, dài khoảng 20 miles nếu chạy freeway. Còn phải leo cái dốc ngoằn ngoèo đồi núi, cũng đến 3 miles hay hơn chứ không ít. Người có tuổi như hắn lái xe ban đêm qua đoạn đường đèo này rất nguy hiểm.
 
 - Con cứ đi trước. Ba tới liền.
 
  Nói với con vậy, chứ thật ra hắn chưa nghĩ được cách làm thế nào để giải tán bữa ăn. Nếu cứ để tự nhiên, chuyện trò đến nửa đêm chắc chưa dứt. Đàng khác, hắn cũng chẳng biết làm cách nào để một mình tới nhà cô em qua quãng đường leo núi. Hắn biết con đường và cũng biết lượng sức mình. Con hắn xem chừng phân vân, nhưng rồi nó cũng nghĩ ra được cách để giải quyết vấn đề:
 - Hay là ba lái xe đến chân núi, để xe dưới phố rồi gọi con. Con sẽ xuống đón ba.
 
  Chỉ còn cách đó thôi. Hắn gật đầu đồng ý. Con gái hắn dẫn hai đứa con nó bước trở ra. Xe chạy. Đèn đường đã bắt đầu bật sáng. Đứng lại trên driveway một mình, hắn đưa tay quệt hai bên khóe mắt. Hắn đã khóc thật, nhưng hắn nghĩ dù sao cũng phải lấy lại bình tĩnh trước khi trở vào nhà.
 
   Mọi người vẫn chuyện trò vui vẻ, trừ ra Sonny, một người bạn trẻ ngồi bên cạnh hắn, xem ra đã đọc được cái gì đó trên nét mặt hắn. Sonny lẳng lặng tự động đứng dậy lấy trái cây ăn dessert, và rót trà cho từng người. Hắn hiểu ý của Sonny, và thầm cám ơn anh ta. Thái độ không đúng lúc của Sonny hình như làm ai nấy đoán ra được phần nào sự việc. Họ đoán chừng có cái gì quan trọng lắm đã xẩy đến cho hắn. Chuyện trò bỗng bớt ồn ào hẳn đi. Không khí như lắng xuống. Cuối cùng hắn dứt khoát chấm dứt bữa tiệc để còn đi. Bạn bè sao tự nhiên cũng im lặng. Hắn chậm rãi đứng lên, nói từng tiếng nghẹn ngào:
  - Em gái tôi vừa mới qua đời. Con tôi về báo tin. Tôi phải đi ngay, nên thành thật xin lỗi các bạn. Rất tiếc buổi gặp mặt giữa chúng ta phải chấm dứt sớm. Tôi thành thật xin các bạn thông cảm, và tha lỗi cho.
 
 Ai nấy đều tỏ vẻ sửng sốt. Mỗi người nói một vài lời chia buồn. Sau đó họ tự động đứng dậy đọc kinh cho cô em hắn theo truyền thống của người công giáo, rồi im lặng tản mát ra về. Hắn cũng đi ra theo, và lên xe đi liền. Trên bàn ăn còn bỏ lại ngổn ngang chén dĩa, thức ăn, không có người dọn dẹp.
 
  Hắn tới nhà em hắn. Đêm đã về khuya. Cuối hè mà không khí trên cao giống như đã sang đông. Hắn không nghĩ đến chuyện cần mang áo lạnh nên phải co ro chạy vội vào trong nhà. Thánh lễ cầu hồn đã gần xong. Giờ này mà còn có linh mục đến làm lễ là chuyện lạ. Không những một, mà tới những ba ông cha. Theo sự tin tưởng của người công giáo, lúc chết có linh mục ở bên cạnh giúp đỡ, và làm lễ cầu nguyện cho, là một ơn quí trọng Thiên Chúa thương dành riêng cho người nào đó, không phải ai cũng được. Em gái hắn có được cái phước đức đó. Sự may mắn này thực ra lại đến từ một biến cố đau thương khác trong họ hàng của hắn. Một người bà con mới qua đời tuần trước. Chiều nay gia đình làm lễ phát tang. Đáng lẽ bà chị hắn và hắn cũng phải tham dự. Nhưng sự vắng mặt của hai chị em hắn là một nghi vấn lớn về tình trạng của Lan, em gái của hai người. Sau lễ phát tang, một số họ hàng và các linh mục có ý kéo đến thăm, ai ngờ lại đúng vào giờ phút cuối cùng cuộc đời của Lan. Thật là một ngẫu nhiên tốt lành.
 
 Sau thánh lễ, hắn thay mặt chồng của Lan và chị hắn, với tư cách là người lớn trong gia đình, hắn ngỏ lời cám ơn các linh mục và những người bà con quen thuộc hiện diện. Những ấm ức từ chiều tới giờ có dịp, hắn để cho tuôn ra hết sau lời cám ơn cho trong lòng nhẹ bớt. Hắn nói:
 -   … Có hai điều ân hận nhất trong lòng lúc này, tôi thấy cần phải nói ra như một sự thú tội. Thứ nhất là trong suốt thời gian em tôi nằm nhà thương, tôi đã không ngừng nói láo (nói dối) với nó. Tôi luôn luôn vỗ về em tôi là bệnh tình không có gì nguy hiếm, và khuyên nó cứ tin tưởng, trong khi tôi biết rõ một trăm phần trăm em tôi không thể qua khỏi được. Và điều thứ hai quan trọng hơn là, hôm nay tôi đã thất hứa với em tôi. Tôi trong lòng đã hứa với nó là tôi sẽ ở bên cạnh nó suốt ngày. Thế nhưng lời hứa của tôi đã trở thành một lời nói láo. Chiều hôm nay đáng lý phải là một buổi chiều thân mật, và đầm ấm nhất bên nhau, giữa anh em chúng tôi. Anh em chúng tôi đã mất nhau trọn cả cuộc đời. Chỉ còn ít giây phút ngắn ngủi của buổi chiều hôm nay thôi, mà tôi cũng thất hứa, và đánh mất luôn nốt. Tôi thật là có lỗi. Tôi ân hận vô cùng. Tôi thành thật xin lỗi em tôi, và cũng xin lỗi mọi người ……..
 
   Nói ra được một cách công khai những điều ray rứt trong lòng, hắn cảm thấy nhẹ nhõm rất nhiều. Hắn lần lượt chào hỏi từng khách khứa cho phải phép xong. Việc cần thiết nhất đối với hắn sau đó, là đi gặp mặt người chết.
 
   Vẫn cái căn phòng xép ban sáng hắn đã vào. Phòng này liền vách và thông thương với phòng vừa có thánh lễ bên cạnh, bề ngang hơi hẹp, ngổn ngang tủ bàn, computer, và sách vở.  Khi trước, đây có lẽ là phòng học của Hà, đứa con gái út của Lan. Lan vẫn nằm trên chiếc giường bệnh viện do nhà thương cung cấp, đặt ở đầu và nằm dọc theo căn phòng. Trong phòng không có ai ngoài hắn và Lan, cô em hắn đang nằm bất động trên giường. Hắn bước tới bên cạnh Lan. Em hắn trông có vẻ rất thanh thản, mặt nhợt nhạt, mắt nhắm nghiền, hệt như đang ở trong một giấc ngủ yên bình. Với đức tin của một người có đạo, hắn yên tâm về cái chết của cô em gái. Hắn đặt tay trên trán Lan. Hãy còn hơi ấm. Hắn tưởng tượng như em mình đang nằm mơ màng và nghe thằng anh nói dóc. Đã nhiều lần hắn nói chuyện tâm sự, và ôn lại dĩ vãng với Lan trong nhà thương, lúc chỉ có riêng hai anh em với nhau. Tuy nhiên, đó đều là những mẩu chuyện rời rạc, và thiếu mạch lạc. Nhưng từ trong ký ức lúc này, hắn bắt đầu từ đầu, như hắn vẫn thường làm ở nhà với một cái tape băng cassette, cuộc đời bất hạnh của hai anh em hắn.
 
   Hắn vẫn thường nhai lại, làm như là của mình lời than thở của Vũ Trọng Phụng: Tôi sinh ra dưới một ngôi sao xấu. Còn hơn nhà văn họ Vũ nữa, không phải một mình hắn, mà cả sáu chị em hắn còn sống cho đến nay (trừ ra 2 chị đầu lòng chết khi còn là baby), đều sinh ra dưới những ngôi sao xấu cả. Từ khi chưa khôn lớn, chúng tôi đều đã là những đứa trẻ bất hạnh nhất trên trần gian này. Ba hắn có tên trên giấy tờ là Hỷ. Hỷ tức là vui, nhưng ông bà đã để lại cho lũ con một nỗi buồn, và sự mất mát quá to lớn. Đó là sự mồ côi cả cha lẫn mẹ. Cha mẹ hắn lần lượt bỏ con cái ra đi sau cái nạn đói khủng khiếp năm 1945 tại miền Bắc. Họ không chết vì đói, mà là vì bệnh thương hàn. Lúc đó người chị thứ ba, mà hiện nay hắn coi như là chị hai của hắn, hãy còn ở lứa tuổi teen, trong khi đó hắn mới lên bẩy, một đứa trẻ nhà quê chưa biết đau khổ là gì. Những gì hắn còn nhớ rõ nhất về ba mẹ hắn là hai kỷ niệm ngày ba và mẹ hắn mất.
 
    Vào một buổi chiều đầu Thu, lúc mặt trời vừa xế bóng, ba hắn lặng lẽ ra đi trên một chiếc giường kê ở góc buồng (phòng) thẳng ngay lối cửa đi vào. Đúng hai tuần lễ sau, cũng vào buổi chiều, trễ hơn một chút, khi ánh nắng vừa tắt, mẹ hắn bỏ đi cũng trong căn buồng đó, ở một góc khác, xéo góc với chỗ nằm của ba hắn lúc trước. Cả hai lần đó, hắn đều nép vào cùng một chỗ, tại phía góc phải ngay cửa ra vào, trong tay cầm một cái trái gì đó không nhớ rõ lắm, hình như là trái quít. Hắn thò lõ mắt đứng nhìn sự việc xẩy ra chung quanh mình. Nhiều người vật vã khóc lóc. Hắn không nhỏ lấy một giọt nước mắt, nhưng cảm thấy bồn chồn và sợ sệt. Hắn đứng xem cho tới lúc chán mắt thì bỏ ra ngoài chơi tha thẩn một mình. Qua ngày hôm sau, khi người ta giết heo làm đám, hắn chầu chực dành cho bằng được cái bong bóng, thổi căng làm banh, đá chơi với lũ con nít lối xóm. Cái lối chơi này hắn học được từ một lần ba hắn cõng hắn sang đánh bạc ở nhà cụ Nghị Phức, làng bên cạnh.
 
  Thường thường thì ba hắn tụ họp bạn bè trong làng, hoặc từ các làng bên cạnh, để đánh chắn, đánh tổ tôm tại nhà. Hầu như không tuần lễ nào là không có. Nhưng lâu lâu, ông cõng hắn đi các làng bên đáp lễ lại bạn bè. Sanh năm con gái rồi mới sanh đến hắn là con trai, nên ba mẹ hắn cưng chiều hắn nhất nhà. Đi đâu chơi, ông cũng cõng con trai đi theo. Bữa đó sang nhà cụ Nghị Phức còn sớm, gặp lúc người nhà đang giết chó thết đãi khách đánh bài. Trên nhà, cụ Nghị chơi đàn độc huyền cho ba hắn nghe thưởng thức. Lúc đó hắn chẳng biết gì về âm nhạc, nhưng tiếng đàn của cụ Nghị trầm buồn, gieo vào cái không gian tịch mịch của một buổi chiều nhà quê, làm hắn cảm thấy nao nao thế nào ấy. Nhà cụ Nghị không có con nít. Cụ thích chơi chim. Cụ nuôi rất nhiều loại chim, chim cu thì nhiều lắm. Hắn một mình tha thẩn dạo quanh nhà xem chim, hay ngắm hòn non bộ. Để chiều đứa con của bạn mình, cụ Nghị kêu người lấy cái bong bóng chó, thổi căng làm đồ chơi cho hắn. Hắn thích quá. Về sau mỗi lần ở nhà có giết chó, hay giết heo, hắn đều dành cho bằng được cái bong bóng làm banh đá.  
 
  Chôn cất ba hắn xong rồi, lúc đó hắn mới cảm thấy cô đơn, trong nhà trống vắng hẳn. Cả đến gần tuần lễ sau ngày chôn ba, khi việc nhà đã tạm ổn, và công việc đồng áng cũng đã đâu vào đấy, mẹ hắn mới có thì giờ ngó ngàng đến lũ con đàng hoàng hơn. Sáng dậy, bà rửa mặt cho hắn, và hai em hắn là những đứa con nhỏ nhất nhà, rồi bà mới cho ăn uống. Công việc này là của ba hắn lúc trước, vì mẹ hắn phải dậy sớm đi chợ mỗi ngày. Mẹ hắn làm hàng xáo, và lo bữa ăn cho gia đình, kể cả bốn năm người nữa thường xuyên giúp bà làm việc nhà, như xay lúa, giã gạo, nuôi heo v.v., hoặc trông coi việc đồng áng. Còn ba hắn thì đã có nghề thầy lang của ông. Mỗi buổi đi chợ về, me hắn không bao giờ quên mua quà cho các con. Lần thì chiếc bánh đa, bánh dẻo. Lần chùm nhãn, hay trái quít v.v. Mùa nào thức nấy.
 
   Sau khi ba chết, mẹ hắn nghỉ làm hàng xáo. Món quà chợ này bây giờ bà thay bằng cách dẫn các con đến nhà dì Ngũ ăn bánh tráng ướt vào mỗi lúc xế trưa, sau khi các con ngủ trưa dậy. Nhưng thói quen này cũng chỉ kéo dài được mấy ngày. Mẹ hắn ngã bệnh chỉ ít ngày sau khi ba mất. Đứa em trai út của hắn mới lẫm chẫm biết đi. Có một lần, hắn nhớ là lần cuối cùng sau khi đi ăn bánh tráng về, mẹ hắn ôm em hắn vào lòng rồi oà lên khóc. Cả Nhà không có ai, ngoài bốn mẹ con. Các chị lớn của hắn cũng đi vắng cả. Bà khóc lớn tiếng. Hắn và em Lan ngồi hai bên ôm cứng lấy mẹ. Em Lan cũng khóc thút thít hỏi mẹ: sao bu khóc vậy? Mẹ hắn không trả lời, và càng khóc nức nở hơn. Sau này khi lớn lên, hắn mới hiểu rằng mẹ hắn biết mình đã kiệt sức, và bà cũng đã nhuốm bệnh rồi. Hẳn mẹ hắn linh cảm thấy bà sắp phải xa rời lũ con nhỏ dại của mình. Vài hôm sau mẹ hắn nằm liệt giường, không còn dậy nổi nữa. Người ta không cho các con bà tới gần mẹ, vì sợ bị lây bệnh. Chưa đầy một tuần lễ sau, mẹ hắn cũng ra đi luôn.
 
  Buổi sáng chôn mẹ xong, chiều hắn vẫn đi chơi đùa với lũ con nít lối xóm. Không còn sự gì quyến luyến ở trong nhà, hắn bắt đầu trở thành đứa trẻ lêu lổng. Hắn thật sự không còn biết đến trong nhà còn có sự hiện diện của các chị, và hai em hắn nữa, nhất là đứa em trai út chưa đi vững, và đứa em gái kế đang nằm trước mặt hắn đây, lúc đó nó mới lên bốn, hay năm gì đó. Theo tâm lý thông thường thì anh trai hay cưng em gái hơn, nhưng hắn không bao giờ ngó ngàng đến Lan. Làm như hắn không có em gái. Hắn sống lạnh nhạt với các chị em, và ngược lại, hắn cảm thấy các chị em hắn cũng đối xử với hắn như vậy, nghĩa là ai muốn sống sao thì sống. Hắn không hiểu sao nữa, mặc dầu sau này khi hắn đã khôn lớn. Mà thực ra, vì tuổi còn quá nhỏ, chị em hắn cũng chẳng ai lo được cho ai được.
 
   Hắn như một con chó vô chủ, tự do thoải mái, nên mạnh dạn lang thang đi vào các xóm nhà xa hơn. Nhiều khi hắn đi không còn biết giờ giấc, nhớ bữa thì về ăn, còn không thì khi đói bụng quá mới trở về lục cơm nguội. Bạ gì ăn nấy. Hắn hết còn được ngủ với ba hắn như trước. Bây giờ thì tối đến buồn ngủ, hắn chui vào bất cứ chỗ nào, có khi là đống rơm trong góc bếp. Chỉ cần được nằm ngủ yên là tốt rồi. Hắn bỏ học trong thời gian ba mẹ hắn bệnh. Sau ngày ba mẹ mất, hắn bị bắt đến trường trở lại, nhưng thường hay trốn học. Bởi vì trốn học nhiều quá, hắn không còn được học ở trường ngoài đình làng nữa. Chị hắn dẫn hắn vào giao cho ông thầy trong trường nhà thờ. Mấy tháng sau, không hiểu do sự sắp xếp từ đâu, hắn lại bị đưa vào ở luôn trong nhà xứ với ông cha, tức là hắn phải đi tu. Một đứa bé nhà quê lên tám như hắn, làm sao đã biết được tu là cõi phúc, và tình là cái chi chi mà đi tu. Nhưng cũng có cái hay, ở đây có nhiều đứa trẻ cũng đi tu như hắn để làm bạn.
 
 - Cha xứ là một người rất trọng việc học, vì thế hắn rất khổ sở với ngài. Có một lần, hắn bỏ học đi bắn chim sẻ, bị ông bắt về đét cho một trận nên thân. Từ đó hắn chừa hẳn thói bắn chim sẻ, và học hành đàng hoàng trở lại. Cha xứ và ba hắn trước đó thân thiết với nhau, nên ông cha tỏ ra thương yêu, và lưu tâm đến hắn một cách đặc biệt. Sau này khi có gia đình rồi, mỗi lần hắn dẫn thằng con trai tới thăm, ông cha bắt thằng bé gọi ông là ông nội. Nhờ có ông cha xứ, hắn mới nên người hơn.
- Con đường bước tới để tiến lên làm linh mục của hắn là vào chủng viện. Khoảng hai năm sau, hắn thi đậu vào chủng viện. Ngay buổi chiều đầu tiên điểm danh nhập học là hắn đã có vấn đề rồi. Chủng viện Mỹ Đức nằm bên cạnh con sông Trà Lý, cách tỉnh lỵ Thái Bình vài cây số. Hắn cùng hai đứa bạn nhóc con “dù” sang Thái Bình để kiếm ăn. Trên con đường đê dọc theo bờ sông dẫn sang tỉnh, có quán bún riêu cua của một bà già. Cả ba vào đánh mỗi đứa một tô. No bụng trở về thì đã điểm danh xong. Đã tưởng bị đuổi, nhưng cả ba rồi cũng được tha vì lý do tuổi trẻ dại dột, vả lại đây mới là lần đầu tiên. Ba đứa chỉ phải học một bài học vỡ lòng về sự nguy hại của tính ham mê ăn uống. Ấy thế mà một đứa nhóc ngày nào, bây giờ đã làm đến ông giám mục. Lại một lần nữa hú vía, hắn suýt bị đuổi khỏi chủng viện vào đúng ngày ra trường. Năm ấy, chủng viện Mỹ Đức của giáo phận Thái Bình vừa di cư vào Phan Rang. Thi final xong, anh trưởng lớp bảo hắn viết một bài cảm tưởng để đọc trong buổi lễ kết thúc niên học. Hắn viết bậy bạ thế nào mà bài bị ông cha giáo kiểm duyệt bỏ. Sau buổi lễ, vị linh mục già dậy Pháp văn và tiếng Latinh gọi hắn vào phòng. Hắn đứng nép vào sau cánh cửa, còn ông thì bước tới bước lui trước mặt hắn. Ông tỏ ra nghiêm khắc, nhưng cũng rất chí tình, răn đe tên học trò mất nết của mình. Ông nói khoan thai như khi ông đọc Thánh Kinh:
 - Con phải cẩn thận giữ mình lắm mới được. Chúng nó (ban giám đốc chủng viện) tính cho con thôi đấy. Có đứa nó cho con chỉ có một điểm conduite (điểm hạnh kiểm. Một chủng sinh phải được tối thiểu 50% điểm hạnh kiểm cuối năm, bằng không thì bị đuổi học vì hạnh kiểm). Cha phải cho con ba điểm mới vớt được. Con phải ráng học và phải giữ đức hạnh mới được. Chưa đến lúc nói năng gì người khác được đâu.
 - Dạ, con cám ơn cha và con xin sẽ cố gắng.
 
  Hắn thực sự chẳng mấy quan tâm đến những gì ông cha nói, bởi vì những chuyện này hắn đã được nghe nhiều rồi. Hắn đã định bụng, ra sao thì ra không cần biết, miễn là tối nay hắn ra ga xe lửa Tour Chàm để về nhà. Có vậy thôi. Thế nhưng ngay sau đó, hắn lại cảm thấy mình đã có phần nào tàn nhẫn với vị linh mục gìa của hắn. Ông là người có trí nhớ tuyệt vời, một vị giáo sư hết sức tận tụy với học trò. Và hơn tất cả, ông là một linh mục rất đạo đức. Một điều mà hắn thường cảm thấy là, hình như ông dành sự săn sóc của ông cho hắn nhiều hơn trong việc đào luyện và dậy dỗ, có lẽ vì hắn là một học sinh có đôi chút năng khiếu về sinh ngữ. Chỉ tiếc rằng ông không hiểu gì về đứa học trò có tiếng là ngỗ nghịch của mình.  
 
 Bí kíp cuối cùng sư phụ truyền lại cho tên đệ tử hoang đàng sau đó nữa là những lời khuyên bảo trong thời gian đi nghỉ hè. Từ sự kiện này, hắn mới hiểu được những sóng gió trong cuộc đời, và thế nào là vấn đề hạnh kiểm trong chủng viện của hắn. Đã mấy lần hắn được ông cha giáo sư già nhắc nhớ về vấn đề hạnh kiểm. Hắn tự nghĩ mình có làm điều gì xấu xa đâu. Vấn đề này bắt nguồn từ những nguyên nhân khác nữa trước đó, chứ không phải mới xẩy ra.
 
 Hắn có cái tật thích đọc sách, bất cứ loại sách gì, nhất là tiểu thuyết. Hồi mới vào chủng viện, các chủng sinh học pháp văn và tiếng latinh là hai môn học chính, không được học môn Việt văn. Sách báo ngoài đời bị hạn chế gắt gao, mà lúc đó cũng khó kiếm đâu ra được mà đọc. Còn tiểu thuyết thì tuyệt đối cấm chỉ. Ấy thế mà ban đêm hắn thường nằm trên giường trùm mền kín mít soi đèn pin (flashlight) tự tạo để đọc tiểu thuyết. Cuốn Hồn Bướn Mơ Tiên hắn mới kiếm được giấu dưới mền, bỗng nhiên không cánh mà bay. Hắn im miệng, không dám nói, nhưng có thể biết được ai đã lấy cuốn sách của hắn.
 
 Ngoài ra, những lời phê bình công khai của hắn về đủ mọi vấn đề, nhiều khi phát xuất vô tội vạ trước mặt mọi người, cũng là nguyên nhân khác nữa. Chuyện làm hắn bất mãn nhất là sự phân chia giai cấp quá đáng trong đời sống tu hành. Từ bậc ông cha, ông cố, trở xuống cho tới người giúp việc, có hẳn bốn đẳng cấp rõ rệt, vói những ưu đãi về quyền lợi: ăn, ở, với tiện nghi sinh hoạt hoàn toàn cách biệt nhau. Hắn thường tâm niệm rằng nếu làm linh mục để được hưởng những hậu đãi, thì hắn nhất định sẽ không làm. Và hắn đã thực hiện lời tâm niệm đó thật.
 
  Hắn mong được trở lại với cuộc đời bình thường, và rất mong được trở về với gia đình. Nhưng khổ nỗi, hắn làm gì có gia đình để mà về. Di cư vào Nam, mấy chị em hắn phân ly tứ xứ, lang thang mỗi người một ngả. Thằng em út hắn ở với vợ chồng chị hai tại Saigon. Hai người chị kế cũng đã có chồng, người ở Vĩnh Long, người ở mãi tận Kontum. Còn cô em gái của hắn mới là lạ. Hắn thật sự không hay biết em mình ra sao, ở với ai, làm gì để sinh sống. Vấn đề này lúc đó hắn thật sự không quan tâm, và cũng chẳng cần tìm hiểu. Hắn vất vưởng ở Saigon, tự kiếm sống và đi học, cũng may nhờ có hai người anh tinh thần trước kia cũng đi tu giúp đỡ hắn.
 
  Lên đại học, Hắn được vị linh mục giám đốc nhận vào dậy tại trường trung học Hưng Đạo, một trường tư thục có tiếng tại Saigon, vì hắn và linh mục này đều là nghĩa tử của  cùng một ông cha. Nhưng chỉ 3 tháng sau, hắn nổi máu yêng hùng bỏ dậy luôn, vì ông cha giám đốc cúp bớt giờ dậy của hắn vì lỗi đánh học sinh. Hắn tự cảm thấy mình bị xỉ nhục vì áp lực của một phụ huynh học sinh với ban giám đốc nhà trường. Một ông trung úy phụ huynh học sinh yêu cầu nhà trường sa thải vị giáo sư là hắn, vì hắn dám lấy thước kẻ đánh con ông trong lớp học. Bỏ dậy ở trường Hưng Đạo, hắn làm nghề kèm trẻ tại tư gia để có tiền đi học.
 
  Một thời gian sau, hắn được nhận vào học làm cảnh sát không phải thi. Một người quen vận động và bảo đảm cho hắn sẽ được đi làm ở ngoại quốc, nếu hắn chịu khó làm nghề này. Tuy chẳng ham gì nghề cảnh sát, nhưng hắn đồng ý ngay, vì được đi nước ngoài luôn là điều mơ ước của hắn. Hắn đang học khóa Biên Tập Viên cảnh sát tại Vũng Tầu thì chế độ TT Ngô Đình Diệm bị lật đổ. Thế là hết còn hy vọng. Mộng vàng của hắn coi như đã tan theo mây khói.
 
  Sau khóa học, hắn về làm tại Saigon vói công việc phụ trách làm căn cước hết sức nhàm chán. Rồi sau đó đổi công tác, mỗi ngày hắn đứng gác sáu tiếng đồng hồ trước cổng dinh Bộ Trưởng Bộ Xã Hội, sát ngay bên cạnh chùa Xá-Lợi. Ngôi chùa này lúc đó rất lộn xộn, thế mà hắn cũng chỉ làm ít ngày, rồi bỏ mặc, chẳng thèm gác. Một tuần lễ sau, hắn bị tống xuống Cần Thơ, làm việc tại nha Cảnh Sát Quốc Gia Hậu Giang. Nhưng vẫn không chịu ngồi yên, tuần nào hắn cũng mò về Saigon tụ hội với bạn bè, bàn toàn là những chuyện đội đá vá trời.
 
  Bị phát giác, rồi bị đuổi việc, hắn trở về Saigon. Trong một cuộc biểu tình trước cổng Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, hắn bị nhận diện là một trong nhóm sinh viên sách động, và bị cảnh sát theo dõi. Ngay ngày hôm sau cuộc biểu tình có chết người đó, vào lúc gần tối, chị Khánh đứng ôm đứa con nhỏ đứng chận hắn ngoài đầu ngõ. Vừa trông thấy hắn trở về, chị nạt hắn xối xả:
 - Mày về thu giọn đồ đạc, rồi đi liền không thì chết. Hôm nay cảnh sát đến kiếm mày hai lần rồi đó.
 
  Lâu nay hắn ở với anh chị Khánh, vợ chồng người anh tinh thần của hắn ở khu Cống Bà Xếp. Anh chị Khánh coi hắn như ruột thịt. Đặc biệt chị Khánh rất thương yêu hắn, coi hắn chẳng khác gì đứa em ruột của chị. Chị thường kêu hắn là chú, nhưng khi chị đổi giọng mày tao với hắn, thì hắn biết nhất định phải là có chuyện chẳng lành. Hắn đã hiểu chuyện gì xẩy ra nên không hỏi lại chị. Hắn làm đúng như chị Khánh bảo. Hắn chạy vào nhà, vơ vội vài bộ đồ nhét vào cái cặp thường mang đi dậy học, kiếm chỗ tá túc qua đêm. Sáng sớm hôm sau, hắn nhẩy xe đò Rạch Giá giọt về Cái Sắn với cô em gái.
 
   Lúc này Lan, em gái hắn đã có chồng và có con. Lan giới thiệu cho hắn một chỗ dậy học tại một trường trung tiểu học tư thục nhà quê, ngay trước cửa nhà, bên kia đường. Cái kẹt cho hắn là, hắn chỉ có phép của Bộ Quốc Gia Giáo Dục cho dậy môn vạn vật hồi hắn xin dậy tại trường Hưng Đạo. Ở đây nhà trường lại cần thầy dậy Việt văn. Ông giám đốc già tỏ vẻ băn khoăn hỏi hắn:
 - Thầy dậy Việt văn được không? Chúng tôi đang cần giáo sư dậy Việt văn, đặc biệt lớp đệ tứ cho cuối năm đi thi.
 - Thì cũng thử xem sao, cố gắng chắc cũng xong thôi.
 
  Câu trả lời thiếu quả quyết của hắn chắc không làm ông giám đốc già hài lòng. Ông nhếch mép cười. Có lẽ ông nể cô em hắn đã giới thiệu, nên miễn cưỡng chấp nhận cho hắn dậy. Ngay giờ học đầu tiên bước vào lớp, hắn ra chiêu đánh phủ đầu đám học trò nhà quê:
 - Trong lớp ông thầy không dậy học trò viết văn, mà chỉ dậy các em làm thế nào để viết được một bài luận văn đúng qui cách, đọc xuôi tai, để cuối năm đi thi đạt điểm cao và thi đậu. Việc viết văn em nào muốn thì phải tự bổ túc lấy. Điều cần thiết là phải có chút năng khiếu mới được.
 
  Hắn ba hoa muốn để dấu đi cái mặc cảm bên trong, và như cũng muốn đánh tan đi sự nghi ngại của ông giám đốc già về khả năng dậy Việt văn của hắn. Dù sao hắn vẫn đủ tự tin. Và quả thật, phương pháp dậy học của hắn có mang lại kết quả. Cuối năm thi đậu rồi, một số học sinh tâm sự với hắn, các em cảm thấy dễ dàng khi phải viết một đề tài luận văn trong trường thi.
 
  Hắn lánh nạn, và ở với em gái cho đến hết niên học. Đây là thời gian lâu dài nhất hai anh em hắn sống bên nhau. Nghỉ hè, hắn lang thang khi thì Cần Thơ, lúc Rạch Gía. Đôi khi hắn trở về Saigon. Cho đến một ngày cuối hè, hắn quyết định bỏ Cái Sắn luôn. Hắn nói với em gái hắn:
  - Anh đi thôi. Ở đây tù túng lắm.
  Cô em hắn hơi bất ngờ, đã tưởng ông anh mình muốn về lập nghiệp ở đây, mới nấy ra cái kế dụ khị anh, nên đề nghị:
  - Anh đi bây giờ còn nguy hiểm lắm. Tạm ở đây một thời gian nữa đi xem sao. Cứ để em tính cho.
 -  Em tính cái gì?
 - Cô con gái ông chủ tiệm phở đàng kia coi bộ để ý đến anh đấy. Đảm đang lắm. Thỉnh thoảng lúc anh không có nhà, cô ta lại đây giả bộ hỏi thăm này nọ. Anh bằng lòng, em nói vào một tiếng chắc là xong.
 
  Hắn cười trong bụng cái mưu đàn bà của cô em, gián tiếp từ chối Lan:
 - Em tính cột chặt anh vào cái vùng đồng ruộng này hay sao đây, không được đâu.
 
  Hắn nhất định ra đi trước sự níu kéo bất lực của em gái hắn. Hắn lên Cần Thơ. Ở đây hắn đã có chỗ dậy tại tỉnh lỵ và ở quận lỵ Cái Vồn bên kia Bắc Cần Thơ. Hắn vẫn dậy Việt văn và vẫn mang cái sách dậy làm bài chứ không dậy viết văn vào trong lớp học. Đám học sinh tỉnh lẻ người Nam vậy mà chịu cái thói ngang tàng và phóng túng của hắn. Chỉ sau mấy tuần lễ vô lớp, học trò đã dám mời ông thầy trẻ về nhà chơi tứ sắc với mẹ mình, và mấy bà hàng xóm bên cạnh.
 
  Ở Cần Thơ hắn không thiếu giờ dậy. Cuộc đời hắn tưởng như đã định, nhưng lại vẫn bất định. Vào một ngày cuối tuần nghỉ dậy, anh bạn làm giám học rủ hắn về Saigon chơi. Xe vừa tới Mũi Tầu, Cholon, cả hai bị xét giấy tờ quân dịch. Bạn hắn không sao vì đã lớn tuổi, còn hắn thì được nhắc nhở: ông sắp hết thời hạn trình diện rồi đấy. Người cảnh sát có ý nói đến lệnh động viên khóa 21 sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Vấn đề quân dịch lâu nay luôn là mối ưu tư canh cánh bên mình của hắn. Hắn không có một lý do gì để xin hoãn dịch. Về nhà hắn đem chuyện ra bàn. Chị Khánh phân tích hơn thiệt với hắn trong tâm tình chị em:
 - Tình trạng của chú có dễ thở hơn lúc trước đấy, nhưng dù sao cũng vẫn là cuộc sống chui lủi. Sống bấp bênh mãi thế này không được, rồi còn tương lai sau này nữa chứ. Em nên đi trình diện đi để anh chị yên tâm. Còn chuyện cảnh sát hỏi thăm lúc trước, cứ để cho chú Huỳnh lo được rồi.
 
   Cuối cùng hắn bị thuyết phục bởi lời khuyên bảo chí tình và chí lý của người chị tinh thần của mình. Hắn trở lại Cần Thơ xin thôi dậy và chuẩn bị đi lính. Anh Huỳnh, em anh Khánh, là thiếu tá an ninh Sư Đoàn Dù, lấy xe jeep đích thân chở hắn xuống Trung Tâm 3 Tuyển Mộ Nhập Ngũ tại Quang Trung giao người. Nửa khuya hôm đó hắn tới trường Bộ Binh Thủ Đức bằng xe GMC nhà binh, cùng với gần chục tên lính mới cũng trình diện ở Quang Trung như hắn.
 
   Vào cuối giai đoạn 2 của khóa học, hắn được chọn đi học lớp đào tạo sĩ quan Báo Chí Quân Đội. Đấy mới là một chuyện lạ. Hắn có bao giờ viết báo, làm báo, dù là sắp chữ nhà in, hoặc viết văn bao giờ đâu. Những tài năng đặc biệt đó hắn tự nhận mình không có. Báo chí có lẽ là cái nghiệp bất đắc dĩ tự đâu tròng vào cổ hắn. Thế rồi tự nhiên có những chuyện hên quái lạ xẩy đến với hắn. Ngồi trong lớp báo chí, hắn cũng chỉ học hành phất phơ, thế mà lại đậu đồng thủ khoa với một người nữa. Vốn liếng tiếng Anh của hắn chưa đủ để đi chợ mua đồ, nhưng lại vớ đưọc cái bằng khen thuyết trình viên xuất sắc (Outstanding Speaker) trong một lớp học báo chí khác tại trường Thông Tin Quốc Phòng (DINFOS Defense Information School) Hoa Kỳ, Tiểu Bang Indiana. Lớp học đa số là người Mỹ trắng.
 
  Cho đến sau này, hắn vẫn tự cho rằng mình chỉ là thằng chó ngáp phải ruồi, chứ chẳng phải là tài cán gì. Do đậu cao, hắn được làm việc tại Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị ở Saigon. Ngày trình diện đầu tiên tại Tổng Cục đã đem đến cho hắn một ấn tượng khó quên. Ông trung tướng Tổng Cục Trưởng duyệt hàng quân 8 chuẩn úy mới ra trường. Anh nào anh nấy đứng thẳng như tượng gỗ. Cuộc đối đáp tay đôi từng người giữa ông chỉ huy Trưởng với một anh tân binh chẳng giống nhà binh chút nào. Tới người đứng bên cạnh hắn, ông tướng hỏi:
  - Thưa chuẩn úy, chuẩn úy và gia đình ở đâu?
   -Thưa ở Đà Lạt.
  - Gia đình chuẩn úy làm gì ở Đà Lạt?
  - Trồng rau.
  - Chuẩn úy cũng trồng rau?
  - Không, tôi đi học.
  - Vậy chuẩn úy có biết giá bắp cải bao nhiêu một ký không?
  - Trung tướng muốn hỏi giá thành, hay giá bán ngoài chợ ở Saigon?
  Ông tướng hỏi không giống ai, còn anh sĩ quan thuộc quyền thì trả lời cộc lốc. Không hiểu sao ông tướng dừng lại ở đấy không hỏi tiếp nữa. Ông quay sang người bên cạnh là hắn, cũng với cung cách và giọng điệu đó:
   -Thưa chuẩn úy, chuẩn úy có làm gì trước khi vào quân đội không?
  - Thưa Trung Tướng tôi dậy học?
  - Chuẩn úy dậy môn gì?
 - Thưa dậy Việt văn?
 - Vậy chứ Nguyễn Du diễn tả tiếng đàn của Thúy Kiều như thế nào, chuẩn úy có thể cho chúng tôi nghe với được không?
 
   Trúng tủ của hắn rồi. Hắn đọc liền 4 câu thơ Kiều:
 

 
  - Trong như tiếng hạc bay qua
    Đục như tiếng suối mới sa nửa vời
    Tiếng khoan như gió thoảng ngoài
    Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa.
 
 Ông tướng cũng bỏ lửng ở đó, không hỏi thêm gì nữa. Cuộc trình diện chỉ huy trưởng xong, các quan chuẩn úy về để đợi lệnh. Ra khỏi phòng hội, hắn đi vào hành lang của tòa nhà, chân khoan thai đếm từng bước ra chiều nhàn tả lắm, miệng nghêu ngao như một chàng lãng tử đi tìm quên, nhái một bài hát nào đó quen thuộc mà hắn không nhớ tên: đường vào nhà binh có trăm lần vui có vạn lần cười …. Ông tướng ở đâu bất chợt xẹt ngang qua. Không biết ông có nghe hắn hát không, chỉ thấy ông liếc mắt nhìn hắn cười tủm tỉm.
 
  Đi lính nhất định là khổ.  Nhưng được cái số Trời cho, hắn đi lính lại rất an nhàn. Suốt mười năm lính, hắn tà tà ở tại một đơn vị trung ương, thỉnh thoảng dẫn báo chí bay ra mặt trận, hay thăm tiền tuyến cũng như đi du lịch. Mỗi ngày hắn viết vài bản tin chiến sự, hoặc giải quyết lăng nhăng một vài chuyện có tính cách dân sự vụ. Thời giờ còn lại, hắn biến mất khỏi văn phòng. Chỉ cần một cái giấy sự vụ lệnh, và một cái thẻ báo chí quân đội trong túi, hắn có thể ra vào bất cứ nơi nào, bất cứ lúc nào, kể cả giờ giới nghiêm. Hắn không bị gò bó giờ làm việc, miễn là làm xong trách nhiệm. Cả đến ăn mặc cũng tự do. Ngay trong văn phòng, hắn không nhất thiết phải mặc đồ lính. Ngoài công việc ở đơn vị, hắn còn viết báo lai rai kiếm tiền. Hắn viết tham luận thường xuyên cho một tờ báo đạo của một ông đại tá dân biểu. Việc viết lách này là viết chùa. Hắn không lấy thù lao. Báo đạo mà. Ngoài ra, hắn còn viết cho hai tờ nhật báo, một của một ông tỷ phú có nhà băng, và một của một ông thiếu tướng đã bị kêu án tử hình, nhưng rồi lại được tha bổng. Cả hai tờ báo này đều có cái số chết yểu. Viết cho tờ báo của ông tướng, hắn phụ trách mục phiếm luận. Bài vở hắn viết thường xuyên bị kiểm duyệt đục bỏ trông rất nham nhở. Thỉnh thoảng cảnh sát lại cho người đem giấy triệu tập đến tòa soạn mời ký giả Bìm Bịp lên Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát làm việc. Hắn đâu có ngồi tại tòa soạn. Ông tướng nhận giấy mời thay hắn, rồi trả lời nhân viên cảnh sát:
 - Ký giả Bìm Bịp là tôi.
 Thế là huề cả làng. Mỗi lần ông tướng đều thuật lại với hắn, và còn trấn an hắn:
 - Anh cứ viết thoải mái, không có gì đâu.
 
  Trước khi đi tù, hắn còn gom lại được 4 cái giấy của cảnh sát mời làm việc về cái tội viết báo, viết láo của hắn. Cuộc đời hắn tuy mồ côi sớm, nhưng cho đến lúc này cũng tạm kể được là an nhàn. Vợ hắn không hiểu học bói toán ở đâu, thỉnh thoảng mân mê đôi bàn chân mũm mĩm của hắn, khen:
  Anh có cái số sướng.
 
  Hắn cãi lại:
 - Mồ côi từ thuở còn để chỏm, cả đời lăn lóc như con chó hoang mà sướng cái nỗi gì.
 
  Viết cho hai tờ báo ngày, hắn kiếm được chút đỉnh thù lao. Tiền này đủ cho hắn cà phê cà pháo, và đàn đúm với bạn bè. Lương lính hắn mang về giao hết cho vợ. Vợ hắn buôn bán lai rai nữa, nên cuộc sống gia đình tương đối dễ chịu. Trong thời gian viết cho tờ báo của ông tỷ phú họ Phạm, hắn quen vói Thu Mai, một cô gái phụ trách trang văn nghệ và thiếu nhi của tờ báo. Cô ả còn làm tờ tuần báo Thằng Bờm của Nguyễn Vỹ, là một tờ báo thiếu nhi, sau khi cụ Nguyễn Vỹ qua đời. Hắn thích sinh hoạt thiếu nhi nên tiếp tay cô ả giúp tờ Thằng Bờm về bài vở, đôi khi cả về tài chánh nữa. Thỉnh thoảng hắn tổ chức cho các em thiếu nhi Thằng Bờm đi tiền đồn ủy lạo binh lính, nhất là vào dịp tết. Sau ngày khi đi tù về, hắn mới khám phá ra cô ả là một con Vẹm cái.
 
   Kỷ niệm đau buồn nhất trong đời lính của hắn là trường hợp cái chết của một hạ sĩ quan, nhân viên của hắn. Trung sĩ Cương, từ một đơn vị khác, được biệt phái làm việc với hắn trong thời gian hai bên trao đổi tù binh theo Hiệp Định Ba Lê. Còn trong thời kỳ cấm trại nghiêm ngặt, nhưng hắn vẫn thả cho Cương cuối tuần dù về nhà thăm vợ. Buổi sáng Thứ Hai đầu tuần, khi hắn đang ngồi làm bản tin buổi sáng, thì anh lính gác ngoài cổng gọi vào nói vói hắn:
  - Đại úy, có cô nào đến kiếm ông, đang đợi ngoài này.
 Hắn ngớ ra, tưởng anh lính nói đùa nên cũng nạt chơi:
 - Ê đừng có giỡn kiểu này nghe. Đại úy cho củ đấy. Mới sáng sớm mà ai kiếm?
 - Thiệt mà, cô ta còn trẻ lắm, hình như có tâm sự, mắt sưng và đỏ hoe.
 Hắn lập tức lục lọi trong đầu óc xem, trước đây có làm gì bậy bạ để người ta đến đòi ăn vạ không, nhưng tuyệt nhiên không. Hắn bảo người lính gác cổng:
  - Hỏi xem người ta từ đâu đến, có chuyện gì.
  - Hỏi rồi, từ Năng Gù, Long Xuyên lên.
  Hắn lập tức hiểu ra vấn đề. Hơn nữa, vì giờ này mà chưa thấy bóng dáng Cương ở sở. Hắn cho mời cô gái vào. Vừa bước vào phòng, cô gái gào lên khóc thảm thiết:
 - Đại úy ơi, anh Cương chết rồi……..
 
  Hắn ngồi chết trân trên ghế, đầu óc rối tung vì buồn và vì lo. Không biết phải làm sao đây, vì hắn thả ẩu cho nhân viên dù về nhà trong thời gian cấm trại. Hắn đành chịu, không tìm ra được cách nào khác hơn là phải đi năn nỉ mấy ông xếp của hắn. Hắn vò đầu suy nghĩ. Chỉ có cách đó thôi. Hắn đứng lên bước tới bên cô gái, lấy hai tay ấn vai cô gái xuống chiếc ghế trước bàn viết của hắn và hỏi:
 - Em là vợ của Cương?
 - Dạ.
 - Nó chết hồi nào?
 - Dạ, ảnh mất đêm hôm qua.
 - Làm sao chết?
 - Chiều tối Thứ Bẩy bạn bè rủ đi nhậu. Ảnh xỉn quá về nhà ngủ, sáng hôm sau không dậy nữa. Sáng thức dậy em mới biết.
  Hắn yên ủi vợ Cương:  
- Cương nó chết đó là điều đau buồn không những cho em và cho cả chúng tôi nữa. Em cứ buồn và cứ khóc đi. Khóc cho vơi đi nỗi buồn. Chúng tôi chia sẻ nỗi buồn này với em và gia đình em. Riêng phần tôi, sẽ cố gắng hết sức lo cho em và gia đình em trong phạm vi trách nhiệm cho phép, được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Bây giờ em ngồi đây, bình tĩnh. Để tôi đi lo.
- Dạ, cám ơn đại úy.     
 
  Hắn để vợ Cương ngồi trong phòng rồi đi ra ngoài. May mắn được cái là cả trưởng khối lẫn tham mưu trưởng, đều thông cảm hoàn cảnh, và thỏa mãn yêu cầu khi nghe hắn trình bầy. Nửa giờ sau, hắn đã có trong tay tờ giấy phép xuất trại đặc biệt 48 giờ cho Cương để về nhà thăm mẹ già đang đau nặng. Hắn trở lại phòng làm việc, đưa tờ giấy phép cho vợ Cương, nói vài lời chỉ dẫn và an ủi:
- Đang cấm trại mà Cương nó dù về nhà là phạm quân kỷ nặng đấy. Nhưng ở đây mọi người đều thông cảm. Đây là cái giấy phép về thăm nhà của Cương, để nó đi hợp pháp. Em về nhà lo chu tất đám ma cho nó, rồi cầm cái giấy phép này cùng với giấy báo tử, đến đơn vị gốc của Cương để người ta làm thủ tục cho lãnh tử tuất. Đây là tất cả những gì chúng tôi có thể làm được cho em. Một lần nữa tôi và tất cả mọi người ở đây, thành thật chia buồn và chia sẻ sự mất mát của em và của gia đình em. Cầu mong hương hồn của Cương mau được giải thoát. Thôi em về đi. Cũng gần trưa rồi. Chần chừ sợ không còn xe. Ráng lo chôn cất thằng em tôi cho đàng hoàng. Chúc em về bình an.
 
  Cô gái cám ơn hắn rồi ra về. Hắn đưa vợ Cương ra tận ngoài đường, kêu xe xích lô bảo lên xe và trả tiền. Hắn đã từng gặp những trường hợp tương tự với những người vợ lính, nên hắn cảm thông, và luôn hết lòng giúp đỡ khi gặp việc. Những lần như thế, hắn luôn nhớ đến em gái hắn, vì hầu hết họ đều cũng trạc tuổi với Lan. Nhưng hắn chỉ nhớ được trong giây lát thế thôi, rồi lại quên đi liền. Suốt mười năm làm việc tại Saigon, hắn quên hẳn việc liên lạc với Lan ở Cái Sắn. Hắn không về thăm, cũng không thư từ. Một việc duy nhất hắn làm được cho em hắn là lo cho chồng của Lan vào cảnh sát, và làm việc ở gần nhà.
 
   Cuộc sống của hắn cứ thế tàng tàng cho tới ngày mất miền Nam. Hắn đi tù. Gần 8 năm tù, một năm trong Nam, 7 năm ngoài Bắc, hắn không được tin tức gì về cô em của hắn. Thế nhưng thật bất ngờ, đang lúc bị giam ở Yên Bái, hắn nhận được một gói quà của Lan gởi ra cho. Gói quà toàn thức ăn, ngoài ra còn có một bánh thuốc lào Cái Sắn. Lạ thật, hắn không hiểu sao Lan lại rành tâm lý và hiểu hoàn cảnh tù của hắn đến thế.  Đồ ăn đối với tù quí còn hơn vàng. Nhưng còn có cái quí hơn mà người tù nào cũng thèm muốn. Đó là thuốc hút. Mùa lạnh ở miền Bắc mà thiếu thuốc hút là cả một cực hình, còn khó chịu hơn cả đói. Thuốc lào Cái Sắn của miền Nam là loại loại thuốc hút nổi tiếng đối với dân nghiền. Hút một điếu thuốc lúc mệt và đói bụng, người khỏe lắm mới đứng nổi, còn thì không đổ cũng xiêu. Mở gói quà thấy bánh thuốc lào, hắn phải giấu vội, không dám khoe với ai. Đồ ăn thì còn có thể chia sẻ, nhưng thuốc hút thì không. Không lý mời người này mà không mời người khác. Mau hết lắm. Trong tù đâu phải muốn là có dễ dàng. Nhận quà thì năm chừng mười họa. Hoàn cảnh tự nhiên biến hắn thành một kẻ ích kỷ và bủn xỉn. Thế nhưng, hắn không qua mắt nổi Dũng xi cà que, người cùng tổ với hắn, và nằm ngay bên cạnh hắn. Hôm ấy tù mới lãnh quà xong, hình như có biến cố gì đó nên vô chuồng trễ. Buổi chiều nào được vô chuồng trễ thế này là hạnh phúc lớn đối với tù. Hắn đang tản mạn ở ngoài sân thì Dũng sà đến bên cạnh cười cầu tài:
 - Huynh đã bắn thử chưa? Bắn thử một phát đi chứ.
 Hắn giả vờ như không hiểu:
 -Thử cái gì?
 -Thôi đi, cứ làm bộ ngây thơ cụ hoài. Có thuốc lào Cái Sắn mà ông dấu anh em.
 - Được rồi, nhưng cấm chỉ bắc loa đấy. Đi lấy điếu đi.
 
  Lấy điếu đóm tới, Dũng nhường hắn hút trước, và tiêm lửa cho hắn. Hắn cầm chiếc ống điếu, đưa lên môi, nhấp nhấp mấy cái, rồi kéo một hơi thật dài. Khói thuốc tỏa ra thơm lừng chung quanh. Hắn nhả khói, thở dốc, quăng chiếc điếu cầy rồi té vật ra sau, nằm xõng xoài trên sân. Dũng ngồi bên cạnh cười khoái trá, lượm vội chiếc điếu lên, xọc xọc mấy cái cho tàn thuốc cũ văng ra, nhét bi thuốc của mình vô nõ, châm đóm rồi hít mạnh. Dũng cũng ngã vật ra như hắn.
 
   Tỉnh thuốc rồi, hắn vẫn cứ còn nằm dài hưởng cái thú say thuốc, và cái không khí mát lạnh của một buổi tối cuối thu. Trời trong vắt và thật nhiều sao. Hắn nhìn trời đếm sao, xem ngôi sao nào chỉ về hướng miền Nam của hắn. Hắn thấy xuất hiện một chấm sáng mờ ở rất cao, như một ngôi sao từ từ di chuyển. Nhiều bạn tù của hắn trước đó cũng đã nhìn thấy như hắn. Họ cho là vệ tinh do thám Mỹ. Hắn không tin, nhưng lại vẫn mơ tưởng huyền hoặc: Mỹ đang dò xét xem tù cải tạo ở đâu để tới cứu. Hồi còn viết báo ở Saigon, hắn chửi Mỹ ra dzít. Lúc này đây hắn lại hy vọng Mỹ sẽ cứu hắn. Dù sao hắn cũng muốn nuôi một chút hy vọng để sống.
 
  Tuy gọi là cải tạo, nhưng thực ra đám tù đều là tù binh cả, mặc dầu họ bị bắt sau khi chính phủ Dương Văn Minh đã đầu hàng. Thứ tù đặc biệt này bị phân tán và chuyển trại không ngừng, nay chỗ này, mai chỗ khác, vì cộng sản sợ họ nổi loạn. Trồng chè (trà ) ở Yên Bái, chè chưa kịp nẩy mầm, hắn đã bị đưa đi vùng kinh tế mới Dương Quỳ, huyện Văn Bàn, tỉnh Lao Cai để trồng bắp. Dương Qùy là một xã người Mèo. Phong cảnh rất đẹp và hùng vĩ. Những căn nhà sàn nằm rải rác trên các triền núi xanh tươi, thơ mộng. Thơ Nguyễn Khuyến (?) “gõ sừng mục tử lại cô thôn” chính là đây. Con trâu nào của người Mèo cũng đeo ở sừng một cái mõ kêu lốc cốc. Khi con trâu bước đi, người chăn dễ tìm ra nó mỗi khi thất lạc. Bắp chưa kịp ra trái, tù được lệnh trở về lại Yên Bái. Mãi sau này, khi Tầu đem quân sang đánh Việt cộng, hắn mới hiểu ra rằng hắn lên đây trồng bắp cho lính Việt cộng ăn để đánh Tầu.
 
   Xã Dương Quỳ ở trên độ cao, theo hắn nghĩ, không dưới 2 ngàn mét. Đường đi đến Dương Quỳ phải qua phà Bảo Yên rồi cứ thế mà leo dốc. Tới điểm cao nhất là thôn Lệ Thủy, cũng gọi là Cổng Trời, bọn tù được nghỉ chân. Hải một anh trung úy họa sĩ, tốt nghiệp trường Mỹ Thuật Gia Định, có mặt trong bọn tù lên Dương Quỳ với hắn, tới vịn vai hắn, chỉ tay ra phía con suối chảy róc rách dọc theo con đường bọn tù mới đi qua, nói nhỏ vào tai hắn:
 - Như thế kia thì có uổng phí của trời không kia chứ.
 
   Hắn không trả lời người bạn, mà chửi thầm trong bụng: tổ sư cha anh, anh tiếc của trời quá nên mới ra cái nông nỗi như thế này đây. Quả thật, cái thứ của trời mà Hải nói đây, là đám con gái trẻ đang ngồi đập đá bên lề đường, lắm người còn rất trẻ. Họ là toán thanh niên xung phong từ miền xuôi, được đưa lên đây để làm đường. Các cô đều trùm đầu, chỉ để hở cái mặt, đang cầm búa đập đá. Họ cúi gầm mặt làm việc, chẳng ai nói với ai, có vẻ nhẫn nhục lắm. Thỉnh thoảng cũng có cô đưa mắt liếc nhìn trộm bọn tù, có lẽ để đồ đoán, xem lũ đàn ông lạ này là hạng người nào, đồng bọn hay khác bọn.  
 
  Chỉ mấy tháng sau khi đến Dương Qùy, dịch kiết lỵ đã lấy đi mất một số tù. Vừa đói ăn, vừa không hợp thủy thổ, một số khá đông tù nhân bị kiết ly. Hải với hắn ở cùng đội nhưng khác tổ. Hải chết, còn hắn, trời thương thoát được nhờ mấy nắm đọt ổi.
 
  Trong đội, Hải và hắn là hai người bị kiết lỵ nặng nhất, nên được miễn đi lao động. Cả hai nằm lại lán, tâm sự vụn với nhau bên cái điếu cầy. Niền vui hiện tại của cuộc đời tù tội có bấy nhiêu. Hai người vì thế dễ dàng trở nên bạn thân. Kiết lỵ là thứ dịch bắt bệnh nhân phải đi cầu liên tục. Có khi đi xong chưa kịp kéo quần, thì cái bụng đã lại hối thúc phải đi nữa.
 
   Nhà cầu nằm bên kia một con suối, muốn sang phải băng qua một chiếc cầu khỉ. Hải bệnh nặng hơn, đuối sức quá, anh không qua nổi chiếc cầu khỉ, nên thường lết ra chỗ vắng mà giải quyết ngay trên dòng suối. Thấy tội nghiệp Hải, hắn giúp anh ta gác một cái chạng cây khô lên hai mỏm đá trên dòng suối, để anh ta ngồi luôn tại đấy mà đi cho tiện việc. Hắn thì vẫn còn đủ sức qua bên kia con suối. Mỗi khi đi nhà cầu, hắn phải khó nhọc gạt đám dòi ra để lấy đường mà đi.
 
   Nhà cầu là một cái hố dài khoảng 5 mét, bề ngang chừng hơn một mét, sâu cũng chừng đó. Tù phải đi đốn cây, chặt thành những khúc dài lát trên miệng hố làm sàn, ngăn thành từng ngăn, chừa ra cái lỗ trên mặt sàn làm chỗ để ngồi mà đi cầu. Khi đánh hơi thấy mùi phân người thì ruồi nhặng kéo về đẻ trứng. Trứng nở thành dòi rất mau. Một tháng thôi là cái hố biến thành một đại dương dòi bọ. Lớp dòi trắng xóa trên mặt hố, nhấp nhô như một mặt biển dậy sóng. Dòi từ hố phân tràn lên, bò kín lối đi, trên cành cây, trên sàn cầu, trông ghê gớm không thể tưởng tượng nổi. Ngồi đi cầu dòi bò lên người là chuyện thường.
 
   Trong tình trạng bệnh hoạn bi đát như thế, nhưng cái cần thiết đối với hắn lại không phải là chỗ để hắn đi cầu được đàng hoàng, sạch sẽ, mà là có được mấy cây ổi xanh ở ngay bên cạnh hố phân. Mỗi lần bị đi tiêu chẩy, hắn ra cây ổi hái một nắm đọt non nhai và nuốt với vài ngụm nước suối. Thường vài ba lần là hết bệnh. Cách chữa bệnh tiêu chẩy này đối với hắn rất hiệu nghiệm. Đây là kinh nghiệm học được ở nhà quê, khi hắn còn là đứa con nít. Tù mà chờ được trại chữa, chờ chết thì đúng hơn. Bệnh lớn bệnh nhỏ gì trong tù cũng chỉ có Xuyên Tâm Liên, một thứ thuốc trị bá bệnh của Cộng Sản, làm sao mà hết bệnh được. Hắn có chỉ cho Hải cách chữa kiết lỵ bằng đọt ổi, nhưng anh ta không tin và cũng không thử. Khi bệnh quá nặng, Hải được đưa đi bệnh xá. Nằm lên chiếc cáng để di chuyển ra bệnh xá, Hải rưng rưng nước mắt trông thật tội nghiệp, nói thều thào từng lời từ biệt với hắn:
 - Tao đi, thôi vĩnh biệt. Tao không bao giờ trở lại được nữa đâu.
 
  Chính hắn hình như cũng mơ hồ cảm nhận ra điều đó. Cả hai nắm tay nhau mà khóc. Hắn nghẹn ngào dữ lắm, gạt đi, và nói được vài câu từ biệt mà chính hắn cũng chẳng mảy may tin tưởng:
  - Lại nói bậy nữa rồi. Không thể chết được, mày phải ráng sống để trở về vói vợ con.
 
 Hắn nhét vào tay Hải cục thuốc lào Cái Sắn mà hắn đã chuẩn bị để tiễn chân Hải. Cục thuốc viên tròn lại bằng cỡ ngón chân cái. Hắn xiết chặt tay Hải lần cuối:
 - Không còn nhiều, mày cầm lấy cái này, ra đấy có mà xài. Thôi đi bằng an. Mau khỏi để trở về.
 
   Hắn nói vậy, nhưng hắn không tin như vậy. Hắn tin Hải không qua khỏi. Hải đi rồi. Còn lại một mình, hắn bâng khuâng lo cho chính bản thân mình. Biết đâu qua Hải rồi đến lượt hắn. Chiều đến, mấy người đưa Hải đi trở về cho biết, Hải đã chết trên đường đi trước khi tới bệnh xá. Mấy đêm liền hắn mất ngủ. Ban ngày hắn cô đơn thẫn thờ, đi ra đi vào như một người mất hồn vì nghĩ đến Hải. Hắn cứ tưởng tượng hắn sẽ lại được các bạn đồng tù cáng đi bệnh xá như Hải trong một ngày nào đó, có lẽ không xa.
 
  Đứng bên cạnh thi hài em gái hắn, hắn tự nhiên nhớ lại bánh thuốc lào, và nhớ đến Hải. Hình như có một mối liên hệ nào đó giữa những sự kiện mà hắn không tìm ra. Một người bạn chết đi, để lại cho hắn một nỗi cô đơn trong những ngày đen tối nhất trong cuộc đời hắn. Một đứa em gái suốt cả cuộc đời xa cách, lại ra đi lúc anh em mới vừa được ở gần nhau. Bánh thuốc lào là chất xúc tác của mối giây liên hệ. Cả hai mối thân tình đó như những đứt đoạn trong lúc hắn muốn nối kết. Điều hiển nhiên nhất là hắn đã nói dối cả em hắn lẫn bạn hắn, trước khi họ ra đi về thế giới bên kia. Ở Dương Quỳ, hắn luôn miệng nói với Hải: mày không chết, mày không thể chết được, trong khi nhìn cái xác biết đi của Hải, bệnh tật hiểm nghèo như thế, hắn không tin được Hải sẽ sống sót. Có lẽ Hải cũng biết hắn nói láo, nhưng vì tình bạn, Hải không nói ra. Nhưng với em gái hắn thì có thể khác. Hắn nghĩ Lan tin rằng anh mình nói thật. Nhìn ánh mắt của Lan, hắn đọc được điều đó. Trước đây, mỗi buổi sáng vào thăm em trong bệnh viện, hắn giả vờ hỏi đứa con gái út của Lan đang chăm sóc mẹ, xem Lan có ăn được nhiều không, đêm có ngủ được không. Đứa cháu hắn cũng đồng lõa với hắn để nói dối mẹ nó: hôm nay mẹ ăn được nhiều, đêm mẹ ngủ yên lành lắm. Thế là hắn lại có lý do để nói gạt em hắn:
 - Như thế là đã có tiến triển tốt rồi đấy. Em cố gắng lên, ăn được thì ráng ăn, ngủ được thì cứ ngủ cho mau lại sức. Yên tâm không sao cả.
 
Mỗi lần nghe hắn nói thế, đôi mắt Lan lại sáng lên tin tưởng. Khi nhà thương cho Lan về nhà, sự tin tưởng của em gái hắn có lẽ càng lớn lên hơn, nhưng với mọi người trong gia đình, thì đó là nỗi tuyệt vọng cuối cùng của mọi người. Hắn cố nén cái thở dài và làm bộ phấn khởi nói với Lan.
 
- Đã qua cơn ngặt nghèo rồi. Bác sĩ cho về là không còn gì lo ngại nữa. 
 
Cho đến khi hắn muốn nói thật với Lan, thì em hắn đã hôn mê. Buổi sáng hắn đến thăm, Lan đã không còn biết gì nữa. Đứng bên cạnh em hắn vào giờ phút định mệnh đó, miệng hắn mới lắp bắp được một câu thật lòng với em gái hắn:
- Em đi gặp ba mẹ, cho anh gởi lời kính thăm các ngài.
 
 Nhưng em hắn nào còn nghe được hắn nói gì. Hắn đau đớn đứng nhìn em hắn đang nằm đây, mà không hiểu cuối cùng em hắn có biết anh mình nói láo không, và có oán trách gì hắn không. Hắn cảm thấy nỗi ray rứt và ân hận trào lên rất mãnh liệt trong lòng. Hắn đứng đó khóc một mình. Những giọt nước mắt của hắn nhỏ xuống làm loang lổ tấm khăn trắng phủ trên thi thể Lan. Hắn muốn khóc cho thật nhiều thay cho trước kia khi cha mẹ chết, hắn không chẩy được một giọt nước mắt nào cho các ngài.
 
   Sáng sớm hôm, sau khi cả thành phố chưa thức giấc, hắn đã có mặt tại nhà em gái hắn. Hình như cả nhà đều thức trắng đêm. Chồng, các con, và một số bà con đã có mặt đầy đủ, đọc kinh, rồi chờ nhân viên nhà quàn tới. Họ đến rất đúng giờ hẹn. Hai người đàn ông xuống xe bước vào nhà với một chiếc bàn lăn có bánh xe. Một người làm thủ tục giấy tờ. Một người làm công việc lấy xác. Người này đẩy chiếc bàn cặp sát với giường Lan đang nằm, luồn tay vào dưới tấm đắp, nắm bàn chân Lan, viết vào đó một con số ký hiệu gì đó. Rồi cả hai đỡ Lan qua đặt trên cái bàn, bó kín lại bằng một tấm khăn trắng mới mang đến, thắt chặt hai sợi giây chằng trên ngực và dưới chân người chết. Công việc rất chuyên môn, chỉ trong vòng dăm phút. Họ đưa thi hài Lan ra sân, đẩy vào chiếc xe hòm đã mở cửa sẵn, đậu trước nhà. Hắn tiễn đưa em hắn ra đến tận chiếc xe. Hắn biết rằng từ lúc đó Lan không còn phải là một người trong gia đình nữa, mà thật sự chỉ còn là một món đồ. Món đồ đặc biệt này được giao vào tay người giữ nó là nhà quàn, để người ta quản lý theo như luật lệ thành phố đòi hỏi trong ít ngày trước khi đến nơi an nghỉ cuối cùng.
 
   Công việc xong xuôi. Chiếc xe hòm lùi ra đường. Nó lặng lẽ đổ dốc chạy về hướng thành phố. Hắn vẫn đứng trong sân ngó theo với cái cảm giác bâng khuâng khó tả của một kẻ vừa đánh mất đi người thân, vừa chịu bất lực trước việc giữ lại món đồ mà mình yêu thích.
 
 
Duyên Lãng Hà Tiến Nhất

Bài Xem Nhiều