We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Saturday, 18 February 2012

Nợ.Nước -Tình Nhà


   

 
Quê Hương! dù đã xa khuất, dù tang thương, nhưng có một ai lìa xa quê mà không nhớ, không thương. Chính vì thế, một con người nếu không biết yêu Quê Hương, thì họ không thể yêu một điều gì khác ngoài cái bản thân của họ cả. Riêng Phúc, từ khi có chút hiểu biết, Phúc đã hiểu những điều Phụ thân đã dạy, và có lẽ vì lòng trung nghĩa với Quê Hương, mà Người đã phải chết dưới bàn tay của kẻ thù ở bên kia chiến tuyến.
 
Cũng vậy, cho đến bây giờ, Chồng-vợ của Phúc, cả hai đều đã đi qua những năm tháng dài của chiến tranh khốc liệt, đã từng phải ở trong các nhà tù “cải tạo” của cộng sản Bắc Việt. Phúc đã từng bị trọng thương, mà Phúc cứ tưởng rằng sẽ không bao giờ bình phục được. Nhưng thế rồi, như một vị Thần Y, Nguyên đã đến với Phúc, đã chữa lành những vết thương cho Phúc, rồi Nguyên-Phúc đã trở thành Chồng-vợ, những mầu nhiệm mà khó có ai biết được, và cũng từ đó, Nguyên-Phúc đã cùng nhau tận dụng ngọn bút của mình, bất chấp mọi hiểm nguy, như song đao, song kiếm để dấn thân trên con đường đấu tranh, hầu mong góp được một phần bé nhỏ vào công cuộc giành lại quyền tự quyết cho dân tộc.
 
Phúc vẫn nhớ cho đến mãn đời về giây phút đầu tiên, khi Nguyên đã đưa vòng tay ra để cứu Phúc qua được một giòng sông, hay giòng đời oan nghiệt, và sau này, khi thấy rõ đối phương cứ luôn luôn tìm cách để ly gián giữa Chồng-vợ của mình, thì Nguyên đã nói: “Anh đã đưa tay ra, đã ôm em vào lòng, nhất là mình đã là vợ-chồng rồi, thì Anh đâu em đó, Anh không bao giờ buông tay ra nữa, chỉ có sự chết mới có thể làm cho Anh xa em, còn ngoài ra, trên đời này, không có một kẻ nào khiến cho Anh phải xa em được”.
 
Phúc hoàn toàn tin tất cả những gì Nguyên đã nói. Kể từ đó, Nguyên-Phúc vốn từ lâu, trước khi gặp nhau, cả hai đã đứng dưới lá Cờ Chính Nghĩa: Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ thân yêu, thì lại cùng nhau tiếp tục một cách quyết liệt hơn, để đồng tâm, liên thủ hầu đánh tan những âm mưu đen tối của kẻ giặc đã và đang dùng nhiều Mưu-Kế, để xâm nhập - đánh phá; đăc biệt, là dùng Ly Gián Kế ngay trong nội bộ của mình.
 
Nguyên đã nhiều lần thương-cảm Phúc đến nghẹn lời, khi nhìn thấy Phúc vẫn bình tĩnh ngồi lặng yên, đầu tựa vào vai Nguyên, trong lúc Nguyên nghe điện thoại, để cùng nhau nghe những lời lẽ bịa đặt và xúc phạm của đối phương đã nói về Phúc và cả những bằng hữu của Phúc nữa...  mà Phúc chỉ cười, chứ không hề tỏ vẻ tức giận; để rồi, sau những lần như thế, Nguyên lại nói: “Chính những điều đó, đã làm Anh càng thương em nhiều hơn nữa”.
 
Sở dĩ Phúc bình tĩnh được như vậy, là vì nhớ những lời của Phụ thân đã dạy: đôi khi những người đã dấn thân vào con đường tranh đấu cũng cần phải nghĩ đến “Quy luật nhượng bộ”, mà đối phương không hề biết; bởi Phúc đã lĩnh hội và đã thâm khắc những lời giáo huấn của Phụ thân, và sau này khi Phụ thân đã chết dưới bàn tay của kẻ thù, thì Phúc lại càng phải tự học hỏi nhiều hơn.Vì thế, trong tất cả, mọi tình huống, Phúc đều phải cố gắng “tùy cơ ứng biến”, không được “dục tốc” vì sợ “bất đạt”, cũng không được khinh xuất, mà phải biết cương-nhu tùy thời.
 
Phúc đã, đang, và mãi mãi vẫn luôn phải ghi nhớ những lời này:
 
“Kế là để chế ngự, có kế chỉ để chế ngự kẻ ngu mà không chế ngự được người trí; nhưng cũng có kế chế ngự được người trí mà không chế ngự được kẻ ngu. Kế dĩ nhiên là kế rồi; tuy nhiên, có lúc không dùng kế mà chính là kế. Kế nào hết sức chu đáo thì mới mong chế ngự được cả hai người trí lẫn kẻ ngu. Trí bề mặt nhưng trong lòng ngu, thì rất dễ mắc kế, kẻ ngu nhưng hay mưu mẹo, phải dùng trí... Cho nên dùng kế cần xét từng người.
 
Khổng Minh chỉ có ba ngàn quân trong thành, bỗng nghe thám báo hàng vạn quân Tư Mã Ý đến vây đánh. Ông sai người mở cổng thành, rồi sắp bàn rượu ngồi trên mặt thành gẩy đàn. Tư Mã Ý mới trông cảnh tượng ấy, trong bụng nghi hoặc Khổng Minh có mưu gì, nên vội cho quân rút lui. Thấy Tư Mã Ý rút quân rồi, Khổng Minh tức tốc đem quân chạy.
 
Giả thử Tư Mã Ý là Lã Bố, chắc Khổng Minh không dám dùng cái mưu nguy hiểm đó. Lã Mông xin Tôn Quyền cho Lục Tốn ra thay mình lãnh đạo Kinh-Châu là mưu lấy một người giỏi nhưng chưa danh tiếng để lừa Vân Trường vốn là con người hiếu danh, giả thử Vân Trường vốn là Tuân Úc hay Quách Gia, những con người cẩn trọng, thì cái mưu kia vô dụng”.
 
Nguyên-Phúc cũng biết, từ lâu, đối phương đã thực hiện nhiều “thuật”; từ “cấy thế - mượn thế - tranh thế...” và cứ tin rằng sẽ “thắng thế”. Chính vì vậy, nên Chồng-vợ của Nguyên-Phúc phải quyết liệt không bao giờ để cho đối phương bước qua được những giai đoạn cuối cùng, để đứng vỗ tay reo trên cái đỉnh của “Khải Hoàn Môn”.
 
Nguyên đã từng trắng đêm thao thức theo vận mệnh của đất nước. Nguyên lo sợ đất nước Việt và dân tộc Việt sẽ phải rơi vào bàn tay của kẻ thù truyền kiếp của dân tộc, là lũ giặc Tầu hung tàn, bạo ngược. Phúc luôn luôn chia xẻ những ưu tư cùng chồng. Vì thế, năm nay, vào dịp Tết Nhâm Thìn, 2012, Nguyên và Phúc đã lo xong hết mọi việc từ trước lễ Giáng Sinh, rồi cả hai cùng gói bánh chưng cho xong trước chiều 30 Tết, để hướng lòng Tưởng Niệm 44 Năm Cuộc Thảm Sát Tết Mậu Thân, và nguyện cầu cho các nạn nhân đã bị thảm sát tại Huế cũng như khắp nơi trên lãnh thổ của nước Việt Nam Cộng Hòa.
 
Đồng thời, Nguyên-Phúc cũng đã nhận ra: “Cơn gió lớn (quẻ Phong địa quan)” mà chính đối phương cũng đã thấy, nên Nguyên-Phúc và các chiến hữu lúc nào cũng phải hết sức cẩn trọng, không bao giờ được khinh xuất. Đêm đêm Nguyên-Phúc đều “đốt đèn” để dò tìm cho ra từng khe hở nho nhỏ, để “nước” không thể rỉ vào “thuyền”, để nếu thấy có một khe nhỏ nào đó, thì phải bịt kín ngay lập tức.
 
Tuy nhiên, vì lực bất tòng tâm, nên hằng đêm Nguyên-Phúc vẫn ngồi bên nhau nguyện cầu: Xin Hồn Thiêng Sông Núi Việt soi đường, dẫn lối, để Chồng-vợ Nguyên-Phúc không thể lầm lạc trên con đường đem tâm thành phụng sự Chính Nghĩa Quốc Gia.
 
Nguyên cũng thừa biết, điều trước mắt, là đối phương muốn dùng Ly Gián Kế, để triệt hạ Phúc cũng như những người Quốc Gia yêu nước chân chính đang đứng dưới Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ: Lá Cờ Chính Nghĩa Quốc Gia. Nhưng, Nguyên đã khẳng khái với vợ rằng: “Ngày nào Anh còn sống, thì không bao giờ có bất cứ một kẻ nào làm nổi chuyện đó đối với Anh được”.
 
Phúc đã đặt hết lòng tin tưởng vào những lời nói của Nguyên, nên chỉ biết lo chăm sóc cho chồng. Thế rồi, ba ngày Tết đã qua, bây giờ, là đêm Mùng 5, Tết Nhâm Thìn, 2012. Nếu vào một thời xa cũ ở Việt Nam, thì hương vị Tết, và không khí Xuân vẫn còn, vì “tháng giêng là tháng ăn chơi”. Song ở đây, là đất tạm dung của những người Quốc Gia tỵ nạn cộng sản, thì Xuân chỉ là một cái gì nghe rất đắng cay, chua xót khi nhớ về cố hương yêu dấu. Và bất cứ trong hoàn cảnh nào, Nguyên cũng luôn nghĩ đến các chiến hữu đã một thời khoác chiến y, vai ba lô, tay súng băng rừng, lội suối trên những bước quân hành gian khổ, với ước mong đem thân mình giữ yên bờ cõi. Nhưng giờ đây, trong cái giá buốt giữa trời Đông, Nguyên cũng như các chiến hữu ngày xưa, tất cả đều phải đi làm với những hoài niệm của một thời đón Xuân ở những nơi địa đầu, giới tuyến.
 
Nguyên thường nói với Phúc: “Vợ-chồng mình Tâm phúc tương tri”, nên sáng nay, khi thức dậy, xuống nhà bếp, để chuẩn bị bữa ăn trưa cho Nguyên ở sở làm, Phúc đã cắt hai miếng bánh chưng, và thêm mấy món bánh ngọt, trái cây, rồi cẩn thận bỏ vào chiếc hộp nhựa dùng để phần ăn trưa, là vật “bất ly thân” trong những ngày đi làm của Nguyên. Phúc vẫn nhớ như in, hình ảnh của Nguyên vô cùng rạng rỡ trong lúc rót “Chén rượu Hồng Đào” là “Chén giao Bôi” để Nguyên-Phúc cùng uống, để rồi kể từ giây phút ấy, cả hai đã trở nên một, và Nguyên đã gieo những vần thơ:
“Tay ta rót rượu Hồng Đào,
Mời em cùng uống cạn bao ân tình.
.....”
 Ôi ! “Chén Rượu Hồng Đào”, và những lời thơ của Nguyên đã viết tặng vợ, Phúc đã thuộc nằm lòng như lời ru của mẹ; nên hôm nay, vì muốn để đến giờ nghỉ trưa, lúc giở thức ăn ra, thì Nguyên sẽ “tương tri” ngay, nên Phúc đã bỏ vào hộp thức ăn một “bức tờ mây” với những dòng do chính tay của Phúc viết, mà Phúc đã xem như là một món quà Xuân để tặng Chồng:
Mai này Trời lại thêm xanh,
Hoa Vàng lại nở trên cành yêu thương.
Dắt nhau về lại Quê Hương,
Hồng Đào năm cũ còn vương Ân-Tình.
 
Pháp quốc,
Đêm Mùng 5, Tết Nhâm Thìn, 2012
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

BIẾN CỐ VIỆT KHANG, NGƯỜI NHẠC SĨ YÊU NƯỚC


Tám mươi sáu năm trước, năm 1926, anh Phạm Tất Đắc đang học năm thứ tư bậc Thành Trung tại Trường Bưởi (Lycée du Protectorat) ở Hà Nội thì phong trào làm lễ Truy Điệu nhà cách mạng Phan Châu Trinh bộc phát và đã khơi dậy lòng ái quốc của học sinh, sinh viên khắp nơi. Anh Phạm Tất Đắc là một trong những người tham gia hăng hái nhất.
Trong niềm xúc cảm cao độ, anh đã đem hết tâm huyết để sáng tác một bài thơ dài để nói lên nỗi thống khổ cuả người dân mất nước và hô hào con cháu Lạc Hồng đứng lên đáp lời kêu gọi của Hồn Nước, bẻ gẫy xiềng xích nô lệ của ngoại bang. Đó là bài thơ Chiêu Hồn Nước, viết theo thể song thất lục bát, lời lẽ thật ai oán cảm động, nhưng cũng không kém phần hào hùng và cương quyết của một thanh niên yêu nước đầy nhiệt huyết. Bài thơ dài 200 câu, được chia làm năm phần. Vì bài thơ qúa dài, chỉ xin trích một số câu như sau:
Hăm lăm triệu trẻ già trai gái,
Bốn nghìn năm con cái Hồng Bàng
Cũng cửa nhà cũng giang san,
Thế mà nước mất nhà tan hỡi trời !
Nghĩ lắm lúc đương cười hóa khóc,
Muốn ra tay ngang dọc dọc ngang.
Vạch trời thét một tiếng vang,
Cho thân tan với giang san nước nhà.
Đồng bào hỡi! Con nhà Hồng Việt,
Có thân mà chẳng biết liệu đời.
Tháng ngày lần lữa đợi thời,
Ngẩn ngơ ỷ lại ở người, ai thương!
Nay sóng gió bốn phương dữ dội,
Có lẽ nào ngồi đợi mãi sao?
Đồng bào trút giọt máu đào,
Thương ôi! Tội nghiệp ai nào xót đây!
Cảnh như thế tình thì như thế !
Sống làm chi, sống để làm chi?
Đời người đến thế còn gì,
Nước non đến thế, còn gì nước non !
Hồn hỡi Hồn, con Hồng cháu Lạc!
Bấy lâu nay giặc giã chiến tranh,
Bấy lâu thịt nát xương tan,
Bấy lâu tím ruột thâm gan vì Hồn.
Hồn trở về hy sinh quyền lợi,
Mà tận tâm đối với nước non.
Dù cho thịt nát xương mòn,
Cái bầu nhiệt huyết vẫn còn như xưa.
Hồn trở về xoay trời đất lại,
Hồn trở về tát hải đạp sơn !
Chớ nề gió kép mưa đơn !
Mà đem gan chọi với cơn phong trần !
Cũng có kẻ làm thân trâu ngựa,
Cũng có người đầy tớ con đòi.
Cũng thằng buôn giống bán nòi,
Khôn thiêng chăng hỡi! Hồn coi cho tường…!
Có mồm nói, khôn đường mà nói,
Có chân tay, người trói chân tay,
Mập mờ không biết dở hay,
Ù ù cạc cạc, công nầy việc kia.
Hồn trở về non sông nước cũ,
Mà mau mau giết lũ tham tàn,
Mau mau giết lũ hại đàn,
Túi tham cướp hết bạc vàng của dân.
Hồn trở về cho dân tỉnh lại,
Không ngu ngu dại dại như xưa.
Không còn khó nhọc sớm trưa,
Không còn nắng nắng mưa mưa dãi dầu.

Bài thơ lịch sử Chiêu Hồn nước vừa được nhà in Thanh Niên ở Hà Nội ấn loát và phát hành được vài hôm thì bị chính quyền Pháp tịch thu và ra lệnh bắt giam luôn tác giả và quản lý nhà in. Anh Đắc bị truy tố về tội chống phá chính phủ Bảo Hộ và bị phạt tù 4 năm mặc dầu lúc đó anh vẫn còn ở tuổi vị thành niên.
Việc thực dân Pháp bắt anh và bỏ tù anh, chẳng có gì là lạ bởi vì chúng là bọn xâm lăng, bọn cướp nước. Còn anh là người yêu nước. Anh làm bài thơ Chiêu Hồn Nước để khơi dậy lòng yêu nước của con dân nước Việt hãy cam đảm đứng lên chống lại thực dân Pháp, đòi lại độc lập tự do cho nước nhà.
Nay, sau tám mươi sáu năm, Việt Khang, một người Nhạc Sĩ yêu nước cũng đã làm một bài nhạc yêu nước nhan đề “Việt Nam tôi đâu” cũng chỉ để nói lên lòng yêu nước của mình trước tình trạnh đất nước đang mất dần bởi sự xâm lấn của Trung Cộng mà bọn ngụy quyền Việt Cộng vì qúa hèn nhát, không hề dám phản đối một lời. Bài “Việt Nam tôi đâu ?” như sau::

Việt Nam Tôi Đâu ?

Việt Nam ơi…thời gian qúa nửa đời người
Và ta đã tỏ tường rồi.
Ôi cuộc đời ngày sau tàn lửa khói…
Mẹ Việt Nam đau từng cơn sót dạ nhìn đời
Người lầm than đói khổ nghèo nàn
Kẻ quyền uy giầu sang dối gian.
Giờ đây…Việt Nam còn hay đã mất?
Mà giặc Tầu ngang tàng trên quêu hương ta?
Hoàng Trường Sa đã bao người dân vô tội
Chết ngậm ngùi vì tay súng giặc Tầu.
Là một người con dân Việt Nam,
Lòng nào làm ngơ trước ngoại xâm,
Người người cùng nhau đứng lên
Đáp lời song núi.
Tưng đoàng người đi chẳng nề chi già trẻ trai gái,
Giơ tay cao chống quân xâm lược,
Chống kẻ nhu nhược bán nước Việt Nam.
Việt Nam tôi đâu???
Việt Nam tôi đâu???
Và bài thứ 2 của anh là bài “Anh là ai” để nói lên những nỗi khắc khoải, uất ức của mình khi thấy những cảnh bất công của xã hội đương thời, những cảnh người dân nghèo bị hiếp đáp, những thanh niên chỉ vì muốn tỏ bầy tinh thần yêu nước của mình mà bị công an của ngụy quyền Việt Cộng đánh đập tàn nhẫn, dã man với những lời lẽ tha thiết như sau:

Anh Là Ai ?
Xin hỏi anh là ai? sao bắt tôi, tôi làm điều gì saiXin hỏi anh là ai?sao đánh tôi, chẳng một chút nương tayXin hỏi anh là ai?không cho tôi xuống đường để tỏ bàytinh yêu quê hương nàydân tộc này đã quá nhiều đắng cay.Xin hỏi anh ở đâu?ngăn bước tôi, chống giặc tàu ngoại xâmXin hỏi anh ở đâu?sao mắng tôi, bằng giọng nói dân tôidân tộc anh ở đâu?sao đan tâm, làm tay sai cho tàuđể ngàn sau ghi dấubàn tay nào, nhuộm đầy máu đồng bào.Tôi không thể ngồi yênkhi nước việt nam đang ngã nghiêndân tộc tôi, sấp phải đắm chìmmột ngàn năm hay triền miên tăm tốiTôi không thể ngồi yênđể đời sau cháu con tôi làm ngườicội nguồn ở đâu?khi thế giới này đã không cònViệt Nam.Tôi không thể ngồi yênkhi nước việt nam đang ngã nghiêndân tộc tôi sấp phải đắm chìmmột ngàn năm hay triền miên tăm tốiTôi không thể ngồi yênđể đời sau cháu con tôi làm ngườicội nguồn ở đâu?khi thế giới này đã không cònViệt Nam.

Nghe những lời ca thảm thiết và ai oán trên của Việt Khang, là người Việt Nam, không ai là không khỏi ngậm ngùi và thương cảm cho số phận của người dân Việt trong nước, nhất là những đồng bào đang sinh sống ở nơi bờ biển và kiếm ăn bằng nghề đánh cá. Ấy vậy mà Việt Khang đã bị bắt và bị bỏ tù.
Là người Việt Nam, ai cũng phải thắc mắc và tự hỏi: “Chính quyền Việt Cộng là chính quyền của ai và đã đại diện cho ai, Việt Nam hay cho Trung Cộng mà bắt Việt Khang?”
Thật không có cái nhục nào to lớn bằng cái nhục của một dân tộc có một chính quyền hèn hạ và đốn mạt như chính quyền cộng sản Việt Nam hiện nay, một chính quyền bán nước hại dân, chỉ biết tham nhũng và hiếp đáp dân lành. Chúng đã coi dân như kẻ thù. Chúng muốn tất cả dân tộc Việt Nam phải hèn nhát như bọn chúng. Phải chăng chúng muốn toàn dân Việt Nam phải làm nô lệ cho Trung Cộng? Nếu không tại sao chúng lại đánh đập dã man, bắt giam và bỏ tù những người yêu nước, những người đã dám nói lên những việc làm sai trái, phản lại quyền lợi dân tộc của bọn chúng ?
Một chế độ không biết chăm lo săn sóc quyền lợi của người dân, không biết bảo vệ quyền lợi của người dân mà chỉ biết tham nhũng, hiếp đáp người dân. Một chế độ không biết lo cho tương lai của dân tộc, tiền đồ của tổ quốc thì có còn xứng đáng là chính quyền của dân nữa hay không? Một chính quyền chỉ biết vâng lời ngoại bang, nhượng đất, nhượng biển cho ngoại bang và gây ra không biết là bao nhiêu cảnh tang thương, chết chóc cho dân tộc như bọn lãnh đạo ngụy quyền Hà Nội hiện nay đã làm thì có còn xứng đáng để người dân tôn trọng và phục tùng hay không?
Tóm lại, Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam không những là một chế độ phản dân, hại nước mà còn là một chế độ bán nước, người dân có quyền và có lý do chính đáng lật đổ chúng để xây dựng một chế độ tốt đẹp hơn. Vì thế việc lật đổ chính quyền Cộng Sản VN hiện nay, không những là một quyền tối thượng của người dân mà còn là một nhiệm vụ cao cả của người dân. Phải chăng biến cố Việt Khang là điềm báo trước ngày tàn của Chế độ Cộng Sản Việt Nam đã tới?
Lê Duy San

Vụ Tiên Lãng phơi bày bộ mặt chế độ cai trị của Cộng sản Việt Nam!!!

Kính gởi tới Quý Ân nhân, Quý Ủng hộ viên, Quý Độc giả bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 141, phát hành ngày 15-02-2012, bài xã luận của bán nguyệt san. Xin cảm ơn Quý vị đã đón nhận và tiếp tay phổ biến, nhất là phổ biến ngược về trong nước cho Đồng bào thân yêu.
        Ban biên tập báo TDNL
 
 
Vụ Tiên Lãng phơi bày bộ mặt chế độ cai trị của Cộng sản Việt Nam!!!
Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 141 (15-02-2012)
            Vụ Tiên Lãng với hai anh hùng nông dân Đoàn Văn Vươn và Đoàn Văn Quý sẽ đi vào lịch sử đấu tranh của Dân tộc. Cho đến hôm nay, theo đánh giá chung, đó là một vụ việc chiếm nhiều kỷ lục: Kỷ lục về tính nhạy cảm (khiếu kiện đất đai), về sự tuyệt vọng cùng đường (nạn nhân chống lại bằng mìn và súng), về thói nhẫn tâm (cưỡng chế áp Tết với kiểu lột sạch), về sự vận dụng vô quy tắc (điều động công an lẫn quân đội), về biện pháp khắc nghiệt (phá nhà, cướp của, đánh người, tống ngục), về những phát ngôn ấn tượng (lầu nhìn ra chòi, trận tập kích đáng lưu sách sử!), về tài đổ vấy và dối trá (dân bức xúc phá nhà! thủ phạm xây boong-ke cố thủ!), về thói quan liêu ngạo mạn (gia cư bị hủy phải lo báo cáo trước!), về tầm mức phạm pháp của nhà cầm quyền (không đối thoại, không đền bù, không phương án hậu thu hồi), về những nhận định hết sức trái ngược (giữa quan chức địa phương với công luận cả nước), về sự chậm trễ của các cấp thẩm quyền (sau một tháng, thành mới ngó ngàng đến xã), về sự phẫn nộ của dư luận xã hội (hàng trăm trang mạng, hàng nghìn bài báo phản đối), về tình nghĩa đồng bào (viếng thăm, giúp đỡ nạn nhân từ trong ra tới ngoài nước), về sự quan tâm của các cơ quan liên hệ (thủ tướng, 6 bộ và ngành chức năng đã vào cuộc) và về sự báo ứng (hàng loạt quan chức thành, huyện, xã bị kiểm điểm và kỷ luật)(theo tác giả Kỳ Duyên). Mọi “kỷ lục” ấy tựu trung cho thấy một điều là vụ Tiên Lãng đã phơi bày tất cả bộ mặt nhem nhuốc, tồi tệ của chế độ cai trị của Cộng sản Việt Nam, qua các khía cạnh sau đây. Xin lấy chuyện đất đai làm thí dụ chính:
            1- Luật bất công phi lý: Khi Hiến pháp 1992 được soạn thảo, Tổng Bí thư Đỗ Mười, kẻ từng tàn phá toàn bộ nền kinh tế miền Nam, đã chống lại quan điểm “đa sở hữu hóa đất đai” của nhiều người để nghiêng về quan điểm “sở hữu toàn dân”, theo ý Lê Duẩn đã phát biểu 12 năm trước đó: “Dự thảo Hiến pháp mới phải thực hiện một điểm quan trọng là chuyển toàn bộ đất đai thành sở hữu toàn dân. Đề ra như thế hoàn toàn đúng với quy luật tiến lên chủ nghĩa xã hội”! Tiến lên chủ nghĩa xã hội đâu chẳng thấy, chỉ thấy chủ nghĩa cá nhân của quan chức, đảng viên, cán bộ địa phương mặc sức tung hoành. Họ thi nhau cướp đoạt công thổ lẫn tư thổ sau khi Luật đất đai được ban hành năm 1993, qua chiêu bài “dự án, quy hoạch”. Hàng triệu nông dân mất ruộng, hàng vạn thị dân mất nhà, hàng ngàn đoàn người thất thểu khiếu kiện từ địa phương tới trung ương trong tuyệt vọng. Gia đình Đoàn Văn Vươn cũng từng đứng xếp hàng vào đó từ gần cả chục năm nay. Không những thế, Luật đất đai 1993 qui định thời hạn giao đất nông nghiệp chỉ là 20 năm (đang khi Công ty nước ngoài đầu tư được thuê đất ít nhất 50 năm). Điều này sẽ ảnh hưởng hàng triệu hộ nông dân khi kết thúc thời hạn sử dụng đất vào năm tới. Chắc chắn nhiều “âm mưu Tiên Lãng” mới đang được thai nghén và nhiều “phản ứng Đoàn Văn Vươn” cũng sẽ bùng dậy. Và dĩ nhiên, không chỉ Luật đất đai mà nhiều luật khác về kinh tế, văn hóa, tôn giáo, truyền thông, y tế, giáo dục… cũng hàm chứa vô số điều khoản bất công phi lý như vậy, tạo nên vô vàn nạn nhân. Đó là chưa kể nạn văn bản chồng chéo, vi hiến, vô luật. Tại hội nghị triển khai công tác đầu năm do Bộ Tư pháp tổ chức tại Hà Nội, Đà Nẵng và Sài Gòn gần đây, Thứ trưởng Hoàng Thế Liên cho biết năm 2011 vừa qua, khi kiểm tra gần 44.600 văn bản quy phạm, các sở tư pháp đã tìm ra khoảng 4000 văn bản có dấu hiệu phạm luật về hình thức, nội dung và thẩm quyền ban hành. (RFA 10-02-2012)
            2- Địa phương lạm quyền và cấu kết: Ông Lưu quang Yên, cựu đại biểu Quốc hội, cựu Chủ tịch UBND và Bí thư huyện Tiên Lãng, người từng giao 40.3 ha đất bãi bồi cho anh Vươn ngày 14-12-1993 để khai phá làm đầm thủy sản, đã ngang nhiên phát biểu: “Tôi thấy thời gian 14 năm là đủ để nông dân hoàn vốn và có lời, nên đã quy định không bồi thường khi thu hồi đất.... Diện tích đất này nằm trong diện quy hoạch Sân bay quốc tế Tiên Lãng. Nếu để cho ông Vươn tiếp tục thuê đất, sau này nhà nước phải đền bù với giá rất cao”!?! Rõ ràng là một sự lạm quyền!
            Thói lạm quyền này còn biểu lộ qua việc quan chức các cấp tại địa phương (từ chính quyền tới tòa án và cả mặt trận) cấu kết với nhau vì tư lợi. Sau khi đơn kiện quyết định cưỡng chế đất của anh Vươn cùng dân xã Vinh Quang bị UBND huyện bác bỏ, họ kháng cáo lên toà án thành phố Hải Phòng. Tại đây, huyện đã cấu kết với Thẩm phán để cùng dụ dỗ các nguyên đơn rằng nếu họ rút đơn kháng cáo thì huyện sẽ cho thuê đất tiếp tục. Tin lời, dân chúng rút đơn thì huyện trở mặt, xem quyết định thu hồi đất có hiệu lực và xúc tiến cưỡng chế! Chuyện tư pháp và hành pháp liên minh ma quỷ với nhau như thế xảy ra thường xuyên, trong các vụ án chính trị cũng như hình sự. Sự lên tiếng chậm trễ của thành phố HP sau gần cả tháng trời cũng là dấu có sự cấu kết. Trên dưới liên hệ với nhau chà đạp luật pháp, áp bức người dân, cưỡng đoạt tài sản vì dòng chảy xuôi ngược của quyền lợi và quyền lực.                 
            Rồi để thành công trong việc cưỡng đoạt này, quan chức còn huy động cả quân đội. Dẫu có Luật Quốc phòng cấm sử dụng quân đội vào các hoạt động không nhằm chiến đấu bảo vệ tổ quốc, tại Tiên Lãng, binh lính đã được trưng dụng. Trước đó, năm 2010, Nam Định đã dùng quân đội cướp đất dân ở xã Liên Minh, huyện Vụ Bản. Năm 2002 thì quân đội đã được điều đến trấn áp cuộc nổi dậy của người Thượng ở Tây Nguyên. Phụ với lực lượng vũ trang này còn có cả lực lượng truyền thông. Các báo đài Hải Phòng, Tiên Lãng đều cùng chung giọng bênh vực chính quyền và kết án người dân, ngay cả sau khi có kết luận của Thủ tướng CS. 
            3- Đảng khống chế chính quyền
            Ba ngày trước cuộc họp của Thủ tướng, chiều 7/2, Thành ủy Hải Phòng (cơ quan đảng bộ) đã thông báo đình chỉ công tác Chủ tịch và Phó chủ tịch huyện Tiên Lãng để kiểm điểm trách nhiệm trong vụ cưỡng chế, thu hồi đất của anh Vươn. Quyết định này của Thành ủy Hải Phòng cho thấy lẽ ra đảng chỉ có quyền kỷ luật cán bộ cấp dưới về mặt đảng, chứ không thể làm thay công việc bổ nhiệm hay bãi nhiệm nhân sự của phía chính quyền. Đây là điều lạ lùng đối với các chế độ dân chủ, nhưng rất bình thường trong chế độ cộng sản, nơi mà đảng khống chế cả lập pháp (quốc hội), tư pháp (tòa án) lẫn hành pháp (chính quyền); nơi mà các lãnh đạo cao cấp và hầu hết mọi thành viên của 3 quyền lực này đều phải là đảng viên hay ít nhất cảm tình viên của đảng; nơi mà trong mọi cơ quan của 3 định chế này cũng như các định chế công an, quân đội, học đường, báo chí… chính ủy bao giờ cũng có quyền cao hơn thủ trưởng. Thành thử luật lệ do quốc hội phê chuẩn, phán quyết do tòa án tuyên bố, biện pháp do chánh quyền thực thi hay quyết định của các cơ quan tổ chức bị nhà nước quản lý rốt cuộc chỉ là sự thể hiện ý đảng, ý của các thành viên nắm quyền lực cao nhất trong đảng (Bộ Chính trị, Trung ương đảng). Luật pháp bị coi thường là vì đó! Thuật trị nước ra độc đoán là do vậy!
            4- Trung ương bao che hay bất lực: Tuy nhiên việc đảng khống chế chính quyền cũng có mặt trái của nó. Hiện nay người dân chẳng lạ gì chuyện mua quan bán chức của cộng sản. Muốn ngồi vào ghế chủ tịch huyện Tiên Lãng, Lê Văn Hiền đã phải trả không ít tiền bạc. Ngồi vào chỗ ấy rồi, hàng năm lại phải cúng đậm cho thành phố. Tương tự thế, Đỗ Trung Thoại muốn nắm chức phó chủ tịch Hải Phòng thì phải mua cái ghế này đồng thời hàng năm phải cống nạp cho Trung ương Hà Nội. Tất cả chỉ là một lũ bầy đàn cấu kết nhau vì quyền lợi và khống chế nhau bằng quyền lực. Từ đó, việc xử lý sẽ là giương cao đánh khẽ, không thể có chuyện các quan chức Tiên Lãng bị trừng trị đúng luật (kiểm điểm nội bộ là cùng!). Thủ tướng và kể cả Bộ chính trị cũng chẳng làm gì được mấy tay ở Hải Phòng đâu, vì nhờ họ mà ông đã trúng cử đại biểu quốc hội nơi này. Tình hình cát cứ địa phương rất rõ ràng và lộ liễu, khiến Trung ương từ lâu đã thất bại trong chính sách luân chuyển cán bộ, đến độ Phan Văn Khải phải thốt lên chua chát: “Trên nói dưới không nghe”, còn Nguyễn Tấn Dũng thì thú nhận “chưa từng kỷ luật quan chức nào, y như Phạm Văn Đồng tiền nhiệm”. Nếu Bộ Chính trị hoặc cá nhân Thủ tướng có khả năng xử lý vụ Tiên Lãng thì đã chẳng nhờ đến báo chí, ý kiến các vị lão thành hoặc Mặt trận Tổ quốc… và cũng chẳng để lâu như vậy. Rốt cuộc là người dân lãnh đủ tình trạng “các ông trời con địa phương” và “cả một bầy sâu dày đặc”!
            5- Hành pháp can thiệp vào lập pháp
            Cuộc can thiệp và kết luận của Thủ tướng Dũng ngày 10-02 về vụ Tiên Lãng vừa xong, hàng loạt tờ báo liền giật những cái tít rất kêu: Một kết luận hợp lòng dân (SGGP), Kết luận của Thủ tướng “thấu tình, đạt lí” (VOV), Người dân vỡ òa niềm vui, lãnh đạo Hải Phòng “tâm phục” (Bee.net.vn), Kết luận của Thủ tướng đã làm nức lòng nhân dân (GDVN), Người dân Tiên Lãng phấn khởi cảm ơn Thủ tướng (Vietbao), Người dân Tiên Lãng: “Lòng tin của chúng tôi đã hồi sinh” (VNE), Kết luận công bằng, tạo niềm tin cho nhân dân cả nước (PLTP), Tiên Lãng: và con tim đã vui trở lại (Vietnamnet)… Nhiều trang blog lề trái cũng cùng giọng điệu. Hiểu biết về hiến pháp, pháp luật hạn hẹp như thế thật là đáng buồn! Bởi lẽ trong một nhà nước pháp trị, tam quyền được phân chia quyền hạn và trách nhiệm rõ rệt. Thủ tướng chỉ là người đứng đầu cơ quan hành pháp. Ai vi phạm, tòa án và các thẩm phán cứ căn cứ trên điều khoản của pháp luật mà xét xử và các luật sư cũng dựa vào đó mà biện hộ. Đàng này, cán bộ đảng hay chính quyền vi phạm lại "chờ quyết định của thủ tướng". Ông ta là cái quái gì mà có quyền vạn năng như vậy? Cả nước hồi hộp chờ phán quyết của ngài thủ tướng rồi tự sướng "lòng tin của chúng tôi vào chính phủ được hồi phục”. Tất cả quên rằng đây chỉ là “màn PR” (tranh thủ công luận) đầy mưu mẹo của tay lãnh đạo tồi tệ nhất hiện thời, vốn đã và đang làm cho kinh tế tan hoang, tài chánh suy sụp, chính trị áp bức, đạo đức thoái biến, xã hội hỗn loạn và an ninh tổ quốc lâm nguy!
            Sau Tiên Lãng, chế độ cai trị, tình trạng xã hội, chính sách luật pháp sẽ chẳng thể nào khá hơn nếu toàn dân không đứng dậy như anh em nhà họ Đoàn.
            BAN BIÊN TẬP

Nhìn Tây Tạng, Miến, Nghĩ VN


Hai tấm gương đấu tranh kiên trì có kết quả khả quan, người dân Việt đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền có thể rút kinh nghiệm và tự an ủi, khuyến khích. Một là Tây Tạng sau gần nửa thế kỷ bị TC chiếm đang tiến dần đến cuộc Cách Mạng Áo Cà sa bị trấn áp trong nước hồi năm 2008, nay đã lan sang trong nội địa của TC tại các vùng đông người Tây Tạng ở như tỉnh Tứ Xuyên, Thanh Hải và Cam Túc của Trung Quốc. Với những vụ tự thiêu chấn động công luận thế giới, của quí vị tăng ni để cúng dường cho chánh nghĩa giải trừ quốc nạn và pháp nạn do TC gây ra cho quốc gia dân tộc Tây Tạng. Hai là Miến điện đang trên đường dân chủ hóa sau gần một phần tư thế kỷ Bà Aung San Suu Kyi và lực lượng đối lập bị nhà cầm quyền quân phiệt cầm tù, quản thúc và trấn áp.
Có thể nói trong lịch sử cận đại và thời sự thế giới, chưa có một nhân vật nào bôn ba các nước nhiều như Đức Đạt Lai Lạt Ma. Chưa có vị lãnh đạo tinh thần hay vịlãnh đạo quốc gia nào bền tâm, vững chí, sẵn sàng uốn mình qua ngỏ hẹp để vận động chánh quyền nhiều nước giúp giải trừ pháp nạn và quốc nạn cho Tây Tạng. Và chưa có một nhà đấu tranh nào bị chống đối như Đức Đạt Lai Lạt Ma bởi một chế độ như TC kiểm sóat một dân số 1 tỷ 3 người, đông nhứt hòan cầu, kinh tế đang lên hàng thứ hai trên thế giới, có quyền phủ quyết ởHội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc.
TC chống Ngài liên tục, chuyện lớn nhỏ gì cũng chống, đến nỗi vị lãnh đạo quốc gia nào trên thế giời đồng ý tiếp kiến Ngài thì TC phản đối, hăm dọa sẽ có rắc rối ngọai giao, giao thương để ngăn cản. Kể cả tổng thống Mỹ đệ nhứt siêu cường, CS Bắc Kinh cũng áp lực chống việc tiếp kiến.
Dù chánh quyền các siêu cường Tây Phương ở Tây Âu và Bắc Mỹ biết rõ, ủng hộ chánh nghĩa và ngưỡng mộ Ngài, nhưng TC áp lực ngọai giao và giao thuơng quá mạnh khiến hầu hết các siêu cường Tây Phương vì quyền lợi của nước họ không dám gây áp lực về vấn đề Tây Tạng với TC.
Ngay khi mới đây TC bắn giết người Tây Tạng biểu tình ở Tứ Xuyên, Thủ Tướng của chính phủ Tây Tạng lưu vong, Lobsang Sangay, yêu cầu Liên Hiệp Quốc gởi một phái đoàn đến điều tra. Nhưng quốc tế chẳng đáp ứng.
Quốc tế tránh né can thiệp vì TC có bang giao với 172 quốc gia và hầu hết các nước vì quyền lợi riêng mặc thị coi Tây Tạng là một phần lãnh thổ của TC. Nên cộng đồng quốc tế cho tới nay chỉ kêu gọiđối thoại và hòa dịu mà thôi.
Có trường hợp một số chánh quyền đã cấp chiếu khán nhập cảnh cho Đức Đạt lai Lạt Ma đến viếng thăm, dự lễ nhưng TC phản đối, nước đó phải rút lại visa. Người ngọai cuộc thấy điều đó cũng cảm nhận nỗi cô đơn, thất vọng. Nhưng Đức Đạt Lai Lạt Ma không than phiền, không dừng bước, mà tiếp tục chân cứng đá mềm và bền tâm vững chí trên con đường quốc tế vận để giải trừ quốc nạn và pháp nạn, để ngăn chận TC cào bằng văn hóa Tây Tạng để Hán hóa, mà mất văn hóa là mất tất cả.
Ngàiđã chuẩn bị cho người sau tiếp tục như tạo điều kiện cho một người Mỹ gốc Miến Điện trẻ đang làm công tác nhà nghiên cứu của Đại Học Harvard lên thay Ngài trong chức vụ Thủ Tướng chánh phủ lưu vong.
Nói tóm lại, trong đời Đức Đạt Lai Lạt Ma có thể không thành công trong công tác quốc tế vận giải trừ quốc nạn và pháp nạn, nhưng Ngài đã thành danh. Dù bị áp lực của TC, dù phải tránh né những rắc rối ngọai giao với TC, hầu hết các lãnh đạo quốc gia hết sức trọng thị và lắng nghe Ngài bày tỏ nổi niềm của một tôn giáo bị pháp nạn, một quốc gia dân tộc bịquốc nạn, một nền văn hóa bị TC ra sức cào bằng. Đặc biệt là công luận thế giới ngưỡng mộ Ngài như đã từng ngưỡng mộ thánh Gandhi của Ấn độ hay Nelson Mandela của Nam Phi.
Và gần VN hơn là trường hợp vững tâm bền chí đấu tranh của Bà Aung San Suu Kyi và lực lượng đối lập tại Miến Điện đã làm cho thế giới tăng áp lực chống nhà cầm quyền quân phiệt và nhà cầm quyền quân phiệt phải cải cách dân chủ. Sau non một phần tư thế kỷ, Tướng Thein Sein lên nắm chánh quyền dân sự và dân cử. Chánh quyền mới này thấy bao nhiêu năm đi với độc tài TC thì bị cô đơn, chống đối từ trong ra ngòai. Còn TC thì gậm nhấm dần tài nguyên đất nước, cơ nguy mất nước là mất tất cả gần kề, nên tìm đường hòa giải với Tây Âu, Bắc Mỹ để cứu nước, cứu dân và cứu chánh quyền do phe Ông lãnhđạo. Lãnh đạo Miến điện quyết định cắt bỏ dự án TC xây đập thủy điện Myitsone trị giá 3.6 tỉ USD để tránh cho hàng ngàn người dân Miến và môi trường vùng làmđập bị thiệt hại trầm trọng.
Cònđối nội, quyết tâm cải tổ, dân chủ hóa, trả tự do cho Bà Aung San Suu Kyi và hàng trăm tù nhân, bãi bỏ luật quản chế các nhà dân chủ, công nhận đảng phái đối lập, công nhận quyền biểu tình, tổ chức bầu cử tự do, ngưng chiến với lực lượng sắc tộc thiểu số chống chánh quyền để tạo đòan kết dân tộc.
Nhờvậy đại diện ngọai giao Mỹ, Pháp, Liên hiệp Quốc đến quan sát. Liên Âu gỡ bỏ cấm vận, Mỹ gỡ từng phần.
Đểtỏ thiện chí xây dựng quốc gia, Đảng đối lập Liên Minh Quốc Gia Vì Dân Chủ tái họat động. Bà Aung San Suu Kyi và một số đảng viên ra ứng cử 46 ghế dân biều còn khuyết của Quốc Hội. Bà nói với báo chí sau khi nộp đơn ứng cử “…chúng tôi hy vọng được càng nhiều ghế càng tốt để phục vụ hiệu quả cho đất nước”.
Hai tấm gương của Đức Đạt lai Lạt Ma bền lòng chặt dạ đấu tranh giải trừ pháp nạn và quốc nạn cho Tây Tạng và của Bà Aung San Suu Kyi Khôi Nguyên Nobel Hòa Bình đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền cho nhân dân Miến Điện, là hai tấm gương thếnào người Việt đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN cũng nhìn và rút kinh nghiệm, để không nản lòng sau hơn 36 năm liên tục đấu tranh mà CS Hà nội độc tài đảng trị tòan diện vẫn còn thống trị quốc gia dân tộc VN.
“Bền chí là mẹ của thành công” là câu cách ngôn đa số đều có học hồi nhỏ. Trong chuyện lớn đấu tranh chánh trị - cách ngôn này cũng có giá trị - trong chánh trị không có chuyện một ngày một bữa mà thành công. Kiên tâm, bền chí với thời gian và lập trường là điều kiện tiên quyết đểthành công. Thời Thực dân Pháp ở VN, chí sĩ Phan bội Châu của Việt Nam trong công cuộc chống thực dân Pháp rất có lý khi nói, đời ta không thành thì có con ta, con ta không thành thì có cháu ta.



Vi Anh

Việt Khang Hãy Yên Tâm, Còn Nhiều Đồng Bào Nữa



Nổi bật trong sinh họat cộng đồng trong hai tuần lễ đầu tháng 2 năm 2012 là người Mỹ gốc Việt dồn dập ký kiến nghị gởi TT Mỹ yêu cầu Mỹ không mở rộng giao thương với nhà cầm quyền CS Hà nội nếu không cải thiện nhân quyền. Và quan trọng nhứt là Mỹ áp lực nhà cầm quyền CS Hà nội tra tư do vô điều kiện cho tất cả tù nhân lương tâm, tức tù chánh trị.
Nguyên do ban đầu của sinh họat biến thành phong trào này là hành động binh vực một nhạc sĩ VN ở trong nước là Anh Việt Khang, một người gốc Mỹ tho khỏang 40 tuổi bị công an CS bắt biệt giam biệt tích ở trại tù ác nghiệt Phan Đăng Lưu ở Quận Bình Thạnh, chỉ vì sáng tác và trình bày hai bài hát yêu nước, chống chế độ CS độc tài hại nước, khổ dân: “Việt Nam Tôi Đâu?, Anh là Ai?”
Vùng Little Saigon ngoài Nhạc sĩ Trúc Hồ và Đài truyền hình SBTN phát động phong trào rất mạnh, có Ủy ban Đấu tranh Chống CS và Tay sai thực hiện 1000 dỉa để tặng cho đồng hương. Đĩa CD tựa đề “Việt Khang, Việt Nam Tôi Đâu? Anh là Ai?” có ghi với “bảo trợ bởi Chiến hữu Mai ngọc An”. Một người bạn già luôn có mặt trongcác cuộc đấu tranh chống Cộng cắt ca cắt củm để dành cho người viết bài này một dĩa, bảo anh nghe đi, hai bài “Việt Nam Tôi Đâu? Anh là Ai?” của Việt Khang giống y như công cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền và vẹn tòan lãnh thổ VN viết bằng nhạc bi hùng, thống thiết như bài Chanson de Roland trong văn học sử Pháp vậy.
Bỏ gần hai tiếng đồng hồ nghe nhiều lần hai bái hát, lời tiếng Việt và lời tiếng Pháp, giọt lệ hiếm hoi của người quá thất thập cỗ lai hy này cũng ứa ra hồi nào không hay, mờ cả kiếng lão. Người bạn đời đầu ắp tay gối hơn nửa thế kỷ đã trường chay từ 1975, sự đời đã tắt lửa lòng, cũng bồi hồi cảm động, thiết tha đau khổ cho vận nước non, số kiếp đồng bào Việt ở nước nhà VN cách nửa vòng Trái Đất.
Thế mới biết tại sao nhạc sĩ Trúc Hồ một nhạc sĩ luôn thiết tha với công cuộc chiến đấu của VNCH thời chiến và gắn bó với chánh nghĩa đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền và vẹn tòan lãnh thổ VN của đồng bào trong ngòai nước qua nhiều bài nhạc và dĩa DVD lại đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu với Việt Khang, phát động chiến dịch vận động trả tự do cho những người yêu nước bị CS bỏ tù.
Phần nhạc lý của hai bài hát của Việt Khang xin dành cho những nhạc sĩ, ca sĩ nhiều kiến thức, kinh nghiệm chuyên môn phân tích sâu sắc. Người bình dân VN ở Bắc, ở Nam, ở Trung, ở hải ngọai chỉ biết nghe hai bài hát của Việt Khang bằng cái tâm Việt, hồn Việt. Người Pháp nói “Trái tim có những lý lẽ mà Lý trí không biết”. Đúng, cái tâm của người Việt không thể không bị đánh động sâu sắc khi nghe hai bài hát này. Tình yêu nước, thương đồng bào dâng lên theo lời ca tiếng nhạc chuyễn tải quốc nạn VN, ngưới dân bị độc tài hà khắc, đất nước bị quân Tàu xâm lăng, nguy cơ mất cội nguồn, mất nước là mất tất cả vào tay CS.
Hỏi làm sao không thấm thía, không thống thiết với những lời ca dưới dạng câu hỏi thấu tim gan VN, liên quan đến mẫu số chung của người Việt trong ngòai nước trong công cuộc đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền và vẹn tòan lãnh thổ VN như vầy đây.
Bài một “Anh Là Ai”, hỏi Anh là ai mà bắt dân, đánh dân, cấm dân, dân đâu có làm gì sai khi xuống đường chống giặc Tàu xâm lược, mắng đồng bào bằng tiếng nói của người dân Việt, làm tay sai cho quân Tàu bàn tay nhuộm máu VN. Làm sao người dân Việt ngồi yên để đất nước VN đắm chìm, người dân mất gốc, thế giới không còn VN.
Bài hai “Việt Nam Tôi Đâu?”, tâm tình, đã hơn nửa đời người đã rõ thời CS, xã hội VN cán bộ đảng viên quyền cao, chức trọng là người giàu thì quá giàu còn người dân thì lầm than, cùng khổ; hố sâu ngăn cách nghèo giàu hết chỗ nói. Còn đất nước VN thì quân Tàu ngang tàng, người dân chết tức tưởi khi bám biển do đất nước ông bà VN để lại. Người dân VN làm sao làm ngơ, không đứng lên “đáp lời sông núi”, cứu nguy quốc gia dân tộc chống quân Tàu xâm lược và nhà cầm quyền VNCS nhu nhược thông đồng bán nước cầu an, cầu vinh.
Người ta không lấy làm lạ khi Đảng Nhà Nước CS Hà nội bắt biệt giam Việt Khang. Đảng Nhà Nước CS Hà nội đã “tiếp chỉ” của Thiên Triều CS Bắc Kinh khá lâu rồi nên phải “định hướng” công luận về Biển Đông. Bất cứ người dân yêu nước nào dám đụng để quan thầy TC, là CS Hà nội không để yên. Việt Khang đụng tới quân Tàu xâm lăng và nhà câm quyền VNCS nhu nhược thông đồng với TC, thì CS Hà nội phải bắt thôi.
Nhưng nguyên do bắt Việt Khang lại đụng chạm đến một vấn đề lớn, là lòng yêu nước của người Việt nói chung, một vấn đề của một dân tộc, của lương tâm người Việt, của hồn thiêng sông núi VN. Không có chề độ nào, đảng phái chánh trị nào cao hơn, thiêng liêng hơn Tổ Quốc. Có thể chính cán bộ đảng viên, công an bên ngòai bó buộc phải làm nhiệm vụ bắt Việt Khang, nhưng bên trong nếu còn một chút điểm lương tâm Việt cũng đau khổ, cũng dằn dật, suy nghĩ, yêu nước như Việt Khang.
Vì Việt Khang cùng nhiều người Việt yêu nước, cả dân tộc VN không phân biệt giới tính, tuổi tác, địa phương, tôn giáo đã, đang và sẽ làm cái việc phải làm là chống lại quân Tàu xâm lược và những kẻ thông đồng mãi quốc cầu an, cầu vinh. Việt Khang và đồng bào yêu nước đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN, đấu tranh bảo vệ giang sơn gấm vóc không bao giờ cô đơn đâu. Đất nước VN có lúc thịnh suy nhưng anh hùng hào kiệt bao giờ cũng có. Đại đa số anh hùng dân tộc VN là những quân dân chống quân Tàu, giành lại độc lập cho quốc gia dân tộc Việt.
Huống hồ bây giờ, VN có hơn ba triệu người ở hải ngọai, một thế lực quốc tế vận hữu hiệu, một hậu phương, một nguồn tiếp liệu lớn cho chánh nghĩa đấu tranh của người dân Việt. Chỉ lòng dũng cảm của một Việt Khang, chỉ hai bài ca của Việt Khang, mà tinh thần đấu tranh chống CS độc tài, chống quân Tàu xâm luợc và lòng yêu nước thương đồng bào đau khổ của người Việt dâng lên nhanh như sấm chớp. Trong vài ba ngày mà đã vượt chỉ tiêu, có hàng mấy chục ngàn người Việt ở Mỹ đã lên Internet vào web của phủ tổng thống Mỹ, yêu cầu TT Obama áp lực CS Hà nội , về chánh trị trả tự do vô điều kiện tất cả tù chánh trị và về kinh tế không mở rộng giao thương với CS Hà nội khi không cải thiện nhân quyền.
Việt Khang, cứ yên tâm đi, còn có đồng bào, nhiều đồng bào nữa. Anh không cô đơn đâu Việt Khang, Anh không đơn ca bài “Anh là Ai và VN Tôi đâu”. Đồng bào Việt hải ngọai đang hùng dũng đồng ca, hòa ca cùng Anh. Đồng bào Việt trong nước dù bị kẹt trong gọng kềm CS cũng đang tâm ca cùng Việt Khang. Trong và ngòai nước còn biến bài ca Anh thành hiện thực, thành hành động cứu nguy quốc gia dân tộc nữa như đã làm suốt 36 năm rồi. Và còn làm nữa, thế hệ này chua xong thì còn thế hệ kế tiếp. Và trên trời hòang thiên bất phụ hảo tâm nhân. Ân Trên đã, đang, sẽ gia hộ cho công cuộc đấu tranh của người dân Việt, VN sớm có tự do, dân chủ, nhân quyền./.
 Vi Anh

Sống Với Người Chết


(tiếp theo Chôn Đứng)

 

Mùa hè hai năm sau, một buổi trưa, ông Tú và hai đứa con  từ Hoa Kỳ về, lại có dịp đến bến xe Bình Tây.
Ngổn ngang là xe, đậu chẳng có thứ tự gì, mạnh ai nấy đậu. Xe đò chạy diesel xả khói mịt trời. Có xe khá đông khách nhưng vẫn chưa đi, lơ xe còn đi bắt thêm mối, tài xế ngồi sau tay lái uống la-de tỉnh bơ. Có cái mới mươi người khách thì lơ xe la bài hải như có cháy nhà:”Gò đen, Bến lức đi ngay đây. Lên xe, lên xe mau. Ông cụ kia, đi không?” Vài câu chửi thề tục tĩu vì hụt khách của mấy lơ xe khác.

Hàng quán bán rong nườm nượp. “Ai mía ghim đây.” Ai nước trà đường” “Phở bò viên đây.” “Bò bía tôm thịt lạp xưởng” thêm tiếng lách cách của cái kéo lớn anh hàng thịt bò khô vang lên mời khách và cái chuông reng reng của anh bán kem cây. Mấy chị hàng bún, hàng cháo huyết, cháo lòng, mì thập cẩm, bánh canh, xôi vò chè đường ...ngồi hếch mắt nhìn người qua kẻ lại luôn miệng mời khách, tay cầm cái que dài có buộc ở đầu một chùm lá tre để đuổi ruồi nhặng bay như ong từ bãi rác to như cái nhà ba tầng gần đó, mùi rác thối sau cơn mưa đêm qua, nắng hong lên tạt vào mũi kẻ qua người lại phải nín thở đi cho mau. Vài con bé gầy gò khoảng 12, 13 quần áo lếch thếch, cái khăn lau vắt vai,  đang rửa tô rửa muỗng cho mẹ chúng bán cháo lòng, bánh canh sau khi người khách ăn xong, cứ một xô nước đó chúng rửa từ sáng đến lúc hết gánh cháo, gánh bún.  

Hàng chục lời rao khác quyện vào nhau cùng với tiếng động cơ xe đò, xe nhỏ, xích lô máy, tiếng cưa máy một nhà máy cưa ở ngay cạnh, khói bụi mịt mù, tiếng còi xe, không có chuyện gì cũng bóp còi, tất cả làm thành một bản nhạc tả pí lù liên tu bất tận nghe mệt tim, điếc tai, mờ mắt. Ông Tú thầm nghĩ sao ô nhiễm quá thế và lắm người nghèo quá thế? Người nghèo nhiều, xã hội khó yên vui. Tệ trạng xã hội phát sinh cũng từ nghèo mà ra!

Ông Tú trông vẫn như trước nhưng hai đứa con thì lớn hẳn lên, khác xa lần về trước cách một năm. Cô con gái tên Jennifer nay đã là một thiếu nữ đôi tám xinh xắn, má đỏ, môi hồng. Jen không trang diện nhiều nhưng với nước da trắng bóc, đôi mắt to đen như mắt cô siêu mẫu Cindy Crawford, mái tóc dài đen mượt thả xuống ngực và khuôn mặt thật xinh, cái quần jean và cái sweater mầu hồng nhạt duyên dáng, Jen làm cho bất cứ ai nhìn Jen cũng phải ngắm nghía ghi nhớ hình ảnh. Cậu em trai là John, trắng trẻo, thông minh, cao lớn gần bằng cha tuy bé ngang hơn.

Khi ba cha con đang đứng nghểu nghến bàn tính chuyện nên đi ngay hay nên dùng bữa, ông Tú lấy cell phone ra bấm thì hai anh lơ xe nhào tới, một anh giật cái xách tay John đang cầm, anh kia giật cái xách tay ông Tú cầm:
“Dạ thưa chú, chú đi đâu?”
“Chú lên xe con!”
Ông Tú phải tắt tạm cái cell, tay ông nắm quai cái túi xách vừa bị giật:
“Để cha con tôi suy nghĩ một chút, chưa đi ngay đâu!”
John cũng nắm lấy quai cái túi xách. Hai anh lơ phải buông tay.
“Chú cần đợi ai thì chú lên xe con ngồi cho đỡ mỏi chưn!”
Ông Tú ôn tồn:
“Để chú suy nghĩ chút mà!”

Hai anh lơ tiu nghỉu bỏ ra đứng xa xa nhìn lại. Làm cái nghề này thật khổ, chủ xe giao cho ngày phải chèo kéo được bao nhiêu khách, không đủ số bị trừ lương. Vì vậy hễ thấy khách xách vali, xách cặp tới là ra tranh giành cho bằng được. Có khi vì tranh khách mà đánh nhau làm Cảnh sát bến xe lại phải can thiệp.

Vừa lúc đó có một đứa con gái bán vé số nhào tới. Mặt mày nó dễ coi nhưng quần áo tồi tàn quá. Cái quần đen đã bạc, vài chỗ vá. Cái áo ngắn cũn cỡn không phải của nó mà có lẽ của một đứa nhỏ hơn, nhìn thấy cả lưng. Đôi mắt tinh nhanh và nụ cười tươi làm người đối diện có cảm tình nhưng trông con bé thật bệ rạc, nghèo khổ. Nó chìa xấp vé ra trước mặt ông Tú:
“Thưa bác, mua dùm con mấy tấm vé số, vé sắp xổ!”
Ông Tú nhìn con bé. Ủa nó có cái nét hao hao một đứa bé nào mà ông đã gặp nhưng chẳng nhớ ra? Những đứa trẻ ông gặp thiếu gì! Nào sứt môi, lé mắt, bại xuội, què tay, cụt chân ông đã vào hai, ba Viện mồ côi ở Sàigòn và Huế, nhìn thấy rất nhiều, làm sao nhớ được? 
“Cháu bán vé số ở đây lâu chưa?”
“Dạ, thưa bác cháu bán ở đây khoảng hơn một năm rồi.”
Ủa, lại giọng nói! Nó giống giọng nói một đứa nào ông nghĩ mãi không ra. Con gái ông, Jennifer, nhìn con bé và nói với ông Tú cái gì làm ông chợt nhớ lần về hai năm trước, ba cha con ông cũng đứng ở bến xe này mua vé số cho một thằng bé cũng cỡ tuổi con bé này. Ông đã quên tên nó, hôm đó nó bị xe đụng chẳng biết nay nó khỏi chưa? Ông nghĩ hỏi con bé này may ra nó biết.  
“Cháu có biết một thằng bé cũng khoảng tuổi cháu, cũng bán vé số ở bến xe này , cách đây hai năm bác đã mua vé số cho nó, giọng nói của nó giống cháu lắm...”
Con bé đáp mau:
“Thưa bác, có phải tên là Lớn không?”
Ông Tú nghe nhắc nhớ ngay:
“Phải, phải, đúng tên nó là Lớn. Cháu biết nó hả?”
“Thưa bác, Lớn là anh cháu!”
“Bây giờ nó ở đâu? Nó đi làm nghề khác rồi sao?”
Con bé rầu rầu:
“Anh Lớn của cháu chết rồi bác à!”
Ông Tú giật mình, cả hai người con ông Tú nãy giờ vẫn theo dõi câu chuyện giữa cha với con bé bán vé số nghe Lớn chết đều giật mình. (hai đứa con ông Tú nóí không thạo nhưng nghe tiếng Việt tạm được, dù nhiều chữ chúng không hiểu)
“Ủa, vì sao Lớn chết hả cháu?”
Con bé rụt rè:
“Thưa bác, có phải bác là bác Tú không?”
“Ừ, sao cháu biết tên bác?”
“Anh Lớn trước khi chết nói với ba má cháu là bữa đó bác mua vé số cho ảnh, lại cho ăn phở và uống cà-phê. Anh về nhà được một lát thì bất tỉnh, đưa vào bệnh viện người ta bảo ảnh bị nứt sọ...”
Ông Tú thấy câu chuyện có vẻ dài:
“Vào quán nước kia bác mua nước cho uống rồi kể cho bác nghe!”
Ông Tú đi trước, con bé bán vé số và hai đứa con ông Tú theo sau. Ông kiếm một hàng ăn trông khá sạch sẽ hơn cả. Giờ này khách cũng thưa. Ông bảo con bé ngồi cùng ba cha con ông vào một cái bàn nhỏ. Cô hầu bàn nhanh nhẹn đưa Thực đơn ra.
Cô chỉ khoảng ngoài đôi mươi, trẻ măng như cô nữ sinh mới xong trung học. Quần jean, áo sơ mi trắng hở cả bụng, môi bôi son đỏ lòm. Cô hỏi ông Tú:
“Thưa anh, anh dùng gì?”
Ông Tú thấy cô hầu bàn gọi mình bằng anh thì hơi lạ và ngượng. Chỉ có con Ti là thấy điều đó còn hai đứa con ông Tú không có phản ứng chi. Ông Tú bảo cô hầu bàn:
“Cho 5 phút rồi trở lại nhé!”
Cô hầu bàn qua bàn khác. Ông Tú hỏi con bé bán vé số:
“Tên con là gì?”
“Tên con là Ti, thưa bác.”
“Con ăn gì kêu đi, bác đãi con.”
Ông Tú nói tiếng Anh với hai con. Jennifer và John cũng cầm Menu lựa thức ăn.
Cô hầu bàn bưng ra bốn ly nước đá lạnh. Cô cầm cuốn sổ với cây bút trong tay:
“Anh dùng gì?”
Lần này ông Tú không im lặng nữa. Ông bảo cô hầu bàn:
“Cháu nhìn chú bao nhiêu tuổi mà dám gọi là anh? Biết chú bao nhiêu không?”
Cô hầu bàn hơi ngượng:
“Thưa..., chủ dặn em hễ đàn ông ai cũng phải gọi là anh xưng em cho khách vui lòng, cho “boa” nhiều vì...vì nhiều ông cụ Việt kiều già khú đế bảy tám mươi vẫn còn thích được gọi là anh với em. Em không gọi thế em bị đuổi! Thông cảm cho em!”
Ông Tú hiểu ra:
“Ừ thì chú thông cảm cho cháu. Nhưng với chú thì nói trống không thôi chứ đừng anh anh em em, nghe không?”
“Thưa, thưa vâng. Thưa,...gọi món gì ạ?””
Ông Tú bảo:
“Cho chú chả giò rau sống với bún.”
Cô hầu bàn nhìn Jennifer. Jennifer nói:
“Give me also egg roll and noodle, please!”
Cô hầu bàn không hiểu. Ông Tú phải nói:
“Cho Jennifer chả giò giống như của chú!”Quay qua đứa con trai, “How about you, John?”
“Me too, Dad!”
Con bé Ti thấy đến phiên mình, nó nhìn lên:
“Chị cho em tô bún bò giò heo!”
“Tô lớn, tô nhỏ?”
Con bé Ti chưa kịp nói thì ông Tú bảo nó:
“Tô lớn nhé, ăn không hết để lại.”
“Có huyết hay không có huyết?
“Có, chị.”
Cô hầu bàn đi rồi, ông Tú gợi chuyện:
“Thôi, sắp bữa ăn, bác không cần con kể cho bác nghe về Lớn. Thế gia đình con ở đâu?”
“Ở hơi xa, thưa bác.”
“Lát nữa con đưa bác về thăm gia đình con nhá!”
“Thưa bác vâng.”
Cô hầu bàn bưng thức ăn lên. Ông Tú bảo Ti:
“Ăn đi con, ăn tự nhiên đi.”
Ông cũng bảo Jennifer và John cầm đũa. Ông gọi cho mình một ly cà phê sữa, ba ly sữa đậu nành cho hai đứa con và con Ti. 
Bốn người vừa bắt đầu ăn thì một người đàn ông chỉ khoảng ngoài 40 dắt một đứa con trai độ 10 tuổi đến. Người đàn ông tay chân lành lặn chỉ phải cái quần áo rách nát và quá hôi hám. Anh ta đứng gần ai người đó phải bịt mũi hoặc chạy xa. Đứa nhỏ chân đi khập khiễng cà giật cà giẹo nhưng mắt nó láo liên, rà quét trên các bàn xem còn đồ ăn thừa khách bỏ lại. Một cái bàn cách mấy bước khách mới đứng lên, hầu bàn chưa dọn kịp, thằng nhỏ vuột khỏi tay người đàn ông cà nhắc lết đến. Nó vồ lấy cái đĩa còn chút đồ ăn, dùng tay bốc bỏ vào mồm ăn nhồm nhoàm. Chưa nuốt xong miếng đồ ăn, nó chụp tô nước súp còn lưng tô húp sùm sụp. Người đàn ông đang tả oán xin tiền ông Tú, bỗng thấy thằng nhỏ sút tay đi ăn đồ thừa, anh ta nổi giận lại chịt lấy hai nách thằng nhỏ quăng nó ra giữa nhà rồi cứ thế anh ta đạp đánh nó tàn nhẫn, vừa chửi Đ. M. mày, Đ. M. mày tao đã cho mày ăn đâu mà dám nhào vào ăn hả? Hả? Thằng nhỏ đau quá tru tréo lên: “Con lậy dượng, con lậy dượng, tha cho con, con đói quá, đừng đánh con nữa…Hu hu hu.”
Ông Tú phải buông đũa đứng lên. Ông bảo người đàn ông:
“Thôi, anh đừng đánh nó nữa, nó đã què quặt…”
Người đàn ông tỏ vẻ rất lễ phép, anh ta nhìn là biết ông Tú là Việt kiều:
“Thưa chú, cháu đang xin chú tiền để mua cho cháu và nó mỗi người bát bún bò thì nó làm như chết đói vậy đó…Từ trưa qua tới giờ cháu chưa có gì bỏ bụng còn nó thì đã có một khúc bánh mì.”
Nếu ai đi theo thì biết anh ta nói dối. Chính anh ta có khúc bánh mì thịt còn thằng nhỏ đói meo từ trưa qua tới nay.
Ông Tú bảo:
“Anh và thằng nhỏ lại bàn kia ăn mỗi người tô bún rồi tôi trả tiền.”
Người đàn ông kéo thằng nhỏ đứng lên tính lại cái bàn gần bàn ông Tú nhưng rồi lại đổi ý:
“Chú cho cháu tiền, cháu với nó ra ngoài ăn cơm bụi, đỡ tốn hơn.”
Ông Tú đành phải móc ví lấy tiền Việt trao cho người đàn ông.   

Suốt bữa ăn, ông Tú chỉ nói tiếng Anh với hai con. Ông để Ti ăn cho ngon miệng. Con bé nghĩ là nó đã lên thiên đường như người ta hay nói. Bún bò giò heo nó được ăn đã lâu lắm rồi; nó nhớ và thèm nhưng ở đâu ra 18,000 để nó ăn một tô cho sướng miệng? Tô bún bò năm xưa là do ba nó bữa đó đi khiêng tủ lạnh cho một người Việt mới ở ngoại quốc về. Ba nó đã nhanh trí không thì cái tủ lạnh rớt từ xe ba gác xuống, méo mó hết. Vì thế mà ông Việt kiều thưởng cho ba nó 10 đô-la.  Ba bèn chở cả nhà đi ăn bún bò giò heo một bữa. Vì thế bây giờ nó còn nhớ.

Bữa ăn đã xong, bốn ly nước để trước mặt.  Ông Tú hỏi Ti:
“Con còn bao nhiêu vé số?”
“Thưa bác, con mới bán được 15 vé, còn lại 185 vé.”
“Đưa bác coi.”
Nó dùng cả hai tay trao 4 xấp vé số cho ông Tú. Ông Tú nhìn số tiền 1,000$ trên mỗi tấm vé, ông làm tính nhẩm rồi trao cho Ti 50 đôla:
“Tiền vé của con là 185,000; 50 đô của bác theo thời giá là 800,000. Số còn lại, bác cho con. Cẩn thận kẻo mất nhé.”
Con Ti đỡ lấy tờ 50 đô, tay nó run run bỏ vào túi xong cài kim băng cẩn thận. Cả đời nó chưa trông thấy tờ 50 đô Mỹ bao giờ mà cũng chưa cầm món tiền Việt nào lớn như thế!
Ông Tú lại két thanh toán tiền ăn, ông bỏ tiền “boa” hậu hĩ trên mặt bàn rồi bảo ba đứa trẻ:
“Thôi ta đi!”
Đứng ở hàng hiên cửa tiệm, ông Tú hỏi Ti:
“Bây giờ con có muốn dẫn bác về cho biết nhà con không?”
“Dạ được thưa bác.”
Ông Tú kêu chiếc taxi. Xe ép sát bờ lề.
“Về đâu con?” ông Tú hỏi.
Ti đáp cho cả ông tài xế nghe.
“Thưa bác, nhà con ở ngay nghĩa địa “Đồng Sạn”!

Ông Tú hơi ngạc nhiên nhưng không muốn hỏi, ông để người tài xế lo lái. Khoảng chục km thì xe ngừng, ông Tú móc ví lấy tiền trả taxi và cho “boa”. Con Ti dẫn ba cha con ông Tú đi cái cổng nhỏ vào trong nghĩa địa. Đi vòng hẳn ra phía sau nhà xác, Ti chui qua một lùm cây rậm rạp, qua vài chục cái mả xây rồi luồn vào một ngôi mộ xây hơi lớn hơn những cái khác. Ông Tú và hai đứa con cũng theo chân Ti. Ông Tú không sao nhưng hai đứa con ông thì có vẻ ngại ngùng thấy rõ. Từ thuở cha sinh mẹ đẻ chúng chưa đi luồn vào hang hốc mồ mả như thế này bao giờ.
Mấy năm gần đây người Việt có sự ưa thích là phải xây mộ cho người chết cho thật đẹp. Người ở quê thư từ cho thân nhân ở Mỹ hay Âu châu đề nghị nên xây mồ mả cho ông bà cụ kị bởi “Sống vì mồ vì mả, không sống vì cả bát cơm”. Nếu về được thì tốt bằng không cứ gửi tiền. Tiền càng nhiều, mồ càng cao, mả càng dài, lại tô đá rửa, đá mài, có hình người chết và tên tuổi, ngày tháng sinh và mất. Có Thánh giá hoặc chữ Vạn, có bình bông cắm hoa, có trồng cây xung quanh. Có con cháu ra viếng mộ mỗi lễ tết hoặc ngày kị, có đọc kinh, dâng lễ và ăn uống để tưởng nhớ người quá cố…Nhiều đại gia tiền dư thóc thừa còn xây cả một ngôi nhà thờ họ vĩ đại như một ngôi chùa có người quản đền quanh năm hương khói. Làm tổ tiên, ông bà, cụ kị những người giầu có, thế lực cũng sướng! Trái lại kẻ nghèo kiếm miếng cơm không xong đâu dám nghĩ đến mồ mả tổ tiên là những thứ quá xa vời với họ.Như nhà con Ti, bố mẹ nó đưa con cái vào đây để đụt nắng che mưa qua ngày.  

Nghĩa trang ở Mỹ không có những ngôi mộ xây. Mộ nào cũng có một khoảng đất trồng cỏ xanh mướt bằng cái chiếu, phía đầu người quá cố dựng một cây thập tự trắng trên ghi tên họ, ngày tháng năm sinh và năm mất là xong. Ngày lễ tưởng niệm mỗi năm, hoặc những lúc muốn thăm viếng, con cháu mang hoa ra phần mộ đọc kinh, thắp hương tưởng nhớ. Giầu hoặc nghèo, quyền chức hoặc dân thường nằm chung với nhau, bề ngoài như nhau không làm ai cảm thấy tủi. (Mời vào: vietnamexodus.info   trang Văn học)

Dăm, bảy đứa trẻ đang nô đùa với nhau trong vòng rào một ngôi mộ khác; chúng thấy Ti, vời Ti vào chơi với chúng nhưng Ti lờ. Rồi Ti luồn vào phía hông hai ngôi mộ trắng kế nhau. Vài tấm bạt ni-lông xanh căng tựa vào thành hai ngôi mộ hai bên, dăm ba cái thùng gỗ và cạc tông chắn bên dưới cho khỏi trống. Cây cọc tre cao vài thước dùng nâng tấm ni-lông lên giống như cái mái nhà, ngộ có mưa thì nước róc đi. Gió nhỏ nên tấm ni lông chỉ hơi di động. Một góc bên trong lều là ba hòn gạch làm đầu rau trên có một cái nồi đen thui, củi tạ ở dưới đang ngún cháy, những mảnh khói ẻo lả bốc lên.
Ti cúi người chui vào gọi cha. Người đàn ông đang nằm trên một cái ghế bố nhà binh Mỹ, nghe con nói có khách thì nhỏm dậy.

Đó chính là chú Cải, ba thằng Lớn. Chú Cải nhìn ba cha con ông Tú đứng dưới cái bạt xanh, vừa mừng vừa ngại ngùng, chẳng có chỗ nào tiếp khách. Ông Tú mau mắn:
“Chào anh, tôi là Tú. Phải anh là ba cháu Ti?”
“Dạ thưa phải, tôi chẳng có chỗ nào để ông ngồi.”
“Tôi còn trẻ như anh. Xin cứ kêu tôi là anh. Tôi gặp cháu Ti ở bến xe Bình Tây mới biết cháu Lớn đã mất. Tôi đến thăm anh chị và các cháu. Thế cháu Lớn vì sao mà mất?”

Chú Cải thuật sơ lại từ lúc Lớn về nhà bữa hôm đó, đem 50 đô la về, nói lại cho tía má nó biết nó đã gặp một ông Việt kiều tên Tú; ông đã cho ăn phở và uống sữa đậu nành. Rồi Lớn bất tỉnh phải đưa đi nhà thương cho đến khi an táng.
“Thế nhà anh đâu mà phải ra ở nghĩa địa này?”
“Thưa anh, tôi không có tiền chuộc cái xe để làm phương tiện nuôi sống gia đình và mỗi tháng phải trả tiền lời 80,000 về số tiền an táng cho cháu. Sau 6 tháng tôi không trả được đồng lời nào nên họ áp lực phải ra khỏi nhà để họ lấy nhà.”
“Ủa, cái nhà ấy nhiều tiền hơn số nợ chứ? Họ phải trả thêm cho anh chứ?”
“Họ nói rằng khi nào họ bán được nhà họ sẽ khấu trừ hết mọi khoản, còn thì họ mới trả cho mình! Giớ này họ cho người nhà họ vào ở, biết bao giờ họ bán được? Giả sử họ bán được thì số tiền lời sinh ra quá cả tiền vốn. Làm gì còn để họ trả lại cho mình, thưa anh?”
“Đúng là những quân ăn cướp!”
“Thưa anh, nhưng họ có...thế lực....”
Thấy trời đã hơi muộn muộn, ông Tú cáo lỗi:
“Tôi đã biết nhà anh ở đây. Vài ngày nữa xong vài công việc, tôi sẽ trở lại thăm anh và gia đình.”


                                       o0o

Ba cha con ông Tú ra khỏi nghĩa địa vừa lúc trời chạng vạng tối. Ông kêu taxi để ba cha con trở về khu Lăng cha cả là nơi có nhà bà dì ruột. Dì ruột ông Tú có hai con trai và ba cô con gái di tản sang Na Uy từ năm 1982 trong đợt  vượt biên chui. Tất cả 5 người này đều đã có vợ chồng con cái.
Hai bữa sau, ba cha con ông Tú lấy taxi trở lại nghĩa trang Đồng Sạn. Con bé Ti đi bán vé số chưa về. Thím Cải đi làm mướn cho một nhà hàng ngày nào cũng tối mịt mới về. Chú Cải thất nghiệp nằm chèo queo ở nhà còn con Tí cho đi ở giữ em cho một người quen ở Bình Dương. Nó đã 10 tuổi, con Ti 13 và nếu Lớn còn sống, nó đã 16, có thể đi làm phụ thợ hồ cũng được ngày hai bữa cơm và dăm chục ngàn, hơn đi bán vé số nhiều.

Ông Tú về kỳ này có vài công việc. Bà mẹ vợ bệnh trầm trọng hai năm  trước (dạo thằng Lớn bị xe đụng) ông về ở cả tháng bà không khỏi, cũng không đi. Khi ông trở lại Mỹ được khoảng 10 ngày thì mấy người em báo tin bà qua đời. Dù muốn về đưa mẹ nhưng ông Tú đã hết vacation, ông đành phải gửi ít tiền về cho mấy người em vợ ông lo đám ma cho bà già. Vợ ông mất tại Mỹ, cách đây đã dăm năm, ông gà trống nuôi con cho đến ngày nay. Về Việt Nam hai chuyến, nhiều người mai mối cho ông những cô gái còn rất trẻ , có nhan sắc và có cô đang học Đại học nhưng ông Tú từ chối. Ông nói không kham nổi. Ông cũng sợ lại có thêm con ra, rồi con anh, con em nó đánh con chúng ta thì rất phiền. Có phụ nữ chỉ cần sang Hoa Kỳ, họ chịu mất tiền cho ông Tú để làm hôn thú giả, sang tới Hoa Kỳ sáu tháng là xé nhưng ông Tú sợ pháp luật và sợ tù. Ông bảo thôi ít tiền thì chịu vậy, tham ăn tiền đâu chẳng thấy rước cái lo vào mình.

Việc thứ hai ông Tú cần làm là dò hỏi để kiếm cho vợ chồng người bạn thân chưa có con một đứa con nuôi. Vợ chồng ông Bào lấy nhau đã lâu, mong một đứa con nhưng bà vợ không sao có bầu. Họ bàn với ông Tú. Ông Tú nói hay là kiếm một đứa con nuôi? Hai vợ chồng ông Bào đồng ý giải pháp này nhưng phân vân không biết nên xin một đứa bế ngửa hay đứa đã lớn?

 (còn tiếp)
Xuân Vũ Trần Đình Ngọc

Bài Xem Nhiều