We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 20 March 2012

Nhân Hóa Tuổi Già


 
Thế hệ sanh ra sau thế chiến thứ hai hay baby boomer nay đã bước dần vào giai đoạn hoàng hôn của cuộc đời.

Đa số đã là ông bà nội hay ông bà ngoại rồi…

Già có nghĩa là ốm yếu, bệnh hoạn, xấu xí, mất năng lực, không còn hữu dụng, mất khả năng, phải trong cậy vào người khác, nghèo khó, buồn nãn, cô đơn trong căn phòng hiu quạnh ngày nầy qua ngày nọ để chờ ngày ra đi theo ông theo bà...
Tuổi già với niềm vui thư pháp.
Vidéo: Une résidence pour personnes âgées, la résidence Harold, Paris
http://www.dailymotion.com/video/xe726i_une-residence-pour-personnes-agees_lifestyle


Hầu như mọi quốc gia trên thế giới đều có đề ra những chánh sách để giúp đỡ, tôn trọng và trân quý người già, nhưng đây cũng chỉ là trên lý thuyết mà thôi. Thực tế phải còn tùy thuộc vào tình trạng kinh tế và quyết tâm chánh trị của từng xứ mà thôi.

Thôi thì xin các cụ ông và cụ bà hãy tạm hài lòng với danh dự được xã hội đề tặng sự trân quý và biết ơn bằng những danh xưng rất kêu như: Lão ông, Lão bà, Cao niên, Cao tuổi,Tuổi vàng, Tuổi Hạc, Senior citizen, Golden age, Âge dor, les Ainés, v.v...

Chánh phủ còn nhiều khó khăn về ngân sách, phải dành ưu tiên cho thế hệ tiếp nối, cho tuổi trẻ, cho tương lai của quốc gia, của dân tộc...

Các cụ cũng đã sống nhiều rồi.

Nói chung tại các quố gia Tây phương, cuộc sống vật chất của người già cũng còn tương đối có phần đỡ hơn các vùng khác trên thế giới.

Người già mất giá.

Họ trở thành một gánh nặng cho gia đình, cho xã hội và cho quốc gia.

Người già thường phải chịu đựng thành kiến từ lớp người trẻ tuổi, và than ôi, trong đó có cả những người hằng ngày có nhiệm vụ chăm sóc họ như bác sĩ, y tá, điều dưỡng viên, nhân viên xã hội và cả con cháu, hoặc thân nhân ruột thịt trong gia đình.

Trong y khoa, lão y (gériatrie) chỉ mới được nhìn nhận như một chuyên ngành tại Quebec từ gần đây mà thôi, nghĩa là từ giữa những năm 80. Tuy nhiên, giới sinh viên y khoa trẻ tuổi không mấy mặn mà với lãnh vực quá phức tạp nầy vì nó đòi hỏi ở người thầy thuốc phải có một tinh thần vững chắc, một thể lực cao và nhứt là một tấm lòng biết thương người vô bờ bến.

Secteur délaissé

Le secteur de la gériatrie, synonyme de conditions de travail physiquement et moralement pénibles, souffre dune image négative expliquant la désaffection des jeunes pour ce domaine. Le secteur est peu convoité aussi parce que les différentes formations des principaux professionnels de la gériatrie (médecins, infirmiers et travailleurs sociaux) ne proposent que très rarement des cours en soins gériatriques ; et si cest le cas, les contenus sont alors très succincts. De même, rares sont les universités qui offrent des formations de travailleur social gérontologique. Par exemple, on en recense une à Calgary et une à Toronto.

Ở đâu cũng vậy, muốn sống như ý, sống dễ chịu thì phải có tiền để mướn người săn sóc đặc biệt.Tóm lại là phải có tiền. Còn không thì ai cũng như ai mà thôi.

Tại Québec,Canada, tình trạng lão hóa là nột hiện thực của xã hội. Hiên nay, số người trên 65 tuổi chiếm 14% dân số. Tuổi 65 là tuổi chánh thức để được xếp vào nhóm người già tại Canada và đuợc hưởng tiền già và các phúc lợi về y tế và xã hội.

Nhà già và nhà nuôi dưỡng dài hạn là những nơi an cư cuối cùng của người cao tuổi. Công có, tư có.

Chăm sóc và services tùy theo điều kiện cũng như khả năng tài chánh của mỗi cụ.

Có những nơi bình dân nhưng cũng có nhữg nhà già thuộc loại de luxe 4-5 sao.Tiền nào của nấy.

Đây là một ngành kỹ nghệ đang bùng phát lên rất nhanh.

Săn sóc người già trở thành một dịch vụ hái ra tiền.

Tại Montreal hay Toronto, các báo Việt Nam thỉnh thoảng cũng có đăng tin cung cấp dịch vụ thăm viếng, săn sóc người già tại nhà thương hoặc tại nhà. Cũng có gia đình cần người chăm sóc cha hoặc mẹ già. Thường là họ tìm phụ nữ trung niên hay sồn sồn để giúp vào công việc trên. Trả tiền mặt khỏi thuế. Có nơi họ còn bao luôn cả ăn và ở.

Có thể gọi đây là nghề săn sóc người dưng.

Công việc săn sóc người cao tuổi, bệnh hoạn, tánh tình có khi hơi đặc biệt, là một công việc không đòi hỏi trình độ học vấn cao, nhưng cực nhọc, cần sự nhẫn nại, chịu khó, không phải ai cũng làm được hết đâu.

Tại thành phố Sài Gòn hiện nay cũng thấy xuất hiện ra những dịch vụ tương tợ.

Tại Quebec, cơ quan Centre local de services communautaires hay CLSC của nhà nước, nếu có yêu cầu cần sự giúp đỡ, mỗi tuần một ngày họ sẽ gởi người đến để tắm rửa và dọn dẹp căn phòng cho cụ già neo đơn.

Muốn được đầy đủ, chu đáo và như ý hơn thì nên nhờ đến các công ty tư.

Nhân hóa tuổi già

Denise Dubé là một nhà tâm lý đồng thời bà ta cũng là một giáo sư về lão học tại Quebec. Năm 2006, bà đã cho xuất bản tác phẩm Humaniser la vieillesse (Nhân hóa tuổi già) nhằm mục đích tô điểm lại phần nào thân phận người già.

Psychologue clinicienne auprès des adultes et des personnes âgées, DENISE DUBÉ est professeur de psychologie au Collège François-Xavier-Garneau. Elle a enseigné la psychologie gérontologique au Campus Notre-Dame-de-Foy, au Collège François-Xavier-Garneau et à lUniversité Laval.

Đây là một tác phẩm khảo cứu về thực trạng của vấn đề lão hóa tại Canada. Tác giả muốn gợi lên sự cần thiết phải nhân hóa tuổi già. Người cao tuổi cũng có cái hay riêng của họ.

Sách có kèm theo rất nhiều tham khảo chuyên môn rất giá trị. Chủ yếu nhắm vào những người có nhiệm vụ săn sóc người già trong các nhà già và viện dưỡng lão.

Sau đây là tóm lược những điểm chánh của quyển Humaniser la Vieillesse.

Các bạn có biết rõ tuổi già là thế nào hay không? Page 5 à 15

(Nên nhớ đây là khảo cứu về lão học tại Canada, một xứ giàu có và có khá đầy đủ cơ chế xã hội để giúp đỡ và bảo vệ người già từ 65 tuổi trở lên (tiền già, trợ cấp y tế miễn phí, chung cư giá hạ, nhà già, v.v…)

1) Đa số người già đều có dấu hiệu lão suy (sénile) và sa sút trí tuệ (démence)

Đây là một xét đoán không có cơ sở. Ngược lại, đa số các cụ không có bị xáo trộn tinh thần. Nhận xét tiêu cực trên đây có thể do sự lẫn lộn giữa tình trạng sa sút trí tuệ và tình trạng lão hóa của nhận thức bình thường (vieillissement cognitif normal).

Tại Canada 8% dân số trên 65 tuổi có dấu hiệu sa sút trí tuệ và lối 5% mắc bệnh lú lẫn Alzheimer.

2) Ngũ quan có khuynh hướng giảm theo tuổi

Các khảo cứu cho thấy ngũ quan có giảm đi khi về già. Bắt đầu là các chức năng cảm giác (thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác) có vấn đề vào lứa tuổi 60.

3) Đa số người cao tuổi không còn sự ham muốn tình dục (libido) cũng như không có khả năng làm tình.

Nếu bạn cho rằng sự kiện trên là đúng thì chắc bạn nhìn nhận rằng đối với các cụ già, sex chỉ còn là những kỷ niệm êm đềm trong quá khứ (meilleurs souvenirs) mà thôi.

Nhưng các nhà tình dục học nổi tiếng như Masters et Johnson thì cho rằng sự ham muốn vẫn có thể còn được duy trì một cách satisfaisant (không quá tệ) ở những cập vợ chồng thuộc lứa tuổi 70 và 80.

Không thấy tác giả Masters et Johnson so sánh việc ăn cơm với ăn phở.

Riêng về phía các cụ bà, Masters et Johnson cho rằng họ không có bị giới hạn vì tuổi tác nhưng tiếc thay về phía cụ ông, sex bị chi phối bởi điều kiện thể xác và tinh thần.

Đa số các ông đều chết sớm nên các bà đành chịu thôi.

Masters, W.H Johnson. Human sexual responses. Boston Littlt; Brownand company (1966)- Human sexual Inadequacy (1970) và Human sexuality(1992) NewYork, Harper Collins.

4) Khả năng hô hấp giảm khi về già.

Thật ra hô hấp giảm dần từ tuổi 30 trở đi. Đây là dung tích volume không khí hít vào 2 lá phổi và thở ra trong 15 giây.

5) Đa số người già đều cảm thấy khổ sở.

Khảo cứu cho thấy ngược lại. Tại các sứ phương Tây, người già rất thỏa mãn trong cuộc sống rất cao của họ.

6) Thể lực có khuynh hướng giảm thiểu khi về già.

Thể lực giảm đi từ 10-20% đến tuổi 70. Tuy nhiên sự suy giảm thể lực có thể bị đẩy lùi lại nhờ vào những chương trình luyện tập thích nghi.

7) Tại Canada, ít nhất 15%người già sống trong các nhà già (résidence) và các nhà săn sóc dài hạn (centre de soins de longue durée, CSLD, Long term care facility).

Sai- Theo thống kê Canada, 17% dân số trên 65 tuổi nhận được sự trợ giúp tại gia. Ngoài ra 6% được chăm sóc tại các trung tâm săn sóc dài hạn.

8) Người già còn làm việc thường cho năng suất kém hơn người trẻ tuổi.

Mặc dù có những suy giảm về một vài chức năng và tốc độ phản ứng có chậm đi nhưng người già cũng có thể làm việc có hiệu quả không thua gì người trẻ. Bù lại người già có tỉ lệ vắng mặt ít hơn người trẻ, ít bị tai nạn hơn và cho năng suất đều đặn hơn.

9) Lối 80% người già có sức khỏe tương đối tốt và tự lập để có thể sinh hoạt bình thường mà không cần đến sự trợ giúp của người khác.

10) Người già hay giữ y thói quen của họ, rất bảo thủ và không chịu mọi sự thay đổi.

Người già thường có thái độ rất ổn định, nhưng đa số vẫn chấp nhận sự thay đổi và thích nghi vào điều kiện mới: nghỉ hưu, con cái ra riêng, gáo bụa, thay đổi chổ ở, bệnh tật...

Họ vẫn có khả năng thích nghi vào mọi tình huống như giới trẻ.

11) Người già học hành chậm, đòi hỏi nhiều thời gian để thu nhận được một vấn đề mới mẻ

12) Trong thực tế, người già không thể nào có khả năng học hỏi để tiếp thu được một kiến thức mới

Sai-Khả năng thụ đắc một kiến thức mới đều có ở mọi lứa tuổi. Đối với người già họ cần phải có thời gian và điều kiện thuận tiện.

Càng ngày càng có nhiều đại học và trường cao đẳng mở những chương trình bổ túc formation continue thích nghi vào nhu cầu của lớp người già.

13) Tóc độ phản ứng ở người già thường chậm hơn so với người trẻ.

14) Nói chung tất cả người già đều giống nhau.

Không- Họ không giống nhau hết đâu. Khả năng trí tuệ, nhân cách, thái độ, cũng như các biến số về thể xác và xã hội đều khác biệt nhau ở người nầy so với người kia.

Sự kiện khác biệt về cá thể nêu trên đã đánh đổ ý niệm khuôn đúc cho rằng tất cả các cụ đều giống nhau hết.

15) Đa số người già ít khi buồn chán.

Có khảo cứu cho thấy chỉ có 17% người già rơi vào tình trạng khó tìm được một sinh hoạt như họ mong muốn, còn lại 2/3 thì cho rằng họ không bao giở buồn chán.

16) Đa số người già đều bị tách biệt ra và họ cảm thấy rất cô đơn.

Khảo cứu 1981 cho biết 13% người già thú nhận họ rất cô đơn trong cuộc sống, nhất là những người gáo bụa, những người sống trong các viện dưỡng lão. Sự cô đơn gắn liền với bênh tật ở một số các cụ, nhất là bệnh tâm thần. Sư cô đơn có một tác dụng tiêu cực đối với hệ miễn dịch và từ đó kéo theo nhiều bệnh tật.

17) Đa số các nhà chuyên môn (bác sĩ, y tá, điều dưỡng viên, chuyên viên xã hội...) trong phạm vi nghề nghiệp thường có ý tưởng không tốt đối với người già.

Họ tin vào những khuôn đúc stéréotypes tiêu cực. Bởi lẽ nầy, họ vẫn thích làm việc, săn sóc bệnh nhân nhỏ tuổn hơn là người già cả.

18) Những người già nào còn duy trì được sinh hoạt của mình thường cảm thấy hạnh phúc hơn những ai ít còn họat động.

Khảo cứu cho biết hạnh phúc của tuổi già không dính liền với nếp sinh hoạt hay sự thiếu hoạt động, nhưng thật sự ra là nhờ tiến trình thích nghi (processus dadaptation) của họ trong đó nhân cách (personnalité) đóng một vai trò quan trọng.

Tóm lại, có cụ cần phải hoạt động, có cụ khác thì cần sự yên tịnh và sự riêng tư để có được hạnh phúc.

19) Đa số người già vẫn còn sinh hoạt hay có ý muốn làm một công việc gì đó, chẳng hạn như làm thiện nguyện.

20) Đa số người già ít khi nổi giận bất tử.

Rất ít khảo cứu cho biết vấn đề nầy, nhưng phần đông các cụ cho biết là đôi khi họ cũng cảm thấy bực bội khó chịu (irrité)
21) Nhân cách không thay đổi lúc về già.

Khảo cứu cho biết nhân cách rất ổn định trong suốt cuộc đời, nhưng cũng có khảo cứu khác cho biết cá tánh có thể thay đổi theo tuổi tác. Đó là sự gia tăng khuynh hướng nhìn vào nội tâm (augmentation de lintériorité) nhằm tìm ra ý nghĩa của cuộc sống.

Tuy có rất nhiều khảo cứu đã giúp chúng ta hiểu được phần nào thực chất của tuổi già nhưng than ôi, trong xã hội ngày nay người cao tuổi vẫn còn phải chịu lắm đắng cay, bạc đãi...

Hiện tượng lão hóa vẫn còn phải chịu đựng áp lực từ những huyền thoại (mythes) và từ những khuôn đúc tiêu cực.

Khuôn đúc tiêu cực và huyền thoại về lão hóa có thể khiến chúng ta có thái độ tiêu cực mỗi khi có dịp tiếp xúc với người già.

Những thái độ tiêu cực có thể là nỗi lo sợ người già, lo sợ tuổi già (gérontophobie), đánh giá người già qua tuổi tác (âgisme) và thái độ xem nguời già như con nít (infantilisation ou bébéisme). Đây là nguyên nhân đưa đến sự kỳ thì để khước từ một dịch vụ nào đó. Thí dụ “thôi đi pa ơi, pa già quá rồi, hổng được đâu”.

Sợ già cũng thường hay thấy xảy ra ở phía các bà. Đây là một cách chối từ lão hóa (page 14-15).

Khuôn đúc tiêu cực quá phổ biến trong xã hội đã khiến cho không ít cụ tin theo những ý tưởng sai lầm trên và họ dễ dàng xuôi tay chấp nhận.(page 17)
Một số huyền thoại về người già.

Huyền thoại (mythe)là sự sáng tạo ra một hình ảnh trong trí não mà không dựa vào một thực tế nào hết. Sau đây là một số thí dụ:

*Phần lớn người già đều bị lão suy(sénile) hay bị sa sút trí tuệ hay thác loạn tinh thần (démence)
*Đa số người già đều rất khổ sở
*Về mặt làm việc, người già không có năng suất bằng người trẻ tuổi
*Đa số người già hay bệnh hoạn và cần đến sư giúp đỡ trong đời sống hằng ngày.
*Người già thường hay giữ thói quen, rất bảo thủ khó bắt họ thay đổi được.
*Bất luận người già nào họ đều giống nhau hết
*Phần đông người già đều sống cách biệt và họ thường cảm thấy cô đơn.

Các nghiên cứu về lão học (gérontologie) đã giúp sửa sai lại rất nhiều quyền thoại về người già nhờ đó mà chúng ta có thể hiểu và cảm thông với hoàn cảnh đáng thương của họ.

Sự thiếu hiểu biết về hiện tượng lão hóa không những được thể hiện qua các huyền thoại mà còn xuyên qua các khuôn đúc (stéréotypes) tiêu cực.
Một số khuôn đúc về người già

Khuôn đúc (stéréotype)là một tổng hợp những ý tưởng đã có từ trước, những sự tin tưởng hay ý kiến sai lầm, gán đại cho tất cả cá nhân của một tập thể.

Chẳng hạn như:

1)Thích giao tế, họp hành với bạn bè
2)Thích đùa giỡn, vui cười
3)Lo sợ cho tương lai
4)Thích đánh bài và các trò chơi khác
5)Thích đấu láo, kể lại chuyện đời mình ngày xửa ngày xưa
6)Thích nhờ cậy, tùy thuộc vào con cháu (nhờ cậy tiền bạc, sự giúp đỡ, ý kiến) , không dám tự mình quyết định lấy vấn đề.
7) Hay bị bệnh hoạn, cần uống nhiều thuốc.
8)Có tật hay lải nhải, lẩm cẩm, nói đi nói lại toàn chuyện cũ rích.(radoter)
9) Ít săn sóc (râu ria, tóc tai bù xù), không lo nghĩ đến bề ngoài của mình như ăn bận lôi thôi chẳng hạn.
10)Rất sùng đạo, hay cầu nguyện.
11)Rất nhạy cảm, hay âu lo.
12)Không còn biết ham muốn hay quan tâm đến sex, hết xí quách.
13)Quá yếu để luyện tập thể dục.
14)Lợi tức kém hay nghèo quá.

Tác giả Denise Dubé cho biết trong số trên có thể nhận diện thật sự được khuôn đúc trong 7 trường hợp:3,5,6,7,8,10 và11. Đây là những khuôn đúc tiêu cực nói lên hình ảnh bất an,yếu đuối, suy xụp, giảm chức năng, sự lệ thuộc và cảnh cách biệt, cô đơn của người già.

Những diều kiện để có được một sức khoẻ tâm thần tốt ở tuổi già

Theo Conseil consultatif national sur le troisième âge(1991), nhân cách của một cá nhân, hành động của họ và những cách để vượt ra khỏi tình trạng căng thẳng stress, tất cả đều là những yếu tố giúp ích vào sự duy trì một sức khỏe tâm thần tốt ở người già.

Bên cạnh đó cũng phải kể thêm vào các yếu tố khác như có sức khỏe, có an ninh, mối giao tiếp xã hội và gia đình, có thể tham gia vào những sinh hoạt hữu ích và có một điều kiện sinh sống ổn thỏa.

Lòng tự trọng (estime de soi), nghĩa là mình sao thì chịu như vậy cũng được xem là quan trọng để duy trì một sức khỏe tâm thần tốt.Người biết tự trọng không hạ mình xuống thái quá cũng như không phách lối, khoác lác.

Một lòng tự trọng yếu kém sẽ dẫn đến sự lo âu, nghi ngờ về khả năng của mình, do dự trong hành động và cuối cùng là rơi vào trạng thái trầm cảm.
Trầm Cảm (dépression): thưòng hay xảy ra ở người già, nhất là các cụ sống trong các viện dưỡng lão. Có nhiều khảo cứu cho rằng trầm cảm là một diển tiến bình thường của tuổi già. (Page 154).

Dưới đây là các dấu hiệu của tình trạng trầm cảm:

-Thay đổi hành vi (comportements): có vẻ chậm lại, không màn tham gia vào những sinh hoạt mà cụ thích lúc trước. Không tham gia vào các mối giao tiếp xã hội, sống ẩn dật, rút vào bóng tối.

-Thay đổi cảm xúc (émotionnels): Buồn chán cực độ, tâm hồn trống rỗng, thất vọng, mất moral, bức rức, lo âu.

-Thay đổi nhận thức(changements cognitifs): khó tập trung tư tưởng và trí nhớ, tự phê bình, tự hạ giá mình xuống, có ý tưởng quyên sinh.

-Thay đổi liên quan đến chức năng của cơ thể (physiques): mất ngủ, thức sớm, đau nhức mệt mỏi triền miên, mất năng lực énergie, mất hứng làm tình, táo bón, nhức đầu...

Theo một khảo cứu Hoa Kỳ, người tỵ nạn VN trên 55 tuổi có tỉ lệ mắc bênh tâm thần cao so với các White non hispanic tứcMỹ trắng (không phải Latino). Đối với người Việt Nam đây là một vấn đề cấm kỵ tabou, ít người muốn nói đến kể cả bệnh trầm cảm (depression).

Mental health problems among Vietnamese Americans

http://psychcentral.com/news/2008/09/08/mental-health-problems-among-vietnamese-americans/2889.html
Many Vietnamese refugees who immigrated to the U.S. in the 1970s,80s and 90s suffered from depression and post-traumatic stress disorder, and they continue to have mental health issues today,” said Ngo-Metzger, medicine assistant professor according to a UC Irvine Center for Health Care Policy analysis of state data.

Căng thẳng tinh thần (stress) trong cuộc sống là nguyên nhân của sự suy sụp tinh thần.

Sau đây là một số khuyến cáo trích từ tài liệu quảng bá của Association canadienne pour la santé mentale và Humaniser la vieillesse của Denise Dubé.
Stress et vieillissement

http://www.acsm-ca.qc.ca/virage/personne-agee/stress-et-vieillissement.html
Làm sao tránh stress?

1) Đối mặt với nỗi lo sợ già và bệnh tật: Chấp nhận sự thật, giữ một thái độ tích cực, đi khám bác sĩ thường xuyên, cẩn thận vớc các loại thuốc đang sử dụng, nắm vững sức khỏe trong tay mình, ăn uống quân bình, uống ít rượu, bớt thuốc lá.

2) Đối mặt sự ra đi của người thân, của bạn bè: Hãy sống với tình cảm mất mát đó, đứng trước cái tang hãy nhớ lại quảng đời của người quá vãng, nên nhắc lại thường xuyên, kêu gọi đến gia đình và bạn bè người quá cố để hồi tưởng lại những kỷ niệm.Sẵn sàng giúp đỡ người khác nếu họ cần.

3) Đối mặt với nỗi niềm cô đơn: Nên giữ nếp sinh hoạt bình thường và cố tìm thêm bạn bè bất luận tuổi tác, dùng thời gian bên cạnh cháu chắt, làm thiện nguyện.

4) Đối mặt với việc nghỉ hưu: Lập danh sách những năng khiếu của mình, tái liên lạc lại với bạn bè, làm những gì mình ưa thích.

5) Tìm cho cuộc đời một ý nghĩa: Tổng kết, làm bilan những gì mình đã thực hiện được trong đời, dấn thân engagement, hãy có thái độ lạc quan, có niềm tin vào một tôn giáo.

Để có một tuổi già xứng đáng cần phải xác định ý nghĩa của cuộc đời mình. (page 174)
Ý nghĩa cuộc đời (sens de la vie) và sức khỏe tâm thần thường có liên hệ mật thiết với nhau.

Sự tìm ra ý nghĩa cuộc đời giúp cho người cao tuổi có một sức khỏe tâm thần tốt, một tinh thần ổn định trong lúc bị dằn vặt vì bệnh tật.

Ý nghĩa cuộc đời bắt nguồn từ lãnh vực tâm linh và tôn giáo. Các người già thường quay về quá khứ để tìm ý nghĩa cuộc sống, suy nghiệm về những giá trị mà họ đã tiêm nhiễm cũng như tìm nguồn an ủi vào đức tin và lòng tín ngưỡng.

Ngược với tuổi già, giới trẻ thường hướng về tương lai để phát họa một mục đích mới hầu cho cuộc sống của họ có được thêm phần ý nghĩa hơn.

Người già quay vào nội tâm để suy tư về cuộc đời. Họ cũng có thể tìm hiểu ý nghĩa cuộc sống qua những thành tựu của họ trong hiện tại, từ những sinh họat, từ những mối liên hệ gia đình và bạn bè. Tất cả đều có thể giúp cho họ đạt được sự mãn nguyện cá nhân.

Tuổi già chỉ là một giai đoạn trong cuộc đời mà thôi.

Suy nghiệm lại ý nghĩa của đời mình trong một viễn ảnh rộng lớn, căn cứ trên những thành tựu cũng như trên những thất bại, đớn đau và hạnh phúc. Nhờ đó mà người già sẽ nhận thức được đến một mức độ nào đó về sự khôn ngoan (sagesse) của mình.

Qua việc xác định lại bản sắc identité mới của mình, người già sẽ tạo ra những mối dây liên lạc mới với mọi người đồng thời điều chỉnh lại những thang giá trị cá nhân mà họ đã có từ trước.

Tương lai của tuổi già Việt Nam tại hải ngoại

Trong xã hội Tây phương, cha mẹ có bổn phận phải nuôi con khôn lớn nhưng ngược lại con cái không bị ràng buộc phải nuôi cha mẹ lúc về già. Đã có nhà nước và các cơ quan xã hội lo rồi.

Vậy thì cha mẹ Việt Nam phải ý thức và chuẩn bị tinh thần về những gì có thể chờ đón mình trong buổi hoàng hôn của cuộc đời.

Nhà già là giải pháp tất yếu của hầu hết chúng ta. Kẻ trước người sau vô đó để chờ ngày ra đi. Chạy đâu cũng không khỏi.

Tác giả Trịnh Thanh Thủy có viết bài Cơn ác mộng của người già trong viện dưỡng lão đã nói lên một sự thật mà nhiều người cố tình không dám nghĩ tới.
http://nguoivietboston.com/?p=5789
Kết Luận

Nói đến tuổi già là một vấn đề quá phức tạp và vô cùng rộng lớn.

Dù muốn dù không, trước sau gì ai cũng đều phải trải qua giai đoạn đó hết.

Tùy theo theo hoàn cảnh, tùy theo cá tánh và tùy vào đức tin tôn giáo mà mỗi người sống tuổi già của mình một cách khác nhau, bình an thanh tịnh hay không.

Cái chết không làm cho người già lo sợ, họ đã chấp nhận rồi vì không thể nào làm khác hơn được.

Họ chỉ sợ thời gian trước khi chết mà thôi. Sợ bịnh tật làm hao mòn thể xác và đau đớn tâm hồn. Sợ ỉa trây đái dầm làm mất phẩm cách. Sợ bị bạc đãi. Sợ phải trong cậy vào con vào cháu hoặc người khác trong sinh hoạt hằng ngày...

Denise Dubé, qua tác phẩm Humaniser la vieillesse có thiện ý nói lên một sự thật mà nhiều người cố tình không muốn biết. Đây có phải là một ảo tưởng, một tham vọng quá to tát không?

Nhưng than ôi! một cánh én không thể làm nổi một mùa xuân.

Cho dù sống ở đâu đi nữa, sự thật là người già Việt Nam vẫn còn phải chịu khổ mọi bề, nhứt là về mặt tinh thần. Vấn đề không ít người già bị con cháu ngược đãi, không kính trọng, tước mất uy quyền là những sự thật trong xã hội ngày nay mà ít người muốn bàn đến.

Vậy,có thương con cái, thì phải chuẩn bị lo hậu sự của mình và làm tờ di chúc cho rõ ràng và phân minh ngay từ bây giờ...

Ôi tuổi già là thế đó! 
 
Nguyễn thượng Chánh, DVM
 
Tham Khảo
- Ministère de la santé et des services sociaux du Québec, Bien vivre avec son âge

http://collections.banq.qc.ca/ark:/52327/bs40216
- Bs Thú y Nguyễn Thượng Chánh Nước mắt chảy xuôi

http://www.vietbaoonline.com/?ppid=45&pid=115&nid=155866
Viễn du tiên cảnh

http://www.yduocngaynay.com/8-8TK_NgTChanh_VienDuTienCanh.htm
Giã từ cô đơn

http://www.yduocngaynay.com/8-8TK_NgTChanh_GiaTuCoDon.htm
Nghỉ hưu sướng hay khổ

http://caonienbachhac2011.blogspot.ca/2011/12/nghi-huu-suong-hay-kho_03.html
-Một nghề cao quý : Săn sóc cuối đời

http://nguoivietboston.com/?p=5913
Montreal, 2012

Yêu Mãi Cờ Vàng : Tôi Sẽ Không Tự Giải Ngũ .

Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa

Được Giải Ngũ Chưa?


Thêm một ngày 30 tháng 4 đang tới. Ba mươi hai ngày 30 tháng 4 đang qua. Thời gian có thể làm nguôi ngoai nhiều chuyện. Nhưng nỗi đau khi nhìn quê hương VN thân yêu đang tiếp tục chịu cảnh điêu linh, tan nát, nhìn dân tộc VN đang bị đoạ đầy, đau khổ, sẽ không bao giờ nguôi trong lòng chúng ta cho tới khi quê hương VN thật sự có tự do, độc lập, hạnh phúc, phú cường. Ngày 30 tháng 4, 1975 luôn luôn tạo ra biết bao ngậm ngùi, cay đắng, uất nghẹn trong lòng mọi người chúng ta, nhất là trong tâm trí người lính VNCH vì chính trong ngày này, một quân đội tinh nhuệ, thiện chiến trên thế giới đã bị bán đứng do các mưu toan chính trị quốc tế “ngắn hạn” sắp xếp. Từ việc quân lực VNCH bị buộc buông súng, ngưng chiến đấu theo lệnh ông Dương Văn Minh, đại nạn của dân tộc qua biến cố đau thương 30/4, 75 bắt đầu khởi sự và kéo dài cho tới ngày nay trên quê hương VN khốn khổ. Trong tâm tình ngày 30 tháng 4 năm nay, chúng ta hãy đặt câu hỏi:

Binh sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã được giải ngũ chưa?

Về mặt lý và tình, binh lính quân lực VNCH chưa hoàn toàn được giải ngũ.

Lý:

1- Xét theo mặt hiến pháp VNCH trước 1975, mọi người lính trong quân lực VNCH cho dù hiện nay trong độ tuổi 80, 70, 60, 50 nhưng tất cả chưa thực sự được giải ngũ. Vì trong ngày 30 tháng 4 đau thương năm 1975, khi ra lệnh cho tất cả binh lính VNCH buông súng quy hàng, ông Dương Văn Minh đã không đứng trên cương vị chính danh của vị tổng thống kiêm tổng tư lệnh quân đội. Theo Hiến Pháp VNCH, việc Tổng Thống Trần Văn Hương trao lại quyền tổng thống cho ông Dương Văn Minh là vi hiến. Từ lập luận này chúng ta có thể khẳng định chắc chắn, quân lực VNCH vẫn chưa hề được giải ngũ. Cũng dựa trên căn bản pháp lý này, cách đây 12 năm, thượng nghị sĩ Phạm Nam Sách, người dành cả cuộc đời tranh đấu cho hạnh phúc của dân tộc, một nhà hoạt động có uy tín trong cộng đồng VN hải ngoại, khi còn sống, đã phát động phong trào Tái Dựng Nền Cộng Hòa để từ đó, có cơ sở giải thể chế độ VC đang thống trị trên hai miền Nam - Bắc VN rồi đi tới thống nhất đất nước trong hòa bình thực sự.

2- Thêm nữa, khi một người chiến binh bị địch bắt buông súng quy hàng, không có nghĩa là người lính ấy đã được giải ngũ. Người ấy không phải là Cựu Quân Nhân.

Tình:

1- Theo truyền thống, quân đội là lực lượng bảo vệ đất nước, lãnh thổ, dân tộc. Ngày nay, nhóm VC lãnh đạo VN đang bán dân, bán nước, bán biển cho quan thày Tàu cộng. Vậy những chiến sĩ VNCH không thể khoanh tay ngồi nhìn thảm họa đang tiếp tục đổ chụp xuống đầu dân tộc và tổ quốc. Chúng ta không thể ngồi yên để nhìn dân tộc từ từ bị diệt vong dưới bàn tay những người CSVN phi dân tộc. Chúng ta không thể nhìn đất, biển tiếp tục rơi vào tay Tàu cộng, ngư dân VN vô tội tiếp tục bị Tàu cộng bắn giết.

2- Khi gia nhập quân đội, mỗi chiến sĩ VNCH luôn khắc sâu một lời thề:

Tổ Quốc - Danh Dự - Trách Nhiệm.

Lời thề này được ghi khắc trong tim nên luôn ở trong lòng mỗi người quân nhân VNCH trên mọi nẻo đường của cuộc sống và được thực hiện trong mọi hoàn cảnh, môi trường chung quanh. Lời tâm niệm “Tổ Quốc - Danh Dự -Trách Nhiệm“ vẫn luôn được các chiến sĩ VNCH thực hiện từ ngày 30 tháng 4 đau thương đó cho đến nay. Những vị tướng như Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai, Lê Văn Hưng đã chọn cái chết để bảo vệ DANH DỰ cho quân lực VNCH. Những sĩ quan như Hồ Ngọc Cẩn, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Hữu Thông,v.v. đã can đảm đối đầu với họng súng của VC để nêu cao khí tiết, DANH DỰ của quân lực VNCH. Những người lính thuộc Trung đội Nhảy Dù của Thiếu Úy Huỳnh Văn Thái cùng nhau tự sát bằng lựu đạn sáng 30 tháng Tư, 1975. Những binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến của Lữ Ðoàn 147 cùng nhau tự sát ở Mỹ Khê, Ðà Nẵng tháng 3, 1975 để nêu cao khí tiết. Hơn 100 Thiếu Sinh Quân chưa hề ra trận lần nào, đã quyết chiến anh dũng với địch trong hơn nửa ngày liên tục để bảo vệ trường Mẹ tại Vũng Tàu ngày 28 tháng 4, 1975 và chỉ chịu đầu hàng khi hết đạn, làm cho VC ngỡ ngàng, cảm phục.Còn biết bao chiến sĩ khác đã anh dũng chiến đấu tới hơi thở cuối cùng hay tự sát trong ngày 30/4 mà chúng ta chưa biết tên nhưng đã được một số đồng bào, đồng đội cũng như ký giả ngoại quốc tường thuật lại với lòng cảm phục vô cùng, đã chứng tỏ tinh thần bất khuất của người lính VNCH. Cho đến nay, những chiến sĩ VNCH còn sống tại hải ngoại hay quốc nội vẫn tiếp tục chiến đấu bằng cách này hay cách khác để thực hiện cho được lời thề:

Tổ Quốc - Danh Dự - Trách Nhiệm.

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã từng là một quân đội hùng mạnh đứng hàng thứ 4, 5 trên thế giới và hàng nhất trong vùng Đông Nam Á. Qua cuộc chiến tranh Quốc-Cộng vừa qua, quân lực VNCH đã chứng tỏ mình chiến đấu vì lý tưởng tự do của dân tộc, đã chứng tỏ khả năng chiến đấu kiêu hùng, dũng mãnh, sự hy sinh, chịu đựng gian khổ tuyệt vời nếu đem so với các quân đội khác trên thế giới. Vì thế, quân lực VNCH không thua tại chiến trường nhưng thua vì các sắp xếp chính trị trên bàn cờ quốc tế. Giờ đây, danh dự của quân lực VNCH đang được trả lại. Những cuộc hội thảo quốc tế (thí dụ cuộc hội thảo về chiến tranh VN tại trường đại học Texas Tech University, thành phố Lubbock, tiểu bang Texas) đã được tổ chức để trả lại Danh Dự cho quân lực VNCH. Nhiều nhà báo, học giả ngoại quốc, nhất là từ phía Mỹ, đã lên tiếng hay viết bài ca ngợi tinh thần chiến đấu anh dũng của quân lực VNCH. Tướng Norman Schwarzkopf, người chỉ huy cuộc chiến vùng Vịnh để giải phóng Kuwait năm 1991 đã từng ca ngợi các vị chỉ huy quân lực VNCH và cho biết ông học hỏi được rất nhiều kinh nghiệm quý báu từ quân lực VNCH khi ông tham chiến bên VN. Tướng Collin Powel, tham mưu trưởng quân đội và là cựu bộ trưởng ngoại giao Mỹ cũng xác nhận và ca ngợi tinh thần chiến đấu anh dũng của quân lực VNCH. Thượng nghị sĩ Mc Cain, ứng cử viên tổng thống Mỹ năm 2008, từng bị VC giam 6 năm, cách đây vài năm khi sang thăm VN và thăm nhà tù Hỏa Lò, ông đã thẳng thắn tuyên bố “kẻ ác đã chiến thắng“. Lời nói này là sự gián tiếp ca ngợi lý tưởng tranh đấu cho tự do, dân chủ của dân - quân - cán - chính VNCH, đặc biệt ca ngợi quân lực VNCH, lực lượng tiên phong trong công cuộc tranh đấu cho lý tưởng này. Vì thế, đã đến lúc chúng ta phải hãnh diện là chiến binh của quân lực VNCH ưu tú, đã đến lúc chúng ta hãnh diện nói cho con cháu chúng ta nghe về công sức, về sự hy sinh, chiến đấu vô bờ bến của chúng ta, của đồng đội để bảo vệ lý tưởng tự do cho dân tộc.

3- Vì Danh Dự, người lính VNCH không bao giờ chịu khuất phục trước bạo quyền cộng sản. Vì Tổ Quốc VN yêu thương đang quằn quại trong đau khổ, tang thương, vì Trách Nhiệm của người lính VNCH đối với tổ quốc, đồng bào vẫn chưa thực hiện được nên người lính VNCH vẫn phải tiếp tục chiến đấu. Ngày nay mặt trận không nằm ở chiến trường nữa. Nó nằm ở trong cuộc sống, trong sinh hoạt đấu tranh, trong tư tưởng, trong ý chí của người lính VNCH. Nhận thức như vậy nên người lính VNCH vẫn luôn đi đầu trong các cuộc tranh đấu chống cộng. Hãy xem, trong các cuộc tranh đấu chống cộng có khi nào thiếu vắng những người lính VNCH đi tiên phong không?

4- Một vị tướng ngoại quốc có câu nói lừng danh “Người ta có thể mang tôi ra khỏi quân đội, nhưng không thể mang quân đội ra khỏi tôi”. Rất đúng! Vì bất cứ lý do gì, vì bất cứ hoàn cảnh nào, lời thề “Tổ Quốc - Danh Dự - Trách Nhiệm“ luôn luôn nằm trong tim các chiến sĩ VNCH. Vì bất cứ lý do gì, các binh sĩ VNCH suốt đời vẫn là chiến sĩ. Vậy chúng ta có thể ngồi yên, an hưởng tự do không khi quê hương VN thân yêu vẫn còn chìm ngập trong điêu linh, thống khổ, dân tộc vẫn còn sống trong đọa đầy, đàn áp? Lòng ta có thanh thản không khi bè lũ Việt cộng vẫn tiếp tục đọa đầy dân tộc, bịt miệng đồng bào, đang đưa dân tộc làm nô lệ cho ngoại bang Á châu, cho Tàu cộng?

Chúng ta chưa thể nghỉ yên vì Mẹ VN vẫn đang quằn quại, đau thương, than khóc. Chúng ta chưa thể an hưởng tự do nơi xứ người khi đồng bào còn đang bị đàn áp, chà đạp nhân phẩm, bóc lột tận xương tủy bởi VC và ngoại nhân. Nhiệm vụ đối với quê hương, dân tộc chúng ta chưa làm tròn, chúng ta chưa được nghỉ ngơi.

Hàng ngàn, hàng ngàn bé gái là con, cháu chúng ta đang bị bán trong các nhà chứa bên Thái Lan, Cam Bốt, sống kiếp đọa đầy, tủi nhục, đang mòn mỏi chờ đợi sự cứu vớt của chúng ta trước khi quá trễ. Hàng ngàn các em bé khác sẽ tiếp tục bị bán nếu chế độ VC còn tồn tại. Các cô gái Việt Nam là em, cháu chúng ta đang bị rao bán trên internet, trong các lồng kính tại các quốc gia Đông Nam Á như là các con vật tình dục, buộc chúng ta không thể ngồi im để tận hưởng tự do, sung túc, êm ấm nơi xứ người mà không tìm cách tranh đấu để thảm trạng đau lòng này không bao giờ tái diễn trên quê hương VN thân yêu nữa. Các cô gái khốn khổ này không có tội tình gì hết. Chính bè lũ VC mới là tội đồ và chúng ta là tòng phạm nếu chúng ta cứ để cho thảm cảnh đau lòng này tiếp tục xảy ra.

Chúng ta không thể nhìn các cô gái VN hàng ngày bị lột truồng, đi qua đi lại như súc vật để được mua bán, chọn lựa trước những cặp mắt đầy nhục dục của các người Đại Hàn, Đài Loan, Tàu Đông Nam Á tại chính quê hương VN khốn khổ của chúng ta như vậy. Chúng ta không thể thản nhiên nhìn hàng chục ngàn công nhân VN đang bị các chủ nhân ngoại bang hành hạ, làm nhục, bị bóc lột và bị đối xử như con vật trước sự đồng lõa của VC.

Chúng ta không thể cúi đầu nhìn ngoại nhân sỉ nhục dân tộc chúng ta như vậy.

Con người VN đang bị lăng nhục, dày vò, bóc lột. Lòng tự ái dân tộc VN đang bị ngoại nhân thách thức, chà đạp. Chẳng lẽ chúng ta ngồi lặng im? Chẳng lẽ dân tộc VN, chẳng lẽ chúng ta mất hết nhuệ khí oai hùng của Mê Linh Quật Khởi, của Bạch Đằng Dậy Sóng Diệt Thù, của Phá Tống – Bình Chiêm, của Sát Thát, của Bình Ngô Đại Cáo, củaQuang Trung Đại Phá Quân Thanh mà tổ tiên truyền lại?

Chẳng lẽ chúng ta quen thuộc với sỉ nhục đến độ không còn cảm giác tối thiểu để đứng lên làm một cái gì đó rửa nhục cho dân tộc, cho con, em, cháu và cho chính chúng ta?

Cái nhục dân tộc đau đớn này nếu chúng ta không trả được thì chúng ta không thể ngẩng cao đầu làm người VN chứ đừng nói là chiến sĩ VNCH. Nỗi khổ đau tận cùng này của dân tộc nếu chúng ta không bắt đảng CSVN hại dân bán nước trả nợ thì suốt đời con cháu sẽ nguyền rủa chúng ta. Ai sẽ cứu dân tộc VN, ai sẽ cứu các bé gái này, ai sẽ cứu các cô gái VN này nếu không phải chúng ta? Chúng ta phải tranh đấu, phải hành động hết sức mình trước khi kêu gọi sự giúp đỡ của các quốc gia tự do trên thế giới yểm trợ cho 1 nước VN hoàn toàn độc lập, tự do, phú cường.

5- Vong hồn của hơn 3 trăm ngàn (300.000) chiến sĩ VNCH, của hơn 6 mươi ngàn (60.000) chiến sĩ đồng minh đã bỏ mình vì lý tưởng tự do cho dân tộc VN, oan hồn của hàng mấy trăm ngàn đồng bào chết trên đại lộ kinh hoàng mùa hè đỏ lửa 1972, của dân chúng Huế Tết trong Mậu Thân 1968, của cuộc di tản đau thương 1975, cũng như tại nhiều nơi khác trên quê hương đang kêu nài chúng ta đòi lại công lý cho họ để họ không chết oan ức, để cái chết của họ không bị chìm vào quên lãng.

- Vong linh của mấy chục ngàn chiến sĩ đã bỏ mình trong các nhà tù cộng sản và trong cái-gọi-là trại cải tạo, linh hồn của hơn nửa triệu đồng bào đã bỏ mình trên biển cả, rừng sâu vì đói khát, vì giông bão, vì hải tặc trên đường đi tìm tự do đang réo gọi chúng ta phải hành động, phải tranh đấu để cái chết tức tưởi của họ không vô ích.

- Linh hồn 10 ngàn (10.000) cô gái VN bị hải tặc Thái Lan mang bán trong các nhà chứa và chết dần mòn trên đất Thái, đòi chúng ta phải lấy lại công lý cho họ để hồn họ được ngậm cười nơi chín suối.

- Vong linh của những đồng bào, chiến sĩ bỏ mình nơi đất khách quê người đang đòi chúng ta phải đứng lên chiến đấu để hồn họ được siêu thoát, để xác thân họ được chôn nơi đất Mẹ ngàn đời mến yêu.

- Vong hồn hơn 16 ngàn chiến sĩ VNCH là anh em, đồng đội chúng ta tại nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa đang đòi chúng ta phải bảo vệ nơi yên nghỉ cuối cùng linh thiêng của họ.

- Những thương phế binh VNCH và con cháu họ đang cần chúng ta chiến đấu cho họ, để sự hy sinh của họ không vô ích, để tương lai con cháu họ không tiếp tục nằm trong những đống rác, những nơi bán máu.

- Tất cả đồng bào, anh em, đồng đội chúng ta sẽ không nhắm mắt yên nghỉ nếu chúng ta không tiếp tục chiến đấu, nếu chúng ta buông xuôi phó mặc đất nước, dân tộc cho bè lũ VC phi dân tộc, tàn ác để chúng tiếp tục làm tay sai, bán đất dâng biển cho kẻ thù ngàn đời của dân tộc là giặc Tàu bắc phương, để chúng tiếp tục nô lệ hóa dân tộc cho ngoại bang.

Không phải ngẫu nhiên mà ông bà ta đã đặt chữ “Nước Mất“ đi trước chữ “Nhà Tan“ trong câu dặn dò con cháu “Nước Mất Nhà Tan“. Ý ông bà ta muốn cảnh cáo chúng ta “Nếu chỉ lo cho cái nhà của mình mà không nghĩ tới dân tới nước, vào một ngày nào đó khi đất nước bị kẻ thù hay tay sai kẻ thù chiếm đoạt thì gia đình của chính chúng ta cũng sẽ tiêu tan”. Câu nhắn nhủ thâm sâu, chí tình này của tổ tiên đã được chứng minh hùng hồn qua biến cố 75. Sau 30/4, 1975 khi cả đất nước tan hoang thì biết bao nhiêu gia đình cũng tan nát theo và đi tới tận cùng đổ vỡ. Sau 30/4, cả đất nước thành trại tù, đói khổ tràn lan thì nền tảng gia đình VN cũng bị VC phá vỡ hoàn toàn có chủ đích. Nền đạo lý ngàn đời của dân tộc đi tới phá sản. Con cái tố cha mẹ, thày cô. Cha mẹ, thày cô sợ con cái, học trò, mọi người nghi kỵ, rình rập lẫn nhau. Vợ bỏ chồng theo cán bộ VC. Mọi người lừa bịp nhau, sống gian trá để mong tồn tại.

Sau 30/4, 75 cả nước biến thành chư hầu của Liên Xô, sau đó lại biến thành chư hầu của Tàu cộng để rồi lãnh đạo VC dâng đất dâng biển, dâng đồng bào cho quan thày Tàu cộng. Đó! Hệ quả thê thảm, khốc liệt của câu “Nước Mất Nhà Tan“ là vậy. Nay câu “Nước Mất Nhà Tan” sẽ lại tiếp diễn ở tại ngay các xứ tạm dung thân này, nếu chúng ta chỉ tiếp tục lo cho căn nhà, cho gia đình, cho bè nhóm của chính mình. Nghị quyết 36 của VC đang đi vào giai đoạn quyết liệt. VC nhất quyết nhuộm đỏ cộng đồng, lũng đoạn con cháu chúng ta. Chúng đang len lỏi tranh các chức vụ trong chính quyền địa phương. Nếu chúng ta có thái độ cầu an, mũ ni che tai thì khi cộng đồng chúng ta bị nhuộm đỏ, khi vài chức vụ thành phố, quận hạt chúng nắm, những tay chân này của VC sẽ mời những phái đoàn VC sang thăm các thành phố có đông người Việt tị nạn để phá rối cộng đồng chúng ta. Lúc đó, chính chúng ta, chính gia đình, chính con cháu chúng ta cũng sẽ khó yên thân được với bọn VC nơi hải ngọai này.

Chúng ta phải làm gì?

Nếu biết kết hợp để cùng nhau làm việc, các chiến sĩ quân lực VNCH sẽ có sức mạnh rất lớn và làm được rất nhiều chuyện hữu ích cho công cuộc phục hưng dân tộc. Các tổ chức chính trị của người Việt hải ngoại không phát triển sâu rộng trong hàng ngũ người Việt tị nạn CS nhưng tập thể chiến sĩ VNCH thì nhất định có ảnh hưởng sâu rộng trong cộng đồng người Việt tị nạn CS vì hầu như gia đình nào cũng có người thân hay bạn bè là chiến sĩ VNCH. Vậy hãy biến những giờ phút trà dư hậu tửu thành những giờ phút gặp gỡ, hàn huyên bổ ích. Hãy bình tĩnh và tỉnh táo để nhìn ra những biến chuyển của thời cuộc. Hãy tỉnh táo nhìn ra “Ai là bạn, ai là thù”, nhận ra những hỏa mù, những đòn hiểm độc nhằm gây chia rẽ cộng đồng từ VC. Hãy tập hợp nhau lại và khi gặp gỡ trao đổi, hãy bàn những chuyện cụ thể cho đất nước trong tinh thần xây dựng, tương kính, lắng nghe nhau để đề ra những sách lược, hành động cụ thể trong việc giữ yên hậu phương hải ngoại trước những đòn tấn công liên tục, thâm hiểm của VC. Có vậy, chúng ta mới tạo được lực thống nhất, mới có đủ sức mạnh để yểm trợ tối đa cho mặt trận tự do, dân chủ, nhân quyền đang đi tới hồi quyết định nơi quốc nội trong thời gian sắp tới. Mỗi người, tùy theo khả năng, hoàn cảnh cụ thể của mình hãy hành động hết sức. Hãy thực hiện câu tổ tiên bao đời truyền dạy “Ai có dao dùng dao, ai có bút dùng bút“. Tất cả hãy tập hợp trong một mặt trận chung. Hãy hướng dẫn con cháu tới nơi tới chốn để chúng cùng tham gia vào công cuộc tranh đấu chung của dân tộc và tránh được những cạm bẫy, dụ dỗ tuyên truyền của VC khi chúng đang muốn lợi dụng kiến thức và tấm lòng yêu nước của con cháu chúng ta mang về VN để phục vụ cho quyền lợi bất chính của đảng CSVN, kéo dài thêm sự khốn khổ của đồng bào.

“Tổ Quốc - Danh Dự - Trách Nhiệm” để cứu nước, cứu dân thoát cảnh nô lệ, điêu linh, nghèo đói, đọa đầy, mất đất, mất biển, do nhóm lãnh đạo VC đang làm tay sai cho giặc Tàu gây ra cho dân tộc VN. Chúng ta phải tập hợp nhau lại, cùng đứng lên hành động để rửa mối nhục do nhóm lãnh đạo VC đang cấu kết với ngoại bang Tàu cộng, Tàu Đông Nam Á, Đài Loan, Thái Lan, Đại Hàn gây ra cho dân tộc VN.

Ai sẽ đi tiên phong trong trận chiến đòi tự do, dân chủ cho đồng bào? Ai sẽ đi tiên phong trong trận chiến rửa hờn, rửa nhục cho dân tộc?

Chẳng lẽ con cháu chúng ta sẽ đi tiên phong trong chuyện này, còn chúng ta, những người có đầy kinh nghiệm máu xương với VC, hiểu rõ bản chất dã man, xảo trá của chúng, lại phủi tay nghỉ ngơi? Nhất định không! Chính chúng ta phải làm việc này cùng con cháu chúng ta, cùng đồng bào vì chúng ta chưa được dân tộc cho giải ngũ, vì trong tim chúng ta vẫn còn khắc sâu lời thề:

Tổ Quốc - Danh Dự - Trách Nhiệm

Chúng ta chưa thực hiện xong lời thề linh thiêng này, chúng ta không được quyền nghỉ ngơi. Câu “Bảo Quốc – An Dân”ta vẫn chưa làm tròn. Vì đất, biển - mảnh giang sơn cẩm tú tổ tiên tốn biết bao mồ hôi xương máu để lại cho chúng ta đang rơi vào tay Tàu cộng. Vì đồng bào VN vẫn tiếp tục bị đọa đầy, thống khổ. Vì bình an trong cuộc sống và trong tâm trí, người dân chưa hưởng được một ngày kể từ khi đảng CSVN xuất hiện trên quê hương thân yêu.

Trách Nhiệm với Tổ Quốc, Dân tộc chỉ được hoàn tất khi quê hương VN không còn bị cai trị bởi bè lũ VC bán dân, hại nước, làm tay sai cho Tàu cộng.

Trách Nhiệm với Tổ Quốc, Dân tộc chỉ được hoàn tất khi từng tấc đất linh thiêng của dân tộc do VC dâng cho quan thày, được lấy lại.

Trách Nhiệm với Tổ Quốc, Dân tộc chỉ được hoàn tất khi hoa dân chủ, hạnh phúc nở khắp quê hương.

Danh dự của dân tộc VN chỉ được lấy lại khi người ngoại quốc không còn dám coi thường dân tộc VN.

Danh dự của dân tộc VN chỉ được lấy lại khi người ngoại quốc biết nể trọng dân tộc VN chúng ta - những con cháu của giống Tiên - Rồng kiên cường, bất khuất.

Nguyễn Bách Việt
-----
Lá Cờ Vàng : Biểu Tượng của Niềm Tin và Đoàn Kết của Người Việt Nam Yêu Nước

-
Thế là đã quá rõ ràng, không ai có thể phủ nhận việc lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ là biểu tượng chính thức, duy nhất của người Việt Nam yêu nước, nhất là của những người Việt tỵ nạn Cộng sản.

Trong suốt những ngày sinh hoạt của Đại hội Thanh niên Công giáo Thế giới 2008 diễn ra ở Sydney, Australia từ hôm thứ Ba 15 tháng Bảy - quy tụ hàng trăm ngàn người đến từ khoảng 170 quốc gia - có ít nhất ba ngàn thành viên Việt Nam - 500 lá cờ vàng khổ lớn và hàng ngàn lá cờ nhỏ cầm tay đã tung bay cùng quốc kỳ các nước khác trong khi không thấy bóng dáng lá cờ đỏ nhuốm máu của Cộng sản Việt Nam.

Theo dõi Lễ Khai Mạc tại Whitlam Center và Thánh lễ bế mạc tại Trường Đua Sydney, được chiếu liên tục trên đài truyền hình WMTN, lòng chúng ta không khỏi dâng lên niềm tự hào, xúc động khi nhìn thấy màu vàng thân yêu của lá cờ Tổ quốc hiện diện khắp mọi nơi, lấn át tất cả cờ của 170 nước khác. Ít nhất, trong đời chúng ta, những người tỵ nạn, cũng đã có một lần đã bật khóc nức nở khi được lần đầu nhìn lại lá cờ vàng tại hải ngoại sau hàng chục năm dài chịu đựng chế độ lao tù, quản chế trong các trại tù lớn nhỏ và ngay ngoài đời thường ở Việt Nam.

Từ ba mươi ba năm qua kể từ khi đất nước rơi vào vòng nô lệ của Cộng Sản, lá cờ Vàng đã biến mất trên quê hương thân yêu. Nhưng gần ba triệu người Việt di tản đã ấp ủ lá cờ trong tim mình khi đến đất nước tạm dung. Dù qua bao nhiêu biến cố thăng trầm, những bất đồng, tranh chấp về chính trị, chúng ta vẫn coi lá cờ Vàng là biểu tượng duy nhất để từ đó cùng gắn bó với nhau trên con đường đấu tranh chống lại chế độ phi nhân Cộng Sản. Bởi vì lá cờ đó là lá cờ chính thức của Tổ Quốc Việt Nam lưu truyền từ chế độ Phong Kiến nhà Nguyễn, qua hai chế dộ Cộng Hoà. Vì đó là biểu tượng thiêng liêng mà hàng trăm ngàn thanh niên Việt Nam ưu tú đã đổ máu xương để bảo vệ trong hàng thế kỷ qua. Người phụ nữ Việt Nam có thể mặc áo vàng, đỏ, xanh tìm, hồng… nhưng người Mẹ Việt Nam chỉ mặc áo màu Vàng là màu đất quê hương mà bao đời con dân Việt Nam lam lũ, đấu tranh để sinh tồn.
Chỉ có người Cộng Sản Việt Nam mới coi những nhà độc tài Lenin, Staline là cha mẹ, ông bà, nên mới khoác chiếc áo đỏ cho bà Mẹ Việt Nam.

Giữa dòng người hành hương mà con số lên đến 350000 người, ba ngàn thanh niên Công giáo Việt Nam đã thực sự cho Hồng Y Phạm Minh Mẫn một câu trả lời rất xác quyết và minh bạch rằng là cờ Vàng không những không làm cản trở sự hiệp thông của thanh niên Công Giáo, mà còn là một biểu tượng của sự đoàn kết và niềm tin trong tương lai, ngay cả đối với các thanh niên từ Việt Nam đến tham dự ngày Đại Hội.

Những phỏng vấn chớp nhoáng đã cho thấy giới trẻ từ Việt Nam đã tỏ ra vô cùng hân hoan khi được cộng đồng Việt tại Úc và thanh niên Việt Nam hải ngoại đón tiếp chân tình, cởi mở. Họ như bừng tỉnh sau những năm tháng bị tuyên truyền của chế độ Cộng Sản. Có em đã nói: “Em biết lá cờ đỏ sao vàng là cờ của đảng CSVN, mà tại sao họ lại gán cho là cờ quốc gia. Như thế là sai trái.” Có em lúc ban đầu đã yêu cầu đừng chụp hình có dính với cờ vàng “Vì sợ sẽ bị rắc rối khi trở về nước.” Nhưng sau cùng thì: ”Anh cứ chụp đi, em sẽ giải thích cho họ biết ở đâu cũng thấy cờ vàng cả thì làm sao mà tránh được.”

Có em còn thành thật tiết lộ rằng các em được lệnh mang theo cở đỏ trong cặp, nhưng thấy khí thế của cờ vàng, nên không “dám” phất cờ đỏ. Một nhà báo Việt Cộng đã phải yêu cầu một em giương lá cờ đỏ để chụp một vài tầm ảnh hòng đem về nước tuyên truyền.

Sự “hiệp thông” giữa giới trẻ Việt Nam trong nước và hải ngoại đã diễn ra vô cùng tốt đẹp, đầy cảm thông đúng như ý nghĩa của nó. Cao hơn nữa là sự hiệp thông với Thiên Chuá, khi Đức Giáo Hoàng Benedicto đã làm phép cho lá cờ Vàng và đón nhận một cách trân trọng từ tay một thanh niên Việt Nam. Ngài đã quàng chiếc khăn mang màu quốc kỳ Việt Nam đó vào mình như một sự thừa nhận mặc thị.

Từ biến cố vĩ đại “Đại Hội Thanh Niên Công Giáo Thế Giới”, chúng ta vui mừng khi thấy thế hệ thứ hai của người Việt tỵ nạn đã trưởng thành về mặt chính trị, có một ý thức và lập trường minh bạch về lòng ái quốc. Đồng thời chúng ta cũng đặt nhiều kỳ vọng vào giới trẻ trong nước rằng không phải vì sinh ra và lớn lên, bị giáo dục nhồi sọ bởi Cộng Sản mà họ không nhìn ra lẽ phải. Họ đã thực sự mở mắt khi ra hải ngoại, dù trong một thời gian ngắn ngủi. Họ đã thấy cung cách sống tự do, dân chủ, tấm lòng bao dung của người Việt hải ngoại. Đó sẽ là những hạt nhân để nẩy lên mầm tranh đấu cho dân chủ, tự do và nhân quyền, nối tiếp các nhà tranh đấu đang tích cực hoạt động trong nước. Sẽ không có một cường lực nào ngăn cản nổi khi tập thể thanh niên cùng đứng dậy cho quyền sống của mình.

Điểm son trong Đại Hội Thanh Niên Công Giáo Thế Giới này, chúng tôi xin dành tặng cho Cộng Đồng Người Việt tại Úc Châu và tất cả các thanh niên Công Giáo Việt Nam. Chúng tôi cũng ghi nhận sự vận động ráo riết, những phản ứng rất lịch sự, nhưng không kém phần cứng rắn của những người Việt hải ngoại trước lời tuyên bố sai trái của Hồng Y Phạm Minh Mẫn. Có lẽ do thế, mà ông đã tránh mặt, không đến tham dự Đại Hội Trẻ tại Sydney. Hy vọng từ đây, ông sẽ chiêm nghiệm lại các thái độ và quan điểm của mình để cùng đứng về phiá các tu sĩ và giáo dân đang bị nhà cầm quyền Cộng sản bức hại.

Đây là một bài học đích đáng cho những kẻ manh nha phản bội lý tưởng quốc gia của mình, những kẻ ăn cháo đái bát đối với nền văn minh dân chủ tự do mà họ từng được hưởng để quay mặt chạy về ve vuốt Cộng Sản chỉ vì chút hư danh hay lợi lộc.
Đỗ Văn Phúc

Bài Xem Nhiều