We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 21 March 2012

Chủ Đề 30.4: Vết Hằn Trong Tim 30. 04.1975


http://4.bp.blogspot.com/_LWlzENQgTXs/SAqC_hK1AHI/AAAAAAAAFR4/1UfG0kkPj2E/s320/01.jpgCó ai trong chúng ta , những người bỏ nước ra đi và những người ở lại tự cho rằng mình không còn nhớ gì về ngày 30 tháng tư năm 1975 ? Tôi trả lời ngay là một trăm phần trăm không ai quên cái ngày này , nhưng cách nhớ trong mỗi người có khác , có người nhớ để mà nhớ ( vô cảm ) . Có người nhớ để luyến tiếc thời vàng son của mình xưa kia và tiếp tục củng cố cho cái tôi riêng lẽ hiện tại , thậm chí có kẻ như cố tình muốn quên để rồi quay lưng tiếp tay cho cho một tập đoàn gây tang thương thảm khốc , gây ra tiếng khóc chia lìa , gây cho đất nước ba mươi tám năm quằn quại chuyển mình trong bóng tối…Tiếng khóc chào đời trong mỗi chúng ta vừa khi lọt lòng mẹ , có phải tiếng khóc đầu tiên ngầm báo hiệu sẽ còn tiếng khóc kế tiếp ? Phải , đó là tiếng khóc cho ngày ba mươi tháng tư năm một ngàn chín trăm bảy mươi lăm , tiếng khóc của toàn dân Miền Nam , tiếng khóc len lỏi tận hang cùng đến thành thị , tiếng khóc chia lìa bi thiết từ rừng núi sâu , nơi biển cả lênh đênh trên sóng nước , tiếng khóc lạc loài nơi xứ lạ …Hôm qua tôi có xem một slide show ghi lại hình ảnh chiếc tàu vượt biển , khi đến gần bãi , chiếc tàu như kiệt sức ngả nghiêng , được láng giềng cứu vớt từng người lên bờ , tôi trợn tròn đôi mắt khi chứng kiến mọi người hầu như kiệt sức , nhưng lạ thay họ vẫn còn đủ lực để phát ra tiếng khóc . già khóc , trẻ thơ khóc , phụ nữ khóc , ngay cả những vị ân nhân vừa bồng bế , vừa dắt dìu họ cũng khóc . Một người đàn ông trung niên có lẽ còn sức để đứng vững và diễn đạt trạng thái vừa thoát nạn , ông ta chắp tay bái lạy bốn phương , lạy liên hồi , lạy ân nhân , lạy biển khơi dậy sóng , lại đất liền , quỳ bái lạy chiếc thuyền đang ngả nghiêng , chiếc thuyền như hồn thiêng tận nhân lực , đưa người đến bến bờ rồi gục ngã sau đó , Tôi không thể nào quên tiếng khóc của ngày 30 tháng tư năm một ngàn chín trăm bảy mươi lăm , nghe như vang vội bên tai tôi , khóc cho một quê hương vừa chìm đắm như chiếc thuyền vượt biển , khóc cho chính họ , cho thân nhân họ , khóc cho sự chia lìa , khóc cho sự may mắn vừa thoát nạn ..tiếng khóc chất chứa tâm trạng hỗn độn ….

Năm xưa tiếng khóc cho người ra đi, cho người ở lại chỉ mỗi miền Nam. Hôm nay, tiếng khóc vang cả một dân tộc từ Nam chí Bắc, không còn khóc cho cảnh chia lìa mà là khóc cho sự mất mác toàn diện cả dân tộc. Năm xưa ra đi, bao người mất mạng cũng bởi tàu ngã nghiêng vì sóng gió. Và hôm nay cả một dân tộc nghiêng ngã cũng chỉ vì đảng cướp mà sự khởi nguồn cũng từ cái ngày oan nghiệt 30 tháng tư năm 1975.

Lịch sử trãi dài 38 năm tính từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, vết hằn trong tim mỗi người trở thành nỗi lo cho cả dân tộc, nó đã chứng minh căn bệnh ung thư bộc phát tử hoại, loang lổ nhầy nhụa loang tỏa, thách thức và công khai, nó rút cạn kiệt nguồn sinh lực sống hôm nay, mất nước ngày mai…Ngày uất hận năm con Rồng này, giặc nội xâm không còn bưn bít hay lên án kẻ bại trận uất hận vì tư thù, mà đây chính là uất hận hồn thiêng sông núi đang trổi dậy, đánh thức cả một dân tộc dấy lên lòng uất hận, kẻ thù đang thách thức ngạo mạng bán rẽ dân tộc, ruộng vườn, nước mắt mồ hôi đã và đang bị cưỡng đoạt, mồ mả cha ông và các chiến sĩ bảo vệ giang sơn bị vùi dập san bằng, tiếng nói người dân bị bóp nghẹt bằng chế độ nhà tù công khai không cần luật pháp; ngược lại, rừng từ đầu nguồn đến cuối trường sơn đã giao hoán cho giặc bằng danh nghĩa năm mươi năm, các phố tàu mọc lên như nấm, biển đảo người dân không còn làm chủ, chỉ còn những tên thái thú đội lốt ngự trị, hèn với giặc, ác với dân, hầu bóp nghẹt trái tim chân chính.

Sách lược trồng người của tên cẩu tặc hồ chí minh, nhận lệnh từ bắc bộ phủ gọi là chiến dịch tầm ăn dâu, nay đã lộ tẩy, đưa chương trình học tiếng Hoa cho con em chúng ta, đây là sách lược cuối cùng của tên đại hán tàu cộng, đây cũng là nhiệm vụ cuối cùng của đảng cướp bán sạch cả mầm non tương lai…

Các bạn ơi…! hãy cùng gạt lệ và cùng ngồi lại với nhau ngày hôm nay , để nhớ rõ những gì gây ra tiếng khóc ngày hôm qua trong mỗi chúng ta . và hãy cùng bắt tay liền tay nhau , làm một điều tốt lành cho ngày mai. Không có ngày 30 tháng 4 năm 1975, đất nước ta không rơi vào thảm trạng hôm nay. Sự vô cảm của người Việt Nam hôm nay có lẽ đã muộn, và có lẽ cái tên Việt Nam sáng mai sẽ được thay đổi danh xưng không chừng..!!!!

Hoàng Hạc Quan
BÁO TỔ QUỐC
(Bài do Anh Loan chuyển)

Chủ Đề 30.4: Chào Mẹ



Chào Mẹ


  Tôi không khó khăn nhận ra mẹ khi bà vừa bước ra khỏi trạm kiểm soát an ninh phi trường. Một tay kéo chiếc va ly nhỏ, một vai mang chiếc xách tay, mẹ thong dong như trôi theo dòng người. Dáng mẹ trông mảnh mai, thanh nhã, linh hoạt dù rằng đã ở cái tuổi tám mươi. Tóc đã bạc phơ. Chiếc áo sơ mi màu trắng như giúp khuôn mặt mẹ tươi tắn hơn ngày tôi gặp mười lăm năm trước. Mẹ đưa mắt tìm kiếm. Tôi giơ tay vẫy. Bà mừng rỡ vẫy lại. Tôi cười khi mẹ đến gần: “Chào mẹ!” Mẹ buông rơi chiếc va ly, mở vòng tay ôm ghì lấy tôi. Tôi cũng ôm xiết mẹ mà sao không cảm nhận chút nồng ấm nào. Từ khi chưa đầy một tuổi, ba mẹ tôi đã đành đoạn bỏ rơi tôi. Thôi nôi, ngoại cúng kiến van vái. Lên ba, ông ngoại mất. Lên năm, bà ngoại lìa đời. Cậu mợ tôi thừa hưởng gia sản nên… thừa hưởng luôn việc săn sóc dưỡng dục tôi. Vì vậy mà khi khôn lớn, tôi hầu như quên hẳn mình còn đủ cha đủ mẹ. Tôi lái xe vào trung tâm thủ đô, chạy vòng vòng cho mẹ xem phố xá rồi quẹo sang đường Constitution. Tôi chỉ mẹ xem đài tưởng niệm Washington, tòa Bạch ốc và hứa một ngày khác sẽ đưa mẹ vào xem tận bên trong. Mẹ nói mẹ muốn ưu tiên gặp em của mẹ, còn việc tham quan chừng nào cũng được. Tôi cho mẹ biết cậu mợ đang chu du Âu châu, hai tuần nữa mới về. Sợ mẹ hiểu lầm, tôi giãi bày: “Cậu mợ ghi tên đi chơi trước ngày mẹ báo tin qua đây nên không hủy bỏ được. Con đã xin nghỉ một tháng. Trong tháng đó mình sẽ đi một vòng sơ khởi nước Mỹ. Mẹ sẽ gặp em trai mẹ vào tuần lễ thứ ba...” Tôi ngưng nói khi thấy mẹ xoay mặt về khung cửa kính. Nhân lúc xe qua cầu, tôi cất cao giọng: “Đây là sông Potomac. Đi xuôi dòng sẽ trông thấy một phần hình ảnh rất đẹp của thủ đô. Nhà của con phía thượng dòng cách đây độ nửa giờ.” Mẹ vẫn nhìn quang cảnh thành phố, chỉ có tiếng “thế à” hờ hững vang lên. Tôi nhìn đồng hồ và mừng là đã tới giờ cơm chiều. Tôi nói nhỏ nhẹ: “Suốt ngày đêm trên máy bay, chắc mẹ thèm cơm. Khu thương mại Eden của người Việt vùng này có một nhà hàng nấu món canh chua cá bông lau, cá kho tộ ngon lắm!” Bà nói giọng mệt mỏi: “Nói chung thì mẹ thèm một tô phở.” Một cái gì nghẹn ngào đột ngột trào dâng trong tôi. Hai mươi năm tập kết ra Bắc mẹ đã bị đồng hóa. Không chỉ thay đổi cả giọng nói, ngôn từ mà lơ là luôn cả món ăn ưa thích của miền Nam. Tôi ngờ rằng bà không phải là người sinh ra tôi… Tôi đưa mẹ vào tiệm Phở Xe Lửa và gọi tô đặc biệt. Mẹ khen ngon hơn phở ở Sài Gòn. “Nhưng vẫn thua phở Hà Nội”, tôi nhanh nhẩu tiếp lời. Mắt mẹ thoáng chút ngạc nhiên rồi lặng lẽ quan sát xung quanh… Tôi cũng quan sát bà. Tôi giống mẹ lạ lùng. Chắc chắn nhìn chúng tôi, không ai nghĩ khác hơn là mẹ và con. Mà giống mẹ để làm gì khi tâm hồn chúng tôi không có chút gì hòa điệu… Tôi nhấn một chiếc nút trên trần khi xe sắp quẹo vào driveway và lái thẳng vào garage. Trong khi tôi mở cóp nhấc xuống các hành lý, mẹ đi ra phía trước đường. Tôi bước đến bên mẹ khi bà ngắm nghía ngôi nhà, trầm trồ: “Nhà của con đây hả? To và đẹp quá, ngoài tưởng tượng của mẹ. Quang cảnh cũng thật sáng sủa tươi mát.” Tôi cười buồn: “Chúng con mới mua năm ngoái và chắc cũng sắp bán…” Giọng mẹ thảng thốt: “Tại sao thế?” Tôi nắm cánh tay mẹ dìu đi: “Mẹ vào nhà nghỉ ngơi. Từ từ rồi mẹ sẽ biết...” Tôi bấm số liên hợp và mở toang cánh cửa. Mẹ bước vào, đứng sững người trên tấm thảm nhỏ mang chữ welcome. Dường như mẹ không tin những gì mẹ đang thấy. Mẹ ngập ngừng bước đi, mắt dừng lại từng vật trang trí ở phòng khách, phòng gia đình, miệng lẩm bẩm lời tán thưởng. Khi mẹ hướng về khu bếp, tôi biết mẹ sẽ ở đây lâu hơn nên lặng lẽ trở ra ngoài mang hành lý vào nhà. Khóa cửa xong, tôi đảo mắt tìm mẹ. Bà đang ở trong phòng đọc sách, đứng lặng yên trước bàn thờ. Mẹ không nhìn các tượng Phật rất đẹp tôi thỉnh tận Thái Lan. Mắt mẹ đang đăm đăm nhìn di ảnh của Huy. Anh mặc áo tiểu lễ hải quân với dây biểu chương, trên một nắp túi là chiếc huy hiệu hạm trưởng và bảng tên Lê Quang Huy. Bên kia là hai hàng huy chương nhiều sắc màu khác biệt. Và Huy đang tươi cười… Mẹ nói bằng giọng ngạc nhiên mà bình thản: “Sao con không nói gì với mẹ?” Tôi lắc đầu: “Để làm gì? Mẹ có biết gì về ảnh đâu và chắc cũng không ưa ảnh!” Mười lăm năm trước, khi về chịu tang ba tôi, tôi đã từ chối trả lời mọi câu hỏi của mẹ. Tôi muốn cho thấy khi bà đã có can đảm bỏ rơi tôi thì tôi cũng có can đảm coi như đời tôi không dính dáng gì tới bà. Mãi gần đây, khi mẹ ngỏ ý muốn qua thăm chúng tôi, Huy khuyên tôi nhận lời, dù gì bà cũng là người sinh thành ra mình. Tôi nghe lời khuyên nhưng chỉ một mình tiếp đón mẹ. Huy chết bất thần vì cơn đột quỵ. Mẹ nhìn khắp bàn thờ rồi quay phắt sang tôi: “Sao không thấy con thờ ba con?” “Thờ ba? Tại sao con phải thờ ba?” Mặc dù đã tự nhủ, tôi vẫn không dằn được cơn bực tức bùng vỡ. Mẹ quay đi, lặng lẽ thắp nén nhang cắm vào lư hương, nhìn Phật Bà, nhìn Huy rồi thở dài lặng lẽ bước lên thang lầu. Tôi đã từng nghe nhiều tiếng thở dài tương tự của mẹ trong suốt thời gian mười ngày về dự đám táng ba tôi. Tôi đã cho bà thấy tôi không chỉ dửng dưng với người chết mà còn lạnh lùng với cả người còn sống. Liệu có ai cư xử khác tôi khi suốt quãng đời dài gần bốn mươi năm mà chỉ vài lần được nghe nhắc đến mẹ cha mình bằng lối bông đùa. Năm tôi lên mười bốn, sau trận Mậu Thân khói lửa khắp Chợ Lớn Sài Gòn, một bữa, lần đầu tôi nghe cậu nhắc tới ba mẹ. Trong bộ đồ trận rằn ri mang lon trung tá, cậu ra vẻ trịnh trọng: “Nè, Phượng! Con có biết là suýt nữa con đã có dịp trùng phùng ba mẹ con không?” Trong khi tôi tò mò lắng nghe, cậu tỉnh bơ tiếp: “ Nhưng vì cậu thấy họ không xứng đáng làm bậc cha mẹ, cậu đã đuổi họ về mật khu rồi!” Tôi thường cười với mỗi cợt đùa của cậu nhưng lần đó tôi mím môi muốn khóc. Năm hai mươi mốt tuổi, khi tôi đưa Huy về nhà giới thiệu nhân buổi tiệc mừng cậu thăng cấp tướng, cậu nói nhỏ vào tai tôi: “ Chà chà! Như vầy là kẹt cậu rồi! Con mà chọn tên hải quân đó làm chồng thì cậu khốn khổ với chị cậu. Tuy nhiên, nếu con… năn nỉ cậu, cậu cũng liều cho con làm… bà thiếu tá.” Tôi vẫn cười thầm về chuyện này vì bốn tháng sau, sự thể đảo ngược. Chính cậu lại là người phải “năn nỉ” tôi để cả gia đình được lên tàu của Huy rời khỏi Việt Nam. Chúng tôi thành hôn ở Mỹ. Huy trở lại đại học, tôi đi làm ngày đêm. Rồi lần lượt hai đứa con ra đời. Huy ra trường đi làm. Tôi vào đại học. Vất vả mà hạnh phúc. Tôi quá bận rộn để nhớ về quê cha đất tổ, cho tới mười năm sau tôi mới lại nghe tin tức ba mẹ. Lại vẫn do cậu đưa tin. Cậu tôi cho biết đã liên lạc được với chị của mình. Không lâu sau đó tôi liên tiếp nhận được thư ba mẹ tôi bày tỏ lòng khao khát mong nhận được thơ tôi và hình ảnh gia đình. Và tiếp đến là những lá thư mong mỏi tôi về Việt Nam. Tôi nhận thư, tôi đọc, lòng ngơ ngẩn, bâng khuâng nhưng không có chút hứng thú trả lời. Thậm chí nhiều năm sau, cái tin ba tôi đau nặng cũng chỉ được đón nhận với lòng dửng dưng. Huy bảo tôi nên về. Cậu mợ gọi điện bảo tôi phải về. Tôi thưa với cậu mợ rằng tôi không có cha mẹ nào khác ngoài cậu mợ nhưng cậu mợ tiếp tục thúc bách và giảng đạo lý. Tôi rủ cậu mợ cùng về. Cậu bảo cậu không muốn giỡn mặt với chính quyền cộng sản. Cuối cùng tôi khăn gói một mình lên đường. Thời điểm này chúng tôi còn nghèo nên Huy đành ở lại với hai con. Nhưng đoạn đường quá xa để ba tôi không thể chờ. Ông vĩnh viễn ra đi vài giờ trước lúc tôi bước vào ngôi nhà xưa. Dù vậy tôi vẫn còn kịp nhìn mặt ba tôi. Nhìn chỉ một lần mà vẫn đủ để khuôn mặt già nua, khắc khổ, hoàn toàn xa lạ đó theo tôi về tận xứ Mỹ. Thỉnh thoảng nhân một liên tưởng về dòng họ ai còn ai mất, khuôn mặt của ông lại hiện ra cùng với những tiếng thở dài của mẹ. Thế mà tuyệt nhiên, tôi không hề nghĩ đến việc thờ phượng ông… Mẹ nằm trong buồng riêng suốt đêm ngày, mãi đến tối hôm sau mẹ mới tươi tỉnh hẳn. Tôi rủ mẹ đi ăn đồ biển. Mẹ ăn tự nhiên, ngon lành. Nếm đủ tôm cua nghêu sò ốc hến. Luôn cả hào tươi. Lâu lắm mới có dịp ăn ngoài, tôi cũng tận lực nuốt. Trên đường về nhà, mẹ hỏi: “Cậu bảo con có hai thằng con trai. Chúng nó đâu mà mẹ chưa gặp?” “Tụi nó đều đã lập gia đình. Mỗi đứa ở mỗi tiểu bang khác nhau, khá xa. Đứa lớn ở Georgia, có hai con, đứa nhỏ ở Texas, đang chờ con đầu lòng. Con đã sắp xếp để mẹ đến chơi với chúng nó, mỗi đứa vài ngày, sau khi mẹ gặp cậu mợ.” Mẹ nhìn tôi, dò hỏi: “Con ở đây một mình sao?” Tôi gật đầu: “Vì vậy mà con có ý muốn bán nhà này về sống với mấy đứa nhỏ, luân phiên mỗi đứa một thời gian. Tụi nó đang năn nỉ con về ở chung.” Giọng mẹ ngập ngừng: “Phải thú nhận rằng mẹ vừa trông thấy căn nhà này là mê ngay. Nếu con bán thì bán cho mẹ. Mẹ con ta sẽ ở đây, mãi mãi tới ngày mẹ chết…” Tôi đăm đăm nhìn mẹ. Tôi đã biết từ lâu là mẹ rất giàu, chỉ ngạc nhiên về ý cuối. Nó đến quá bất ngờ như là một nhánh gai quẹt vào người. Tôi nghe xót đau, khó chịu. Tôi không chuẩn bị việc này, cũng không muốn nó xảy ra. Đầu óc tôi đông cứng. Chợt hình ảnh Huy hiện ra, miệng cười cười. Ba tháng nay, từ ngày anh mất, khi tôi gặp điều gì khó xử là anh lại hiện về. Nụ cười của anh luôn luôn giúp tôi tìm giải pháp. Tôi thấy bao nhiêu phiền phức nếu cho mẹ ở chung. Tôi đã quen với cuộc sống không có mẹ. Chỉ mới hai mươi bốn tiếng đồng hồ “có mẹ” mà tôi đã chịu đựng biết bao gượng ép. Mẹ nhìn tôi dò hỏi. Tôi nói: “Con mới mất anh Huy. Con cần một thời gian yên tĩnh.” “Mẹ cũng cần có thời gian sắp xếp mọi việc ở Việt Nam. Năm tới mẹ trở qua sống hẳn với con. Con đồng ý chứ?” Tôi không biết nói gì hơn. Tôi như nghe tiếng Huy văng vẳng: “Đừng làm mẹ buồn!” Tôi cố nhìn vào bóng đêm loang loáng tìm hình bóng Huy nhưng chỉ thấy ánh đèn đỏ vừa bật ở ngã tư… Sau năm ngày dạo chơi phố xá và ngắm cảnh Nữu Ước, chúng tôi dành hai đêm thử thời vận ở sòng bạc Atlantic City. Thánh nhân đãi kẻ khù khờ, cả hai mẹ con thắng lớn. Chúng tôi về đến nhà, tẩy rửa xong lớp bụi đường thì trời tối hẳn. Tôi thấy mệt mỏi nhưng mẹ tỉnh bơ đề nghị để mẹ nấu ăn ở nhà. Tôi nói sẽ ăn ở nhà nhưng mẹ khỏi nấu. Mẹ không tỏ gì ngạc nhiên khi tôi gọi thức ăn bằng điện thoại. Bà ngồi thoải mái trong bộ ghế êm ái, xem truyền hình đưa tin thế vận hội. Tôi sắp đặt chén đũa, khăn ăn và nước ngọt rồi ngồi xuống cạnh mẹ. Chợt mẹ quay sang tôi, giọng ngập ngừng thiếu tự nhiên: “Mẹ phải nói với con chuyện này. Em trai con muốn nhờ mẹ hỏi con giúp nó một việc.” Em trai tôi? Tôi từ từ hình dung đứa em trai của mình. Tôi đã nhớ ra một hình dáng hiền hòa thường quanh quẩn gần tôi. Cũng như cậu và mẹ, em tôi nhỏ thua tôi năm tuổi. Nhưng nó khác với tất cả chúng tôi là đã không chào đời ở miền Nam. Tôi nhìn mẹ chờ đợi. Giọng mẹ đều đều: “Đứa con gái út của nó học rất giỏi. Năm tới lên đại học. Nó muốn nhờ con giúp cháu qua học bên này. Nó không muốn cho cháu ở nội trú. Nó xin cho cháu ở với con. Cơ bản là con không phải tốn kém gì hết. Mẹ sẽ lo đi chợ, nấu ăn cho cả nhà...” Cơn giận chợt ứ lên ngực làm tôi khó thở. Tôi hít vào một hơi thật sâu. Tôi biết là mở miệng lúc này tôi sẽ nói ra lời cay độc. Tôi nhìn ra ngoài trời đang đổ mưa với những ánh chớp liên hồi. Tôi nhớ tới những cơn mưa đầy sấm sét trong căn nhà thênh thang thuở lên mười. Thuở đó cậu tôi đổi đi đơn vị xa và mợ theo cậu. Người giúp việc thì ngủ gần bếp, xa căn buồng riêng biệt của tôi. Tôi đã vô cùng sợ hãi và từng ước ao có được một đứa em. Bây giờ tôi đâu còn cần. Tôi nói chầm chậm: “Thì ra mẹ qua đây không phải vì con mà vì tương lai cháu nội của mẹ!” Bà nhìn tôi tỏ vẻ ngạc nhiên: “Con nói gì lạ vậy. Tất nhiên mẹ qua đây là vì con, bởi vì mẹ muốn bù lại thời gian ba mẹ bỏ bê con. Mẹ không hề vì cháu nội. Nó chỉ ngỏ lời sau khi biết ý định của mẹ.” Mẹ đưa tôi lá thư cầm sẵn: “Đây là thư nó gửi cho vợ chồng con.” Tôi hững hờ nhận. Mẹ tiếp: “Thật ra nó cũng đã hỏi các thủ tục xin ở nội trú. Không có con ở đây, con của nó vẫn qua đây học. Mẹ thấy điều quan trọng là có người ruột thịt cận kề, coi sóc, nhắc nhở.” Tôi cười chua xót, không còn ngăn được lời mai mỉa: “Ruột thịt? Có là ruột dư với thịt thừa! Và mẹ đã từng cắt bỏ không thương tiếc!” Mẹ nhìn tôi đăm đăm: “Con vẫn còn giận mẹ đến thế sao? Lần con về, mẹ đã hết lời giải thích…” “Con vẫn nhớ các lời giải thích đó: Ba mẹ đâu có muốn xa con, chẳng qua chỉ vì muốn góp phần giành độc lập, thống nhất đất nước. Thì đất nước đã độc lập thống nhất, sao mẹ và cháu nội không ở Việt Nam mà hưởng.” Mẹ buông tiếng thở dài. Tôi cũng chợt nhận ra mình vừa buông lời xỉa xói hỗn hào. Tôi trầm giọng: “Con xin lỗi. Hễ nhớ đến những ngày con bị bỏ rơi là cứ muốn nổi xung thiên…” “Mẹ phải làm gì để được con tha thứ, quên đi chuyện cũ. Con nghĩ lại đi. Ba mẹ đâu có gửi con cho ai xa lạ. Người đó chính là ba mẹ ruột của mẹ. Con lúc nào cũng nhận được trọn vẹn tình thương và chăm sóc…” Tôi cố giữ giọng bình thường: “Ba mẹ ruột của mẹ chớ đâu phải ba mẹ ruột của con! Suốt tuổi thơ của con, con bị bạn bè cười nhạo là đứa trẻ mồ côi, là con không cha không mẹ!” Nước mắt tôi tự dưng ứa ra, rơi dài xuống. Mẹ đứng lên, bước lại ôm choàng lấy tôi. Tôi khóc nức nở trên vai mẹ. Khi muộn phiền đã dịu xuống, tôi nhìn thẳng vào mắt mẹ: “Mẹ không thấy là mẹ không công bằng sao? Lúc con ở cái tuổi rất cần sự săn sóc của ba mẹ thì ba mẹ bỏ đi biền biệt. Còn bây giờ, khi mẹ muốn ở gần con thì mẹ đã bước vào cái tuổi gần đất xa trời, cái tuổi mẹ cần con chớ con không cần mẹ. Thật lòng mà nói, cho tới giờ phút này, con không một mảy may cảm thấy chút gì thương yêu mẹ, thì nói chi thương yêu cháu.” Mẹ ôm mặt, thân hình thả rơi lên ghế. Tôi nghe tiếng nấc của mẹ và nghe lòng chùng xuống. Tôi nói nhanh như sợ không còn nói được: “Nhưng có điều chắc chắn là con cũng không thể chối bỏ mẹ không phải là mẹ của con. Chừng nào mẹ muốn ở với con, mẹ cứ ở. Chừng nào mẹ muốn đi, mẹ cứ đi.” Điều em con muốn, cháu con muốn, con khó mà nói được lời từ chối! Mẹ vẫn ngồi yên, thút thít khóc. Đúng lúc tôi muốn ngồi xuống ôm lấy mẹ thì tiếng chuông reo. Tôi thở hắt ra, bước về phía cửa nhận thức ăn mang tới… Rời San Francisco trên chiếc xe chở khách chúng tôi ôn lại những địa điểm đã viếng thăm qua ba ngày ở vùng vịnh. Mẹ tỏ vẻ hài lòng đã được chính mắt chiêm ngưỡng chiếc cầu nổi danh Golden Gate. Mẹ cũng yêu thích cái công viên cùng tên với khung cảnh nên thơ thanh bình mà mẹ gọi là hồ Tịnh Tâm. Hai ngày ở San Jose, ấn tượng nhất đối với mẹ là những hình ảnh sinh động, huy hoàng và lạ mắt của vô số loài sống dưới nước hiển hiện ngay trước mắt trong Monterey Bay Aquarium. Khi chúng tôi về tới quận Cam. Cậu và các con cháu đón chúng tôi ở bến xe, chỉ thiếu có mợ. Khi tôi thông báo mẹ sẽ sang thăm gia đình cậu, cậu nói sẵn sàng gặp mẹ nhưng từ chối cho chúng tôi tạm trú. Nhà cậu mợ rất rộng, nhiều buồng ngủ. Vợ chồng con cái tôi mỗi khi qua Cali là ở nhà cậu mợ hà rầm. Cậu mợ hẳn phải đau lòng khi lần này để tôi ở khách sạn chỉ vì… có mẹ!. Mợ không muốn chứa mẹ trong nhà. Hai đứa em trai của mợ đều bị tập trung, một bỏ xác trong rừng Yên Bái. Mỗi ngày trong suốt một tuần, cậu lái xe đến khách sạn đón chúng tôi đi viếng thăm hết nơi này đến nơi khác. Ngày đầu, cậu dành cho khu Little Saigon. Mẹ thú nhận là rất ngạc nhiên về mức phát triển quy mô và sự phồn vinh sang giàu của người Việt tỵ nạn. Những ngày kế dành cho danh lam thắng cảnh. Có ngày chúng tôi bay khỏi thành phố đỏ đen Las Vegas về phía Bắc để chiêm ngưỡng Grand Canyon vô cùng kỳ vĩ ngoạn mục. Cậu thường dùng khoảng thời gian di chuyển để hỏi mẹ về gia đình và dòng họ ở quê nhà. Cậu cũng kể về cuộc đời của cậu trong suốt nửa thế kỷ không gặp chị. Tôi vô cùng thú vị được nghe hai chị em nhắc lại những kỷ niệm thời họ sống bên nhau. Thỉnh thoảng cậu và mẹ “đụng” nhau về đề tài chính trị thường là do cậu khởi xướng. Một lần đang lái xe, cậu bỗng nhái cái giọng bắc của mẹ: “Thật đáng tiếc! Nếu chị cả đừng… vớ phải cái ông trí ngủ nằm vùng thì giờ chị em gặp lại dung dăng dung dẻ biết bao!”. Mẹ nở ngay nụ cười đáp trả: “Thì cũng lỗi ở em. Phải chi em không làm tay sai cho Mỹ Ngụy”. Cậu gật gù ra vẻ tán thưởng rồi bắt sang chuyện khác. Hôm đứng trước trường đại học danh tiếng Standford, cậu cười nói: “Tham quan trường này chị có nhớ đến những năm chị dạy ở trường Đảng không? Phải công nhận duy vật biện chứng pháp hay tuyệt. Đảng Cộng sản chủ trương “không có người bóc lột người”. Thế mà ngày nay bản thân Đảng hóa thành “đảng bóc lột người”. Y chang… hủy thể của hủy thể!” Mẹ bật cười giòn tan: “Đúng ra là… phủ định của phủ định!”. Một buổi tối về khách sạn còn sớm, cậu lân la ở lại. Không biết dẫn dắt từ đề tài gì, hai chị em bắt đầu bàn về Hoàng Sa, Trường Sa và sự hiếp đáp của Trung cộng. Bỗng cậu đặt câu hỏi: “Ông Bush hứa với ông Dũng là sẽ ủng hộ sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Vậy giả sử Trung cộng tấn công Việt Nam và Mỹ đem quân qua giúp đánh lại Trung cộng, thì đối với hai quân đội ngoại nhập đó, theo chị thì phải gọi là gì? Tàu là quân xăm lăng, Mỹ là bọn xâm lược?” Mẹ cười duyên dáng: “Gọi thế là…đúng sách vở đấy”. Vào ngày thăm viếng Getty Center, một công trình chi phí hàng tỷ đô la, vừa đồ sộ về kiến trúc tân kỳ, vừa là viện bảo tàng nghệ thuật cổ vật hàng thế kỷ, lại vừa quy mô về tổ chức, tất cả chi phí do nhà tỷ phú Paul Getty đài thọ, cậu tôi bất ngờ hỏi mẹ: “Nghe đâu chị đang là tỷ phú đỏ. Ngày xưa chị chống Mỹ cứu nước, ngày nay nhà tỷ phú Việt Nam đổi mới đã đóng góp được gì để dựng nước?” Mẹ cười: “Chị đang cho xây Đại Nam Quốc Tự thứ nhì. Hôm nào khánh thành chị sẽ mời em về dự”. Cậu cười ra vẻ đắc ý: “Xin hỏi lần này chị đặt ông Hồ ngồi ở đâu?” Tôi nhớ vừa đọc tin tức gần đây nói về ngôi chùa vĩ đại mới xây xong có đặt ba bức tượng từ thấp lên cao: Hồ Chí Minh, Khổng Tử, Phật Thích Ca. Tôi lo âu chờ câu trả lời. Mẹ nhởn nhơ: “Em về thì biết”. Đêm chót trước khi rời Quận Cam trở lại Maryland chúng tôi được cậu mời một bữa tiệc cá 7 món, đặc sản Cali. Khi chúng tôi đến nhà hàng, tôi thật sự ngạc nhiên và vui mừng khi thấy có cả mợ hiện diện. Mợ đứng lên vui vẻ chào hỏi và mời mẹ ngồi bên cạnh. Mợ vốn hoạt bát, nên mẹ lúc nào cũng cười tươi. Tôi cảm thấy vô cùng hạnh phúc. Lúc chờ tính tiền cậu hỏi mẹ bao giờ về Việt Nam. Mẹ bảo còn lâu, khoảng sáu tháng nữa. Và năm tới có thể là qua ở luôn. Cậu gật gù nhìn mẹ rồi nhìn tôi. Tôi tưởng cậu tán thành quyết định của mẹ nhưng cậu chậm rãi nói: “ Phải nói là rất ngạc nhiên khi nghe chị tính qua Mỹ ở luôn. Chị biết không ông Hồ Chí Minh có làm một câu thơ rất nổi tiếng: đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào! Ba mươi ba năm qua, Ngụy đã nhào Mỹ đã cút. Thế mà giờ đây có người đánh đuổi Mỹ lại muốn… cút theo Mỹ!” Tôi bật cười nhưng kịp hãm khi thấy mặt mẹ sa sầm… Về Maryland, theo dự trù chúng tôi nghỉ ngơi ba ngày trước khi bay xuống Georgia và Texas. Nhưng chỉ mới qua đêm, buổi sáng mẹ buồn rầu đổi ý. Mẹ muốn về ngay Việt Nam. Tôi ngỡ ngàng. Nhưng tôi chợt hiểu ra. Câu trêu chọc của cậu đã chạm tự ái mẹ. Xa nhau quá lâu, mẹ không quen tính tình em mình. Cợt đùa, đốp chát vô tội vạ là thói quen của cậu. Hiểu cậu thì không ai giận cậu. Không hiểu cậu, giận cậu thì ráng chịu. Cậu nói đó rồi quên đó. Tuy nhiên tôi vẫn không muốn thay cậu ngỏ lời xin lỗi mẹ. Tôi cũng không có ý định van xin mẹ khoan vội về Việt Nam. Tôi biết chắc nếu tôi năn nỉ, mẹ sẽ ở lại. Gần tháng qua tôi đã cảm thấy chút gì gần gũi mẹ nhưng xem ra vẫn còn một bức vách vô hình ngăn cản sự thoải mái, tự nhiên, thân mật. Thậm chí còn có cái gì khác nữa khiến tôi có lúc bứt rứt, bực mình. Không có mẹ, tôi ngủ nghê, ăn uống thế nào lúc nào tùy thích. Có mẹ, tôi phải hầu hạ, e dè, trông trước ngó sau. Mẹ ở lại lần này, lần tới sẽ ở lại mãi mãi. Mà xem ra thời gian để xây đắp tình mẫu tử chẳng còn bao nhiêu. Luật đời vốn trói buộc tôi vào kiếp nạn mồ côi từ đầu đời. Có gặp lại cha thì chỉ khi cha mất. Gặp lại mẹ thì mẹ lại bỏ đi. Thôi thì hãy coi mươi ngày bên mẹ đã là một hồng ân. Phải mất một tuần tôi mới đổi được vé máy bay. Trong tuần cuối đó, mẹ chỉ thích đi mua sắm. Mỗi ngày tôi đưa mẹ vào một trung tâm thương mại khác nhau. Ăn thì mỗi bữa một nhà hàng khác xứ. Mẹ đã thưởng thức các món ăn Mỹ, Nhật, Thái, Đại Hàn, Mã Lai, Nam Dương. Đêm cuối cùng, tôi hỏi mẹ có muốn ăn phở lần chót ở Mỹ không, mẹ cười bảo muốn ăn canh chua cá kho tộ. Tôi thấy chút ấm lòng… Hôm đưa mẹ ra phi trường, chúng tôi im lặng suốt đoạn đường. Gửi xong hành lý, tôi kéo chiếc va ly, tay kia nắm bàn tay mẹ bước chầm chậm về trạm kiểm soát an ninh cá nhân. Khi gần đến dòng người ngoằn ngoèo chờ qua trạm, mẹ dừng lại. Tôi nhìn mẹ dò hỏi. Ánh mắt mẹ ngập tràn âu yếm mà giọng cất lên trầm buồn: “Chắc mẹ sẽ không qua đây thăm con nữa.” Tôi nghe xao xuyến nhưng vẫn lặng thinh. Lời mẹ êm như tiếng thở dài: “Và khi mẹ chết, con cũng không cần phải về…” Tôi đứng chết lặng. Tôi có cảm tưởng như tôi đã cư xử quá tệ hại với chính mẹ mình. Ý nghĩ trở thành đứa con bất hiếu khiến tôi buột miệng: “Mẹ! Con sẽ về. Thế nào con cũng về. Cậu đã dạy con nghĩa tử là nghĩa tận.” Bà vòng tay ôm lấy tôi thật chặt, giọng êm đềm: “Còn đây là lời mẹ dạy, lần đầu mà cũng là lời cuối. Con hãy luôn luôn ghi nhớ: “Chú như cha, cậu như mẹ”. Con gắng giữ sức khỏe. Thôi mẹ đi.” Mẹ nắm chiếc cần va ly từ tay tôi. Tôi vụng về ôm lấy mẹ. Mẹ áp má vào má tôi. Tôi nghe chừng thân mình bay bổng. Khi tôi mở vòng tay, mẹ quay mặt bước đi. Tôi thấy mình quá bất nhẫn, khẽ gọi: “Mẹ!” Bà quay lui, chân vẫn bước, đôi mắt hiền từ. Tôi lúng túng vẫy tay, cố nở nụ cười: “Chào mẹ!”

 Sưu Tầm

TRƯỚC SAU NHƯ MỘT: ĐẢNG LỪA BỊP DÂN!

 

“VẸM: (Tiếng lóng) V.M. đọc lẹ, tức Việt Minh gọi tắt, tiếng chỉ người trong hàng ngũ chống Pháp từ 1945 đến 1954: Các ông Vẹm, gặp Vẹm” (Việt Nam Tự Điển Lê Văn Đức, quyển hạ, trang 1763).

Việt Minh là hai chữ gọi tắt Việt Nam Độc Lập Đồng Minh là mặt trận liên kết các đảng bí mật vận động độc lập cho nước VN thành lập tại Thượng Hải năm 1941, tuyên ngôn dân chủ ngày 25-10-1941, chủ trương chống Nhật, tháng 3 năm 1944 tuyên bố thành lập nền Cộng hòa VN, tháng 5 năm 1944 lén về nước và lập cơ sở tại Thái Nguyên; ngày 19-8-1945, nắm chính quyền ở Bắc; ngày 24-8-1945, ép Bảo Đại thoái vị để nắm chính quyền ở Trung và giải tán Chính phủ Trần Trọng Kim; ngày 28-8-1945, nắm chính quyền ở Nam và lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp tới tháng 7 năm 1954.

Dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, Việt Minh đã dùng đủ mọi thủ đoạn tàn độc, gian dối để diệt các đảng phái với mục đích nhuộm đỏ đất nước VN theo lệnh của Cộng Sản Quốc tế.

Sau 82 năm cai trị miền Bắc và 37 năm thống trị miền Nam và cai trị nhân dân như một đoàn quân ngoại nhập ấy chữ nói dối như Vẹm” đã được người dân đổi thành “nói dối như Việt Cộng”. Và đảng CSVN nay trở thành “Đảng Nói Dối Như VC” (viết tắt ĐNDNVC)!

*

Tuần lễ vừa qua, “ĐNDNVC” lại lòi mặt mẹt trong vụ thông báo sẽ dạy tiếng Hoa cho các học sinh tới cấp Trung học. Bị dư luận phản đối vì cho rằng sau vụ “các phố Tàu trong Tỉnh Việt” như “Đông Đô Đại Phố” ở Bình Dương; nay, “đảng nói dối như VC” lại bắt đầu thi hành “lệnh” của “nước lạ” là dạy trẻ em VN nói tiếng của bọn “các chú Ba Tàu” để VN trở thành tỉnh Quảng Nam thuộcTrung Cộng trong tương lai. ĐNDNVC bèn “nói dối như Việt Cộng” là chỉ dạy tiếng Hoa cho bọn con nít Tàu phù!

Trên một trang mạng, nick TuyetVan đã vạch cái mặt mẹt của ĐNDNVC như sau:

“Chúng bắt mạch đấy thôi
Bởi mạch còn sung sức
Nên nói láo gỡ gạc
Nếu mạch mà đứt khúc
Chúng chuẩn bị đám ma
Đúng bài bản Tây Tạng
Xoá hẳn Việt Nam ta
Tử huyệt là sinh huyệt
Nhờ thế ta cũng biết
Anh em có đánh nhau
Đổ máu biết bao lâu
Nhưng thằng Tàu đụng đến
Lại bắt tay với nhau.”

Trước đó, thì mọi người đều biết vụ anh “kỹ sư nông dân” Đoàn Văn Vươn nả sung vào chế độ phá vỡ bức tường “sợ chế độ”, “sợ quyền lưc”, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng của ĐNDNVC cũng xuống “nóíidối như VC” là sẽ xử phạt nghiêm minh.

Rốt cuộc cũng chỉ là một màn trình diễn của kép chính của đoàn hát NÓI DỐI NHƯ VIỆT CỘNG!

Còn nhớ năm ngoái, khi xảy ra “sự cố” bọn “tàu lạ” cắt cáp tàu Bình Minh 2 thì “Đảng Nói Dối Như VC” liên thủ với “Đảng Nói Dối Như Tàu Cộng” để bịp dân VN bằng cách ra thông cáo, thông cầy ỏm tỏi.

“Ngày 25-6-2011, tại Bắc Kinh, Thứ Trưởng Ngoại Giao Hồ Xuân Sơn, đặc phái viên của lãnh đạo cao cấp Việt Nam đã gặp Ủy viên Trung Quốc (TQ) Đới Bỉnh Quốc, chuyển ý kiến của lãnh đạo VN tới lãnh đạo TQ về quan hệ hai nước và tình hình Biển Đông thời gian gần đây. Ủy viên Quốc vụ Đới Bỉnh Quốc đã trình bày lập trường và chủ trương của phiá TQ về việc phát triển quan hệ song phương. Trước đó, Thứ Trưởng Hồ Xuân Sơn đã hội đàm với Thứ Trưởng Ngoại Giao TQ Trương Chí Quân.

Hai bên cho rằng, quan hệ Việt – Trung phát triển lành mạnh, ổn định, đáp ứng nguyện vọng chung và lợi ích căn bản của nhân dân hai nước Việt – Trung, có lợi cho hoà bình, ổn định và phát triển khu vực. Hai bên nhấn mạnh cần kiên trì đưa quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện VN-TQ, phát triển theo đúng phương châm 16 chữ vàng “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần 4 tốt: “láng giềng tốt, bè bạn tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”. Hai bên khẳng định, cần tích cực thực hiện nhận thức chung lãnh đạo hai nước, giải quyết hòa bình các bất đồng thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị; áp dụng biện pháp có hiệu quả, cùng nhau duy trì hoà bình và ổn định tại Biển Đông; tăng cường định hướng dư luận đúng đắn, tránh lời nói và hành động tổn hại đến tình hữu nghị và lòng tin của nhân dân hai nước, đầy nhanh tiến độ đàm phán để sớm ký kết “Thỏa thuận về chỉ đạo giải quyết vấn đề về các Nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa VN – TQ”.

Thúc đẩy việc thực hiện “Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và các công việc tiếp theo, cố gắng sớm đạt tiến triển thực chất.”

Đọc xong cái “Thông tư báo chí chung Việt Nam – Trung Quốc” do Thông tấn xã VC mọi người mới thấy rõ cái thủ đoạn bịp dân của mấy ông lãnh đạo Đảng CSVN trong cái vụ hai bên phùng mang, trợn má hù doạ nhau về chuyện tàu TC cắt cáp các tàu Bình Minh 2 và Viking 2.

“Tăng cường định hướng đúng đắn dư luận, tránh lời nói và hành động làm tổn hại đến tình hữu nghị và lòng tin của hai nước”.

Tưởng tượng cảnh hai tên Tàu phù Đới Bỉnh Quốc, Trương Chí Quân của “Thiên triều” Tân Đại Hán vừa khạc nhổ vừa xoa đầu phủ dụ tên Hồ Xuân Sơn, sứ thần của bọn “An Nam Quốc Vương tân thời” mà cảm thấy chua xót cho dân tộc VN dưới sự cai trị của bọn VC – một dân tộc đã từng Bình Nguyên, Phạt Tống.

Có ông tức quá góp ý trên mạng, đổi “16 chữ vàng” thành “16 chữ vàng… khè”: “láng giềng lừa mị, hợp tác bề trên, ổn định lỗ mồm, hướng tới nô lệ”.

*

Trở lại những việc làm của các lãnh đạo Đảng VC, chúng ta thấy bọn này đã tìm cách lừa bịp nhân dân VN bằng cách vào ngày 7-6-2011, Nguyễn Minh Triết ra thăm Cô Tô, Quảng Ninh và tuyên dương:

“Người dân Cô Tô và lực lượng vũ trang ở huyện đảo thay mặt nhân dân cả nước baỏ vệ vùng trời, biển, d0ảo của tổ quốc trên điạ bàn Quảng Ninh. Chúng t among muốn các vùng biển và hải đảo của Trung Quốc luôn hòa bình, hữu nghị, ổn định, nhưng chúng ta cũng quyết tâm làm hết sức để bảo vệ vùng biển, đảo của đất nước. Biết bao thế hệ đã hy sinh xương máu để có được tổ quốc hôm nay. Vì vậy chúng ta cũng sẵn sàng hiến dâng tất cả để bảo vệ quê hương”.

Và vào tối 8 tháng 6 tại Nha Trang, Nguyễn Tấn Dũng trong “Tuần lễ biển và đảo VN năm 2011” đã soen soét cái miệng:

“Nhân dân VN, đất nước VN có đủ ý chí, quyết tâm và sứcmạnh tổng hơp của cả dân tộc để giữ gìn, bảo vệ các vùng biển, hải đảo của mình”.

Và Dũng cũng đã “lên gân” bốc phét để lừa bịp đồng bào:

“Tiếp tục khẳnh định chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, khẳng định chủ quyền và quyền chủ quyền của VN đối với các vùng biển, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo Công ước luật biển năm 1982 của Liên Hiệp Quốc”.

Thực ra cũng không nên trách “Các Vua Bịp” này mà làm gì; bởi vì chúng nó bị di căn “Bịp” từ “Chúa Bịp Quốc Tế” là Hồ Chí Minh từ 67 năm trước.

Như chúng ta đã biết, giữa tháng 8 năm 1945, Nhật đầu hàng Đồng Minh. Quân đội Quốc Dân Đảng Trung Hoa của Tưởng Giới Thạch vào tước khí giới quân Nhật từ vĩ tuyến 16 ra Bắc. Phiá Nam có quân Anh, Ấn và quân đội Pháp được quân Anh cho núp bóng. Mười tám vạn quân QDĐ Tàu Tưởng do Lư Hán chỉ huy là mối đe dọa hết sức nguy hiểm cho Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Đông Dương (ĐCSĐD); bởi vì Phó tướng phụ trách chính trị của Lư Hán Tiêu Văn đã nhìn thấy rõ bộ mặt CS của Hồ Chí Minh và những người xung quanh ông ta. Do đó, HCM đã phát động “Tuần Lễ Vàng” nói là để lấy vàng mua vũ khí đánh Pháp ở miền Nam, thật sư là HCM hối lộ cho Lư Hán và 2 Phó tướng TiêuVăn và Chu Phúc Thành để chúng rút về cho sớm.

Theo quan niệm của HCM là tuy quân xâm lăng Pháp lúc nào cũng âm mưu thôn tính nuớc ta nhưng ít nguy hiểm cho đảng CSĐD, cho chính quyền Việt Minh hơn là QDĐ của Tưởng Giới Thạch.

Ngày 6 tháng 3 năm 1946, HCM đi ra Vịnh Hạ Long, lên chiến hạm Pháp ký với Pháp thỏa ước cho phép Pháp đuợc đổ bộ lên miền Bắc để thay QDĐ của Tưởng Giới Thạch mà “tiếp phòng” miền Bắc, bị đồng bào biểu tình trước Nhà Hát Lớn Hà Nội vì cho rằng HCM là kẻ bán nước, đã phản bội cuộc kháng chiến chống Pháp đã bắt đầu nổ ra ngày 23-9 năm 1945. HCM đã nhỏ nước mắt cá sấu khóc hô hố, đấm ngực thề rằng: “Tôi, Hồ Chí Minh không bao giờ bán nước!”

Theo hiệp định sơ bộ 6-3-1946, quân Pháp đổ bộ lên Hải Phòng , rồi tháng 5-1946 vào Hà Nội. HCM ra lệnh treo cờ khắp Hà Nội. Sợ quần chúng thắc mắc có thể phản đối, HCM phao tin lên chuyện treo cờ là để kỷ niệm sinh nhật của ông ta vào ngày19 tháng 5. Trong khi trong thực tế, chính ông ta cũng không biết ông ta sinh ngày nào!

*

Minh Võ, nhà nghiên cứu về chủ nghĩa cộng sản có nhận định rất chính xác như sau:

“Sách lược CS là một sách lược linh động, hư hư, thực thực, thiên biến vạn hoá. Cán bộ CS áp dụng lý thuyết Mác-xít, có thể nói mỗi nơi một cách, mỗi thời một cách. Đối với CS, lời nói với việc làm, lý thuyết với thực tế không cần và không thể đi đôi với nhau. Gian dối, lật lọng là thủ đoạn thường xuyên. Bạo động, khủng bố đi kèm với vuốt ve, hứa hẹn. Để đạt được mụch đích đó, phương tiện nào cũng tốt hết, kể cả những phương tiện trái ngược với chủ thuyết Mác-xít. Đó là ưu điểm nhất thời, mà cũng là khuyết điểm căn bản của Cộng sản Quốc tế”.

Do đó, không nên ngạc nhiên gì về chuyện TRƯỚC SAU NHƯ MỘT: ĐẢNG LỪA BỊP DÂN từ thời “Chúa Bịp” HCM đến “Các Vua Bịp” hiện nay!


LÃO MÓC

Bài Xem Nhiều