We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Sunday, 18 March 2012

Chuyện Chỉ Có VN : Khóc Mướn Giữa Thời Đại Acòng@

Gần đây cư dân mạng được xem một video clip gây “sốc” của một người vợ hiền không chọn khóc chồng bằng nước mắt vật vã trước quan tài mà bằng một bài hát karaoke “Tìm lại giấc mơ”. Sau khi clip được đăng tải, có nhiều người rơi nước mắt và tỏ ra khâm phục sự mạnh mẽ của chị Yến, bởi việc cầm mic để hát hết một bài hát trong đám tang tặng chồng là điều không phải ai cũng làm được. Tuy nhiên, có người chê bai là giả dối, thương chồng mà tỉnh queo, còn bình tĩnh mà hát là kịch cỡm, vô duyên. Người thì không đồng ý với cách thể hiện tình cảm này, vì nó không hợp với tập tục Việt Nam tự ngàn xưa, nói đến tang ma thường phải nghe tiếng khóc. Để tỏ lòng thương tiếc đậm sâu có nhiều tang gia còn mướn người khóc mướn cho tăng phần ảo não.
Sự phê bình gợi tôi nhớ lại cách đây không lâu hình ảnh một phụ nữ cầm một cây micro lăn lộn khóc thuê trong một tang lễ ở Trung Quốc đã khiến cả thế giới ngạc nhiên. Những người khóc thuê – còn gọi là kusangren – được thuê để bảo đảm rằng tang lễ diễn ra thống thiết. Hu, 53 tuổi, hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc. Bà tới nơi làm việc với đầy đủ hệ thống âm thanh, ánh sáng và 6 thành viên của nhóm được gọi tên là “Dàn nhạc của Vì sao và Dòng sông Trùng Khánh”.
Cuối tháng 12, 2011, trong tang lễ Kim Jong il, thế giới được chứng kiến hình ảnh dân Bắc Hàn than van ầm ĩ, khóc lóc thảm thiết để tỏ mối thương tâm cho một lãnh tụ vừa qua đời. Sau đó có nguồn tin từ Hãng thông tấn Nam Hàn cho biết những người không khóc trong đám tang Kim Jong-il (Kim Chính Nhật) có thể sẽ phải chịu mức án tới 1 năm rưỡi lao động cải tạo. Và khi đoàn xe tang của Kim Jong-il đi qua những con đường của Bình Nhưỡng, bất cứ ai trong biển người mà không có vẻ gì đau buồn sẽ gặp tai họa. Thế là toàn dân Bắc Hàn phải chịu sắm vai khóc mướn không lương.
Ai oán hơn, tháng 7 năm rồi, một ngư dân đã bỏ tiền ra thuê người khóc ma và làm đám tang long trọng dành cho cá. Mục đích của tiếng khóc bi thương này là để đánh động lương tâm của chính quyền đã đòi thu hồi lại khu nuôi cá ở thôn Cao Phong, xã Lưu Phương, khu Giang Hạ, Trung Quốc. Trong một vụ tranh chấp hợp đồng, Ủy ban nhân dân xã và thôn tịch thu đất trại, cắt điện, cắt nước, khiến cả trăm nghìn con cá chết. Những người khóc thuê đã ngân nga điệu hát ai oán “cá chết, người đau, ai hiểu nỗi lòng?”. Tiếng khóc gượng gạo cưỡng chế của người dân Bắc Hàn giả tạo bao nhiêu thì tiếng khóc ma cá của người dân Trung Quốc mất nhà, mất đất, thê thảm bấy nhiêu.
Những tập tục tang ma, hôn lễ nước ta chịu ảnh hưởng nặng nề văn hoá Trung Hoa được phổ biến rộng rãi và ăn sâu trong đầu óc dân gian tự ngàn xưa. Trong phần Gia Lễ Chỉ Nam của cuốn Thọ Mai Gia Lễ có hướng dẫn đầy đủ những nghi thức tang chế tuy không rập khuôn theo Tàu nhưng cũng trích lại phần lớn nghi thức của Chu Công Gia Lễ của người Hoa. Một người thân vừa qua đời, tức là “mất đi”. Tuy mất nhưng hình ảnh của người đó vẫn còn hiện hữu trong ký ức của người sống. Khóc là một hành động tự nhiên của lòng xúc cảm và  tưởng tiếc. Khóc là một cách thể hiện tấm lòng đau buồn của người ở lại tiễn người ra đi. Do đó trong một đám tang Việt Nam sự buồn khổ, ai oán phải được biểu lộ trên khuôn mặt gia quyến hay người đi đưa. Một thành ngữ “khuôn mặt đưa đám” đã tỏ rõ tập quán này. Tuy nhiên, mỗi con nguời là một cá thể dị biệt, có người bộc lộ tình cảm lên khuôn mặt, có người chỉ dấu trong lòng, có người ồn ào, có người tĩnh lặng. Vì thế quan sát một đám tang, ta có thể thấy được những nét tôn giáo hay văn hoá Đông, Tây hoặc pha trộn của tang quyến.
Cũng theo tinh thần nệ cổ này, người Việt thường tổ chức tang lễ thật long trọng và kéo dài cả tuần lễ. Đã là đám ma thì phải có nước mắt, do đó để tránh lời đàm tiếu, dèm pha kiểu “Xem nó kìa, cha ruột mất mà không thèm nhỏ lấy một giọt nước mắt tiếc thương” hay “Bác gái ấy thật vô phúc, nằm xuống mà con cháu trong nhà cứ dửng dưng thế nào”, nhiều người phải trông cậy vào đội quân khóc mướn. Thực ra có khi người lặng lẽ nhất mới chính là người thương tiếc thật sự.
Xa quê hương mấy chục năm, tôi chưa từng được chứng kiến tận mắt một đám tang bên Việt Nam xảy ra như thế nào nhưng khi đọc những bài tường thuật bên quê nhà, giờ vẫn còn các “khóc sĩ” hành nghề (mà lại rất đắt hàng), tôi rất ngạc nhiên. Hình ảnh một phụ nữ vật vã bên quan tài hay một người đàn ông tỉ tê kể lể (có vần, điệu, bài bản rất hay) nước mắt đoanh tròng hoà với tiếng nhạc bát âm thảm thiết trong đêm vắng, khiến khách hồng trần ai nghe mà không tan nát cả lòng. Nó khiến ta bùi ngùi liên tưởng tới cái lẽ vô thường, cái giờ “tử biệt”, ai cũng phải trải qua trong một kiếp người. Nhưng khúc phim trên chỉ là một cảnh phụ diễn được trả tiền cho buổi tiễn đưa thêm phần trang trọng, cả người thuê, lẫn người được thuê đều hả hê vì đã theo đúng luật tục.
Phú quý sinh lễ nghĩa” nên những kẻ có của ngày nay bắt đầu cuộc sống trưởng giả, trọng hình thức, ưa rườm rà, đã làm sống lại những tục lệ xưa như  một cách phô trương. Tục đốt vàng mã, giờ sắc sảo hơn với những vật dụng thủ công tỉ mỉ. Thiên hạ đua nhau “vén tay áo sô, đốt nhà táng giấy”, đốt hàng mã, xe hơi, tủ lạnh, cell phone, giấy tiền đô la, thậm chí cả những cô hầu gái trẻ đẹp để các đại gia thêm phần hưng phấn chốn thiên đường. Những ngôi nhà từ đường thênh thang, lộng lẫy, những ngôi mộ hoa lệ kiến trúc nửa tây nửa ta của người giàu có, liên tiếp mọc lên chung quanh các khu xóm nghèo như những miếng thịt thơm tho nằm giữa một tô cháo trắng lõng bõng nước.
Đi sâu vào nghiệp khóc mướn chúng ta thấy, trước đây khóc thuê là một nghề khá phổ biến, từ chốn thôn quê cho đến thị thành. Chẳng hiểu vì định kiến xã hội hay bị chính quyền ngăn cản mà nó ngày càng mai một, tưởng đã chuyển thành một thứ kỷ niệm “vang bóng một thời”. Thế mà tục lệ được cho là hủ tục này được hồi phục và canh tân cho thêm phần hiện đại và có lúc còn bẻ sang một bước ngoặc khác tạo nên đường nét bi hài lạ lẫm.
Mỗi miền đất nước khóc một kiểu khác, đám ma ở miền Bắc thường có phường bát âm với khúc nhạc lễ “Lâm khốc“, “Tử biệt sinh ly” hay “Di oán” não lòng. Theo ông Kiều Văn Hào là một “khóc sĩ” hay “kép nhà đám” xã Đông Yên, tỉnh hà Tây thì: Bát âm nghĩa là có 8 thứ nhạc cụ gồm: trống, kèn, sáo, nhị, thanh la, đàn tam, đàn nguyệt và… ghi ta điện! Có nơi dùng đàn bầu và trống cơm. Bây giờ là thời “hại điện” nên người ta cần tiếng âm thanh “Lâm khốc” phải vang to cho thiên hạ biết nên dĩ nhiên phải bổ sung thêm thiết bị điện tử: loa, đài, tăng âm, micro… Để hoàn chỉnh một phường bát âm khóc mướn còn phải may thêm vài bộ trang phục sặc sỡ theo lối cổ nữa.
Nếu trên đời có 36 điệu cười thì người khóc mướn cũng sáng tạo ra 36 kiểu khóc, mà có khi còn nhiều hơn. Có kiểu, khóc nhập vai người quả phụ khóc chồng, khóc nhập vai những người con đi xa mới đột ngột biết tin về chịu tang bố, mẹ, khóc nấc lên nghẹn ngào… rồi lại đứt tiếng như không thốt ra thành lời, khóc gọi người quá cố được kết hợp với những từ cảm thán như “Ối!”, “Trời ơi!”… Rồi còn cả kiểu khóc như Nguyễn Khuyến đã khóc Dương Khuê, đó là khóc bạn hữu, tri kỉ, được thể hiện bằng những lời tâm tình, hồi tưởng lại ngày xưa trong tâm trạng đau buồn khi biết tin bạn mất…
Điều đặc biệt gây tò mò và khiến thiên hạ tán thưởng chính là sự ứng tác mau lẹ và nhạy bén của những người hành nghề khóc mướn ở xã Đông Yên. Mỗi lời khóc của họ là một bài thơ có vần, có điệu. Giải thích cho điều này, anh Kiều Văn Thanh- con trai cả của ông Kiều Văn Hào cho biết: “không có sự chuẩn bị sẵn cho bất kì bài khóc nào mà phải khóc tuỳ theo yêu cầu của gia chủ. Người thuê khóc sẽ cho câu khóc đầu tiên. Sau đó chúng tôi phải ứng biến thành bài khóc hợp cảnh“. Rất nhiều người đã đổ lệ khi nghe những bài khóc thuê như thế dù đấy không phải khóc cho cha mẹ họ. Cái đức của nghề khóc mướn là ở chỗ không vô tâm, không vô cảm mà họ luôn có lòng thành với người quá cố.
Nghề này được trả công theo nhiều giá khác nhau, như “khóc khô”(khóc không nước mắt) thì ít tiền hơn “khóc ướt”(khóc có nước mắt), tuỳ theo nhu cầu đòi hỏi của khách hàng. Tổng cộng vốn đầu tư cho một phường khóc thuê vào khoảng 4-6 triệu đồng. Tiền thu mỗi đám bình quân được 800.000 đồng, mỗi tháng kiếm được chừng mươi mười lăm triệu đồng. So với lực điền canh nông thì giàu to.
Ngày nay nghệ thuật khóc đòi hỏi tính chuyên nghiệp hơn theo nhu cầu của nhiều bậc trưởng giả, vì vậy mà những “khóc sĩ” cần phải chuyên môn hóa. Chỉ riêng ở Hóc Môn, quận 12, Củ Chi, đã có trên 20 nhóm khóc mướn, mỗi nhóm có 4-6 người, hoạt động khắp thanh phố và đi “” luôn các tỉnh.
B.N, làm nghề khóc mướn chuyên nghiệp đã hơn 8 năm nay, được xem là một nữ “khóc sĩ” có tài làm xiêu lòng nhiều người ở miệt Bà Điểm, Hóc Môn. Hầu như không ngày nào là cô không có “”. Mỗi suất khóc trong khoảng 10-15 phút, N. được trả 50.000 đồng. Nhiều khi “trúng sô”, một đêm cô kiếm được 400.000-500.000 đồng là chuyện bình thường. Công việc này lại đang trở thành một nghề thời thượng hẳn hoi và có cả “” dạy khóc.
Căn phòng khách rộng khoảng 20 m2 tại tư gia của thầy Đ.A Hạnh, Thông Tây, Gò Vấp được “cải tạo” thành “giảng đường” với một loạt ghế đẩu xếp phía dưới. Cuối góc phòng là bục giảng với một số dụng cụ trợ giảng như đờn nhị, đờn cò, trống… Cả thảy có 18 học viên, có cả nam lẫn nữ và đều ở lứa tuổi khoảng chừng 20-30. Học phí trọn khóa là 600.000 đồng, kéo dài trong vòng 3 tháng, mỗi tuần 3 buổi. Các môn học gồm: Nghệ thuật tạo ra nước mắt, 10 điều cấm kỵ của nghề khóc mướn, 12 kiểu khóc thông dụng, khóc ở các đám ma gia đình Bắc – Trung – Nam có gì khác nhau… và 2 buổi đi thực tập theo nhóm của anh T. Theo lời thầy A., nếu học viên “tốt nghiệp” xuất sắc sẽ được thầy “giới thiệu việc làm” tại một số nhóm khóc mướn trong và ngoài thành phố. (Theo Người Lao Động)
Đám tang ở miền Nam lại có một nét văn hoá riêng. Chuyện thuê  “khóc sĩ” cũng có nhưng ít hơn. Có nhà, ngoài đội kèn bát âm còn thuê cả đội kèn Tây chơi cả những bản trữ tình, để mua vui cho người chết, và làm cho không khí đám ma đỡ căng thẳng, buồn bã. Một số gia đình người Nam bật nhạc cho đám tang sôi động, gần như là đang bật cho đám cưới. Ý nghĩa của việc này không xấu, vì có tang nghĩa là đau buồn, đối với cả người còn sống và đã khuất, nên cần phải xua tan bớt bầu không khí ảm đạm đó để mọi người được thanh thản hơn, có khi còn … vui như hội. Đám tang kiểu này không có tiếng khóc bi ai, kể lể não lòng mà chỉ có những câu hát như “Yêu anh, em vượt giông tố” hay “Vội vàng làm chi trách nhau bạc tình” hoặc “Anh không chết đâu em”. Không còn ai lạ lẫm khi nghe điệu lăm-ba-đa nóng bỏng hay nhạc khúc shalala rộn ràng trỗi lên giữa các đám tang ấy. Có người bình luận: “Trường học không dạy học sinh ngả nón khi gặp xe tang thì chuyện đám ma mà tấu nhạc quán bar cũng là điều dễ hiểu”.
Tất nhiên, mọi chuyện không chỉ dừng lại ở đó. Càng về sau, các đám tang vui tươi này càng trở nên lố bịch khi ban nhạc gồm các anh pê-đê cứ ồn ào kèn trống suốt ngày đêm. Nhiều nhóm pê-đê không giữ được chừng mực, bắt đầu hát những câu bất lịch sự phần nhiều là nhạc chế và biểu diễn các trò xiếc, múa lửa, thậm chí còn “show hàng” để kiếm tiền “boa”, mặc kệ có trẻ em trong nhà. Đáng trách hơn là có gia chủ còn hưởng ứng luôn, cha vừa chết mà con thì đầu chít khăn trắng, chân nhảy với pê-đê xinh tươi, bà con hàng xóm đến xem đông như trẩy hội, cười nói rôm rả. Cũng có gia chủ thấy bất bình và xông vào ẩu đả với chính nhóm nhạc pê-đê mà mình đã thuê.
Kinh ngạc hơn, người ta còn thấy những gia đình giàu có người Đài Loan đã thuê những thiếu nữ ăn mặc cực kỳ hở hang đến ca hát hoặc múa cột như một nghi thức trang trọng không thể thiếu trong đám tang. Hiện tượng “Những thiếu nữ trong bộ đồ “séc-xy” đứng biểu diễn trên chiếc xe trang trí đầy neon lấp lánh” ngày đưa ma, ngày càng trở thành “mốt” trong giới thượng lưu ở các vùng quê Đài Loan. Một số người Đài Loan cho rằng, con ma cũ hay bắt nạt ma mới, vì thế mà những màn biểu diễn này sẽ khiến ma cũ sao nhãng đi và để yên cho ma mới làm quen với môi trường của thế giới bên kia.
Trong khi người Tây Phương tiễn người ra đi về thế giới bên kia âm thầm và lặng lẽ hơn. Tôi từng được dự những đám tang của người Hoa Kỳ và những người Việt ở hải ngoại được tổ chức ở Mỹ với màu sắc văn hoá khác biệt. Người mình phần lớn tổ chức đám tang ở nhà quàng theo nghi lễ tôn giáo riêng của mỗi gia đình. Ngoài những nghi thức chính như cầu nguyện, cầu siêu, vài gia đình còn có phần phát biểu cảm tưởng hay tâm sự, kể lể về những kỷ niệm đã trải qua với người đã mất. Có người còn hát những bài ca nhẹ nhàng và ý nghĩa như một tưởng niệm. Có một lần, tôi được dự đám tang công giáo, nhưng lại có thuê một đội bát âm thổi kèn tiễn đưa người quá cố. Giữa xứ cờ hoa, tiếng đàn cò tỉ tê, ai oán nghe như tiếng thở dài của con chim Quốc văng vẳng đâu đây.
Tục khóc mướn không những chỉ có ở vài nước Á Châu và Phi Châu, Trung Đông mà Âu châu cũng có từ thời xa xưa. Trong Kinh Thánh và những vở kịch về thời Hy Lạp cổ có nhắc nhở đến các “khóc sĩ” chuyên nghiệp này. Đám tang thời đó, gia chủ thường thuê những người làm xiếc, vũ công và người khóc mướn. Họ thường là đàn bà, khóc la thảm thiết, cào mặt, xé quần áo, để gây thương cảm và khiến kẻ khác mủi lòng. Ngày xưa, Ở Israel, đám tang bắt buộc phải có người khóc mướn, kể cả những gia đình nghèo nhất cũng phải thuê ít nhất là một “khóc sĩ”, vừa khóc vừa lo thủ tục tẩm liệm cho người chết trước khi chôn. Riêng tại Ái Nhĩ Lan, các phụ nữ khóc thuê hát những khúc bi ai giống “Lâm khốc” trong khi các phụ nữ khác vừa vỗ tay vừa gõ nhịp. Bên Âu châu trong thời Trung Cổ và Victorian các “khóc sĩ” mặc áo choàng đen, đeo găng tay và đầu đội nón có những dải băng đen đượm màu u tối. Trong tác phẩm “Oliver twist” của Dickens có nhắc nhở đến hai kẻ khóc mướn vào thập niên 1600 đến 1914 mà ngày nay hầu như đã bị lãng quên. Khóc mướn ở Âu Châu chỉ thịnh hành đến khoảng thế kỷ thứ 17, 18 thì dừng lại. Cuốn phim “Crying ladies” được giải thưởng năm 2003, đã mô phỏng đời sống của 3 phụ nữ làm nghề khóc mướn bán thời gian cho cộng đồng Phi-Tàu ở phố Tàu, thủ đô Manila bên Phi Luật Tân.
Chết trong yên lặng không phải là một phong tục của Kenya và Brazil. Người ra đi phải được đưa tiễn với một nghi thức trang trọng chính là khóc và la cho nhiều. Kenya được gọi là xứ sở của người khóc mướn, các “khóc sĩ” làm giàu ở đây. Có đám ma nhà giàu thuê hàng trăm người khóc mướn.
Trong những nét văn hoá khác biệt của các giống dân trên thế giới, cách tổ chức và nghi thức tang ma là những nét đặc thù nghịch lý và đầy vẻ hiếu kỳ. Khóc mướn trong tang lễ là một trong những điều kỳ lạ nhất. Chuyện khóc mướn ngày nay, dù tốt hay xấu, hay hoặc dở tùy theo quan niệm riêng của từng cá nhân, dân tộc. Tuy nhiên nó đã tạo được công ăn việc làm cho một số người trong thời đại kinh tế yếu kém này, âu cũng là khía cạnh tích cực của một nét văn hoá cổ vậy
Trịnh Thanh Thủy
Tài liệu tham khảo
- Mutes and professional mourners
http://en.wikipedia.org/wiki/Funeral
- Professional  mourners
http://www.dailymotion.com/video/xl51gd_hundreds-of-mourners-attend-kenia-monge-s-funeral_news
- Thuê người khóc ma cho cá chết
http://www.baomoi.com/Thue-nguoi-khoc-ma-cho-ca-chet/58/4903194.epi
- Nghệ nhân khóc thuê ở Trung Quốc
http://vnexpress.net/gl/the-gioi/2011/06/nghe-nhan-khoc-thue-o-trung-quoc/
-Bạc bẽo đời khóc mướn
http://www.phapluatvn.vn/doi-song/201112/Bac-beo-doi-khoc-muon-2061913/

THIÊN ĐƯỜNG MỚI : Khi Đất Là Của Đảng


Đất về mặt danh nghĩa là của toàn dân, nhưng thực tế là người dân không có sở hữu gì, vì quyền lợi ban phát là trong tay cán bộ, những người tất nhiên là tự làm giàu cho gia tộc bà con trong dòng họ trước. Những thói cường hào phi lý này ai cũng thấy, nhưng nhà nước không muốn thay đổi, hay ít nhất cũng chưa muốn thay đổi, vì nếu lấy đi mối lợi ban phát đất này của cán bộ, đảng CSVN sẽ còn có ai trung thành nữa?

Những gì chúng ta tưởng rằng vụ cưỡng chế đất của anh Đoàn Văn Vươn có thể sẽ khởi sự một bước chuyển biến về luật đất đai, hóa ra là chẳng có gì hết. Ông Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng tới là để trình diễn, kỷ luật cán bộ cũng là để trình diễn... Nhà nước sẽ vẫn siết quyền quản lý đất để sẽ ban phát cho tư bản làm các dự án phát triển, và qua đây cán bộ mới có tiền phong bì, tiền phần trăm... Cụ thể, đất là sở hữu toàn dân, nhưng cũng là lợi tức của đảng CSVN và của cán bộ.


Hôm 15-3-2012, hàng trăm người dân tập trung khiếu nại dự án Ecopark. Bản tin trên đài RFA kể rằng mấy trăm người dân thuộc ba xã Xuân Quang, Phụng Công và Cửu Cao thuộc huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, hôm 15 tháng 3 tập trung về trụ sở tiếp dân của Thanh tra Huyện Văn Giang từ lúc 9 giờ sáng. Mục đích khiếu nại với chính quyền đối với những điểm mà họ cho là không theo đúng luật pháp trong dự án Ecopark triển khai trên đất đai của họ.

Dân ba xã bị lấy mất 500 hecta đất, mà lại lấy kiểu sai cả luật lệ. Lời của một người dân nói với RFA:

“Quá trình thực hiện dự án chưa đúng; không đúng từ văn bản của chính phủ cũng như của tỉnh đưa về. Chúng tôi không chấp nhận những văn bản đó: một là tỉnh không được thu hồi 500 héc ta đất; thứ hai nữa thủ tướng cũng không được ký thu hồi 500 héc ta đất mà phải thông qua Quốc hội. Thế mà thủ tướng ký nên chúng tôi thấy chưa hợp lý. Hiện họ mới xây dựng phân khu một Bắc Hưng Hải mấy chục héc ta, còn nằm im chưa làm gì.” (hết trích)
Lấy đất của dân, vậy rồi dân sẽ làm gì để sống?

Trong một bài đăng hôm 22-2-2012 trên đài VOA, nhan đề “Tsunami - từ đồng ruộng,” nhà báo Bùi Tín đã viết, dẫn ra ý kiến của nhiều cựu quan chức cao cấp khi bênh vực nông dân để đòi thay đổi luật đất:

“Ở Hà Nội, giáo sư Đặng Hùng Võ, nguyên thứ trưởng bộ tài nguyên môi trường, là người hiểu biết khá sâu về tài nguyên đất đai ở nước ta. Ông đã nhiều lần báo động về nguy cơ xuất hiện gần đây của bọn “cò đất” đầu cơ ruộng đất do những sơ hở của luật pháp hiện tại trong vấn đề đất đai. Ông đặc biệt nói đến một số địa chủ mới đầu cơ ruộng đất, những địa chủ cường hào trọc phú mới do thời thế tạo nên, không hề gắn bó tình cảm với ruộng đồng để chăm bón cho những mùa lúa bội thu, mà chỉ lo bóc lột đất đai theo kiểu con buôn tham tiền. Ông nói thẳng ra rằng đã đến lúc phải trả lại cho nhà nông, cho các hộ nông dân chuyên làm ruộng quyền sở hữu tư nhân về đất đai đồng ruộng, để bà con yên tâm chăm sóc thửa ruộng của mình như chăm sóc nuôi nấng đàn con của mình vậy. Sở hữu toàn dân là con chung không ai lo, kiểu cha chung không ai khóc. Hợp tác hóa nông nghiệp là đại họa cho nông dân, nông thôn, nông nghiệp rồi, nay “sở hữu toàn dân” lại thêm một đại họa khác.


Cũng nên nghe một tiếng nói khác, của ông Trần Quốc Thuận, một luật sư, từng là phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, nói lên nỗi lo lớn là đất đai đồng ruộng đang không ổn định, đang thay thầy đổi chủ trên quy mô rộng lớn, vào tay không phải những hộ nông dân thành thạo và yêu quý nghề nông, mà lại vào tay bọn quan chức tham ô, bọn đầu cơ “cò đất” buôn bán đất đai bất hợp pháp, giá bán thường cao hơn giá mua từ 4 đến 7 lần, tạo ra một lớp địa chủ mới làm giàu phi pháp dựa vào luật pháp mù mờ, không minh bạch, mâu thuẫn nhau, có thể giải thích khác nhau. Ông đề nghị phải trao lại quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất, ao hồ cho nông dân mới lập lại được công bằng và trật tự.” (hết trích)


Trong một bài đăng ngày 16-3-2012 trên đài RFI, nhan đề “Thân phận bọt bèo của người nông dân Việt Nam,” nhà bình luận Thụy My đã ghi lời nhà văn Tạ Duy Anh, trích:


“...bây giờ thì yếu tố quyền lực nó đi kèm với yếu tố quyền lợi. Vì vậy mà những sự câu kết của chính quyền với những ông tư bản bây giờ - chúng tôi gọi là những con bạch tuộc - vẫn xảy ra thường xuyên ở những vùng có khả năng diễn ra đô thị hóa, và cái này nó rất là thảm khốc. Hoặc ở những vùng mà người nông dân có xu hướng làm những trang trại lớn, những khu vực chăn thả lớn. Ví dụ như là Tiên Lãng, như là một số những vùng ở Nam Định, Thái Bình - vùng biển ấy. Hoặc là những vùng rừng núi, khi người nông dân có xu hướng đầu tư lớn.

Khiếu kiện đất đai: Điềm báo cho những trận dông bão


Khi họ đầu tư lớn, ví dụ như trường hợp của ông Đoàn Văn Vươn thì nói thật ra, về bản chất là chính quyền cũng định chia chác lại. Thế nhưng mà không có cơ sở pháp lý để kết tội họ về việc đó, do họ lẩn được vào trong các điều khoản mập mờ của Luật đất đai. Tuy nhiên giả sử như việc cưỡng chế thành công, thì hàng chục hộ sau khi phải nộp lại cho huyện, huyện mới cho đấu thầu lại, thì rất nhiều người trong chính quyền sẽ hưởng lợi, và sẽ được chia phần trong đó.

Có nghĩa là gì ? Nghĩa là anh dùng quyền lực, lợi dụng quyền lực của Nhà nước, mượn tay Nhà nước để anh cướp bóc của người dân. Nói một cách chính xác là như thế! Và phải khẳng định lại như thế này. Ở nông thôn nói chung và những vùng mà quyền lợi về đất đai không nhiều, thì cái nạn chính quyền chèn ép người dân không có cơ sở để tồn tại, ngoài cái việc mà họ đang chờ Luật đất đai mới, xem là có gia hạn hay không. Thì hiện nay Nhà nước gia hạn rồi, tức là tôi nghĩ cái khả năng mà họ chia lại ruộng đất, rồi lợi dụng lấy những chỗ phần ngon, thì chắc là không có.


Nhưng mà có những nơi khác, bất cứ nơi nào mà có yếu tố quyền lợi trong vấn đề đất đai, ví dụ như chuyển đổi. Một thửa đất đền bù cho nông dân hai trăm nghìn, sau đó thì phù phép bán ra với cái giá mười triệu một mét vuông. Những nơi như vậy thì chính quyền lộ rõ là những kẻ cường hào. Tất nhiên là không phải tất cả, nhưng cũng là một bộ phận rất lớn. Bởi vì thế này. Ở trong cái đám ấy thì những người nào mà có muốn trong sạch, gọi là có cái tâm lớn, cũng rất khó tồn tại. Anh thuộc về thiểu số, vì quyền lợi quá lớn. Quyền lợi nó che mắt tất cả. Người ta đều muốn giầu lên, đều muốn có tiền để vênh vang với thiên hạ, đều muốn tận dụng tất cả mọi cơ hội khi đang có quyền để vơ vét.


Cái thực trạng đó là một trong những lý do rất là cơ bản khiến cho người nông dân tiến hành rất nhiều vụ khiếu kiện đất đai. Và những vụ khiếu kiện đấy - tôi đã từng nói, và tôi nói rất rõ ràng, nó là điềm báo. Nó đang ngày một tích tụ lại, và là điềm báo cho những trận dông bão từ nông thôn.” (hết trích)


Trước đó, cũng trên đài RFI vào ngày 9-1-2012, bản tin nhan đề “Luật đất đai phải công nhận quyền sở hữu tư nhân” của tác giả Thanh Phương đã ghi lời Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang từ Hà Nội, đã chỉ ra rằng, cái gọi là sở hữu toàn dân là nguồn gốc gây ra nhiều tham nhũng, làm tăng khoảng cách giàu nghèo, làm giảm năng suất nông nghiệp và nói chung là cản trở sự phát triển của đất nước:


"Thực chất sở hữu toàn dân là gì ? Là sở hữu của Nhà nước. Mà sở hữu của Nhà nước là sở hữu của chính phủ. Mà sở hữu của chính phủ là của các quan chức. Cho nên có một thực tế là một giám đốc nhỏ như giám đốc một công ty chế biến cây trồng nông nghiệp đã biếu không 700 hectare đất công ở huyện Bến Cát, Bình Dương. Một ông giám đốc nhỏ như vậy mà có thể biếu 700 hectare đất, vậy thì những ông quan lớn hơn 5, 7 bậc có thể biếu không đến bao nhiêu hectare đất ?


Các địa chủ đỏ ngày nay không chỉ có hàng trăm, mà là hàng chục ngàn hectare đất. Chúng ta nhớ nhiều địa chủ ngày nào chưa có đến một hectare đất mà đã bị trói vào cột trường đấu, để tá điền đốt râu, rồi chết tức tưởi trong thời kỳ cải cách ruộng đất. Các địa chủ đỏ ngày nay không tốn một giọt mồ hôi mà ung dung, phè phỡn quá !


Trong luật Đất đai 2003 có một thuật ngữ rất mơ hồ là «giá quyền sử dụng đất». Điều phi lý, quái đản này cũng giống như thuật ngữ «tài sản XHCN», nhưng không hiểu vì sao vẫn tồn tại trong một văn bản Nhà nước. Đất và quyền sử dụng đất là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau, cho nên không thể có khái niệm «giá quyền sử dụng đất» được.


Sở dĩ chúng ta không thừa nhận được quyền tư hữu đất đai là vì chúng ta đi theo chủ nghĩa Marx. Marx có một sai lầm cực kỳ cơ bản là chủ trương xóa bỏ tư hữu. Trong thực tế, công hữu làm nghèo đất đai đi, làm cho năng suất thấp.” (hết trích)


Đây không phải chuyện mới: thực tế, đã có nhiều dân oan bị cướp đất từ cả hai thập niên nay. Một bản tin trên trang web Dòng Cúa Cứu Thế ngày 23-2-2012 đã có bản tin nhan đề “Bà bảy Lương, dân oan Sài Gòn,” trong đó kể rằng: “Trên dưới 20 năm qua, bà bảy Lương là dân oan của tỉnh An Giang lên Sài Gòn khiếu kiện, vì nhà cầm quyền tỉnh An Giang đã lấy nhà của bà mà không đền bù thoả đáng.”


Hai thập niên bị lấy đất, trở thành dân oan lên Sài Gòn khiếu kiện, sống hè phố nhờ lòng dân thương xót hàng ngày.


Ai nói rằng tài nguyên đất nước hiện nay – dù là đất, là rừng, là biển, là sông... – là của toàn dân?

Chỉ duy có Đảng CSVN dám nói như thế, trong khi ban phát, chia chác quyền khai thác cho cán bộ đảng viên. Đó là một thực tế ai cũng đang nhìn thấy, đang chứng kiến, và đang nghe tiếng oan dậy khắp trời hàng ngày.


Trần Khải
 
------------
 
Kami
-
Trong bài “Chuyện bỏ đảng chạy lấy người” của tôi cách đây ít ngày, trong đó có đoạn tôi viết rằng “Cũng bởi cái đảng CSVN hiện nay không còn chút gì là đảng cộng sản. Đảng CSVN giờ chỉ còn cái tên để lừa bịp, còn bây giờ đảng CSVN đang theo chủ nghĩa nào, đường lối nào, không ai biết. Kể cả chính những người lãnh đạo của đảng CSVN cũng vậy, nhưng họ cứ vờ vịt, à ơi để lừa những người nhẹ dạ.”. Điều này đã khiến không ít độc giả (có lẽ) là là các cụ, các bác cựu chiến binh đã tỏ ra bất bình, không đồng ý. Điều này thể hiện thông qua các phản hồi dưới nhiều hình thức (comments, e-mail) cho rằng tôi có góc nhìn lệch lạc, sai lệch về Đảng CSVN, một chính đảng đang giữ vai trò lãnh đạo công cuộc đổi mới của cách mạng Việt nam. Mà theo họ bằng chứng cụ thể là về sự phát triển kinh tế, xã hội có những bước phát triển vượt bậc, đời sống đã có những bước thay đổi lớn và cơ bản.
Điều các độc giả phản hồi cũng có lý của họ, nhưng theo tôi nghĩ có lẽ hình như họ quên lẽ tự nhiên, họ quên rằng sự phát triển tiến lên của xã hội là quy luật tất yếu. Nó cũng ví như chiếc lá ta bỏ xuống dòng nước chảy, dĩ nhiên nó (chiếc lá) phải trôi đi về phía trước theo dòng nước mà chẳng cần sự lãnh đạo tài tình nào, vì dòng chảy ví như là quy luật tự nó làm chiếc lá trôi đi. Điều quan trọng là ta bỏ chiếc lá xuống dòng chảy nào là quan trọng, vì có nhiều dòng chảy khác nhau. Có những dòng chảy phù hợp và không phù hợp, hay phù hợp ít hoặc nhiều so với quy luật phát triển mang xu hướng tiến bộ của xã hội loài người. Việc lựa chọn dòng chảy nào để quyết định bỏ chiếc lá xuống để nó trôi băng băng, không khúc mắc mới đòi hỏi sự sáng suốt, tài tình của người lãnh đạo nói riêng hay chính đảng của họ nói chung. Nhưng điều này sẽ được kiểm chứng để rút ra kết luận chính xác dễ dàng nếu có được sự so sánh (đối chứng) trong việc lựa chọn dòng chảy nào để bỏ chiếc lá xuống giữa ông A, ông B, ông C… của chính đảng X, chính đảng Y, chính đảng Z…
Nói tóm lại là nếu có sự cạnh tranh theo phương thức đa đảng trong chính trị sẽ thấy rõ ai đúng sai, ai tốt xấu ngay, ngược lại nếu còn độc đảng thì mãi vẫn là “Mất mùa đổ tại thiên tai – Được mùa thì bảo thiển tài đảng ta”, nghĩa là không có sự cạnh tranh thì không tạo ra mâu thuẫn, không có sự giải quyết mâu thuẫn thì không có động lực của sự phát triển của xã hội như luận điểm của Lê nin. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với quy luật tự nhiên của sự phát triển vạn vận trong thế giới con người.
Chúng ta đều biết, theo chủ nghĩa duy vật biện chứng của Marx, hình thái kinh tế – xã hội loài người đã trải qua các thời kỳ với các chế độ khác nhau được phát triển hoàn thiện dần trên cơ sở phát triển của xã hội nối tiếp nhau từ thấp đến cao, từ xã hội cộng sản nguyên thủy, xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội tư bản và cuối cùng là xã hội cộng sản chủ nghĩa, mà xã hội chủ nghĩa là giai đoạn quá độ trước khi bước vào chế độ xã hội cộng sản. Khi ấy thì con người là theo năng lực, hưởng theo nhu cầu. Nghĩa là theo lý luận trên thì phương thức sản xuất cũ, lạc hậu sẽ bị đào thải bởi sự tiên tiến và hoàn thiện hơn của hình thái phương thức sản xuất mới, cũng theo đó thì cái chủ nghĩa xã hội mà đảng CSVN đang theo đuổi mấy chục năm qua sẽ phải ưu việt hơn cái chủ nghĩa tư bản. Vậy tại sao năm 1986 đảng CSVN phải đổi mới về kinh tế để quay lại phương thức sản xuất TBCN với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN? Đây là bước đi thụt lùi của đảng CSVN so với lý thuyết của chủ nghĩa duy vật biện chứng hay không?
Những ai được học tập giáo dục dưới chế độ hiện tại ở Việt nam cũng đều hiểu rõ sự lạc hậu và sự trì trệ chậm phát triển của chế độ phong kiến. Trong môn Lịch sử đảng CSVN, phần “Luận cương chính trị” của Đảng CS Đông dương (tiền thân của đảng CSVN hiện nay) đã ghi rõ mục tiêu của cách mạng vô sản là “đả Thực – bài Phong”, nghĩa là đánh đuổi thực dân đế quốc và tiêu trừ, xóa bỏ chế độ phong kiến. Với mục tiêu đó bằng nhiều sách lược, thủ đoạn chính trị từ vận động, tổ chức.. và kết hợp với các yếu tố lịch sử khác thuận lợi, cuối cùng đảng CSVN đã giành được chính quyền về tay mình thông qua cuộc Cách mạng tháng 8/1945.
Và đây cũng là thời điểm những người cộng sản đã tuyên bố cáo chung chế độ phong kiến đã tồn tại trong hàng nghìn năm lịch sử, thông qua việc thoái vị của Vua Bảo Đại, ông Vua cuối cùng của lịch sử chế độ phong kiến ở Việt nam. Rồi cũng từ đó lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc Việt nam, một chính thể dân chủ, cộng hòa đã được thành lập trên đất nước Việt nam từ ngày 2/9/1945 và đặc biệt là cuộc bầu cử Quốc hội khóa I vào tháng 1 năm 1946 hoàn toàn dân chủ, tự do làm cơ sở ra đời bản Hiến pháp nước VNDCCH năm 1946. Như vậy mục tiêu “đả thực và bài phong” tưởng như đã hòan thành, chế độ phong kiến vĩnh viễn biến mất trong lịch sử chính trị Việt nam.
Thông qua sự giáo dục và tuyên truyền của đảng và nhà nước Việt nam kéo dài trong nhiều chục năm qua nên hầu hết người dân ai ai cũng cảm thấy và có suy nghĩ rằng nhờ đảng CSVN, cá nhân mình và nhiều thế hệ cha anh mình được may mắn sống trong chính thể cộng hòa dân chủ tươi đẹp, thoát khỏi xã hội phong kiến lạc hậu, độc đoán như mình đã được giáo dục. Và mọi người cũng yên trí cảm thấy tạm hài lòng với những gì mình đã có, đã được hưởng trong xã hội hiện tại tuy rằng nó còn có nhiều khó khăn và bất cập chưa được giải quyết vì đinh ninh rằng dù sao nó còn hơn vạn lần thời phong kiến.
Trở lại thắc mắc của một số độc giả, đề nghị tôi trả lời cho họ câu hỏi “Hiện bây giờ đảng CSVN nói chính xác đang ở hình thái kinh tế – xã hội nào?”, khi mà tôi cho rằng không ai biết, kể cả chính những người lãnh đạo của đảng CSVN cũng vậy. Để tìm được câu trả lời thỏa đáng, dễ hiểu và theo tôi nó mang tính thuyết phục cao thì chúng ta cùng tìm câu trả lời cho câu hỏi ” Vậy chế độ Phong kiến có những đặc trưng gì nổi bật nhất?”.
Trước hết cần hiểu định nghĩa về chế độ phong kiến: Về mặt thuật ngữ, chế độ phong kiến (phong tước, kiến địa) là một từ chuyển ngữ từ chữ féodalité (hoặc féodalisme), một chữ bắt nguồn từ chữ feod trong tiếng Latinh nghĩa là “lãnh địa cha truyền con nối”. Thể chế quân chủ trong thời đại phong kiến là chế độ quân chủ chuyên chế (khác với chế độ Quân chủ lập hiến). Theo đó, mọi quyền lực, mọi chi phối các hoạt động trong xã hội gần như tuyệt đối tập trung trong tay nhà Vua hay Hội đồng nhà Vua lãnh đạo. Chế độ quân chủ thường dùng hình thức phong kiến (hình thức phân phong đất đai) để truyền nối và chiếm hữu đất đai.
Chế độ phong kiến có 6 đặc điểm nổi bật như sau:
1. Quyền lực thuộc về một người (hoặc một nhóm người) luật pháp đại diện cho ý chí của giai cấp thống trị và bảo vệ lợi ích của giai cấp này. Giai cấp thống trị đứng trên Luật pháp, có một vùng cấm dành riêng cho họ.
2. Quyền định đoạt sở & hữu đất đai thuộc về một nhóm người, giai cấp địa chủ phong kiến nắm quyền sở hữu phần lớn ruộng đất (gồm cả sở hữu tư nhân và sở hữu nhà nước) và tiến hành bóc lột địa tô (dưới nhiều hình thức như tô lao dịch, tô sản phẩm, tô tiền hay những hình thức kết hợp) đối với nông dân không có hay có ít ruộng đất (dưới những hình thức và mức độ lệ thuộc khác nhau).
3. Trong chế độ phong kiến nhân dân bị phân chia thành nhiều giai cấp khác nhau, nhằm mục đích kìm hãm sự đoàn kết của cộng đồng dân tộc để thuận tiện cho việc cai trị, dùng giai cấp này để trị giai cấp kia.
4. Là chế độ “Cha truyền con nối”: Những chức tước quan trọng và bổng lộc do một (hoặc một nhóm người) có quyền tùy ý quyết định bổ nhiệm, ban phát theo ý họ ( hoặc do mua quan bán chức)chứ không xuất phát từ nguyện vọng của dân chúng.
5. Thần thánh hóa lãnh tụ: Chế độ phong kiến sinh ra một số sản phẩm tinh thần có vai trò chi phối cách hành xử của dân chúng. Vua chúa được coi là Thiên tử (con Trời), những cá nhân lỗi lạc hoặc những lượng siêu nhiên dễ bị biến thành thần thánh, được đặt lên bệ thờ, hoặc đưa vào lăng tẩm. Ý chí của giai cấp thống trị là ý Trời, người dân sẽ bị ghép vào tội khi quân khi xúc phạm, nói trái ý hoặc bầy tỏ ý kiến khác. Cái mà thời nay bị coi là chống đối chế độ, phê bình, phê phán lãnh đạo là tội tuyên truyền chống phá chỉ có một con đường là chết.
6. Nền tảng ý thức hệ trở thành công cụ sắc bén phục vụ cho nhà nước phong kiến tập quyền, trở thành cơ sở lí luận và tư tưởng của chế độ phong kiến. Sau này học thuyết của Nho giáo trở nên bảo thủ, ràng buộc tư tưởng tình cảm con người vào những khuôn khổ lỗi thời và kìm hãm sự phát triển xã hội. Hệ ý thức này bị biến thái trở thành “đạo” và đạo này là chính đạo, mọi thứ đạo hay tôn giáo khác đều là tà đạo và cần phải tiêu diệt.
Căn cứ vào 6 đặc điểm cơ bản và đặc trưng nhất của chế độ phong kiến để so sánh các sự kiện tương ứng đang diễn ra tại xã hội Việt nam hiện nay về chính trị, văn hóa, xã hội và tín ngưỡng thì sẽ tìm được câu trả lời thỏa đáng. Bởi nhận thấy chế độ phong kiến chuyên quyền và lạc hậu ấy nó giống y như thể chế chính trị xã hội Việt nam hiện nay do chính quyền của đảng CSVN lãnh đạo, chỉ khác nền kinh tế Việt nam thì đang ở thời kỳ tư bản hoang dã, khi mà quan hệ giữa người với người như chó sói. Còn nói đúng ra thì chế độ hiện tại ở xứ mình đang giống y như thời kỳ phong kiến, mà hình như còn có phần độc đoán, độc tài độc ác hơn, nhưng lại thiếu kỷ cương phép nước hơn.
Qua đó tôi tự hỏi mình ” Hóa ra dân tộc Việt nam ta dưới sự lãnh đạo của đảng CSVN, trải qua mấy chục năm chiến tranh tương tàn,đổ máu “nồi da xáo thịt”, chết chóc hàng triệu sinh linh để cái cuối cùng đạt được là: Đánh đổ chế độ phong kiến cũ một ông Vua để… xây dựng một xã hội phong kiến mới với một tập thể các ông Vua độc đoán, tàn ác hơn hay sao?”
Việt nam, Trung quốc, Cu ba và Bắc Triều tiên là cái sản phẩm còn sót lại của cái gọi là phe xã hội chủ nghĩa, với chủ nghĩa Marx – Lenine là gốc của nền tảng tư tưởng, với hy vọng xây dựng một xã hội cộng sản không tưởng. Nhưng Trung quốc, Việt nam và gần đây là Cu ba đã nhanh chân bỏ Chủ nghĩa Maxr – Lenine chạy lấy người, tuy vậy họ vẫn xưng xưng nói dối. Nếu mấy quốc gia trên họ không thay đổi thì cứ nhìn vào đất nước Bắc Triều tiên hiện nay thì khác gì chế độ phong kiến, nói đúng ra thì Việt nam chúng ta hiện nay có thể coi là một bản sao chép tồi của chính quyền Bắc Triều tiên
Còn cái danh xưng cộng sản của nhà cầm quyền Việt nam hiện nay chỉ là một cái thứ hữu danh, vô thực nhằm đánh lừa những người nhẹ dạ. Xin đừng ngộ nhận về hai chữ Cộng sản các bạn nhé !
Ngày 12 tháng 03 năm 2012

© Kami

Chuyện Dài Bán Nước : Những bằng chứng tội ác của đảng Cộng sản Việt Nam


Nếu phải đưa lên các trang mạng toàn cầu những hình ảnh về tội ác của đảng Cộng sản Việt Nam, thì có lẽ phải cần có nhiều người mới có thể thực hiện được cộng việc nầy. Điều này, cần phải làm. Nhưng điều mà tôi muốn nói đến, là tội ác của đảng Cộng sản Việt Nam đã lợi dụng sự ngây thơ, khờ dại của trẻ em để xúi dục các em đi làm bia đỡ đạn, và đi vào chỗ chết !
Gần đây, nhiều vị đã sưu tầm được những hình ảnh của trẻ em ở vào lớp tuổi quá nhỏ đã bị bọn Việt cộng bắt buộc phải cầm súng, mà có lẽ khi cầm súng mà cứ tưởng là "đồ chơi", và cũng không biết bản thân mình phải chết, vì với lứa tuổi trên dưới mười tuổi, thì chỉ biết đó là "súng đồ chơi" thôi, chứ con nít mà làm gì có những sự hiểu biết của một người đã trưởng thành.
Đẩy trẻ thơ đi vào chiến trường để phải chết, là một đại tội, đảng cộng sản Việt Nam đâu có khác gì bọn khủng bố. Một đứa trẻ chỉ mới hơn mười tuổi, mà bọn cộng sản đã khắc ghi trên bia mộ bằng dòng chữ: "Liệt sĩ - hy sinh" thì quả là đã quá xem thường luật pháp Quốc Tế. Những hình ảnh nầy, chính là bằng chứng tội ác của đảng cộng sản Việt Nam, cần phải đưa ra tòa án quốc tế, để mong cứu được các trẻ em Việt Nam cũng như trẻ em ở những nước khác trong hiện tại cũng như trong tương lai. Chúng ta không thể bỏ qua những việc cần phải làm ngay trong lúc nầy. Xin đừng lo những chuyện không tưởng và vô ích.
Kẻ viết bài nầy, khi nhìn thấy những hình ảnh của những "bộ đội" miệng còn hôi sữa trong những tấm hình khi đang ngồi trong lớp học chữ do chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thành lập và nhiều tấm hình khác nữa. Có tấm hình các "bộ đội" con nít này đã xin ở lại với chính quyền Quốc Gia, thà chết, chứ không chịu bị trao trả về với Bắc cộng.
Còn một "liệt sĩ" mà tôi đã để ý đến, đó là Nông Văn Dèn (Dền) khi dò đọc trên "Bách khoa toàn thư mở Wikipedia", với những dòng đã viết về Nông Văn Dèn (Dền - tức Kim Đồng) như sau đây:
"Anh trai là Nông Văn Tằng (bí danh là Phục Quốc) sớm tham gia cách mạng, là đội viên giải phóng quân, chiến đấu và hy sinh ở Chợ Đồn (Bắc Kạn). Để anh Phục Quốc có điều kiện hoạt động cách mạng, 12 tuổi, Kim Đồng đã thay anh đi phu, chặt cây, trồng cỏ ở đồn Sóc Giang".
Ngày xưa, người dân mình đã từng lên án thực dân Pháp đã bắt dân đi phu, nhưng họ là người lớn, còn đảng cộng sản Việt Nam lại còn ác độc hơn cả thực dân gấp bội, khi đã bắt Nông Văn Dèn, tức Kim Đồng, một đứa bé chỉ mới mười hai tuổi phải "đi phu, chặt cây, trồng cỏ ở đồn Sóc Giang", thì tội ác nầy, những người Việt Nam hiện nay còn sống, phải tính sao đây đối với những hồn oan, uổng tử ?!
Những oan khiên nầy, thì chắc tất cả những người có lương tri còn sống ở trên đời nầy, đều phải xót thương cho những cho những nạn nhân bé bỏng đã phải chết khi chưa có một chút hiểu biết gì cả. Các em đã chết khi ôm những "khẩu súng đồ chơi" mà do bọn cộng sản Việt Nam lừa gạt giao cho. Đây là những tội ác tày trời mà chỉ có một số vị đã nhắc tới, còn đa số vẫn lặng thinh, mà chỉ nói đến những chuyện trên trời dưới bể.
Đừng chần chờ gì nữa, mà xin mọi người Việt Nam, ở trong cũng như ngoài nước hãy cùng nhau một lòng, đều lên tiếng, cùng sưu tầm thêm những hình ảnh nữa, càng nhiều càng tốt, để đưa những tội ác của đảng Cộng sản Việt Nam đối với trẻ em ra trước luật pháp Quốc tế, để rửa oan cho tất cả những nạn nhân là trẻ em đã bị chết khi không biết mình chết cho ai !.
Nên nhớ, vì thừa lệnh của chính bọn cộng sản đương quyền tại Việt Nam, mà đứng đầu là những tên như: Trương Tấn sang, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng v...v... và cả "Bộ chính trị" tại Hà Nội đã ghi khắc trên bia mộ của một đứa trẻ:
"Liệt sĩ Lê Trung Tường, sinh năm 1959. Nhập ngũ 4.68; Hạ sĩ; xã Hạ Trạch, xã Bố Trạch, Bình Trị Thiên. Hy sinh 5.1.71".
Như vậy, "Hạ Sĩ Việt cộng Lê Trung Tường, quê xã Hạ Trạch, huyện Bố Trạch, Bình Trị Thiên. Em tường sinh năm 1959, nhập ngũ năm 1968 (lúc 9 tuổi) bị chết trận năm 1971 (lúc 12 tuổi).
Tội ác đã quá rõ ràng, không còn cách nào để chối cãi. Hãy đưa tất cả bọn cầm quyền của đảng Cộng sản Việt Nam ra trước luật pháp Quốc tế, để luận tội, và để đòi lại sự công bằng cho tất cả những nạn nhân trẻ em đồng cảnh ngộ khác nữa !
Portland, OR 97216
Ngày 19/3/2012
Phạm Bình

Bài Xem Nhiều