We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 7 March 2012

Ai thích nuôi VC thì làm từ thiện ...

Việt kiều dành dụm mang tiền về nước làm từ thiện cho nhà giầu, Hà Nội ăn chơi xa hoa   Phóng sự của Đài BBC của Anh, Alastair Leithead từ Hà nội gởi về nói về dân nhà giàu ăn chơi. Tựa đề phóng sự là “Ăn Phở 35 Đô Ở Nước Việt Nam Cộng Sản”. Chơi xe máy dầu Harley Davidson mà một thành viên người ngoại quốc của câu lạc bộ nhận xét "Ông sẽ không bao giờ nhìn thấy nhiều xe hạng sang như thế này ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới." Chơi xe hơi mắc, mới, lạ không thể tưởng. Xe Porsche hai cầu dù Alastair Leithead là nhà báo đi nhiều nhưng chưa biết có loại xe đó; xe Rolls-Royce Phantom chế tạo theo ý người đặt hàng mua. Tin RFA, thống kê của Bộ Công thương của CS Hà nội công bố trong năm 2010, Việt Nam CS đã “nhập khẩu“ những mặt hàng xa xỉ lên đến 10 tỷ đô la. Ô tô và xe máy chỉ chiếm khoảng 1 tỷ đô la, trong khi “hàng hiệu” được xem là xa xỉ phẩm như: điện thoại di động loại mới, mỹ phẩm, rượu bia, thuốc lá, đồ trang sức, đá quý và quần áo loại sang chiếm 9 tỷ đô la.Số triệu, tỷ phú đô la nổi ở trong nước mỗi năm đều tăng lên. Có người chẳng những mua xe sang mà mua luôn máy bay để đi nữa. Số triệu, tỷ phú chìm ắt còn nhiều hơn nữa nhưng họ dấu kín. Đó là những cán bộ đảng viên có quyền khi tham nhũng trở thành quốc nạn. Tài sản họ cướp được của đất nước và nhân dân nhiều vô số kể.Làm gì trong bối cảnh tham nhũng là quốc nạn, một thiểu số 3 triệu 6 cán bộ đảng viên CS không hối mại quyền thế, tham ô nhũng lạm, dĩ công vi tư khi họ đang cầm quyền, nắm tiền, nắm của của nước Việt Nam. Họ giàu có, thừa mứa, mỗi năm xài hết 10 tỷ Mỹ kim cho hàng “nhập” xa xí. Họ là những người làm giàu nhờ nguời dân trong nước thì khi người dân gặp thiên tai thì họ là người phải gíup trả lại một phần cho cộng đồng chớ.Người Việt hải ngoại đâu có giàu như họ, phải làm việc một tuần 40 giờ, hàng chục thứ hoá đơn phải trả, đóng thuế cao, đâu có được hưởng quyền lợi gì ở VN như họ, tại sao khi có thiên tai thì lại bị kêu gọi góp tiền đem về cứu trợ.Hỏi có người Việt Hải ngoại nào ăn tô phở bò 35 Đô mắc như vàng, đi xe máy dầu loại dầu Harley Davidson hạng sang, xe hơi Porsche hai cầu, Rolls-Royce Phantom chế tạo theo ý người chủ mua. Có mấy người mua Iphone 4 mới ra giá tương đương 900 Đô.Thử tính sơ đi, sẽ thấy cán bộ, đảng viên và những người ăn theo trong nước việt cộng giàu thế nào trong thời kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Cái thời Đảng Nhà Nước và bọn tài phiệt theo cướp của quốc gia, bóc lột công người lao động như thời kinh tế tư bản hoang.

Từ hải ngoại, người Việt hải ngoại cũng đóng góp cho cái giàu của đảng viên, cán bộ và bọn tài phiệt ăn theo trong nước. Mỗi năm “Việt Kiều” gởi về nước 8 tỷ Đô và về chơi mang theo để xài tối thiểu cũng 6 tỷ nữa ( 300,000 người về, mỗi người tốn 2000$ để xài). Liên Hiệp Quốc viện trợ 3 tỷ. Sơ sơ Đảng Nhà Nước thu được 17 tỷ là giá chót. Đó là chưa nói số ngoại tệ Đảng Nhà Nước bòn vét tài nguyên dầu khí, cao su, gạo, v.v đem bán thô cho ngoại quốc. Phải hàng chục tỷ nữa.

Nếu so sánh với chánh quyền Việt Nam Cộng Hoà thời trước 75 ở Miền Nam mới thấy CS họ hoang phí vô độ. Việt Nam Cộng Hoà khi xưa chỉ nhận viện trợ dân sự 700 triệu Mỹ Kim mà phải lo cho 17 triệu dân với giáo dục công lập, y tế công cộng miễn phí. Tài trợ cho đồng bào Miền Trung ăn gạo giá có thể chịu được.

Thế nhưng khi có thiên tai bão lụt, nhân dân và chánh quyền đùm bọc lấy nhau, đâu có ngửa tay xin ngoại quốc. Và công dân VNCH lên máy bay đi ngoại được các nước xem là công dân của một nước có nền kinh tế phát triển, hơn Đài Loan, Nam Hàn, Thái Lan.

Còn bây giờ, Đảng Nhà Nước Cộng Sản Hà nội là cơ quan có nhiệm vụ pháp lý và đạo lý phải lo cứu trợ. Luật CS Hà nội qui định không tổ chức nào trong và ngoài nước được phân phối tiền cứu trợ tại Việt Nam ngoại trừ cơ quan cứu trợ có thẩm quyền từ Trung Ương tới địa phương do Mặt Trận Tổ quốc lãnh đạo (Thông tư số 72/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính & Nghị định số 64/2008/NĐ-CP ngày 14/05/2008 của Chính phủ). Thế mà Đảng Nhà Nước giàu nứt đổ đổ vách lại lơ là không làm. Mà người Việt Hải ngoại đi làm một việc Đảng Nhà Nước CS cấm không cho làm.Người Việt hải ngoại làm là trái luật của CS Hà nội. Nên đa số thu tiền ở hải ngoại đem về nước làm từ thiện đều tuyên bố khi thu rằng sẽ giúp trực tiếp cho dân. Nhưng kinh nghiệm cho thấy tất cả đều phải qua nhà cầm quyền CS ở địa phương mới đi đứng, gặp gỡ người cần gíúp được. Ở trong xứ CS không thể họp dân mà nhà cầm quyền không hay biết.

Trong việc cứu trợ nhà cầm quyền địa phương có uyển chuyển với những người ngoại quốc vì có lợi cho họ. Họ không đòi hỏi phải giao tiền và quà cứu trợ cho họ vì họ biết đòi hỏi như thế “Việt Kiều” sẽ không đồng ý. Họ cho Việt Kiều đứng ra phát để chụp hình đem về chứng minh và làm thành tích của hội đoàn ở hải ngoại. Nhưng họ nắm quyền lợi của CS bên trong. Họ được “Việt Kiều” phải quấy với họ, làm “thủ tục đầu tiên” khi gặp để xin phát cho dân. Họ chọn người được phát đa số là thân nhân, bè bạn của họ.

Số tỷ, triệu phú Đô la ở VNCS hiện rất nhiều. Đảng Nhà Nước CS Hà nội rất giàu. Họ quá giàu đến đổi phải hoang phí. Không lý do gì người Việt hải ngoại lại đi làm vú sữa cho họ nữa. Mấy mươi năm đã quá thừa rồi. Không lý do gì để CS và những người chuyên sống bằng nghề từ thiện lợi dụng tình đồng bào, khai thác tai nạn của dân chúng để móc túi người Việt hải ngoại nữa. Người Việt có thương ai, giúp ai cứ gởi trực tiếp, đường dây chuyển tiền bây giờ quá dễ./. (Vi Anh)
***************
Hà Nội ăn tiêu xa hoa
Vũ Thanh Bình - Lâm Hoài

TTCT - Ăn sáng bằng một tô phở 650.000 đồng, ăn tối trong một căn phòng vàng và đêm đến thì ngủ ở một khách sạn với giá 6.200 US đô la một đêm...? Hà Nội là nơi có thể thỏa mãn bất cứ ai có tiền bằng những dịch vụ đắt tiền như thế.

Trên những con phố Hà Nội chật chội, ngột ngạt vì kẹt xe, vỉa hè ngập tràn những quán vịt om sấu hay bún ốc, ít ai ngờ rằng thủ đô có những chốn “xứng danh kim tiền” đến vậy.

Ấn tượng đầu tiên về khách sạn Grand Plaza Hà Nội khánh thành mới đây trên đường Trần Duy Hưng, gần Trung tâm hội nghị quốc gia, là từ sảnh lớn cho tới nhà vệ sinh đều dát kim loại màu vàng. Khách sạn có 618 phòng khách cao cấp và phòng hạng sang cùng nhiều nhà hàng mang nhiều phong cách ẩm thực, phòng tiệc, hội nghị...

Có hai phòng tổng thống với giá cao ngất: phòng 325m2 giá 3.900 USD/đêm, còn phòng 410m2 giá 6.200 USD/đêm, tức hơn 125 triệu đồng. Kim loại màu vàng dát đầy trên các chi tiết trang trí trong phòng, theo như lời kể của ban quản lý khách sạn. Bước vào căn phòng này, sờ tay vào cái giường ngủ của “tổng thống”, ta có cảm giác như mình đang bước vào một bảo tàng kim hoàn.

Nếu đã ở phòng “tổng thống” thì sao không đi ăn tối theo kiểu “hoàng đế”, với một phòng ăn được gọi là phòng vàng tại nhà hàng Long Đình trên phố Quán Sứ? Nhà hàng này nhìn bên ngoài cũng khá bình thường, nhưng có thêm những phòng ăn đặc biệt gọi là phòng vàng, phòng bạc. Những ly tách muỗng nĩa trên bàn lấp lánh màu của kim tiền. Thực đơn của quán toàn những món với tên gọi hào nhoáng và tiền thì tất nhiên cũng... xả láng. Cô Phạm Thị Vân Anh, phụ trách PR của công ty sở hữu nhà hàng này, cho biết một bát xúp vi cá giá 72 USD, một bữa tiệc có giá ít nhất cũng 800 USD.

Anh Việt, một doanh nhân Hà Nội từng mời bạn hàng Trung Quốc đến nhà hàng Long Đình, kể: “Người ta đến đây để hưởng cảm giác yến tiệc hơn là để ăn. Hôm đó năm người, tôi phải thanh toán hết gần 2.000 đô...” - anh cười. Cung cách phục vụ như thế nào là tùy theo ý muốn của khách, nhưng theo giới thiệu của nhà hàng thì khi ngồi ở phòng vàng, thực khách được phục vụ như “hoàng đế”.

Bát phở giá bằng cả tạ thóc

Bát phở bò này có giá 650.000 đồng, bằng giá một tạ thóc nếu tính giá cao 6.500 đồng/kg. Nhưng “có người sáng nào cũng ăn, có người kéo cả gia đình ba bốn thế hệ đến thưởng thức, thanh toán tiền ăn sáng hết vài triệu đồng là chuyện bình thường” - ông Tô Lâm, tổng giám đốc khách sạn Vườn Thủ Đô kiêm ông chủ nhà hàng trong khuôn viên khách sạn, nơi duy nhất ở Hà Nội bán loại phở bò đắt khủng khiếp này, kể về khách hàng của mình. Bãi đỗ xe nhà hàng chật ních những loại xe sang trọng, đắt tiền như Porche, Lexus...http://chungtoimuontudo.files.wordpress.com/2012/03/02-_chiec_rolls-royce_phantom.jpg

Có gì khác biệt giữa hai loại phở? Phở Sagagyu 650.000 đồng được đặt trong tô bằng sứ có mạ vàng với một cái muỗng cong, còn bát phở bò Mỹ 125.000 đồng đặt trong tô thường, muỗng thẳng. Cũng khác biệt so với phở thường nữa là ở chỗ nhân viên chỉ mang bát phở có nước dùng ra, phần thịt bò được thái mỏng bằng máy và bọc trong một đĩa riêng để khách hàng tự tay nhúng. Khi cho vào bát phở chỉ sau chốc lát thịt bò đã chuyển từ màu đỏ sang màu sẫm. Cho vào miệng nhai có cảm giác miếng thịt tan rất nhanh, mềm, đậm đà và thơm. Ngoài ra còn có loại phở Kobe giá 500.000 đồng chế biến từ thịt bò Kobe, hoặc “mềm” hơn là phở Wagyu với thịt bò Úc có giá 220.000 đồng.

Làm khách sạn hơn 20 năm, bán phở đã năm năm nhưng chỉ hơn một năm trở lại đây ông Lâm mới bán phở bò Kobe. Ban đầu ông chỉ có mong muốn đơn giản là mang đến cho khách hàng những món ăn truyền thống đậm đà hương vị xứ Bắc. Nhận thấy thị hiếu khách hàng đất Hà thành ngày càng cao, ông quyết làm một bước đột phá: bán loại phở bò thượng hạng. Không ngờ món phở bò “quý tộc” này lại thu hút nhiều khách hàng đến vậy.

Ông Tô Lâm cho biết mặc dù đắt đỏ là vậy, nhưng nhiều hôm cả ba nhà hàng của khách sạn phục vụ 150 suất ăn một lúc vẫn bị quá tải. Lượng khách thưởng thức món phở này khá phong phú nhưng theo lời ông Lâm, hầu hết là giới doanh nhân tiếp đối tác, bàn chuyện làm ăn. Khách cuối tuần thường là gia đình giàu có.

Đứng dậy cầm hóa đơn thanh toán, dù biết trước giá cả nhưng chúng tôi không khỏi “xót ruột” khi trả hơn 800.000 đồng cho hai bát phở bữa sáng. Chợt nghĩ tới hóa đơn thanh toán của những người kéo cả gia đình đến ăn sáng bằng phở bò Kobe. Giá tiền trả cho một bát phở Sagagyu có thể đủ cho một bữa tiệc 5-6 người với vịt om sấu và rượu vodka - món ăn thuộc loại thịnh hành nhất trên vỉa hè Hà Nội hiện nay.

Hà Nội còn rất nhiều thứ xa hoa khác đang phô diễn trên những “ngõ nhỏ, phố nhỏ”, từ những chiếc xe siêu sang cho đến những cửa hiệu thời trang dành cho người có thu nhập rất cao. Những thương hiệu thời trang danh tiếng nhất trên thế giới khi vào Việt Nam vẫn chọn Hà Nội là điểm đến đầu tiên. Chẳng hạn như nhãn hiệu Hermes tại Việt Nam hiện chỉ có ở Hà thành, trong một khách sạn nổi tiếng nhất tại trung tâm thành phố. Và bây giờ là khách sạn 6.200 USD/đêm, là bữa tiệc vàng...

Còn bò Kobe hay Sagagyu? Vấn đề khiến người ta ngỡ ngàng không phải ở chỗ nó là món thịt đắt nhất vì chúng vẫn được bán nhiều trong các nhà hàng khác ở Việt Nam đấy thôi, mà là chuyện nó nằm trong một tô phở - món ăn vẫn bán đầy vỉa hè ngoài kia. Chẳng đâu xa, chỉ cần bước ra khỏi Vườn Thủ Đô mấy trăm mét, ta gặp ngay một cái bàn ven đường dưới tấm vải bạt, nơi những sinh viên, công nhân đang xì xụp những tô phở 15.000-20.000 đồng nghi ngút khói.

 -----------
Ngân hàng lạnh cẳng, người dân lạnh theo
Tôi đã từng “kể khổ” với bạn đọc là ở VN, người dân sợ nhất là đến bệnh viện và đến các “cửa quan” để “xin cho” bất cứ việc gì, dù là việc “nộp tiền” (ở đây thường gọi các khoản này là “phí”, như phí giao thông, phí trước bạ, phí gửi xe… thôi thì đủ thứ phí). Đến đâu nếu không bị ghẻ lạnh thì cũng bị coi như “cái gì đó trước mặt, như tờ giấy, như cái ly” chứ không phải người dân mà mình có bổn phận phải phục vụ, hay nói cho khoa trương – cho có lập trường – là làm đầy tớ nhân dân. Mỗi lần thoát được 2 cái “cửa ải” ấy là như thoát được một gánh nặng.

Nhưng ngày nay có một nơi người dân đến là được đón tiếp rất nồng hậu. Đó là nơi nhà cao cửa rộng, có vài chú bảo vệ đứng gác đàng hoàng, có khi phải bước lên đến hàng chục bậc thềm đá hoa cương, máy lạnh chạy êm ru suốt ngày đêm, khung cửa kính sáng loáng to đùng rất thông minh, vừa thấy khách dợm chân chưa kịp bước vào đã tự động mở toang. Văn minh hết chỗ chê. Tôi cam đoan với bạn đó không phải là chốn ăn chơi bê bối mà ngược lại đó là một nơi chốn rất đứng đắn, làm việc nghiêm chỉnh tất bật hơn bất kỳ công sở nào.
Và một đặc điểm nữa là nơi này không hề phân biệt sang hèn như những nơi chốn khác. Chắc bạn thừa biết, ở đâu cũng vậy, bạn đi “ô tô con”, ăn diện kiểu quý tộc sẽ được đón tiếp nồng hậu hơn những anh coi bộ “gia tư nghĩ cũng thường thường bậc trung”. Còn anh nghèo tục gọi là “bình dân”, xồ xuề như dân “chợ búa” thì bước vào một tiệm ăn hơi sang một tí cũng bị coi thường. Cái nạn “phân biệt chủng tộc sang hèn” ấy ở VN, nay tuy đã bớt chút đỉnh cùng với cái cơ chế thị trường, tuy nhiên đôi chỗ vẫn còn những chuyện “quái thai mà có thật” như bún quát, phở đuổi…ở giữa thủ đô ngàn năm văn hiến.
Nhưng một “ngoại lệ” đang hình thành ở VN từ Sài Gòn đến Hà Nội, đó là một nơi bất cứ người dân nào đến, bất kể sang hèn, cũng được đón tiếp nồng hậu như tôi đã nói ở trên. Chắc bạn đã đoán ra? Thưa bạn đó là ngân hàng, bất kể đó là ngân hàng lớn hay nhỏ, bất kể là “nhà băng” của nhà nước hay của tư nhân.
Bà bán bánh bèo cũng là thượng đế

Người ta đến ngân hàng để giao dịch, thông thường là gửi tiền hay rút tiền. Cầm cố thế chấp chỉ là số ít. Và, ngân hàng bây giờ sợ nhất là “tiền”. Trước đây một năm, người dân thường chẳng cần để ý đến ngân hàng nào của nhà nước, ngân hàng nào của tư nhân và cũng không chú ý lắm đến ngân hàng lớn hay nhỏ. Cứ tiện là gửi, ngân hàng gần nhà, ngân hàng có bà con anh em giàu có thường gửi là đem đến “nộp” với thứ lãi suất hai bên thỏa thuận. Chỉ có một số đại gia, môt số những người làm ăn buôn bán lớn mới kén chọn ngân hàng. Nhưng con số điều tra mới nhất cho hay là thành phần gửi tiền ở ngân hàng, 70% là dân tiểu thương, trung lưu. Thành phần đại gia, nhà giàu chìm, nhà giàu nổi chỉ chiếm 30% trở xuống bởi họ có nhiều “kênh” làm ăn sinh lời nhiều hơn là con số 17-18% lời hàng tháng ở ngân hàng. Bây giờ bớt xuống còn 14% thì các đại gia đầu tư vào một mảnh đất, một lô hàng, một áp phe vặt, chơi chứng khoán… chỉ trong một thời gian ngắn lời một gấp đôi gấp ba. Và số tiền trong tay các đại gia lại thường không ổn định, rút ra góp vô như cơm bữa. Còn số tiểu thương và trung lưu thường gửi tiết kiệm lấy lời hàng tháng. Gửi định kỳ 1 tháng nhưng sẽ gửi lâu dài, đồng vốn của ngân hàng nhờ thế mà vững vàng hơn. Bởi vậy, các nhân viên ngân hàng được chỉ thị hẳn hoi là phải coi tất cả khách hàng đúng nghĩa là thượng đế.
Một bà bán hàng tạp hóa bình thường ở chợ Bàn Cờ, bà bán hoa quả ở chợ Vườn Chuối, bà bán bán bèo chợ Tân Định… bước vào ngân hàng được chăm sóc ngay từ cửa ra vào. Mấy cô nhân viên trẻ, xinh như mộng, hoạt bát, rất lịch sự, vồn vã chào hỏi. Càng về những ngày gần đây, sự lịch thiệp càng tăng, đôi khi quá mức cần thiết. Đến nỗi môt bà “nhà quê” được nhân viên ngân hàng cúi đầu chào hỏi, tưởng là cô ta nhầm người, cứ quay đầu lại phía sau xem cô ta có chào ai khác không, lúc biết chắc rằng cô ta chào mình mới dám ú ớ chào lại. Có lẽ cả đời bà mới được đón tiếp như “bà hoàng” ở một nơi sang trọng như thế này. Dĩ nhiên bà cũng khoái thầm trong bụng, nhưng sau khi lãnh tiền lời hàng tháng ra về rồi bà lại băn khoăn: “Bỗng dưng người ta đối xử tử tế như vậy, người ta có thể lừa mình không? Ấy cái trò đời vẫn vậy, bỗng dưng người ta tử tế quá xá với mình thì mình phải xét lại”. Bà ta lại đi “vấn kế” với nhà hàng xóm và bạn hàng trong chợ. Tất nhiên cũng có bà hiểu biết hơn chút đỉnh bèn giảng giải rằng “Nó sợ tiền chứ không sợ bà đâu. Hồi này ngân hàng giảm lãi suất, người ta rút tiền ra nhiều, họ sợ bà rút tiền ra, mang gửi chỗ khác hoặc làm việc khác nên họ phải o bế bà thôi”.
Nhưng nói đi nói lại thì bây giờ ở VN chỉ có mỗi nơi sang trọng đến là “sướng” nhất, đó là ngân hàng. Từ xưa tới nay chưa có “thông lệ” nào như thế cả. Bà bán bánh bèo cũng là thượng đế, cũng được đối xử như đại gia. Vui ghê!
Tín dụng đen từ đâu mà ra

Cách đây chưa đầy một năm thì ngân hàng (NH) ở VN cũng đón tiếp lịch sự nhưng không lịch sự quá như thế. Đôi khi mấy bác nhìn bề ngoài lèm nhèm vẫn còn bị coi thường. Vậy hãy tìm hiểu thêm nguyên nhân nào dẫn đến “cái sướng” đó của mấy bà từng được coi là “nhà quê” ấy. Ở đây tôi không dẫn chứng theo những con số biết nói, dù là nói thật hay nói dóc, hoặc thông tư chỉ thị của các cơ quan. Tôi nói theo cách nói và cách suy luận của người dân trước những hiện tượng đã và đang xảy ra.
Vào khoảng tháng 8 năm 2011, Ngân Hàng Nhà Nước (NHNN) VN quyết tâm buộc các ngân hàng phải tuân theo đúng quy định hạ lãi suất đầu vào, tức là người gửi tiền ở ngân hàng chỉ được hưởng lãi suất 14% , trong khi hầu hết khách hàng và ngân hàng đang “sống chung hòa bình” bằng cách thỏa thuận ngầm (ngầm nhưng gần như công khai, ai cũng biết và ai cũng làm) lãi suất lên đến 18-19%. Cú đấm đầu tiên là ông Nguyễn Thái Hậu, giám đốc chi nhánh Đông Á Tây Ninh, bị ông bạn là ông Nguyễn Lê Nam, giám đốc Ngân Hàng Á Châu (ACB) chi nhánh Tây Ninh (cùng địa phương), chơi một vố khá đau, nhân danh tình bạn gửi số tiền 1 tỉ đồng với lãi suất “đi đêm” là trên 15%. Sau đó sự việc được báo cho NHNN, tức khắc ông Hậu bị cách chức. Chuyện này tôi đã “tường thuật” chi tiết trong bài “Thời đại đồ đều tình nghĩa không còn” ngay sau đó.
Sự trừng phạt này coi như cú dằn mặt của NHNN khiến các ngân hàng nhất loạt tuân theo và tất nhiên khách hàng cũng chịu chung số phận. Bởi nếu khách hàng đi đêm cũng bị phạt. Luật lệ coi như được thực thi nghiêm chỉnh. Mặc dù lúc đó tình hình lạm phát và đồng tiền VN mất giá chưa có dấu hiệu suy giảm. Như ông bạn tôi đã tính toán, gửi NH lời 14%, trong khi đồng tiền mất giá và lạm phát là 20% thì người gửi vẫn thiệt hại 6%. Làm gì có chuyện thực lời là “dương” như một vài ông đã cố tình tính lộn! Cho nên ông này rút tiền ra đầu tư vào chỗ khác. Sau này tôi mới nghe tin là ông hợp tác với một vài nhà buôn cho vay lời trên 20%, có vô số doanh nghiệp không thể vay được ở bất cứ ngân hàng nào nên chạy đến xin vay. Cho vay kiểu này gọi là “tín dụng đen”. Ông và vài nhà buôn vốn là những người có cơ sở kinh doanh lớn, có nhà hàng, khách sạn luôn kín khách nên mọi hoạt động đều trôi chảy. Vậy có thể nói vì lãi suất đầu vào bị kiểm soát chặt nên đẻ ra tín dụng đen.
Tiền dư chảy đi đâu?

Thế nhưng trong một thời gian khá dài, từ tháng 9 -2011 đến vài tháng đầu năm 2012 này, các ngân hàng bớt lãi suất của khách nhưng vẫn cho các doanh nghiệp vay với lãi suất trên cả 20%, vậy mà nhiều doanh nghiệp đói vốn vẫn không thể “tiếp cận” vốn vay của ngân hàng được. Câu hỏi đặt ra là kết cục trong mấy tháng đó số tiền bớt lãi suất của dân, dư ra đó, chảy đi đâu? NHNN có biết không? Thật ra NHNN biết đấy song dù đã cố gắng cũng không thể kiểm soát được tình trạng này. Số tiền dư đó chảy vào túi các ông chủ ngân hàng! Mà chủ ngân hàng là ai, bạn đọc thừa biết rồi.
Sau một thời gian, “tín dụng đen” vỡ nợ khắp nơi khiến dân ba cọc ba đồng góp vốn mất trắng, chỉ còn nước khóc ròng. Người có tí tiền tiết kiệm cuống cuồng lấy lại tiền ở những “tín dụng đen”, ép lòng mang tiền trở lại gửi ngân hàng. Bởi nếu không gửi thì tiền mất giá sẽ mất nhiều hơn, thôi thì đành lòng với lãi suất đang bị xiết, có còn hơn không. Phải thẳng thắn nói là người dân vẫn có cái ấm ức là mình bị bắt chẹt.
U xọe ngân hàng lớn, ngân hàng nhỏ

Nhưng muốn “làm tốt”, tổ chức lại các ngân hàng, không để tình trạng “u xọe”, ngân hàng nhỏ chỉ mượn vốn của dân kiếm ăn, nợ xấu như chúa chổm vẫn khoe khoang lời to lãi lớn, có nguy cơ phá sản. NHNN xắp xếp lại các ngân hàng thành từng nhóm. Phân loại gồm có 4 nhóm 1-2-3-4. Nhóm 1-2 được xem là ngân hàng lớn, nhóm 3-4 được coi là ngân hàng trung bình và nhỏ. Nhóm 1 (hoạt động lành mạnh) được tăng trưởng tối đa 17%, nhóm 2 (hoạt động trung bình) 15%, nhóm 3 (dưới trung bình) 8% và nhóm 4 (yếu, kém) 0%. Để tránh những xáo trộn không đáng có, Ngân hàng Nhà nước không công bố danh sách xếp loại này mà có văn bản gửi riêng để giao chỉ tiêu cho từng ngân hàng.
Sự kiện này lại làm dư luận xôn xao từ người dân gửi tiết kiệm đến các ngân hàng. Vì “tế nhị”, NHNN không công bố rõ ràng nên người dân hoang mang, mù tịt, chẳng biết NH nào là lớn, NH nào là nhỏ. Ai cũng lo: “liệu số tiền mình hiện đang gửi ở NH có an toàn không ?”. Biết rõ tâm trạng này của khách hàng, một số NH nhóm trên (nhóm 1-2) đã nhanh chóng công bố chỉ tiêu của mình ra cái điều ta là NH lớn, thậm chí còn xảy ra tình trạng cạnh tranh ráo riết bằng nhiều cách khác nhau, kể cả chính sách tuyên truyền “rỉ tai”. Xem ra chính sách này mang lại kết quả không nhỏ. Xin hãy xem cách “chơi xấu” này đã từng xảy tại Hà Nội.
Chị Vân là nhân viên ngân hàng, được cử đi khảo sát xem các đối thủ có chiêu trò gì mới, chị giả bộ lân la hỏi thêm chỉ tiêu tín dụng 0% có nghĩa là gì. Một cô nhân viên của ngân hàng khác đon đả giải thích cho chị Vân: “Có nghĩa là không được cho vay nữa chị ạ. Mà không cho vay được thì lấy đâu lãi mà trả cho khách hàng. Chị gửi tiền ngân hàng em đi, bên em được Ngân hàng Nhà nước phân vào nhóm một, có chất lượng tín dụng tốt nhất đấy chị ạ”.
Ở một chi nhánh ngân hàng khác tại quận Ba Đình, nhân viên còn nhiệt tình hơn, in hẳn danh sách các ngân hàng thuộc nhóm 3 và 4 (tăng trưởng tín dụng lần lượt chỉ ở mức 8% và 0%) để tiện giải thích với khách hàng.
Chị Ngọc – một khách hàng, kể lại sau khi bước ra khỏi chi nhánh ngân hàng: “Họ nói với tôi nhóm 3 và 4 là hai nhóm có chất lượng tín dụng thấp nhất, thanh khoản có vấn đề nên kém an toàn hơn. Rồi họ khuyên tôi không nên gửi bên đó”. Hỏi về xuất xứ bản danh sách nói trên, khách hàng này được biết, đây là những tham khảo trên thị trường tài chính, nên tính xác thực không cần bàn cãi.
Giám đốc một ngân hàng cổ phần nói thẳng đây là hành vi cạnh tranh không lành mạnh, cơ quan chức năng cần có biện pháp giải quyết. Ông nói: “Văn hóa trong kinh doanh là không được hạ bệ người khác để tôn mình lên. Trong lĩnh vực ngân hàng, việc công bố những thông tin nhạy cảm như vậy sẽ gây hệ lụy xấu”.
Nhưng thời buổi này đòi hỏi “văn hóa lành mạnh trong kinh doanh” thì… hơi bị hiếm. Nó cũng hiếm gần như “văn hóa tứ chức” vậy.
Nếu không kể ngân hàng nước ngoài, liên doanh và ngân hàng chính sách, hiện nay ở VN có tổng cộng 40 ngân hàng thương mại đang hoạt động kinh doanh. Đến nay, có trên dưới 20 ngân hàng nhóm 1& 2 (nhóm NH lớn) đã chính thức công bố chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng kể từ khi thực hiện chủ trương phân nhóm.
Ngân hàng lạnh cẳng, người gửi tiền cũng lạnh theo

Còn lại khoảng 20 ngân hàng chưa có thông tin về tỉ lệ tăng trưởng cũng như vị trí phân loại mà NHNN đã hoặc chưa thông báo cho họ. Việc không công bố thông tin của NHNN là một biện pháp cần thiết nhằm ổn định thị trường tiền tệ trong giai đoạn hiện nay. Và tình trạng hiện nay là các NH nhỏ lạnh cẳng, người dân cũng lạnh lạnh cẳng theo.
Tuy rằng NHNN luôn khẳng định sẽ không bao giờ có ngân hàng nhỏ vỡ nợ. Trường hợp xấu nhất, các ngân hàng này sẵn sàng hợp nhất dưới sự bảo trợ của một ngân hàng lớn mạnh trong hệ thống. Trong thời gian “chẩn đoán và chữa trị”, NHNN luôn sẵn sàng ứng cứu kịp thời để bảo đảm thanh khoản chi trả tức thời, bảo vệ quyền lợi hợp pháp người gửi tiền. Nói cho rõ là nếu NH nhỏ không đủ tiền trả cho khách hàng thì NHNN sẽ bỏ tiền giúp NH đó trả cho dân. Tuy nhiên, chẳng người dân nào muốn mang lấy cái phiền toái vào mình, cứ nhằm NH lớn gửi cho chắc ăn. Các NH nhỏ hiện nay ở VN đang ngáp ngáp cố tìm cách xoay xở để leo lên hạng trên nhưng thật sự họ đuối sức rồi, làm sao leo lên nổi trong khi khách hàng cứ ùn ùn rút tiền!
NHNH sẽ làm gì trong bối cảnh này? Biện pháp chấn chỉnh các hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, lợi dụng việc phân nhóm ngân hàng để “chơi xấu” nhau trong kinh doanh tiền tệ là chưa đủ, vấn đề là các NH nhỏ nên để sống thoi thóp hay nên “khai tử” cho đỡ rắc rối? Và, khai tử bằng cách nào, để nó tự chết hay giúp nó “hạ cánh an toàn”. Đó là bài toán của NHNN VN. Cho nên NH nhỏ ở VN sống hay chết vẫn còn là cánh cửa còn bỏ ngỏ.
Nhưng trên hết vẫn là niềm tin của người dân với NH. Kể cả với NHNN VN trong việc huy động vàng và ngoại tệ nằm trong két sắt của dân. Không có niềm tin thì không thể làm gì được. Niềm tin ở đây phải được hiểu là tin vào mọi chủ trương chính sách của nhà nước.
Cũng liên quan đến tín dụng, mời bạn đọc cùng nhận định một chuyện khá thú vị vừa xảy ra tại Cần Thơ có liên quan tới ngân hàng và đại gia.
Nữ đại gia diễu hành đoàn “xe siêu sang” với mục đích gì?

Nữ đại gia thủy sản đất Cần Thơ, bà Phạm Thị Diệu Hiền.
Bà Phạm Thị Diệu Hiền – Tổng giám đốc Công ty thủy sản Bình An (Bianfishco) vừa xác nhận, hồ sơ xin vay 350 tỷ đồng với Agribank chi nhánh Cần Thơ bị từ chối nên đã chuyển sang xin vay có thế chấp tài sản công ty ở một ngân hàng khác. Hàng loạt ngân hàng như VDB, ACB, BIDV, Vietinbank… đã ngưng cho công ty vay vốn. Bà khẳng định với báo chí, cá nhân không nợ ai, nhưng thật ra Công ty cổ phần thủy sản Bình An của bà nợ nông dân 200 tỷ đồng chưa trả được.---------------------
------------------- Chiếc Rolls-Royce Phantom biển tứ quý của đại gia thủy sản Cần Thơ.
Tại Việt Nam có giá khoảng hơn 25 tỷ đồng (tương đương khoảng 1,3 triệu USD).
Trước đó, câu chuyện nợ nần của đại gia thủy sản đất Tây Đô – Phạm Thị Diệu Hiền trở nên ầm ĩ sau khi bà tổ chức đám cưới cho con trai với hotgirl Quỳnh Chi. Trong lễ rước dâu, bà Hiền cho dàn “xe siêu sang”, mỗi chiếc xe có giá hàng chục tỉ đồng, có chiếc lên đến 25 tỉ đồng (tương đương khoảng 1,3 triệu USD) diễu hành trên nhiều đường phố Sài Gòn và Cần Thơ. Sáng 20-2, dân Tây Đô chóa mắt, trầm trồ khi thấy hơn chục siêu xe Bentley, Roll – Royce, Lamborghini… rước dâu từ hướng TP Sài Gòn qua cầu Cần Thơ.
Hơn 8g đoàn xe sang trọng tiến về đường 30/4, TP Cần Thơ đến khu biệt thự sang trọng của bà chủ tịch hội đồng quản trị một công ty kinh doanh thủy sản tại TP Cần Thơ. 9g sáng, chú rể Trần Văn Chương, hiện là phó tổng giám đốc công ty này đã làm lễ bái đường thành thân với hot girl Quỳnh Chi, MC của kênh MTV Việt Nam.
Trong khi dàn xe siêu sang này đang diễu hành ở Sài Gòn, một số nông dân đã căng băng rôn ngay trước biệt thự nhà riêng của bà Hiền tại Cần Thơ đòi trả nợ hàng chục tỷ đồng.
Dàn siêu xe rước cô dâu từ TP HCM về vùng sông nước miền Tây.
Những nông dân đã treo băng rôn đòi nợ bà Diệu Hiền khi đang tổ chức tiệc cưới con trai là ông Nguyễn Văn Liền (Ba Liền) và bà Phạm Thị Mai. Hôm ấy, con trai ông Liền là Nguyễn Trọng Ân đã căng băng rôn trước để đòi nợ tiền mua cá. Theo ông Liền, ông và bà Mai nuôi cá chung, bán cho Bianfishco được khoảng 20 tỷ đồng chưa thanh toán hết. Hiện số nợ còn trên 15 tỷ đồng. Bà Mai cũng xác nhận khoản nợ này.
Cổng nhà bà Tổng Giám Đốc cũng bề thế không kém bất cứ quan nào.
Bà Phạm Thị Diệu Hiền cho rằng việc căng băng rôn “là hành động phá hoại” của hai nông dân bán cá nhiều năm liền cho mình. Bà nói: “Hạnh phúc lớn nhất của tôi là hàng tháng được trả lương cho trên 4.000 công nhân. Những người cố tình phá hoại tôi để làm bất lợi cho Bianfishco chẳng khác nào gây bất lợi cho công ăn việc làm của hàng ngàn công nhân”.
Chẳng biết việc trả lương cho 4.000 công nhân có phải là hạnh phúc của bà Tổng Giám đốc này không, hay những cái xe hàng triệu đô và những cái biệt thư to đùng mới chính là hạnh phúc thật sự của đại gia. Mời bạn đọc nghe vài lời bàn Mao Tôn Cương của độc giả trên các báo ở VN: Bạn Hoàng Đại Nhân viết:
- “Gửi bà Hiền, Việc nợ đến 200 tỷ là có dấu hiệu của vi phạm pháp luật, thậm chí có thể quy trách nhiệm hình sự. Hãy biết đau cái đau khổ của người dân bị quỵt nợ.Những tiếng xe gầm cùng những tiếng cười vui, pháo nổ mừng cưới lăn trên nỗi đau của bao người, những người lăn lộn ngày đêm làm ra cái tôm con cá đang bị cướp trắng, không làm rung động lòng những kẻ gọi là Đại Gia sao?”.
Bạn Quang Anh viết:
- “Lọan! Khi quản lý bị buông lỏng, người nghèo trở thành nạn nhân của những kẻ lừa đảo khóac áo đại gia. Những kẻ này hiện đang hơi bị nhiều và đa dạng. Ở Hà Nội một cơ sở y tế tư nhân tư bơm mình rất ghê, có cơ sở thuê và sơn phết hoành tráng, đầu tư hàng núi tiền vào quảng cáo cho mình là một cơ sở khám chữa bệnh cao cấp. Nhiều người và cả một ngân hàng lớn đã bỏ vào đây hàng trăm tỷ. Hiện cơ sở này đã lộ rõ là một đơn vị lừa đảo, nợ như chúa Chổm. Cá nhân ngậm đắng nuốt cay vì không đòi được tiền cho vay đã đành, Ngân hàng kia, chủ nợ lớn nhất cũng dở khóc dở cười, không dám tin là số nợ đã mất và cũng không dám thu hồi tài sản thế chấp vì nó hầu như chẳng còn có tý giá trị nào”.
Chuyện bà Diệu Hiền xin để bạn đọc nhận định.

Văn Quang 02-3-2011

Ba thế hệ đậu Tiến Sĩ

Năm nay là năm Thìn, mà Thìn nằm ở Can Nhâm, nên đối với những trang nam tử có tuổi Thìn lại thi cử đỗ đạt hay lập nên công danh sự nghiệp trong năm nầy; thì quảlà điều tuyệt diệu biết bao nhiêu. Nhưng rồng hay đi đôi với nước và mây; cho nên năm nay có lẽ cũng sẽ là năm được báo hiệu nhiều nơi trên thế giới bị nước ngập, mà nước ngập thì bao nhiêu tai ương, khổ nạn sẽ xảy ra.
Người xưa thường chúc cho người đi thi cử là: "Gặp hội Long Vân"; nghĩa là gặp được vận may như rồng gặp mây. Có mây là có mưa. Có mưa là có nước. Theo người Trung Quốc thường hay cho rằng. "Có nước thì có tiền", nhưng không biết người Việt Nam mình có câu tục ngữ nào ngắn gọn mà thể hiện được vận hội nầy chăng? Người mình thường hay chúc cho người đi thi là: Bảng hổ đề tên, sau đó là thăng quan tiến chức v.v… Đó là những sĩ tử ngày xưa theo Nho học; còn ngày nay việc thi cử không còn như trước nữa, nhưng khi đỗ đạt rồi người ta vẫn gọi là kẻ sĩ.Đó là Bác sĩ, Nha sĩ, Thạc sĩ, Tiến sĩ v.v…
Vàođầu thế kỷ thứ 20 nước ta vẫn còn những khoa thi Tam Trường. Đó là thi Hương đểlấy Tú Tài, thi Hội để lấy Cử Nhân và thi Đình để lấy Tiến Sĩ. Người nào thi đỗcả ba khoa nầy được gọi là Tam Nguyên. Ở làng Yên Đỗ đã có một vị đã đậu như thế;nên người đời gọi là: Tam Nguyên Yên Đỗ. Đó chính là Nguyễn Khuyến. Ông là một nhà Nho yêu nước, học rất giỏi, ra làm quan rồi về nhà hưởng nhàn. Đọc thơ văn của Nguyễn Khuyến như các bài: Khóc Dương Khuê, Mẹ Mốc v.v... ta thấy được điềuấy. Nhưng riêng thi sĩ Trần Tế Xương thì lận đận với con đường công danh sựnghiệp, ông đã đem chuyện học hành thi cử chẳng ra gì của mình vào trong những bài thơ tự trào châm biếm:
Tấp tễnh người đi tớ cũng đi,
Cũng lều, cũng chõng, cũng đi thi.
Tiễn chân, cô mất ba đồng lẻ;
Sờbụng, thầy không một chữ gì…
(Đi thi tự vịnh)
Mai không tên tớ, tớ đi ngay
GiỗTết từ đây nhớ lấy ngày
Họcđã sôi cơm nhưng chửa chín
Thi không ăn ớt thế mà cay
Sáchđèn phó mặc đàn con trẻ
Thưngđấu nhờ tay một mẹ mày
Cống hỉ, mét xì, đây thuộc cả,
Chẳng sang Tàu, tớ cũng sang Tây.
(Hỏng thi 1)
Ngày xưa cứ ba năm mới mở hội trường thi như vậy. Cả nước Việt Nam thời cuối nhà Nguyễn chỉ tổ chức ở Kinh Đô Huế. Lúc ấy ai muốn thi phải chuẩn bị đến truờng thi trước và khi đi thi phải mang theo cả lều, cả chõng, dĩ nhiên là có cả người giúp việc theo nữa. Vợ ở nhà trông con để chồng đi thi. Khi tiễn chồng vào Kinhứng thí đã trao cho chồng những đồng tiền chắt chiu được lâu nay để vừa lo nuôi con và nuôi chồng ăn học; nhưng ông chồng chẳng biết lý do gì mà chẳng chịu họcđòi theo bút nghiên; nên khi sờ bụng Thầy chẳng có một chữ nào cả. Thời đầu thếkỷ thứ 20 là thời giao thoa của Tây, Tàu, Nhật. Cho nên cái học từ chương thuần túy không còn nữa. Người ta bây giờ đi học tiếng Pháp để ra làm thông ngôn cho Tây, để được đi đây đi đó; chứ ít ai muốn học cái chữ Thánh Hiền kia. Do vậy mà Trần Tế Xương đã than lên như vậy cũng là điều có lý.
Một bài thơ khác của Trần Tế Xương đã diễn tả về cái học của nhà Nho thuở ấy nhưsau:
Cái học nhà Nho đã hỏng rồi
Mười người đi học, chín người thôi
Cô hàng bán sách lim dim ngủ
Thầy khóa tư lương nhấp nhổm ngồi
Sĩkhí rụt rè, gà phải cáo
Văn chương liều lĩnh đấm ăn xôi
Tôiđâu dám mỉa làng tôi nhỉ
Trình có quan tiên, thứ chỉ, tôi.
(Cái học nhà Nho)
Bây giờ trong thế kỷ thứ 21 nầy, nếu có ai đó cố gắng diễn tả cho lớp trẻ đời nay sinh ra và lớn lên tại hải ngoại về thứ bậc của các quan hạng nhất, hạng nhì (Tiên chỉ, Thứ chỉ) trong làng như thế nào, chắc là chúng sẽ lắc đầu ngoay ngoảy rồi bỏ đi. Mới gần 100 năm thôi mà xã hội loài người thay đổi khác nhau quá nhiều như vậy.
Ngày xưa có rất nhiều người sau khi đỗ đạt ra làm quan và lúc về già từ quan vào chùa tu niệm hay ở vậy để hưởng nhàn. Ví dụ như ba vị Tổ của phái Trúc Lâm Yên Tử của Việt Nam chúng ta vào thời cuối thế kỷ thứ 13 và đầu thế kỷ thứ 14 cũng đã thể hiện được việc nầy.
Vịsơ Tổ là Điều Ngự Giác Hoàng. Ông là vua Trần Nhân Tông, sau 2 lần đại thắng quân Nguyên Mông, đã nhường ngôi cho con là Trần Anh Tông, rồi chính thức xuất gia vào năm 1296 tại chùa Chân Giáo. Từ đó về sau chống gậy đi khắp nhân gian đểkhuyên người dân tu theo Thập Thiện và ông là người đã chính thức gả Công Chúa Huyền Trân cho Chế Bồng Nga của Chiêm Thành để đổi lấy 2 Châu Ô và Châu Lý, nay là 2 tỉnh Thừa Thiên và Quảng Nam.
VịTổ thứ hai của dòng phái này là ngài Pháp Loa Tôn Sư là một vị Tổ rất đặc biệt (xem thêm truyện Trúc Lâm Tam Tổ).
Riêng vị Tổ thứ ba của dòng Thiền nầy mới là một vị đặc biệt hơn. Đó là ngài Huyền Quang. Tên đời của ngài là Lý Đạo Tái. Sau khi đỗ Tiến Sĩ, Ngài có 2 câu thơ bất hủ là:
Khó khăn thì chẳng ai nhìn
Đến khi đỗ Trạng tám nghìn nhân duyên.
Khi còn là cậu ấm hay sinh đồ nghèo thì chẳng ai để ý đến; nhưng khi đỗ Trạng Nguyên, Tiến Sĩ thì có không biết bao nhiêu nàng con gái muốn theo hầu để nâng khăn sửa túi. Do vậy sau khi làm quan, ông đã xuất gia đầu Phật và trở thành vịTổ thứ 3 của Trúc Lâm Yên Tử.
Ngày xưa khi đỗ Tiến Sĩ, Trạng Nguyên thì được nhà Vua chọn làm Phò Mã. Đây là cái vinh dự của người về đầu trong chốn quan trường.
Thông thường có Vua, có Hoàng Hậu thì phải có Tam cung Lục Viện đi kèm. Thế nhưng cũng có những vị làm Vua, làm Giáo Chủ cả hằng bao nhiêu thế kỷ nay mà vẫn không lập ngôi Hoàng Hậu hay Thứ Phi. Đó là ngôi vị của Đạt Lai Lạt Ma Tây Tạng và Đức Giáo Hoàng của La Mã. Cho nên không cần Tam Cung Lục Viện làm gì.
Từ đó ta thấy rằng: Ngôi Vua là chốn cao sang nhất, nhưng trong lịch sử đã có nhiều vị chối từ. Ví dụ như Thái Tử Tất Đạt Đa (Ấn Độ), Trần Nhân Tông (Việt Nam) hay các vị Pháp Vương của Tây Tạng. Ngai vàng còn không thiết, do vậy vai Phò Mã đâu cần gì, miễn là việc thi thố tài năng để an bang tế thế là được rồi.
Riêng tôi năm Nhâm Thìn nầy (2012) có 3 niềm vui nho nhỏ liên tục mang đến qua ba thếhệ của những người xuất gia đã đỗ Đại Đăng Khoa (Bác Sĩ Văn Học). Đó là các Thầy Như Tú (Đệ tử của Sư Phụ), Thầy Nguyên Tân (Đệ tử của Sư Huynh) và Thầy Hạnh Giả(Đệ tử của tôi). Trong một nhà có 3 đến 4 đời đỗ Tiến Sĩ; nhưng rất hiếm ở Việt Nam. Năm nay Môn Phong Pháp Phái Viên Giác có được điều hy hữu nầy trong cửa Thiền. Do vậy tôi xin kể để hầu quý vị.
Đệtử của Sư phụ tôi là Thích Như Tú, Sư đệ của tôi. Năm 2002 Thầy Như Tú sau khi đậu Cử nhân Anh văn tại Việt Nam đã qua Ấn Độ tham dự lễ khánh thành Trung Tâm Tu Học Viên Giác tại Bồ Đề Đạo Tràng do Thầy Hạnh Nguyện và Thầy Hạnh Tấn thành lập. Tôi thấy Thầy Như Tú còn trẻ, có ý muốn học thêm; nên tôi bảo Thầy về lại Việt Nam lo giấy tờ hồ sơ để sang Ấn Độ du học. Trong suốt 10 năm, từ năm 2002 đến nay, Thầy Như Tú đã trải qua các kỳ thi của phân khoa Anh ngữ và Phật học ở cấp bậc MA, Mphl., Ph.D. Vào tháng 1 năm 2012 Thầy đã bảo vệ hoàn thành luận án Tiến Sĩ của mình tại Đại Học Dehli, Ấn Độ. Phần tôi và chùa Viên Giác đã chăm lo đời sống vật chất cho Thầy suốt cả hơn 10 năm nay. Nay Thầy đã ra trường, thật chẳng còn niềm vui mừng nào sánh cho bằng được!
SưPhụ tôi, tức là cố Hòa Thượng Thượng Long Hạ Trí- người đã về Tây phương Phật cách đây hơn 10 năm về trước. Chức vụ cuối cùng của Ngài là: Chánh Văn Phòng Viện Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, lúc cố Đại Lão Hòa Thượng Thích Huyền Quang còn đương thời. Khi Sư Phụ tôi viên tịch (ngày 1.11.1998 nhằm ngày 13 tháng 9 năm Mậu Dần, thọ 71 tuổi). Viện Tăng Thống và Viện Hóa Đạo có đi một tấm trướng mà ngày nay vẫn còn treo tại giảng đường chùa Viên Giác tại Hội An.
Thếhệ đầu của chúng tôi xuất gia vào giữa thập niên 60, chỉ có cố Hòa Thượng Thích Tâm Thanh, tôi và Ni Sư Như Viên và thập niên 80, 90 Sư phụ độ thêm được vài chục Thầy Cô nữa; trong ấy có Thầy Như Tú. Rất tiếc là Thầy tôi đã ra đi và 2 cây đa chùa Viên Giác cũng đã chết hết một. Người không còn có mặt trên cõi thế để chứng kiến cho người đệ tử xuất gia của mình đã đỗ đạt thành tài. Sư phụ là người canh tân, đổi mới, nên những gì khiến cho Phật Pháp triển khai thì Sư Phụ không bao giờ từ chối.
Đệtử của Sư Huynh tôi là Thầy Nguyên Tân đã bảo vệ thành công luận án Tiến Sĩ tạiĐại Học Dehli Ấn Độ trong tháng 3 năm 2012 nầy. Sư Huynh Tâm Thanh xuất gia với Sư Phụ tôi vào cuối năm 1963 tại chùa Tỉnh Hội Quảng Nam (nay là chùa Pháp Bảo) và sau đó Sư Huynh vào Sài Gòn học và tốt nghiệp tại Phật Học Viện Huệ Nghiêm, sau ra làm giảng sư của Giáo Hội. Sau năm 1975 Sư Huynh Tâm Thanh tức cố Hòa Thượng Thích Tâm Thanh về Đại Ninh lập nên Tu Viện Vĩnh Minh để chuyên tu Tịnh Độ và dạy chúng. Ngày ra đi của cố Sư Huynh là (ngày 02.4.2004 nhằm ngày 13 tháng 2 năm Giáp Thân, thọ 72 tuổi). Hiện tượng vãng sanh đã đến với người chuyên tu Tịnh Độnên Sư Huynh biết trước ngày ra đi của mình. Ngày nay chùa Vĩnh Minh do Thầy Nguyên Hiền trụ trì và Thầy Nguyên Tân là Sư đệ của Thầy Nguyên Hiền.
Khi Sư Huynh tôi còn tại tiền, Người đã gửi gấm Thầy Nguyên Tân cho tôi chăm lo về đời sống vật chất. Tôi đã sẵn lòng và nay đệ tử của Sư Huynh đã đỗ đạt thành tài. Hòa Thượng Tâm Thanh lại không có mặt để chứng kiến ngày vui hiếm có ấy. Quả làđiều đáng tiếc; nhưng dầu cho ở một phương trời nào, khi Sư Phụ và Sư Huynh tôi nhìn về cõi Ta Bà nầy, thấy đệ tử của mình thành tựu được như vậy; chắc quý Ngài cũng sẽ nở nụ cười mãn nguyện.
Đệtử của tôi là Thầy Hạnh Giả vừa bảo vệ luận án Tiến Sĩ ở Đại Học Hannover - Đức Quốc, cả điểm thi miệng lẫn thi viết thuộc hạng tối ưu. Đó là ngày 14 tháng 12 năm 2011 và ngày 14 tháng 2 năm nầy (2012) Thầy Hạnh Giả lãnh bằng. Đặc biệt luận án Tiến Sĩ bằng tiếng Đức đã được nhà xuất bản Tectum in thành sách và phát hành khắp nơi trên nước Đức cũng như các nước nói ngôn ngữ Đức tại Âu Châu. Riêng quyển luận án nầy đã được dịch ra tiếng Việt và sẽ được ấn tống trong thời gian tới trong năm 2012. Đây là quyển sách rất cần thiết cho mọi người Phật TửViệt Nam đang sinh sống tại nước Đức nầy.
Thầy Hạnh Giới hiện trụ trì chùa Viên Giác tại Hannover là anh ruột của Thầy Hạnh Giả,trước đây 9 năm vào năm 2003 đã tốt nghiệp Tiến Sĩ (Bác Sĩ Văn Học) ngành triết học, chuyên khoa về Tôn Giáo. Ở cấp Cao học Thầy Hạnh Giới chuyên về Tôn Giáo học và Anh, Pháp Văn. Sau khi tốt nghiệp, tôi gửi Thầy đi Đài Loan 4 năm để tu học. Do vậy thầy Hạnh Giới bây giờ thông thạo 5 ngôn ngữ. Nói, dịch, viết, nghe rất lưu loát bằng các thứ tiếng Việt, Anh, Pháp, Đức và Hoa ngữ.
Vào ngày 22 tháng 2 năm 2012 vừa qua chúng tôi tổ chức lễ kỷ niệm 40 năm tôi đã ở ngoại quốc và lồng vào chương trình nầy có tổchức mừng hai Thầy đệ tử của tôi và họ là huynh đệ trong một gia đình đã đỗ đạtĐại Đăng Khoa. Mọi người hôm đó đều vui, nhất là Đạo hữu Quảng Ngộ và Đạo hữu Diệu Hiền, song thân của hai Thầy.
Phần tôi, bổn phận làm Thầy còn vui hơn nữa. Tuy là giả danh trong cuộc sống, dầu cho Tiến Sĩ, Thạc Sĩ, Bác Sĩ v.v... cũng đều giả. Chỉ có Tu Sĩ mới là điều đáng nói và đáng lưu tâm hơn. Vì đã có biết bao nhiêu kẻ sĩ trong đời đã từ bỏ địa vịcủa mình để đi tìm cái sĩ ẩn dật, cái sĩ an bần lạc đạo, cái sĩ của người lấy nẻoĐạo làm vui cho cuộc sống để thật sự được giải thoát về sau nầy. Người cư sĩ tu vẫn có thể giải thoát sanh tử được; nhưng khó hơn cuộc sống xuất gia rất nhiều. Vì lẽ người xuất gia không nặng nợ tang bồng.
Thầy Hạnh Giả thông thạo 3 ngôn ngữ. Đó là tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Đức. Trước khi đi xuất gia, Thầy đã tốt nghiệp kỹ sư điện toán và khi vào chùa xuất gia vào ngày 12 tháng 2 năm 2002, cách đây 10 năm về trước, tôi đã bảo Thầy nên học tiếp để lấy bằng Tiến Sĩ và sau đúng 10 năm Thầy đã thành công, như tôi đã giao phó. Kể từ tháng 10 năm 2010 Thầy Hạnh Giả đã bắt đầu dạy tại Đại Học Hannover và Semester của năm 2012, Thầy sẽ giảng dạy về Phật Giáo Việt Nam thêm 2 Đại Học Marburg và Đại Học Jena thuộc Tiểu Bang Thüringen, Đức Quốc. Đây cũng là niềm vui và hãnh diện của tôi. Vì đó chính là mục đích của tôi từ lúc ban đầu, mong muốn làm sao Phật Giáo Việt Nam phải có mặt trong thượng tầng cấu trúc của xã hộiĐức và nay thì cây trái đã có mặt khắp chùa.
Ba thế hệ ấy, riêng tôi đã được hân hạnh chứng kiến các đệ tử của mình ăn học, tu niệm và thành tựu trên đường học vấn; nên niềm vui ấy trọn vẹn. Riêng Sư Phụ và Sư Huynh tôi không còn có cơ hội để chứng kiến điều nầy; nhưng tôi nghĩ rằng quý Ngài cũng vui khi nhìn thấy đệ tử của mình được như vậy.
Riêng Quảng Nam luôn được nhắc đến là dân của “Ngũ phụng tề phi“, nghĩa là 5 con phụng cùng bay về xứ Quảng từ triều đình Huế. Đã một lần như thế, vào một khoa thi ở đầu thế kỷ thứ 20 có 5 vị ra Huế thi và trong đó 3 vị đỗ đầu Trạng Nguyên, Tiến Sĩ;nên nhà Vua mới phong cho chức tước, quân hầu về lại quê xưa và đây cũng là xứcủa văn chương văn hóa. Quảng Nam không là xứ ngàn năm văn vật như Thăng Long, Hà Nội ngày nào; nhưng là một xứ có những nhà cách mạng lỗi lạc như: Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Hoàng Diệu, Ông Ích Khiêm, Thoại Ngọc Hầu v.v... có những nhà thơ nổi tiếng như Phan Khôi, Bùi Giáng v.v... Về phía Đạo, Quảng Nam không có Tăng Thống; nhưng Quảng Nam là nơi đã đào tạo ra 4 vị Tăng Thống trong 5 vịmà Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đang có. Đó là Đức Đệ Nhất Tăng Thống Thích Tịnh Khiết, Đức Đệ Nhị Tăng Thống Thích Giác Nhiên. Hai vị nầy đã thọ giới Tỳ Kheo tại giới đàn do Ngài Vĩnh Gia làm Đàn Đầu Hòa Thượng tại chùa Phước Lâm Hội An vào đầu thế kỷ thứ 20. Ngài Đệ Tứ Tăng Thống Thích Huyền Quang và Ngài Tăng Thống của Giáo Hội Phật Giáo Linh Sơn trên thế giới, cả 2 vị đều là con cháu của chốn Tổ Chúc Thánh tại Hội An.
Cáchđây chừng 5 năm tôi có viết một bài vinh danh 5 Thầy con xứ Quảng đã tốt nghiệp Tiến Sĩ (Bác Sĩ Văn Học). Đó là Thượng Tọa Thích Hạnh Tuấn tốt nghiệp Tiến SĩTôn Giáo Học tại Đại Học Havard Hoa Kỳ, Đại Đức Thích Hạnh Chánh, Đại Đức Thích Hạnh Đức, Đại Đức Thích Giác Định và Đại Đức Thích Giác Trí. Năm vị nầy đều là người Quảng Nam và đã thi đỗ Tiến Sĩ cùng một năm và cả năm vị, tôi cũng đã bảo bọc tài chánh cho suốt học trình nghiên cứu của Cao Học và Tiến Sĩ trong nhiều năm dài như vậy dầu nhiều hay ít, tùy theo nhu cầu của từng vị. Trong 5 vị nầy có 3 vị chính thức xin y chỉ nơi tôi và ngày nay họ đang cũng như sẽ tạo nên những thành tích cho Đời cũng như cho Đạo.
Ngoài ra từ năm 1994 đến nay 2012 đã gần 19 năm chùa Viên Giác và bản thân chúng tôi đã cấp phát học bổng cho 200 Thầy Cô du học tại Hoa Kỳ, Đài Loan, đa phần là Ấn Độ.Trải qua một chặng đường dài như vậy, cho đến hôm nay đã có 132 vị tốt nghiệp học vị cao nhất của Đời cũng như của Đạo. Đó là học hàm Bác Sĩ Văn Học chuyên ngành về Phật Giáo. Trong 200 vị ấy không có ai là đệ tử xuất gia của tôi; nhưng một số Tăng Ni cũng đã xin tôi làm Thầy y chỉ. Sau khi thành tài có một số quý vị đã về Việt Nam làm việc; đa số đến Hoa Kỳ cũng như Âu Châu và Úc Châu.
Nói ra việc nầy chẳng phải để kể công; nhưng tôi mượn cơ hội nầy để xin cảm ơn quý Cô và quý Phật Tử chùa Viên Giác đã ngày đêm làm từng chiếc bánh phát hành đểnuôi quý Thầy Cô ăn học. Ngoài ra cũng có một số Phật Tử ẩn danh giúp cho tôi trong những năm sau nầy, khi khâu bánh trái của chùa Viên Giác không còn hoạt động mạnh như xưa nữa. Vì quý Cô và quý Bác tại đây đã lớn tuổi, cần phải tịnh dưỡng nhiều hơn cũng như lo tụng kinh niệm Phật để lo cho phần Hậu Sự của mình sau nầy.
Nay tôi cũng đã ở tuổi 64 và gần 50 năm nương tựa nơi cửa chùa, tôi đã thọ ân của Tam Bảo và Đàn Na Tín Thí rất nhiều, đã san sẻ phần tài chánh của chùa và của mình để phát học bổng cho quý Thầy Cô trong vòng 19 năm như thế không gián đoạn và mỗi năm trung bình, kể cả những vị học ở cấp dưới như Cao Học, Cử Nhân và Tú Tài, con số thành không nhỏ. Nó giao động từ 30.000 đến 50.000 Mỹ Kim. Tôi sẽchính thức phát cho quý Tăng Ni đang du học tại Ấn Độ trong tháng 10 năm 2012 nầy nữa là lần chót. Rất tiếc không được góp phần cho những vị học trễ sau này.
Xin niệm ân tất cả những Thầy Cô đã cho tôi và Tăng Ni cũng như Phật Tử chùa Viên Giác đã có cơ hội đóng góp chỉ riêng tiền học bổng trong vòng 19 năm qua, con sốtrên dưới 1 triệu Mỹ Kim để đào tạo thành những nhà Bác Học cho Phật Giáo, trong đó có cả các đệ tử xuất gia của tôi, những vị đệ tử y chỉ và đệ tử của những Thầy Cô khác.
Khi phát học bổng cho qúy Thầy Cô, đặc biệt tôi không phân biệt Bắc, Trung, Nam hay hệ phái như Khất Sĩ, Nguyên Thủy hay Bắc Tông v.v... mà tất cả đều theo nhu cầu của từng vị một. Có những vị mỗi năm nhận 1.500 đô la Mỹ, có vị nhiều hơn nhưng cũng có vị ít hơn như 500 đô hay 1.000 đô la v.v... Tất cả đều lệ thuộc vào nhu cầu sách vở, tiền học phí nhà trường, ăn ở v.v...
Tôi nhu cảm thấy vui với những việc đã làm. Vì người làm ơn nên quên, kẻ chịu ơn nên nhớ. Do vậy tôi chỉ nêu lên một lần chính thức nầy và đây cũng là lần chót, không đề cập đến chuyện cấp phát học bổng trong tương lai nữa. Tôi chỉ mong rằng quý Thầy Cô khác đã ra trường nên tiếp tục hướng dẫn giúp đỡ chia xẻ với lớp đàn em của mình ở mọi hình thức khác nhau, thì không mong gì ngọn đèn chánh pháp vẫn luôn tỏa sáng khắp muôn phương.
Một ngày nào đó tôi cũng sẽ ra đi; nhưng tôi rất lấy làm mãn nguyện về những gì đã thực hiện được để giúp đỡ cho quý Thầy, Cô; và tôi nghĩ, những công việc như vậy nay chính là lúc đáng dừng lại để cho những thế hệ sau tiếp tục gánh vác vì những lý do như tôi đã nêu trên.
Người xưa thường nói rằng:
Học hải vô nhai, cần thị ngạn
Thanh không hữu lộ, chí vi thê
Nghĩa:
Biển học không bờ, siêng là bến
Trời xanh có lối, chí là thang
Dầu cho không gian có vô cùng và thời gian có vô tận đi chăng nữa, nhưng với những người có ý chí mạnh và siêng năng thì cái gì cũng có thể thành tựu được. Do vậy người Pháp cũng có câu tục ngữ là: “Sự thành công không là điều quan trọng, mà điều quan trọng là phải làm thế nào để đi đến sự thành công“.
Một học trình dài từ Tiểu Học lên Trung Học rồi Đại Học rồi Hậu Đại Học kéo dài hơn 20 năm, có người đi được trọn vẹn, còn đa phần là dang dở ở Tiểu Học hay Trung Học và bỏ đi học nghề để tìm việc nuôi thân. Những người xong Đại Học hay Hậu Đại Học là những người có điều kiện và ý chí mãnh liệt nhằm xây dựng hay tô bồi nền văn học, mới có thể hoàn thành những giai đoạn sau cùng của một người làm văn hóa. Đó là những luận văn tốt nghiệp Đại Học, Cao Học hay những luận án chuyên ngành ở cấp bậc Tiến Sĩ, Bác Sĩ. Dĩ nhiên sự học mênh mông vô cùng tận, chỉ trừkhi nắp quan tài đậy lại là chúng ta không còn có cơ hội để học nữa; nếu còn sống còn phải học để thích nghi với đời sống, với sự việc.
Mớiđây báo chí có đề cập đến 10 người Việt Nam thành công nhất trên thế giới đang ởngoại quốc qua nhiều lĩnh vực khác nhau như: Chính trị, văn hóa, khoa học, thương mãi v.v... đây là những bài học sống động chúng ta nên suy gẫm và cố gắng thực hành. Hôm nay tôi chỉ xin đơn cử hai trường hợp đặc biệt. Đó là trường hợp của một người Việt ở Mỹ và một người Việt ở Đức.
Đó là giáo sư Tiến Sĩ Trương Nguyện Thành có xuất xứ là một cậu bé bán thuốc lá ởchợ Gò Vấp Việt Nam, nay trở thành nhà khoa học tài giỏi ở Hoa Kỳ. Đọc tiểu sửcủa anh ta từ lúc tấm bé cho đến khi trưởng thành; chẳng thấy có điều gì đặc biệt ngoài tinh thần cố gắng và tận tụy. Hình như yếu tố thông minh ít được đề cập đến.
Sau năm 1975 nhiều gia đình ở miền Nam Việt Nam lâm vào cảnh suy thoái ở mọi lĩnh vực về vật chất cũng như tinh thần. Tất cả đều do vấn đề tư tưởng chủ nghĩa. Do vậy người miền Nam mới bị khốn khổ, nhiều người tìm cách bỏ nước ra đi. Cậu bé Thành thuở ấy phải về Gò Vấp để đi bán thuốc lá dạo lúc cậu ta 11 tuổi. Đến tuổi 15 cậu cùng gia đình dời về Lái Thiêu để làm ruộng, chăn trâu. Ngày làm việc, đêm xem sách, học toán cho đến khuya. Cậu được ông Thầy giáo dạy toán lưu tâm về sựthông minh và hiếu học, nên đã ghi tên ứng thí; nhưng vì trong lý lịch có cha đi lính trong chế độ miền Nam, nên cô giáo không cho đi thi. Nhưng ông Thầy dạy toán tìm mọi cách để anh Thành được ứng thí và cuối cùng anh được tuyển vào một trong 5 học sinh giỏi nhất.
Năm 19 tuổi, tuy anh đã đậu vào Đại Học Bách Khoa Sài Gòn, nhưng cha anh đã tìm cách cho anh vượt biển và cuối cùng đã đến được Hoa Kỳ. Sau một năm học Trung Học với những khó khăn về ngôn ngữ mới, anh đã bắt đầu cuộc sống tự lập ở Đại Học cho đến khi ra trường. Anh ta kể rằng: Lúc mới đến Mỹ, anh ta quen với một người bạn Việt Nam khác. Người này sau khi xong Trung Học thì đi tìm việc làm và làm việc ngay tại địa phương với công việc là bóc ruột gà Tây ở một hãng làm thịt gà. Riêng Thành vẫn cố gắng trên đường học vấn. Anh chỉ sống với một valy sách vở và số tiền học bổng nghèo nàn; trong khi đó người bạn kia sau hai năm làm việc tại hãng mổ gà Tây bây giờ đã có xe hơi và nhà riêng.
Còn anh vẫn cố gắng nghiên cứu, tìm tòi viết 16 bài nghiên cứu về khoa học giá trị.Đến năm 1992 anh về làm Giáo sư Đại Học Utah sau khi đỗ Tiến Sĩ. Sau đó anh được chọn là nhà khoa học trẻ nhiều triển vọng của Hoa Kỳ với giải thưởng 500.000 đô la cho những công trình nghiên cứu và năm 2002 anh Thành được cấp bằng Giáo Sưcao cấp, tức là bậc cao nhất trong 3 cấp Giáo Sư của Mỹ.
Sauđó anh về thăm lại chốn xưa, người bạn cũ bây giờ không còn làm trong hãng gà Tây đông lạnh nữa. Vì sau bao nhiêu năm đứng trong nhà máy đông lạnh, bây giờtay chân đã rã rời và đổi nghề khác. Khi đề cập về các yếu tố để được thành công như trên, Giáo sư Thành cho biết rằng: Người đó có tiềm năng trời phú. Thứhai, có môi trường giúp họ phát triển và thứ ba người đó có nhận thức được rằng mình có cơ hội đó hay không.
Đây là ba điều kiện cần và có. Thật sự ra, ai sinh ra trong đời nầy cũng mang theo một năng khiếu đặc biệt. Thế nhưng mình không biết nhận ra mình mà thôi. Vả lại bản chất của con người là lười biếng; chỉ muốn có kết quả sớm như mì ăn liền thì làm sao chín chắn được. Điều thứ hai quan trọng là môi trường. Cũng may là Giáo sư Thành được đi Mỹ để học; nếu chẳng may bị trôi giạt đến những rừng già hay sa mạc của Phi Châu thì chắc chắn rằng Giáo sư Thành không có ngày nầy đâu.Điểm cuối cùng là chính mỗi cá nhân có nhận thức được mình có cơ hội ấy không?
Đọc ba điều trên của một cậu bé đi bán thuốc lá dạo ở chợ Gò Vấp thuở nào, rồi chăn trâu, làm ruộng ở Lái Thiêu mà bây giờ là Giáo sư Tiến Sĩ đang đứng trên bực giảng của Đại Học Utah Hoa Kỳ, giảng cho những sinh viên Tiến Sĩ khác về công trình nghiên cứu của mình thì thật là một điều kỳ diệu.
Ngày xưa vào thế kỷ thứ 13 ở Nhật có một vị Tổ của Tịnh Độ Tông Nhật Bản, đạo hiệu là Shinran (Thân Loan); sau khi tu chứng và nương vào tha lực của Đức Phật A DiĐà để được thành tựu việc vãng sanh về thế giới Cực Lạc trong phần Giáo, Hạnh, Tín, Chứng; Ngài viết rằng: Thật ra một người mù và một người có mắt cùng đi chung trên một chuyến đò, khi qua được bên kia bờ rồi thì người mù và kẻ sáng mắtấy giống nhau ở mục đích đến, không có gì khác nhau cả. Chiếc thuyền chỉ cho tha lực của Đức Phật A Di Đà; còn người mù, kẻ sáng mắt là chúng sanh trong thếgiới nầy. Bờ bên kia, chính là sự giải thoát sanh tử. Khi qua được rồi thì ai cũng giống nhau. Đây là nhờ bổn nguyện lực của Đức Phật A Di Đà mà chúng sanh được thành tựu như vậy. Do đó pháp môn Tịnh Độ không kể kẻ phàm, người trí, xuất gia hay tại gia… tất cả đều có thể lên bờ giải thoát; nếu chúng sanh ấy ưa muốn.
Năm 1972 khi tôi còn học tiếng Nhật tại trường Nhật ngữ ở Yottsuya, có bà giáo già lúc nào cũng nhấn mạnh rằng: Ano hito Atama ga ii desu ne! (Người kia thông minh) Sono hito Atama ga warui desu ne! (Người nọ dốt, dở). Tôi đưa tay lên phản bác và lý luận rằng: Thật ra chẳng có người nào là thông minh và cũng chẳng có người nào đần độn cả. Ví dụ như lập phương trình để giải một bài toán. Đáp sốra giống nhau thì không thể nói rằng ai thông minh và ai kém thông minh. Chỉ cóđiều người giải trước và kẻ giải sau mà thôi. Bà giáo lắc đầu và chẳng nói gì. Lập luận nầy mãi cho đến bây giờ tôi vẫn còn giữ như thế. Thật sự ra yếu tốthông minh chỉ là yếu tố phụ. Yếu tố cần và chăm là yếu tố chính của mọi người. Vì lẽ Phật tánh thì không phân biệt đàn bà, đàn ông hay kẻ ngu người trí. Tất cả đều giống nhau. Điều quan trọng là Phật tánh của người ấy có sáng suốt toàn diện hay Phật tánh kia vẫn còn một phần mây mù của vô minh che phủ mà thôi. Ở đây giống nhau là Phật tánh, khác nhau là ai đã được chiếu sáng toàn diện và ai vẫn còn bịbóng mây che phủ. Như vậy Tiến Sĩ, Bác Sĩ, Kỹ Sư, Nhạc Sĩ, Đạo Sĩ, Tu Sĩ, Giáo Sĩ v.v… tất cả chúng ta đều có thể trở thành; nếu chúng ta thực tâm mong muốn điềuđó.
Câu chuyện thứ hai liên hệ với xứ Đức, nơi tôi đang ở từ năm 1977 đến nay. Khi mới đếnđây ai cũng lo chiến đấu với ngôn ngữ và cái lạnh của xứ Đức nầy. Thật ra ở Nhật cũng có tuyết vào đông, nhiệt độ ở Tokyo thỉnh thoảng vẫn ở không độ; nhưng saoở đây cái lạnh nó tê tái, mà ngôn ngữ khó vô cùng; nào der, die, das và đủ loại biến thể của ngôn ngữ nầy. Tôi ăn chay nên đi tìm mua đậu hủ và chao không phảiđơn giản như bây giờ. Phải lên tận Hamburg vào tiệm người Hoa hay xuống Aachen mới tìm mua được những món nầy.
Nhưng rồi ngày tháng trôi qua ai cũng quen đi. Bỗng một hôm, trên đường từ nhà ga xe lửa về chùa, tôi nhận thấy có một tấm bảng quảng cáo tranh cử cho đảng F.D.P (Đảng Dân Chủ Tự Do). Tôi nhìn kỹ thì thấy người thanh niên ấy dáng dấp là người Việt Nam, nhưng lại mang tên là Dr. Philipp Rưßler. Sau nầy tìm hiểu và được biết anh ta ứng cử đơn vị Dưhren; nơi gần chùa Viên Giác và anh đã đắc cử Dân Biểu tạiđịa phương nầy. Bẵng đi một thời gian báo chí lại đưa tin rằng: Dr. Philipp Rưßler bây giờ là Tổng Thư Ký của đảng F.D.P và là Bộ Trưởng Bộ Giao Thông Thể Thao của Tiểu Bang Niedersachsen. Tôi xem tin tức thấy cũng vui. Vì mình là người Việt Nam mà có người sinh ra tại Việt Nam bây giờ làm chức lớn như thế ở trong Tiểu Bang này lại còn gì vui hơn thế nữa.
Sau kỳ bầu cử Quốc Hội Liên Bang của Đức cách đây 3 năm, đảng CDU/CSU liên kết với đảng F.D.P cầm quyền và vào năm 2010 Dr. Rưßler đã được bầu làm Bộ Trưởng Y Tế Liên Bang Đức; đến giữa năm 2011 ông Westerwelle, Đảng Trưởng F.D.P, được cử làm BộTrưởng Bộ Ngoại Giao; còn Dr.Philipp Rưßler lên làm Đảng Trưởng, đương kiêm Phó Thủ Tướng. Vị trí nằm thứ 2 trong nội các liên minh, chỉ ngồi sau bà Thủ Tướng Dr. Merkel một ghế, mà người ấy lại có mái tóc đen, xuất xứ từ Việt Nam, quả làđiều mầu nhiệm. Khi Dr. Rưßler lên làm Bộ Trưởng Y Tế coi sóc sức khỏe cho 85 triệu dân Đức, nhật báo Bildzeitung (Hình Ảnh) đăng tin rằng: “Có một người không có quê hương, không có tên gọi khi mới sinh ra. Bây giờ là Bộ Trưởng Y Tếcủa đất nước chúng ta“. Đây là một tin nóng hổi, ai đọc cũng biết đó là người nào. Thế rồi tờ báo mới đi ngược dòng thời gian như sau:
Ngườiấy mới 9 tháng tuổi vào cuối năm 1973 đã được một gia đình người Đức ở Hamburg đến Cô Nhi Viện ở Sóc Trăng nhận về đây làm con nuôi và sau đó gia đình cha mẹ nuôi về ở Bückeburg, tiếp đến cậu Philipp Rưßler học Y khoa tại Đại Học Hannover. Anh thực tập trong trại lính với chuyên ngành về nhãn khoa. Vợ của Philipp ngườiở Goslar cũng là Bác Sĩ, sau khi thành hôn, bà vợ khuyên anh nên về Việt Nam đểthăm lại quê hương cũ để sau nầy hai con song sinh của anh lớn lên hỏi quê nội ở đâu thì con anh có thể biết được.
Từ đó tờ báo tiếp tục theo dõi sự việc nầy và các phóng viên cũng về tận Sóc Trăng; nơi Cô Nhi Viện Thiên Chúa Giáo đã nuôi dưỡng Dr.Philipp Rưßler từ những ngày mới lọt lòng mẹ và được đem vào đây để cho các Dì Phước nuôi. Một trong hai Dì Phước trông trẻ lúc ấy đã mất, bây giờ chỉ còn lại một bà Soeur già đã hơn 80 tuổi. Phóng viên Đức hỏi rằng: Bây giờ Soeur có mong được gì ở một ông Phó Thủ Tướng Đức mà ngày xưa, cách đây 38 năm về trước Soeur đã chăm sóc cho ông ta không? Soeur già nhoẻn miệng cười và chỉ trả lời rằng: “Tôi chỉ muốn giữ lại hình ảnh của đứa bé 9 tháng tuổi thuở ấy mà thôi“. Câu trả lời thật là chân tình và đầy đủ ý nghĩa.
Đúng là vận may của Dr. Philipp Rưßler. Nếu chẳng may ông vẫn còn ở lại trên quê hương xứ Việt thì sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 chẳng biết đã ra sao! Và cũng may cho ông được một gia đình người Đức bảo trợ và nuôi dưỡng trên lãnh thổ Tự Do Tây Đức. Nếu lỡ bị sang Đông Đức hay các xứ nghèo khổ khác thì chắc gì Philipp đã có ngày hôm nay. Nhưng thỉnh thoảng người Việt tại Đức vẫn không vui mấy khi nghe những câu trả lời với báo chí của ông Phó Thủ Tướng nầy là: Tại sao người ta phải tìm lại quá khứ để làm gì? - Có lẽ ông muốn lấy lòng 85 triệu cử tri Đức? Nhưng mỗi ngày ông soi kiếng, ông vẫn thấy mình tóc đen, mũi thấp. Tuy vậy người Đức vẫn chấp nhận ông và cộng đồng người Việt ở đây vẫn thấy gần gũi với ông, vì dẫu sao đi nữa ông ta đã được sinh ra nơi mảnh đất có hình cong như chữ S.
Tôi quan sát từ trước và sau năm 1975 đến nay thì thấy rằng: Có những thế hệ Ông Bà không biết chữ, không biết ký tên mình vào Pasport; nhưng thế hệ thứ hai, con cái của những người nầy hiện là những thương gia giàu có trên khắp thế giới ngày nay. Kế đến thế hệ thứ ba được sinh ra tại xứ Đức nầy họ là Bác Sĩ, Nha Sĩ, Kỹ Sư, Tiến Sĩ v.v… Thế hệ nầy đã hội nhập hoàn toàn vào quê hương mới; nhưngđến thế hệ kế tiếp thì lại có nhiều vấn đề như tự tử, ly dị, bỏ học giữa chừng v.v… đây chẳng qua là kết quả của một chuỗi thời gian dài mà người tỵ nạn đã kinh qua. Do vậy ông bà mình xưa nay nói chẳng sai chút nào là: “Chưa có ai giàu ba họ, đâu có ai khó ba đời“ là vậy.
Với những điều tốt đẹp và thành quả đã nêu trên bên Đời cũng như bên Đạo, tôi không có ý tự hào, tự mãn mà chỉ tin vào khả năng của mỗi người trong chúng ta khi đối diện với sự học hành, thi cử cũng như những công việc hằng ngày; và tuyệt nhiên không có tính cách khoe danh là tôi được thế nầy, mà người khác chẳng được. Nếu người khác muốn thì vẫn làm được như thường. Vì tục ngữ Pháp có câu: “Vouloir c'est pouvoir“ (Muốn là được).
Tôi viết bài nầy với tất cả niệm chân tình của mình đối với những bậc Trưởng Thượng cũng như đối với Sư Đệ, Sư Điệt và Đệ Tử của mình và những người không quen biếtđã một thời làm rạng danh cho dòng giống Lạc Hồng tại xứ người; nhưng nếu nhìn dưới nhãn quan của Phật Giáo, bất cứ là Sĩ nào trong xã hội nầy cũng đều bị biếnđổi bởi vô thường, khổ, không và vô ngã cả. Không có bất cứ cái gì có thể tồn tại trong đời nầy ngoại trừ cái tâm. Tâm ấy dẫn đầu các pháp, tâm ấy tạo ra thiện ác. Do vậy tu tâm là quan trọng để chúng ta làm sao thoát khỏi vòng sinh tử, tửsinh nầy mới là điều đáng quý. Còn bao nhiêu Vua, Quan, Công, Hầu, Khanh, Tướng, Sĩ, Nông, Công, Thương, Binh v.v… cuối cùng rồi cũng đi vào chỗ không to tướng mà thôi.
Mong mọi người hiểu được như vậy.
Thích Như Điển
Viết xong vào ngày 12 tháng 2 năm 2012
tại Tu Viện Viên Đức.
Kỷniệm ngày Hạnh Giả xuất gia 10 năm về trước.
-----------------



THIÊN ĐƯỜNG MỚI : Cái Xứ Cộng Sản Nó Sống Ác Độc

Hành quyết "hậu duệ Lão Tôn" 
Được xem là trọng khách mỗi lần lên vùng sơn cước Phong Nha - Kẻ Bàng này, anh bạn nối khố vốn ở vùng chiêm trũng giờ lên định cư ở đây, được mệnh danh trùm nhậu mời tôi dùng bữa trưa.
Vừa vào quán, bà chủ đon đả “bạn quý của chú à, lại đặc sản khỉ nhé?!”. Bạn tôi lắc đầu, rồi rỉ tai “không nên ăn khỉ ở đây”.
(Ảnh: H.N)
Hầu quyền khó thoát bả chuột Trung Quốc
Bữa cơm toàn đặc sản được lấy từ sông suối vùng Phong Nha - Kẻ Bàng, nào là cá chình, tôm càng khe, rau tớn (một loại rau sạch như đọt cây dương xỉ)... nhưng cái sự “không nên ăn thịt khỉ...” của bạn khiến tôi không khỏi thắc mắc. Bởi từ lâu nó đã được dân nhậu vùng này mệnh danh là “G. Khỉ”. Mê khỉ hơn mê gái, gần như ngày nào nó cũng ăn thịt khỉ, vậy mà hôm nay...
Hỏi thì sợ khiếm nhã, lần lừa mãi đến gần cuối bữa ăn, lấy tư cách là bạn tri kỷ tôi đặt vấn đề “sao hôm nay ông không ăn thịt khỉ?”.
Bạn tôi cười nhăn nhở “ông thích ăn thì tí nữa đi chỗ khác, còn ăn ở đây không sớm thì muộn sẽ toi mạng. Khỉ ở các nhà hàng hầu hết là do người ta dùng bả chuột Trung Quốc để bắt về đấy”.
Bạn tôi tiếp: “Đây là công nghệ bắt khỉ mới được phát kiến tại vùng này và hiệu quả hơn rất nhiều lần so với các phương pháp truyền thống như đặt bẫy hay dùng nỏ, súng đạn hoa cải.
Đặt bẫy, năm thì mười họa mới được một con, còn dùng súng săn thì cũng chỉ được vài con, nghe tiếng nổ là cả đàn chạy biến hết”.
(Ảnh: H.N)
Theo bạn tôi, để bắt được nhiều khỉ người ta dùng bả chuột Trung Quốc, với liều lượng thật nặng, tẩm vào các thứ mà khỉ thích ăn như: chuối, khoai lang, cơm... đặt ở những vị trí khỉ hay tụ tập hoặc nơi trú ngụ của chúng. Khỉ là giống có tính bầy đàn rất cao, một con ăn thì kiểu gì cả đàn cũng ăn, thế là chết hàng loạt.  
Đặc điểm của giống khỉ là dù có chết, chúng cũng lết về đúng nơi trú ngụ để chết, nên người ta cứ buổi chiều đi đánh bả, sáng ra chỉ cần đến một địa điểm để thu gom.
Mỗi nhóm đi đánh bả, kiếm được vài chục con khỉ là chuyện thường ngày, có khi lên đến cả trăm con. Có được khỉ người ta đem nhập cho các nhà hàng đặc sản, dùng không hết thì đem nấu cao hoặc ép khô bán cho dân nhậu. Món khỉ ép khô được dân nhậu ở vùng cao gọi là “mực khô”.
(Ảnh: H.N)
“Nhiều khỉ nhất vẫn là vùng núi xung quanh trạm kiểm lâm Trộ Mơợng, trên đường Hồ Chí Minh nhánh Tây, thuộc vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Ở đây mà dùng bẫy và súng thì xúc phạm các bác kiểm lâm, nên dùng cách đánh bả là an toàn, hiệu quả và không làm mất lòng ai” - Bạn tôi nói.
“Làm sao để phân biệt được khỉ bắt bằng phương pháp truyền thống và khỉ được bắt bằng đánh bả chuột Trung Quốc?” - Tôi thắc mắc.
Bạn tôi cười, sau cái nháy mắt, đứng lên nói ra vẻ thành thật: “Bà chủ đâu, có chú khỉ nào còn nguyên lấy một con để biếu bạn mang về xuôi nhậu”. Bà chủ từ trong bếp chạy ra đon đả: “Bao nhiêu cũng có”.
Bà chủ quán dẫn hai chúng tôi vào một gian phòng nhầy nhụa nước dưới nền, ở góc phòng là một cái tủ lạnh chuyên dụng khá to. Mở nắp, phía trong có 5 chú khỉ nhăn nhở, cứng đơ đông lạnh.
Xách một con lên, chừng 8kg, bạn tôi rỉ tai: “Xem cho kỹ, khỉ mà được đánh bả là trên người không hề có vết thương, toàn thân tím tái, còn nếu mổ ra thì toàn bộ nội tạng bị nát như tương”.
Một vụ hành quyết hậu duệ Lão Tôn
Sau một hồi chê đắt, chê rẻ không mua, chúng tôi rút. Vừa ra khỏi cửa quán, bạn tôi hỏi “ăn thịt khỉ sạch nhé?”. Tôi gật.
(Ảnh: H.N)
Chiếc xe lao thẳng theo hướng đường Hồ Chí Minh nhánh Đông chừng mươi phút là đến Khe Gát, thuộc xã Xuân Trạch (Bố Trạch), rẽ theo hướng nam đường Hồ Chí Minh nhánh Tây một lúc nữa, chúng tôi đến một xóm nhỏ nằm ngay cạnh trạm kiểm lâm Trộ Mơợng. 
Ngôi nhà mà chúng tôi vào nằm ven đường. Nhìn những vật dụng trong nhà đều được dùng bằng các loại gỗ quý, cũng đủ biết chủ nhân của nó thuộc hạng đại gia…nhờ rừng.
Một người đàn ông chừng trên dưới 40 tuổi đon đả đón khách “nghe chú gọi điện có khách quý anh đã sai mấy thằng đệ lấy một con khỉ sạch về đây rồi, đang làm ở phía sau”.
Nhấp một ngụm trà từ tay chủ nhà mời, tôi xin phép đứng lên để ra phía sau xem mọi người làm thịt khỉ. Một chú khỉ đực chừng 10kg, đã nhúng nước sôi và đang được hai người cạo lông nằm sóng soài trên nền xi măng.
Một trong hai người làm giới thiệu: “Đây là giống khỉ đuôi lợn vừa bị một thợ săn trong làng bắn được sáng nay nên còn tươi lắm”. Tôi xin phép họ được quay phim, chụp ảnh, mọi người cười: “Anh cứ thoải mái, mình làm ở nhà ăn chứ phải buôn bán chi mà sợ”.
Tận mắt chứng kiến cảnh hành quyết hậu duệ Lão Tôn tôi cứ gai lạnh dọc sống lưng. Sau khi nhổ sạch lông, trắng bạch như một đứa trẻ, chú khí được đưa lên lửa thui cho đến khi da vàng ươm rồi đưa xuống để mổ. Lúc này tôi mới nhìn kỹ, thì ra chú khỉ này bị một phát đạn ở ngực khiến máu đọng lại ở đấy rất nhiều.
Toàn bộ thịt được róc ra ướp với gia vị để nướng, tay chân và những thứ còn lại được cho vào nồi để nấu cháo. Một trong hai người làm có vẻ sành sỏi giới thiệu: “Em có thể làm được bảy món như cầy, nhưng nghe nói bác vội nên hôm nay chỉ làm hai món thôi”.
Đang trò chuyện với chủ nhà thì món nướng được đưa lên. Mật khỉ được cho vào can rượu đế và cuộc nhậu bắt đầu. Hình ảnh chú khỉ trắng bệch như đứa trẻ nằm sóng soài trên nền xi măng khiến tay tôi run bật khi cầm đũa.
Chủ nhà vồn vả: “Ăn đi, kiếm ra khỉ sạch mà ăn trong thời buổi này là hiếm lắm đấy. Thi thoảng chỉ một vài tay săn trong làng “máu nghề” kiếm vài con về cung cấp cho dân sành nhậu như chúng tôi thôi”.
(Ảnh: H.N)
Một lúc thì bốn bàn tay và chân được đưa lên. Nhìn những ngón tay, ngón chân, được để trong một cái tô sành khiến tôi rùng mình. Mọi người cùng ép: “Đây là thứ ngon nhất và bổ nhất của khỉ, ông là khách quý nên nhường ông thưởng thức”.
Từ chối mãi không được, tôi đành cho một bàn tay vào bát của mình và trân trối nhìn nghẹn đắng. Mọi thực khách trên bàn mặt đỏ phừng vì ngấm rượu và bắt đầu bình phẩm về món khỉ “kích âm, bổ dương”.
Khi chia tay, bạn tôi hỏi: “Cảm nhận thế nào?”. Tôi cười méo xệch: “Ông không nhìn xuống gầm bàn à?”.
Trở về Đồng Hới, tôi cứ vương vít mãi câu nói của bạn tôi khi chia tay: “Cố mà ăn đi, với công nghệ bắt khỉ bằng bả chuột như hiện nay thì mai mốt có muốn cũng không còn khỉ mà nhìn đâu”.
Theo Hoàng Nam
 ============ ========= ========= ====
Hành quyết rùa: Từ A đến Z
Rất vô tình tôi được chứng kiến bữa tiệc… rùa trên đất Quảng Trị. Chủ quán nói: Đây là rùa từ Lào đưa về, chỉ vùng Quảng Trị, Quảng Bình mới có. Phóng viên đã ghi lại một số hình ảnh cuộc hành quyết loài động vật hoang dã này.
anh-3.jpg
Các chú rùa mai cứng như đá được lôi ra từ bao tải cho khách chọn. Khách chỉ con nào, con đó được vật ngửa ra đặt lên bàn cân. Tổng cân nặng 6,5 kg. Giá bán: 300.000 đồng/kg kèm theo công nấu nướng, các đồ gia giảm và nấu nướng, phục vụ, rẻ hơn ăn ba ba nuôi ở Hà Nội.
anh-1.jpg
Cân xong, các chú rùa được “tắm rửa” sạch sẽ bằng bàn chải cỡ lớn.
anh-4.jpg
Một “sát thủ” đã chuẩn bị sẵn đồ nghề: móc, dao nhọn, khăn lau… để thực hiện ngay “lệnh hành quyết”.
anh-5.jpg
Mấy chú rùa dường như đã biết nguy hiểm nên rụt sâu đầu vào vỏ. Nhưng đâu có được! Một chiếc dùi sắt dưới bàn tay khéo léo được chọc sâu vào mai lôi đầu rùa ra.
anh-6.jpg
Đầu rùa được móc ra, bàn tay của chú thanh niên chộp lấy kéo mạnh… Rồi khăn lau, rồi hứng bát, rồi chọc dao…
anh-7.jpg
Việc phanh thây không phải là tứ mã mà được giao cho hai thanh niên. Dao thép lách vào các khía, búa giáng liên tục, tấm mai chắc chắn bị phá vỡ.
anh-9.jpg
Và sau khi mai đã bị bóc thì lòng được móc
anh-8.jpg
Thịt được pha thành từng miếng theo tính chất của các món ăn sẽ được làm.
Rồi các món ăn được lần lượt đưa lên, Dzô… dzô liên tục, rượu tràn ly, gắp – rót liên tục, nói năng ồn ã, tiếu lâm tuôn ra, tiếng cười giòn giã, phủ phê… Dường như người ta quên mất mình đang góp phần làm tuyệt diệt một loài động vật hoang dã.
  • Phương Đông
    (Ảnh chụp bằng điện thoại di động)
  • http://bee.net. vn/channel/ 2122/2009/ 07/1713302/
---------------------
Một Việc Làm  Tàn Ác !!!


Cái chuyện này xảy ra lâu đời lắm rồi  bác ơi ... từ cái hối tôi còn bé tí teo 8,9  tuổi gì đó ở Đà nẵng Quảng Ngãi v.v. tôi theo bố mẹ lang thang đây đó khắp nơi vì ông bố tôi là quân nhân trong QLVNCH không ở chỗ nào vững chắc hết rày nay mai đó  ... thịt khỉ là rất thông thường còn có thịt cọp  thịt heo rừng v.v.. đồng bào thượng đem bán ở chợ ven rừng.. thịt cọp ăn ngon như thịt bò ... xương thì rất mắc mấy chú ba thường mua xương làm cao hổ cốt  ... xương mắc cả 1000 lần thịt cọp .... nay chắc việt nam chẳng còn con cọp nào nữa người ta xơi hết trơn hết trọi rồi .... ủa mà tôi vẫn nghe nói việt nam vẫn còn nhiều cọp cái ... nghe nói lại còn có cả sư tử gì đó từ tỉnh hà đông từ ngoài bắc mang vào  thế mới kinh chứ ... lạ thật sư tử thường to béo phì nộn lại hay gầm thét làm sao mà chuyên chở đem được dzô nam vậy cà ? nghe nói sư tử hà đông cũng sang nhiều được tới Mỹ Canada cả Pháp nữa thế mới thế mới kinh chứ ... hèn chi đi đâu tui cũng thấy run run ... nghe vậy thôi bác kiểm chứng dùm...
thật tình mà nói tuy ăn thịt khỉ là ghê thiệt nhưng thật sự đâu có kinh bằng chuyên ăn thịt gái đẹp bên Trung Quốc .... bên đó bác biết hông người ta đem mấy cô gái đẹp ra mần thịt xơi ngon lành luôn thế mới khó hiểu chứ
cái chuyện không những ác ôn mà lại còn là phí của trời nữa .... Tàu ỷ đông dân 1.4 tỉ thừa thãi gái ở không nên phí phạm .... ăn thịt gái  mà cũng kén chọn ,, phải ăn thịt gái đẹp chứ không chỊu ăn thịt gái xấu ... chê ...   ngu thiệt tình gái đẹp thì ai cũng biết hiếm lắm bên Tây phưong người ta rất là cưng chỉ dùng làm kiểng ... lạ tụi tàu nếu có muốn ăn thịt gái sao không kiếm gái xấu béo hôi nách sâu quảng tràn đồng cũng được dzậy ...  nếu chịu khó làm sạch thì thịt nào cũng ngon như thịt nào ...ăn mà cũng bày đặt kén cá chọn canh  .... cứ ăn đi cứ ăn hết gái đẹp đi bữa nào hết gái đẹp .. lúc đó cu ky lòi trắng con mắt ra mà kiếm gái đẹp cũng không ra ... có chạy cùng các nước khác kiếm gái thì chỉ được gái cùi...... mấy cái xứ cộng sản nó ngu vô cùng vô tận là như vậy
để bữa nào tôi gởi hình cho bác coi ....

TUỔI TRẺ VIỆT NAM tại Hải Ngoại sẽ KHÔNG THA THỨ cho những hành động PHÁ HOẠI

MỘT LỜI TIÊN BÁO CHÍNH XÁC


http://3.bp.blogspot.com/-GmF6_mO1hcA/TvtdASTr38I/AAAAAAAAcqw/ZZqV3XNBfhU/s1600/00CoVangHienNgang.jpg
Trong một nước dân chủ, tự do như nước Mỹ hay chúng ta hay gọi la Hiệp Chủng Quốc thì phải hiểu một điều là tất cả mọi người dân cùng một lòng hướng về đất nước, một lòng phục vụ cho tổ quốc và một lòng làm lợi cho tổ quốc đó là lý do tại sao dù Cộng Hoà hay dân chủ, thiểu số phục tùng đa số, dù bất đồng chánh kiến nhưng họ vẫn tìm những lợi thế để phục vụ cho quê hương họ được thêm phú cường; Đất nước này tôn trọng tự do nhưng tự do trong khuôn phép, không được tự do trong hoảng loạn, không tự do trong đả phá xây dựng quê hương họ.
     Chúng ta, những người Việt Nam tự do qua đây tỵ nạn cộng sản, chúng ta đã học được những gì của xứ này về TỰ DO?
     Chúng ta, những người Việt Nam Tự Do đang TỴ NẠN CỘNG SẢN VIỆT NAM  tại Hoa Kỳ có những vị đã quên đi những ngày BÔN BA TRỐN CHẠY RA KHỎI VIỆT NAM  VÌ KHÔNG CHẤP NHẬN CHẾ ĐỘ HIỆN TẠI SAO LẠI ĐÚ ĐỞN QUAY TRỞ LẠI NƠI NÀY VUI CHƠI TRÊN SỰ ĐAU KHỔ CỦA NGƯỜI DÂN VIỆT, TRÊN SỰ ĐÓI RÁCH CỦA TRẺ THƠ VIỆT NAM?
     Chúng ta những người Việt Nam Tự Do qua xứ này 37 năm qua đã học được thế nào là TỰ DO chưa?
     TỰ DO TRONG KHUÔN KHỔ ĐỂ XÂY DỰNG  QUÊ HƯƠNG??
     TỰ DO TRONG PHÓNG TÚNG ĐỂ PHÁ HOẠI  QUÊ HƯƠNG???
     TỰ DO ĐẤU TRANH ĐỂ NUÔI SỐNG CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN (Không còn) ĐỘC TÀI (Đang có)???
     Xin tất cả quý vị đã viết bài phát tám trên diễn đàn hãy suy nghĩ nếu cảm thấy những  ĐẤU TRANH CHỐNG ĐỐI CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI và NHỮNG ĐẤU TRANH XÂY DỰNG QUÊ HƯƠNG VIỆT NAM TỰ DO không phù hợp với đường lối của mình thì XIN HÃY TỰ VẤN LƯƠNG TÂM MÌNH ĐÃ LÀM ĐƯỢC GÌ CHO QUÊ HƯƠNG SAU 37 NĂM LY HƯƠNG????
      NẾU CHƯA XIN ĐỪNG ĐẢ PHÁ NHỮNG GÌ NGƯỜI KHÁC ĐANG CỐ GẮNG LÀM và hãy im lặng sống nốt những ngày còn lại trong
      cuộc sống THA PHƯƠNG CẦU THỰC vì còn nhận mình là người QUỐC GIA.
      NẾU ĐẢ PHÁ VÌ MUỐN BẢO VỆ CHO CHẾ ĐỘ HIỆN TẠI xin HÃY CÂM MIỆNG VÀ TRỞ VỀ VIỆT NAM ĐÀN ÁP DÂN LÀNH,
      HÚT MÁU MỦ QUÊ HƯƠNG .
      Trên mảnh đất tạm dung này, chúng tôi những người Việt Nam Tự Do đang cố gắng đi tìm những con đường hướng thượng để chín mươi triệu người Việt Nam tại quê nhà được hưởng QUYỀN LÀM NGƯỜI  như chúng ta đang được hưởng; Cho quê hương Việt Nam được BẢO TOÀN LÃNH THỔ, ĐƯỢC TỰ DO, KHÔNG CỘNG SẢN, KHÔNG ĐỘC TÀI.
       Trên xứ sở này, cơ quan FBI  đã loại chế độ Cộng Sản, Độc tài  ra ngoài vòng pháp luật (Đã có thông báo); với 130.000 ý kiến xây dựng đã chứng tỏ cho đám quậy phá biết rằng đây không phải là chỗ dung thân đâu và TUỔI TRẺ VIỆT NAM tại Hải Ngoại sẽ KHÔNG THA THỨ cho những hành động PHÁ HOẠI này.

PNN

-------------------------
TA VÀ NGƯƠI (7)
 
 
Ngươi làm báo tội gì khen lũ Cộng
Ngươi ra thơ ...Ta đây cũng làm thơ
Ta dùng thơ tranh đấu dựng màu cờ
Ngươi cầm bút tô son màu cờ máu
 
Thơ Ta viết mong sau đời con cháu
Hiểu đâu là Cộng Sản với Quốc Gia
Người ra thơ khen ngợi lũ tà ma
Dù Ngươi biết chúng gian manh xảo trá
 
Thơ Ta viết chuyện buồn nơi xứ lạ
Mượn giòng thơ gửi gấm lời yêu thương
Những lúc vui hay lúc nhỏ lệ buồn
Nhưng Ta vẫn không cúi đầu nô lệ
 
Thơ Ngươi viết hại đời bao thế hệ
Vì vần thơ lời gian dối điêu ngoa
Ngươi dùng thơ che đậy chuyện Sơn hà
Ngươi ca ngợi tên cáo Hồ anh dũng
 
Ta khuyên Ngươi mau quay về xây dựng
Đừng ngu đần theo lũ giặc Hồ tinh
Đừng dùng thơ bằng ngòi bút vô tình
Mau tỉnh thức đừng theo phường ngang ngược

Ngươi không dám chửi cha thằng bán Nước
Bán gái trinh, dâng lãnh hải cho Tàu
Vụ Thái Hà Ngươi muốn dẹp cho mau
Ngươi đàn áp phải chăng vì Tôn Giáo ?

Ngươi có biết Cộng nô phường vô đạo
Chúng tôn thờ tội ác có gì hay
Chúng hại dân gieo tang tóc đêm ngày
Nhìn Tổ Quốc điêu linh vì lũ Cộng


Nguyễn Vạn Thắng

Bài Xem Nhiều