We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 13 March 2012

ÂM MƯU BIẾN NGÀY QUỐC HẬN THÀNH NGÀY THUYỀN NHÂN?

Sau bài “Ngày Quốc hận là ngày Quốc hận”, có nhiều e-mail hỏi người viết rằng tại sao lại có âm mưu biến ngày Quốc hận thành ngày Thuyền nhân? Câu hỏi nầy đáng lẽ phải hỏi thẳng những người âm mưu. Ở đây chúng tôi chỉ phỏng đoán lý do mà thôi. Sự phỏng đoán có thể thiếu sót, xin các bậc cao minh bổ túc thêm.
1. LÀM PHAI LẠT Ý NGHĨA NGÀY QUỐC HẬN
Ngày 30-4-1975 là ngày Cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam, áp đặt chế độ độc tài đảng trị trên toàn thể lãnh thổ Việt Nam. Chế độ cộng sản chà đạp tự do dân chủ, giết hại dân lành, gây nhiều tội ác, trong đó quan trọng nhất là tội phản quốc, nhượng đất, nhượng biển cho Trung Cộng để duy trì quyền lực. Vì vậy dân chúng tự động đặt tên ngày 30-4 là NGÀY QUỐC HẬN.
Sau ngày Quốc hận 30-4-1975, hàng triệu người Việt Nam đã bỏ nước ra đi tìm tự do. Khoảng nửa triệu người bỏ mình trên biển cả. Cộng sản chận bắt, bắn giết những người tìm cách vượt biên. Lúc đầu, cộng sản gọi người Việt vượt biên là “tay sai Mỹ ngụy, chạy theo bơ sữa tư bản”.
Dần dần, người Việt hải ngoại tập họp thành những cộng đồng lớn mạnh ở khắp nơi trên thế giới, nhất là ở Bắc Mỹ, Âu Châu và Úc Châu. Hàng năm cộng đồng người Việt hải ngoại gởi về hàng tỷ Mỹ kim để giúp đỡ thân nhân ở trong nước. Cộng sản liền uốn lưỡi, đổi giọng, gọi người Việt hải ngoại thành “khúc ruột ngàn dặm”. Tuy nhiên CSVN rất e ngại “khúc ruột ngàn dặm”, vì nhờ khoa học kỹ thuật tiến bộ, phương tiện truyền thông nhanh chóng, tất cả những tin tức ở trong nước được đưa ra nước ngoài dễ dàng.
“Khúc ruột ngàn dặm” sẵn sàn tranh đấu, bảo vệ người Việt trong nước, gây trở ngại không ít cho cuộc đàn áp của độc tài cộng sản.
Đối phó với “khúc ruột ngàn dăm”, Bộ chính trị đảng CSVN đưa ra nghị quyết số 36/NQ-TW ngày 26-3-2004 về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, để bằng tất cả các cách thu hút và nếu thu hút không được thì đánh phá các tổ chức, hội đoàn, cộng đồng người Việt hải ngoại, nhằm hóa giải, chận đứng tất cả các cuộc chống đối của người Việt hải ngoại.
Để thực hiện nghị quyết 36, CSVN đưa ra nhiều thủ đoạn thâm độc mà chúng ta không lường trước được. Có khi có người vô tình lạc vào những thủ đoạn của CSVN mà không biết. Âm mưu biến ngày Quốc hận làm ngày Thuyền nhân là một trong những âm mưu thâm độc của CSVN. Âm mưu nhằm hai mục đích :
1) Làm phai lạt dần dần ý nghĩa Ngày Quốc hận trong lòng người Việt hải ngoại, giảm nhẹ tội ác cho CSVN.
2) Tạo một đề tài gây tranh cãi và làm chia rẽ cộng đồng người Việt hải ngoại.
2. VÔ HIỆU HÓA HỘI CỰU QUÂN NHÂN
Ở hải ngoại có nhiều hội đoàn. Hội đoàn có tinh thần quốc gia, dân tộc, chống cộng mạnh mẽ, lại có quy củ, có tổ chức, hoạt động mạnh nhất ở bất cứ nước nào, địa phương nào, là hội Cựu Quân Nhân (CQN). Hằng năm, nếu nơi nào không có ban chấp hành cộng đồng, như ở Toronto (Canada) chẳng hạn, thì hầu như hội CQN được giao tổ chức ngày Quốc hận 30-4. Hoặc hội CQN phối hợp với các hội đoàn khác để cùng tổ chức. Luôn luôn hội CQN làm nòng cốt, thường có lễ chào cờ, rước quốc quân kỳ… Hội CQN là hội giữ lửa cho Cộng đồng, hội mũi nhọn trong các cuộc biểu tình chống cộng. Mỗi năm hội CQN có hai hoạt động chính là tổ chức “Ngày Quốc hận” (30-4) và “Ngày Quân lực” (19-6). Nếu vận động được các địa phương biến ngày 30-4 thành ngày Thuyền nhân, thì lúc đó hội CQN không còn cần thiết, vì đối tượng chính trong buổi lẽ sẽ là thuyền nhân, thì thuyền nhân sẽ đứng ra phụ trách. Một Uỷ ban của các thuyền nhân sẽ đứng ra tổ chức Ngày Thuyền nhân 30-4 hằng năm, thay cho hội CQN.
Khi đó, hội CQN chỉ còn buổi lễ chính là mừng Ngày Quân lực. Là ngày vui thì chỉ có ăn uống, vui chơi, nhảy đầm. Từ vai trò giữ lửa chống cộng, hội CQN trở thành một món trang sức cho cộng đồng. Như thế là một cách vô hiệu hóa hội CQN, làm giảm bớt hoạt động của hội CQN, giảm bớt ngọn lửa đấu tranh chống cộng. Cái thâm độc của cuộc vận động biến ngày Quốc hận 30-4 thành ngày Thuyền nhân nằm ở chỗ đó. Tuy nhiên vẫn chưa hết…
3. TIÊU DIỆT TIỀM LỰC CHỐNG CỘNG
Ngày Quốc hận 30-4 là ngày của toàn dân Việt, ở trong cũng như ngoài nước, trừ một thiểu số đảng viên. Vì vậy, hằng năm, vào ngày 30-4 ở hải ngoại, khắp nơi trên thế giới đều tổ chức lễ kỷ niệm Ngày Quốc Hận. Rất đông người đến tham dự, có thể nói là đông đảo nhất trong năm. Kỷ niệm Quốc hận hằng năm nhằm nhắc nhở ngày tang thương của dân tộc, tưởng niệm những anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì chính nghĩa quốc gia, những đồng bào đã bỏ mình trên đường tìm tự do, và những tù nhân chính trị đã và đang bị đày đọa đến chết trong các trại tù cộng sản. Kỷ niệm Quốc hận 30-4 cũng là dịp cho Cộng đồng Người Việt hải ngoại lên tiếng đòi hỏi dân chủ tự do cho đồng bào ở trong nước. Nói cách khác, ngày 30-4 là ngày tưởng niệm và cũng là ngày tranh đấu.
Trong khi đó, số người thực sự là thuyền nhân hiện nay, một mặt so với dân số toàn quốc thì quá ít vì ở trong nước không có thuyền nhân, và một mặt khác so với tổng số người Việt ở hải ngoại, số thuyền nhân hiện nay chỉ bằng khoảng một phần tư (1/4) hay một phần năm (1/5) mà thôi.
Nếu ngày 30-4 hằng năm là Ngày Thuyền nhân, thì những người không phải là thuyền nhân có thể không đến dự các buổi lễ ngày 30-4, vì không liên quan đến họ. Số người tham dự các buổi lễ kỷ niệm sẽ giảm đi và có thể giảm đi rất nhiều. Như thế, dần dần ngày 30-4 sẽ phai lạt dần. Từ đó, tinh thần đấu tranh chống cộng sản bạo tàn, đòi hỏi tự do dân chủ cho Việt Nam của cộng đồng người Việt hải ngoại sẽ càng ngày càng xuống giốc.
Hơn nữa, một ngày kia, những thuyền nhân sẽ lần lượt qua đời, sẽ không còn thuyền nhân trên thế giới, thì Ngày Thuyền nhân cũng tàn lụi theo. Lúc đó chắc chắn Ngày Thuyền nhân sẽ chẳng còn ai chú ý, chẳng còn ai cử hành, nghĩa là ngày 30-4 cũng sẽ mất tích luôn.
Tóm lại, âm mưu biến đổi Ngày Quốc hận 30-4 thành Ngày Thuyền nhân phát xuất từ ý đồ của CSVN, nhằm làm giảm nhẹ tội ác của cộng sản, triệt tiêu hoạt động của Hội CQN và dần dần làm biến mất ngày Quốc hận, tiêu diệt tiềm lực chống cộng của cộng đồng người Việt hải ngoại. Âm mưu nầy được tay chân của cộng sản, cùng một số tên thân cộng ở hải ngoại tìm cách thực hiện để mưu lợi, trao đổi buôn bán với cộng sản. Tuy nhiên, dầu cố gắng cách nào đi nữa, âm mưu nầy cũng không thể thành công được, vì lịch sử là những sự kiện đã xảy ra trong quá khứ, không ai có thể sửa đổi được lịch sử, nhất là một khi đã được khắc ghi vào bia miệng thế gian.
“Trăm năm bia đá thì mòn
Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.”
Ở trong nước, CSVN tham nhũng, bóc lột, cướp đất dân lành, nhượng đất nhượng biển cho Trung cộng, đàn áp dân quyền và nhân quyền, bắt bớ, giam cầm những nhà tranh đấu dân chủ bất bạo động, những người yêu nước biểu tình chống Trung cộng xâm lược. Ở hải ngoại, đời sống đầy đủ, tự do dân chủ, lại có những kẻ không nghĩ đến tương lai dân tộc, không nghĩ đến đồng bào đang đau khổ vì CS ở trong nước mà chỉ vì một chút danh lợi nhỏ nhoi, tiếp tay tuyên truyền cho CSVN, tiếp tục duy trì nạn độc tài toàn trị trên quê hương Việt Nam, thì tội lỗi nầy cũng không kém gì tội lỗi của CSVN.
TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, 9-3-2912)

Những hình ảnh không thể quên 'Vết sẹo' trong tim nạn nhân sóng thần Nhật

Người dân Nhật Bản cùng nhau tới những nghĩa trang và các khu vực trong vùng chịu thảm họa kép ngày 11/3/2011, để nhớ về những người thân của họ.
Những hình ảnh không thể quên
'Vết sẹo' trong tim nạn nhân sóng thần Nhật JAPAN, Yamamoto : TO GO WITH Japan-disaster-anniversary-bereaved, FOCUS by Shingo Ito This photo taken on February 09, 2012 shows Buddhist monk Ryushin Miyabe offering prayers in front of urns along with late people's ashes and bones by the March 11 quake-tsunami disaster at the Myokoin temple in Yamamoto, a small town on Japan's tsunami-wrecked coast. Some of the 19,000 people killed by Japan's horrific quake-tsunami remain unmourned, their bodies never claimed because there is no one left to notice they have gone. AFP PHOTO / KAZUHIRO NOGI Nhà sư Ryushin Miyabe đang cầu khấn trước bình đựng tro xương của những người đã mất trong thảm họa kép ở vùng đông bắc Nhật Bản cách đây một năm. Các bình này được đặt tại đền Myokoin ở Yamamoto, một thị trấn nhỏ của tỉnh Kagawa thuộc vùng chịu ảnh hưởng trực tiếp của sóng thần. Khoảng 19.000 đã thiệt mạng trong thảm họa động đất sóng thần năm ngoái. Rất nhiều nạn nhân qua đời mà thi thể của họ không bao giờ được người thân đến nhận, bởi vì cũng không còn người thân nào sống sót. JAPAN, Natori : Believers pray for victims of the March 11 massive earthquake and tsunami at a memorial in Natori, Miyagi prefecture on March 8, 2012. The earthquake-tsunami disaster, concentrated in the prefectures of Miyagi, Iwate and Fukushima, left more than 19,000 people dead or missing. AFP PHOTO / KAZUHIRO NOGI Các tín đồ cầu nguyện cho những nạn nhân của thảm họa kép 11/3/2011 tại một khu tưởng niệm ở thành phố Natori, tỉnh Miyagi, hôm 8/3. Miyagi cùng với các tỉnh Iwate và Fukushima là những địa phương chịu ảnh hưởng trực tiếp của thảm họa kép. < JAPAN, Otsuchi : Relatives walk toward their family's grave at Otsuchi town, Iwate prefecture on March 10, 2012. Japan is readying to mark the first anniversary of the huge earthquake and tsunami that devastated the northeast coast on March 11, 2011 sparking a nuclear crisis at Fukushima. More than 19,000 people died in the disaster and hundreds of thousands were made homeless. AFP PHOTO / TOSHIFUMI KITAMURA Người thân của những nạn nhân động đất sóng thần tới thăm mộ của người thân tại thành phố Otsuchi, tỉnh Iwate, hôm 10/3, nhân dịp kỷ niệm tròn một năm sau ngày thảm họa kép tàn phá vùng đông bắc Nhật Bản. JAPAN, Kesennuma : Fishermen and their familiy offer a silent prayer for the dead of March 11 disaster during a lunching ceremony held by Operation Blessing International (OBI) and multinational software company SAP at Hikado port in Kesennuma, Miyagi prefecture on March 10, 2012. SAP and OBI presented ten new fishing boats to fisherman whose livelihoods were ruined in the 2011 earthquake and tsunami. AFP PHOTO / KAZUHIRO NOGI Các ngư dân và gia đình của họ cùng im lặng để thầm cầu nguyện cho những người đã mất trong thảm họa 11/3/2011. Đây là hoạt động nằm trong một buổi lễ được tổ chức tại cảng Hikado, thành phố Kesennuma, tỉnh Miyagi, hôm 11/3. Một số ngư dân được tặng thuyền đánh cá mới sau buổi lễ này. JAPAN, Minamisanriku : Visitors look around the devastated area in Minamisanriku, Miyagi prefecture on March 10, 2012. The March 11 earthquake-tsunami disaster, mainly in the three most devastated prefectures of Miyagi, Iwate and Fukushima, left more than 19,000 people dead or missing. AFP PHOTO / KAZUHIRO NOGI Người dân Nhật Bản đội mưa tới thăm khu vực chịu thảm họa tại thành phố Minamisanriku, tỉnh Miyagi, hôm 10/3. Hàng trăm nghìn người rơi vào cảnh mất nhà sau ngày 11/3 năm ngoái do sức tàn phá kinh hoàng của động đất và sóng thần. JAPAN, Minamisanriku : People gather in front of a tomb to pray for their late friend as part of the first anniversary of his death in Minamisanriku, Miyagi prefecture on March 10, 2012. The March 11 earthquake-tsunami disaster, mainly in the three most devastated prefectures of Miyagi, Iwate and Fukushima, left more than 19,000 people dead or missing. AFP PHOTO / KAZUHIRO NOGI Những người dân này tập trung trước một ngôi mộ để cầu nguyện cho người bạn quá cố. Đây là một phần trong lễ kỷ niệm một năm sau thảm họa kép tại thành phố Minamisanriku, tỉnh Miyagi. JAPAN, Minamisanriku : People pray for their late friend as part of the first anniversary of his death in Minamisanriku, Miyagi prefecture on March 10, 2012. The March 11 earthquake-tsunami disaster, mainly in the three most devastated prefectures of Miyagi, Iwate and Fukushima, left more than 19,000 people dead or missing. AFP PHOTO / KAZUHIRO NOGI Vùng đông bắc của Nhật Bản đang hồi sinh với một tốc độ khiến cả thế giới phải kinh ngạc và thán phục, nhưng những người dân ở đây sẽ không bao giờ có thể quên được những gì đã xảy ra, đặc biệt là nỗi đau mất đi những người thân. JAPAN, Minamisanriku : People hang colorfull paper cranes designed as prayers for the reposed of the souls of victims of the March 11 earthquake-tsunami disaster in Minamisanriku, Miyagi prefecture on March 10, 2012. The March 11 earthquake-tsunami disaster, mainly in the three most devastated prefectures of Miyagi, Iwate and Fukushima, left more than 19,000 people dead or missing. AFP PHOTO / KAZUHIRO NOGI Những người dân này đang treo các con sếu giấy nhiều màu sắc được gấp để tượng trưng cho mong ước rằng linh hồn của những người đã khuất sẽ được an giấc ngàn thu. JAPAN, Minamisanriku : People hang colorfull paper cranes designed as prayers for the reposed of the souls of victims of the March 11 earthquake-tsunami disaster in Minamisanriku, Miyagi prefecture on March 10, 2012. The March 11 earthquake-tsunami disaster, mainly in the three most devastated prefectures of Miyagi, Iwate and Fukushima, left more than 19,000 people dead or missing. AFP PHOTO / KAZUHIRO NOGI Những mảng màu khác nhau được tạo nên từ những con sếu bằng giấy tại một khu vực của thành phố Minamisanriku, tỉnh Miyagi. JAPAN, Kesennuma : Boys and girls gather to perform a traditional dance during a lunching ceremony held by Operation Blessing International (OBI) and multinational software company SAP at Hikado port in Kesennuma, Miyagi prefecture on March 10, 2012. SAP and OBI presented ten new fishing boats to fishermen whose livelihoods were ruined in the 2011 earthquake and tsunami. AFP PHOTO / KAZUHIRO NOGI Các cậu bé và cô bé này đang cùng nhau biểu diễn một điệu múa truyền thống của Nhật Bản trong buổi lễ tưởng niệm tại cảng Hikado, thành phố Kesennuma, tỉnh Miyagi, hôm 10/3. Các em chính là tương lai của một nước Nhật đang hồi sinh sau thảm họa động đất, sóng thần và hạt nhân. 

Hà Giang (Ảnh: AFP)

HAY ĐÂU ĐỊA NGỤC Ở MIỀN NHÂN GIAN: TÍN NGƯỠNG CÓ THỂ GIÚP GÌ CHO NGƯỜI SẮP LÌA ĐỜI ? PHẦN 2

Săn sóc những giây phút cuối đời Hay đâu địa ngục ở miền nhân gian




“ Mình có theo 1 vụ M&A 1 bệnh viện, trong đó có chỉ tiêu chết 3%/ năm, khi bênh nhận gần chết bệnh viện chỉ cần thuyết phục thân nhân làm hồ sơ xuất viện trước khi báo tử ..”

Hay đâu địa ngục ở miền nhân gian
Đặt ra chỉ tiêu về tỷ lệ tử vong đôi khi là một việc làm rất không hợp lý. Để đạt được chỉ tiêu đó, thay vì tiếp tục chăm sóc bệnh nhân vào những giai đoạn cuối, các BS giải thích cho người nhà xin mang bệnh nhân về, để bệnh nhân chết tại nhà. 
Khi đó, các BS sẽ báo cáo lý do xuất viện là ‘nặng xin về”,  “thất bại’ thay vì “tử vong”. Nhờ đó, khi báo cáo lên cấp trên, tỷ lệ tử vong của đơn vị điều trị đó được giảm đi một cách giả tạo. Tuy nhiên nếu chúng ta xem tử vong bao gồm tử vong trong bệnh viện và các trường hợp “nặng xin về” và ‘thất bại” (vì trước sau bệnh nhân cũng chết) thì tỷ lệ tử vong thật sự rất cao. 
Cách làm “đà điểu rúc đầu trong cát” này vừa không trung thực, vừa tạo ra những hậu quả rất nặng nề cho bệnh nhân, cho người nhà ngay cả ở góc độ y học và y đức. 
Cho dù đang hấp hối, người bệnh vẫn là người bệnh, vẫn cần được chăm sóc và điều trị. Đa phần tri giác họ vẫn còn. Họ vẫn ý thức họ đang chết, vẫn đang chịu đựng nỗi đau của bệnh tật. Họ vẫn còn cái đau tột cùng của bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối, cảm giác ngộp thở như bị trấn nước của bệnh nhân phù phổi và viêm phổi, cảm giác khó chịu của chướng bụng với  buồn nôn, nôn ói liên tục của bệnh nhân tắc ruột, cái nghẹt thở như bị thắt cổ của người bị nghẹt đàm rãi, cái đói khát của người ung thư thực quản... Họ vẫn  có nỗi hoảng loạn, hoảng sợ của người tuyệt vọng khi biết mình đang cận kề với cái chết như một tử tù đang bước ra trường bắn. 
Khi chúng ta cho họ về là chúng ta dừng hết tất cả những chăm sóc y tế để cho họ tiếp tục vật vã với tất cả những nỗi đau, sự hoang mang sợ hãi khôn cùng đó. Chúng ta cho họ về, “thảy” họ về nhà cho những người thân không có chuyên môn y tế, chưa được huấn luyện để chăm sóc người bệnh. Người thân cũng hoảng sợ hoang mang tột độ vì họ chỉ có một cha mẹ, một vợ chồng, một anh chị em, con cái... Những người thân của họ hấp hối lần đầu, chết lần đầu, họ không có kinh nghiệm. 
Chúng ta tạo mọi điều kiện thuận lợi cho bệnh nhân nặng xin về. Chúng ta thấy bệnh nhân vật vã còn người nhà thì hoảng hốt đi ra khỏi cửa. Chúng ta ghi hồ sơ “nặng cho về” như một hành động ban ơn. Bệnh nhân về nhà trong đau đớn và hoảng loạn còn chúng ta tự cho mình đã làm được một việc tốt, đã hết lòng vì bệnh nhân, xứng đáng với danh hiệu “lương y như từ mẫu”. Chúng ta đã được đào tạo như thế, trong điều kiện bắt buộc phải làm như thế và chúng ta đã và đang làm như thế.

“Lương Y” chăm sóc bicnhân giai đoạn cuối như thế nào?
v
Ớ các nước có nền y tế phát triển, cụ thể là Australia và UK, họ có chuyên ngành gọi là palliative care. Chuyên ngành này chuyên phục vụ những bệnh nhân giai đoạn cuối về thể chất lẫn tinh thần. Họ hội chẩn rất cẩn thận và đầy trách nhiệm để đồng thuận bệnh nhân đã vào giai đoạn cuối mà các điều trị y khoa không còn khả năng kéo dài hoặc nâng cao chất lượng cuộc sống. Khi đó, họ điều trị rất tích cực để làm giảm đi nỗi đau đớn của của bệnh nhân trong những giờ phút sau cùng. Vào những giờ phút hấp hối, họ rút hết các thiết bị điều trị không cần thiết, lau chùi sạch sẽ cho người bệnh. Tùy theo bệnh cảnh và nhu cầu của từng bệnh nhân cụ thể, họ dùng Midazolam để làm giảm sự căng thẳng và hoảng loạn, Morphine để làm giảm cảm giác ngộp thở, dùng Buscopan để chống tăng tiết đàm nhớt, Octreotide để bớt tăng tiết hệ tiêu hóa và chướng bụng. Bệnh nhân hấp hối nhưng vẫn thanh thản dưới sự chăm sóc của nhân viên y tế được đào tạo bài bản và kinh nghiệm, với người thân quay quần xung quanh đau buồn nhưng được nâng đỡ và an ủi. Người bệnh cũng có thể yêu cầu chết tại nhà và được nhân viên y tế về tận nhà chăm sóc. 
Họ làm được như vậy vì họ có điều kiện làm như vậy. Luật pháp và hệ thống y tế của họ hỗ trợ và bảo vệ cho họ làm như vậy. Họ có sự đồng thuận và phân biệt rất rõ giữa palliative care và euthanasia.

Ruột tằm đòi đoạn như tơ rối bời
Tôi đã trào nước mắt thẫn thờ khi biết trong y khoa có một chuyên ngành gọi là palliative care, khi hiểu nỗi đau khổ cụ thể của người bệnh trong những giờ phút hấp hối sau cùng, khi nhớ lại chuyện mình đã làm. Trước đó, tôi đã nhìn rất nhiều bệnh nhân phù phổi nhưng chưa bao giờ tưởng tượng cái ngộp thở bị trấn nước như thế nào, chưa bao giờ nghĩ đến cái hoảng loạn của một người tuyệt vọng đang cận kề cái chết... 
Những điều tôi viết đang xảy ra hàng ngày ở các bệnh viện của các đồng nghiệp. Tôi biết luật pháp của chúng ta chưa rõ ràng về palliative care. Chúng ta chưa được đào tạo cơ bản để chăm sóc bệnh nhân giai đoạn cuối. Tuy nhiên tôi hy vọng chúng ta sẽ cùng nhau suy nghĩ về vấn đề này. Một ngày nào đó chúng ta sẽ có những cuộc hội thảo, đạt được những đồng thuận, xây dựng được những chính sách để cải thiện chất lượng điều trị cho bệnh nhân giai đoạn cuối. 
xem thêm: săn sóc những giây phút cuối đời

Săn sóc những giây phút cuối đời

Vui sống mỗi ngày @ blog: mời các em sinh viên y khoa tham khảo bài viết rất hay và đáng suy ngẫm cuả bác sĩ Nguyễn Văn Đích, một người thầy cuả tôi từ trước năm 1975, hiện đang sống và làm việc tại Mỹ.
   
"L'Homme souffre et meurt tout seul." (Giáo sư Trần quang Đệ)
    
Một đồng nghiệp hỏi "Làm sao điều trị ung thư phổi giai đọan cuối?".  Câu hỏi biểu lộ sự băn khoăn lo lắng và tinh thần trách nhiệm đồng thời cũng cho thấy sự bế tắc.
    Khi nói đến y khoa người ta nghĩ đến chữa bệnh, nghĩa là làm cho khỏi bệnh.      Tuy đã làm được những việc không ngờ, như ghép tạng phủ, làm tim nhân tạo, có thể nhân bản làm một người mới (?)… nhưng y khoa không bao giờ có thể chữa cho con người khỏi chết.
    Chết là một điều đáng sợ, là một sự bí mật, là một sự mất mát tuyệt đối với người thân, tuy nhiên bệnh nhân và thầy thuốc, tất cả chúng ta đều phải trải qua.
    Khác với cái chết dễ dàng và không đau đớn như "chết kiểu Hollywood", hoăc "chết đứng" như Từ Hải, chết là một tiến trình xảy ra từ từ, kèm theo đau về thể xác và khổ về tinh thần.
    Tôi nhớ những kỷ niệm khi làm nội trú tại khu ung thư bệnh viện Bình dân Sài gòn đầu năm 1961.  Bệnh nhân là một ít trong số nhiều người bị ung thư từ những miền xa xôi về được thành phố, tìm hy vọng ở khoa học.
    Tôi nhớ những bà lớn tuổi bị ung thư cổ tử cung giai đoạn III hoặc IV, chảy máu dầm dề, ung thư có mùi hôi như mùi chuột chết, những ông bị ung thư hàm mặt, phải mở khí quản, không nói được và sợ hãi, buổi sáng phải tự đem cái lòng của ống nội khí quản ra rửa ở vòi nước trước trại bệnh trong khi y tá ngồi ở trong nhà la mắng. Trại bệnh ung thư giống như một cái Tiền Địa ngục!
    Để bù đắp cho sự thiếu sót của y khoa chữa bệnh, đã nảy ra quan niệm về “y khoa tạm trị” - palliative medicine (xem thêm …) nhằm giảm bớt sự khó chịu do bệnh tật và quan niệm về "nhà săn sóc đặc biệt" (hospice) để giúp những người không còn chữa được do ung thư hay không ung thư và thân nhân bớt đau khổ, trải qua những ngày cuối cùng một cách dễ dàng hơn.
    Đặc tính của sự săn sóc là khung cảnh gia đình ở một cơ sở hay tại nhà riêng. Nhóm săn sóc đặc biệt gồm điều dưỡng và nhân viên thuộc nhiều ngành chuyên môn như vật lý trị liệu, tâm lý học, công tác xã hội (social workers), công tác tinh thần và tôn giáo, và người tình nguyện có huấn luyện làm việc với sự phối hợp của một điều dưỡng phụ trách, điều dưỡng phụ trách tham khảo ý kiến của bác sĩ chuyên về săn sóc đặc biệt. Nhóm săn sóc đặc biệt cung cấp những phương tiện tại nhà như giường bệnh viện, bình dưỡng khí, dụng cụ hút đàm nhớt, giúp và hướng dẫn xoay trở, xoa bóp, vật lý trị liệu để giảm đau và chống co rút, giúp dùng thuốc chống đau, giúp tìm cách giải quyết các khó khăn về tài chính…an ủi hỗ trợ tinh thần bệnh nhân và thân nhân, ứng trực 24 giờ/ngày 7 ngày/tuần.
    Cùng với sự phát triển kinh tế, nền y tế Việt nam cũng phải đáp ứng với những nhu cầu do sự thay đổi của xã hội đem lại. Phải sử dụng các phương tiện và cơ sở y tế sao cho đạt hiệu quả kinh tế cao nhất. Phải nâng cao trình độ nghiệp vụ, chú trọng không những về chuyên môn kỹ thuật mà còn cả về đạo đức văn hóa để hành nghề một cách lương thiện và đối xử hợp tình người. Cần nhận thức đúng giá trị của ngành điều dưỡng: tôn trọng, đãi ngộ xứng đáng để họ hoàn thành nhiệm vụ, giúp họ thăng tiến về chuyên môn ở trong ngành và có thể học thêm nếu muốn để đạt trình độ cử nhân, tiến sĩ điều dưỡng chứ không phải để thành bác sĩ biết ra y lệnh nhưng không có người thi hành y lệnh tốt.
    Y khoa là khoa học có tính chất nhân bản, bao gồm từ áp dụng kỹ thuật cao đến săn sóc các nhu cầu thông thường của đời sống hàng ngày.
    Với sự phát triển của kinh tế thị trường và công bằng xã hội, con người thực sự làm chủ được khá nhiều thứ, được phục vụ, được sống lâu hơn, và khi chết, mong được chết đỡ đau khổ hơn, trong sự tôn trọng nhân phẩm và được an tâm hơn vì mỗi người, bệnh nhân, thầy thuốc và gia đình đã làm hết những gì hợp lý có thể làm được.  
Bác sĩ Nguyễn Văn Đích

VIỆT KIỀU VẪN CHƯA SÁNG MẮT .

ĐẤT NƯỚC ĐÃ CÓ BAO GIỜ KHỐN NẠN NHƯ THẾ NÀY CHĂNG?

Kính thưa quý vị,
Nói đến tội ác của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt nam thì chắc chắn là ‘Trúc Nam Sơn không ghi hết tội, biển Đông Hải không rửa sạch mùi tanh hôi’ cho nên trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ nêu lên những cái khốn nạn mà Hồ Chí Minh và thuộc hạ đã mang đến cho đất nước, cho dân tộc Việt nam kể từ khi Hồ Chí Minh thừa lệnh của đệ tam quốc tế, du nhập chủ nghĩa cộng sản về Việt nam để mang đến cho muôn dân Việt nam vô vàn những nỗi đau thương tang tóc.
Cái khốn nạn đầu tiên của Hồ Chí Minh và cộng sản Việt nam đó là dự phần gây ra nạn đói, khiến cho hai triệu đồng bào bắc Việt chết đói trong tháng ba năm Ất Dậu 1945 bởi chính sách tiêu thổ kháng chiến, rồi không lâu sau đó cũng nhận lệnh từ ngoại bang, mà trực tiếp là từ Stalin và Mao Trạch Động, Hồ Chí Minh và thuộc hạ đã tiến hành cuộc cải cách ruộng đất bằng hình thức đấu tố, với chỉ tiêu mỗi làng xã phải tìm cho bằng được 5% địa chủ trên tổng số 3.500 làng xã của Miền Bắc lúc bấy giờ, gây ra cái chết oan khiên cho 50,000 nông dân bì hành quyết tại chổ, và hơn 250.000 người khác bị chết do bị giam hãm đến chết đói tại những nơi giam giữ khi thi hành án đấu tố vì bị quy là thành phần địa chủ cường hào ở nông thôn, mà điều ô nhục nhất trong lịch sử của đảng cộng sản Việt nam là trường hợp đấu tố và hành hình bà Nguyễn Thị Năm, chủ hiệu Cát Thanh Long ở Hà Nội, là mẹ nuôi của Lê Đức Thọ, Phạm Văn ĐồngTrường Chinh, có con trai một là trung đoàn trưởng một trung đoàn của Quân đội Nhân dân Việt Nam, khi mà chính phủ Hồ Chí Minh đã thừa nhận “má Năm là địa chủ kháng chiến, có công lao to lớn trong việc cứu đói đồng bào và chiến sỹ thoát khỏi nạn chết đói trong năm 1945 và ngay trong Tuần Lễ Vàng, gia đình bà cũng đã hiến 100 lạng vàng cho chính quyền mới thành lập.
Và một số trường hợp đấu tố khác trong cải cách ruộng đất để lại vết nhơ trong lịch sử của cộng sản Việt nam có thể nêu điển hình như: Trường hợp thiếu tướng Vương Thừa Vũ, tư lệnh Đại đoàn 308, nguyên tư lệnh mặt trận Hà Nội năm 1946, chủ tịch Ủy ban quân quản Hà Nội bị các cán bộ cải cách bắt ở ngoại thành Hà Nội vì có người đấu tố ông là “địa chủ, có xuất thân là tư sản, lập trường chính trị không rõ ràng”.
Các cháu nội của cụ Phan Bội Châu, trong đó có một người là Trung đội trưởng, nhà nghèo, 3 sào đất cho 3 mẹ con, nhưng cũng bị quy là địa chủ bị đấu tố và hành quyết tại chổ.
Đặc biệt, cụ Phó bảng Đặng Văn Hướng, Bộ trưởng phụ trách Thanh – Nghệ – Tĩnh của Chính phủ bị đấu tố chết tại quê nhà Diễn Châu.
Theo bài diễn văn luật sư Nguyễn Mạnh Tường đọc tại cuộc họp Mặt trận Tổ quốc ở Hà Nội ngày 30 tháng Mười 1956, cuộc cải cách ruộng đất được thực hiện với phương châm “thà chết 10 người oan còn hơn để sót một địch”; phương châm này đi ngược lại với quy tắc cơ bản của pháp luật, và của lương tri nhân loại trong trường hợp này là “thà 10 địch sót còn hơn một người bị kết án oan”.
Luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã nói về tình cảnh oan sai như sau, trong diễn văn đọc trước Mặt Trận Tổ Quốc, ngày 30 tháng 10 năm 1956 tại Hà Nội: “Qua cuộc Cải cách Ruộng đất ta thấy bao nhiêu các chiến sĩ cách mạng thành tích lộng lẫy, có người ngực gắn tới hai huy chương kháng chiến bị kết án là phản động, cường hào gian ác và, sau khi nhận tội, bị tống giam hay bị hành hình” [...] “Trong cuộc kháng chiến anh dũng của ta, những đồng bào đã hi sinh, có thể nói được chết với trong lòng chan chứa nỗi vui sướng vì chết cho sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi nanh vuốt của địch. Họ chết vì địch, cho ta, đó là cái chết tích cực, cái chết vẻ vang, cái chết oanh liệt mà Tổ quốc ghi nhớ muôn thuở. Trái lại, các người chết oan vì các sai lầm trong cuộc Cải cách Ruộng đất này, lúc tắt thở, cay đắng đau xót vì chết với một ô danh. Chúng ta đã xoá bỏ cái ô danh đó, nhưng con cháu của các nạn nhân tài nào mà không ngậm ngùi? Đau đớn hơn, bây giờ ta làm thế nào mà biến cái khổ cực của người tắt thở thành một niềm an ủi cho họ được?”
Vậy đó, mà tại kì họp thứ ba của Quốc hội, để phát động chiến dịch, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh phát biểu: “Luật cải cách ruộng đất của ta chí nhân, chí nghĩa, hợp lí hợp tình, chẳng những là làm cho cố nông, bần nông, trung nông ở dưới có ruộng cày, nhưng đồng thời chiếu cố đồng bào phú nông, đồng thời chiếu cố đồng bào địa chủ”: Thật là lường láo, tráo trở và vô liêm sỹ hết chổ nói, Còn sự khốn nạn nào hơn thế nữa không?
Rồi sau hiệp định Gieneva, 1954. Cộng sản Bắc Việt lại ngông cuồng xua quân xâm lược miền nam, gây ra cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn thật vô cùng đau thương và ô nhục. Với thủ đọan và cuồng vọng chính trị, vào dịp tết nguyên đán cổ truyền Mậu Thân 1968, Hồ Chí Minh và cộng sản Bắc Việt đã phản bội một thỏa hiệp song phương về một cuộc hưu chiến trong 72 giờ để cho đồng bào hai miền Nam-Bắc được vui Xuân đón tết, cộng quân Bắc Việt đã bất ngờ tiến hành cuộc tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt nổ ra vào đêm 30 rạng 31 tháng 1 năm 1968 (Ngày mồng một Tết Mậu Thân). Từ vĩ tuyến 17 đến Cà Mau các lực lượng vũ trang cộng quân Bắc Việt bất ngờ tiến công rộng khắp vào 6 thành phố lớn, 44 thị xã, hàng trăm quân lỵ, chiếm một số nơi. Hiệu lệnh mở màn cuộc tổng tấn công là bài thơ chúc Tết của Hồ Chí Minh:
“Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.

Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ,

Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta.”
Để tăng tính bất ngờ, thời điểm cuộc tấn công diễn ra đúng vào giao thừa, thời điểm mà quân đội Việt Nam Cộng hòa lơi lỏng phòng bị, nhiều binh sỹ đang nghỉ về quê ăn Tết theo hiệp ước song phương về cuộc hưu chiến đó. Cùng với hàng chục ngàn ngôi nhà ở các đô thị, làng mạc khắp miền Nam bị tàn phá, với hơn 7.000 đồng bào Huế bị cộng quân tàn sát tập thể bằng các hình thức đập đầu, chôn sống, tất nhiên gieo gió ắt phải gặt bão: phía cộng quân Bắc Việt cũng có 113.295 giặc cộng phải đền tội trong chiến dịch này: Còn sự khốn nạn nào hơn thế nữa không?
Vẫn với cuồng vọng chính trị và phản bội những hiệp ước đã ký kết, vào mùa hè 1972, cộng quân Bắc Việt lại xua quân qua vùng phi quân sự Hiền Lương, Trung Lương, Bến Hải thuộc giới tuyến 17, vào ngày 30 tháng 3 năm 1972, đánh chiếm tỉnh Quảng Trị. Quân đội bắc Việt đã dùng đại pháo bắn trực diện vào đoàn người di tản, nghiền nát hơn 30.0000 thường dân vô tội đang di tản trên đoạn đường 9 km từ Thạch Hãn vào Mỹ Chánh, tất nhiên trong chiến dịch này phía cộng quân cũng có hơn 14.000 cán binh Bắc Việt đã phải đền tội: Còn sự khốn nạn nào hơn thế nữa không?
Sau Hiệp định Paris được ký kết ngày 27 tháng 01 năm 1973, với một trong những điều khoản quan trọng của hiệp định là Ngừng bắn trên toàn Việt Nam sẽ bắt đầu từ 27 tháng 1 năm 1973: với tất cả các đơn vị quân sự ở nguyên vị trí. Mọi tranh chấp về quyền kiểm soát lãnh thổ sẽ được giải quyết bởi uỷ ban quân sự liên hợp giữa hai lực lượng của Việt Nam Cộng hòa và Chính phủ bù nhìn “Cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam Việt Nam”. Trong vòng 60 ngày, sẽ có cuộc rút lui hoàn toàn của quân đội Mỹ và đồng minh cùng các nhân viên quân sự Mỹ ra khỏi Việt Nam Cộng hòa. Các bên không được tăng cường binh lính, nhân viên quân sự, vũ khí, đạn dược hoặc vật liệu chiến tranh vào Nam Việt Nam, trong trường hợp để thay thế thì phải theo nguyên tắc một-đổi-một. Hoa Kỳ sẽ không tiếp tục can thiệp quân sự vào “các vấn đề nội bộ” của Nam Việt Nam. Ấy vậy, trong khi quân đội Đồng Minh Hoa Kỳ và quân lực Việt nam cộng hòa nghiêm chỉnh chấp hành hiệp định, thì phía cộng quân Bắc Việt lại bội ước, ngang nhiên vi phạm trắng trợn Hiệp định, tăng cường du nhập các loại vũ khí sát thương của Nga cộng và Tàu cộng à các chiến khu ở Miền nam và liên tục mở các cuộc tấn công vào các đô thị Miền nam, giết hại hàng trăm ngàn đồng bào Miền nam và biến hàng triệu người khác thành nạn nhân của chiến cuộc. Mặc khác, cộng sản Bắc Việt còn huy động cả nhiều sư đoàn quân đội Bắc Hàn và quân đội Nhân Dân Giải Phóng Trung Cộng tham giâ vào cuộc chiến tranh xâm lược miền nam, sử dụng cả vũ khí và con người ngoại bang để giết hại đồng bào ruột thịt của mình, đồng thời, cộng sản Bắc Việt cũng cổ xúy cho Hải Quân Trung Cộng đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của tổ quốc, nơi quân đội Việt Nam Cộng Hòa đang trấn giữ, để đến ngày hôm nay, Trung cộng tiếp tục cưỡng chiếm cả Quần đảo Tường Sa, bắn giết ngư phủ Việt nam khi họ đang khai thác tài nguyên biển ngay trên lãnh hải của mình, và chính quyền cộng sản Việt nam vẫn tiếp tục im lặng một cách đớn hèn: Còn sự khốn nạn nào hơn thế nữa không?
Đầu năm 1975, với vũ khí của Nga Sô và Trung Cộng, cùng với nhân lực của Mao Chủ Trạch Đông và Kim Nhật Thành, cộng quân Bắc Việt xua quân xâm lược toàn lãnh thổ của Việt Nam Cộng Hòa, xóa tên một quốc gia trên bản đồ thế giới, mang đâu thơng chết chóc cho hàng triệu người, cùng với việc cưỡng chiếm hoàn toàn Miền Nam, cộng sản Bắc Việt đã nhuộm đỏ cả đất nước Việt Nam, biến dân tộc Việt nam trở thành một dân tộc man di mọi rợ, đưa đất nước Việt nam tụt hậu hàng thế kỷ so với các nước cùng Châu lục trong khu vực. Với chiêu bài gải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, Cộng sản Việt Nam đã sát hại hàng triệu người dân Miền Nam trong các cuộc tấn công lấn đất giành dân đó. Nhưng vẫn chưa hết, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, cộng sản Việt nam đã bắt đưa đi đày tại các trại tù cải tạo 1040.000 người bao gồm các sỹ quan hạ sỹ quan và quân cán chính của Quân Lực Việt Việt Nam Cộng Hòa, Chức Sắc các Tôn Giáo, lãnh tụ các đảng phải chính trị, các dân biểu của Việt Nam Cộng Hòa mà chúng gọi là “ngụy quân ngụy quyền”, trong số đó 95.000 người chết trong các trại tù cải tạo do ốm đau bệnh tật hoặc tra tấn nhục hình. Ngoài ra từ năm 1975 cho đến 1987, nhà cầm quyền cộng sản cũng đã tử hình 100.500 người vì các tội “phản động” và “bóc lột nhân dân” vì một số họ là chủ sở hữu của một số nhà máy xí nghiệp, hay một số cơ sở kỹ nghệ và thương mại ở Miền Nam.Với chính sách cai trị “chuyên chính” và trả thù một cách dã man đối với thân nhân những người bị quy tội “ngụy quyền bán nước” hay tư sản hút máu mũ của nhân dân” đã khiến hơn 3.000.000 người Việt nam, mà không ít là nhân sỹ trí thức đã vượt ngàn trùng sóng gió của đại dương để đi tìm tự do, và đã có hơn 1.500.000 người đã chết trên biển cả do bị bắn chết vì tội “phản quốc” hoặc vì bão tố hay rơi vào tay hải tặc: Một số liệu tổng quát là từ “Sau Ngày Hòa Bình Lập Lại” nhà cầm quyền cộng sản Việt nam đã trực tiếp và gián tiếp sát hại 1.750.000 người: Còn sự khốn nạn nào hơn thế nào chăng?
Cũng từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi Lê Duẫn, Trường Chính và một số thuộc hạ trong bộ chính trị của cộng sản Việt nam, sau chuyến vào thăm và tiếp nhận chiến lợi phẩm là 16 tấn vàng từ Nha Phát Hành Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam, trở về Hà Nội, Lê Duẫn đã tuyên bố trước Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam rằng, để Hà Nội tiến kịp Sài gòn thì phải mất 30 năm nữa, nhưng để Sài gòn “thoái kịp” Hà Nội thì chỉ cần 3 năm thôi, nên đảng và nhà nước CSVN đã áp dụng biện pháp này thông qua các chiến dịch cải tạo tư sản, đổi tiền, tịch biên nhà cửa của các sỹ quan, binh sỹ của QLVNCH cũng như của các nhà tư sản, hạ phóng tầng lớp trí thức ở các đô thị Miền nam xuống các “vùng kinh tế mới” và chi viên cán bộ nòng cốt ở miền bắc XHCN cùng thân nhân của họ vào làm nòng cốt cán bộ và dân cư ở các đô thị Miền nam, và đúng vậy chỉ 3 năm Sau đó, tức là đến năm 1978, cả Miền Nam trở nên điêu tàn, dân chúng Sài gòn phải ăn khoai sắn, bo bo để tồn tại, đây là những loại “cao lương” của Bác và đảng mà trước năm 1975 đồng bào Miền nam chỉ dùng để nuôi gia súc. Điều đang chú ý trong khoản thời gian này nhiều nhà “tư sản” bị tịch biên nhà cửa, bị đưa đi cải tạo hoặc bị tử hình, trong khi tổng tài sản mà họ sở hữu lúc bấy giờ chỉ bằng (1/1.000.000) một phần triệu giá trị tài sản của các “đồng chí” Tư Sản Đỏ hiện nay như Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Sinh Hùng, Nguyễn Phú Trọng, Lê Đức Anh, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu. Vậy tại sao không gọi các “đồng chí” này là những tên tư sản bán nước hút máu nhân dân: Còn sự khốn nạn nào hơn thế này chăng?
Tưởng cũng cần nhắc lại rằng, trong cuộc chiến tranh xâm lược Miền nam từ 1960 cho đến 1975, cộng sản Bắc Việt đã sử dụng các chùa chiền, các cơ sở tôn giáo để trú ẩn, chúng cũng đã kích động một số trí thức ngông cuồng và xuẫn động ở miền nam thành lập các khối đối lập, như Tư Tưởng, Đồng Dao, Đối Diện, Đứng Dậy… để lên tiếng chống lại chính quyền Miền Nam với những tên trí thức ngông cuồng và xuẫn động “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản” như Lê Văn Nuôi, Lê Hiếu Đằng, Huỳnh Tấn Mẫm, Trương Thìn và một số trí thức ngây thơ chính trị mà hám danh khác như Huỳnh Tấn Phát, Trịnh Đình Thảo, Nguyễn Hữu Thọ, Dương Quỳnh Hoa, Trương Như Tảng, Tôn Thất Dương Kỵ , Tôn Thất Dương Tiềm, Ngô Kha, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Phan Thuận An, Trần Vàng Sao, Lê Gành, Tràn Phá Nhạc, Võ Quê v.v…Còn một số khác thì khôn hơn, tuy thích Việt Cộng, nhưng không dám đi theo. Chúng vẫn ăn cơm quốc gia, nhưng lại chỉ trích chế độ miền Nam. Đó là bọn mang danh thành phần thứ ba như Trần Ngọc Liễng, Lý Qúy Chung, Nguyễn Hữu Chung, Lý Chánh Trung, Dương Văn Ba, Ngô Công Đức, Cộng sản bắc Việt đã sử dụng những tên “trí thức mù” này để xuống đường đấu tranh chống chính quyền Miền nam một cách vô cùng cực đoan, thế những sau khi cướp được chính quyền, thì nhà cầm quyền cộng sản Việt nam lại cấm tất cả các hoạt động tôn giáo, cấm tất cả các cuộc xuống đường của những người yêu nước thực sự, muốn nói lên tiếng nói yêu nước thương nòi của mình trước hiểm họa ngoại xâm, nhiều chức sắc của các tôn giáo vẫn tiếp tục bị bắt bớ, bị quản chế, bị giam cầm chỉ vì họ được gọi vào chức vụ và có đầy ân tứ để chấn hưng và phát triển đạo pháp của họ, như Đại Lão Hòa Thương Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Thượng Tọa Thích Thiện Minh, Thích Mạnh Thác, Thích Tuệ Sỹ, Thích Không Tánh… như các Linh Mục Trần Đình Thủ, Nguyễn Văn Vàng, Nguyễn Văn Luân, Nguyễn Văn Lý, Ngô Quang Kiệt… Nhiều nhân sỹ trí thức, sinh viên học sinh, và thanh niên yêu nước vẫn tiếp tục bị theo dõi, bị sách nhiễu, bị bắt bớ giam cầm, như Anh Ba Sài Gòn Phan Thanh Hải, Kỹ Sư Đỗ Nam Hải, Bác Sỹ Nguyễn Đan Quế, Luật Sư Nguyễn Bắc Truyển, Bác Sỹ Phạm Hồng Sơn, Luật sư Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Văn Đài, Lê Trần Luật, Lê Quốc Quân, Cù Huy Hà Vũ, Bùi Thị Minh Hằng, Phạm Thanh Nghiêng, Nhạc Sỹ Việt Khang Võ Minh Trí. Một số nhà Báo tự Do vì lòng yêu nước mà tiếp tục bị sách nhiễu bị theo dõi và bị đe dọa đến tính mạng, bằng những vụ tại nạn giao thông do cơ quan an ninh dàn dựng như Tiến Sỹ Nguyễn Xuân Diện, Người Buôn Gió Bùi Thanh Hiếu, Nguyễn Khắc Toàn, Huỳnh Ngọc Tuấn, Huỳnh Thục Vy, Mẹ Nấm Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Đỗ Thị Minh Hạnh, Ta Phong Tần và đặc biệt là những sỹ phu như Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, Nguyễn Tiến Trung và còn nhiều nhiều nữa… Thậm chí một số những người yêu nước này có thể đã bị thủ tiêu ngay trong nhà biệt giam như Blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải chỉ vì anh ta dám lên tiếng chống lại sự xâm lăng lãnh thổ, lãnh hải của nhà cầm quyền Tàu Cộng. Chuyện thật như đùa ở đất nước Việt nam cộng sản này ấy là yêu nước là có tội, thậm chí là một trọng tội: Còn sự khốn nạn nào hơn thế này nữa không?
Kính thưa quý vị,
Tất nhiên vẫn còn 1001 cái khốn nạn khác nữa trên đất nước Việt nam cộng sản này mà trong khuôn khổ của một bài tâm bút, chúng tôi không thể nào nêu lên đây một cách đầy đủ và trọn vẹn được. Tâm nguyện của chúng tôi là xin trình bày lại một phần nhỏ những đau thương của người dân Việt nam do Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt Nam mang lại, với lòng mong muốn là người dân Việt Nam dù trong hay ngoài nước, dù là thế hệ hôm nay hay mai sau, sẽ không bao giờ quên được tội ác chống lại loài người cũng như tội ác diệt chủng của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản Việt nam.
Cuối cùng, chúng tôi xin được nêu lên một tự vấn mà chính chúng tôi chưa tìm được lời giải đáp cho mình ấy là: ĐẤT NƯỚC ĐÃ BAO GIỜ KHỐN NẠN NHƯ THẾ NÀY CHĂNG?
Những ngày trước tháng Tư đen năm 2012
Nguyễn Thu Trâm

Bài Xem Nhiều